CN IV MC A: Hãy sống như con cái sự sáng

(Ga 9, 1-41)

Thưa quý vị, Phụng vụ tuần này còn tiếp tục dẫn dắt tín hữu suy niệm về ý nghĩa bí tích Rửa tội trong đêm vọng Phục sinh. Tuần trước là về nước ban sự sống đời đời. Hôm nay về ánh sáng (bài đọc 2 và 3) và sự cao trọng của ơn gọi làm công dân Nước Trời (bài đọc 1). Đa phần chúng ta lãnh Bí tích Thánh tẩy hồi mới lọt lòng mẹ, tức lâu lắm rồi, cho nên không còn ý thức sự phong phú của bí tích khởi sự đời sống Kitô hữu. Vậy thì cơ hội suy niệm lại thật là hữu ích.

Bài đọc 1 kể chuyện David được chọn làm vua Israel thay thế Saun. Vua này bị Thiên Chúa loại bỏ vì làm nhiều điều gian ác. Thiên Chúa sai tiên tri Samuel đến thành Bethléem với chiếc bình đầy dầu và tìm David, con Jessé để xức dầu cho ông. Jessé gọi lần lượt gọi 7 con trai của mình đến trước mặt vị tiên tri. Nhưng Thiên Chúa từ chối tất cả những đứa con đó, mặc dù chúng đều cao lớn và đẹp đẽ. Cuối cùng, Ngài chọn đứa con út David với đôi mắt sáng và đẹp trai. Tuy nhiên không phải hình dáng bên ngoài mà David được chọn. Kinh thánh nói chính là vì phẩm chất bên trong mà Thiên Chúa đã chọn ông. Liên tưởng đến các tín hữu, chúng ta cũng được chọn không phải vì lý do loài người, nhưng hoàn toàn bởi lòng tốt của Thiên Chúa. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu thành Côrintô viết : “Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem : Khi anh em được Chúa kêu gọi thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại thì Thiên Chúa đã chọn … (1 Cr 1, 26) để nhận lấy Thánh Thần của Thiên Chúa.” (1 Cr 2, 10) Dầu là dấu chỉ rõ ràng nhất chúng ta được hiệp thông với chức vụ của Chúa Giêsu là tư tế, tiên tri và vương đế cho đến cõi sống muôn đời. Còn gì sang trọng hơn địa vị người tín hữu trong thế gian này ?

Cho nên ở thư gửi tín hữu thành Êphêsô hôm nay, thánh nhân khuyên nhủ : “Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng, mà ánh sáng mang lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.” Nhờ xức dầu bằng Thánh Thần khi chịu phép Rửa tội, chúng ta tiến đến ánh sáng Chúa Kitô, rời bỏ bóng tối tội lỗi, các tính hư nết xấu như say sưa, rượu chè, dâm đãng, những tội kéo cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trên nhân loại. Tội lỗi là bóng tối, là đêm đen. Chỉ duy sự thánh thiện mới là ánh sáng, ánh sáng huy hoàng của Chúa Kitô. Hội thánh được mời gọi đến cùng ánh sáng. Thánh Phaolô dùng cụm từ “mặc lấy Chúa Kitô” chính là trong ý nghĩa này. Tác giả Prat viết : “Các tín hữu có những con mắt của một trái tim rực sáng. Họ là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày.(1 Tx 5, 5) Hơn thế nữa, ánh sáng thâm nhập họ khi chịu phép Rửa tội biến hoá họ thành những lò lửa rực sáng. Họ phản ánh và phân tán ánh sáng như những khối thuỷ tinh phản chiếu mặt trời. Họ rực rỡ như những ngọn đèn đặt vào thế gian. Họ chính là ánh sáng trong Đức Kitô. Như thế, Hội thánh chính là vương quốc ánh sáng mà Bí tích Rửa tội đã đưa chúng ta vào.” Có đối kháng tuyệt đối giữa tội lỗi và ánh sáng. Thánh Phaolô viết : “Thật thế, làm sao sự công chính lại liên kết với sự bất chính ? Làm sao Đức Kitô lại hoà hợp được với Bêlia (satan) ? Làm sao người tin lại chung phần được với người không tin ? Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được ? Vì chúng ta là đền thờ Thiên Chúa hằng sống.” (2 Cr 6, 14)

Bài đọc 2 hôm nay tiếp theo ý tưởng đó : “Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối. Trái lại, phải vạch trần những việc ấy mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến là đã nhục nhã rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra, thì trở nên ánh sáng.” Người ta có thể dễ dàng nhận ra ý nghĩa tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, ám chỉ thần khí và xác thịt mà thánh Gioan đề cập đến trong bài Phúc âm hôm nay.

