CN XIV TNA: Bí quyết hạnh phúc


(Mt 11:25-30)

Tháng Tám năm 2007, trước khi qua đời, bà tỷ phú Leona Helmsley đã quyết định trối lại đàn chó 8 tỷ Mỹ kim. Thực ra, số tiền đó có thể dùng để trả cho những toán cứu các con vật, trường thú y hay các cuộc nghiên cứu về bệnh tật loài thú.[i]

Ðó là một quyết định tự do của con người. Có lẽ nhiều người sẽ lên giọng kết án bà : chúc thư như thế có khôn ngoan không ? Sinh tiền, có lẽ bà đã sống cuộc đời cô đơn giữa đàn chó trong căn biệt thự vĩ đại. Người nghèo chắc chắn nằm xa tầm nhìn của bà.

Chúa Giêsu không có tiền của trối lại cho người nghèo, nhưng có cả một Tin Mừng dành cho họ. Trong Tin Mừng hôm nay, người nghèo hoàn toàn nằm trong tầm nhìn của Chúa. Chúa nói rõ về ý Cha dành cho họ : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.” (Mt 11:25) Người bé mọn là người nghèo được nghe giảng Tin Mừng. Họ biết khiêm tốn mở rộng tấm lòng đón nhận chân lý Lời Chúa và lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa. Ðó có phải là điều làm cho người nghèo hạnh phúc không ?

KHÔN NGOAN

Của cải, vinh hoa, thành công dẫn con người tới đâu ? Nếu những thành quả đó quyết định hạnh phúc con người, chắc chắn Chúa Giêsu đã không hướng về những người nghèo khổ. Hạnh phúc có một nguồn gốc sâu xa và một nền tảng vững chắc trong sự khôn ngoan Thiên Chúa. Nhưng giờ đây trong Tân Ước, Chúa Giêsu nói đến mối liên hệ thân tình với Thiên Chúa (x. Mt 11:26-27), và điều kiện làm môn đệ Người (x. Mt 11:28-30). Chúa tự xưng là sự Khôn ngoan. Từ nay, không còn phải nhân cách hóa sự khôn ngoan như trong Cựu ước nữa. Nhưng sự khôn ngoan là một ngôi vị, là “Người Con” tuyệt hảo của “Chúa Cha.”[ii]

Từ ngày sự Khôn ngoan thành xác phàm, tất cả sự thật về lòng thương xót đã được mạc khải rõ ràng. Sự khôn ngoan quay hướng và tập trung vào một đối tượng vượt ngoài tầm mức hiểu biết của con người. Không phải là những nhà thông thái, nhưng những người hèn mọn mới được mạc khải những điều bí nhiệm về vương quốc hay bí quyết hạnh phúc. Người bé mọn chính là các môn đệ. Họ là những người nghèo về mọi phương diện. Ðể đón nhận được mạc khải đó, họ phải nhận ra tình trạng khó nghèo của mình và hoàn toàn cậy dựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Ðấng vô cùng giàu có.

Không ai lâm vào ngõ cụt cuộc đời như người nghèo khó. Khi mạc khải những bí nhiệm Nước Trời, Thiên Chúa khai thông những bế tắc và giải thoát họ khỏi bước khốn cùng. Ðó là lý do tại sao Chúa Giêsu đưa ra lời kêu goi đầy hứa hẹn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11:28) Ai là người “đang vất vả mang gánh nặng nề,” nếu không phải là những người đang bị đè bẹp dưới những cơ chế bất công ? Cuộc sống trở nên quá nặng nề, vì họ bị bóc lột tận xương tủy. Giữa hoàn cảnh đó, con người sẽ lâm cơn khủng hoảng tột độ. Giấc mơ duy nhất của họ là mong được giải thoát và an ủi.

Chúa Giêsu đã đến đúng lúc. Người đã kêu gọi họ và hứa đem đến cho họ sự nghỉ ngơi bồi dưỡng. Nhưng dựa vào đâu, Chúa dám hứa đem lại nguồn an ủi cho họ ? Nếu không tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, chúng ta không có câu giải đáp. Vì là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Người có thể hướng dẫn người nghèo thoát khỏi cơn bĩ cực. Hơn nữa, nếu “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành,” chắc chắn Người có thể làm cho họ yên tâm và có đủ sức mạnh cần thiết tạo cuộc sống mới.

Ðể trả lại cho người nghèo sự bình an đích thực, Người kêu gọi mọi người, nhất là những người giàu có và quyền thế, hãy từ bỏ nếp sống gian ác và kiêu căng với những cơ chế bất công. Nếu những người đang nắm quyền lực biết sống “hiền lành và khiêm nhường,” chắc chắn người nghèo sẽ được đối xử tử tế và không còn chịu cảnh áp bức, không bị xô đẩy vào cảnh vất vả, lầm than, cơ cực nữa.

