Năm C

 
 

LỄ HIỂN LINH NĂM A, B, C
Is 60,1-6 / Ep 3,2-3a. 5-6 /Mt 2,1-12


An Phong op : Ánh Sao Nhiệm Mầu

An Phong op : Đi Tìm Gặp Chúa

An Phong op : Chúa Tỏ Hiện Cho Những Tấm Lòng Chân Thành Tìm Kiếm

Lm Giuse Nguyễn Cao Luật op : Cuộc Hiển Linh Vẫn Kéo Dài

Lm Giuse Nguyễn Cao Luật op : Những Chặng Đường Lữ Hành

Lm Giuse Nguyễn Cao Luật op : Tiếp Nối Những Bước Chân Anh Hùng

Fr. Jude Siciliano op : Ánh Sao Thiêng Dẫn Ta Đến Miền Đất Mới

Fr. Jude Siciliano op : Cuộc sống là tiến trình tìm kiếm Chân Lý và Sự Thiện

Fr Jude Siciliano, op. : Hãy Tiến Bước Đến Nguồn Ơn Cứu Độ

Fr Jude Siciliano, op : Sẵn Sàng Cuộc Hành Trình Đến Với Đức Kitô

Fr Jude Siciliano, op : Trở nên Ánh sáng soi đường cho anh em

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy trở nên ngôi sao chỉ đường

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy hoán cải đời sống

 


Lm An Phong op

Ánh Sao Nhiệm Mầu

Các đạo sĩ ở phương Ðông đã nhận ra một vì sao lạ; nhưng chính Hêrôđê và dân cư ở Giêrusalem lại không nhìn thấy. Các đạo sĩ nhìn thấy ánh sao và biết rằng "Vua dân Do Thái mới sinh"; còn dân của Chúa, bao năm mong chờ Ðấng Cứu Tinh lại không nhận ra điều gì cả. Các đạo sĩ từ phương Ðông đã "đến để triều bái Người"; còn Hêrôđê lại dò hỏi để tìm cách giết Người.

Cái nghịch lý của ánh sao là như thế. Ánh sao đó xuất hiện cho những người thành tâm thiện chí, soi đường cho những người khát khao muốn tìm sự thật; nhưng ánh sao đó lại biến mất trước những người chỉ mải mê với cuộc đời của mình, ánh sao đó làm bối rối và xôn xao đối với những người đang lo xây dựng "ngai vàng" cho cuộc đời mình.

Ánh sao nhiệm mầu đó không phải là ánh sao bình thường, nhưng là dấu chỉ của Thiên Chúa tỏ bày cho con người. Dấu chỉ đó không chỉ hạn hẹp cho những người "Do Thái", cũng như không phải chỉ những người "có đạo" mới nhìn thấy được. Thiên Chúa "Hiển Linh" là Thiên Chúa tỏ bày vinh quang của Ngài cho mọi người, cho những người chưa biết Chúa. Các đạo sĩ phương Ðông là đại diện cho những người thành tâm thiện chí ở khắp nơi trên thế giới.

Người ta không thể chờ một ánh sao lù lù hiện ra trước mặt để chỉ cho biết Chúa đến. Nhưng chính thái độ mở lòng ra, tâm tình chờ đợi, lòng tin tưởng vào Chúa sẽ giúp người ta nhận ra những lời nhắn nhủ của Ngài, sự chỉ dẫn sáng suốt của Ngài, tình thương và hồng ân của Ngài.

Chúa đã đến và Ngài vẫn đang đến. Chúa đã tỏ bày ánh sao của Ngài cho các đạo sĩ và Ngài vẫn luôn tỏ bày ánh sáng nhiệm mầu của Ngài cho những ai chuẩn bị để đón nhận.

Lạy Chúa Giêsu !
Xin cho chúng con
biết phát hiện ra quyền năng của Chúa trong thế giới.
Xin cho chúng con biết nhận ra bàn tay của Chúa trong lịch sử.
Xin cho chúng con
sống với Chúa trong cuộc sống thường ngày.
Lạy Chúa Giêsu, nếu con có con mắt Ðức Tin,
chắc hẳn con sẽ nhìn thấy Chúa không ở đâu xa.
Nếu con có đôi chân của lòng Trông Cậy,
con sẽ bước đi trong bàn tay nâng đỡ của Chúa. Và
Nếu con có trái tim của Ðức Mến,
con sẽ có thể yêu Chúa nơi mọi người xung quanh con.
Lạy Chúa Giêsu, xin củng cố để con nhận ra
Chúa đang Hiển Linh trong chính cuộc sống của con.


Lm An Phong op

Đi Tìm Gặp Chúa
Is 60,1-6 / Ep 3,2-3a.5-6 / Mt 2,1-12

Hôm nay, chúa nhật lễ Hiển Linh (vẫn quen gọi là lễ Ba Vua), hay là lễ Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân ngoại mà đại diện là ba nhà Chiêm tinh đến từ phương đông, theo dấu ngôi sao lạ, để "sấp mình thờ lạy" Người, đồng thời "lấy vàng, nhũ hương, mộc dược mà dâng tiến" lên.

Cử hành lễ Hiển Linh là cử hành việc Thiên Chúa đến với dân ngoại. Thiên Chúa chỉ tỏ mình ra cho những ai biết tìm kiếm và đón nhận Người.

Đời sống chúng ta là một hành trình tiến về quê hương vĩnh cửu là Nước Thiên Chúa. Đã là hành trình thì chắc chắn sẽ có những khó khăn, vất vả, nhưng cũng có những lúc bình an, hạnh phúc. Trên hành trình này, Chúa sẽ là niềm vui, niềm hy vọng, vì vinh quang Chúa xóa tan mây mù, bóng tối và vinh quang Chúa sẽ xuất hiện, làm cho "mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng" (Is 60,4). Trên hành trình này, Thiên Chúa đã dùng Thần Khí của Người để cho chúng ta được "thừa hưởng gia nghiệp, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa" (Ep 3,6). Như thế, hành trình này sẽ là hành trình của niềm vui và hy vọng.

Đời sống chúng ta là một hành trình tìm kiếm Thiên Chúa. Thiên Chúa vốn là Đấng "ẩn giấu", tức là Người chỉ tỏ hiện rõ ràng cho những ai thành tâm tìm kiếm Người. Các Kinh sư và cả thành Giêrusalem đã không nhận ra Vị Cứu tinh vừa xuất hiện tại Belem, vì họ có não trạng hẹp hòi, thiếu quảng đại. Còn ba nhà Chiêm tinh đã khám phá nơi hài nhi bé nhỏ chính là Đấng Thiên Chúa gởi đến, vì họ thành tâm tìm kiếm. Trong lịch sử Giáo hội, một Phanxicô đã nhận ra Chúa hiện diện nơi các tạo vật (Trường ca tạo vật), Mẹ Têrêsa Calcutta đã nhận ra Chúa nơi những mảnh đời rách nát "họ đã sống không ra người, cần cho họ chết cho ra người"... Tận điểm của hành trình tìm kiếm là gặp gỡ. Ba nhà Chiêm tinh đã đến Belem, đã gặp được ĐấngCứu thế, đã quì xuống thờ lạy Người. Đời sống kitô hữu là một hành trình gặp gỡ Thiên Chúa qua công việc mỗi ngày. Sống đức tin thực sự là sống đức ái thực sự. Đức ái thực sự là phục vụ vô vị lợi. Sự phục vụ vô vị lợi dẫn đến những cuộc gặp gỡ. Chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa nơi con người. Thiên Chúa hiện diện nơi từng biến cố, từng sự kiện, từng con người...

Như thế, đời sống kitô hữu là đời sống đi tìm kiếm Thiên Chúa và gặp gỡ Người trong hoàn cảnh, môi trường hiện tại. Đời sống đó là một hành trình tràn đầy niềm vui và hy vọng, vì có Thiên Chúa đồng hành.

Lạy Chúa,

Xin cho lòng con bình an đón nhận ngày vừa sáng lên.
Xin giúp con luôn tựa nương vào ý Ngài.
Xin hướng dẫn con tìm ra ý Ngài
trong mỗi giờ phút của ngày hôm nay.

Xin chúc lành cách đối nhân xử thế của con.
Xin dạy con đón nhận mọi cái bất ngờ trong ngày hôm nay
với một tâm hồn thanh thản.

Xin Chúa hướng dẫn tư tưởng và tâm tình của con
trong mọi lời nói và hành động.

Xin dạy con biết cương quyết và khôn ngoan khi hành động,
mà không khiêu khích người khác
hoặc làm cho họ buồn tủi.

Xin cho con sức mạnh
để chịu đựng những mệt nhọc của ngày hôm nay.
Xin Chúa định hướng ý chí con.

Xin dạy con cầu nguyện.
Xin Chúa cầu nguyện trong con. Amen.


Lm An Phong
op

 Thiên Chúa Tỏ Hiện Cho Những Tấm Lòng
Chân Thành Tìm Kiếm Người

Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Ba nhà khôn ngoan theo dấu sao lạ tìm đến Be Lem và nhận ra Hài nhi, vua dân Do Thái.

Hẳn là chúng ta có thể nhận ra mình nơi hình ảnh Ba nhà khôn ngoan đi tìm kiếm Thiên Chúa.

Hẳn là vị Thiên Chúa vốn "ẩn giấu" chỉ tự bộc lộ cho những ai chân thành tìm kiếm Người.

* Cuộc đời là một cuộc hành trình, là một cuộc lên đường tìm kiếm, tìm kiếm hạnh phúc, tìm kiếm an bình, tìm kiếm tất cả những gì làm cho cuộc sống tốt hơn. Với tiếng khóc oe oe chào đời, con người đã là kẻ lên đường; và tất yếu mọi bước đường đời cũng là những cuộc lên đường đi tới. Đã sống làm người là phải đi tới và đi tới mãi, không còn có thể quay đầu thoái lui nữa.

Như thế, hạnh phúc, chân lý, bình an, hy vọng… cũng chỉ đến với những ai sẵn sàng lên đường trong tâm trạng khắc khoải kiếm tìm quê hương đích thực "Lạy Chúa; tâm hồn con khắc khoải cho đến khi nghỉ an trong Chúa" (thánh Augustinô). Có lẽ mỗi người chúng ta đều mang trong mình hình ảnh Ba nhà khôn ngoan đi tìm kiếm Thiên Chúa. Bởi lẽ đức Tin chính là một cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu, không phải là tin vào một số lý thuyết; và đức Tin chỉ là một quà tặng cho những ai sẵn sàng mở tâm hồn ra để đón nhận.

* Ý nghĩa căn bản của mầu nhiệm hiển linh cũng là ý nghĩa của mầu nhiệm nhập thể : mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ mình ra. Nhưng ngay khi tỏ mình ra, Thiên Chúa vẫn là một Thiên Chúa ẩn giấu; Ngài ẩn mình nơi một con người, một trẻ bé bình thường; Ngài ẩn giấu trong một hình bánh rượu; Ngài hiện diện cách ẩn giấu nơi nào có hai ba người tụ họp nhân danh Ngài; Ngài ẩn giấu nơi những người nghèo…

Thiên Chúa vẫn luôn là như thế và Ngài vẫn còn đang ẩn giấu dưới thiên hình vạn trạng trong cuộc đời. Thiên Chúa chỉ "hiển linh" với những tâm hồn bé thơ, những người dám lên đường tìm kiếm, những người biết mở tâm hồn ra để đón nhận; và những người đó sẽ nhận ra Ngài đang ẩn giấu ngay trong những dáng vẻ bình thường của cuộc sống.

Ôi lạy Chúa,
Có phải Chúa đã cho người mù nhìn thấy
và kẻ câm nói được ?

Con van nài Chúa thêm một lần nữa !
Xin hãy mở mắt con ra cho con thấy;
Xin hãy mở tai con cho con nghe rõ hơn;
vì con vẫn thường muốn giả điếc làm ngơ.

(Michel Quoist)


Lm Giuse Nguyễn Cao Luật op

CUỘC HIỂN LINH VẪN KÉO DÀI

Chỉ hiểu biết mà thôi, chưa đủ

Sau khi Ðức Giêsu giáng sinh tại hang đá, các thiên thần đã vang tiếng hát tung hô, và các người chăn chiên đã kéo nhau đến thờ lạy Người. Hai sự kiện này có chung một mục đích là diễn tả việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho nhân loại, nhất là cho người nghèo. Sau này, chính Ðức Giêsu quả quyết với những người được ông Gio-an Tẩy Giả sai đến : ""người nghèo được nghe Tin Mừng" "(Mt 11,5). Ðức Giêsu đến trần gian với sứ mệnh là bày tỏ cho người nghèo, cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu thương và bênh vực họ.

Thế thì, tại sao trình thuật Tin Mừng về ba nhà đạo sĩ lại được sử dụng để mừng kính việc Ðức Ki-tô tỏ mình ra lần thứ nhất ? Hai sự kiện trên không đủ ư ? Các đạo sĩ là những người trí thức, họ có mặt tại hang đá với mục đích gì ? Họ đem những tặng phẩm quý giá như vàng, nhũ hương và mộc dược, những tặng phẩm vốn dành cho bậc vua chúa, đến hang đá để làm gì ?

Thật ra, đây chính là một cuộc tỏ mình ra của Ðức Ki-tô, một cuộc Hiển Linh. Kiến thức hiểu biết, sự giàu sang của các nhà đạo sĩ hoàn toàn tương phản với sự trần trụi, yếu ớt của vị vua mà họ đến thờ lạy.

Ðể đến được Bê-lem, các nhà đạo sĩ đã phải từ bỏ tất cả. Họ vốn là những bậc quyền thế, hiểu nhiều biết rộng và có nhiều của cải, nhưng họ đã từ bỏ mọi sự để lên đường. Họ là những người hiểu biết, nhưng lại lên đường theo một ánh sao, một ánh sáng từ bên trong, một lời mời gọi. Ðây cũng là một cuộc Hiển Linh của Ðức Ki-tô.

Sau cuộc gặp gỡ với vua Hê-rô-đê, người đang nắm quyền tại chỗ, và với những người thông thạo về Lề Luật, các nhà đạo sĩ đã ra đi, chẳng thỏa mãn, nếu không muốn nói là thất vọng. Họ đã tìm lại được bình an và niềm vui khi gặp lại ngôi sao, chứ không phải do những hiểu biết trong sách vở hay những lời dối trá của quyền bính. Từ đó, họ đã thay đổi cái nhìn, họ đã sám hối. Họ khám phá ra rằng quyền hành đích thực nằm trong tay con trẻ vừa mới giáng sinh tại hang đá Bê-lem : đây cũng là cuộc tỏ mình ra của Ðức Ki-tô, một cuộc Hiển Linh.

Xưa nay, người ta vẫn muốn trình bày niềm tin vào Ðức Giêsu Ki-tô tựa như lòng tin của người dân quê mùa, chất phác, ngược hẳn với niềm tin do hiểu biết, suy tư ... Theo cách nhìn này, Tin Mừng dường như chỉ dành cho những người ngu dốt, đần độn.