Để rộng đường suy niệm, trước hết xin ghi chép ý kiến của tác giả Patrica Datchuck Sanchez viết năm 1999 đăng trong “Celebration” về bài Tin Mừng. Cô nói mỗi khi đọc nó cô nhớ lại thời thơ ấu của mình, khi còn học tại trường mẫu giáo của các dì, lần đầu tiên cô được nghe chuyện về Helen Keller, một bé gái câm điếc từ 7 tuổi, đã nhờ cố gắng mà trở nên một trong các diễn giả, tác giả danh tiếng nhất của Hoa Kỳ ở thế kỷ 20. Helen Keller là con của một gia đình khá giả. Lúc 7 tuổi mắc bệnh hiểm nghèo đưa đến việc cô hoàn toàn bị câm và điếc khi khỏi bệnh. Gia đình thương hại, chiều chuộng hết mức, mặc cho con thoả mãn mọi ước muốn của mình. Sự mù loà của cô vượt xa bất hạnh thể lý. Nó cắt đứt cô khỏi mọi quan hệ thân yêu, đẩy cô vào cô đơn buồn thảm. Nhưng Helen Keller rất thông minh. Cha mẹ thuê Annie Sullivan làm cô giáo dạy tư cho bé. Nhờ sự kiên trì của cô giáo, Helen Keller thắng được bệnh tật, vượt qua bất hạnh và trở nên danh tiếng. Trên sân khấu và trong màn ảnh lớn, giây phút “phá ngu” được diễn tả một cách thật mãnh liệt. Cô giáo Annie mang Helen ra chiếc giếng bơm và khi nước chảy xuống tay Helen, cô giáo làm hiệu từ “nước”. Hàng trăm lần như thế, bé Helen học được một từ. Bé đã liên hệ được giữa ký hiệu và thực tế. Dần dần bé học thêm các từ ngữ khác và tiến bộ rất nhanh.

Tuy nhiên, giây phút đầu tiên là quan trọng. Nó khai mở cho bé vào thế giới bình thường của mọi người, giải phóng bé không những khỏi sự im lặng nặng nề của câm điếc mà còn cho bé tự do tiếp xúc với sự vật xung quanh. Quả là giây phút quyết liệt và huy hoàng. Nó cho phép bé sống một cuộc đời phong phú mà ít người có được. Ở nhà trường, chúng tôi phải phân tích và học hỏi một số những áng văn hay của cô. Cô đã ảnh hưởng trực tiếp vào tôi chứ không còn nghe về cô nữa. Cô giúp đỡ chúng tôi ngộ ra những ân huệ mà loài người được hưởng ; xưa nay cứ ngỡ là quyền lợi tự nhiên ; những giá trị quý báu cuộc sống tặng ban hằng ngày mà chúng ta coi là tầm thường. Cuộc “đột phá” của bé Helen tại giếng bơm khởi đầu một loạt những “phép lạ” khác của đời bé sau này và qua bé tất cả chúng ta đều được ân hưởng.

Tôi muốn nói : Câu chuyện người mù hôm nay tương tự trường hợp của Helen Keller. Ông ta được sáng mắt qua một đột biến ngoạn mục. Mùa chay này chúng ta cũng được “sáng lòng” qua những biến cố như vậy, nhờ ân huệ Chúa Giêsu. Tuy nhiên, đối với anh mù, đó mới chỉ là bước khởi đầu. Anh còn phải trải qua một hành trình đầy nhiêu khê : Khi Chúa Giêsu để ý đến anh ngồi ăn xin, Ngài muốn chữa lành thì các môn đệ đặt câu hỏi thần học : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” Theo não trạng tôn giáo khi ấy, các bất hạnh của con người là hình phạt Thiên Chúa giáng xuống kẻ có tội hoặc do chính đương sự phạm hay cha mẹ gây nên. Tư tưởng này ngày nay vẫn phổ thông và người ta chờ đợi câu đáp tích cực : Chúng ta chịu đựng khổ đau bởi đã phạm tội. Không còn đường lối giải trình nào khác nữa. Ôn dịch, tai nạn, thảm hoạ, thiên tai, chẳng qua là hình phạt do tội lỗi làm nên. Nhưng phải chăng các nạn nhân sóng thần vừa qua tại đông nam Á châu cũng là do tội lỗi của họ ? Phải chăng hiện trạng mỗi người là do khiếm khuyết di truyền, khiếm khuyết giáo dục dưỡng nuôi ? Khiếm khuyết môi trường hoàn cảnh ? Hằng trăm nghi vấn tương tự được đặt ra cho khoa học luân lý, thần học, xã hội mà vẫn chưa tìm thấy câu trả lời thoả đáng.

