
Mt 22,1-14
Thánh Âu Tinh đã xác tín khi nói rằng “Thiên Chúa tạo dựng con người không cần sự cộng tác của con người. Thế nhưng để cứu độ con người, Thiên Chúa cần tới sự cộng tác của con người”.
Nói như vậy để muốn nhấn mạnh rằng, ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, và Thiên Chúa mời gọi mỗi người đi theo tiếng gọi của Ngài, tuy nhiên, chúng ta có thể đáp trả hoặc từ chối là quyền tự do của mỗi chúng ta. Thế nên, mặc dù Thiên Chúa muốn ban ơn cứu độ cho mọi người, và Ngài muốn cứu độ tất cả mọi người, nhưng chúng ta không cộng tác, không đáp lại lời mời gọi thì Ngài cũng đành bó tay.
Đó là sứ điệp mà phụng vụ thánh lễ ngày Chúa Nhật 28 thường niên năm A muốn gởi đến mỗi người chúng ta.
Is 25,6-10a
Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi người thuộc mọi sắc tộc, mọi dân nước không phân biệt ai, lên núi thánh Sion dự tiệc thời Cánh Chung với Ngài trong hạnh phúc và vui tươi hớn hở. Chính vì thế, Thiên Chúa sẽ cất khỏi mặt họ chiếc khăn tang chế và lau khô nước mắt của đau khổ buồn thương, Ngài sẽ vĩnh viễn tiêu diệt sự chết và hủy diệt mọi điều kiện sống khốn cùng của con người, nghĩa là thiên Chúa sẽ trao ban cho con người một cuộc sống mới, một cuộc sống hoàn toàn biến đổi trong Trời mới Đất mới.
Pl 4,12-14.19-20
Trong thư gửi giáo đoàn Philiphê, chúng ta thấy Phaolô là một con người sống mẫu mực, đáng nêu gương cho các tín hữu. Ngài đã hy sinh vất vả trong cuộc sống sinh hoạt lo cho bản thân cũng như trong công cuộc rao giảng Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Ngài chấp nhận mọi hoàn cảnh trong cuộc sống của mình trong lúc thiếu thốn, nghèo túng cũng như khi sung túc, lúc đói cũng như khi no. Tất cả sự chịu đựng, hy sinh và có nhiều nghị lực như thế, thánh Phaolô luôn khiêm tốn nhìn vào con người yếu đuối của mình mà ca tụng và cảm tạ hồng ân Thiên Chúa luôn hoạt động trong mình. Đồng thời, ngài khiêm tốn nói lên tình liên đới hỗ trợ và lòng quảng đại của các tín hữu đã khích lệ, đã giúp ngài có sức mạnh vượt qua những gian khổ, những thử thách trong những tháng ngày bị cầm tù ở Rôma.
Mt 22,1-14
Như chúng ta cũng biết, bữa tiệc là hình ảnh cụ thể mà Kinh Thánh thường dùng để diễn tả sự hiệp thông, đối thoại và tương giao thân tình giữa con người với Thiên Chúa. Nó đặc biệt diễn tả ơn cứu độ và cuộc sống sung mãn tràn đầy bên Thiên Chúa trong thời Cánh Chung, trong ngày Tận Thế.
Bữa ăn ngày lễ hội hoàn toàn là một biểu tượng của niềm vui được chia sẻ. Và trong xã hội hôm nay vẫn thế, bữa tiệc nhất là tiệc cưới, thường qui tụ nhiều khách khứa vui vẻ nhất với những món ăn chọn lọc, có rượu ngon, tiếng nhạc lời ca, y phục lễ hội, khiêu vũ . . .