Sống trên đời, tin hay không, con người đều có ách để mang, gánh để vác. Ngay cả sau khi được Chúa giải thoát, người nghèo vẫn phải mang ách của Chúa (x. Mt 11:29). Như thế, con người luôn đứng trước một lựa chọn quyết liệt : “gánh nặng nề” của thế gian hay “ách êm ái và gánh nhẹ nhàng”của Chúa ? Nếu mang “gánh nặng nề” của thế gian, con người không thể được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Ngược lại, nếu đến với Chúa để mang “ách êm ái và gánh nhẹ nhàng,” con người sẽ hoàn toàn được giải thoát và bình an.

HẠNH PHÚC NGƯỜI BÉ MỌN

Hơn ai hết, những người bé mọn cảm thấy lối thoát duy nhất cho cuộc đời là Thiên Chúa. Quả thực, “Chúa Giêsu loan báo lòng từ bi của Thiên Chúa giải thoát những ai Người gặp trên đường, bắt đầu là người nghèo, người sống bên lề, người tội lỗi. Người mời gọi tất cả theo Người, vì Người là người đầu tiên tuân theo kế hoạch tình thương của Thiên Chúa, và như vị Ðại diện Thiên Chúa giữa trần gian, Người thực hiện điều đó một cách hết sức khác thường.”[iii] Như thế, thánh ý Thiên Chúa luôn hướng dẫn con người đến chỗ giải thoát. Chí có Thánh ý Chúa mới làm cho con người có sức mạnh phi thường. Bằng chứng, vâng theo thánh ý Chúa Cha, Chúa Giêsu đã giải thoát toàn thể nhân loại.

Khi còn nơi cung lòng Chúa Cha và cả khi sống nơi trần thế, “chính Chúa Giêsu đã sống và thông giao với Thiên Chúa tình yêu là Cha – “Abba” – và, bởi đó chúng ta có thể đi vào chính trung tâm sự sống Thiên Chúa.”[iv] Vì được ưu tiên nghe giảng Tin Mừng, người nghèo có thể đi sâu vào kinh nghiệm tình yêu và thánh ý Thiên Chúa. Càng đi sâu vào cung lòng Thiên Chúa, càng thấy Chúa quảng đại và đầy lòng thương xót. Ðó là tất cả nguồn an ủi lớn lao cho người bé mọn.

Còn ai cảm nghiệm lòng thương xót và nguồn an ủi lớn lao của Thiên Chúa hơn Mẹ Maria, nữ tì hèn mòn của Chúa ? Quả thực, “nhìn vào trái tim Ðức Maria, tận nơi sâu thẳm của lòng tin Mẹ diễn tả qua những lời kinh Magnificat, các môn đệ Chúa Kitô được mời gọi canh tân nơi chính mình ‘ý thức sự thật về Thiên Chúa cứu độ, sự thật về Thiên Chúa là nguồn mọi ân huệ. Chân lý đó không thể tách biệt khỏi tình yêu Thiên Chúa dành ưu tiên cho người nghèo và hèn mọn.”[v]

Nếu “Thiên Chúa dành ưu tiên cho những người nghèo và hèn mọn,” ai dám khinh thường hay lãng quên họ ? Theo ý định Thiên Chúa, Giáo hội quan tâm đặc biệt tới người nghèo. Giáo Hội vạch ra đường hướng hoạt động : “Nguyên tắc phân phối thực phẩm khắp nơi đòi phải quan tâm đặc biệt tới những người nghèo, người bị gạt ra ngoài xã hội và những ai đang sống trong hoàn cảnh cản trở sự phát triển của họ. Ðể đạt mục đích ấy, cần phải quyết liệt tái xác định người nghèo phải được dành ưu tiên. Ðây là một lựa chọn, hay một hình thức đặc biệt ưu việt trong công tác bác ái Kitô giáo, được toàn thể truyền thống Giáo Hội làm chứng. Lựa chọn đó ảnh hưởng tới đời sống mỗi Kitô hữu bao lâu họ còn tìm cách noi gương sống của Chúa Kitô, đồng thời cũng áp dụng vào những nghĩa vụ xã hội, vào cách sống của chúng ta, vào các quyết định hợp lý liên quan tới quyền tư hữu và việc xử dụng của cải. Hơn nữa, ngày nay, vì chiều kích toàn cầu của vấn đề xã hội, lòng bác ái ưu tiên dành cho người nghèo và những quyết định do lòng bác ái đó gợi lên, không thể không ưu ái đến quảng đại quần chúng nghèo khổ, khốn cùng, không nhà cửa, không được chăm sóc sức khỏe và trên hết, không chút hy vọng về một ngày mai tươi sáng hơn.”[vi]