Quay về với hoàn cảnh của anh mù trong Phúc âm, Chúa Giêsu trả lời dứt khoát : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội.” Nó là hoàn cảnh chung của toàn thể nhân loại xa lìa Thiên Chúa. Vì vậy, Ngài nói tiếp : “Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh.” Nói kiểu khác : Chúa Giêsu chính là công trình cứu độ của Thiên Chúa nơi trần gian. Cho nên, Chúa tiếp : “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Ngài nhìn nhân loại theo quan điểm siêu nhiên, chứ không hoàn toàn tự nhiên. Ngài đến để cứu chữa loài người khỏi vòng tối tăm tội khiên và hậu quả khốc liêt của nó. Như có lần Ngài chữa lành kẻ bại liệt do bốn người khiêng mang đến, Ngài tuyên bố : “Này anh, tội của anh đã được tha rồi.”(Mc 9, 1) làm cho các kinh sư bực bội. Trường hợp của anh mù bẩm sinh hôm nay cũng vậy, Chúa chữa anh lành về thể lý và tinh thần thì các quyền bính Do thái lại trở nên mù tự ý (Aveuglement volontaire) do lòng kiêu ngạo của mình, không dám chấp nhận sự thật Thiên Chúa ban cho. Đây là điểm chúng ta cần lưu ý, bởi chúng ta cũng đầy dẫy những thành kiến, thậm chí định kiến về người khác không cùng phe với mình, hoặc những tổ chức, những tôn giáo khác. Có lẽ chúng ta cũng mù tự ý chăng ?

Qua câu chuyện hôm nay, Chúa Giêsu muốn đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của người mù, tức muốn chữa nhân loại khỏi tối tăm về phần linh hồn. Ngài muốn khai sáng chúng ta khỏi những giới hạn và những quan niệm sai lầm về Thiên Chúa, về đồng loại, về tội phúc. Chúng ta cũng nên suy nghĩ thêm về câu chuyện đau khổ của con người và sự liên hệ giữa chúng với tội lỗi hình phạt. Chúa Giêsu khởi sự bằng cách chữa lành phần xác cho anh mù, nhưng không dừng lại tại đó mà tiến xa hơn, soi sáng cho anh nhận ra thân phận bị xã hội khinh bỉ, chà đạp để tiến đến tâm lý tự tin, độc lập, trưởng thành tinh thần. Anh đã có khả năng chống lại ý kiến của hội đồng Do thái, coi Chúa Giêsu và anh thuộc thành phần tội nhân. Anh thờ lạy Ngài như nguồn mạch đời sống mới của mình.

Con đường của anh chạy song song với đời sống đức tin của chúng ta khi lãnh Bí tích Rửa tội. Từng bước chúng ta được Chúa Giêsu dẫn đến cùng Thiên Chúa. Nước khởi đầu cuộc hành trình đức tin và ánh sáng dẫn lối chân thật cho loài người đi đến cùng đích. Chúng ta đang ở giữa Mùa chay, giống như anh mù ở suối Silôê, chúng ta cũng được ơn thanh tẩy soi sáng cho biết thân phận mình. Chúng ta có cơ hội kiểm tra các viễn tượng. Liệu chúng ta đã có những lựa chọn tốt hay chạy theo giả dối thế gian ? Liệu chúng ta ưa thích ánh sáng của Chúa Giêsu hay những ảo tưởng lầm lạc và bóng tối lừa đảo của Mammon và các tiện nghi xác thịt khác ? Cuộc sống khắc khổ đạm bạc hay say sưa nhung lụa ? Điều chi khiến chúng ta lầm đường lạc lối ?