Ðúng ra, đây chỉ là một vấn đề giả. Cuộc gặp gỡ với Ðức Ki-tô không phải là một hoạt động dựa trên chỉ số thông minh, nhưng do thái độ sẵn sàng đón tiếp của tâm hồn. Tin Mừng luôn được loan báo cho mọi người, không ai bị loại trừ, thế nhưng, chỉ những ai có tâm hồn rộng mở mới có thể hiểu được.

Những người nghe được Tin Mừng là những người khát khao tìm kiếm và sẵn sàng cất bước lên đường. Những người cứ nghỉ yên trong kiến thức của mình, trong quyền hành và sự giàu có của mình, đó là những người điếc.

Món quà đẹp nhất và quý giá nhất các đạo sĩ đem đến để tặng Ðức Giêsu, chính là con đường họ đã đi, chính là niềm tin vào ngôi sao, chính là thái độ nhận ra mình thiếu sót và yếu đuối, mặc dù họ đang có rất nhiều thứ.

Khởi đầu từ những người nghèo

Ðọc lại những trình thuật Tin Mừng về cuộc giáng sinh của Ðức Ki-tô, người ta thấy được một chi tiết khá thú vị : những người nhìn nhận Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế là những người chăn chiên, cụ già Si-mê-on, các đạo sĩ. Ngoại trừ ông cụ Si-mê-on, những người kia không phải là những người được chọn trước, và cũng không chuẩn bị gì. Ngược lại, những người không nhìn nhận Ðức Giêsu lại là những nhà thông thái, những người được lựa chọn trước và được chuẩn bị rất kỹ để đón tiếp Ðấng Cứu Thế : chính họ đã chỉ cho các đạo sĩ biết rõ về nơi Ðấng Cứu Thế giáng sinh.

Tại sao thế ?

Những nhà thông thái biết quá nhiều, nhưng chỉ biết thôi chứ không hiểu. Ngược lại, những người chăn chiên và các đạo sĩ tuy không biết nhiều nhưng họ có khả năng hiểu, vì họ sẵn sàng và khao khát kiếm tìm. Sau này Ðức Giêsu sẽ nói : ""Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha vì điều Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, thì Cha lại mặc khải cho những người bé mọn." "(Mt 11,25)

Có học thức, đó chưa phải là điều kiện cần thiết để hiểu biết những mầu nhiêm về Thiên Chúa, còn một điều khác cần hơn, đó là phải nhận rằng mình còn thiếu sót. Tính kiêu ngạo là một thứ màn tối dầy đặc che khuất ánh sáng, còn thái độ khiêm tốn là cửa ngõ để đón nhận ánh sáng.

Ngoài ra, khi thuật lại câu chuyện các đạo sĩ từ phương Ðông tìm đến với Ðức Giêsu, tác giả Mát-thêu muốn nói đến ơn gọi phỗ quát của Tin Mừng. Các nhà lãnh đạo tại Giê-ru-sa-lem đã từ khước, không nhìn nhận Ðấng Cứu Thế, thì đây các dân ngoại lại đón tiếp Người. Ngay từ giai đoạn đầu trong cuộc sống của Ðức Giêsu, sức mạnh truyền giáo của giao ước mới đã được bày tỏ, và sẽ lan mãi đến toàn thế giới. Ðến cuối sách Tin Mừng, tác giả Mát-thêu ghi lại huấn lệnh cuối cùng của Ðấng Phục Sinh : ""Anh em hãy đi đến với muôn dân ... để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy." "(Mt 29,19-20). Những dân ngoại ấy hiện đã có mặt tại hang đá, qua hình ảnh ba đạo sĩ từ phương Ðông đến.

Như thế, Tin Mừng được trao tặng cho tất cả mọi người, bởi vì họ đều được Thiên Chúa yêu thương trong Ðức Ki-tô. Mọi người đều được mời đến gặp Ðức Giêsu tại hang đá, miễn là họ có được tâm hồn nghèo khó và thái độ sẵn sàng. Và từ hang đá, mỗi người cũng nhận được lệnh đem Tin Mừng đến mọi miền của thế giới, của tâm hồn con người.

Các đạo sĩ của hôm nay

Các đạo sĩ của ngày hôm nay là ai ? Ngày nay, ai là những người từ xa đến để nhận ra Ðức Giêsu ở giữa những người nghèo ?

Các đạo sĩ của thế kỷ XXI có thể là những người chúng ta đã gặp đây đó. Họ là những người nam cũng như nữ, biết bỏ lại kho tàng của mình (văn minh, hiểu biết ...) để phục vụ những người nghèo, nhất là những trẻ em. Họ là những người đã đi theo một ánh sao, đã nhận ra rằng người nghèo chính là hình ảnh của Ðức Ki-tô. Họ là những người luôn có thái độ sẵn sàng đón tiếp người khác, và biết sử dụng những điều kiện mình đang có để đem lại niềm vui cho người khác. Họ là những người sung sướng khi được hưởng những tiện nghi trong đời sống ; nhưng họ cảm thấy hạnh phúc hơn, sung sướng hơn khi từ bỏ những tiện nghi của riêng mình để làm cho người khác được sống xứng đáng hơn.

Những con người như thế, chúng ta gặp rất nhiều. Ðời sống của họ là một cuộc Hiển Linh của Ðức Ki-tô, hay nói cách khác, Ðức Ki-tô dùng cuộc đời của họ để bày tỏ cho thế giới về chính Người.

Phần chúng ta, chúng ta sẽ đem gì đến trước hang đá của Ðức Giêsu ? Ðời sống của chúng ta có phải là sự diễn tả về Ðức Giêsu ? Ðời sống của chúng ta có phải là một cuộc Hiển Linh của Ðức Ki-tô ?

Những câu hỏi như thế được nêu lên không phải chỉ một lần. Mỗi năm, vào mùa Giáng Sinh, chúng ta lại được nhắc nhở về sứ điệp ấy. Mỗi năm chúng ta lại bắt đầu lên đường bởi vì nhận thấy rằng có nhiều lần chúng ta đã bỏ dở hành trình, đã từ chối yêu mến.

Hãy dành một phút thinh lặng để suy niệm và cầu nguyện trước hang đá. Hãy cùng với các nhà đạo sĩ lên đường tìm đến hang đá, và phục lạy. Hãy dâng cho Con Trẻ món quà quý giá nhất là chính đời sống của chúng ta.


Giuse Nguyễn Cao Luật op

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỮ HÀNH
Mt 2,1 – 12

Những người hành hương

Từ hình ảnh ba nhà đạo sĩ lên đường tìm kiếm Đức Giêsu, người ta có thể rút ra một vài nhận định làm khuôn mẫu cho mọi người đang trên đường lữ hành.

Ba đạo sĩ là những người từ những phương trời khác nhau, từ những nơi xa xôi, nhưng đã cùng gặp nhau trong ước muốn gặp gỡ với Vị Vua mới giáng sinh. Đó là hình ảnh của tất cả những ai đã lên đường, do những ước vọng lớn lao thúc đẩy.

Ba vị đã tiến bước và trở thành những người tìm kiếm, những người khám phá.

Ba vị đã gặp được Đức Kitô, vì các vị đã từ bỏ tất cả những gì mình đang có, đã ra khỏi mình, ra khỏi nơi ở của mình. Các vị hòan tòan tự do.

Ba vị tràn đầy hân hoan vui mừng, hòan tòan trong sáng và sẵn sàng đón nhận hồng ân.

Như vậy, các nhà đạo sĩ là những người chẳng có mối liên hệ về họ hàng thân thuộc với Thiên Chúa của Itraen, nhưng đã cảm thấy mình có liên hệ. Các vị khao khát gặp gỡ Vị Vua mới giáng sinh, và các vị đã thành công. Cuộc mạo hiểm đầy gian truân vất vả của các vị đã thành công. Đây là một lời nhắc nhở cho mọi người về mối liên hệ của mỗi người với Thiên Chúa, và Thiên Chúa luôn sẵn sàng hướng dẫn mọi người đến gặp gỡ với Người, nếu họ chấp thuận lên đường, chấp nhận ra khỏi mình, ra khỏi những thói quen thường ngày để tìm gặp Người. Kho tàng phong phú của Thiên Chúa luôn mở ra cho bất cứ ai đón nhận lời mời gọi, bất kể người đó là ai.

Ngoài ra, trong cuộc hành trình, các đạo sĩ đã vào Giêrusalem, thành phố tượng trưng cho sự hiểu biết và quyền bính. Tại đây có vua, có các tư tế, các kí lục. Ngôi sao hướng dẫn các đạo sĩ đã biến mất khi các vị đến gần thành phố. Các vị đã vào thành, đã gặp gỡ, đã hỏi han, nhưng đức Giesu không có ở đó.

Ngôi sao ấy lại xuất hiện ở Bêlem : điều này cho thấy sự chuyể dịch về nơi chốn đích thực của quyền bính. Quyền vương đế, ngôn sứ và tư tế không còn ở trong thành phố có Đền Thờ, nhưng được bày tỏ trong hang đá, nơi Con Trẻ được sinh ra. Chính Đức Giêsu mới có quyền đích thực trên mọi loài. Và quyền bính ấy đã xuất hiện ở nơi con người không ngờ đến. Nơi chốn không làm nên quyền bính, nhưng là Con Trẻ, tức là Đức Giêsu.

Mở đầu một cuộc chiến

Biến cố đức Giêsu giáng sinh và việc các đạo sĩ tìm đến triều bái người đã mở ra một cuộc chiến.

Khi nghe các đạo sĩ đã theo hướng khác để trở về sứ sở của mình, vua Hêrôđê đã ra lệnh tàn sát các trẻ em trong vùng, từ 2 tuổi trở xuống. Đây mới chỉ là một màn đầu trong một cuộc lùng bắt còn kéo dài mãi tới sau này. Ngay từ khi mới chào đời, Đức Giêsu đã làm cho những người đang nắm giữ quyền bính phải sợ hãi. Họ không thể nào chấp nhận có một con người được gọi là vua đang gây nguy hiểm cho xã hội do họ tạo lập và điều hành. Cảm thấy vị trí của mình bị lung lay, nên họ quyết tâm tìm cách giết cho bằng được con người tự xưng mình là vua. Người ta có thể nhìn thấy vẻ đắc thắng của họ khi Đức Giêsu chịu chết trên thập giá với hàng chữ gắn phía trên đầu.

Đây thực là một cuộc chiến không cân sức : một bên là quyền bính trần gian với đủ mọi thứ phương tiện, một bên là Con Trẻ yếu ớt, ngay áo để che thân cũng không đủ, nói gì đến người bảo vệ. Thế nhưng, chính Con Trẻ, sau này là đấng chịu đóng đinh, lại là người chiến thắng, bởi vì Người la con Thiên Chúa. Thêm một lần nữa, Noel lại báo trước việc phục sinh.

Vì ích kỷ, những người nắm quyền bính trần gian đã không biết phục vụ người khác, nhưng chỉ lo tìm lợi ích cho riêng mình. Con Trẻ nằm trong máng cỏ lại là đối thủ của những kẻ đầy quyền lực, có quyền ra lệnh cho người khác. Con Trẻ và gia đình đã trốn đi, và những người này tưởng rằng mình đã chiến thắng. Và kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện cách tốt đẹp.

Nhìn lại chặng đường lữ hành

Trong cuộc mạo hiểm của ba nhà đạo sĩ, ta nhận ra bộ mặt của cuộc hành trình đức tin với nhiều chặng khác nhau :

Các đạo sĩ đã thấy một ngôi sao và biến cố này đã thúc đẩy các vị rời bỏ quê hương, rời bỏ chính mình để lên đường. Ngôi sao của chúng ta hôm nay có thể là một biến cố, một cuộc tiếp xúc, một niềm vui hay nỗi buồn, có khi cả cuộc xuất hiện của môt em nhỏ. Những sự kiện này được thắp lên trong cuộc đời chúng ta như một ánh sao, và chúng ta buộc phải ngẩng đầu lên, phải tìm kiếm xa hơn, phải rời bỏ những xác quyết của quá khứ. Chúng ta phải chuyển động. Có một sự việc hay một con người buộc chúng ta phải thay đổi : Anh sao tuy le lói, như một lời mời gọi mơ hồ, không rõ ràng, nhưng chúng ta phải lên đường. Đó là chặng thứ nhất.

Thế nhưng ánh sáng đã thúc đẩy chúng ta lên đường có lúc lại biến mất : chúng ta giống như người Do Thái lạc trong sa mạc và muốn quay trở lại đất Ai Cập. Các vị đạo sĩ cho chúng ta một giải pháp : các vị đã vào Giêrusalem và hỏi han các chuyên viên về lời Chuá. Các kí lục và thủ lãnh đã cho các vị câu trả lời : các vị phải đến Belem. Lời Thiên Chúa chỉ có ý nghĩa cho những ai đã từ bỏ mọi sự (như Apraham). Cuộc đời chúng ta cũng chỉ có ý nghĩa khi lời Chúa được chuyển lại cho ta qua Hội Thánh, và được đón nhận với tâm hồn rộng mở. Đó là chặng thứ hai.

Bóng tối và quyền lực sự dữ vây bọc chung quanh chúng ta. Nguy hiểm và cám rỗ vẫn rình chờ. Vua Hêrôđê, vị Pharaô mới, vẫ ở đó và đang mong ước buộc chúng ta làm nô lệ. Các vị đạo sĩ, khi được thúc đẩy, đã vượt qua mọi cạm bẫy, đã tìm ra được lối thoát mà không làm hại ai cả. Các vị đã đón nhận lời Chúa do người khác nói lại, đã đến nơi mình muốn đến, gặp đấng mình muốn gặp và sau đó ra đi bình an. Các vị đã vượt qua bóng tối. Đó là chặng thứ ba.

Ánh sáng lại xuất hiện. Niềm vui tràn ngập tâm hồn : các vị đạo sĩ đã đến Belem. Mỗi chúng ta cũng phải đến đó. Tại đây, Thiên Chúa hẹn gặp gỡ mọi người. Điều mà tâm hồn chúng ta ước mong hơn hết chính là đây. Đó là lúc để thờ lạy : tức là ở trong hơi thở của Thiên Chúa. Đó là chặng thứ tư.

Rồi chúng ta trình bày những món quà để dâng cho Thiên Chúa. Tất cả cuộc đời chúng ta được đem ra để dâng tiến Hài Nhi. Đó là vàng, nhũ hương, mộc dược … và hài nhi đón nhận tất cả những gì chúng ta dâng tiến ! ước gì cuộc trao đổi này được kéo dài mãi mãi … Đó là chặng thứ năm.

Thế nhưng, lại phải lên đường. Thiên quốc còn xa lắm. Lịch sử của Chúa Giêsu ở với lòai người mới chỉ là bắt đầu. Sẽ còn rất nhiều ánh sao xuất hiện trong cuộc đời chúng ta. Lại phải lên đường. Thế nhưng đã có thay đổi. Không thể tiếp tục sống như trước đây, không thể đi lại những con đường cũ. Như các đạo sĩ, chúng ta phải “theo một con đường khác”. Đó là chặng thứ sáu, chặng cuối cùng trên hành trình đức tin, hành trình của mỗi ngày sống, hành trình của cả cuộc đời.