Nếu theo đúng đường hướng đó, Giáo Hội làm chứng cho thế giới biết trong thực tế những bí quyết hạnh phúc Thiên Chúa mạc khải cho người hèn mọn là gì. Ði theo con đường của Chúa, Giáo Hội “hằng tái xác nhận nguyên tắc liên đới, học thuyết xã hội của Giáo Hội đòi chúng ta hành động để thăng tiến ‘hạnh phúc của tất cả và từng người, vì tất cả chúng ta đều có trách nhiệm với mọi người.’ Ngay cả trong việc tranh đấu chống lại nghèo đói, nguyên tắc liên đới bao giờ cũng phải kèm theo nguyên tắc bổ sung để có thể nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo, nền tảng căn bản của việc phát triển xã hội và kinh tế trong các nước nghèo. Nên coi người nghèo ‘không phải là một vấn đề, nhưng như người có thể nắm vai chính trong việc xây dựng một tương lai mới mẻ và nhân bản hơn cho mọi người.’”[vii]

Có nhìn người nghèo như thế, Giáo Hội mới có thể tìm cách làm nhẹ gánh cho người nghèo. Từ đó, Giáo Hội làm chứng cho mọi người biết Chúa Giêsu là vua “xét xử công bình và ghét điều gian ác (x. Kn 16:12), xử công minh cho kẻ nghèo hèn (x. Kn 29:14).”[viii] Nếu mọi người đều nhìn nhận Chúa Giêsu là vua, nhân loại sẽ sống trong công lý và hòa bình. Nhưng nhìn vào tình hình thế giới hôm nay, ai cũng thấy Giáo Hội còn phải nỗ lực nhiều mới có thể làm chứng và xoa dịu những đau khổ của người nghèo.

TỪ NẠN NHÂN TỚI VĨ NHÂN

Muốn làm chứng, Giáo Hội cần phải tìm đến thánh Phaolô, một vị tông đồ nhiệt thành hiếm có trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai. Có ai trong Giáo Hội đã hiến cả cuộc đời làm chứng Chúa Giêsu là Chúa công bình và nhân ái bằng thánh Phaolô ? Quả thực, từ khi được mạc khải về những mầu nhiệm Nước Trời, thánh nhân đã nỗ lực cho mọi người thấy Chúa Giêsu là sự khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa.

Trước khi theo Chúa Kitô, thánh nhân đã mang ách lề luật Do thái rất nặng nề. Nhưng từ ngày ngã ngựa tại Damas, thánh nhân đã rũ bỏ được gánh nặng lề luật, để “mặc lấy Chúa Kitô,” sức mạnh của Thiên Chúa. Nhờ sức mạnh đó, thánh nhân đã ra tù vào khám nhiều lần, bị đánh đòn và thập tử nhất sinh. Năm lần thánh nhân bị đánh 39 roi, bị xỉ nhục 3 lần, ném đá 1 lần, bị chìm tàu, đói khát, lạnh buốt xương và trần truồng, bị mưu sát, bách hại và sau cùng bị chém đầu. Chỉ vì theo Chúa Kitô, thánh nhân đã phải trả giá quá mắc. Phải chăng thánh nhân đã “ném bùn sang ao” khi từ ách lề luật sang ách Chúa Kitô ?

Thánh nhân cho biết lý do : “Tôi đành chịu mọi sự thiệt thòi để được biết Chúa Kitô.” Một khi đã biết Chúa Kitô, thánh nhân “coi mọi sự như rơm rác.” Thánh nhân tin rằng mọi sự đều do ân sủng của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Ðấng Toàn năng đã ban sức mạnh cho thánh nhân. Thực thế, chính thánh nhân đã thú nhận : “Tôi có làm được gì đều do ân sủng Chúa.” Cả cuộc đời thánh nhân chỉ để rao giảng “sứ điệp ân sủng.” Ân sủng Chúa Kitô vô cùng giá trị đến nỗi thánh nhân “có thể làm được mọi sự trong Ðấng ban sức mạnh cho tôi.”

Như thế, chính ân sủng đã khiến thánh nhân cảm thấy ách Chúa êm ái, gánh Chúa nhẹ nhàng. Nhờ vậy, thánh nhân đã có thể làm chứng cho Chúa Kitô trong những cơn khốn cùng nhất. Thánh nhân lao vào cuộc chiến chính nghĩa, mà không sợ bất cứ một quyền lực nào. Thánh nhân “không sợ những người chỉ giết được thân xác, nhưng “chỉ sợ Ðấng có thể ném cả thân xác và linh hồn vào hỏa ngục.”

