![]() | |
Chúa Nhật
XXXIV Thường Niên - Năm C 2 Sm 5:1-3 ; Cl 1:12-20 ; Lc 23:35-43
An Phong op : Xin Chúa là Vua cai trị lòng con suốt đời Fr Jude Siciliano op : Thiên Chúa Được Tôn Vinh Trên Thập Giá Fr Jude Siciliano op : Hôm nay anh ở với tôi trên Thiên Ðàng G. Nguyễn Cao Luật op : Tình Yêu Chứ Không Phải Quyền Lực Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa Kitô là vua Phêrô Phạm Văn Hoành op : Giêsu Vua Tình Yêu Fr Jude Siciliano, op : Thầy Đến Là Để Phục Vụ. Fr. Jude Siciliano, op: Đức Giêsu Kitô sử dụng quyền lực như thế nào?
Xin
Chúa là Vua cai trị lòng con suốt đời
Sứ điệp Lời Chúa Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Ngày cuối năm phụng vụ này, Giáo hội muốn tuyên xưng Ðức Giêsu có chủ quyền trên trời cũng như dưới đất. Người là Vua của mọi tâm hồn. Người là Vua của mọi gia đình, nhưng lại là một vị Vua hiền hòa, khiêm tốn, chịu treo trên thập giá. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tập trung về ý tưởng một vị Vua trên thập giá, nên giá cứu chuộc muôn người, nhưng lại bị chế nhạo và thách đố "Nếu ông là vua dân Do Thái... Nếu ông là Ðấng Kitô...". Như thế, mừng lễ Chúa Kitô Vua là dịp chúng ta suy nghĩ về thập giá chiến thắng, qua đau khổ đến vinh quang, đồng thời xin Chúa Giêsu làm Vua bình an, hiền hòa nơi tâm hồn chúng ta. Suy niệm Dưới chân thập giá, các thủ lãnh người Do Thái đã cười nhạo Ðức Giêsu. Người xem ra như bị thất bại. Các Tông đồ chẳng thấy mặt đâu. Dường như họ đã tiêu tan hết niềm hy vọng. Ðây thực là một bi kịch dành cho Con Thiên Chúa, Vua dân Do Thái. Vua mà thê thảm đến thế sao! Ðức Giêsu là Vua thế nào? Người thực là một vị Vua không tỏ uy quyền để trấn áp. Người đã bị thách thức "hãy xuống khỏi thập giá". Ðiều này Ðức Giêsu có thể làm "dễ ợt". Nhưng Người không chiều theo sự thách thức này. Người thực là một vị Vua không tìm lợi ích cho cá nhân mình. Nếu Người tỏ uy quyền lần cuối trước khi chết, thì đó chính là uy quyền để cho tên trộm lành được vào Nước Trời. Lời của Người chính là quyền năng đem lại hạnh phúc cho người khác. Người thực là một vị Vua không thống trị bằng sức mạnh, nhưng bằng phục vụ trong tình yêu. Những người dưới chân thập giá muốn Người dùng sức mạnh. Dường như khi khiêu khích Người, họ muốn Người tỏ uy quyền của một vị vua trần thế. Ðức Giêsu hoàn toàn dửng dưng với những khiêu khích này. Người thực là một vị Vua "hóa mình ra không" nên "Thiên Chúa đã tôn vinh Người". Khi vào trần gian, Ðức Giêsu đã chấp nhận hóa mình ra không. Khi lìa đời, Người chịu treo trên thập giá trần trụi, khổ đau. Như thế, Ðức Giêsu là một vị Vua của tâm hồn, một vị Vua bình an, hạnh phúc và vĩnh cửu. Trên thập giá, Người đã tỏ lộ khuôn mặt một vị Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến cùng, tha thứ cho nhân loại tuyệt đối. Dường như con người chúng ta dễ bị cám dỗ dùng quyền lực - dù là thứ quyền lực nào: tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp... - để trấn áp người khác? Ðây không phải là lối hành xử của vị Vua hòa bình, Ðức Giêsu Kitô. Dường như con người chúng ta dễ bất bình trước những bất công, chiến tranh, đau khổ... và đòi Thiên Chúa giải quyết mọi chuyện, thậm chí bằng cả phép lạ nữa? Ðúng là Thiên Chúa có thể giải quyết mọi chuyện, có thể làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng Ðức Giêsu không dùng phép lạ để trả lời cho thắc mắc trên. Người muốn sự tha thứ hoàn toàn. Lối vào Nước Trời dành cho những người thành tâm thiện ý, biết tha thứ, kiến tạo xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Ngày nay, Ðức Giêsu vẫn đang đồng hành với con người để xây dựng một vương quốc yêu thương vĩnh cửu, nơi đó Người là Vua còn chúng ta là những thần dân của Người. Vương quốc bình an, công chính và hoan lạc trong Thánh Thần, đó là khởi sự nơi trần thế, nhưng sẽ viên mãn trong ngày cánh chung. Lời nguyện
Lạy Chúa,
Chúa đã xin Cha thứ tha cho những
người giết Chúa;
Và đây trong đêm đen Ngài kêu lớn
tiếng:
Cùng với Chúa trong cảnh trần trụi
và bị ruồng bỏ. Mọi sự đã hoàn tất và tình thương toàn thắng.
Vua Tình Yêu Tình yêu là mức đo giá trị mọi thực tại. Chiếm được trái tim là chiếm được tất cả ! Ðó là trung tâm qui tụ toàn thể tiểu vũ trụ. Từ tiểu vũ trụ sang đại vũ trụ, Ðức Giêsu vẫn là vua, vì Người đã đã chiếm trọn con tim nhân loại. Khi nằm trên thập giá, Ðức Giêsu thấy tất cả những giới hạn vô cùng hẹp hòi của người đời. Tất cả binh lính đều một giọng như nhau : "Nếu ông là vua dân Do thái thì cứu lấy mình đi !" (Lc 23:37) Các thủ lãnh có vẻ thâm độc hơn : "Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Ðấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn !" (Lc 23:35) Nhưng Ðức Kitô vẫn im lặng. Tuy cười nhạo Chúa, bọn lý hình đã thâm gan tím ruột khi đọc bản án tổng trấn Philatô truyền viết phía trên đầu tử tội : "Ðây là vua người Do thái." (Lc 23:38) Không cưỡng nổi lệnh truyền đó, nên họ đã tìm cách trả thù. Bao nhiêu căm tức đã đổ dồn lên con người Ðức Giêsu. Nhưng chẳng có đau khổ nào lớn hơn khi chính người đồng cảnh ngộ cũng về hùa với bọn lý hình nhục mạ Chúa : "Ông không phải là Ðấng Kitô sao ? Hãy tự cứ mình đi, và cứu cả chúng tối với !" (Lc 23:39) Trước những thách thức ồn ào đó, Ðức Giêsu vẫn im lặng. Dân chúng khi thì a dua (Lc 23:17-25), lúc lại bàng quang : "Dân chúng thì đứng nhìn." (Lc 23:35) Thái độ bất động của dân chúng rất phức tạp. Nhưng chắc chắn không phải ai cũng như bọn binh lính hay người gian phi thiếu hiểu biết. Thật vậy, "dân chúng theo Người đông lắm." (Lc 23:26) Ngay trong hàng ngũ quân đội cũng có "viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa : ?Người này quả thật là công chính.?" (Lc 23:47) Nếu Người là công chính, tất nhiên bản án tử hình là một bất công lớn lao giáng xuống người vô tội. Như thế, Ðức Giêsu đã chiếm trọn được lòng người, kể cả những tên lý hình và người gian phi. Một trong hai người gian phi đã thành tâm thưa với Chúa: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !" (Lc 23:41) Giữa lúc cùng khốn đó, trí óc ông vẫn minh mẫn biện hộ cho Chúa, đối lại với đồng bọn : "Ông này đâu có làm điều gì trái !" (Lc 23:42) Nghĩa là, chính những người đã từng chống cưỡng lệnh Thiên Chúa, giờ đây cũng phải tuyên xưng Người là Ðấng Công Chính. Chính vì thế, Ðức Giêsu đã mạc khải cho ông tất cả sự thật về Nước Chúa : "Tôi bảo thật anh : hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng." (Lc 23:43) Tin Mừng luôn mang tính "hôm nay" ngay cả khi gặp cảnh cùng khốn nhất. Khác hẳn với những kẻ lợi dụng tương lai để biện hộ cho những ý đồ thống trị hiện tại, Ðức Giêsu luôn tìm thấy nét hiện thực trong Tin Mừng. Người không muốn trốn thoát hiện tại, dù hiện tại đau thương nhất, để ẩn mình trong cái vỏ tương lai. Chính vì thế, Tin Mừng luôn mang tính hiện sinh, loan báo cho người hôm nay về một Vua Công Chính, Vua Hòa Bình. Mọi đối kháng đều bị hóa giải trong chính trái tim Người. Nói khác, Người đã xin Chúa Cha tha thứ cho những tên lý hình (x. Lc 23:34) và người gian phi, như Người đã từng tha thứ cho Maria Mađalêna, phụ nữ Samaritana, Phêrô v.v. "Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời." (Cl 1:20) Là con dân trong Nước Chúa, Kitô hữu không thể không nhớ tới sứ mệnh hòa bình, hòa giải của mình trong gia đình cũng như xã hội. Sứ mệnh đó chúng ta đã đón nhận từ ngày tháp nhập vào nhiệm thể Chúa Kitô trong bí tích thánh tẩy. Quả thực, "Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội thánh." (Cl 1:18) Trở thành chi thể Ðức Kitô, chúng ta chia sẻ cùng sứ mệnh với Người. Chỉ khi nào thi hành sứ mệnh cao cả đó, chúng ta mới được vinh phúc trở thành con Thiên Chúa (x. Mt 5:9) Chính khi thi hành sứ mệnh đó, chúng ta chia sẻ vương quyền Ðức Giêsu. Trong bí tích thánh tẩy, chúng ta đã được chia sẻ quyền làm vua với Chúa. Sứ mệnh vương giả đó chỉ được thể hiện trong phục vụ. Phục vụ là đối thoại, lắng nghe, tôn trọng mọi người. Phục vụ là sẵn sàng coi người khác hơn mình. Người phục vụ không có gì để tự hào. Trái lại, họ biết mình phục vụ ai và tại sao phải phục vụ. Phục vụ cho một đối tượng duy nhất là Ðức Kitô, hiện thân nơi nhiệm thể là Giáo hội, tức là dân Chúa. Họ noi gương Ðức Giêsu, Ðấng đã "sống giữa anh em như một người phục vụ." (Lc 22:27) Thầy phục vụ cho đến chết. Con đường phục vụ là con đường ngắn nhất dẫn đến vinh quang Nước Chúa. Mỗi khi phục vụ, họ thấy mình trở nên giống Chúa Kitô và thể hiện được tất cả nét dịu hiền và đầy lòng thương xót của Chúa. Phải có một tấm lòng bao dung như Chúa mới có thể phục vụ một cách vô tư mọi người, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Ðây là nét đặc trưng cao đẹp nhất của Nước Chúa dưới quyền lãnh đạo của Ðức Kitô. Có lẽ nhiều người sẽ đồng ý với những người Hồi giáo Algerie rằng : "Giáo hội Công giáo rất nhạy cảm trước nỗi khổ đau của người Algeria và mọi nơi, bất kể họ có tin vào Ðức Kitô hay không." (VietCatholic 23/11/2001) Tính cách vô tư đó đã hấp dẫn mọi người tìm đến với Ðức Kitô Vua Tình Yêu. Nhờ Người, Thiên Chúa "đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái." (Cl 1:13) Chính Người đang thúc đẩy "triều đại Cha mau đến." (Mt 6:10) Hằng ngày chúng ta vẫn đọc lời kinh cao đẹp ấy. Nhưng hỏi mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa trong lời kinh đó ? Thú thật cho đến gần đây, mỗi khi đọc lời kinh đó, cá nhân kẻ viết bài này rất run sợ vì vẫn nghĩ rằng Nước Cha trị đến có nghĩa là Chúa sắp tái lâm để phán xét. Nhưng suy nghĩ kỹ, mới thấy "Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Như thế, càng lâm cảnh khổ đau, cô đơn, bị đàn áp bất công, càng cần phải xin cho "triều đại Cha mau đến." Nghĩa là, Ðức Giêsu luôn dạy chúng ta phải cầu xin Chúa Cha ban hòa bình và no ấm cho nhân loại. Lời cầu xin đó chỉ có thể thành hiện thực trong Ðức Giêsu Vua Tình yêu mà thôi ! Lý do "vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình." (Cl 1:19-20)