Những dấu chỉ

Lạy Chúa nếu không có ánh sáng,
Đêm cứ dài mãi và tối tăm sẽ bao phủ địa cầu.
Nếu không có những dấu chỉ minh chứng
Tuyệt vọng sẽ trào dâng, niềm cậy trông sẽ rời bỏ con người.

Xin cho con đọc được qua dòng lịch sử
những dấu chỉ : tình yêu không thể hao mòn,
những dấu chỉ : con người được kêu gọi vươn tới,
những dấu xác định Chúa luôn ở với loài người.

Để nhờ đó, lạy Chúa, ngày hôm nay,
con nhận ra những dấu chỉ của Ngài
rằng những người con của Anh Sáng
phải vững niềm hy vọng và tỏa sáng tin yêu. (ĐTH)


Giuse Nguyễn Cao Luật op

TIẾP NỐI NHỮNG BƯỚC CHÂN ANH HÙNG

Chuyện xưa kể lại : ngày ấy, có một người tên là Ápram, cùng với vợ là Xarai và người cháu tên là Lot, sinh sống trong một nông trại ở một miền đất gọi là Kharan. Ông ao ước có một đứa con để nối dõi tông đường, nhưng chẳng được. Súc vật, đồng cỏ, mọi thứ có đầy đủ, thế mà ông Ápram vẫn cảm thấy thiếu thốn. Đời sống cứ thế qua đi, cho đến một hôm, ông Ápram nghe được một tiếng nói lạ lùng “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi mà đi tới miền đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi. Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,1-3).

Bảy mươi lăm tuổi đầu rồi đâu còn trẻ gì nữa, làm sao có thể chịu đựng những nỗi vất vả, những hành trình ; của cải cũng đầy đủ quá rồi, còn mong ước gì hơn nữa. Lại còn chuyện sẽ được cai quản một dân lớn, làm tổ phụ cả một đoàn dân đông đảo ; ôi những chuyện xa vời quá, làm sao chấp nhận nổi?

Ápram phân vân, đắn đo suy nghĩ ông cảm thấy tiếng nói lạ lùng ấy đầy uy lực, thôi thúc ông phải thi hành. Và ông đã chấp nhận lên đường, bỏ lại quê cha, bỏ lại mồ mả tổ tiên, bỏ lại mảnh đất thân yêu, bỏ cả sự an toàn đang có ông chỉ mang theo những gì có thể, và dấn mình vào trong cuộc phiêu lưu liều lĩnh với muôn ngàn bất trắc, chưa xác định nơi nào sẽ định cư. Tất cả chỉ dựa trên một lời hứa, một lời hứa linh thiêng và bí nhiệm.

Apram đã không lầm. Những chi tiết của lời hứa đã được thực hiện. Ong đã được dẫn tới một miền đất phì nhiêu, ông đã có được nhiều của cải, chiên bò, gia súc, v.v… và có nhiều nhân viên giúp việc. Đời sống của ông bây giờ sung túc hơn xưa nhiều. Điều vui mừng hơn hết là Apram có được một cậu con trai, người con bấy lâu ông hằng mơ ước. Cuộc đời ông tưởng như không còn ước mong gì hơn nữa … (x. St 21,1-7).

Câu chuyện lại không chấm dứt ở chỗ này. Một lần nữa, tiếng nói lạ lùng năm xưa lại đến với ông, cũng đầy uy dũng và thúc bách : “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Ixaác, hãy đi đến xứ Moria mà dâng nó làm lễ tòan thiêu” (x. St 22,1-2).

Sao ? Lệnh truyền gì mà lạ lùng thế ! Lần trước tiếng nói ấy đã cho ông biết : ông sẽ là tổ phụ của một dân lớn, con cháu ông sẽ đông như sao trên trời, như cát dưới biển. Thế mà giờ đây lại được lệnh đem sát tế, đem giết đi đứa con độc nhất, đứa con nối dõi.

Apraham đã được đổi tên – cảm thấy như có một sức mạnh linh diệu thôi thúc ông, đồng thời dựa trên những kết quả từ lời hứa lần trước, ông quyết định thi hành.

Kết cuộc câu chuyện ra sao, chúng ta đã biết rồi, vào lúc Apraham sửa soạn thi hành lệnh truyền, thì đứa con đã được cứu thóat do một sự can thiệp lạ lùng …

Với những hành động can đảm và liều lĩnh ấy, kèm theo một lòng tín trung phó thác mãnh liệt, Apraham trở thành cha của tất cả những ai có niềm tin, trở thành con người khai mở cả một chặng đường, một hành trình nhiều đột biến nhưng thật phấn khởi, trở thành gương mẫu điển hình cho lòng vâng phục, cho hy vọng …

Một câu chuyện khác.

Cách đây 2000 năm, hay có khi trước đó nữa, đã có những nhà chiêm tinh, căn cứ vào những điềm xảy ra trong vũ trụ để nghiên cứu những biến cố. Đó là công việc của những nhà giàu có, sẵn tiền của và thời giờ. Ơ vùng đất xa xôi nọ, theo truyền thuyết, có ba nhà đạo sĩ cùng làm công việc ấy. Ngày nọ, ba người thấy xuất hiện trên bầu trời một vì sao lạ, một vì sao chưa thấy xuất hiện lần nào. Ba ông ngạc nhiên và bàn tính với nhau : Hẳn đây là một điềm báo trước một biến cố trọng đại. Nghiên cứu tìm tòi, ba ông được biết vì sao ấy ám chỉ một ông vua mới sinh. Vì vua ấy chắc là cao sang lắm ! Nên mới có ngôi sao lạ. Ba ông đều muốn lên đường đến chiêm bái vị vua mới sinh. Ba ông quyết định từ bỏ cả của cải, đem theo những báu vật để dâng cúng vị vua mới sinh.

Và ba ông đi mãi, đi mãi, dưới sự hướng dẫn của ba sao lạ … Và đến đây chúng ta đã biết được phần cuối của câu chuyện rồi. Đó là ba nhà đạo sĩ đến kính bái Chúa Giêsu mới giáng sinh ở Bêlem (Mt 2,1-12).

Apraham, ba nhà đạo sĩ đã đi trên một con đường : con đường của tìm kiếm, con đường của đức tin, con đường dẫn tới tương lai, dẫn tới sự sống. Các vị đã chọn đi trên con đường đó với bao quả cảm, với bao nỗ lực và phấn đấu. Con đường ấy dẫn đưa các vị đến những thành đạt kỳ ảo nhất và cũng dễ hiểu nhất. Con đường ấy là con đường duy nhất, vì kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng, chẳng còn con đường nào khác. Con đường ấy thật nhiều đột biến, thật nhiều thử thách và gian nan, đôi khi rất tăm tối, nhưng cũng đầy hứng thú và kỳ diệu …

Con đường đức tin hay hành trình chinh phục chân lý. Con đường dẫn con người đến những đỉnh cao, những thực tại siêu vời của cuộc sống …

Đó cũng là con đường của chúng ta, của mọi người. Mỗi người đều được mời gọi hướng về sự thật, hướng về vô biên. Con đường ấy cho cả hôm nay, hôm qua và ngày mai, không thể có một con đường nào khác. Chỉ có đức tin mới dẫn đến sự thật, chỉ có tín trung mới dẫn đến sự sống. Đó là chấp nhận phiêu lưu, chấp nhận mạo hiểm, như nhà leo núi chấp nhận những khó khăn để đạt được danh hiệu cao quý nhất của nhà chinh phục.

Chân lý – sự sống. Đó là nguyên lý cao nhất. “Phải sẵn sàng hy sinh những gì yêu quí nhất để theo đuổi cuộc tìm kiếm ấy, dù có phải hy sinh cả cuộc sống” (Gandhi).

Mãi mãi đi trên hành trình của Apraham, của ba nhà đạo sĩ, hành trình của lòng tin và hy vọng.


Fr. Jude Siciliano op

Ánh Sao Thiêng Dẫn Ta Đến Miền Đất Mới

Thưa quý vị.

Vào những năm 60 của thế kỷ trước, tức thế kỷ 20, kinh tế thế giới phồn thịnh. Nhiều thanh niên Tây Âu, nhất là Bắc Mỹ ôm ấp những giấc mộng lớn. Người thì mơ làm giàu, người thì mơ nổi tiếng. Từ đó phát sinh nền văn hoá cực kỳ lạc quan. Nhiều tác phẩm văn học, nhiều bài hát mang tính tham vọng cao. Tôi còn nhớ như in bài ca "The quest" (chinh phục) với lời lẽ láng máng như sau : "Hãy băng qua mọi con suối, đuổi theo mọi cầu vồng … cho đến khi tìm thấy ước mơ của bạn… (Ford every stream, follow every rainbow… 'till you find your dream…) vân vân và vân vân. Nghĩa là họ có một cơn sốt ở trong bụng. Nhưng xét ra, chẳng cơn sốt nào mạnh mẽ như cơn sốt của các nhà chiêm tinh trong Chúa Nhật hôm nay.

Bởi lẽ những cơn sốt đó chỉ tồn tại trên giấy tờ, mơ mộng. Còn cơn sốt ở trong bụng, trong ruột của mấy đạo sĩ thì như thiêu như đốt, vô phương cứu chữa, nó thúc đẩy họ bỏ nhà cửa ấm cúng, bỏ vợ con yêu dấu, họ hàng, bạn hữu, chức quyền, tiền bạc … để đi tìm một con trẻ Israel mới sinh mà chẳng biết là ai. Họ khởi sự lên đường chân thấp, chân cao dõi theo một bóng sao trên trời, chẳng biết sự thể sẽ ra thế nào ! Tất cả họ có trong con người họ là cơn sốt chinh phục, lòng bất mãn với những thực tế chung quanh, và khát khao một thực tại mới. Nếu như cơn thúc đẩy đó vừa vừa, không khẩn thiết lắm, họ có thể dẹp bỏ hay trì hoãn để tận hưởng những phút giây êm đềm của các thói quen cũ, tội gì phải cất bước lên đường xông pha vào đất lạ để gánh lấy ngàn vạn rủi ro ?

Chúng ta chẳng biết nhiều về các đạo sĩ này. Có phải số họ là ba như các tranh ảnh đạo đức vẫn thường vẽ ? Có phải họ đến từ một quốc gia hay nhiều miền khác nhau ? Có phải họ là những tư tế kiêm chiêm tinh gia hay các quan chức triều đình nhà vua ? Tính mơ hồ, khuyết danh của họ cho phép có nhiều truyền thống cắt nghĩa khác nhau, nhiều biểu tượng, ám chỉ khác nhau. Họ đến như để tượng trưng cho sức đa dạng về ngôn ngữ, màu da, quốc tịch, văn hoá ? Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai tức thư gởi giáo đoàn Êphêsô đã gợi ý như vậy. Ơn của Thiên Chúa đã mạc khải màu nhiệm cho chúng ta rằng mọi dân tộc, chứ không phải chỉ có số ít được chọn, "sẽ đến để tìm thấy vị trí của mình như những người thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể, và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa" (3,6). Vậy thì thánh Matthêo đã ngụ ý trong các chiêm tinh gia, sự thật Phúc Âm, là người ta từ khắp các quốc gia sẽ tìm đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu và được đón nhận vào vui hưởng tôn nhan thánh thiện Ngài, và rằng lời đoan hứa Israel là ánh sáng cho muôn dân như các Tiên tri loan báo nay đã được ứng nghiệm nơi Chúa Kitô.

Do đó, tự mãn tôn giáo không phải là giải pháp tốt nhất và cũng chẳng hề là con đường an toàn đưa chúng ta đến những chân trời mới. Chúng ta phải luôn hối cải và trở về với bàn tay dẫn dắt của Thiên Chúa, bàn tay luôn mới mẻ và đầy bất ngờ. Nó lôi kéo chúng ta ra khỏi tính ù lì của thói quen, thích tiện nghi dễ dãi để đi trên những con đường gồ ghề khó khăn. Chúng ta phải lắng nghe và tin cẩn tiếng thúc giục trong tâm hồn, không dừng bước, không trở lại, giống như các đạo sĩ. Một khi đã từ bỏ tự mãn tôn giáo chúng ta bắt buộc phải nhìn về phía trước, bước những bước chân vô định, trong lòng dò hỏi và tín thác vào sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. Dĩ nhiên sẽ có những nghi nan và ân hận nhưng rốt cuộc chúng ta sẽ tiến tới địa chỉ mà Thiên Chúa đang đứng đợi, tức đời sống trong ơn thánh Ðức Chúa Trời.

Lúc ấy chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa ra sao ? Ba nhà đạo sĩ chỉ tìm được một gia đình nghèo nàn, con trẻ mới sinh gói trong khăn, ở một ngôi làng không tên tuổi trên bản đồ. Nhưng điều chắc chắn họ có là ánh sáng của ngôi sao, ánh sáng rực rỡ đầy thuyết phục, cho dù ánh sáng đó ở trên bầu trời hay trong lòng, mạc khải cho họ sự thật thần linh mà họ đang đi tìm kiếm. Con trẻ ấy là Vua mới của dân Do thái. Thiên Chúa làm người. Và họ đã quỳ gối thờ lạy, rồi dâng lễ vật. Họ đã được thoả tình vì đạt mục tiêu tìm kiếm của mình. Cho nên Thiên Chúa hiện diện ở nơi tối tăm, ở cánh đồng heo hút gió, ở ngoài rìa xã hội, không chụp hình, không tiếng hoan hô, không reo hò như trong các trận đấu banh quốc tế. Sự hiện diện của Ngài lặng lẽ và an bình, lôi kéo người ta từ phương trời khác, truyền thống khác đến kính bái.

Liệu chúng ta có cần đến người lạ giúp đỡ mình nhìn xuống phía dưới cuộc đời không ? hoặc dám chấp nhận những điều xưa nay mình chẳng dám chấp nhận ? Như vậy vô tình nhiều người đã bỏ quên sự hiện diện củaThiên Chúa trong đời sống mình hoặc che giấu phí uổng những ân huệ quý báu Ngài ban ! Cho nên chúng ta cần phải có những cơ hội để làm thức tỉnh những khả năng đó. Những cơ hội có thể là bạn bè, thày giáo, cô giáo, huấn dụ viên, cố vấn luân lý, những thày đạo sĩ tới từ xa. Họ thắp sáng lên trong chúng ta ánh sáng thần linh. Họ tỏ bày dung mạo Thiên Chúa mà xưa nay chúng ta thường bỏ quên. Ðó là ý nghĩa phổ quát của lễ Hiển Linh : Tỏ bày Thiên Chúa cho thế giới. Họ soi sáng và khích lệ chúng ta đi ra ngoài chính mình để nhìn đời sống và ngoại cảnh bằng viễn tượng khác.