Còn ngày nay, những nhà lãnh đạo Giáo Hội sợ gì ? Làm sao có thể kiếm một người như thánh Phaolô trong Giáo Hội hôm nay ? Nhiều người trong Giáo Hội quá khôn ngoan đến nỗi không dám xông pha làm chứng cho Chúa. Tính toán quá kỹ khiến cho khả năng dấn thân bị tê liệt. Giáo Hội đành nhìn công lý bị chà đạp và người nghèo rên siết dưới những cơ chế bất công. Nhiều nơi Giáo Hội trở thành thứ bình phong bao che hay tuyên truyền cho mọi quyền lực sự ác.

Tóm lại, sau khi được mạc khải về những bí nhiệm Nước Trời, các người bé mọn “nắm bắt” được sự khôn ngoan của Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu Kitô. Càng trở nên bé mọn, càng được mạc khải về bí quyết hạnh phúc. Nhiều nơi trên thế giới, Giáo Hội đang nỗ lực làm chứng cho mọi người biết chỉ có Chúa Giêsu Kitô mới có thể giải thoát con người khỏi những ách nặng nề và đem lại sự nghỉ ngơi và bổ dưỡng cho tâm hồn. Nhưng nếu không tin Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, con người không thể đón nhận ân sủng cần thiết cho cuộc đổi đời.

Lạy Chúa, giữa cuộc sống quá nặng nề vì đau khổ và áp bức hôm nay, xin Chúa mạc khải cho chúng con mầu nhiệm Nước Trời để chúng con có thể tìm được hạnh phúc đích thực. Amen.

đỗ lực 06.07.2008


[i] http://ca.news.yahoo.com/s/capress/080702/entertainment/helmsley_dogs

[ii] x. The New Jerusalem Bible, Doubleday, 1985.

[iii] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội, 29.

[iv] Ibid.

[v] Ibid., 59.

[vi] Ibid., 182.

[vii] Ibid., 449.

[viii] Ibid., 378.


Lm. Jude Siciliano, OP (Anh Em Nhà Học Đaminh chuyển ngữ)

Mang lấy ách của tôi và học cùng tôi !
Mt 11: 25-30

Thưa quý vị,

Có lẽ chúng ta có lẽ nghĩ rằng bài trích sách Dacaria nên đọc vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Thực ra, bài này đã được thánh Mathêu trích dẫn (Mt 21,1-11) và được đọc ngay khi bắt đầu cuộc rước. “Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ”

Dacaria không chỉ nói mơ hồ. Ông cho biết rõ ràng Đấng Messia thuộc Dòng Đavit sẽ như thế nào. Dacaria đã mong một Đấng Mesia như một thủ lãnh không dùng bạo lực. Chỉ cần liếc qua những đầu báo hôm nay cũng thấy những đàn áp vũ lực đối với các cuộc biểu tình ở Syri và Liby. Nhưng ngay cả các nước dân chủ cũng chưa chắc không dính đến bạo lực. Ngược với những kinh nghiệm thông thường của chúng ta. Dacaria mời gọi thính giả của mình chiêm ngưỡng một đấng cứu thế hiền lành, cưỡi trên lưng một con lừa, loài súc vật chở đồ cho người nghèo, chứ không phải chiến mã của các bậc đế vương.

Dacaria chờ mong đấng Messia sẽ chấm dứt các quốc gia hùng mạnh tự mãn về chính mình. Ngài sẽ không phải là một chiến binh, nhưng dẹp qua một bên những vũ khí, chiến xa, chiến mã, cung tên để loan báo hòa bình. Được một người không có đất đai, chư hầu, Đấng không muốn làm người điều khiển cỗ máy chiến tranh đứng ra lãnh đạo – đối với ngày nay có lẽ đó là kiểu lãnh đạo hoàn toàn khác biệt! Chúng ta đã từng nghe những bài phát biểu của các ứng cử viên tổng thống tiềm năng sẵn sàng cho cuộc đua đến chức tổng thống. Cái nhìn của Dacaria chắc chắn thách thức công tác lãnh đạo hiện nay và tiềm năng của đất nước chúng ta, cũng như nhận thức của chúng ta về việc lãnh đạo.

Nơi Đức Giêsu, chúng ta bắt gặp một Đấng cứu thế mà Dacaria đã tiên đoán, trong Bài Giảng Trên Núi, chúng ta nghe Người công bố luật của sự sống cho những ai đón nhận Người. Hôm nay, chúng ta được mời gọi đi vào lời cầu nguyện của Đức Giêsu, tạ ơn Chúa Cha vì đã ban cho Người các môn đệ, những kẻ bé mọn, hiền lành và khiêm nhường.

