
Ga 20,19-31
Chúc anh em được bình an
Câu chuyện xảy ra vào buỗi chiều ngày Phục Sinh. Cho đến lúc này, cái chết đau thương của Ðức Giêsu vẫn là ám ảnh lớn nhất trong tâm trí các tông đổ. Các ông buổn bã, thất vọng, và hơn thế nữa, các ông sợ người Do-thái trả thù. Các ông tụ họp nhau tại một căn phòng -có lẽ là căn phòng ở đó các ông đã cử hành bữa tiệc vượt qua. Như là để tóm lại những kỷ niệm thân thương, êm đềm nhất của Vị Thầy đã từng chia sẻ với các ông biết bao nhiêu buổn vui. Các ông tụ họp nhau như để sống lại những biến cố, những hình ảnh của Vị Thầy mà các ông đã gửi trọn niềm hy vọng, đã trao phó cả cuộc đời. Và các ông tụ họp bên nhau như là để tìm một sức mạnh, để cùng nhau chia sẻ nỗi sợ hãi đang đè nặng trên mỗi người.
Thình lình, tại căn phòng ấy, khi các cửa đều đóng kín, Ðức Giêsu đã xuất hiện giữa các môn đệ và ngõ lời chào : “Chúc anh em được bình an”.
Thật là một lời chào ý nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh bi đát của các môn đệ. Tuy vậy, lời chào được kể ra ba lần trong hai lần gặp gỡ không chỉ có mục đích trấn an các môn đệ. Lời chào ấy cũng không chỉ có tính cách xã giao, không chỉ là một lời cầu chúc, một lời hứa ; trái lại, đó là một thực tại, một ân huệ.
Ngay sau lời chào, Ðức Giêsu đã cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người mà các ông đã tận mắt nhìn thấy đã chết trên thập giá, đã bị đâm thấu cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người đã từng sống với các ông, đã giảng dạy, đã làm nhiều phép lạ … Người hiện diện giữa các ông để trao tặng cho các ông ân sủng phong phú của mầu nhiệm Phục Sinh. Người đã trải qua cái chết, đã chiến thắng nó, và giờ đây, Người không còn bị giới hạn bởi những điều kiện không gian và thời gian. Người hiện diện ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào và trao tặng hổng ân của con người đã vượt qua cái chết.
Cũng ngay sau lời chào, Ðức Giêsu thổi hơi vào các môn đệ và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Hình ảnh này nhắc lại câu chuyện xa xưa, khi Thiên Chúa sáng tạo con người. Lúc khởi đầu vũ trụ, Thiên Chúa đã thổi hơi vào lỗ mũi của A-đam và ban cho ông sự sống. Nhưng lần này, hơi thở Ðức Giêsu thổi trên các môn đệ là một ngôi vị, đó là Thánh Thần, mà một trong những hoa quả của Thánh Thần là bình an (x. Gl 5,22).
Rổi, liền sau đó, Ðức Giêsu trao quyền cho các môn đệ để các ông tiếp tục công trình của Người. Các ông đã được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, đã đón nhận bình an, đã lãnh nhận Thánh Thần, các ông sẽ phải ra đi để loan báo, để làm chứng, trước hết cho người môn đệ vắng mặt : ông Tô-ma.
Phúc thay những người không thấy mà tin
Khi ông Tô-ma vắng mặt, Ðấng Phục Sinh đã hiện ra với các môn đệ khác, đã cho các ông nhìn thấy những vết thương để minh chứng cho các ông hiểu Người đã sống lại, đã hoàn tất công trình cứu độ.
Khi các môn đệ nói với ông Tô-ma : “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, ông đã không tin. Ông nghĩ rằng mình cũng phải có kinh nghiệm như các môn đệ kia : “Nếu tôi không thấy … nếu tôi không xỏ ngón tay …”. Không phải rằng Tô-ma không muốn tin, nhưng ông mong muốn có bằng chứng cụ thể, muốn có một kinh nghiệm trực tiếp, kinh nghiệm cá nhân về Ðức Giêsu. Chính vì thế, trong lần gặp gỡ thứ hai, Ðức Giêsu đã nói với ông Tô-ma : “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy”.