J. Ronald Knott thuật lại chuyện một phóng viên truyền hình phỏng vấn một bà già ở miền Ðông bang Kentucky, Hoa kỳ. Bà nói rằng suốt đời bà chưa bao giờ đi quá chu vi 5 cây số khỏi nơi bà sinh trưởng. Ðược hỏi tại sao bà lại không vượt quá giới hạn đó. Bà trả lời : "Tôi không tin di chuyển nơi nọ, nơi kia là ích lợi" như thế có nghĩa bà chưa tới các vùng danh tiếng lân cận với thành phố của bà, như Louisville, Churchill, Howe Caverns, Sông Ohio, vv… Bà giống như ba con nòng nọc của Ðức Hồng y Fulton Sheen. Ba con nòng nọc chơi đùa ở dưới đáy ao, chúng đuổi nhau khắp chốn, chẳng may một con quá đà bay nhô lên khỏi mặt nước, nó mở to mắt nhìn thấy một thế giới khác, đầy ánh sáng, cây cối xanh tươi, lạ hoắc, đẹp đẽ vô cùng hơn hẳn các rong rêu tối đen của chúng. Khi rơi trở về đáy ao nó hồ hởi kể cho các bạn nghe về chuyến du lịch ngắn ngủi sang thế giới khác vừa rồi. Các bạn nó nhất định không chịu tin. Làm gì có thế giới nào khác ngoài thế giới của loài nòng nọc dưới đáy ao ? Làm gì có thế giới nào khác ngoài thế giới vật chất tốt đẹp này ? Vô số thiên hạ loài người cũng phát biểu như vậy. Họ và người đàn bà trên hoàn toàn trái ngược với các nhà chiêm tinh đầy mơ mộng hôm nay. Họ ra đi để tìm Ðấng Cứu Thế, tìm lẽ sống mới cho cuộc đời mình. Nếu không bỏ nhà cửa, thói quen thì làm sao tìm thấy điều mong ước hoặc ngay cả tìm thấy chính bản thân mình ?

Cho nên đối với chúng ta, là phải ra đi và ánh sao thiêng liêng mờ ảo dẫn chúng ta đến những miền đất mới mà có lẽ chúng ta chưa hề tưởng tượng ra. Chúng ta sẽ gặp Thần Linh - dĩ nhiên dưới những dạng thức tàng ẩn. Ðối với các nhà chiêm tinh, đó là một con trẻ nằm trong máng cỏ. Ðối với chúng ta có thể là những người hành khất, những đứa trẻ cần dạy giáo lý, những cô gái lầm đường lạc lối cần hoàn lương, những xì ke ma tuý cần cai nghiện, những ông già, bà già cần nơi nương tựa, những thợ thuyền cần nâng đỡ, những bạn bè cần chia sẻ vật chất cũng như tinh thần, những đám tang cần an ủi, những gia đình tan vỡ cần hàn gắn, vv… Hôm nay chúng ta tụ họp tại nhà thờ này để mừng lễ Hiển Linh. Còn sự hiển linh nào rõ ràng bằng chấp nhận nhau là anh chị em cùng một Cha, con cái cùng một nhà ? Tay trong tay đi về nhà Chúa ?

Vậy chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa cho mình gạt bỏ được tính tự mãn tôn giáo, sơ cứng tư duy, não trạng. Và giống như các đạo sĩ được khơi dậy lòng khao khát Thiên Chúa, mở rộng đôi tay và tấm lòng đón nhận anh em bốn phương, luôn sống trong tình tương thân, tương ái, liên đới trách nhiệm với tha nhân và thế giới, biết ngạc nhiên và đánh giá cao những đóng góp của kẻ khác. Trên hết, biết cầu nguyện và tạ ơn. Bằng ánh sao hôm nay, Thiên Chúa đã kêu mời các đạo sĩ nhận biết thần tính của Ngài trong con trẻ Giêsu. Ngài tỏ mình ra cho họ như Vua vũ trụ, Cứu tinh nhân loại và Tư tế Tối cao. Xin cho chúng ta biết được ý nghĩa biểu tượng của ba lễ vật : Vàng, Nhũ hương và Mộc dược trong cuộc đời mỗi người. Amen.


Fr. Jude Siciliano op

Cuộc Sống Là Tiến Trình Tìm Kiếm Chân Lý và Sự Thiện
 (Mt 2, 1- 12)

Thưa quí vị.

Những tư tưởng đầu tiên xuất hiện trong đầu óc tôi khi suy gẫm về lễ Hiển linh là các đạo sĩ phương đông và bài thơ tôi rất ưng ý: "Cuộc hành trình của các đạo sĩ " của thi sĩ T. S. Eliot. Thi sĩ đã nối kết sự sinh ra và cái chết nhục nhã của Chúa Giêsu, sự sống và cuộc hành trình về cõi vĩnh hằng của các đạo sĩ. Bài thơ là tự truyện của một trong ba đạo sĩ với những dòng cuối cùng như sau: "Tôi nhớ lại, tất cả những điều đó đã xảy ra lâu rồi. Nhưng nếu được đi con đường cũ lần nữa, tôi sẽ cất bước ra đi. Phải chăng bằng chính nó mà người ta được dẫn đến cái chết hoặc sự sống thiêng liêng ? Chắc chắn đã có một sự hạ sinh chẳng nghi ngờ gì nữa. Chính tôi đã chứng kiến sinh nở và cái chết nhiều lần. Tôi nghĩ chúng khác nhau. Nhưng lần này sự sinh ra là một biến cố quá ư nhức nhối. Nó giống như giây phút hấp hối đầy cay đắng cho mọi người. Nó là tử thần, là cái chết của chúng ta. Chúng tôi đã trở về các vương quốc của mình. Nhưng chẳng được an vui trong niềm tin cũ. Chúng tôi cảm thấy bồn chồn, chung quanh toàn người xa lạ, bám víu vào các ngẫu tượng của họ. Chúng tôi thà chết cho niềm tin này. Như thế chẳng sung sướng, hạnh phúc hơn sao?"

Để có thể lên đường, Các đạo sĩ đã phải giã từ gia đình, xóm làng, ngai vàng, quang cảnh quen thuộc ấm cúng để đến miền đất hoàn toàn xa lạ, đầy khó khăn, nguy hiểm, bất định. Như thế, cuộc hành trình của họ không thuần tuý vật chất. Nó đòi hỏi cả tinh thần. Sự thay đổi không nguyên về nơi chốn mà cả về phần tâm linh. Những gì là quen thuộc, bây giờ trở nên xa lạ. Những kinh nghiệm của các đạo sĩ phương Đông cũng là những kinh nghiệm của chúng ta, nếu muốn lên đường tìm kiếm Thiên Chúa nhập thể. Ngay cả khi chúng ta vẫn ở lại nơi chốn cũ, không phải khăn gói dõi theo một ngôi sao thể lý nào. Nói chung mọi cuộc đời chân chính đều đòi hỏi thay đổi liên tục. Sơ cứng não trạng là chết chóc về phần tâm linh. Hãy dời bỏ những gì đang mục rữa và can đảm đối mặt với cái mới, cái bất trắc. Đó là quy luật biện chứng của trời đất, vũ trụ. Chúng ta không có lựa chọn nào khác. Nguyên tử luôn luôn chuyển động. Bám vào quá khứ là không có tương lai. Vậy dầu muốn dầu không, hãy để quá khứ trôi vào dĩ vãng.

Dĩ nhiên, cần một núi can đảm để dám chấp nhận cái mới, và hứng chịu hậu quả của nó. Thánh Augustinô nói: "Chúng ta không hề có một thành trì vững bền ở thế gian" (De civitate Dei). Ngài nói về cuộc đời bây giờ và mai hậu. Do đó, dầu ở đời này, chúng ta sống cố định trong một thành thị, làng mạc hay một ngôi nhà suốt cuộc đời, chúng ta vẫn luôn đi trên một hành trình vô tận và người bạn cùng đi là Đổi Thay. Nói một cách cụ thể, nhân loại toàn là những kẻ mục tử, cắm lều tại nơi nào đó, rồi lại nhổ lều bỏ đi đến nơi khác xa lạ, liên tục di chuyển, liên tục làm mới từ đầu. Cho nên, chúng ta nhận các đạo sĩ làm tổ sư là hợp lý. Bởi các vị cũng liên tục là khách hành hương. Không hành hương chúng ta bắt đầu rữa nát ! Tự mãn là vô lý, bởi loài người đang ở trong tiến trình hoàn thiện : Homo fit, non est (người ta sinh ra để hoàn thiện, không phải đã hoàn thiện rồi). Châm ngôn khôn ngoan của người xưa là thế. Cuộc hành trình của các đạo sĩ có vài đặc điểm rõ nét. Thứ nhất, họ không bị ép buộc phải ra đi, mà đã tự ý lựa chọn cuộc viễn trinh. Họ là những kẻ tìm kiếm. Thứ hai, họ đã nhìn lên trời, nghe trong lòng có tiếng gọi, trông thấy một viễn tượng lạ và một lời hứa hẹn mơ hồ. Họ mạnh dạn cất bước ra đi vào nơi bất định để được gặp "Vua Do thái mới sinh ra."

Cuộc sống mỗi người chúng ta cũng là một tiến trình tìm kiếm chân lý và sự thiện ! Chúng ta đang ở giai đoạn nào, địa điểm nào đây? Cái gì đã thúc đẩy chúng ta tới đây? Cuộc viễn chinh của chúng ta đúng hướng hay đã chệch đường? Coi chừng chúng ta chạy nhanh lắm, nhưng trật đường rồi, do đó càng chạy càng xa mục tiêu chẳng bao giờ tới đích, . Con đường của chúng ta là hy sinh hay hưởng thụ? Mới đây một chị bạn đã viết cho tôi một lá thư dài đầy an ủi. Chị kể rằng hôm tháng ba vừa qua, chị phải trải qua một cuộc giải phẫu ung thư. Một cuộc hành trình dài đầy gian khổ mà chị chẳng muốn, chồng chị, các con, các cháu chị cũng chẳng ưa! Họ lo lắng từng giây phút về sự chữa chạy, về sức khoẻ của chị. Nhưng chị chỉ nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong những ngày đen tối đó. Ngôi sao dẫn đưa các đạo sĩ đến gặp "Vua Do thái mới sinh" là ánh sáng duy nhất hướng dẫn chị và gia đình vượt bể khổ trần gian. Cho nên giờ này tôi cũng ước ao ngôi sao hay ánh sáng đó dẫn dắt mỗi linh hồn và cộng đoàn trên hành trình riêng của mình. Chúng ta dâng lời cảm tạ Chúa nếu ánh sáng đó lại là Đức Kitô chúng ta cử hành trong thánh lễ này. Bằng không, nếu ánh sáng đó cần thay đổi hoặc làm cho sáng hơn thì xin Chúa Giêsu Thánh Thể thực hiện công việc đó tức ngự vào linh hồn mỗi người tràn đầy hơn trong buổi thờ phượng ngày hôm nay. Bởi lẽ vắng Ngài là vắng sự sáng và sự sống (when the Lord went out the light and the life went out, too!).

Ngược lại, chúng ta chỉ kinh nghiệm những biến động xôn xao như hôn quân Hêrôđê mà thôi! Tưởng rằng mình đang làm theo thánh ý Chúa, phân biệt tỏ tường đâu là lành thánh, đâu là sa đoạ, mà kì thực chỉ là ổn định trong những cái giả tạo, không muốn ra khỏi tổ kén của mình để có được sự thay đổi cần thiết. Cách đây ít lâu, tôi có cơ hội quen biết một doanh nhân danh tiếng, 50 tuổi đời, đã dời bỏ công việc nhiều lợi lộc của mình để trở thành một giáo viên quèn cho mấy đứa nhóc trong làng. Ông nói để có được ý nghĩa, tức một dấu ấn cho thế hệ tương lai. Ông muốn cuộc đời ông phải là một cái gì khác, giá trị hơn tiền bạc nhiều. Tôi lại gặp một thanh niên học thức, có bằng cấp cao, tốt nghiệp nhiều trường kỹ thuật, người ta đề nghị anh một vài vị trí béo bở trong các xí nghiệp, nhưng anh đã quyết định ghi tên vào chủng viện để trở thành mục sư cho giới trẻ. Người thứ ba là một goá phụ, bà đứng dậy từ đau thương của mình, thành lập một nhóm thăm viếng kẻ liệt, nhất là các tang gia, cống hiến cho họ một "ngôi sao", an ủi họ trong những giây phút đen tối và tuyệt vọng. Không giống Herođê chỉ tra hỏi xuông về con trẻ Giêsu, những người này và muôn vàn linh hồn tốt lành khác đã quyết tâm bó gói lên đường dõi theo vì sao chỉ đạo bước vào cõi vô định, những miền đất xa xôi, những tương lai mờ mịt, đòi hỏi nhiều đổi thay và hy sinh. Tuy nhiên, cách nào đó, họ đã tìm thấy "Đấng cứu thế mới sinh" và dâng lên Ngài những lễ vật mọn hèn của lòng mình. Không liều lĩnh, họ chẳng có hạnh phúc như vậy.

Đến đây, một loại người lữ hành khác nẩy ra trong tâm trí tôi. Số là ban sáng tôi nhận được một gói bưu phẩm gởi từ địa phận Austin , Mỹ, do văn phòng mục vụ Tây Ban Nha chuyển. Trong gói đồ có lá thơ của Đức Giám Mục Thomas Wenski (phát ngôn viên của Hội đồng giám mục Hoa Kỳ) về tuần lễ "di dân quốc gia". Tuần lễ từ Chúa Nhật mồng 5 đến 11 tháng giêng, 2003. Lá thơ cho biết: Tổng số di dân trên thế giới là hơn 15 triệu. Một con số khủng khiếp. Hầu hết phải tạm trú trong các lều vải và trước mắt chẳng có giải pháp khả thi nào để ổn định họ. Trong khi đó quốc hội Hoa Kỳ chỉ nhận 70 ngàn người cho năm 2002. Năm 2003 chỉ phỏng 40 ngàn.

Các người nhập cư hợp pháp cũng như bất hợp pháp phải trốn chạy khỏi quê hương mình vì lý do an minh hay đói khổ. Nhưng khi đến nước này lại bị các chủ nhân ông khai thác, bóc lột sức lao động. Các Giám mục chỉ ra những khốn khổ của họ như tính dễ bị tổn thương, sợ hãi bị phát giác và trục xuất, xa cách gia đình lâu dài, bị các cư dân địa phương nghi ngờ, phân biệt đối xử hay thù ghét, kể cả hành hung. Sau biến cố 11.9. 2001 hiện tượng bài ngoại gia tăng cường độ trên khắp nước Mỹ. Chủ đề của tuần lễ di dân năm nay là: Tất cả anh chị em mới đến đều là quà tặng cho chúng ta. Rõ ràng chủ đề có liên quan chặt chẽ với ngày lễ hôm nay, và Đức giám mục Wenski đã muốn làm rõ tính kế thừa giữa các đạo sĩ cũ và mới. Phúc âm thách đố tín hữu Hoa kỳ nhìn thấy trong các di dân gương mặt của Chúa Giêsu và như vậy chấp nhận họ là ruột thịt với mình. Rất nhiều người nhập cư có đạo Công giáo, chia sẻ đức tin và trách nhiệm với chúng ta, làm cho giáo hội địa phương thăng tiến mạnh mẽ cả phẩm lẫn lượng. Nói chung, hầu hết những ai đến nước Mỹ để tìm kiếm tự do và cơ hội kinh tế tốt đều làm giàu cho quốc gia này rất nhiều. Một khi chúng ta gạt bỏ được sợ hãi, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó, khỏi cần minh chứng.