Thiên Chúa
Được Tôn Vinh Trên Thập Giá Thưa quý vị. Thời đại văn minh, thể chế dân chủ được nhiều quốc gia lựa chọn làm hệ thống chính trị điều hành đất nước. Trong xã hội này người ta chỉ nói đến tổng thống, quốc hội, bộ ngành, cho nên ý niệm về vua chúa và quyền bính tuyệt đối của ông không còn phổ thông nữa, mà đang bị lu mờ, mai một dần, ngoại trừ ở vài quốc gia kì cựu như Anh quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Thụy Ðiển... Tuy nhiên ở những nước này quyền nhà vua đã bị Quốc hội hạn chế tối đa, chỉ còn tính cách tượng trưng cho nền quân chủ và ý chí thống nhất của nước đó. Thỉnh thoảng xem ti vi chúng ta thấy các buổi đăng quang, đám rước, đám cưới hoàng gia với những lễ nghi, xe thổ mộ do ngựa kéo, màu sắc rực rỡ, chúng ta không khiếp sợ như thời phong kiến nữa mà chỉ còn hiếu kỳ, lạ lẫm. Thời phong kiến dân chúng sợ hãi quyền bính nhà vua. Vì nó là thứ quyền lực tuyệt đối của kẻ thống trị, ai chống đối phải lãnh hậ? quả thảm khốc, thường là tử hình và chu di tam tộc (giết tới ba đời con cháu). Ðất nước Hoa Kỳ được khai sinh từ một cuộc nổi loạn chống lại quyền bính vua nước Anh trên 13 thuộc địa ở Châu Mỹ. Ngày nay tuy còn ngưỡng mộ vẻ đẹp của triều đình ngoại quốc, nhưng chúng ta rất sợ quyền bính phong kiến, cha truyền con nối, kìm kẹp và thống trị nhân dân. Chúng ta ưa thích nền chính trị dân chủ hơn. Tuy nhiên những cuộc tranh cử, bầu cử, thăm dò ý kiến, gian lận kết quả của mấy tháng vừa qua cho hay dân chủ cũng chưa phải là hoàn toàn lý tưởng. Hôm nay là chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ C. Ba tuần qua Giáo hội đã cho chúng ta suy gẫm về thời kỳ cuối cùng của mỗi người, của thế giới, với động đất, đói kém, ôn dịch, bách hại và mọi loại khốn khổ. Tin Mừng tuần này về cái chết thê thảm của Chúa Giêsu trên thập tự sau khi bị xỉ nhục, chế giễu. Ðây là một biến cố trớ trêu, soi sáng cho các linh hồn tôn phong Chúa là "vua" và chấp nhận quyền tối thượng của Ngài trên cuộc sống mình. Nếu so sánh với vua chúa thế gian thì quyền bính của Ðức Giêsu khác hẳn. Nó là một trò cười để thiên hạ tiêu khiển, nếu nhìn theo quan điểm thường tình thế gian và chúng ta chẳng thể gán tội "phạm thượng" cho những kẻ không tin chế giễu tước hiệu "Vua Thượng Vị" của Chúa Giêsu mà hôm nay chúng ta mừng kính. Nếu hiểu hết ý nghĩa của ba bài đọc thì họ hẳn phải ôm bụng cười. Bởi vì họ không thể liên kết được những sang trọng thế gian với vị vua của người có đạo! Một vị vua người ta đem bêu diếu, trói chân tay, đánh nhừ đòn, rồi giết chết trên thập giá. Từ đó, ông làm vua những kẻ bé mọn của xã hội, những kẻ bị loại trừ, khinh bỉ, những tội nhân khốn kiếp, những đĩ điếm, xì ke, những phường lường gạt, buôn gian bán lận biết ăn năn sám hối... Ðúng vậy, cả bốn phúc âm đều mô tả cái chết của Chúa Giêsu trong chiều hướng đó và mạc khải căn cước thật của Ngài là Vua Công Chính, là con Ðức Chúa Trời, được tôn vinh trên vạn vật ở đúng thời điểm Ngài gục đầu trút hơi thở cuối cùng trên thập tự! Nói cho ngay, dù mỗi Phúc âm trình bày cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu một cách khác, với những chi tiết gần như cách biệt nhau khá xa, mang màu sắc của cộng đoàn địa phương, mang cả tính tình của người viết, nhưng khi đến mạc khải Ngài là vua, thì họ đều hợp nhất về quyền bính và chức vị của Ngài trên những kẻ tin kính. Chúng ta có thể giải thích quan điểm đó như sau: Ðối với người Do thái, chỉ Thiên Chúa là "vua" duy nhất của dân tộc và tôn giáo. Ngoài ra không có vua nào khác. Khi ra khỏi Ai Cập, dân Israel chỉ có quan án ngồi xét xử cho dân. Ðến thời tiên tri Samuel dân muốn bắt chước các nước xung quanh, xin một vị vua, thì tiên tri bực mình đi cầu nguyện cùng Ðức Chúa. Ðức Chúa phán bảo ông: "Ngươi cứ nghe theo tiếng của dân trong mọi điều chúng nói với ngươi, vì không phải chúng gạt bỏ ngươi, mà là chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng" (1Samuel 8,5). Người đầu tiên được xức dầu làm vua Israel là Sa-un. Ông được chọn không phải vì tài cao, sức mạnh, nhưng vì ông phản ảnh hình ảnh Thiên Chúa là vua. Ông đại diện Ðức Chúa cai trị dân chúng. Ông lãnh trách nhiệm trước mặt Ðức Chúa, cầm cân nẩy mực công lý trong dân. Vua Sa-un đã thất bại trong nhiệm vụ của mình, bị Ðức Chúa loại bỏ, chọn Ða-vid lên thay thế. Ðavid được sức dầu cũng không phải vì địa vị của mình trong nhà cha mình, mà vì ông có phẩm chất của người thay thế Ðức Chúa lãnh đạo dân Do thái. Ông là một vị vua mục tử thay thế Thiên Chúa chăn dắt Israel: "Ngươi sẽ là mục tử chăn dắt dân Ta là Israel. Ngươi sẽ chăn dắt chúng như người mục tử chăn dắt chiên cừu". Như vậy bài đọc 1 cho ta hiểu ý nghĩa của ngày lễ hôm nay. Ðavid, người mục tử dẫn dắt tuyển dân Thiên Chúa, hợp nhất các bộ lạc còn đang tản mác, chọn Giêrusalem làm thủ đô và trị vì trong suốt 40 năm. Tuy có nhiều nhược điểm, nhưng đức tính nổi bật nhất của ông là tài dẫn dắt dân tộc Israel đạt tới nền thịnh vượng chưa từng có. Phụng vụ nhớ đến ông vì ông là hình ảnh của Ðức Kitô dẫn dắt Hội thánh. Có điều khác biệt: Ông cai trị trên ngai vàng cung điện nguy nga ở giữa Giêrusalem. Còn Chúa Giêsu trên cây thập giá bên ngoài thành thánh. Ngài chịu đóng đinh ở đấy, cai trị và được tôn vinh ở đấy, bởi vì đó là nơi người mục tử chăn dắt đoàn chiên, những kẻ tội lỗi, sa đoạ bị loại trừ... Người trộm thứ hai theo tiêu chuẩn của xã hội và tôn giáo lúc ấy đúng là một kẻ bị loại trừ. Nhưng ông đã nhìn thấy triều đại Thiên Chúa hiện thân nơi Ðức Kitô tan nát và giẫy chết. Chẳng có chi sang trọng và vương giả nơi con người khốn khổ ấy. Bề ngoài chỉ là một tội nhân khác bị nhà nước thần quyền kết án. Tuy nhiên người trộm lành đã được ơn soi sáng công nhận Ðức Giêsu đích thật là vua, oai phong và vinh hiển hơn các vua trần thế, nên đã khiêm tốn tùng phục Ngài, xin Ngài một đặc ân mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền ban: "Lạy ông Giêsu, khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi cùng". Bằng lời cầu xin ngắn gọn, người trộm lành đã tuyên xưng đức tin, ăn năn hối cải vì các lỗi lầm đã phạm, và công nhận uy quyền của Chúa Giêsu kéo dài ngay cả sau cái chết. Nói cách khác mọi sự không chấm dứt sau khi tắt thở. Trái lại, tồn tại vĩnh viễn: "Khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi". Ông đã nhận ra căn tính Thiên sai nơi Ðức Kitô bên cạnh. Vì thế, vị vua mục tử mà Phúc âm luôn mô tả như tìm kiếm và cứu chữa những con chiên thất lạc, đã vội vã thâu nhận anh vào nước Trời: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên thiên đàng". Nghĩa là anh được sống ngay lập tức trong nước Ðức Chúa Trời, không phải chờ đợi đến ngày tận thế, khi mọi người sống lại. "Anh được ở với Tôi" là lời hứa anh hoàn toàn được hạnh phúc trong tình thân thiết với Chúa Giêsu. Ðiều mà mỗi người chúng ta đều khát khao. Mặc dầu lúc ấy anh đang bị đóng đanh bên Chúa Giêsu, đau đớn và tủi nhục. Vậy thì vương quyền của Chúa Giêsu là thế nào? Ngài làm vua ra sao? Lời đối đáp trên kia cho ta câu trả lời. Ngài hoàn toàn phản ánh hình ảnh Thiên Chúa- mục tử, mà dân Israel luôn tôn thờ. Ngài phân phát lòng thương xót và ơn tha thứ cho những ai kêu xin và người đầu tiên được hưởng ơn ấy là một kẻ trộm, cùng chịu án tử hình với Ngài. Cho nên bất cứ ai tìm kiếm ơn cứu độ đều được thỏa mãn nếu tin vào Ngài, không có chỗ cho thất vọng, đắng cay. Suy niệm đến đây hẳn chúng ta phải ngỡ ngàng về thượng trí khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, lo liệu cho loài người phương thế vô song để thoát khỏi bàn tay tội lỗi, được cứu độ tức thời và được sống thân thiết với Chúa Giêsu. Ðồng thời phải trào dâng lòng cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa toàn năng, và vua Giêsu hiển trị muôn đời, không ngu xuẩn như những thủ lãnh Do thái chế nhạo Chúa. Họ hô lớn: "Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Ðấng Kitô của Thiên Chúa". Thực tế, chẳng những Chúa đủ quyền năng cứu lấy mình mà còn cứu lấy người trộ? lành và muôn vàn linh hồn khác nữa. Ngài không những là vua dân Israel mà còn là vua của toàn thể vũ trụ. Cái chết trên thập tự của Chúa đã rõ ràng xác định ý nghĩa chức vụ làm vua của Ngài và vương quyền Ngài thực hiện trên thân phận nhân loại. Ðó là sự thật hiển nhiên đối với ai có lòng tin. Quyền bính của Ngài không phải để ngự trị hống hách như kiểu thế gian, bóc lột và kìm kẹp. Nhưng là cứu giúp và giải thoát. Nó hiện diện trong những kẻ yếu đuối, tội lỗi, những kẻ thua thiệt trong xã hội, biết ngước trông lên Ngài. Suốt trong các sách Phúc âm người ta tìm ra Chúa Giêsu giữa những người tội lỗi, thu thuế, gái điếm, cùi hủi, mù loà, què quặt. Những người mà xã hội loại bỏ. Một số chấp nhận Ngài đồng thuyền đồng hội với họ, số khác từ chối. Những ai chấp nhận Ngài ban phát ơn tha thứ và hoà giải, họ được chữa lành phần xác và phần hồn. Dưới chân cây thập giá cũng vậy, không có người trung lập, hoặc là họ chế nhạo Chúa hoặc là họ tin kính Ngài. Thánh Luca kể: "Khi Ðức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, dân chúng thì đứng nhìn còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo". Những ai cười nhạo đều dùng từ "cứu". Dĩ nhiên họ muốn thấy hiệu quả tức thời, xuống khỏi thập giá và đi lại mạnh khoẻ như một phép lạ. Các binh lính, các thủ lãnh và một người trộm cùng chịu đóng đanh đều thách thức Chúa Giêsu tự cứu