tháng 5 21, 2021

LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Pentecost Sunday

SỐNG LỜI CHÚA

GOSPEL : Jn 20:19-23

On the evening of that first day of the week,
when the doors were locked, where the disciples were,
for fear of the Jews,
Jesus came and stood in their midst
and said to them, “Peace be with you.”
When he had said this, he showed them his hands and his side.
The disciples rejoiced when they saw the Lord.
Jesus said to them again, “Peace be with you.
As the Father has sent me, so I send you.”
And when he had said this, he breathed on them and said to them,
“Receive the Holy Spirit.
Whose sins you forgive are forgiven them,
and whose sins you retain are retained.”

TIN MỪNG : Ga 20,19-23

Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an

19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

SUY NIỆM

BÌNH AN ĐÍCH THỰC

Trong quyển “Thập giá và dao găm”, mục sư Wilkerson ghi lại lời tự thuật của Joe, trùm du đãng như sau: Trước đây, tôi chỉ biết có sự an ủi duy nhất là rượu mạnh và ma túy. Nhưng một số người nói còn có sự an ủi từ trời có thể khiến lòng người được thanh thản. Tôi cố gắng tìm và kêu xin Chúa. Sau cùng, Chúa Thánh Thần đã được ban cho tôi, lòng tôi thanh thản đến nỗi tôi không cần đến rượu mạnh và ma túy nữa.

Ai trong chúng ta cũng khao khát có được hạnh phúc trong tâm hồn. Và một trong những dấu hiệu của một tâm hồn hạnh phúc, đó là sự bình an. Bình an là điều không thể thiếu trong cuộc sống. Chúng ta tìm mọi cách để có được sự bình an, bình an nơi tiền bạc, danh vọng và lạc thú. Tuy nhiên, đó chỉ là sự bình an chóng qua ở đời này, nay còn mai mất, không có gì chắc chắn.

Hôm nay, khi hiện ra với các môn đệ, cùng với việc trao ban Thánh Thần, Đức Giêsu Phục Sinh đã hai lần chúc bình an cho các ông: sự bình an xua tan sợ hãi, và sự bình an trao ban sứ vụ. Sự bình an mà Thiên Chúa trao ban chính là sự bình an nội tâm, không phải sự bình an chóng qua của người đời.

Quả thật, Chúa Thánh Thần chính là sự bình an đích thực mà Thiên Chúa ban cho nhân loại. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta được mời gọi can đảm vượt qua những thử thách và sống tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Qua Chúa Thánh Thần, chúng ta được trở nên chứng tá cho tình yêu của Thiên Chúa và đem sự bình an đến cho mọi người.

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng ta hãy dọn mình sốt sắng, để chúng ta xứng đáng trở nên đền thờ của Thiên Chúa và tâm hồn chúng ta được bình an, được hạnh phúc.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần đến để đổi mới tâm hồn chúng con, hầu chúng con luôn sống tín thác vào Chúa và can đảm làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO

Chúng ta phải tin gì về Chúa Thánh Thần?

Trong kinh Tin kính, lời tuyên xưng về Ngôi Ba rất vắn tắt: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần”. Đức tin về Chúa Thánh Thần ngắn gọn như vậy sao? Giáo hội có bao nhiêu tín điều liên quan đến Ngài nữa không?

