tháng 3 25, 2021

LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

THỨ HAI TUẦN THÁNH

Monday of Holy Week

SỐNG LỜI CHÚA

GOSPEL : Jn 12:1-11

Six days before Passover Jesus came to Bethany,
where Lazarus was, whom Jesus had raised from the dead.
They gave a dinner for him there, and Martha served,
while Lazarus was one of those reclining at table with him.
Mary took a liter of costly perfumed oil
made from genuine aromatic nard
and anointed the feet of Jesus and dried them with her hair;
the house was filled with the fragrance of the oil.
Then Judas the Iscariot, one of his disciples,
and the one who would betray him, said,
“Why was this oil not sold for three hundred days’ wages
and given to the poor?”
He said this not because he cared about the poor
but because he was a thief and held the money bag
and used to steal the contributions.
So Jesus said, “Leave her alone.
Let her keep this for the day of my burial.
You always have the poor with you, but you do not always have me.”

The large crowd of the Jews found out that he was there and came,
not only because of him, but also to see Lazarus,
whom he had raised from the dead.
And the chief priests plotted to kill Lazarus too,
because many of the Jews were turning away
and believing in Jesus because of him.

Bài đọc :

Bài đọc 1 : Is 42,1-7

Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1 Đức Chúa phán :

“Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ,
là người Ta tuyển chọn và hết lòng quý mến,
Ta cho thần khí Ta ngự trên người ;
người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân.
2Người sẽ không kêu to, không nói lớn,
không để ai nghe tiếng giữa phố phường.
3Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy,
tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi.
Người sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý.
4Người không yếu hèn, không chịu phục,
cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu.
Dân các hải đảo xa xăm đều mong được người chỉ bảo.
5Đây là lời Thiên Chúa, lời Đức Chúa,
Đấng sáng tạo và căng vòm trời,
Đấng trải rộng mặt đất với hoa màu tràn lan,
Đấng ban hơi thở cho dân trên mặt đất,
ban sinh khí cho toàn thể cư dân.
6Người phán thế này : “Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi,
vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta.
Ta đã nắm tay ngươi,
đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân,
làm ánh sáng chiếu soi muôn nước,
7để mở mắt cho những ai mù loà,
đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ,
dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.”

Đáp ca : Tv 26,1.2.3.13-14 (Đ. c.1a)

Đ. Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

1Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi,
tôi còn sợ người nào ?
Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,
tôi khiếp gì ai nữa ?

Đ. Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

2Khi ác nhân xông vào, định nuốt sống thân tôi,
ai ngờ chính đối phương, chính những thù địch ấy,
lại lảo đảo té nhào.

Đ. Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

3Dù cả một đạo quân vây đánh, lòng tôi chẳng sợ gì.
Dù có phải lâm vào chiến trận, tôi vẫn cứ cậy tin.

Đ. Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

13Tôi vững vàng tin tưởng
sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.
14Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào !
Hãy cậy trông vào Chúa.

Đ. Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

Tung hô Tin Mừng

Muôn lạy Vua Ki-tô, chỉ có Ngài thương đến thần dân tội lỗi.

TIN MỪNG : Ga 12,1-11

Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 2 Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su ; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người. 3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. 4 Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói : 5 “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo ?” 6 Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp : y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung. 7 Đức Giê-su nói : “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. 8 Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có ; còn Thầy, anh em không có mãi đâu.” 9 Một đám đông người Do-thái biết Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. 10 Các thượng tế mới quyết định giết cả anh La-da-rô nữa, 11 vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.

SUY NIỆM

YÊU KHÔNG TOAN TÍNH

Buổi chiều hôm ấy, viên sĩ quan trẻ Charles de Foucauld thao thao bất tuyệt kể về những chiến công của mình trong cuộc viễn chinh bên Marốc, Bắc Phi trước gia đình và người thân. Charles đang say sưa kể thì đứa cháu gái cất tiếng hỏi: “Cậu ơi, cậu đã làm được bao nhiêu chuyện. Thế cậu đã làm được gì cho Chúa?”

Trước hành động của Maria, Giuđa Ítcariốt toan tính và phê bình. Tại sao không bán dầu thơm đó lấy tiền dùng vào việc khác? Y không thể nghĩ có thể làm gì cho Thầy mình ngoài việc tư lợi cho bản thân.