mình, tự giải thoát mình khỏi cây thập giá. Nhưng họ đã lầm, từ "cứu" trong Phúc âm có nghĩa rộng hơn nhiều. Nó bao gồm mọi khía cạnh của cuộc sống con người, ngay cả của toàn thể vũ trụ. Hẳn chúng ta còn nhớ câu văn nổi tiếng của thánh Phaolô: "Vạn vật quằn quại chờ ngày được cứu". Ðối với các tín hữu, từ "cứu" còn có nghĩa thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Cho nên họ nhìn thấy cái chết của Chúa Giêsu một ý nghĩa to lớn hơn, to lớn vô cùng. Nếu như Ngài muốn cứu chúng ta và thế giới, Ngài phải đi qua cái chết trên thánh giá, số phận đã được Thiên Chúa Cha quyết định từ khi sinh ra ở Bêlem. Vậy thì quyền cai trị của Chúa Giêsu không phải trong đường lối sang trọng thế gian. Trái lại, được biểu lộ qua cái chết khiêm nhường, hoàn toàn không vương giả. Ðiều trớ trêu là lời nhạo báng của các binh lính La-mã: "Nếu ông là vua Do thái thì ông hãy tự cứu mình đi". Lại là sự thật rõ ràng đối với thế giới Công giáo. Người trộm lành đã nhìn thấy ý nghĩa đó. Ðức Kitô là vua, dáng vẻ bề ngoài là một tử tội đáng ghê tởm, hoàn toàn thất bại, hoàn toàn bị hạ nhục, không một chút uy thế nào. Nhưng lại là Cứu Chúa có quyền năng chiến thắng sự chết, ban cho ông ta sự sống và hạnh phúc đời đời: "Lạy ông Giêsu, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng". người trộm lành không nghi ngờ chút nào về sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu, mặc dầu trước mặt chỉ là một tử tội đang chịu đóng đinh. Một đức tin, đúng hơn một sự soi sáng, dũng mạnh biết bao! Nếu chúng ta cũng được ơn như vậy trong cuộc sống hằng ngày, hẳn chúng ta đã không ăn ở lạnh nhạt như hiện trạng. Tuy nhiên, bài học quan trọng cho chúng ta là: Khi phải gánh chịu thiệt thòi trong cuộc sống. Khi các thế lực sự dữ bao vây chung quanh. Khi không còn một khả năng nào trong tay. Khi thất vọng về những cố gắng thay đổi nếp sống. Khi phải đối đầu với khó khăn kinh tế, luân lý, chính trị. Khi phải đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ, áp bức, bất công. Khi phải lo lắng về các cơ cấu thối nát trong Giáo hội, xã hội. Lúc than khóc thân nhân qua đời. Khi tuyệt vọng về tình hình thế giới: Luân lý đồi bại, phá thai, xì ke, ma tuý, tội ác có tổ chức... Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và nhận ra có lẽ đấy là những dạng khác nhau của biến cố trên đồi Can-vê mà Phúc âm hôm nay ký thuật. Chúng cũng đang chế nhạo Chúa Giêsu. Nhưng kỳ thực Ngài vẫn là vua. Người trộm lành đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những chê cười đó và trong đau đớn ông kêu xin Chúa cứu chữa mình. Ông đã đặt niềm tin vào nơi xem ra chẳng có chút hy vọng gì. Chúng ta hãy noi gương ông. Ðiều mà ông đã được nghe thì chúng ta cũng sẽ được nghe. Ðiều mà lòng tin của ông đã đạt được chúng ta cũng sẽ đạt được: "Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta". Thiên Chúa hiện diện ở những nơi xem ra không thể được: ngục tù, tối tăm, hèn hạ... Trên thập tự ai có thể tưởng tượng Thiên Chúa có mặt? Ðôi mắt người trộm lành ngắm nhìn Chúa Giêsu ai có thể nói rằng ông ta đang ngắm nhìn ơn cứu độ? Vua của những kẻ ngoài lề lại chết trên thập giá. Việc đó am hợp với Phúc âm. Bởi lẽ Ngài luôn tuyên bố: Thiên Chúa là mục tử tối cao của nhân loại và Ðức Kitô có nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên trở về ràn. Vậy trong thánh lễ hôm nay, chúng ta phải cúi đầu bái lạy Ngài, vì chỉ có Ngài mới là vua đích thực của mọi tâm hồn. Amen.
Hôm nay anh ở
với tôi trên Thiên Ðàng
Thưa quý vị. Ba bài đọc hôm nay và thánh vịnh đáp ca đều được chọn cho ý nghĩa của ngày lễ Chúa Kitô vua. Vì vậy chúng ta cố gắng tìm trong kinh thánh và phụng vụ chân dung của Ðức Kitô mà Giáo hội muốn trình bày cho các tín hữu trong ngày lễ hôm nay. Hai sách Samuel mô tả lại đời sống của dân Israel trong đất hứa. Mặc dù những ơn lành to lớn Chúa ban cho dân tộc, nhưng Israel thất bại không sống đúng với địa vị dân tuyển chọn, họ thường xuyên vi phạm các giao ước đã ký kết với Thiên Chúa trung tín. Sách các quan án cho ta một số quan niệm về lối sống đó. Họ chẳng có thủ lãnh tốt lành để tập họp dân chúng thành một cộng đồng thánh thiện và trung thành. Cho nên hai sách Samuel dần dần đưa dân vào luật pháp dưới sự cai trị của các vua. Sách Samuel thứ nhất kể chuyện về chính tiên tri Samuel và vua Saulô. Theo sự chỉ đạo của Thiên Chúa, Samuel đã xức dầu cho Saulô làm vua Israel. Chẳng bao lâu Saulô để lộ yếu điểm của mình và thất sủng trước mặt dân và Ðức Chúa. Samuel lại xức dầu cho David làm vua theo sự hướng dẫn của chính tay Ðức Chúa Trời. So sánh với Saulô, lúc này David tỏ ra xứng đáng hơn. Ông được mô tả như vị vua lý tưởng và là đại diện của Chúa cai trị dân Israel. Các thủ lãnh cũ kể cả Saulô không có chăn dắt và dưỡng nuôi dân Chúa cho đúng nghĩa. Họ hà hiếp bóc lột hơn là chỉ đường dẫn lối và vì vậy Chúa lại giơ bàn tay ra chọn David để dâ? dắt dân Ngài. David một người chăn cừu chuyên nghiệp bây giờ trở thành vua. Ông phải tập hợp dân tuyển chọn đang bị tản mác thành đoàn chiên duy nhất và hướng dẫn dân theo ý Thiên Chúa. Triều đại ông đã thành công. Mặc dầu ông có những nhược điểm và lầm lỗi ông vẫn làm biểu tượng cho một vua mới, giống như ông. Ðó là hy vọng vào một Ðấng Thiên sai cuối cùng sẽ giải phóng dân Ngài. Xin nhớ Ðức Kitô Ðấng chăn chiên nhân lành của Chúa Nhật hôm nay thuộc dòng giống David. Ngài đã chu toàn đầy đủ ước vọng của Thiên Chúa và của tuyển dân như một thủ lãnh khôn ngoan và như người chăn chiên tốt lành. Khi mới xuất đầu lộ diện, Chúa Giêsu đã kích động được trí tưởng tượng của dân Do thái tôn Ngài làm vua. Nhưng cảnh tượng chịu đóng đinh nhục nhã trên thập tự đã khép lại hoàn toàn mong ước đó. Những người lính La mã đã bày tỏ nỗi thất vọng bằng câu thách thức : "Nếu ông là vua dân Do thái, hãy tự cứu mình đi ?" (Lc 23, 36) nghĩa là một tử tội chịu đóng đinh như ông thì làm vua cái nỗi gì ? Như thế là họ chế giễu Chúa Giêsu và sự thất bại của Ngài ! Trước mắt họ, Ngài chỉ là một tên tội phạm quèn. Nhưng không cứu nổi mình, tên tử tội Giêsu lại cứu chúng ta ! Chưa hết, một trong hai kẻ trộm cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu xoá sổ luôn cái danh phận Ðấng Thiên Sai của Ngài nữa : "Nếu ông là đức Kitô hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi nữa ? (Lc 23, 39) anh ta có ý nói : một người khốn khổ như thế này mà đòi làm Ðấng Thiên Sai cứu vớt thiên hạ, trong khi chẳng cứu nổi mình ! Ngày nay, người ta cũng gán cho ai đó cái mặc cảm "thiên sai", khi cố gắng vô vọng cứu chữa bệnh nhân hoặc cứu giúp ai thoát khỏi một tình huống hết đường chữa chạy. Nhưng trong ánh sáng của Cây Thập giá Chúa Giêsu, Ðấng Thiên Sai mang một ý nghĩa khác hẳn. Chức vị Thiên Sai thực sự trước mặt những kẻ bàng quang là một thất bại hoàn toàn. Họ làm sao thấy được khi chỉ có mắt trần, không có mắt đức tin ? Chức Thiên Sai của Thiên Chúa không phải là thành công vật chất, mà là thành công siêu việt hơn nhiều, thành công trong ơn thánh mà cây thập giá chỉ là khởi đầu ! Từ cái thất bại này mà ơn cứu độ chảy tràn lan trên khắp cả nhân loại, tự tạo thiên lập địa cho đến ngày tận thế, từ Ðông chí Tây, từ Nam chí Bắc. Những ai cảm thấy mình thất bại trong cuộc đời hãy nhìn lên cây Thập tự Chúa Giêsu mà học lấy bài học quý giá, chuyển đổi mục tiêu đời mình lên cấp bậc cao hơn, thánh thiện hơn ! Nhưng làm thế nào trong bối cảnh thương đau như thế chúng ta có thể đọc được thư của thánh Phaolô gởi tín hữu Côlôsê ? Trong thư này, thánh Phaolô ca tụng Ðức Kitô như vị cứu tinh, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành "trên trời và dưới đất ?" Dĩ nhiên chúng ta ngày nay có lợi điểm nhìn vào toàn bộ cục diện của ơn cứu chuộc, gồm cả sự sống lại và lên trời của Chúa Giêsu. Nhưng lúc ấy, ai có thể khiển trách binh lính La mã về thái độ nhạo báng của họ ? ai có thể sửa lưng dân chúng và người ăn trộm yếm thế về việc thách đố quyền lực của "Vua" tự nhận Giêsu ? Vào hoàn cảnh của chúng ta, có lẽ chúng ta cũng hành động tương tự ! "Vua" kiểu chi vậy ? Nếu thực là vua, tại sao không biểu lộ quyền năng của mình trong giây phút cần đến nó nhất ? Ngày xưa đã vậy, bây giờ thì sao ? Những người vô tội chịu đau khổ, những kẻ thối nát ngồi ghế trị vì ! Các cuộc đóng đinh tân thời xảy ra khắp chốn, khắp nơi trên thế giới. Vậy thì chúng ta trông đợi được chi ở cái ông "vua" kỳ quặc này ? Sau nhiều năm nghiền ngẫm, thánh Luca mô tả sự kiện đóng đinh bằng lăng kính của biến cố "sống lại". Giữa quang cảnh ồn ào của chiều thứ sáu chịu nạn, vẫn có một người với dáng điệu làm "Vua", nghiêm nghị và oai phong. Bề ngoài người đó không còn chút quyền lực nào cả, nhưng trên thực tế, Ngài đã ban ra một sắc lệnh mà không một ông vua nào trên trần gian có thể làm nổi : Tha tội cho tên trộm lành, cứu vớt và đưa anh ta vào vương quốc của Ngài ! Ngài đã làm điều mà chính Ngài tuyên bố trong hội đường Do thái ở lúc khởi đầu sứ vụ của mình (4, 18) : Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, tuyến bố một năm hồng ân của Thiên Chúa." người tử tội trên thật là nhất quán ! Về phần anh trộm lành, anh cũng giở "quẻ" cuối cùng của anh mà "thó" được Nước trời, anh được vào nhưng không, chẳng cần công xá. Anh đã nhận ra nạn nhân tan tác bị đóng đinh bên cạnh anh chính thực là vua dân Do thái, Ðấng Thiên Chúa gởi đến để cứu anh. Theo truyền thống tên anh là Dismas, ở nhà nguyện khám đường San Quentin (California) có bức tranh chân dung anh được treo trên tường. Trong bức tranh Dismas là một thanh niên trẻ, vận áo dài, đứng mỉm cười nhìn các khách thưởng lãm. Tương truyền hình thánh Dismas được một tử tù vẽ. Không có