Thường thường những di dân hoặc người tản cư cảm thấy rất cô đơn trên đất lạ. Họ phải trải qua những kinh nghiệm tâm lý tai hại như nhút nhát, sợ sệt, sốc văn hoá, vật lộn để sống còn với các nhóm dân thiểu số khác, tranh dành viện trợ của các hội từ thiện, cộng đồng tôn giáo, hay của chính phủ. Vì thế, hội đồng Giám mục đề nghị thiết lập chương trình tiếp đón tại các giáo xứ. Nghĩa là, tại các giáo hội địa phương có những nhóm mục vụ, các uỷ ban phụng vụ chăm lo bác ái, xã hội, công lý, đón tiếp… để nâng đỡ những người mới đến. Mỗi địa phận cũng nên có văn phòng di cư để chỉ đạo các hoạt động trên cho hiệu quả. Riêng về mục vụ các bí tích, thánh lễ phải được chú tâm đặc biệt hơn bởi đa số di dân chưa thông thạo ngôn ngữ địa phương, nơi họ đến cư ngụ. Cũng nên tổ chức các buổi thăm hỏi, uống cà phê chung, huấn nghệ cho các thanh niên thiếu nữ để họ có thể dần dần tự lập và hội nhập với kinh tế, văn hoá chung. Tóm lại, nên giúp đỡ các người mới tới tối đa theo khả năng có thể, đừng để họ cảm thấy lẻ loi, bị bỏ rơi. Noi gương Các đạo sĩ, chúng ta dõi theo ngôi sao dẫn đàng, mạnh dạn bước tới những chân trời mới của lòng yêu thương, bác ái.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp đỡ chúng con nhận ra Chúa trong những thân phận lạc loài, những người di cư , các kẻ chạy trốn nghèo đói, chiến tranh, áp bức, truy nã…Xin cho chúng con biết vui vẻ đón tiếp họ như đón tiếp chính Chúa. Xin cho chúng con nhận ra ơn Chúa trong họ, bất kể là ai phiêu bạt đến xứ sở này. Giải phóng chúng con khỏi ích kỷ, sợ hãi và biết chia sẻ với họ nguồn tài nguyên phong phú Chúa ban cho đất nước chúng con, để một mai chúng con được nghe Chúa phán: "Nào những kẻ được Cha ta chúc phúc, hãy đến vui hưởng Vương quốc… vì xưa ta đói các ngươi đã cho ăn… Mt 25. Chúng con cầu xin trong danh thánh Chúa Cha, qua quyền năng Chúa Thánh thần. Amen.


Fr Jude Siciliano, OP.

Hãy Tiến Bước Đến Nguồn Ơn Cứu Độ
(Mt 2,1-12)

Thưa quý vị.

Bầu khí lễ hội tưng bừng mừng Thiên Chúa làm người đang tàn lụi dần. Tuy nhiên ở vài nơi vẫn còn rơi rớt một vài dấu vết, thí dụ như trong thánh đường giáo xứ hôm nay. Bạn sẽ là người yếm thế nếu không còn cảm thấy lây nhiễm cái vui của ngày lễ. Bạn sẽ là người chán nản nếu cây thông Noel, quà cáp, nến đèn lung linh, bài ca du dương, diễu hành hoành tráng không tác động đến linh hồn bạn nữa. Mùa Giáng Sinh chưa chấm dứt. Nó không kết thúc vào sáng 26, ngày đi làm, nhưng còn kéo dài mãi tới hôm nay và cả tuần tiếp theo nữa. Thánh lễ sáng nay hãy còn ở trong thời sung mãn của nó. Tâm hồn các tín hữu còn đang hoan hỷ, vui tươi. Dầu vậy, về một khía cạnh nào đó, trong cộng đoàn có những linh hồn cảm thấy lạc lõng, không đồng nhịp với người khác. Họ không phải là những kẻ vô đạo, nhưng có một nỗi đau mà càng đối diện với ngoại cảnh ồn ào thì càng gia tăng cường độ, vào mùa này chẳng hạn. Và bởi vì không muốn phá đám, quấy rầy người khác, họ ngậm tăm, chịu đựng một mình.

Tôi bấm bụng phỏng đoán số linh hồn như thế trong cộng đoàn chúng ta không phải là nhỏ. Dẫu rằng bề ngoài họ vẫn bình thường vui cười như người khác, nhưng tâm hồn không chút phấn khởi : Vui là vui gượng kẻo mà, ai tri âm đó, mặn mà với ai ? Nhìn bề ngoài chẳng dễ gì nhận ra ! Họ đứng ngoài vòng chơi là bởi nhiều nguyên do. Có thể còn bé họ bị người lớn hành hạ, lạm dụng tình dục, hiếp dâm, bị cha mẹ bỏ rơi, gia đình tan rã, lang thang ngoài đường phố. Có thể do nghèo đói, không đủ khả năng cung cấp các nhu cầu cần thiết cho gia đình, con cái không được học hành đầy đủ, vô sinh, đồng tính luyến ái, con chết, vợ bỏ đi. Có khi phải chịu đựng một chứng bệnh hiểm nghèo, vô phương chữa chạy như ung thư, phong thấp, Parkinson, Alzheimer, trầm cảm, tim mạch … bệnh tật chẳng biết thời gian, nơi chốn nào cả. Thiên hạ càng vui thì người mang bệnh càng buồn, một xóm buồn, cả làng cùng buồn khi nhìn sang bên cạnh giàu có tổ chức lễ hội tưng bừng, ngôi sao, hang đá to đùng, đèn nến như sao sa.

Nhưng ngày lễ hôm nay có lẽ cho chúng ta một tia hy vọng, một niềm vui bất ngờ, khi ngỡ ra rằng, ba vua cũng được hài nhi Giêsu kêu mời tới thờ lạy, nhận phước lành từ tay Thượng Đế. Họ cũng thuộc dân tộc vòng ngoài, những kẻ bên lề, chầu rìa ơn cứu độ của Israel. Lễ Hiển Linh cử hành Thiên Chúa tỏ lộ mình ra cho dân ngoại. Sự kiện này được thể hiện trong ba biến cố : Ngày hôm nay, các hiền sĩ đến thờ lạy Chúa Hài Đồng, dâng lên Ngài vàng, mộc dược và nhũ hương. Tuần tới Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan và tiếng từ trời phán : “Này là người con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3,17). Và ở tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên biến nước thành rượu, bày tỏ quyền phép trước mặt nhân loại (chúa nhật 2 thường niên, 18/1).

Như vậy là Ngài đã hiện diện ở những địa điểm cần đến Ngài, khi bóng tối xem ra nắm chặt lấy số phận, trái tim và tinh thần nhân loại. Trong bài đọc một, tiên tri Isaia hô lớn “Đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem hỡi, vì ánh sáng của người đã đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất và mây mù phủ lấy chư dân. Nhưng trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang người xuất hiện trên ngươi” quả là một lời loan báo vĩ đại, ánh sáng của Thiên Chúa xuất hiện như bình minh. Anh sáng này là Hoàng Tử Hoà Bình vừa mới chào đời tại hang đá Bêlem. Từ “bóng tối” vị ngôn sứ nhắc nhở chúng ta liên tưởng đến: “Bóng tối bao trùm mặt đất” của sáng thế ký (1,1), trước khi Thiên Chúa dựng nên sự sáng. Lúc ấy, sức mạnh của Thiên Chúa chiến thắng bóng tối. Vị tiên tri muốn chỉ bảo độc giả điều chi Thiên Chúa đã làm thì lúc này Ngài vẫn thực hiện. Ngày xưa bóng tối đã bị ánh sáng đẩy lui thì bây giờ cũng vậy. Câu văn chứa đựng nhiều hy vọng vĩ đại bằng một liên từ “nhưng”: Nhưng trên ngươi. Từ này diễn tả một tình trạng đổi ngược, chấm dứt cái cũ và bắt đầu điều mới. Đức Chúa như bình minh chiếu toả. Sau khi chúng ta gọi tên bóng tối, gọi tên những nỗi nhọc nhằn của mình, thì đặt tin cậy vào sức mạnh của Đức Chúa và Ngài sẽ nói “Nhưng” tức thời ánh sáng, hy vọng, niềm vui đến: “Vinh quang của Người xuất hiện trên ngươi”. Trong cảnh ngộ như thế, chi duy Tạo Hoá mới có quyền năng đổi thay. Ngài ban cho chúng ta sức mạnh và can đảm để băng qua khó khăn.

Như vậy là tiên tri Isaia đã sửa soạn cho chúng ta am hiểu bài Tin Mừng. Ông nói các tín hữu sẽ kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong bản thân mình, rồi từ ánh sáng của chúng ta, thiên hạ sẽ tiến bước trên con đường công chính. Thiên Chúa với tới dân ngoại qua các tín hữu. Đúng như vậy, ánh sáng huy hoàng của Hội Thánh chiếu tới mọi dân tộc qua nguồn sung mãn của học thuyết thánh thiện, qua sự tinh tuyền luân lý, qua ơn sủng tràn đầy, qua nếp sống đạo đức, qua các tác phẩm vô giá, qua phụng vụ nghiêm trang và vẻ đẹp lộng lẫy của các nhà thờ, cung thánh. Các tín hữu có thể làm tăng thêm ánh sáng này bằng cuộc sống cá nhân. Xin cân nhắc kỹ hành vi của mình như một thành viên của Hội Thánh. Mùa này nhiều dân tộc cảm nhận mình chỉ là dân ngoại, ước ao được nghe nốt nhạc hy vọng của tiên tri Isaia. Họ chờ đợi một tia sáng từ Bêlem. Sẽ có ánh sáng cho họ và muôn dân sẽ tụ tập về Giêrusalem đã được khôi phục. Xin nhớ thời Chúa Giêsu, người Do thái coi dân ngoại, đàn bà, trẻ con là những kẻ ngoài lề. Họ không được phép bước vào tiền đường đền thờ Giêrusalem. Họ chẳng có quyền lợi nào cả trong đạo. Hôm nay chúng ta cũng nên đồng hoá với họ và nghe tiếng tiên tri Isaia nói: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa sẽ hướng về ngươi mà tiến bước… mặt mày ngươi sẽ rạng rỡ, lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng” và khi không nhận ra phương hướng hoặc ơn cứu giúp từ chân trời, chúng ta phải dựa vào lời hứa này của dân Do Thái mà tiến bước. Bởi nó không phải là lời hứa suông nhưng rất nặng ký, có nội dung vững chắc. Nó không phải là cái vỗ vai an ủi, khích lệ, mà là sự trung tín của Thiên Chúa. Ngài sẽ ban ánh sáng, hạnh phúc cho những nơi thiếu vắng, ban bình an yêu thương cho những phần đất hận thù, chiến tranh. Chúng ta là những dân ngoại lầm lũi bước trong bóng tối tội lỗi, chúng ta cần tin tưởng vào lời hứa này để đạt được những gì mình vật lộn, khát khao trong bóng tối. Thiên Chúa sẽ thực hiện những công việc, làm loài người phải bật tiếng ngợi khen, tạ ơn.

Các vị đạo sĩ bước vào thờ lạy (lễ này xin đọc bài thơ nổi tiếng T.S. Eliot, nhan đề cuộc hành trình của ba vua, mà năm vừa rồi tôi đã trích vài câu căn bản). Họ đã thực hiện cuộc hành trình dài, vất vả để đi tìm sự thật. Họ bỏ lại đàng sau tất cả, gia đình, vợ con, châu báu, ngai vàng, bạn bè thân thuộc, nghề nghiệp, nếp sống ấm cúng… để đến Giêrusalem tìm một bé thơ nghèo nàn. Họ không có Thánh Kinh của Do Thái Giáo hướng dẫn. Họ phải hỏi vua Hêrôđê để biết chỗ con trẻ sinh ra ở đâu. Đến lượt Hêrôđê phải hỏi các thầy thông luật (tức hội đồng Sinhedrin) và được biết Đấng Mêsia, Thiên Sai của Thiên Chúa được sinh ra tại Bêlem. Thật lạ lùng nếu như Hêrôđê không nắm được thông tin này! Và những lãnh đạo tôn giáo lại không cất công tìm kiếm Đấng các tiên tri nói tới, toàn dân tộc trông đợi. Thay vì họ, các đạo sĩ, những kẻ ngoài rìa truyền thống lại nỗ lực thử vận mệnh của mình. Họ là những kẻ mở rộng tương lai cho những điều mới lạ.

Cho nên, xin hãy gạt sang một bên những luật lệ tôn giáo cũ. Ngày hôm nay chúng ta có một nhật kỳ đầy ánh sáng Phúc Âm khác. Chúng ta có thể đẩy quá khứ về phía sau, và để câu chuyện ba vua hướng dẫn mình làm cuộc hành trình, dầu vất vả, đến nơi sự thật cư ngụ. Hôm nay là ngày người ta nên rũ bỏ mọi hình thức trói buộc tinh thần mình, làm những quyết tâm mới và tiến theo hướng Đấng có khả năng ban cho chúng ta tham vọng mới. Lễ này có tính phổ quát. Nghĩa là mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi tiến vào vòng tay cứu độ của Ngài. Các tâm hồn ngoài truyền thống Do Thái chẳng có chi phải sợ hãi.

Lễ vật của các đạo sĩ gợi nhớ thánh vịnh 72, câu 10 và câu 11 : “Từ Tarsit và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả Rập, Xơva cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thãy đều phụng sự”. Vàng tượng trưng cho quyền quý cao sang, mộc dược để ướp xác kẻ chết, nhũ hương để tôn thờ thần linh. Ba lễ vật gói ghém hiện tại tương lai của bé thơ Giêsu. Cuộc đời mỗi người đều là hành trình về quê hương thiên quốc. Cũng giống như ba vua, chúng ta phải thăm dò, lạc đường, tìm lối, nguy hiểm để vượt quãng đừơng xa. Khi mười năm, hai mươi năm, năm sáu bảy chục năm, lâu nữa thì hàng trăm năm, thử hỏi ai không vấp ngã ? Và chúng ta biết mình đi về đâu ? Với Thiên Chúa, Đấng tinh tuyền vô biên ! Cho nên sợ hãi vô cùng, không cầu nguyện, ăn chay hãm mình làm sao đứng vững ? Lại còn phải nhờ bàn tay Thiên Chúa dẫn dắt. Tuy hôm nay Ngài đến với mỗi linh hồn như món quà Thiên Chúa thương ban, nhưng phần đa số không trân trọng, có linh hồn coi nó rẻ mạt cho đến giờ hấp hối. Lúc ấy mới thấy là quý giá vô cùng, nhưng đã muộn !