Thế giới của chúng ta không xem hiền lành và hèn mọn như những lối sống. Thực ra, đó chính là “những kẻ bé nhỏ” bị thế giới quyền lực gạt qua một bên. Người hiền lành không chỉ bị hãm hại, họ còn bị miệt thị, lợi dụng và thậm chí bị giết. Vì thế, sức mạnh và sự quả quyết thì cần thiết để chống lại sự bóc lột những kẻ cô thế cô thân để họ có thể sống trọn vẹn cuộc sống nhân loại. Làm thế nào chúng ta có thể cân bằng giữa việc làm “những kẻ bé mọn” như Đức Giêsu tán dương với Chúa Cha với nhu cầu của chúng ta hiện nay phải dùng sức mạnh để giúp con người thôi bị áp bức? Đó là một vấn đề nan giải. Làm thế nào kẻ mạnh mẽ cũng có thể hiền lành và nhẹ nhàng, thành một trong những “kẻ bé mọn” của Đức Giêsu? Sức mạnh và quyền lực không xóa bỏ sự ôn hòa, hiền lành và phó thác nơi Thiên Chúa.

Ngay trong đoạn trước của bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu bị các Pharisêu cũng như những người trong các thành Người đến rao giảng tẩy chay Người (11,20-24). Ngay cả lúc bị loại trừ, Đức Giêsu vẫn tạ ơn Thiên Chúa vì đã mạc khải sự khôn ngoan cho “những kẻ bé nhỏ”. Trong bài đọc hôm nay, một lần nữa Người trình bày cho các môn đệ biết những phẩm cách của những ai là thành viên của Thiên Quốc.

Cái “ách” của luật Dothái được xem như đặc quyền của những người Dothái nhiệt thành, vì nó cho thấy hồng ân của sự khôn ngoan của Thiên Chúa tỏ ra trong sống hàng ngày. Giờ đây, Đức Giêsu xem mình như là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và ban tặng những cái ách ấy cho ai đón nhận Người. Con người có thể học từ luật lệ, phong tục và giáo huấn của đạo, nhưng nguồn mạch căn bản giúp chúng ta hiểu đường lối của Thiên Chúa thì không hệ tại nơi những kiến thức đó. Nhưng là nơi việc đón nhận Đức Giêsu và sứ điệp của Người. Thực ra, việc tuân giữ lề luật cách tỉ mỉ có thể khiến cho cho người ta ra tối tăm trước tự do của Thần Khí mà Đức Giêsu ban tặngcho chúng ta. Đức Giêsu cho rằng hiểu biết về Thiên Chúa thì không phải chỉ nhờ vào những theo đuổi của con người – dù là với ý hướng tôn giáo tốt nhất. Người nói, “Cha đã giao phó mọi sự cho tôi”. “Mọi sự” – mạc khải trọn vẹn về Thiên Chúa mà chúng ta tìm thấy nơi Đức Giêsu. Người sẵn sàng bày tỏ “mọi sự” về Thiên Chúa cho chúng ta.

Đức Giêsu nói cho những người nghèo, kẻ dốt nát và những ai bị áp bức. Họ phải lo lắng, vật lộn để sống qua ngày. Họ không có nhiều thời gian và cũng chẳng được đi học để mà nghiên cứu những luật lệ, truyền thống về niềm tin của họ như cách các Pharisêu thường làm. Đức Giêsu kết án các Pharisêu chất những gánh nặng lên vai người nghèo còn bản thân họ lại chẳng buồn đưa lấy một ngón tay để nhấc những gánh nặng ấy. Những người phải bươn trải kiếm sống không thể đọc hay nghiên cứu luật, vì thế họ vô tình phạm luật, và kết quả là bị những kẻ thông luật kết án.

Đức Giêsu mời gọi những người bị xem như “kẻ phạm luật”, “hãy theo Tôi”. Người ban cho họ một cái ách, là sự đón nhận tình yêu và ơn tha thứ của Thiên Chúa mà Người ra giảng. Chẳng phải họ thấy nhẹ hơn khi biết rằng mình không phải là những tội nhân, những kẻ bên ngoài như họ từng bị cáo buộc sao? Nay, qua Đức Giêsu, họ cảm nhận được lòng tha thứ của Thiên Chúa và lối sống của Đức Giêsu. Chúng ta cũng nên thắc mắc: chẳng phải sứ điệp của Đức Giêsu về tình yêu của Thiên Chúa và sự sẵn sàng tha thứ mang lại cho chúng ta một gánh nhẹ nhàng hơn và cảm nhận đến gần Thiên Chúa khi chúng ta cần đó sao?