người mẫu anh dùng chính anh làm mẫu. Anh đứng trên một cái ghế, soi gương, lấy một chiếc khăn tắm choàng lên vai cho có hình vải rũ để vẽ áo dài. Gian phòng vẽ nhỏ xíu, anh chẳng thể bước ra xa để lấy viễn cảnh, nhưng anh đã lấy một viễn cảnh khác là chính bản thân để được Chúa Giêsu cứu chữa. Thật là đẹp ! Chúng ta có dám ví mình như người trộm lành để được Chúa cứu ? Chẳng hiểu người tử tù ngụ ý chi khi vẽ mình với nụ cười hoan hỉ trên gương mặt ! Có lẽ anh vừa được nghe xong lời tha tội ! Thế thì ai dám treo cổ những tử tù như vậy ? Rời bỏ mơ mộng, tôi lái xe đi Nicaragua, một nước nghèo nhất Châu Mỹ (Chỉ đứng sau Haiti) để quan sát bầu cử ở đấy. Ða phần người dân chỉ đủ ăn một bữa mỗi ngày, vậy mà có những tư dinh rộng hàng chục mẫu tây, với những Buildings đồ sộ, những con đường rộng thênh thang chạy qua lại các tư dinh ấy. Ngay trong nước Mỹ, mỗi lần bầu cử hàng chục triệu Dollars được tung ra để tiêu dùng vào mục đích tranh cử. Liệu các chức vụ công cộng ấy có giúp các quan chức phục vụ cộng đồng một cách vô tư, tích cực ? Lòng tôi đầy nghi ngờ thiện chí của họ ! Nhưng trước mặt tôi, trên bàn làm việc này, có một ông vua Do thái treo toòng teng một cách thảm hại trên cây khổ giá ! Ông lên đây bằng cách nào ? Ôm hết tất cả các tội nhân, người cùi hủi xã hội, người bị loại trừ, bầm dập, những thất bại của nhân loại dâng lên Cha Ngài xin tha thứ và chấp nhận. Ðó là chức vị "vua" của ông ta, Ðấng Thiên Sai được Thiên Chúa gởi đến cho nhân loại ! Dismas thạo nghề trộm cướp hơn đọc kinh. Chúng ta giáo dân, tu sĩ thạo nghề đọc kinh hơn trộm cướp. Ðó là điều chắc chắn. Nhưng cuối cùng thì ai đã hơn ai ? Tuy nhiên một điều rõ ràng hơn nữa là Dismas biết cầu nguyện. Ông đã lặp đi lặp lại hàng trăm lần : "Lạy Ngài xin thương xót tôi, khi nào về Nước trời xin nhớ đến tôi", trước khi anh đủ can đảm mở miệng nói với người tử tội bên cạnh, và anh đã được nghe câu trả lời ngọt ngào : "Hôm nay anh được ở với tôi trên Thiên Ðàng." từ ông vua nhân ái, Ðấng Thiên Sai đầy lòng xót thương. Amen
Tình Yêu Chứ Không Phải
Quyền Lực Quang cảnh và những thái độ khác nhau
Ðức Giêsu chịu treo trên thập giá :
theo cái nhìn bình thường, đây là một thất bại nặng nề. Bị kiệt sức do những
tra tấn tàn nhẫn, Người không thể sống lâu hơn được nữa. Người chẳng còn gây
nguy hiểm gì cho các đối thủ của Người nữa. Người sắp trút hơi thở cuối cùng
; Người im lặng trước những lời lẽ đầy vẻ khiêu khích, tấn công. Trước mặt cả đám đông, Ðức Giêsu bị coi như không còn thuộc thế giới kẻ sống. Người ta không còn nói gì đến Người, có chăng, thì cũng coi Người như là kẻ vắng mặt. Làm sao họ có thể nhìn nhận con người đang hấp hối kia là Ðấng đã được các ngôn sứ loan báo ? Làm sao họ có thể công nhận Người là vị Vua vinh quang như hình ảnh họ từng thấy qua các hoàng đế Rô-ma hay Cận Ðông ? Cả đám binh lính cũng chế giễu Ðức Giêsu. Và quan tỗng trấn Phi-la-tô tỏ dấu khinh khi qua việc ông cho viết tấm bảng treo trên thập giá với hàng chữ mỉa mai : "Người này là vua dân Do-thái." Còn dân chúng, họ đứng im lặng và nhìn xem. Họ đã từng tin vào Ðức Giêsu, họ đã từng nghe những lời nói mạnh mẽ như lửa đốt từ miệng Người. Ngoài ơn được lành bệnh, họ còn nhận được từ nơi Người sự bình an và niềm vui. Giờ đây, trước cây thập tự, họ hoảng hốt, kinh hoàng. Ðức Giêsu bị xếp vào hàng những quân trộm cướp. Mọi hy vọng tan tành như mây khói. Quanh cây thập giá, một thứ trật tự đã được thành hình, trật tự của những người chống lại Ðức Giêsu. Ðàng sau quang cảnh đẫm máu này là một thứ hệ thống khác : hệ thống tôn vinh sự thành công và quyền lực : "Nếu thật hắn là Ðức Kitô ... thì cứu lấy mình đi ..." Là Vua, qua việc tha thứ Nếu như bất thình lình Ðức Giêsu chấp nhận hệ thống này và xuống khỏi thập giá, như xưa kia, lúc ở trong sa mạc, Xa-tan đã từng thách thức Người gieo mình xuống từ nóc Ðền Thờ, thì hẳn người ta sẽ lập tức đặt Người vào trong hệ thống đó ! Khi ấy, chắc chắn người ta sẽ về phe với Người và sẽ suy phục Người, sẽ phục hồi quyền bính cho Người. Nhưng không ! Ðức Giêsu đã không chấp nhận hệ thống quyền lực ấy. Người đã từng tuyên bố trước mặt tỗng trấn Phi-la-tô : "Nước tôi không thuộc về thế gian này ..." Người không muốn chiếm lấy quyền lực, và cũng không theo cách của con người. Nếu Người muốn làm vua, làm thủ lãnh theo kiểu của loài người, thì hẳn Người đã chấp nhận điều đó, khi dân chúng đổng thanh tung hô, sau phép lạ hoá bánh ra nhiều. Nếu Người muốn thu phục dân chúng theo kiểu xã hội trần gian, thì hẳn Người đã có nhiều cơ hội tốt để làm điều đó, nhất là sau khi thực hiện những phép lạ. Ðó không phải là điều Ðức Giêsu tìm kiếm ! Ðó không phải là điều Người mong muốn. "Tôi đến không phải để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ mọi người." Chính trong ý tưởng ấy, Người đã chấp nhận chịu treo trên thập giá để "lôi kéo mọi sự" lên với Người. Ðức Giêsu tìm kiếm một thứ quyền lực khác - nếu có thể gọi như thế - đó là sự sống nơi tâm hổn con người. Sự hiện diện, các lời nói, hành vi của Người là nhằm đem lại sự sống, nhằm nâng cao con người chứ không nhằm bó buộc họ. Và con đường của Ðức Giêsu cũng khác hẳn con đường của nhân loại : con đường đó là khiêm tốn, là phó dâng mạng sống, là hy sinh, là tha thứ. Bởi đó, trong hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc đời, Ðức Giêsu vẫn thốt lên một cách rất thanh thản : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." Không một lời than trách, không một lời nguyền rủa, nhưng đầy lòng tha thứ và còn khẩn nài Cha trên trời rộng lòng thứ tha ... Ðức Giêsu chết với tư cách là Ðấng Cứu Thế ; Người phó nộp sự sống của chính mình để nhân loại được sống. Với thái độ này, Ðức Giêsu vừa phá đỗ hệ thống quyền lực của đám đông đang vây quanh thập giá, đổng thời thiết lập một hệ thống khác, một quyền lực khác, đó là sự sống. Sự sống phát sinh từ tha thứ, từ phục vụ. Quyền lực ấy, Ðức Giêsu đã nhận được khi chịu treo trên thập giá, khi trút hơi thở cuối cùng. Là Vua, qua việc ban tặng Cùng lúc ấy, một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá, lên tiếng sỉ vả Ðức Giêsu : "Ông không phải là Ðấng Kitô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với !" Ðó là tiếng kêu của con người đầy nghi ngờ. Con người này, vào những giây phút cuối của đời mình, vẫn không mở lòng ra trước tình yêu của người khác. Trái lại, người kia khám phá ra rằng mình có thể làm người. Anh ta không tìm cách "thu phục" Ðức Giêsu vào với mình. Anh hiểu rằng người chịu treo trên thập giá kia không giống mình, và anh cũng chợt khám phá ra nét rực rỡ nơi người ấy. Bởi đó anh đã mắng tên kia : "Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái." Anh không đòi cho mình một đặc ân nào, và chính nhờ đó anh có thể thông hiệp với Ðức Giêsu, và anh mong muốn Ðức Giêsu cũng cho anh được thông hiệp. Từ đáy lòng, anh hết sức thương cảm trước cực hình Ðức Giêsu phải chịu, anh ý thức thế nào là công chính, và anh thốt lên tiếng nói đầy tin tưởng và phó thác : "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước ông, xin nhớ đến tôi !" Ðức Giêsu thu hết chút tàn lực, Người xác nhận ý nghĩa cuộc đời : "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng." Bôỵng nhiên, tất cả đều bị đảo lộn. Người trộm cắp, kẻ bị loại bỏ, đã ra khỏi hệ thống quyền lực của trần gian để bước vào thế giới của Ðức Giêsu, thế giới của ơn tha thứ, của việc ban tặng, của ân sủng. Anh đã được cứu thoát. Anh đã nhận ra rằng vương quyền của Ðức Giêsu được củng cố qua việc Người chấp nhận chết như một người nô lệ, chứ không phải qua chiến thắng oanh liệt, ngay cả khi chiến thắng sự ác. Anh cũng nhìn nhận rằng trong cái chết này, có con đường mở ra dẫn đến sự sống, và chính anh đã đi từ cõi chết sang sự sống. Một lần nữa, lần cuối cùng trong cuộc đời, Ðức Giêsu thể hiện toàn bộ tính cách độc đáo trong sứ mệnh của Người. Ngay từ khi bắt đầu hiện diện giữa trần gian, Ðức Giêsu đã thể hiện tính cách của người nghèo khó, của người tôi tớ ; Người đã sống, đã thực hiện tính cách ấy trong suốt cả cuộc đời, và tính cách ấy đã dẫn Người tới cái chết thảm thương trên thập giá. Nhưng cũng trong thời điểm bi đát này, Người bày tỏ vương quyền cao cả của Người : đó là sự sống vĩnh cửu, là sự tha thứ. * * * Như thế, ngày lễ Ðức Kitô Vua không chỉ là một sự kiện pháp lý, không có vẻ hào nhoáng rực rỡ, nhưng là một khẳng định rõ rệt và chắc chắn về tình thương, về sự phục vụ. Ðó là một hổng ân của Thiên Chúa chứ không phải do những lời tung hô chúc tụng của con người. Ðức Giêsu đã biến một kẻ vô lại thành vị thánh đầu tiên trong Giáo Hội, nhờ sức mạnh của tình yêu. Tình yêu ấy tha thứ tất cả, ban phát tất cả, kể cả sự sống vĩnh cửu. Ngày lễ Ðức Kitô Vua được Giáo Hội xếp vào cuối năm Phụng vụ như là cao điểm, như sự thành toàn mà mọi người phải hướng về. Như "người trộm lành", môỵi người Kitô hữu cần cảm nghiệm được rằng : Ðức Kitô đúng thực là chủ tể đời mình, chính Người cứu độ những yếu hèn, những tội lôỵi của mình, chính Người ở bên cạnh mình trong những đau khỗ của cuộc sống trần gian, và chính Người đón nhận mình vào vương quốc vĩnh cửu. Như thế, mọi Kitô hữu, dù trong hoàn cảnh nào, vẫn là thần dân của Nước Thiên Chúa : "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng." Họ phải để cho tình yêu của Người xâm nhập, và, ngay giữa những thất bại, những khỗ đau, họ vẫn phải kêu lên : "Lạy Ðức Giêsu, xin nhớ đến tôi." Thế nhưng, chúng ta có đủ tin vào Ðấng là Tình Yêu và là Ðấng Cứu Thế ? * * *
Lạy Chúa,
Con là cái bình sành hỏng,
Phải chăng tháng ngày ưu
phiền của con phỏng theo Grégoire de Narek
Chúa Kitô là