May thay còn đức tin bảo đảm cho định mệnh của mình. Và không giống như các đạo sĩ, chúng ta chẳng cần mang theo lễ vật. Chỉ duy bản thân và lòng tin kính Đức Kitô. Mọi thứ khác để lại phía sau. Khi ra giảng đạo, Ngài sẽ nói cho chúng ta hay phải làm thế nào : Dấn thân phục vụ người khác, mang lương thực cho kẻ đói nghèo, áo mặc cho kẻ rách rưới, chỗ ở cho kẻ lang thang, thuốc men cho những ai đau yếu, tha nợ cho kẻ túng thiếu, giải phóng kẻ tù tội, hiện diện bên những người cô đơn (Mt 25). Hôm nay chính thức Đức Chúa Trời tỏ mình ra cho nhân loại như món quà quý báu. Việc đó Chúa thực hiện, không phải chúng ta, và vì ích lợi cho mỗi linh hồn, cho thế giới, mọi nơi, mọi thời đại. Trước mắt, Ngài thể hiện món quà này trong bí tích Thánh Thể và trong ơn hiển linh chúng ta cử hành hôm nay.

Chẳng mấy bữa nữa, thiên hạ sẽ dọn dẹp cây Noel, hang đá, đèn sao, nhà cửa trở về nếp sống bình thường. Nhưng đừng bao giờ quên rằng trung tâm của mùa Giáng Sinh là Đức Kitô bé thơ, quà tặng Thiên Chúa ban. Chúng ta tin tưởng vào đường lối của Ngài trên đường về quê trời. Ngài là ngôi sao giáng sinh luôn trung tín dẫn lối. Chúng ta làm việc để mỗi ngày đem thêm Ngài vào linh hồn mình và vào tình hình thế giới. Lễ Hiển Linh là ngày hội của những kẻ lữ hành, nó luôn nhắc mọi người bé thơ Giêsu sinh ra trong hang bò lừa, nhưng luôn cùng tiến bước với nhân loại trở về với Thiên Chúa hằng sống. Amen.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Hoàng Vinh,OP chuyển ngữ)

Sẵn Sàng Cuộc Hành Trình Đến Với Đức Kitô
Mt 2: 1-12

Có phải quý vị rất vui khi nhận thiệp Giáng sinh phải không? Đôi khi, một cánh thiệp Giáng sinh là thời gian duy nhất chúng ta nghe ngóng tin từ bạn bè và những người quen. Nếu quý vị giống như tôi, khi mùa Giáng sinh qua đi, quý vị sẽ bỏ hết những tấm thiệp vào thùng rác. Nhưng chí ít là chúng ta cũng đọc qua những lời cầu chúc, những thông điệp bên trong cánh thiệp và liếc qua quang cảnh Chúa giáng thế ở mặt trước những tấm thiệp.

Những hình ảnh trình bày thật đáng yêu này có vẻ như bình an và trật tự - không giống như cuộc sống chúng ta. Có chuồng bò, trẻ thơ, đôi vợ chồng trẻ, mục đồng, gia súc và các Đạo sỹ (Làm thế nào mà những “vị khách quý phái” kia lại đến nơi nhanh thế nhỉ?) Mỗi nhân vật đóng một vai trò trong toàn bối cảnh này, cứ như thể được một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp sắp xếp bố cục ở xưởng chụp ảnh vậy. Nhưng chúng ta hãy cứ để việc trình bày hình ảnh cho những nghệ sỹ, những người có thông điệp riêng của mình để bày tỏ.

Ngay cả một người bình thường đọc bài Tin mừng ngày hôm nay cũng nhận ra rằng thánh Mathêu không vẽ một bức tranh bình dị và trật tự trong trình thuật của ngài. Nhưng đó chẳng có gì là không đúng cả. Ngài có vẻ như muốn dựng lên cảnh tượng như thế để phá vỡ những suy nghĩ thoải mái và sự bình lặng của chúng ta, để có thể kéo chúng ta ra khỏi sự mộng tưởng và giúp chúng ta lắng nghe tin mừng. Cuối cùng thì, việc sinh ra được cho là đã diễn ra nơi chuồng bò lừa (hay hang đá), làm sao có thể thoải mái tiện nghi cho đức Maria được? Như chúng ta đã nói với nhau (vào đêm Giáng sinh) rằng mục đồng là những người bị tôn giáo và xã hội xem thường. Tuy nhiên, họ vẫn có vai trò trong câu chuyện này.

Hôm nay chúng ta có những Đạo sỹ, những người này cũng không thích hợp trong một tấm thiệp thánh. Trong tranh vẽ, các Đạo sỹ thường mặc những trang phục của vua chúa, mang những món quà quý giá cùng với đoàn tùy tùng xứng với bậc đế vương. Nhưng những vị khách này lại hoàn toàn ngược lại, chẳng giống vua chúa tí nào. Những vị Đạo sỹ trông giống những nhà chiêm tinh hơn, giống như những mục tử vi quý vị thường đọc thấy ở những trang cuối trong một số tờ báo. Họ nhìn sao và đưa ra những dự đoán. Chúng ta sẽ thấy buồn cười về những bản đối chiếu hiện đại của họ, khi đọc to những lá tử vi ngày nay. Nhưng không mấy ai trong chúng ta, những người siêng năng đi lễ lại rất xem trọng những thứ này. Vì thế, những ai ưa thích cách trình bày của thiệp Giáng sinh sẽ thấy câu chuyện này quả là lộn xộn.

Theo lòng đạo đức thời Chúa Giêsu, người Dothái trung thành, các Đạo sỹ thuộc tầng lớp thấp kém trong nấc thang tôn giáo và xã hội, cũng như những mục đồng. Những người nhiệt thành được nói cho biết là nên tránh gặp những Đạo sỹ, vì họ bị xem là những người thờ ngẫu tượng. Họ có vẻ cũng không sáng sủa gì cho mấy! Điều gì đã khiến những Đạo sỹ này đến với vị vua Hêrôđê đói khát quyền lực này để hỏi về nơi mà vị vua mới đã sinh ra? (Vua dân Dothái mới sinh ở đâu?) Phải chăng họ không hề biết rằng vua Hêrôđê tẩy trừ bất cứ ai đe dọa đến ngai vàng của ông sao? Hêrôđê giả bộ quan tâm và nói với các vị Đạo sỹ: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." Đó là những gì mà Hêrôđê hoàn toàn không có ý định thực hiện - bái lạy. Thay vì vậy, ông ta đã tàn sát những bé trai mới sinh ở Bêlem để loại trừ bất kỳ nguy cơ cạnh tranh nào đến ngai vàng của ông ta.

Nếu một người Dothái giáo trở lại đạo Công giáo nói về bản trình thuật này, họ có thể sẽ cố gắng kiểm chứng lại câu chuyện. Tại sao không? Có thể họ nghe thấy âm vang của tin mừng trong câu truyện, và thay vì đưa nó ra khỏi truyền thống, thì họ sẽ quyết định để câu truyện này trong truyền thống vì câu chuyện này phản ánh chính tin mừng mà họ ôm ấp.

Từ “Hiển Linh” nguyên nghĩa tiếng Hilạp là “biểu lộ, khải hiện hay tiền hiện”. Trong bài tin mừng hôm nay, hiển linh không duy ám chỉ đức Giêsu là ai mà còn cho thấy trước sứ điệp tin mừng. Nếu như các mục đồng và những dấu chỉ huyền diệu từ Phương Đông được chào đón trong buổi đầu câu chuyện cuộc đời của đức Giêsu, thì ai còn cò thể bị loại trừ ra bên ngoài? Giáo hội tiên khởi đã có tất cả mọi “lớp người” trong cộng đoàn chứ không giống với Giáo hội chúng ta ngày nay. Liệu có ai dám loại trừ một người nào hay một nhóm nào ra khỏi cộng đồng, nếu như các mục đồng và những nhà Đạo sỹ đã được ghi danh ngay đầu câu chuyện về đức Giêsu?

Hãy nhìn quanh cộng đoàn phụng vụ hôm nay. Ai đang ở trong? Có ai bị loại ra ngoài, hay bị đối xử như hạng hai trong chúng ta không? Có thể là một cuộc “tỏ lộ” cho chúng ta nếu chúng ta ngồi xuống bên cạnh người kém nổi bật hay những thành viên nhỏ bé của cộng đoàn và lắng nghe cảm nghiệm của họ như thế nào về việc là một thành viên của xứ đạo chúng ta. Liệu họ có thấy đó là một “chính sách mở cửa”, hay họ bị loại trừ? Hiển linh là một đại lễ của Giáo hội và đó cũng là một đại lễ về căn tính của chính Giáo hội. Vậy đâu là “tỏ lộ” về xứ đạo của chúng mà đại lễ hôm nay cho thấy và thúc bách chúng ta thực hiện?

Câu chuyện của các Đạo sỹ là bản tường thuật về một hành trình. Có những người đang thắc mắc, tìm kiếm thêm trong cuộc đời họ. Nếu họ mãn nguyện với những sự việc vốn dĩ như thế, những Đạo sỹ sẽ không lên đường. Nhưng, như chúng ta đã biết, họ lên đường với ánh sao trong đêm tối. mọi sự biến chuyển trong đời họ, vì Thiên Chúa đã cho họ thấy một ánh sáng. Họ không nhất thiết phải theo ánh sáng đó. Họ có quyền chọn ở yên đó và mãn nguyện với địa vị của họ. Vẫn luôn như thế, Thiên Chúa đi bước trước. Lúc nào Chúa cũng làm vậy. Sự ngạc nhiên mà trình thuật hài nhi này muốn tỏ ra là Thiên Chúa không muốn chọn chỉ một vài người và những người công chính mới nhận ra ánh sang mà Ngài đã nhóm lên giữa đêm đen. Có lẽ, đó là cách mà chúng ta thường làm. Nhưng, vòng tay Chúa rộng hơn vòng tay của chúng ta rất nhiều, và Thiên Chúa ôm toàn thể vũ trụ vào lòng. Vì thế, các mục đồng được hướng dẫn tới nơi Hài nhi Giêsu, cả các Đạo sỹ và chúng ta nữa.

Như các Đạo sỹ, chúng ta cũng là những người đang trên cuộc hành trình. Đó là nguyên do chúng ta tự họp nơi đây đề làm việc thờ phượng. Nếu có thời gian, mỗi người chúng ta có thể kể về câu chuyện đức tin của riêng mình. Tường thuật về hành trình của chúng ta. Chúng ta có thể không nhớ được ngày ấy, nhưng Thiên Chúa đã khởi sự nơi cha mẹ chúng ta, nơi cha mẹ đỡ đầu đã đưa chúng ta đến giếng rửa tội. Vì họ, chúng ta bắt đầu hành trình đến với đức Kitô. Những người khác trong chúng ta, đến với đức tin khi đã trưởng thành, được vẽ lên bởi ánh sáng đã chiếu vào bóng tối của chúng ta nhờ những chứng tá và mẫu gương của một số người đặc biệt trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta nhìn thấy ánh sáng chiếu qua họ, chúng ta đứng lên và biến cuộc đời mình thành nguồn nước trao ban sự sống. Chúng ta không thỏa mãn những gì chúng ta là và quyết định lần theo “ánh sao” xuất hiện cho chúng ta. Như những Đạo sỹ, chúng ta khởi đầu cuộc hành trình dẫn chúng ta đến với đức Kitô.

Đây là cuộc hành trình mà nhiều người cần thực hiện. Như trẻ nhỏ học cách khởi đầu đức tin của mình từ cha mẹ và các lớp giáo lý; hay như người lớn, học qua suốt thời gian dự tòng. Họ biết cách trả lời câu hỏi căn bản về đức tin của mình và có thể là những người mộ đạo. Thế nhưng, ở cấp độ đó chỉ như một thái độ tôn giáo chứ không phải là tương quan đức tin thực sự. Họ biết về Thiên Chúa nhưng không thể được nói cho biết Chúa – không phải một Thiên Chúa yêu thương và đại lượng mà đức Giêsu đến để mạc khải cho chúng ta biết. Họ còn phải trải qua một hành trình dài để khám phá ra một Thiên Chúa dịu dàng và hay động lòng trắc ẩn, được bộc lộ cho chúng ta qua đức Giêsu. Mặc khải chưa dừng lại, nó vẫn đang dần hé mở. Chúng ta, giống như các vị Đạo sỹ, có sẵn lòng tiếp tục hành trình hôm nay không, hay chúng ta bị mắc kẹt nơi cuộc sống đức tin của chúng ta?

Quý vị đã bao giờ nghe người ta nói rằng, họ khát khao có được một đức tin như họ có thời còn nhỏ?Vâng, chúng ta là những người lớn và không còn nữa môi trường an toàn và ấm áp mà mỗi chúng ta có thời còn nhỏ. Nhưng, chúng ta phải đối diện với hàng đống những vấn đề và thử thách – vài người trong chúng ta phải đối diện với những vấn đề quá lớn. Thế nhưng, chúng ta vẫn được ánh sáng Chúa soi dẫn luôn và chúng ta vẫn sẵn lòng tiến lên trên cuộc hành trình của mình theo bất cứ nẻo đường nào Chúa muốn gọi chúng ta theo. Trên hết, như những nhà Đạo sỹ, chúng ta đang tìm kiếm và tin tưởng vào ánh sáng chúng ta đã nhìn thấy là đức Kitô. Amen.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP)

Trở nên Ánh sáng soi đường cho anh em
Matthêu 2: 1-12

Chúng ta vừa mừng lễ giáng sinh, là lễ của vua bình an.

Nhiều người trong chúng ta đã quỳ cầu nguyện trước hang đá, xin cho được bình an trong tâm hồn, trong gia đình và trên toàn thế giới. Nhưng khi chúng ta đứng lên rời khỏi hang đá, chúng ta có để ý thấy ba nhà Đạo Sĩ đang từ xa đi lại không? Họ sẽ đến sau chúng ta vì quảng đường họ đi rất xa và họ sẽ được nghỉ ngơi trên đường trở về. Họ không được bình an trong tâm hồn vì trước đó họ đang di chuyển trong tăm tối; vì nếu không họ cần gì phải đi tìm một điềm lạ mà làm gì. Khi họ đi đường khác trở về, những người gặp họ có thấy gì khác nơi họ không? Có ai thấy được việc họ đã tìm được đã làm cho họ trở nên khác thường không?

 Bài đọc 1 trích sách Isaia hôm nay giúp chúng ta gặp ba nhà Đạo Sĩ đó và hãy thử nghe họ nói gì với chúng ta: Bài trích sách Isaia này diển tả việc sau khi dân Israel sống một quảng thời gian dài trong tăm tối ở Babylon, khi từ nơi lưu đày trở về. Họ nghe loan báo một tin mừng là ánh sáng Đức Chúa vô cùng sáng lạng sẽ chiếu soi trên họ, và họ sẽ phản chiếu ánh sáng ấy cho các dân tộc khác được nhìn thấy và các dân tộc mau chóng mang quà tìm đến. Các Vua chúa cũng sẽ nhìn thấy và tìm đến ánh sáng đó. Trong bài đó, chúng ta cũng thấy thấp thoáng bóng các nhà Đạo Sĩ. Ba Đạo Sĩ đến được là nhờ họ chiêm ngắm các tinh tú. Đức Chúa đã rọi chiếu ánh sáng xuyên qua trời đêm để dẫn đường đưa họ đi tìm gặp hài nhi và đức Maria.