Vì yêu Chúa không tính toán, Maria đã bày tỏ tình yêu của mình một cách đặc biệt. Chị chẳng tiếc dùng một cân dầu thơm, trị giá 300 quan, để xức chân Chúa. Rồi chị cũng không ngại dùng mái tóc, thứ rất quý với người phụ nữ, mà lau chân Chúa thay vì dùng khăn như thói thường.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa, xin cho con cũng biết yêu không tính toán để con có thể cùng chịu những đau khổ với Chúa trong tuần Thánh này. Amen.

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO

NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHÚA GIÊSU

(Tiếp hôm qua)

Tác giả: Gerhard Lohfink
Chuyển ngữ: Lm. Antôn Bùi Kim Phong
Từ sách: JESUS OF NAZARETH, What He Wanted, Who He was, Minesota: Liturgical Press, 2012, tt. 269-287)

5. Đấng Thiên Sai (Messiah) và Con Người

Trước tình trạng trên, Caipha phải chuyển qua một phân đoạn khác trong cuộc xử án, vì các chứng từ không ăn khớp với nhau, và toà án thiếu bằng chứng. Điều đó khiến vị thượng tế phải đi thêm một bước để đưa ra quyết định. Caipha hỏi Chúa Giêsu: "Ông có phải là Đấng Kitô (Messiah), Con Thiên Chúa đáng chúc tụng chăng?" (Mc 14,61). Không có lý do gì để không tin là thượng tế đã hỏi câu hỏi đó. Nó có nhiều ý nghĩa và hợp lý. Nó phản ánh nhiều ý kiến và tin đồn đã được lan truyền từ lâu về Chúa Giêsu. Cách đặc biệt, việc ngài vào thành gây ấn tượng sâu sắc là yếu tố mới cho việc đánh giá về con người này. Hơn nữa, câu hỏi của Caipha theo sau câu hỏi về hành vi trong đền thờ vốn đã là chủ đề được thẩm vấn, vì hành vi đó mang tính cách của sự thống trị và thiên sai (messianic). Vì thế, Caipha một lần nữa điều tra về thẩm quyền của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu đã bị một nhóm được Hội Đồng sai đến tra vấn về thẩm quyền của ngài ngay sau những hành vi ngài thực hiện trong đền thờ. Ngài không trả lời, thay vào đó ngài đặt câu hỏi ngược lại: "Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gioan là do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi!" (Mc 11,29-30). Câu hỏi lại của Chúa Giêsu dựa trên việc cho rằng việc tuyên xưng công khai không phải lúc nào cũng thích hợp. Việc nhóm được Thượng Hội Đồng sai tới bỏ qua câu hỏi và không đưa ra quan điểm của mình cho thấy việc Chúa không trả lời trước đó được biện minh.

Bây giờ Chúa lại bị hỏi một lần nữa về thẩm quyền của mình, nhưng trong một trạng huống mới và khác biệt. Lúc này ngài đang đứng trước Thượng Hội Đồng, trước vị thượng tế, đại diện cho Israel. Tính chất chung quyết của khoảnh khắc này là rất rõ ràng cho Chúa Giêsu. Vì thế, ngài trả lời trực tiếp, đối với câu hỏi ngài có phải là đấng Thiên sai không, ngài tuyên xưng: “Phải, chính ta”.

Đương nhiên là người đọc tin mừng thắc mắc sao Chúa có thể chấp nhận trước mặt Thượng Hội Đồng một tước hiệu về thẩm quyền hết sức bí ẩn, có thể là mục tiêu của những hiểu lầm về chính trị, là tước hiệu ngài đã tránh từ lâu trước mặt công chúng và thậm chí cấm các môn đệ dùng nó công khai,[10] và ngài chỉ gợi ý cách biểu tượng qua việc đi vào thành và những hành vi tại đền thờ. Câu trả lời chỉ có thể như thế lúc này, trước sự hiện diện của thẩm quyền cao nhất của Israel, giờ đã đến để nói lên công khai. Bây giờ phải chấp nhận có thể bị hiểu lầm hay cố ý giải thích sai lạc. Dù sao Chúa Giêsu tránh né những lối giải thích chính trị việc ngài vào thành qua việc cưỡi một con lừa, và bây giờ trước mặt Caipha ngài cảnh giác trước mọi quan điểm sai lạc về tính cách thiên sai của ngài. Như thế Chúa không hài lòng khi chỉ nói “Phải, chính ta”. Việc phân định lập tức tước vị Đấng Thiên Sai là thuyết phục và khẩn thiết: “Rồi các ông ‘sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng’ và ‘ngự giá mây trời mà đến’". (Mc 14,62).