Trong đoạn văn này của Mathêu, chúng ta có hai chọn lựa – tin hay không tin. Nhưng việc tin tưởng vào Thiên Chúa thì không hê tại ở nỗ lực của chúng ta. Nhưng, tin là hồng ân của Thiên Chúa và không tin là vì sự ngạo mạn và kiêu hãnh của những người từ chối tặng phẩm của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Hôm nay, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết Người chính là mặc khải về Thiên Chúa và ý muốn của Thiên Chúa cho chúng ta. Người mời gọi những ai bị áp bức hãy tin vào người. Vì họ, “những kẻ bé mọn”, sẽ không phải mang những gánh nặng hay trói buộc tôn giáo nào. Những “kẻ bé mọn” là những người xuất hiện trong toàn bộ Tin mừng, chẳng hạn như những người thu thuế, gái điếm và những người tội lỗi, những người đã lắng nghe và đón nhận giáo huấn của Đức Giêsu. Giờ đây, Đức Giêsu mang lại sự nghỉ ngơi lâu dài và mãi mãi của thời đại Messia, là thành quả của việc Người đến thế gian.

Chẳng phải lạ lắm sao khi mà vừa nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi lại vừa nghĩ đến chuyện mang ách ? Ách là một công cụ để làm việc, cho cả con người và súc vật. Cái ách là để thi hành một tác vụ. Đối với chúng ta, đó là để phục vụ Đức Kitô. Chúng ta có đón nhận cái ách mà Đức Giêsu ban cho hay không? Một điều chúng ta thấy được từ Đức Giêsu là cái ách của Người không phải là gánh nặng; thánh Phaolô nói cái ách đó dẫn chúng ta đến tự do. Khi chúng ta đón nhận cái ách của Đức Giêsu thì chúng ta cũng đón nhận Ngài như người luôn trợ giúp chúng ta, một người “cùng mang ách” với chúng ta. Điều đó giải thích việc làm thế nào người Kitô hữu có thể hoàn thành được những nhiệm vụ hết sức khó khăn và thậm chí bất khả thi, cho dù là tử đạo, nhờ Danh Đức Giêsu.

Chúng ta đã cố hết sức để có được nền giáo dục đào tạo mà chúng ta cần để sống nốt cuộc đời này. Chúng ta muốn sự yên ổn cho chính chúng ta và gia đình mình. Chúng ta có lẽ cũng đã tăng cường vốn kiến thức và kỹ năng cho mình bằng những khóa học thêm, cố gắng hơn và tốn kém hơn. Chúng ta có lý do chính đáng để thu thập được càng nhiều kiến thức càng tốt. Đó không phải là những gì Đức Giêsu phê phán khi người đề cập đến những kẻ “khôn ngoan và thông thái” – trừ khi việc “khôn ngoan và thông thái” ấy che đậy bản chất mỏng dòn của chúng ta và cho chúng ta cảm giác sai lầm về sự an toàn ở ngoài Thiên Chúa. Chúng ta có thể vừa “khôn ngoan và thông thái” vừa ở trong số “những kẻ bé mọn” mà hôm nay Đức Giêsu đã dâng lời cầu nguyện và tạ ơn cho.

Ở đoạn trước trong Tin mừng Mathêu, Đức Giêsu chúc phúc cho những ai “có tinh thần nghèo khó” (Mt 5,3) như thể đã có được nước trời làm sản nghiệp. Những người đọc Sách Thánh sẽ nhận ra rằng khi Đức Giêsu nói đến “những kẻ bé mọn” là người đang lấy lại hình ảnh của Kinh Thánh bản Hippri, từ “anawim” – có nghĩa là những người hèn mọn và khiêm nhường. Họ là những người không có uy thế, quyền lực, địa vị hay chức vụ cao sang. Họ chẳng có gì để có thể khoe khoang thế giới. Vì thế, họ chấp nhận phó thác nơi Thiên Chúa mà không chút do dự hay kiêu hãnh giả tạo nào.

Trong Thánh lễ này, giống như những “anawin”, chúng ta đón nhận sự khao khát Thiên Chúa của chúng ta và khiêm tốn nài xin: “Con chẳng có gì để kiêu hãnh trước mặt Chúa, lạy Thiên Chúa Chí Thánh. Con hoàn toàn phụ thuộc vào ân sủng của Người”. Thiên Chúa thấy được sự trống trải của chúng ta và đổ đầy trong chúng ta nguồn lương thực tốt nhất, là Mình và Máu của Đấng đang mời gọi chúng ta hôm nay, “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

Lm. Jude Siciliano, OP.