vua Chúa Giêsu có phải là vua không ? Ngài là vua, nhưng không theo nghĩa trần thế hay nghĩa chính trị mà người đời thường hiểu. Vì thế, nhiều khi dân chúng công nhận, tung hô Ngài là vua, Ngài phủ nhận ngay, vì họ lầm tưởng Ngài là một lãnh tụ, xuất hiện để đánh đuổi thực dân đế quốc Rô-ma, giành lại đất nước, quyền hành như vua Đa-vít xưa. Chúa cũng phủ nhận danh hiệu này, khi tổng trấn Phi-la-tô hỏi Chúa : “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Ngài trả lời : “Đúng như ông nói”, nhưng Chúa thêm ngay : “Tôi là vua, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này”, tức là Ngài không làm vua như chúng ta vẫn nghe, vẫn thấy, không dùng binh lực, không dùng những phương tiện trần thế, không dùng bạo lực đàn áp đối phương để bảo vệ mình, giả như Chúa có dùng binh lực để tự vệ thì cũng chẳng ai làm gì được Ngài. Tuy nhiên, trong ngày Ngài khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem, tức là ngày lễ Lá, Ngài đã im lặng, không cải chính, để cho người ta hái lá, lấy áo trải trên đường cho Ngài đi, và chấp nhận để cho họ tung hô Ngài là con vua Đa-vít, vua dân Do Thái. Như vậy, Chúa Giêsu xác nhận Ngài là vua, nhưng không phải theo nghĩa chính trị, Ngài không âm mưu cướp chính quyền, không muốn tranh ngôi vua với hoàng đế Xê-da. Vậy Chúa làm vua thế nào ? Nước ngài ở đâu và thuộc dân của Ngài là những ai ? Kinh Thánh cho biết : Đấng Cứu Thế là vua, thế mà Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, nên Ngài là vua. Ngài là vua theo nghĩa Ngài là Đấng Thiên Chúa sai đến để dẫn dắt loài người đến sự sống thật, Ngài đến để giảng dạy sự thật, làm chứng cho sự thật, biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với loài người, và dạy cho loài người biết dự định hay kế hoạch của Thiên Chúa đối với loài người, là muốn giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết, muốn cho họ được làm con Thiên Chúa, được thừa hưởng hạnh phúc bền lâu, và được vinh quang đích thực. Nói rõ hơn, Chúa Giêsu đến trần gian không phải với sứ mạng giải phóng dân Do Thái và nhân loại khỏi ách nô lệ của đế quốc, Ngài cũng không đến để giải thoát chúng ta khỏi đói khát và chiến tranh, tất cả sứ mạng của Ngài là giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi, nguồn gốc của đế quốc, đói khát và chiến tranh, giải phóng nhân loại khỏi tội lỗi, đó mới là điều cần thiết, và đó là sứ mạng độc nhất của Chúa Giêsu. Vì thế, Chúa đã đi vào tận đáy thân phận con người để bộc lộ vương quyền thật của Ngài, Ngài chỉ muốn cai trị tâm hồn người ta. Do đó, tất cả những ai muốn được giải thoát khỏi tội lỗi và tin theo Ngài, sống theo những lời Ngài dạy, họ sẽ là thuộc dân của Ngài và được hội nhập vào nước của Ngài, như công đồng Va-ti-ca-nô II đã nói : “Nước Chúa Kitô được bảo vệ không phải do bạo lực, nhưng được bền vững do việc đón nghe và làm chứng cho chân lý, được mở rộng nhờ tình yêu. Ai muốn làm thuộc dân của Ngài, ai muốn làm công dân nước Ngài, cần phải ăn năn, hối lỗi, tin cậy vào Ngài, nhận phép rửa tội và chấp nhận làm theo những điều Ngài dạy”. Một ông vua thường hay cứu giúp thuộc dân của mình khi họ gặp khó khăn, tai ương, hoạn nạn. Chúa Giêsu là vua cũng trong ý nghĩa cứu giúp, Ngài là Thiên Chúa luôn sẵn sàng cứu giúp những ai yêu mến và tin cậy Ngài. Ngài ở bên cạnh họ, nhìn thấy tất cả những nỗi khổ đau trong đời họ, ngay cả những khổ lụy chưa xảy đến Ngài cũng biết hết. Là con người, ai trong chúng ta cũng có lúc gặp khó khăn, có khi còn gặp bước đường cùng, gặp ngõ bí, ngõ cụt với những khó khăn dường như không thể vượt qua, hoặc có những lúc lo âu phiền lụy xâm chiếm hoàn toàn đời mình khiến chúng ta thất vọng, chán nản, nhưng rồi sự gì xảy đến rồi cũng lại qua đi, biết bao người đã kinh nghiệm được sự cứu giúp của Thiên Chúa. Tuy nhiên, có thể có những lần chúng ta cảm nghiệm được sự cứu giúp của Chúa đúng lúc chúng ta kêu xin, nhưng cũng có lần chúng ta chờ hoài sự trợ giúp của Ngài mà chẳng thấy đâu, chỉ thấy “hát lâu chầu mỏi”. Phải chăng Thiên Chúa đã chậm trễ ? Phải chăng Ngài ở xa không thấy chúng ta ? Phải chăng Ngài ngủ quên ? Thánh vịnh 121 quả quyết : “Thiên Chúa không hề bao giờ buồn ngủ hay ngủ gật”, Thiên Chúa không hề bị giới hạn bởi thời gian, không gian hoặc hoàn cảnh, bất cứ ở đâu và lúc nào Ngài muốn là Ngài làm được, không có gì có thể ngăn cản được Ngài, sở dĩ Ngài đã không đến cứu giúp chúng ta như chúng ta trông mong, có thể đối với Chúa, đó không phải là lúc chúng ta cần, Ngài biết rõ lúc nào là lúc tốt nhất để Ngài đưa sự trợ giúp đến để chúng ta thêm tin yêu Ngài. Cũng thế, Thiên Chúa chưa cứu giúp cũng có thể vì thời điểm của Ngài khác thời điểm của chúng ta. Chúng ta thì muốn hiện tại lúc này, rồi chúng ta lại bị giới hạn bởi thời gian tâm lý : khi vui thấy thời gian trôi lẹ quá, khi buồn thấy thời giờ chậm trễ. Khi chúng ta chờ đợi là lúc chúng ta thấy thời giờ như thế, chúng ta không dám đối diện với hiện tại, chúng ta không đủ kiên nhẫn chờ đợi, cho nên cứ thấy Chúa ở xa và xa tắp. Chúng ta hãy nhớ : “Một ngày đối với Chúa như ngàn năm”. Ngoài ra, Thiên Chúa chưa cứu giúp cũng có thể là do chúng ta chưa đủ đức tin, chưa đủ lời cầu nguyện, vì thế, dù hoàn cảnh nào chúng ta cũng hãy nhớ Thiên Chúa là cha, Ngài là vua đầy uy quyền và tình thương để cứu giúp, phần chúng ta hãy luôn tin cậy và phó thác.
Giêsu Vua
Tình Yêu Ngày lễ Chúa Kitô Vua, Giáo Hội trình bày cho ta thấy ý nghĩa đích thực Vương quyền của Chúa Giêsu, cách thế Ngài tiến lên đài vinh quang, cách Ngài chinh phục con người, đồng thời cũng cho ta thấy rằng : vương quyền của Ngài cũng sẽ bị chống đối trong giai đoạn hiện tại. Các thủ lãnh tôn giáo nhạo cười và thách thức Ngài, “Hãy tự cứu mình đi”. Những người lính cũng nhạo cười Chúa, cho Người uống giấm, và Phi-la-tô đóng đinh Người trên thập giá với câu nói đầy sự mỉa mai : “Đây là vua người Do-thái”. Thế nhưng những kẻ đó đã vô tình làm ứng nghiệm lời trong Tv.22, 8 “Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bỉu mỏ buông lời mỉa mai“ . Chúa Giêsu đã bước lên đài vinh quang uy quyền, qua đau khổ như lời các tiên tri đã loan báo. Ngài không xuống khỏi thánh giá như lời thách thức của các đầu mục Do-thái, nhưng Ngài đã đáp lại bằng cách kéo mọi sự lên cùng Ngài : kẻ trộm lành nhìn nhận Ngài, viên đội trưởng tôn Ngài là người công chính, dân chúng đấm ngực hối lỗi, và muôn dân sẽ nhờ Ngài mà được trở thành con Thiên Chúa, Ngài hạ mình và Thiên Chúa sẽ tôn vinh Ngài lên. Chúa Giêsu không phủ nhận Vương quyền của mình. Trước tòa án, Chúa Giêsu đã xác nhận với tổng trấn Phi-la-tô: “Tôi là Vua” (Ga.18,37), nhưng không phải là vua đi tranh ngôi với hoàng đế Xê-sa-rê hay Hê-rô-đê mà hội đồng công tọa tố cáo. Vương quốc của Ngài không có màu sắc chính trị phàm trần , xâm chiếm lãnh thổ. Ngài không xuất hiện như các ông vua khải hoàn, ngựa xe ngợp trời, tù binh cả đám. Ngài ngồi trên con lừa khiêm tốn, hiền hòa theo lời sấm ngôn Da-ca-ri-a (Mt.21,5), Ngài đến để đem bình an, công chính chứ không mang gươm giáo. Ngài là Vua nhưng không phải là vua thống trị, mà là Vua “Hiến mạng sống cho đoàn chiên” (Ga.10,11). Trên thap giá Ngài đã đánh bại Xa-tan, tử thần, đã đem lại sự công chính hóa toàn dân, và mở ra thời kỳ ân phúc cho nhân loại. Nước Chúa là nước tình thương, an hòa và phục vụ. Kẻ thù thách thức Ngài xuống khỏi thập giá để cho họ tin, nếu quả Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài sẽ không bao giờ sử dụng quyền năng để mưu cầu tư lợi. Ngài đã từ chối đề nghị này của Xa-tan và sẽ chẳng bao giờ nghe lời thách thức của người Do-thái. Vương quốc thế gian xây trên sức mạnh của vũ khí thích dương oai, đàn áp; còn Vương quốc của Chúa dựa trên sự thật, trên lẽ phải trên tình thương. Ngài đến để phục vụ và hiến mạng sống cho thần dân của Ngài, đúng như Ngài nói : “Ta đến để chiên Ta được sống và sống dồi dào hơn”. “Khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi !”. Trái với tên trộm ngoan cố, người trộm lành đã thống hối ăn năn, anh nhìn nhận quá khứ không tốt của mình, và vui nhận hình phạt do tội của anh gây nên. Điều lạ lùng là anh đã nhìn thấy Vương quyền của Chúa Kitô giữa mọi sự và nói : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi !”. Câu nói biểu hiện lòng tin của anh vào con người cùng bị đóng đinh : Ngài vô tội, Ngài sẽ không chấm dứt đời mình bằng cái chết, Ngài sẽ vào trong nước Ngài và sẽ đem theo những ai thành tâm tin theo Ngài. Đứng trước lòng trông cậy đó, Chúa Giêsu đã đáp lại lời cầu xin, khi Ngài nói : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Chúa đã nhận anh vào Nước Hằng Sống với Ngài. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể. Mừng kính Chúa Kitô vua là dịp để giúp chúng con nhìn lại thân phận yếu đuối của mình. Chúng con đang sống trong thế giới có nhiều biến động, chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh. Thế giới mà chúng con đang trải qua có thể nói là văn minh nhưng đầy cạm bẩy. Nhiều người đang mải mê với thế tục trần thế: chạy theo tiền tài, danh vọng. Mà ngay bản thân chúng con đã không ít lần vấp ngã. Sự phân biệt đối xử đang len lỏi vào những ngốc ngách của cuộc sống, trong phạm vi gia đình, quốc gia và trên thế giới. Xin cho chúng con có một lòng tin mãnh liệt, vào uy quyền và tình thương tha thứ của Chúa Cứu Thế trong mọi nghịch cảnh, để nhờ lòng tin đó chúng con đến với Chúa trong những lúc vui, buồn, sướng khổ. Lắng nghe Chúa trong mọi biết cố của cuộc đời. Và hơn thế nữa, chúng con cũng bắt chước Chúa : đem ánh sáng Chúa vào nơi tối tăm, đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem chân lý vào nơi lỗi lầm. Amen.
