
(Mt 18,21-35)
Có một người vợ kia đã tâm sự như sau : “Trước khi về làm vợ anh ấy, tôi đã yêu một người và dâng hiến tất cả. Nhưng cụôc tình ấy tan vỡ. Trong lúc tôi đang hụt hẫng thì anh ấy đến. Lúc đó tôi không yêu anh và càng không hề nghĩ đến chuyện sẽ làm vợ anh. Tôi mặc cảm về sự thất tiết của mình. Thế nhưng anh đã kiên trì theo đuổi, và khi tôi nói thẳng với anh là tôi không xứng đáng, anh vẫn cứ khăng khăng nói : “Anh biết hết quá khứ của em. Nhưng tình yêu anh dành cho em mãnh liệt và sâu sắc đủ để anh bỏ qua mọi chuyện, chỉ cần em yêu anh và chấp nhận làm vợ anh. Anh tin chúng ta sẽ hạnh phúc bên nhau”. Dần dần tôi xúc động, yêu anh và nhận lời làm vợ anh. Tưởng đâu vợ chồng hạnh phúc. Ai ngờ… chỉ được một năm đầu hạnh phúc thật sự, nhưng từ năm thứ hai và suốt mười năm, anh vô cùng kiên nhẫn đem chuyện cũ ra mà chì chiết, đay nghiến tôi bất kể lúc nào, vào buổi sáng, buồi trưa, buổi chiều, đêm khuya, lúc vợ chồng đang ăn cơm, khi cả nhà xem ti-vi, khi tôi làm việc nhà, trước mặt con cái… lúc thì bằng giọng ngọt nhạt cay độc, lúc thì bằng lời lẽ tục tằn thô bạo… anh bảo rằng tôi phải nhận chịu sự trừng phạt như vậy mới có thể chuộc được lỗi lầm”.
Và người chồng cũng chẳng giấu diếm quan điểm của mình, anh nói : “Tôi không thể và không bao giờ tha thứ sự thất tiết của cô ấy được. Mãi mãi đó là vết nhơ của đời sống vợ chồng. Tội lỗi phải được cứu chuộc, vết nhơ phải được tẩy rửa, và sự cứu chuộc, sự tẩy rửa đó chỉ được thực hiện thông qua sự hành hạ cô ấy, về thể xác cũng như về tinh thần”. Cứu chuộc thông qua sự hành hạ người bạn đời của mình, anh chàng này học được bài học đó ở đâu vậy ? Nếu anh bảo học được từ thập giá cứu chuộc của Đức Kitô thì thật là khủng khiếp. Không, Đức Kitô không cứu chuộc bằng đau khổ nhưng bởi tình yêu. Máu đổ ra đến giọt cuối cùng trên thập giá không phải là giá trả cho một Thiên Chúa bạo tàn, nhưng là dấu chỉ của một tình yêu đi đến tận cùng mạng sống. Nếu người chồng ấy hiểu được chân lý này, anh sẽ không “cứu chuộc” vợ bằng cách hành hạ, nhưng bằng tình yêu tha thứ, bao dung và quảng đại. Nếu người vợ hiểu được chân lý ấy, chị sẽ đáp lại bằng một tình yêu gấp bội. Hạnh phúc gia đình sẽ đựơc cứu vãn chứ không tan vỡ.
Thật đáng sợ một quan niệm tôn giáo sai lệch phải không ? Và cũng rất đáng mừng khi chân lý tôn giáo trở thành ánh sáng soi lối cuộc đời. Khi người Kitô hữu có dịp thể hiện những hành vi tha thứ dưới bất cứ hình thức nào và vào bất cứ thời điểm nào, thì chính hành vi tha thứ ấy là dấu chỉ hùng hồn nói lên cho mọi người biết chúng ta đang sống trong thời đại ân sủng của Thiên Chúa.
Thực vậy, khi Chúa Giêsu bị treo trên thập giá là chính lúc Thiên Chúa tuôn đổ dồi dào hồng ân của Ngài xuống trên nhân loại tội lỗi. Một trong những hồng ân lớn nhất trong công trình cứu độ là ơn tha thứ trọn vẹn tội lỗi của toàn thể nhân loại. Điều này đưa mỗi chúng ta đến một điểm cơ bản là việc Chúa luôn luôn tha thứ cho tôi là động cơ duy nhất thúc đẩy tôi thể hiện những hành vi tha thứ đối với tha nhân. Vì không lý gì một người Kitô hữu khi nhận ra và cảm nghiệm được tình thương tha thứ của Thiên Chúa đối với chính bản thân mình mà lại không bắt chước thái độ cao quý của Chúa trong cách ứng xử của mình đối với tha nhân mỗi khi mình bị người khác xúc phạm. Nói một cách nôm na dễ hiểu và cụ thể hơn nữa, thì oán hờn, giận dữ, nghĩa là không chịu tha thứ, và cứ giữ ấm ức mãi những lỗi phạm của anh em là những điều ghê tởm dưới đôi mắt nhân từ của Chúa. Chúng ta không được phép làm như thế, vì đó là điều Chúa không muốn, nhưng phải luôn luôn làm ngược lại để xứng đáng được hưởng ơn tha thứ của Chúa.
Trong cuộc sống đạo, có nhiều phương thế giúp chúng ta gặp gỡ Chúa, gần gũi với Chúa, như cầu nguyện, suy niệm lời Chúa, lãnh nhận các bí tích, nhưng cũng có một phương thế không kém phần hữu hiệu, đó là sự tha thứ cho nhau. Vì khi, với cái nhìn đức tin, chúng ta tha thứ lỗi lầm cho anh em, thì chính lúc ấy tâm hồn chúng ta cảm thấy gần gũi hơn, thân mật hơn với Chúa, nhờ vào thái độ của chúng ta giống như cách ứng xử của Chúa.
Xin tặng mọi người hai câu danh ngôn : “Cuộc sống sẽ đẹp, nếu mỗi ngày chúng ta chỉ làm một nửa những gì mình đòi hỏi nơi người khác”, “Phải dám sống như mình nghĩ, nếu không, cuối cùng chúng ta sẽ nghĩ như mình sống”. Phải dám chọn cho mình một lý tưởng và sống theo lý tưởng đó. Nếu không, mình sẽ rơi vào lối sống tầm thường, rồi dùng mọi lý lẽ biện minh cho lối sống tầm thường đó.
Giacobe Phạm Văn Phượng OP