 Ách Tôi êm ái, gánh tôi nhẹ nhàng

Dcr 9,9-10; Rm 8,9.11-13; Mt 11,25-30

Kính thưa quý vị,

Tôi bắt đầu những ngày đau buồn khi nghe được tin tức từ Iraq trên Đài Phát Thanh Quốc gia. Các phần tử cực đoan Suni đã tiếp quản một nửa đất nước. Dân Shiite đang trốn khỏi Mosul. Quân lính xếp hàng trên đường phố và có những cuộc hành quyết. Người dân vướng vào cuộc giao tranh là những nạn nhân của cuộc xung đột không do việc làm của họ. Tôi buồn khi cố hình dung những gì các bậc cha mẹ đang làm khi họ cố chạy đến nơi an toàn cùng với con cái. Ngoài ra, tin tức được cá nhân hơn khi tu sĩ Đa Minh chúng tôi nhận được những dòng email đau buồn về anh chị em của mình, cùng với giáo dân, bị nhốt trong các nhà thờ ở Mosul. Chúng tôi đang lo sợ cho cuộc sống của họ. Tất cả là vì kẻ thù cũ không bị kiểm soát sẽ ở đó – và người vô tội bị vướng vào cuộc giao tranh.

Chúng ta nghe sách Sáng Thế thuật lại Thiên Chúa có ý định tốt đẹp khi Người dựng nên chúng ta. Chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Sau khi Thiên Chúa tạo nên ông bà nguyên tổ, Người đã chúc phúc cho họ. Lời chúc phúc có bị mất đi không? Thưa rằng lời chúc phúc dường như kết thúc ở thế hệ thứ hai, khi lòng ghen tị và oán giận của Cain khiến ông giết em mình. Anh giết em, ngay sau lời chúc phúc đầu tiên. Dân Suni chống lại dân Shiite; các tín đồ Hồi Giáo đối đầu với các Kitô hữu – dường như không có nhiều thay đổi. Kinh Thánh nói đúng: Bạo lực có nơi chúng ta ngay từ ban đầu. Vì thế mới có lời chúc phúc của Thiên Chúa. Cái nào sẽ  thắng thế, bạo lực hay lời chúc phúc? Đôi lúc thật khó trả lời.

Trên chương trình Một Khi Trở Lại của Bill Moyer, có buổi thảo luận giữa Mary Gordon, một thần học gia với một giáo sĩ Do Thái (xin lỗi, tôi quên tên ông ta). Họ bàn về câu chuyện Cain và Abel. Moyers hỏi: “Tại sao Chúa không giết Cain vì tội ác của ông?” Vị giáo sĩ Do Thái trả lời: “Bởi vì Chúa muốn ngăn chặn vòng xoay bạo lực”. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh, giống như Thiên Chúa, và từ lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã muốn chúng ta phản chiếu hình ảnh của Người và “ngăn chặn vòng xoay bạo lực”. Đó là điều làm nên đoạn Kinh Thánh hôm nay.

Quý vị không cảm thấy ngạc nhiên khi thức dậy vào buổi sáng và bật radio chỉ để nghe những tin tốt lành hay sao? Những ngày này, điều đó sẽ hoàn toàn không xảy ra với bất cứ hình thức truyền thông nào. Nhưng chúng ta, những người có đức tin, hướng đến nguồn tin khác, đó là Kinh Thánh, và các bài đọc luôn chứa đựng tin vui cho chúng ta. Kinh Thánh giúp chúng ta giữ vững niềm hy vọng và làm việc thiện, thậm chí khi chúng ta xem tin tức buổi tối và những giọt lệ sầu tuôn trào đôi mắt trước cảnh cùng cực nơi nhiều vùng đất và quốc gia trên thế giới.

Ngôn sứ Dacaria công bố tin vui và niềm hy vọng cho người đương thời, có lẽ 100 năm sau ngày hồi hương. Họ hy vọng có thể phục hồi Giuđa đến vinh quang từng có dưới thời vua Đavít. Tuy nhiên, họ đã không thành công. Vì thế, niềm hy vọng của dân chúng chuyển sang “thời cùng tận”, thời viên mãn cánh chung, khi Đấng Mêsia đến. Ngôn sứ giữ vững niềm hy vọng của dân chúng, rằng Thiên Chúa sẽ ban một vị vua và đấng cứu độ. Nhưng ngôn sứ Dacaria đã nhìn thấy một vị vua khác với vị vua dân chúng mong chờ; một người không cổ võ hung tàn, nhưng chấm dứt nó và xây dựng vươnng quốc bình an. Vị thủ lãnh hiền lành này sẽ loại bỏ tất cả vũ khí chiến tranh, công bố một nền hòa bình vĩnh cửu. Nghe như điều này không thể có phải không quý vị?