Bất Bạo Động Ngày 16 tháng 09 năm 2007 vừa qua, kỷ niệm 5 năm ngày ÐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận qua đời, Tòa Thánh khởi sự án phong chân phước cho người. Hôm sau, khi tiếp kiến Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, ÐGH Bênêđictô XVI đã gọi ÐHY là “vị Ngôn Sứ đặc biệt của niềm hy vọng Kitô.” (1) Tại sao? Ðây là câu trả lời của ÐHY : “Thánh giá và dây đeo này không những là kỷ niệm quý giá về những năm tù đầy, nhưng còn là một nhắc nhớ liên lỉ cho tôi biết rằng chỉ có đức ái Kitô mới có thể hoán cải tâm hồn, chứ không phải vũ khí, lời hăm dọa hay truyền thông. Những người canh gác tôi rất khó biết khi nào tôi nói về lòng yêu thương kẻ thù, sự hòa giải và ơn tha thứ.” (2) Khi còn sinh tiền, đi đâu ÐHY Nguyễn Văn Thuận cũng khoe cây Thánh giá Người đã dầy công tác tạc trong lao tù. Cây Thánh Giá đã khắc sâu trong tâm hồn người như một hồng ân và một dấu chỉ độc nhất giúp người nhận biết và đón nhận Vua Công Chính đang cai trị Nước Thiên Chúa bằng tình yêu bất bạo động. ÐĂNG QUANG TRONG NƯỚC MẮT Giây phút cuối cùng trên thánh giá thật ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho Chúa thực hiện những điều vĩ đại nhất trong cuộc đời. Chưa bao giờ Chúa trải qua cơn đau khổ, nhục nhã cùng cực như vậy. Chỉ còn khoảnh khắc nữa, Chúa sẽ bị đẩy vào cõi thinh lặng ngàn thu. Nhưng chính lúc đó, Chúa đã hoàn thành sứ mạng cao cả nhất, sứ mạng công chính hóa nhân loại. Vua Công Chính đã đăng quang trong một khung cảnh ngược đời. Khác hẳn mọi vua chúa trần gian, Chúa đã chọn giây phút nhục nhã nhất để tỏ ra tất cả vinh quang Thiên Chúa. Hậu cảnh càng đen tối càng làm nổi bật những nét công chính vĩ đại trong tình yêu Thiên Chúa. Trong khung cảnh tối tăm và giữa những tên đại gian ác, Con Chúa đã lên ngôi dẫn theo cả một đàn em đông đúc. Kể từ giờ phút đó, Thiên Chúa “đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái ; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.”(Cl 1:13-14) Nhân loại đã xúc phạm đến Thiên Chúa là Ðấng Công Chính. Ðó là sự bất công vô cùng đối với Thiên Chúa. Ðồng thời họ đánh mất sư công chính thuở ban đầu. Không ai có thể đền bù nổi sự mất mát lớn lao đó. Nếu Con Chúa không lấy cái chết nhục nhã để trả lẽ công bình cho Thiên Chúa, nhân loại muôn đời không bao giờ được công chính hóa. Hình ảnh Thiên Chúa vĩnh viễn xóa tan trong con người. May thay, Con Thiên Chúa đã đến gánh tội trần gian và chấp nhận mọi đau thương, nên con người mới lấy lại địa vị làm con Thiên Chúa. Chính lúc đòi Thánh Tử đền thay tội trần gian, Thiên Chúa đã mạc khải tất cả tình yêu vô cùng lớn lao cho nhân loại. “Ðể cứu đầy tớ, Chúa đã hy sinh chính Con yêu.”(Lễ Phục Sinh) Hai mặt công bình và tình yêu đã tìm được hòa điệu tuyệt vời nơi Ðức Kitô, Ðấng đã chiến thắng và cứu vớt tất cả từ cây Thánh Giá. Không có cái nhìn sâu xa đó, những người Do thái lại lên giọng thách thức Chúa : “Ông hãy cứu lấy mình !”(Lc 23:35) Câu nói được lặp lại ba lần, cho thấy công cuộc cứu độ là vấn đề chính mọi người đều quan tâm ở đây. Lần thứ nhất phát xuất từ miệng những người cầm quyền. Họ tưởng quyền bính là tuyệt đối. Họ đã không cứu, thì không ai có thể thoát khỏi tử thần. Trớ trêu thay, chính lúc họ thách thức, không những Chúa đã tự cứu chính mình, mà cả nhân loại. Thật là phi thường và bất ngờ! Lần thứ hai những người lính cũng hò hét ngạo mạn Chúa. Theo họ, nếu thực sự là vua dân Do thái, Chúa Giêsu phải chiến đấu, như họ thường trực diện tiêu diệt quân thù. Họ muốn nhắc nhở Chúa phải triệt tiêu những điều bất chính trong trần gian. Càng gào to, họ càng không hiểu chút gì về vương quyền và vương quốc của Chúa Giêsu. Chúa không nghe theo luận điệu của họ để tiêu diệt kẻ thù trước mắt. Người không chống cự hay giận dữ. Nhưng Người phó thác số phận và cuộc đời trong tay Chúa Cha. Lần thứ ba tiếng nhục mạ vang lên từ miệng tên gian phi. Tuy cùng chung số phận, kẻ trộm bên tả lên tiếng nghi ngờ và thách thức Chúa. Chúa nhường lời cho người đồng phạm của y đáp trả hắn đích đáng. Chỉ cần một chút lương tri, người trộm lành lý luận với đồng phạm về bản chất công lý : “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!”(Lc 23:41) Lẽ tự nhiên, có vay có trả. Tâm thức đó phản ảnh đức công chính nơi Thiên Chúa. Người trộm lành đã tỏ ra hiểu biết Chúa chính xác. Không những thế, dù đang đau đớn cùng cực, anh vẫn tin tưởng kêu lên : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”(Lc 23:42) Lập tức Chúa nói với anh : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng.”(Lc 23:43) Như một ngôn sứ vĩ đại, Chúa đã nói lên một sự thật, sự thật về lòng thương xót vô điều kiện của Chúa. Không phải chỉ bằng lời nói, nhưng qua hành động, Người đã chu toàn sứ mệnh dù đang hấp hối : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”(Mc 2:17) Thiên Chúa có cái nhìn khác hẳn con người. Ơn cứu độ không thực hiện theo bộ diện bên ngoài. Ơn cứu độ là sự công chính hóa toàn diện, phát xuất tư tình yêu Thiên Chúa. Người muốn cứu vớt tự bên trong và hướng con người đến hạnh phúc đích thực. Người không muốn biểu diễn những pha ngoạn mục trước mắt người đời. Nhưng Người thực hiện tức khắc những gì đã hứa cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa mạc khải tình yêu vĩ đại và hoàn toàn nhưng không khi Chúa tỏ lòng thương xót đối với người trộm lành. Người trộm lành trở thành biểu tượng cho những muốn ai đón nhận ơn tha thứ sâu xa của Thiên Chúa. Chính nhờ tình yêu, Chúa Kitô đã biến đổi con người hoàn toàn. Người đến để cải hóa chúng ta. Người đưa dẫn chúng ta qua nẻo đường mầu nhiệm tới cảnh trời mới đất mới. Ðó là cách khiến Chúa Kitô trở thành vị vua rất phi thường. Ngày xưa, các ngôn sứ hay các nhân vật Cựu ước chỉ ảnh hưởng bên ngoài qua các lề luật. Khác với họ, Chúa Giêsu biến đổi tận nội tâm con người nhờ ân sủng. Chúa không nói nhiều. Nhưng Người biến chúng ta thành tạo vật mới và trở thành con Thiên Chúa, vì đã đươc công chính hóa. Từ đó, không những là Vua Công Chính, Người còn là Tạo Hóa. Thật vậy, “trong Người, muôn vật được tạo thành.”(Cl 1:15) Không có vị vua nào có thể sánh ví với Người. Lãnh thổ của Người bao trùm vạn vật, vì “tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.”(Cl 1:16) Nói khác, Người là điểm quy tụ muôn loài. Dù sống giữa những đối kháng, Người vẫn có khả năng hòa giải, vì có thể làm cho mọi loài nên công chính. Người là Vua Hòa Bình. Thật vậy, “nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.”(Cl 1:20) Trên bàn thờ thập giá, Người đã trở thành vị Thượng Tế và Hi tế để hòa giải, nối kết và hoàn thành mọi việc trong đất trời (x. Cl 1:19). CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH Nhìn lên Thánh giá, nếu không có đức tin, sẽ không thể hiểu tại sao Vua Công Chính lại trở thành Vua Hòa Bình. Nhưng thực sự khi chết cực kỳ đau khổ trên Thánh giá, Người đã trả lại công lý, mạc khải tình yêu và đem lại ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại. Ðó là những điều kiện cho một nền hòa bình đích thực, hòa bình không do bạo động. Quả thế, “không thể có hòa bình, nếu không có công lý. Không có công lý nếu không tha thứ.” (3) Nhìn vào thực tế, ÐGH Gioan Phaolô II lý luận : “Trong tình thế hiện tại, làm sao chúng ta có thể nói về công lý và sự tha thứ như nguồn suối và điều kiện hòa bình? Chúng ta có thể và phải nói, dù khó khăn tới mấy. Khó khăn vì thường tưởng rằng công lý và sự tha thứ không thể dung hợp. Nhưng tha thứ đối nghịch với sự oán hận và trả thù, chứ không với công lý. Thực vậy, hòa bình đích thực là “công trình của công lý.” (Is 32:17) Theo Công đồng Vatican II, ‘hòa bình là kết quả việc ổn định trật tự thiên nhiên do Ðấng Tạo Hóa đã ghi khắc vào xã hội loài người và phải được con người luôn khát vọng nền công lý hoàn hảo hơn thể hiện ra hành động.’ (Gaudium et Spes, 78) Bởi đó, hòa bình đích thực là kết quả công lý. Nhưng vì công lý nhân loại mong manh và bất toàn, lệ thuộc vào những giới hạn và tính ích kỷ của cá nhân và phe nhóm, nên nó phải được bổ túc bằng sự tha thứ, có sức chữa lành và tái thiết tận nền tảng những mối tương quan đang gặp trục trặc.” (4) Vì thế, tuần cuối cùng năm phụng vụ là cơ hội thuận tiện nhất cho chúng ta đi tìm điểm tựa vững chắc cho công lý, hòa bình và ơn cứu độ nơi Thánh Giá. Chính nhờ Thánh Giá, Chúa Giêsu trở thành “hòa bình của chúng ta.” (Ep 2:14) Người đã phá vỡ bức tường thù hận ngăn cách dân chúng và hòa giải họ với Thiên Chúa (x. Ep 2:14-16). Như vậy, Người đã hóa giải mọi đối kháng và công chính hóa nhân loại theo đúng chương trình của Thiên Chúa. “Lời hứa hòa bình trong suốt Cựu ước đã thực hiện trọn vẹn nơi chính con người Chúa Giêsu. Thực vậy, hòa bình là phẩm tính tuyệt hảo của thời Thiên Sai, gồm mọi hiệu quả tốt đẹp khác của ơn cứu độ. Trong tiếng Do thái, nguyên nghĩa chữ ‘shalom’ là ‘sự hoàn thành. (x. Is 9:5 tt; Mk 5:1-4) Vương quốc Thiên Sai chính xác là vương quốc hòa bình (x. G 25:2; Tv 29:11; 37:11; 72:3, 7; 85:9, 1; 119:165; 125:5; 128:6; 147:14; Dc 8:10; Is 26:3,12; 32:17 tt.; 52:7; 54:10; 57:19; 60:17; 66:12; Hg 2:9; Dc 9:10; v.v.).” (5) Như thế, Thánh giá đã có một chiều kích vũ trụ, bao trùm toàn thể nhân loại. Hơn lúc nào, con người cần sống chung hòa bình. Nhưng nếu không học nơi Thánh giá, họ không biết cách tha thứ, yêu thương và sống công chính. Bởi thế, chỉ Thánh Giá mới dạy chúng ta bài học sâu xa về hòa bình. “Hòa bình là một giá trị và một bổn phận chung của mọi người. Nền tảng của nó thuộc lãnh vực lý trí và luân lý của xã hội, bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, ‘cội nguồn đầu tiên của vạn vật, chân lý cốt tử và là sự thiện tuyệt đối.’ Hòa bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ là duy trì thế cân bằng lực lượng giữa những bên đối nghịch. Hơn nữa, muốn hòa bình, phải hiểu đúng về nhân vị và cần thiết lập trật tự dựa trên công lý và tình yêu. Hòa bình bị đe dọa khi con người không có tất cả những gì xứng với nhân vị của họ, khi phẩm giá họ không được tôn trọng và khi đời sống dân sự không hướng đến thiện ích chung. Muốn xây dựng một xã hội hòa bình và phát triển toàn thể cá nhân, các dân tộc, và các quốc gia, phải bảo vệ và cổ võ nhân quyền.” (6) Khi bị treo trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã cho thấy tất cả giá trị lớn lao của hòa bình đều có nguồn gốc sâu xa nơi Thiên Chúa. Ðồng thời, chính Chúa đã trả lại cho con người tất cả giá trị quý báu nhất là nhân phẩm. Chính Chúa đã làm cho con người đáng được Thiên Chúa tôn trọng. Quả thế, công lý và tình yêu đã trở lại với con người. Nhờ được công chính hóa, con người còn lên tới một địa vị cao hơn nhân phẩm. Con người trở thành con Thiên Chúa trong một gia đình có Chúa Giêsu “là trưởng tử,” (Cl 1:18) một Hội thánh có Chúa là đầu (x. Cl 1:18). TÌNH YÊU BẤT BẠO ÐỘNG Khi Vua Công Chính lên ngôi, con người tìm lại được tất cả những gì đã mất. Không những nhân phẩm được phục hồi, con người còn được sống và sống dồi dào trong tình yêu và ân sủng Thiên Chúa. Ðúng như Chúa nói : “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12:32) Chúa kéo mọi người lên không phải bằng bạo lực, nhưng bằng tình yêu tha thứ, bất bạo động và công chính hóa. Chính người trộm lành đã làm chứng : “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:41) Hành động bạo lực đã đưa đến cái chết. Tình yêu bất bạo động đã được nêu cao như một bài học nhân ái và công chính. “Chúa đã dạy các môn đệ bản chất bất bạo động của tình yêu có tính thánh thiêng và sức mạnh cứu độ.” (7) Quả thực, bản chất bất bạo động lộ rõ trong lời cuối của Chúa : "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm."(Lc 23:34) Việc họ làm đầy bạo động, nhưng đã phải đầu hàng trước tình yêu bất bạo động của Chúa. Tất cả sức mạnh cứu độ nằm ở chỗ đó. Thiên Chúa là một Thiên Chúa tình yêu bất bạo động. Ðạo lý Thiên sai là Con đường tình yêu bất bạo động. Kitô hữu là một người có tình yêu bất bạo động. Giáo hội phải là Cộng đồng mới với tình yêu bất bạo động. Ðường hướng bất bạo động trọn vẹn của Tin Mừng kêu gọi chúng ta thay đổi cách tư tưởng, nói năng, hành động và lối sống tình cảm nữa. “Nhiệt lực cần cho việc điều hành các nước trên thế giới là bạo động. Ðó là lý do tại sao Chúa Giêsu không chấp thuận cơn cám dỗ trong sa mạc khi ma quỷ dâng Chúa quyền thống trị các nước trên thế giới. Ðó là lý do tại sao nhà nước không phải là đối tượng cứu độ trong Tin Mừng. Quyền lực có khả năng biến đổi. Chúa Giêsu thi hành nhiều thứ quyền lực khác. Quyền chữa lành, quyền tha tội, quyền yêu kẻ thù và quyền thương xót là tất cả mọi hình thức quyền lực và tất cả đã làm thay đổi hạnh phúc con người đời này cũng như đời sau. Thực vậy, thánh Phaolô gọi Chúa Giêsu và Thánh giá Chúa là ‘sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa’(1 C 1:24). Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chú tâm tới quyền lực Satan trao tặng, vì quyền hành đó là bạo lực giết người. Chúa Giêsu không chấp nhận trở thành vua dân Do thái hay thủ tướng của một cơ chế chính trị.” (8) Trong khi đó, để bảo vệ an ninh và hạnh phúc cho một số nhỏ, nhiều nhà nước trên thế giới đang chà đạp nhân phẩm. Mạng sống con người không còn được tôn trọng. Các quyền căn bản nhất cũng bị tước đoạt. Người ta dùng mọi hình thức khủng bố và bạo động để đàn áp con người. Xã hội sẽ đi về đâu khi tràn ngập những hình thức bạo động như thế?! Nhạc sĩ Tuấn Khanh đau đớn nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam hôm nay: “Rồi mai đây, chúng ta sẽ làm một tấm bia tưởng niệm cho lòng nhân ái của con người, lòng kính trọng cho nền giáo dục. Tấm bia có thể sẽ được dựng ở quảng trường thành phố, khắc ghi với dòng chữ “ở đất nước này, nơi đây, đã từng có một giai đoạn, con người đối xử với nhau như dã thú. Công an đã nhét súng vào họng thường dân để tra khảo. Thầy cô đã giao học trò mình cho những người có vũ trang đánh đập. Người cùng màu da đã nhục hình trẻ con 10 năm. Thế hệ trẻ đã hận thù nhà trường, căm hận xã hội và cười chê, phỉ nhổ vào nền đạo đức giáo khoa... và tất cả những điều đó, đều đã bị lãng quên trong sự vô và cố tình của của nhiều tầng lớp con người, kể cả quan chức có trách nhiệm. Những điều dị thường đó, xảy ra hàng ngày, khiến những giọt nước mắt khóc thương cho bé trai 13 tuổi tự tử vì danh dự 47,000 đồng đã rơi ít đi, niềm vui cho bé gái bị nhà trường tra khảo đến phát điên vì 47,800 đồng oan, nay đã nói lại được cũng lặng lẽ hơn. Xã hội đã chai lì, con người đã làm quen với những điều bất khả mà nay quá thường nhật”. (9) Ðàng khác, dưới sức ép của quyền lực nào, các tôn giáo phải chịu thiệt thòi về mọi mặt như hiện nay ? Ðiển hình, “Hòa thượng Quảng Độ nói trước tập thể Dân oan khiếu kiện tại Văn phòng 2 Quốc hội ở Sài Gòn ngày 17-7-2007: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng là nạn nhân của chế độ như đồng bào. Giáo hội chúng tôi cũng bị cướp đoạt tất cả mọi cơ sở, từ giáo dục, từ thiện cho đến chùa viện….. Giáo hội chúng tôi cũng đã từng khiếu kiện suốt ba mươi năm qua. Cho đến nay đã có cả nghìn bức văn thư khiếu kiện, mà họ không hề phản hồi một văn thư nào, không giải quyết gì cả. Họ coi dân như cỏ rác”. Riêng Công giáo, thì Nhà nước vẫn tiếp tục cướp 102/107 ha của đan viện Thiên An, Huế, cướp 17/23.5 ha của linh địa La Vang, Quảng Trị cùng hàng ngàn cơ sở (tu viện, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, viện mồ côi…)” (10) Ðó là những thiệt hại vật chất. Nhưng thiệt hại đó làm sao so sánh với những thiệt hại về tinh thần ?! Thực vậy, “Các tôn giáo vẫn không có được báo chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình của riêng mình.” (11) Ðường lối khủng bố và bạo lực sẽ đưa xã hội Việt Nam về đâu ? Tự bản chất tôn giáo bất bạo động. Tôn giáo như nước. Ai có thể coi thường sức mạnh của nước ? Hãy nhìn gương Miến Ðiện, Ba lan để học lấy bài học về sức mạnh của thế lực bất bạo động. “Nhu thắng cương. Nhược thắng cường.” Ðông Tây Kim Cổ thời nào cũng thế thôi ! Tóm lại, chỉ có con đường bất bạo động của Vua Công Chính mới dẫn con người đến công lý, hòa bình và tiến bộ thực sự. Chúa là nạn nhân của bạo động, nhưng đã vượt thắng bằng chính tình yêu bất bạo động của mình. Lạy Chúa, Chúa đã mạc khải bản chất tình yêu bất bạo động như một sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết nhìn lên Thánh Giá để học bài học tha thứ và thấy tất cả vinh quang của Vua Công Chính trong công cuộc cứu độ nhân loại. Amen.
1. http://www.vietcatholic.net/News/Html/47319.htm 2. Nguyễn Văn Thuận, “Kinh Nghiệm về Quyền Lực Giải Thoát của Thiên Chúa,” Diễn Văn tại Hội Nghị về Giáo Dục Tôn Giáo tại Los Angeles, trước khi người qua đời năm 2002. 3. Gioan Phaolô II, Thông Ðiệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2002 http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/messages/peace/documents/hf_jp- ii_mes_20011211_xxxv-world-day-for-peace_en.html 4. ibid. 5. Toát Yếu Giáo Lý Giáo Hội về Xã hội, 491. 6. ibid., 494. 7. McCarthy, E. C., http://centerforchristiannonviolence.org/downloads/WEB_2TeachWJT_04a.pdf 8. ibid. 9. http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=69514 10. Phan Văn Lợi, http://tiengnoigiaodan.net/anews/0711_060.html 11. ibid.