Việc Marcô và truyền thống của ngài lập lại từng chữ những gì Chúa Giêsu nói lúc đó, là kết nối giữa thánh vịnh 110,1 và Đn 7,13, vẫn còn là một câu hỏi mở. Dù sao, chắc chắn là Chúa Giêsu nói rõ về quyền bính của ngài trước mặt Caipha – là thẩm quyền luôn được ẩn dấu trong lời nói và hành động, thẩm quyền vượt quá mọi lối hiểu thiển cận về Đấng Thiên Sai. Cũng vì mục đích này, lối nói “Con Người” từ Đn 7 là rất thích hợp, vì một mặt Con Người được trao cho: “quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong”. (Đn 7,14). Mặt khác Con Người này, đại diện cho xã hội con người rốt cùng, có nghĩa là chấm dứt mọi sự thống trị bằng sức mạnh và bạo lực.

Chúa Giêsu đã công khai dùng tước vị Con Người nhiều lần trong cuộc đời rao giảng của ngài.[11] Ngài dùng nó để nói lên sự thấp hèn của ngài – Con Người là sự kết thúc của tất cả mọi xã hội tạo lập bởi sức mạnh và bạo lực – nhưng ngài cũng có thể qua đó khai triển uy quyền cánh chung của ngài, sẽ được trao cho ngài khi sự thống trị của Thiên Chúa viên mãn. Cả hai - sự thấp hèn và sự thống trị - dưới con mắt của Chúa Giêsu không tương phản nhau. Như thế Con Người trong Đaniel 7 là một cá vị tập hợp, và không tạo nên vấn nạn nào vào thời đó. Chúa Giêsu thấy mình là hiện thân, là đại diện cho tập hợp đó, tức là Israel cánh chung.

Như thế, khi Chúa Giêsu nói về mình trước Hội Đồng là Con Người phải đến ngài cũng sửa lại quan điểm sai lầm về Đấng Thiên Sai: Ngài nhấn mạnh đến tính cách bất bạo động của mình. Nhưng cùng lúc Ngài mạc khải sự thống trị của mình. Với quyền uy thống trị được Thiên Chúa trao ban này, ngài sẽ trở thành thẩm phán xét xử Thượng Hội Đồng và toàn dân Israel. Không phải ngài bị xử án, nhưng chính Thượng Hội Đồng đang là bị cáo, và Chúa Giêsu buộc họ đối diện với giây phút quyết định.

Tuy nhiên, Caipha hiểu rằng Chúa Giêsu đã định hướng những gì ngài nói. Hai con đường mở ra cho ông: tin vào những gì Chúa Giêsu khẳng định về sự thống trị hay cho rằng chính tai ông đã nghe lời lộng ngôn kinh khủng chống lại Thiên Chúa. Quyết định của vị thượng tế là đã rõ. Theo ông, tuyên xưng rằng Chúa Giêsu sẽ sớm ngự bên hữu của Thiên Chúa như vị thẩm phán là một sự ngạo mạn đầy lộng ngôn và đáng đáng trừng phạt. Bây giờ cuối cùng các nhân chứng cũng đã chứng minh điều từ lâu nghi ngờ: Chúa Giêsu là ngôn sứ giả hiệu, một tên lộng ngôn, một người dẫn dân Israel đi lầm đường lạc lối.

Vì thế, Caipha làm ngay điều mà Lề Luật đòi một người bị buộc phải nghe những lời lộng ngôn: xé áo mình ra,[12] và chỉ cách mà Lề Luật đã quy định đối với ngôn sứ giả là phải chịu tội chết. Israel phải trừ khử những sự xấu xa ra khỏi mình (Đnl 13,2-6). Mọi người trong Hội Đồng đồng ý với quyết định của Caipha: “Tất cả đều kết án Người đáng chết” (Mc 14,65). Vào lúc này Marcô mô tả hai cảnh tượng: đầu tiên, rất ngắn và cô đọng, là cảnh chế nhạo và ngược đãi Chúa sau lời kết án của Caipha (Mc 14, 65), kế đến, trong một trình thuật dài hơn, cảnh Phêrô chối Chúa ba lần (Mc 14,66-72). Sau đó tác giả tin mừng trở lại với bước kế tiếp của Hội đồng, ngài tường thuật việc kết thúc phiên họp – Thượng Hội Đồng đưa ra quyết định chính thức chuyển Chúa Giêsu lên cho Philatô phán xử: “Vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô” (Mc 15,1). Một phiên toà mới xử án Chúa Giêsu bắt đầu ngay trước mặt Philatô, phiên toà này xét xử theo luật Rôma và do một viên chức Rôma chủ toạ.

Xin xem tiếp ngày mai

Pinterest