Chúng ta quen đọc hai kính Tin kính: một kinh ngắn được đặt tên là kinh “Tin kính các thánh Tông đồ”, trong đó xem ra đức tin về Chúa Thánh Thần chỉ giới hạn vào câu ngắn ngủi vừa kể, rồi tiếp đó là “Tôi tin có Hội thánh hằng có ở khắp thế này”. Kinh thứ hai dài hơn, đọc trong Thánh lễ chúa nhật, được đặt tên là “Tín biểu công đồng Constantinopolis”. Trong kinh này, phần dành cho Ngôi Ba dài hơn, bởi vì công đồng Constantinopolis đã được triệu tập năm 381 để xác định đức tin về bản tính của Chúa Thánh Thần. Chúng ta sẽ phân tích nội dung của kinh này. Dù sao, đừng nên quên rằng, khi đối chiếu các tín biểu (nghĩa là biểu thức đức tin) vào thời cổ, người ta thấy rằng cấu trúc của nó gồm ba phần, tương ứng với tác động của Ba Ngôi Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ. Phần thứ nhất nói về Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất. Phần thứ hai dài hơn cả, nói về Chúa Con, đã nhập thể, đã chịu tử nạn và sống lại, lên trời và sẽ trở lại xét xử trần gian. Phần thứ ba được dành cho Chúa Thánh thần, Đấng tác động trong Hội thánh và dẫn đưa nhân loại đến sự sống vĩnh cửu. Như đã nói, trong tín biểu Constantinopolis chúng ta nhận thấy lời tuyên xưng về Chúa Thánh Thần phong phú hơn cả, gồm có hai đề tài chính: thứ nhất là bản tính của Ngài; thứ hai là tác động của Ngài. Nói vắn tắt, công đồng trả lời hai câu hỏi: Ngài là ai? Ngài làm gì?

Chúa Thánh Thần là ai?

Có lẽ trong tiếng Việt, từ “Thánh Thần” cũng có nghĩa tương tự như “thần thánh” vậy thôi. Trong tiếng Do thái, ruah có nghĩa là: khí, gió, sức lực. Cựu ước đã nói đến ruah Yahweh, (thường được dịch là “thần khí Chúa”), được hiểu như là sức mạnh, nghị lực của Thiên Chúa, tác dụng trong thiên nhiên và đặc biệt trong lịch sử của dân Do thái. Thần khí Chúa gợi lên những vị cứu tinh, những nhà lãnh đạo, những ngôn sứ. Thuật ngữ ấy cũng xuất hiện trong Tân ước. Một câu hỏi được đặt ra hồi thế kỷ IV là: phải chăng trong Tân ước, “thần khí Chúa” ám chỉ sức lực của Thiên Chúa hay là một ngôi vị? Dựa trên các bản văn Tân ước và các giáo phụ, công đồng khẳng định rằng “Thần khí Chúa là một ngôi vị”. Công đồng Constantinopolis đã tuyên xưng 5 điều liên quan đến bản tính của Ngôi Ba. Thứ nhất, Ngài là “Đấng Thánh” (to hagion); có nghĩa là Ngài thuộc hàng thần linh. Thứ hai, Ngài là “Chúa” (to kyrion). Thứ ba, Ngài là Đấng ban sự sống (zoopoion). Cả ba đặc tính này đều nói đến thiên tính của Ngài. Thứ bốn, Ngài phát xuất từ Chúa Cha. Thuật ngữ này lấy từ Tin mừng Gioan 15,26, muốn nói rằng ngài cùng bản tính Thiên Chúa như Chúa Cha, chứ không phải là thụ tạo. Thứ năm, Ngài cùng được phụng thờ và tôn vinh với Cha và Con. Đây chỉ là một hệ luận; xét vì Ngài cũng là Thiên Chúa như Cha và Con, cho nên Ngài cũng phải nhận được sự thờ lạy và chúc tụng giống như hai vị kia.

Đó là nói về bản tính của Thánh Thần (Ngài là ai?), chứ Công đồng đâu có đả động gì đến tác động của Ngài (Ngài làm gì)?