Thư thánh Phaolô gởi tín hữu Êphêsô diễn tả ảnh hưởng của ánh sáng đó trên thế giới. Trong kế hoạch ơn cứu độ của Thiên Chúa, Ngài đã mạc khải cho các giáo đoàn đầu tiên và trải dài cho tới nay đến với chúng ta. Ân sủng đó là: ”Trong đức Giêsu Kitô… Các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, để cùng trở nên một thân thể và sẽ được chia sẻ điều Đức Chúa đã hứa” Ngài không thuộc về dân tộc nào, không thiên vị và ruồng rẫy ai.

 Thiên Chúa đã chọn một dân riêng, không phải là vì họ tốt hơn kẻ khác; nhưng vì lợi ích của dân khác. Chúng ta phải trở nên ánh sáng dẫn đường mới chiếu soi những đạo sĩ thời nay tìm đến Chúa Kitô. Trong khi Thiên Chúa xử dụng những người trong các tôn giáo khác nhau kể cả những người không tôn giáo để nói về Trời. Trong lúc chúng ta biết được sự thật về Thiên Chúa qua đức Kitô và chúng ta sẵn sàng chia sẻ những sự thật đó cho những người chung quanh nếu họ muốn.

Trong lễ Ba Vua hôm nay, chúng ta thử tự hỏi bản thân: Đời sống của chúng ta có chiếu rọi được chút ánh sáng nào nơi đức Kitô chưa? Thử hỏi xem người bên lương có nhìn thấy chúng ta là những người biết tha thứ không? Biết đem bình an đến cho người còn ngồi trong tăm tối của sự phân biệt chủng tộc hay của tình trạng khó khổ đơn nghèo? Biết nói lên tiếng nói của những người thất học hay ít học không? Biết chăm sóc người bệnh? Biết thăm viếng những kẻ bị giam cầm? Tóm lại, trong thế giới u tối này, chúng ta có là ánh sáng dẫn đưa kẻ khác đến Chúa Kitô không? Chúa Giêsu đã trở về trời. Chúng ta không còn nhìn thấy Ngài nữa, các môn đệ của Ngài, là những người tỏa chiếu ánh sáng về sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta.

Sách Thánh hôm nay chỉ ra rằng: Ân sủng của Thiên Chúa không phải là của riêng ai. Các Đạo Sĩ biết trước là khi Chúa Giêsu lớn lên, Ngài sẽ chịu chết cho những người tội lổi như: Thu thuế, gái mãi dâm, kẻ nghèo hèn, người ngoại giáo là những người theo Ngài và cùng ngồi bàn với Ngài

Hôm nay, chúng ta thử đưa ra một lời chào nhau thích hợp cho buổi lễ bằng câu chúc: “Rất mong những người đi tìm kiếm Chúa sẽ cùng đi với bạn.” Nhiều người trong chúng ta mong muốn được bằng an và cầu xin được ơn ấy trong thánh lễ hôm nay; nhưng vẫn có người nghĩ mình đã dư thừa và đầy đủ bình an rồi thế nên có lẻ những “bất ổn” của Chúa sẽ phù hợp với họ hơn.

Hôm nay phúc âm bắt đầu với một số nhân vật chính trong cảnh Chúa giáng sinh là các Đạo Sĩ. Họ nhìn lên bầu trời tối tăm tìm những dấu hiệu và họ đã tìm được một ngôi sao nhưng chưa hài lòng nên họ mới nhờ ánh sao đó dẫn đường? Vì họ còn mong đợi nhiều hơn, mặc dù họ không biết họ sẽ tìm được gì. Với những mong ước đó họ đã rời quê hương và lên đường đi tìm.

Anh chị em đã bao giờ nghĩ chúng ta giống ba nhà Đạo Sĩ không? Có bao giờ chúng ta bỏ đi những thói quen êm ả thường nhật của cuộc sống cũ để đi tìm một điều gì mới tốt hơn mà chúng ta chưa biết không? Và chúng ta cảm thấy rằng những gì chúng ta đang có là chưa đủ mặc dù được nhiều người nói là dư thừa rồi nhưng vì nó không tồn tại với thời gian nên chúng ta ao ước sẽ tìm được một điều gì mới và tốt đẹp hơn. Vậy là chúng ta đã trở thành ba nhà Đạo Sĩ thời mới rồi. Vì chỉ nhìn thấy một ánh sáng trong bóng tối và tự hỏi không biết nó có thể dẫn đưa chúng ta về đâu.

Hoặc, có thể trong đời sống thường nhật, chúng ta sống rất có căn cơ. Điều gì đã khiến chúng ta tiến bước tới tương lai, có chăng là nổi thất vọng. Kế hoạch đã tan vỡ, cuộc sống đầy mất mát thiếu an toàn, dể tan biến. Do vậy, chúng ta thấy cần lên đường đi tìm lời giải đáp; nhưng ở đâu? Tìm biết những gì? Chắc chắn chúng ta sẽ không tìm thấy được những gì chúng ta cần. Tất cả điều là tăm tối và tương lai không chắc chắn.

Liệu có gì bảo đảm cho chuyến hành trình của các Đạo Sĩ? Họ chỉ hy vọng. Một "ánh sáng ở cuối đường hầm." xuất hiện trong đêm tối. Hướng dẫn họ đến nơi. Đối với chúng ta, ánh sáng đêm tối là gì? Hôm nay chúng ta đến tại nhà thờ này để cầu nguyện, điều này nói lên việc chúng ta đã thấy một ánh sáng làm cho chúng ta hy vọng, mặc dù thế gian còn trong bóng tối. Chúng ta đặt hy vọng vào ánh sáng đã dẫn đưa chúng ta đến ngày hôm nay và sẽ dẫn chúng ta đến một nơi nghỉ ngơi mới đang chờ chúng ta.

Ba nhà Đạo Sĩ có vẻ khôn ngoan, mặc dù đối với gia đình và bạn bè thời đó của họ có có vẻ như họ chẳng có gì khôn ngoan cả. Hãy tưởng tượng xem người ta sẽ hỏi họ: "Các ông đi đâu?" "Các ông điên rồi sao!" "Các ông sẽ lạc đường đấy!" Họ ra đi mà không có bản đồ. Mặc dù họ có thể hỏi, thăm đường, nhận sự giúp đỡ cần thiết và hướng dẫn của hầu hết mọi người cả vua Hêrôđê và các nhà lãnh đạo tôn giáo. Chính Hêrôđê và các kinh sư của ông đã giúp đỡ cho họ. Nhưng đã không giử họ lại. Ngoại trừ Hêrôđê đã nhanh chóng thai nghén một âm mưu độc ác.

Vậy, trong cuộc lữ hành trên đường đời, chúng ta cần hỏi thăm những người có kinh nghiệm, và xét thấy là khôn ngoan. Chúng ta cần phải đáp ứng một cách khôn ngoan đối với những gì chúng ta học hỏi được. Cũng như các Đạo Sĩ đã được "báo mộng" để đi về đường khác. Đức Chúa đã giúp Họ và đã đứng về phía họ; Ngài không bao giờ bỏ kẻ thành tâm tìm kiếm.

Đối với Ba nhà Đạo Sĩ đây là một chuyến đi kỳ lạ - Khi trở về đến nhà, họ đã thấy người khác hẳn ra, không còn giống như lúc còn ở quê nhà. Và mọi người nhận ra họ rất khác xưa, vậy họ trông khác như thế nào?

Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy tạ ơn Chúa đã cho ngôi sao đức tin hướng dẫn chúng ta – vượt qua những đêm đen tối tăm của cuộc đời đầy khó khăn xáo trộn. Qua đức tin chúng ta đã được dưởng nuôi bởi Bí Tích Thánh Thể giúp định hướng cho hành trình dương thế của chúng ta. Chúng ta rất biết ơn nhờ sự khôn ngoan trong đức tin đã giúp chúng ta nhìn thấy ánh sang trong đêm tối.

Hôm nay chúng ta cầu nguyện cho chính mình, vì nhờ có: Thiếu nhi, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã tin tưởng vào chúng ta. Chúng ta cầu xin cho chúng ta trở nên ánh sáng soi đường cho những người khác cần đến sự giúp đỡ của chúng ta để dẫn dắt họ đi trên đường đời

 

Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em học viện Đaminh chuyển ngữ)

 

Hãy trở nên ngôi sao chỉ đường

Is 60,1-6; Tv 72;Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Kính chúc quý vị năm mới khang an hạnh phúc!

Kính thưa quý vị,

Khi cử hành Thánh Lễ như ngày Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, chúng ta không chỉ đơn thuần nhìn về những sự kiện đức tin trong quá khứ, mà còn định hình hiện tại cho hành trình của mình trên đường đạt đến ơn cứu độ. Trong khi điều ta đang kỷ niệm là những sự kiện thuộc về quá khứ, thì những sự kiện này theo thời gian đã trở nên siêu việt. Hôm nay, nhờ trải nghiệm những sự kiện này, chúng ta có được cơ hội để chia sẻ thực tế về ngày lễ.

Thời gian lịch sử được mô tả qua việc lật lại các trang niên lịch (hoặc một ngày mới xuất hiện trên màn hình khi bạn mở máy vi tính lên). Thời gian lịch sử có những kiểu cách và quy luật của nó. Đối với lịch sử của người tín hữu là linh thiêng, vì trong diễn tiến của nó, chúng ta khám phá ra kế hoạch Thiên Chúa được thực hiện qua những sự kiện mang tính con người. Lịch sử trở nên linh thánh đối với ta khi Thiên Chúa can thiệp vì lợi ích của ta. Chúng ta đã được nghe trong suốt mùa Giáng Sinh này, ví dụ như, Đức Giêsu đã sinh ra vào “thời vua Hêrôđê trị vì” (Mt 2,1). Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của chúng ta trong một thời gian rất cụ thể.

Giờ đây, chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mới, “những ngày cuối cùng”, kỷ nguyên này sẽ đi đến tận cùng của lịch sử. Đây không chỉ là một giai đoạn theo thứ tự thời gian mà ta đánh dấu trên niên lịch của mình: Kinh Thánh gọi đây là “lúc thuận tiện”, “hôm nay” là ngày của Thiên Chúa. Giờ đây, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí, nếu để mắt trông coi, ta sẽ thấy kế hoạch Thiên Chúa cứu độ đang được thực hiện. Chúng ta có thể hỏi: “Ngày gì vậy?” Người có lòng tin sẽ trả lời: “Hôm nay là ngày Lễ Hiển Linh, “ngày của Thiên Chúa”. “Hôm nay” là ngày của Thiên Chúa, đây là  ngày Người biểu lộ cho ta thêm một lần nữa. Ngày lễ hôm nay không giống như năm trước, nó đã đổi mới rồi, vì chúng ta đã thay đổi và còn thay đổi nhiều hơn nữa. Thiên Chúa đang thực hiện những điều mới mẻ trong chúng ta. Đây là một “thời gian thuận tiện” (“kairos”) cho mỗi người. Hôm nay, nhân ngày Lễ Hiển Linh, chúng ta được mời gọi tỉnh thức về việc Thiên Chúa tỏ mình. Thiên Chúa đã hoạt động trong quá khứ, nhưng Người vẫn tỉnh thức và sống động trong hiện tại của chúng ta.     

Hiển Linh có nghĩa là “sự hiện ra”, “sự biểu lộ”. Chúng ta quan sát các nhà đạo sĩ từ phương đông dõi theo vì sao để đến nhà của Đức Kitô. Các nhà đạo sĩ đại diện cho tất cả các dân tộc, những người nhờ việc rao giảng Tin Mừng mà tới gặp được nhà của Đức Kitô, bao gồm cả chính chúng ta nữa. Chúng ta không chỉ nhìn về một thời gian đã qua, mà còn công bố “ngày của Thiên Chúa”. Hôm nay, ngày lễ này bày tỏ điều gì cho ta? Để hiểu được điều đó, như thường lệ, chúng ta hãy trở lại với Kinh Thánh đã được nghe hôm nay. 

Lời tiên tri của ngôn sứ Isaia là một viên ngọc thơ mộng. Ngoài những gì được hứa hẹn, còn cách nào khác nữa để truyền đạt điều gì chưa xảy ra? Những người đã phải chịu đựng sống một thời gian dài trong bóng tối. Họ và chúng ta không thể phát sinh ánh sáng cần thiết để trông thấy và nhận ra con đường của mình. Thiên Chúa mới là nguồn ánh sáng đó. Vì thế, khi Thiên Chúa đến cứu độ chúng ta, tựa như nguồn ánh sáng đến thế gian vậy. “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ...” Một dân tộc đã từng sống trong bóng tối của thất bại sẽ trông thấy ánh sáng, và vinh quang Thiên Chúa sẽ chiếu tỏa trên họ. Cảnh lưu đày sẽ chuyển từ nô lệ sang Giêrusalem. Khi họ đến đó và kiến thiết lại thành phố đã bị phá hủy, họ sẽ hỏi: “Điều này có thể xảy ra thế nào?” Ngôn sứ Isaia liền trả lời cho họ rằng: “Vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa trên ngươi…” Làm thế nào khác để có thể xảy ra một sự chuyển hướng như thế?     

Đây là những lời người ta nói sau một thời gian bệnh tật kéo dài và suy nhược: “Nếu không có sự trợ giúp của Thiên Chúa, tôi không bao giờ có được như ngày hôm nay.” Hoặc là, sau khi được phục hồi, một người nghiện ngập có thể nói như thế này: “Thiên Chúa đã giúp tôi bỏ đi thói quen ấy vì Người đã gởi đến cho tôi những người yêu thương tôi bằng một ‘tình yêu bất khuất. ” Những người biết quan sát sẽ dõi theo những thay đổi, và lắng nghe các lời chứng của các chứng nhân như thế có thể kết luận rằng: Thiên Chúa đã thực hiện lời ngôn sứ Isaia đã hứa. “Kìa bóng tối bao trùm mặt đất… còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.”

Trong Đức Kitô, ánh sáng được hứa ban đã chiếu tỏa nơi bóng tối. Hành trình của các nhà đạo sĩ tượng trưng cho các dân ngoại được lôi cuốn đến với ánh sáng, đến với sự hiển linh của Thiên Chúa chúng ta. “… Tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.”

Có những lời ngôn sứ nói về Đấng Mêsia và các câu chuyện kể thời thơ ấu hướng chúng ta đến với Đức Giêsu. Chỉ có tác giả Mátthêu mới thuật lại cho chúng ta về các nhà đạo sĩ. Ta có thể dựng lên những câu chuyện ly kỳ, các tấm thiệp thánh thiêng và những vở kịch lãng mạn ở trường học, và kể những câu chuyện tỉ mỉ về sự kiện này. Nhưng sau đó là tin vui cho chúng ta, và đó chính là những gì thánh Mátthêu muốn nói với chúng ta.