Những người đương thời với Đức Giêsu nhận ra Người nh sự viên thành thị kiến của ngôn sứ Dacaria. Nhưng Người không là một biểu tượng đơn độc của các nhân đức mà các ngôn sứ cổ võ. Chúng ta có thể nghe lời mời gọi Đức Giêsu dành cho chúng ta không? “Hãy đến cùng tôi”. Người không chỉ đưa tay trợ giúp những ai mang gánh nặng nề, mà còn mời gọi chúng ta mang lấy “ách” của Người – đường lối của Người là sống và phục vụ.

Một “trái tim hiền lành và khiêm nhường” dường như không hoạt động trong thế giới chúng ta. Những người hiền lành bị “những người quyền cao chức trọng” lợi dụng và loại trừ. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ, có sức mạnh từ Người, từ bỏ bạo lực vì danh Người. Các môn đệ phải đối mặt và chống lại sức mạnh quyền lực đang giẫm đạp người nghèo và người thấp cổ bé miệng. Chúng ta phải “hiền lành và khiêm nhường trong lòng” và luôn chống lại sự dữ bằng cách đồng hành với những người cần được biện hộ và bảo vệ. Thậm chí chúng ta có thể có quyền lực trần thế theo ý muốn, nhưng như những môn đồ của đấng Mêsia “hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, chúng ta không dùng quyền lực trần thế để chống lại bất cứ người hay nhóm nào.

Học cho biết hiền lành và hòa nhã là một kế hoạch suốt đời. Hằng ngày, chúng ta đương đầu với cám dỗ sử dụng sức mạnh và ảnh hưởng để thực hiện kế hoạch của mình – thậm chí kế hoạch đó là tốt. Chúng ta phải thường xuyên thực hành đức hiền từ trong các mối tương quan với người khác, xung quanh ta, trong gia đình ta, cũng như những người chúng ta tiếp xúc nơi công sở, trường học, khu vui chơi giải trí và các địa điểm xã hội.Việc thực hành hàng ngày như thế là huấn luyện nền tảng cho những thời khắc lớn hơn giúp chúng ta mạnh mẽ và hiền lành nhằm chống lại bất công và hận thù.

Thực hành cách thức hiền từ của Đức Giêsu giống như một nỗ lực bị thất bại và đôi khi là một trách nhiệm nặng nề. Khi sự thiếu kiên nhẫn khiến chúng ta phải cậy dựa vào những cách thức thông thường trên thế giới nhằm hoàn thành các mục tiêu của mình, chúng ta cần hướng về Đức Giêsu, Đấng luôn nói hết lần này đến lần khác rằng: “Hãy mang lấy ách của tôi và hãy học cùng tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng; anh em sẽ được nghỉ ngơi. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng”.

Đức Giêsu là hiện thân của khôn ngoan Thiên Chúa, một dấu đối nghịch với lẽ khôn ngoan thế gian luôn đặt chính mình trên hết và cổ vũ chúng ta hành động vì lợi ích của chính chúng ta. Đức Giêsu chỉ ra một cách thức khác, trong đó, Thiên Chúa “ẩn náu khỏi sự khôn ngoan”. Tại sao Thiên Chúa làm điều đó? Phải chăng Người không muốn nhân loại được sung túc? Vâng, nhưng khôn ngoan Đức Giêsu mang đến không do sự cố gắng của con người, mà là ân huệ Chúa ban. Vài người cùng thời với Đức Giêsu cho rằng họ có tất cả những gì họ muốn trong lề luật và các ngôn sứ. Lời dạy của Đức Giêsu thì quá nhiều đối với họ, và như thế đã “ẩn giấu” khỏi mắt họ.

Đức Giêsu nói: “Cha tôi ban cho tôi mọi sự”. Người đang nói về tri thức, mạc khải về Thiên Chúa, được ban cho những ai đón nhận Người. Chúng ta biết được Thiên Chúa nhờ biết Đức Giêsu. Mạc khải này giải thoát chúng ta khỏi ách nặng nề khi cố gắng đặt chính mình hiểu đúng Thiên Chúa bằng nỗ lực riêng.

Thực vậy, Đức Giêsu trao cho chúng ta ách của Người – lời mời gọi đón nhận sứ điệp của Chúa và sự tha thứ cùng với đời sống mới sẽ đến trong cùng sứ điệp đó. Đó là cái ách phục tùng và quy thuận, đòi hỏi tinh thần phục vụ trong toàn bộ đời sống chúng ta. Nhưng khi đón nhận ách của Đức Giêsu, chúng ta sẽ được thấy Thiên Chúa và tìm gặp chốn nghỉ ngơi Đức Giêsu đã hứa.

Đỗ Lực, OP