Thoạt tiên xem ra các bản kinh Tin kính chỉ nói về bản tính của Thánh Thần mà thôi, rồi bước qua những điều tuyên xưng liên quan đến Hội thánh. Tuy nhiên, khi đối chiếu các bản kinh cổ truyền, người ta thấy rằng những chân lý liên can tới Hội thánh đều được đặt trong phần thứ ba dành cho Thánh Linh (chứ không phải trong phần thứ hai liên quan đến Đức Kitô). Các chân lý về Hội thánh họp thành một mệnh đề duy nhất với chủ từ là Thánh Linh: “Tôi tin kính Thánh Linh hiện diện ở trong Hội thánh” (Credo in Spiritum Sanctum - qui est - in ecclesia). Như vậy, cũng như công trình tạo dựng được gán cho Chúa Cha, công trình cứu chuộc được gán cho Chúa Con, thì công trình thánh hóa được gán cho Chúa Thánh Thần, đấng được tuyên xưng là Đấng Thánh và ban sức sống. Ngài thánh hóa Hội thánh, hay nói theo Cha Congar, khi bình giảng về bốn đặc điểm của Hội thánh, “Ngài liên kết Hội thánh nên một, Ngài thánh hóa Hội thánh, Ngài duy trì Hội thánh trung thành với đạo lý các tông đồ, Ngài giúp cho Hội thánh được lan rộng tới muôn dân. Chính Ngài tha tội ban lại cho chúng ta sự sống thần linh, và thông ban sự sống bất tận khi cho thân xác chúng ta sống lại”. Như vậy có nghĩa là Hội thánh hoàn toàn nằm trong tay của Chúa Thánh Thần: Thánh Linh ban sức sống cũng như giúp cho Hội thánh biểu lộ được bản chất của mình. Nói khác đi, tất cả phần thứ ba của kinh Tin kính nói đến các tác động của Chúa Thánh Thần trong Hội thánh và trong thế giới, đưa nhân loại đến cứu cánh tối hậu là cuộc sống vĩnh cửu.

Tác động của Chúa Thánh Thần trong Hội thánh như thế nào?

Ở số 4 của Hiến chế về Hội thánh, công đồng Vaticanô II đã kể ra đến chín tác động của Thánh Linh: 1/ Thánh Linh được sai đến Hội thánh trong ngày lễ Ngũ tuần để khai mào cho sứ mạng của Hội thánh; 2/ Thánh Linh thánh hóa Hội thánh; 3/ Thánh Linh ban sức sống cho Hội thánh; 4/ Thánh Linh cư ngụ trong Hội thánh và trong các tâm hồn như là trong đền thờ; 5/ Thánh Linh hướng dẫn Hội thánh tới chân lý trọn hảo; 6/ Thánh Linh kết hợp Hội thánh nhờ sự thông hiệp và các tác vụ; 7/ Thánh Linh đổ xuống các hồng ân và đặc sủng, hoa trái; 8/ Thánh Linh làm cho Hội thánh được đổi mới và nên tươi trẻ; 9/ Thánh Linh hướng dẫn Hội thánh tới sự kết hiệp cánh chung với Đức Kitô. Mỗi lời khẳng định đều kèm theo trưng dẫn các đoạn Kinh thánh, đặc biệt là các bản văn của thánh Gioan, thánh Phaolô và thánh Luca

Đặc sủng là gì?

“Đặc sủng” hay có khi được dịch là “đoàn sủng” do từ charisma trong tiếng Hy lạp Tân ước. Tự nó, charisma chỉ có nghĩa món quà, tặng phẩm; nhưng trong các thư, thánh Phaolô đã dùng danh từ ấy 16 lần để nói về các hồng ân mà Thánh Linh ban cho các tín hữu nhằm xây dựng cộng đồng. Như vậy, “đặc sủng” hay “đoàn sủng” có nghĩa là: ơn đặc biệt được Thánh Linh ban cho một vài tín hữu nhằm tới ích lợi của cộng đoàn (chứ không nhằm tới ích lợi cá nhân).

Có bao nhiêu đặc sủng tất cả?

Thánh Phaolô đã cung cấp bốn bản liệt kê các đặc sủng ở thư thứ nhất gửi giáo đoàn Corintô, chương 12 với hai danh sách: ở các câu 8-10 và các câu 28-30; một danh sách thứ ba trong thư gửi Rôma, chương 12, các câu 6-8; và danh sách thứ bốn trong thư gửi Ephêsô chương 4 câu11. Có điều là bốn danh sách không hoàn toàn trùng hợp với nhau. Từ đó, các nhà chú giải kết luận rằng thánh Phaolô không chủ ý liệt kê tất cả mọi đặc sủng, nhưng chỉ nêu lên vài thí dụ gặp thấy ở vài cộng đoàn. Thực vậy, không thể nào giới hạn tác động của Thánh Linh được. Ngài thổi đâu tùy ý.