Gần đây tôi đi giảng thuyết ở thành phố Miami Hoa kỳ, một địa điểm khá tốt. Gió biển thổi hiu hiu khắp nơi. Tôi đi bộ một mình qua công viên vào buổi chiều tàn, say sưa ngắm mặt trời lặn từ từ trên nước biển. Quang cảnh thật huy hoàng. Mặt trời đỏ to như chiếc đĩa lớn với muôn hồng nghìn tía, làm ngây ngất tâm hồn. Nhưng trước khi tôi trở về với ý thức, thì mặt trời đã biến mất từ lúc nào, màn đêm đen nghịt buông xuống trên vạn vật. Người ta phải mò mẫn kiếm lối đi và rất dễ bị lạc trong các phố xá xa lạ như thế này. Đâu là hàng rào thấp bằng các dây thừng ? Đâu là giếng nước ? Có lẽ có cái ao ở đây ? Còn chỗ quẹo ngấp ? Tôi đã đậu xe ở đâu ? Hằng trăm câu hỏi, giống như các nghi vấn của cuộc đời, đúng không quý vị ? Ánh sáng lại dần dần biến mất mà không nhận thấy, khi chúng ta bị thu hút bởi mặt trời đang lặn. Lúc tỉnh ngộ mới chú ý đến các nhu cầu của mình và muốn có hết mọi sự : Tự do, độc lập, hạnh phúc, thoát khỏi mọi giới hạn ràng buộc ? Chăm lo các dự án, các chương trình ? Chúng ta lại bị thôi miên bởi những bận rộn của cuộc sống giống như người ngắm mặt trời lặn. Dĩ nhiên, chúng ta lại có ít ánh sáng soi đường dẫn dắt mình. Chúng ta lại bỏ bê các ưu tiên cần thiết như gia đình, lòng tin, cộng đồng giáo xứ. Chúng ta lại vướng chân vào cạm bẫy của satan. Ánh sáng lại phai nhoà, nguy hiểm khắp nơi. Chúa Giêsu trông thấy trước những khó khăn này xảy ra cho môn đệ và cho cả chúng ta nữa, nên Ngài phán : “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy khi trời còn sáng, kẻo đêm đến không ai có thể làm việc được. Thầy là ánh sáng thế gian.”

Ở ý nghĩa nào đó, mù loà cũng là kết quả của hoàn cảnh mỗi người. Khi được sinh vào thế gian, tội lỗi đã chờ sẵn chúng ta. Chúng ta hít thở bằng không khí luân lý bị ô nhiễm nặng nề, bóng tối thâm nhập vào tận tâm can từ khi còn bé. Một tù nhân nặng ký đã kể với tôi rằng : Cha anh ta đang ngồi tù ở Soledad, người anh cả ở Folsom. Hai khám đường nổi tiếng của bang California. Tôi không mấy ngạc nhiên về việc anh bị giam giữ nghiêm ngặt tại đây, bởi vì đã lớn lên trong điều kiện như vậy. Liệu chúng ta có khả năng chống lại bóng tối định mệnh ? Thật là khó khăn nếu không có ơn Chúa trợ giúp : “Bao lâu còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

Hôm nay, chúng ta có bài đọc Tin Mừng dài, xin hãy lắng nghe trọn vẹn, đừng thiếu chi tiết nào. Bởi nó là câu chuyện của chúng ta, của cộng đồng giáo xứ. Giống như anh mù, chúng ta đã tìm thấy Thiên Chúa, nguồn mạch sự sáng. Có lẽ, chúng ta không cần đến chữa lành thể lý, nhưng tâm linh thì rất cần, để nhìn tỏ tội lỗi mình, và những sai xót của cuộc đời. Chúng ta phải nhận ra mình là ai trước tôn nhan Thiên Chúa ? Chúng ta đến từ đâu và sẽ đi về đâu ? Cần phải làm chi trên đường đời ? Nhưng trước khi các việc đó xảy ra thì chúng ta đã được Chúa ban ơn “xem thấy”. Xem thấy Chúa Giêsu và những viễn tượng đúng hướng. Chính ơn ấy đã dẫn đưa mọi người đến buổi phụng vụ hôm nay. Chúng ta ý thức mình luôn cần Bí tích Thánh thể, ngõ hầu mắt được sáng, lòng được sốt mến mà đi trọn đường đời. Mùa chay cống hiến cho chúng ta thời giờ để thú nhận rằng : Mình đã nhiều lần vấp ngã trong đêm tối và cần trở lại với ánh sáng đã lãnh nhận khi chịu phép Thánh tẩy. Chúa Giêsu chính là ánh sáng đó. Ngài còn là sự khôn ngoan gìn giữ chúng ta khỏi rơi vào cạm bẫy thế gian lần nữa. Amen.


Lm. Jude Siciliano, op.