Như vậy, đức tin Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ cá nhân với Ðức Giêsu Kitô. Ðức tin đó không khởi đầu từ bất cứ điều gì khác, dù đó là Sách Thánh hay truyền thống tôn giáo, nhưng khởi đầu từ một con người sống động : Ðức Giêsu là Chúa.
Trong câu chuyện này, có thể các môn đệ đã đi trước Tô-ma một bước. Thế nhưng, để tin vào mầu nhiệm Phục Sinh, các ông vẫn cần có những chứng cớ. Nói cách khác, các ông không thể tin rằng Ðức Kitô đã phục sinh nếu như Người không hiện ra cho các ông. Các ông cần có kinh nghiệm cụ thể, hữu hình để rổi các ông sẽ là chứng nhân cho các thế hệ mai sau. Không nên hiểu câu nói của Ðức Giêsu với ông Tô-ma như là một lời trách móc, trái lại nên coi đó như một lời khuyến khích, động viên không phải ai cũng có diễm phúc được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, nhưng ai cũng phải tin vào Người, dựa trên lời chứng của những người đã nhìn thấy, tức là các môn đệ.
“Lạy Chúa, là Thiên Chúa của tôi”
Làm sao có được niềm tin chân thực khi mà ngay cả ông Tô-ma cũng chưa nhận ra Ðức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện cách thể lý.
Nghi ngờ ! Một thái độ quen thuộc.
Con người dường như luôn chìm trong thái độ nghi ngờ. Trong các biến chuyển của xã hội, trên khuôn mặt của đám đông dân chúng, dường như chẳng có gì là thần thiêng, chẳng có gì chứng tỏ sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh.
Tuy vậy, chính đức tin cho chúng ta hiểu rằng Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện giữa nhân loại. Cần phải ghi nhớ điều này : hoạt động của Người càng âm thầm, thì hoạt động ấy càng mãnh liệt. Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện cách sâu xa và hiệu quả hơn khi Người mang thân xác con người. Ðó chính là điều người Kitô hữu phải khám phá, phải sống và loan báo.
Kinh nghiệm của môn đệ Tô-ma thực là gương mẫu cho chúng ta, đó là khao khát quyền năng của mầu nhiệm Phục Sinh thể hiện trong cuộc đời của mình cũng như của cộng đổng. Chúng ta không chỉ mong đụng chạm với Ðấng Phục Sinh cho bằng muốn Người bày tỏ sức mạnh của Người để giải thoát chúng ta khỏi những nghi ngờ. Chính lúc ấy, và chỉ vào lúc ấy, Ðức Giêsu mới thực sự là “Chúa, là Thiên Chúa của tôi”.
* * *
Ôi Ðức Kitô Phục Sinh,
Chúa là Ðấng Hằng Sống.
Nhờ Thánh Thần của Chúa Cha,
Chúa đã phục sinh vinh hiển,
xin đến và mở toang cánh cửa tâm hổn
của mỗi người cũng như của cộng đoàn chúng con.
Xin ánh sáng rạng ngời của Chúa
xua tan bóng tối sợ hãi đang vây phủ chúng con.
Ôi Ðức Kitô Phục Sinh,
Chúa là ân huệ đầu tiên,
là ân sủng cao quý nhất do Chúa Cha trao tặng,
xin ban cho chúng con
nhũng ân huệ có sức cứu độ :
đó là niềm vui, sự tha thứ.
Xin nói với chúng con :
“Chúc anh em được bình an”.
Ước gì chiến thắng của Chúa trên sự dữ
giải thoát chúng con
khỏi những chia rẽ và hận thù,
và ban cho chúng con
ơn cứu độ và niềm vui.
Ôi Ðức Kitô vinh hiển,
xin cho chúng con được chạm đến
những dấu hiệu cho thấy sự hiện diện mới của Chúa
đó là cộng đoàn Thánh Thể,
là việc chia sẻ Bánh Thánh và Tình Thương
để như môn đệ Tô-ma
chúng con đủ tin để tuyên xưng rằng :
“Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi”.
G. Nguyễn Cao Luật op