Ngôi sao mà các nhà đạo sĩ dõi theo không phải là do chính họ làm ra. Điều này là một lời nhắc nhở rằng chúng ta cần được hướng dẫn thiêng liêng để tìm thấy nơi Đức Kitô cư ngụ trong cuộc sống của mình. Những ánh sáng rực rỡ trong mùa Giáng Sinh thương mại vừa qua có thể làm cho chúng ta bị mờ quáng và sao lãng khi kiếm tìm Đấng Mêsia. Cũng như các nhà đạo sĩ, chúng ta cần có một vì sao để dẫn lối đến với nơi Đức Kitô hiển linh. Thánh Mátthêu không cho ta hay là khi các nhà đạo sĩ vào trong nhà thì ngôi sao vẫn tiếp tục hướng dẫn họ. Thánh sử cũng không cho ta biết rằng ánh sáng bên ngoài mà họ có trước đây đã được thay bằng ánh sáng bên trong để có thể hướng dẫn cuộc đời còn lại của họ hay không. Sự lựa chọn ấy là do họ và cũng là của mỗi chúng ta.

Lấy lại lời của ngôn sứ Mikha, thánh Mátthêu nhấn mạnh sự nhỏ bé của Belem. Nhỏ bé thôi, nhưng nơi đây lại có một sứ vụ trọng đại. “Vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân ta sẽ ra đời.” Nào có ai sẽ hay biết về Belem nếu Đức Kitô không sinh ra ở nơi đó? Dân sẽ tìm thấy sự giải thoát ở nơi đâu? Vua Hêrôđê chỉ quan tâm đến việc siết chặt kiểm soát quyền lực. Các tư tế và kinh sư, những người đã trả lời cho câu hỏi của vua Hêrôđê, lại không làm theo điều họ biết. Họ chỉ ở yên một chỗ. Chúng ta có thể trích dẫn Kinh Thánh và trả lời cho những câu hỏi về Thiên Chúa mà các trẻ em đặt ra, nhưng cuộc đời của ta cần phải phản ánh những sự thật mà ta nói ra nữa. Chúng ta cần sẵn sàng rời bỏ nơi ở hiện nay và dõi bước theo ánh sáng mà Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban cho chúng ta.

Chúng ta không biết nhiều điều về các nhà đạo sĩ như: chủng tộc, nguyên quán, tôn giáo v.v… Họ có phải là những vị vua hay không? Hay là những nhà thông thái tôn giáo? Có bao nhiêu vị? Tên của họ là: Melchior, Caspar và Balthasar đã không hề thay đổi trải qua nhiều thế kỷ. Điều chúng ta biết là Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho một số người mà thôi. Dân chúng từ tận cùng trái đất sẽ tập hợp lại theo danh xưng của mình; Và đó là điều mà ngôn sứ Isaia đã hứa: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước”, và đó cũng là điều Đức Giêsu đã hoàn trọn.

Điều này có phải là sứ vụ của chúng ta hay không? Để làm cho danh của Đức Giêsu được biết đến trên toàn thế giới, cụ thể là trong gia đình, ở trường học, nơi làm việc, hay những khu vui chơi…, ngôn sứ Isaia, Mikha và tất cả Kinh Thánh chúng ta nghe đều công bố trong sự tôn kính, hướng đến việc làm cách nào và nơi đâu có thể tìm thấy Thiên Chúa. Cuộc sống của chúng ta phải trở thành một ngôi sao sáng hầu giúp mọi người tìm thấy con đường của họ để băng qua bóng tối và đến được với ánh sáng của Đức Kitô.

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã là một ngôi sao chỉ đường cho Giáo hội và thế giới trong mùa Giáng Sinh này. Ngài dẫn đường cho chúng ta, đòi hỏi chúng ta là một Giáo hội quan tâm đến chư dân trong bóng tối của nghèo đói, áp bức, chiến tranh và bệnh tật. Ngài yêu cầu chúng ta dõi bước theo vì sao dẫn đưa ta đến nơi Đức Kitô sống, giữa những người ở ngoài, những người sinh ra nơi chuồng bò, sống trên đường phố, người đang chạy trốn những cuộc nội chiến và chịu đàn áp bởi những chính quyền tàn bạo.

Thánh Mátthêu không hề quan tâm đến việc cung cấp cho chúng ta một bản lộ trình về những chuyến đi của các nhà đạo sĩ. Vì thế, chúng ta tìm kiếm ý nghĩa cho bản thân mình khi ngài nói với ta rằng các nhà đạo sĩ “đã đi lối khác mà về xứ mình”. Dường như ngài cho thấy rằng, giống như các nhà đạo sĩ, một khi đã được diện kiến Đấng Cứu Thế thì chúng ta cũng cần dâng lên Người sự tôn kính, như chúng ta đang cử hành trong phụng vụ đây. Nhưng khi ta trở về với cuộc sống của mình thì cũng cần phản ánh sự thay đổi phát sinh do kết quả từ cuộc gặp gỡ ấy. Chúng ta cần phải “ra đi… theo một lối khác”. Cuộc hành trình của chúng ta được tái lập bởi Đấng ta đã được trông thấy.

Chúng ta đã có kinh nghiệm về Tin Mừng của Đức Kitô trực tiếp vào ngày lễ kỷ niệm Chúa Hiển Linh hôm nay. Đây không phải là “trở lại sau đó”; nhưng là “ở đây và ngay lúc này”, chúng ta sẽ làm cách nào đây để phản ánh ánh sáng đã chiếu tỏa trên ta trong cuộc sống hằng ngày? Sáng nay, khi cộng đoàn anh em Đa Minh nguyện Kinh Phụng Vụ, chúng tôi dâng lên lời cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, Chúa là cội nguồn ánh sáng vĩnh cửu, xin cho cuộc sống của chúng con làm chứng cho ánh sáng ấy.” Thế quý vị có nghĩ rằng điều đó giống như một bản tóm tắt hay đối với ngày lễ hôm nay không?

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

Hãy hoán cải đời sống

 Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Kính thưa quý vị,

Nếu tôi hỏi ai đã sống ở số 22 B đường Baker, quý vị sẽ trả lời được chứ? Các độc giả của Sir Arthur Conan Doyle hẳn sẽ trả lời được bởi đó là một địa chỉ tưởng tượng của nhân vật Sherlock Holmes nổi tiếng. Thám tử Sherlock Holmes xuất hiện lần đầu tiên ở ấn bản năm 1887. Nhân vật Sherlock Holmes được biết đến với khả năng cải trang và các phương pháp nghiệp vụ điều tra chuyên nghiệp. Trong khi trợ tá của ông, bác sĩ Watson, lấy làm lạ về thiên tài phá án của ông đối với những vụ án mà người khác không thể làm được, Sherlock Holmes chỉ trả lời “đó chỉ là điều bình thường thôi ông Watson à.” Dường như ông ta muốn nói rằng bất cứ ai cũng có thể giải mã điều huyền bí bằng cách lập luận đúng đắn và những phương pháp loại suy thích hợp.

Các câu chuyện Sherlock Holmes phù hợp cho những ai ham thích huyền bí. Thế nhưng,  chúng ta lại cần phải quên đi lý lẽ theo kiểu con người và lập luận của Sherlock Holmes khi đối diện với mầu nhiệm Thiên Chúa – cách thức Người đối xử với con người. Mầu nhiệm chúng ta nói đến là gì? Đó chính là mầu nhiệm thánh Phaolô đã loan báo hôm nay, “mầu nhiệm được mạc khải cho tôi”. Thánh Phaolô đề cập đến đường lối nhiệm mầu của Thiên Chúa – chủ đề được trình bày qua các lá thư của tác giả. Tựa như đối diện với các mầu nhiệm vĩ đại khác, khám phá mầu nhiệm này mang đến một sự ngạc nhiên.

Đây là mầu nhiệm được mạc khải cho thánh Phaolô: Các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa. Thiên Chúa đã xoay chuyển cuộc đời thánh Phaolô qua việc mặc khải Chúa Kitô cho ngài. Hơn thế nữa, việc rao giảng mầu nhiệm Thiên Chúa đã mạc khải là công việc suốt đời của ngài. Chính ngài đã kể mình là người được trao phó làm “tôi tớ cho ân sủng Thiên Chúa”. Trên hết, ngài được giao cho trọng trách mở rộng sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh đến tất cả các dân tộc. Nói cách khác, sứ vụ của thánh Phaolô là trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa – những hành động cao siêu của Người dành cho họ.

Đâu là “mầu nhiệm” trong hành động trước đây của Thiên Chúa? Thiên Chúa đã hứa với ông Abraham rằng nhờ ông mà “mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Các ngôn sứ đã từng công bố ý định của Thiên Chúa là tập hợp muôn người vào trong một vương quốc của bình an (Is 2,2-4; 60,1-7). Vậy đâu là mầu nhiệm, điều còn giữ kín? Điều trước đây đã không được tỏ bày rõ ràng đó là: người Do Thái và các dân ngoại bình đẳng với nhau – “cùng kế thừa gia nghiệp, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa trong Đức Kitô Giêsu qua Tin Mừng.”

Các dân ngoại không cần phải gia nhập Do Thái giáo và đón nhận Lề Luật. Thay vào đó, họ có thể gia nhập Nước Thiên Chúa nhờ tin vào Đức Kitô. Chính Đức tin chứ không phải sự tuân giữ Lề Luật làm cho họ trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa. Nhờ ân sủng, Thiên Chúa đã đưa người Do Thái và các dân ngoại vào trong công trình sáng tạo mới. Hội Thánh sơ khai khó khăn để chấp nhận “mầu nhiệm” này, mầu nhiệm đang được tông đồ Phaolô – một Pharisêu nhiệt thành trước đây, rao giảng.

Tin Mừng hôm nay thuật lại rằng các nhà chiêm tinh bước vào nhà và giới thiệu “mầu nhiệm” được tỏ bày nơi một con người cụ thể. Họ là những bậc thông thái hoặc thậm chí là những nhà nghiên cứu thiên văn. Vì thế do bản chất, các nhà chiêm tinh là những người tìm tòi, họ đến tìm kiếm “vị vua dân Do Thái”. Họ có thể tìm thấy đứa trẻ thân thế hoàng tộc này ở đâu? Không phải ở nơi cung điện quyền lực của Hêrôđê; ông vốn là điển hình cho cách thế của người có quyền lực đối xử với một đấng có thể quy tụ muôn dân vào vương quốc của người.

Đức Giêsu không sinh ra tại một châu thành quan trọng. Người cũng không phải là kẻ thừa kế của một nhà cai trị quyền uy. Người đã sinh ra tại Bêlem, là “ao tù” dưới con mắt của triều đình vua Hêrôđê và giới lãnh đạo tôn giáo ở Giêrusalem. Thánh Mátthêu nhắc chúng ta nhớ đến lời tiên báo của ngôn sứ Mikha rằng Bêlem “dù sao cũng là kẻ bé mọn nhất trong các thủ lãnh Giuđa.” Bêlem là thành nhỏ bé, nghèo khổ và tầm thường, nhưng lại trở nên quan trọng nhờ cuộc giáng lâm của Chúa. Độc giả của Tin Mừng nhớ rằng thánh Mátthêu cũng đã diễn tả ở chương 25 (câu 40, 45): chỗ hèn kém nhất chính là nơi ta gặp Đức Kitô. Qua những bé mọn, Bêlem và những kẻ khó nghèo, Đức Kitô đến với chúng ta. Đó là một bài học mà Hội Thánh cần loan báo không ngừng. Cũng như các nhà chiêm tinh, chúng ta tìm Đức Kitô giữ những “bé mọn.”

Các nhà chiêm tinh tìm thấy Đức Kitô nhờ sự trợ giúp của một ngôi sao, ánh sáng dẫn đường. Thánh Mátthêu sẽ cho thấy cách mà qua Đức Kitô, quyền năng tình yêu của Thiên Chúa trong thân phận thấp hèn, phục vụ và yếu đuối sẽ đương đầu với các thế lực trần gian. Nhờ Đức Kitô, ánh sáng đã chiếu dọi vào thế gian tăm tối đầy tội lỗi và vào các thể chế băng hoại mà Hêrôđê là đại diện. Ánh sáng này đã bắt đầu biến đổi con người – trước tiên là các nhà chiêm tinh.

Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Kitô đã kết thúc cuộc thăm viếng của mình bằng việc lên đường trở về quê hương “theo một con đường khác.” Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, thay đổi đường lối có nghĩa là một sự thay đổi đời sống, một cuộc hoán cải. Khi gặp gỡ Đức Kitô, chúng ta được biến đổi và không trở lại con đường cũ nhưng phải tìm “một con đường khác” để sống cuộc đời mình. Qua câu chuyện về các nhà chiêm tinh, tìm kiếm “một con đường khác” có thể hiểu là tìm Đức Kitô ở những nơi thấp hèn và trong “những kẻ bé mọn.”

Các nhà chiêm tinh không phải là dân Israel, và đây chính là điểm mấu chốt của câu chuyện. Họ là những người thiện tâm đáp lại ánh sáng mạc khải của Thiên Chúa. Họ đại diện cho tất cả những ai tìm kiếm chân lý. Họ không phải chối bỏ văn hóa của chính mình để theo đuổi chân lý đó. Câu chuyện nối kết tất cả chúng ta lại với nhau. Bất kể chúng ta xuất thân từ đâu, chỉ cần chúng ta nhận ra ân sủng Thiên Chúa tặng ban trong Đức Kitô. Câu chuyện về các nhà chiêm tinh là câu chuyện của Tin Mừng. Nó khởi đi với ân sủng Thiên Chúa tặng ban cho những ai đang “ở bên ngoài”. Họ đón nhận mạc khải và đáp lại bằng cách rời bỏ con đường trước đây để bước theo ánh sáng. Một khi những kẻ kiếm tìm gặp được Đức Kitô, họ sẽ rập khuôn cuộc đời mình theo khám phá đó.

Các nhà chiêm tinh nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quá ù lì trong cuộc sống. Công cuộc tìm kiếm vị Thiên Chúa hằng sống của chúng ta không bao giờ kết thúc. Chúng ta không nên tự hài lòng về nơi ta đang ở, và cũng không nên thỏa mãn với tình trạng đời sống tâm linh hiện nay của mình. Lối sống thỏa mãn, an phận này có thể mang hình hài của bóng đêm. Luôn luôn có nhiều con đường mầu nhiệm của Thiên Chúa cần được khám phá nếu như chúng ta, tựa như các nhà chiêm tinh, đang sẵn sàng cho cuộc hành trình được chính ánh sáng của nội tâm thúc đẩy.

Lễ Hiển Linh cũng nhắc nhớ chúng ta phải tôn trọng cuộc tìm kiếm và hành trình mà những người khác đang thực hiện. Mạc khải của Thiên Chúa mang nhiều hình thái khác nhau và con người có thể tìm thấy Thiên Chúa bằng nhiều con đường mà chính tôi cũng không thể hiểu rõ. Có lẽ, tôi cần ca ngợi Thiên Chúa vì sự đa dạng, phong phú nơi ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Hôm nay là ngày tán dương những đường lối mầu nhiệm của Thiên Chúa.