Trở về bài Tin Mừng hôm nay, Lời Chúa gợi lên cho chúng ta sứ điệp của niềm vui qua dụ ngôn “Tiệc Cưới” mà chúng ta vừa nghe. Có lẽ chẳng có vinh dự nào lới lao hơn, khi được nhà vua mời dự tiệc cưới của hoàng tử. Và vinh dự này, dĩ nhiên chỉ dành cho một số các bậc vị vọng, có thế giá, có địa vị trong xã hội. Vì vậy, khách mời rất là hãnh diện và tự hào đi tham dự tiệc cưới, và có lẽ chẳng ai dễ dàng bỏ qua và từ chối cơ hội hiếm có này. Thế nhưng rất tiếc, đó lại là thái độ của dân Do Thái, và của rất nhiều người trong thời đại hôm nay.
Con người trong xã hội hôm nay, bất kể lương hay giáo, họ rất dửng dưng với ơn cứu độ mà Thiên Chúa cống hiến cho nhân loại. Họ dửng dưng và từ chối dự tiệc cưới Nước Trời mà Thiên Chúa mời, Thiên Chúa gọi, và Thiên Chúa đề nghị.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh dụ ngôn “Tiệc Cưới” để nói lên thái độ người Do Thái khước từ sứ điệp của Ngài. Thật vậy, Đức Giêsu đã mang đến sứ điệp giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, và ban ơn cứu rỗi cho con người. Thế nhưng, dân Do Thái, nhất là giới lãnh đạo, những luật sĩ, những người pharisêu không biết đón nhận sứ điệp ấy. Và họ từ chối không tham dự bàn tiệc Nước Trời. Rồi họ đưa ra đủ mọi lý do, kẻ nêu lý do này, người nại lý do kia, người khác đưa ra lời cáo lỗi nọ.
Trong dụ ngôn “Tiệc Cưới” mà chúng ta vừa nghe, những người những quan khách được mời, họ không mảy may bận tâm và đếm xỉa đến bữa tiệc cưới. Họ đưa ra những lý do không mấy thuyết phục, và những lời cáo lỗi của họ thật là tẻ nhạt, chứng tỏ họ chẳng tha thiết gì đến đặc ân tham dự tiệc cưới Nước Trời.
Tuy nhiên, Thiên Chúa không để cho chương trình cứu độ của Người phải uổng phí mà không sinh ích lợi gì. Thế nên, nhà vua sai các đầy tớ ra các ngã ba đường mời gọi mọi hạng người tốt lành, thánh thiện cũng như gian tham, ác độc vào dự tiệc cưới. Điều này muốn diễn tả lòng nhân từ và tình thương của Thiên Chúa trong việc cứu độ nhân loại. Ơn cứu độ của Thiên Chúa ban phát cho hết mọi hạng người, không phân biệt tốt xấu, giàu nghèo, màu da, giai cấp, . . . Thế nhưng, để tham dự “Tiệc Cưới”, tham dự bàn tiệc Cứu Độ, điều kiện duy nhất là phải mặc y phục lễ cưới trước khi ngồi vào bàn tiệc. Ở đây Đức Giêsu muốn khẳng định rằng: “Thiên Chúa mời gọi con người vào dự “Tiệc Cưới”, bàn tiệc Cứu Độ, dĩ nhiên là mỗi người đều tự do đáp trả, nhưng phải biết mặc y phục làm sao cho xứng với bữa tiệc.”
Và y phục lễ cưới chính là toàn bộ đời sống đức tin trong cộng đoàn Kitô giáo, trong cộng đồng xã hội. Quả vậy, khi lãnh bí tích Rửa tội, mang danh là người kitô hữu, sống đạo ở nhà thờ thôi, chưa đủ. Niềm tin của mỗi người tín hữu phải được thể hiện trong các môi trường sống hằng ngày, nơi học đường, công ty xí nghiệp, nơi làm ăn buôn bán… Bất cứ nơi đâu, môi trường hay hoàn cảnh nào cũng đòi hỏi người tín hữu trung thành, lương thiện, yêu thương, công bình, bác ái … Đó chính là chiếc áo mà người tín hữu cần mặc khi tham dự bàn tiệc Nước Trời. Amen.
An-rê Phạm Duy Thân, OP