Các đặc sủng có khác với bảy ơn Chúa Thánh Thần không?

Khác vì nhiều lý do. Lý do thứ nhất là về nền tảng Kinh thánh; lý do thứ hai về chức năng. Thứ nhất, xét về nguồn gốc, đạo lý về bảy ơn dựa trên một đoạn văn của Isaia, chương 11, câu 2. Ngôn sứ này nói đến một vị vua lý tưởng thuộc dòng dõi Đavít, được thần khí trang điểm với các nhân đức lỗi lạc vượt xa các tiền bối. Thần khí Giavê sẽ đáp xuống trên vị ấy: thần khí khôn ngoan và trí tuệ (giống như 70 bô lão và Salomon), thần khí mưu lược và hùng mạnh (giống như Đavit), thần khí hiểu biết và kính sợ Giavê (giống như các tổ phụ Abraham, Isaac, Giacob, Môsê). Theo nguyên bản Do thái, ta thấy có 6 đức tính ghép từng đôi một; thế nhưng không hiểu vì lý do gì đức tính chót (kính sợ Giavê) lại được lặp lại ở câu 3 tiếp theo (“Ngài được đầy tràn thần khí kính sợ”). Có lẽ vì muốn tránh sự trùng hợp lặp lại, cho nên bản dịch Hy lạp (LXX) và Latinh (Vulgata) đã đổi “kính sợ Chúa” (yirath Yahweh) ở câu 2 ra thành “hiếu thảo” (eusebia, pietas). Từ đó, có thể đếm được bảy đức tính: trong Kinh thánh, số 7 tượng trưng cho sự sung mãn vẹn toàn. Tuy nhiên, đang khi ông Isaia hiểu về các đức tính của vị Mesia, thì các giáo phụ áp dụng cho cả các Kitô hữu dưới tác động của Thánh Linh. Lý do khác biệt thứ hai ở chỗ các đặc sủng chỉ được ban cho một vài người, còn bảy ơn Thánh Linh được ban cho tất cả mọi Kitô hữu. Không ai lãnh được tất cả mọi đặc sủng; ngược lại, một người có thể lãnh nhận tất cả bảy ơn Chúa Thánh Thần. Dựa theo tư tưởng của thánh Phaolô tông đồ, thánh Tôma còn rút thêm một sự khác biệt thứ ba nữa, đó là các đặc sủng được bàn để phục vụ cộng đoàn (vì vậy cũng gọi là “đoàn sủng”), và chưa chắc người lãnh nhận nó là thánh nhân. Đối lại, bảy ơn Chúa Thánh Thần đi kèm theo đức mến, và giúp cho người tín hữu được nên thánh, được gắn bó sâu xa hơn với Thiên Chúa. Theo thánh Tôma, bảy nhân đức đã đủ để đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa, đặc biệt là ba nhân đức tin-cậy-mến. Nhưng trong hành trình lên với Chúa, các nhân đức được ví như là nỗ lực gắng sức của chúng ta, còn bảy ơn Chúa Thánh Thần được ví như làn gió thổi vào cánh buồm đẩy mạnh chiếc thuyền. Vì thế các sư phụ thường phân hành trình tâm linh làm hai giai đoạn: giai đoạn đầu, đặt tên là “tu đức”, đòi hỏi cố gắng của cá nhân, làm sao trở nên thuần thục cho Thánh Linh hướng dẫn; giai đoạn hai được đặt tên là “huyền bí” trong đó chủ động là Thánh Linh, Đấng dìu dắt chúng ta nhanh đến sự thánh thiện.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Pinterest