Thầy Đến Là Để Phục Vụ. Lc 23, 35-43. Anh chị em thân mến, Bài đọc một hôm nay gợi lại cho chúng ta cảnh 12 chi tộc It-ra-en họp nhau tại Heb-ron để nhận Đa-vit làm vua của mình và bày tỏ lòng trung thành với ông. Mãi sau này, người Do-thái thời Đức Giêsu cũng phải chịu sự cai trị của vua Hê-rô-đê và đế quốc Rô-ma. Họ đang ở trong một tình trạng đáng thương, vô vọng và vì thế lại hoài niệm về cái quá khứ vinh quang, khi họ có đại vương Đa-vít làm vị vua mục tử của mình. Vua Đa-vit cũng có những lầm lỗi riêng, nhưng tất cả mọi người đều đứng về phía ông. Các chi tộc đã nói với Đa-vit: “này chúng tôi đây, là xương và là thịt ngài”. Bất chấp sự yếu đuối do phận người của vua, Thiên Chúa vẫn dùng ông để thống nhất 12 chi tộc rải rác thành một vương quốc hùng mạnh. Dưới sự cai trị của Hê-rô-đê và sự chiếm đóng của người Rô-ma, dân tộc đau khổ này không chỉ hoài niệm về những khoảnh khắc vinh quang trong quá khứ mà họ còn trông chờ một Đấng Mê-si-a, một vị vua như Đa-vit đến giải phóng họ. Họ hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ lại một lần nữa, như Người đã làm trong quá khứ, giải thoát họ khỏi những người chèn ép họ. Vậy thì, vị vua được chờ đợi trong thời gian dài này đang ở đâu và làm sao để họ nhận ra vị vua này khi Người xuất hiện? Người chắc chắn được ngụy trang theo một cách thức người ta không thể ngờ tới nhất, thậm chí là ghê tởm – bị treo trên thập giá! Nhằm làm bẽ mặt và châm biếm người Do-thái, Phi-la-tô đã đặt trên thánh giá của Đức Giêsu tấm bảng, “Đây là vua dân Do-thái”. Làm sao vị vua này lại ở một nơi nhục nhã đến thế? Từ Chúa Nhật thứ 13 trong lịch phụng vụ, Thánh Lu-ca đã kể cho chúng ta rằng Đức Giêsu “cương quyết lên đường đi Giê-ru-sa-lem” (9, 51-62) và như vậy chúng ta đang được đồng hành cùng với Người và các môn đệ của Người đi đến thành thánh Giê-ru-sa-lem. Dọc đường, thánh Lu-ca thỉnh thoảng lại nhắc nhở chúng ta rằng họ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem. (Trình thuật về hành trình này bắt đầu từ 9, 51 và kết thúc ở 19, 28, khi Đức Giêsu tiến vào Giê-ru-sa-lem.) Trong khi đi đường với các môn đệ của mình, Đức Giêsu vừa thực hiện các phép lạ, vừa dạy họ cầu nguyện và cho họ biết cái giá của việc làm môn đệ Người, sai họ đi thực hiện sứ vụ, gặp chống đối từ các nhà lãnh đạo tôn giáo, tiên báo về cuộc thương khó Người phải chịu, cảnh báo về cuộc khủng hoảng sẽ xảy đến, cổ vũ niềm tin của họ và khuyến khích họ kiên trì cho đến khi Con Người trở lại. Dầu vậy, khi họ đến Giê-ru-sa-lem và những gì Đức Giêsu đã tiên báo trở thành sự thật, Người bị bắt và bị đóng đinh, các môn đệ vẫn hoàn toàn bị sốc và bị nghiền nát trong sự tuyệt vọng và rồi họ phân tán tan tác. Trong trình thuật của Lu-ca về cuộc hành quyết, những người còn đứng lại cho tới cuối cùng là: đám đông đứng nhìn, những người lính đang chế giễu, các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng đang cười nhạo và ở đàng xa, “những người bạn của Người và những người phụ nữ đã đi theo Người từ Ga-li-lê…(23, 49). Dĩ nhiên, cũng có hai tên tội phạm treo hai bên cạnh Người. Đó là một ngai vàng cô đơn và một triều thiên không quyền lực dành cho “vị Vua người Do-thái” này. Mỉa mai thay, một tên tội phạm cùng bị treo với Người lại là người có đức tin và anh đã xin Đức Giêsu nhớ đến anh khi Người bước vào Nước của Người. Các vị vua và nữ hoàng, không chỉ là bù nhìn, nắm quyền hành trên thần dân của họ. Đó là thứ quyền lực “từ trên xuống” như quyền hành chúng ta có đối với đồ vật, thú vật và chúng lệ thuộc vào con người. Chúng ta thấy một hình ảnh về quyền lực như vậy ở một căn cứ Hải quân khi một viên trung sĩ huấn luyện kỹ năng hét lên, “Chú ý” và những tân binh đứng ngay đơ như cột, tròng mắt đứng yên, ngẩng cao đầu. Khi chúng ta gọi Đức Giêsu là vua của chúng ta, nhiều người tin rằng đó cũng là một loại quyền lực Người có thể sử dụng bất cứ khi nào Người muốn. Nhưng hôm nay, trên cây thập giá, quyền lực đó ở đâu? Tại sao Người không sử dụng nó để xuống khỏi thập giá, nghiền nát kẻ thù và công bố sự khai mào của vương quốc Người? Thay vào đó, nếu chúng ta muốn nhìn thấy vị vua của mình, chúng ta phải nhìn vào cảnh tượng khủng khiếp của cây thập giá và sẽ thấy Người bị trói chặt vào xà ngang của cây thập giá đó. Điều gì đang diễn ra vậy? Đức Giêsu, vị vua, đang chỉ cho chúng ta thấy một loại quyền lực khác từ trên cây thập giá. Thánh Phao-lô, trong thư gửi tín hữu Phi-lip-phê, nói với chúng ta rằng Đức Giêsu đã hủy mình ra không, đặt qua một bên những ưu phẩm và đặc quyền Thiên Chúa để hạ mình và trở thành con người – Người hạ Mình tới mức sẵn sàng đón nhận cái chết nhục nhã trên thập giá. Quyền lực của Đức Giêsu không được thực hiện bằng sức mạnh, nhưng bằng việc mời gọi chúng ta nên một với Người. Người trao ban chính Mình cho chúng ta trong một tương quan bền vững, ngay cả khi nó có vẻ yếu ớt. Trong tương quan đó, chúng ta chia sẻ quyền lực của Người – một quyền lực có khả năng chữa lành và tha thứ; một quyền lực làm cho chúng ta trở thành kẻ phục vụ Người trong sứ vụ hòa giải của Người. Trong tương quan với Đức Giêsu, chúng ta trở nên mãnh mẽ, không phải bằng việc thâu tóm quyền lực và cai trị người khác, nhưng là chia sẻ sự sống của Người trong tương quan giữa chúng ta với tha nhân. Qua việc đón nhận cây thập giá, Đức Giêsu đã bước vào sự liên đới với những thành phần thấp kém nhất trong xã hội thời đó. Ai có thể hèn kém hơn một tội nhân bị kết án tử trên thập giá? Đức Giêsu bị đóng đinh là một dấu hiệu qua đó Người trao ban chính mình cho mọi người, đặc biệt là những thành phần bị coi là thấp kém nhất, không phải bằng việc áp đặt bản thân Người trên chúng ta, nhưng bằng việc trao ban chính Người cho chúng ta trong sự yếu đuối và có vẻ thất bại. Trong khi những nhà cai trị trần thế, những vị quân chủ và ngay cả một vài quyền lực tôn giáo, tạo ảnh hưởng của bản thân họ trên chúng ta bằng việc khẳng định quyền lực của họ để đạt được những mục đích cá nhân, thì quyền lực của Đức Giêsu được tỏ hiện trong việc Người phục vụ chúng ta và sẵn lòng hy sinh mạng sống vì chúng ta. Chúng ta được tự do để chấp nhận hay chối bỏ luật của Người; Người hoàn toàn không bắt ép chúng ta. Người không muốn chúng ta trở thành những thần dân lệ thuộc của Người mà là những người bạn của Người. (“Thầy không còn gọi anh em là những nô lệ nữa, vì một người nô lệ không biết những việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu…” Ga 15, 15). Thực vậy, những ai đón nhận triều đại của Người sẽ sống như những anh chị em trong vương quốc của Người, vương quốc đó đã đang hiện diện trong thế giới này rồi. Thế giới này từng ngày vẫn luôn lôi kéo chúng ta chọn đi theo luật của những quyền lực và vương quốc khác – lòng tham, bạo lực, độc ác, kiêu ngạo, sự thờ ơ… Như vậy, việc đón nhận luật của Đức Giêsu không phải là một hành động chọn lựa một lần thay cho tất cả, nhưng nó cần được canh tân mỗi ngày nhờ những chọn lựa theo chủ ý của chúng ta. Là những thành viên trong triều đại của Thiên Chúa, dưới quyền của vua Giêsu, đôi khi có thể lại là một điều gây thất vọng. Phần nhiều triều đại của Người vẫn còn chưa hoàn trọn và phân mảnh trong thế giới của chúng ta. Chỉ cần liếc qua những vấn đề nổi cộm ngày nay chúng ta cũng đủ thấy rõ điều đó. Còn nhiều việc cần phải làm để biến “Vương quốc bình an” của Đức Giêsu trở thành một thực tại trong cuộc sống này – không chỉ nơi thế giới quanh ta và trong cộng đoàn Ki-tô hữu chúng ta, mà là chính trong bản thân mỗi người chúng ta nữa. Vì vậy, chúng ta vẫn sống trong niềm hy vọng và quay trở lại đây mỗi tuần để đón nhận chất dinh dưỡng chúng ta cần – đó là Lời Chúa và Mình máu thánh Đức Giêsu, ngõ hầu chúng ta có thể sống trong triều đại Thiên Chúa, không chỉ như những đầy tớ trung thành, nhưng là như những anh em, chị em của Vua Giêsu.
Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em Học viện Đaminh chuyển ngữ)
ĐỨC GIÊSU KITÔ SỬ DỤNG QUYỀN LỰC NHƯ THẾ NÀO? 2 Sm 5,1-3; Tv 122; Cl 1,12-20; Lc 23,35-43 Kính thưa quý vị, Từ chương 9, thánh Luca đã kể về hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem. Các môn đệ đi theo Đức Giêsu hy vọng những điều lớn lao một khi Người đến nơi đó. Thoạt đầu, khi họ đến nơi, mọi thứ có vẻ tốt lành như mong đợi, vì đám đông lớn tiếng tung hô Đức Giêsu khi Người vào thành (Lc 19,28-40). Hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Nếu mọi thứ suôn sẻ theo như các môn đệ hy vọng, thì hôm nay chúng ta sẽ đọc bài đọc về sự tôn phong của Đức Giêsu trên đất nước Israel. Nhưng đây, chúng ta lại tìm thấy Đức Giêsu được tôn phong trên thập giá. Đức Giêsu chịu đóng đinh với hai tội phạm. Nhưng những người lãnh đạo không quan tâm đến các tội phạm đó đang bị treo hai bên Đức Giêsu. Sự nhạo báng của họ nhắm thẳng vào “Vua dân Dothái.” Những kẻ hành hạ Đức Giêsu chỉ muốn chứng kiến Người chết. Một khi Người chết rồi, thì sự đe dọa cho cấp trên của họ không còn nữa, và họ sẽ tiếp tục những âm mưu hợp tác với quân Rôma. Bởi lẽ, Đức Giêsu không còn có mặt ở đó nữa để làm sụp đổ những mẫu người được đặt lên nhằm bảo vệ sự yên ổn của họ. Những người bình dị đặt niềm hy vọng vào Đức Giêsu thì lại thấy niềm hy vọng của mình phai mờ đi theo từng nhịp thở yếu dần của Đức Giêsu trên thập giá, nhưng Người đã làm cho họ có khả năng cảm nhận được lòng trắc ẩn tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Những ai đi theo và chào đón Đức Giêsu với lòng nhiệt thành khi Người tiến vào Giêrusalem đều nhiều lần nhún vai tỏ vẻ thất vọng trong cuộc sống. Đấng “cứu tinh” khác mà họ đặt niềm hy vọng đã đến và ra đi. Khi nhìn lên Đức Giêsu trên thập giá, họ băn khoăn không biết Thiên Chúa đang ở đâu. Liệu Đức Giêsu có phải là ngôn sứ của Thiên Chúa hay không? Lẽ nào Người lại không được trao quyền chữa lành và tha tội? Chẳng phải Người đã chữa lành và tha tội nhiều lần cho họ đó sao? Sao Thiên Chúa lại để cho Đức Giêsu bị bắt, hành hạ và bị treo trên thập giá? Thế cuối cùng Thiên Chúa đứng về phía nào? Phải chăng Thiên Chúa đã đứng về phía những người bị lãng quên như Đức Giêsu đã rao giảng? Nếu quả thật như vậy, tại sao Thiên Chúa không lập tức ra tay hành động để giải cứu Đức Giêsu? Một lần nữa, tại sao lại để cho kẻ xấu xa đánh bại một tâm hồn hiền lành và cao quý? Những câu hỏi của họ dễ dàng được nêu lên trong thời đại chúng ta. Có những thứ chẳng thay đổi gì nhiều đó sao? Bởi lẽ, bóng tối vẫn còn ngự trị; những người vô tội vẫn bị bắt nạt; kẻ mạnh thế vẫn áp bức người cô thân. Nhưng ngay trong cơn hấp hối, kẻ phạm tội bên cạnh Đức Giêsu đã biết trông mong vào Người và hy vọng được Người đón nhận vào nước Chúa. Ắt hẳn đó là sự biểu lộ ân sủng của Thiên Chúa qua công việc Người thực hiện. Quả thật, Thiên Chúa không vắng mặt như ta tưởng. Chỉ khi Thiên Chúa xuất hiện rõ ràng nhất với những gì đang xảy ra, và ngày đen tối ập đến do những việc xấu xa gây nên, thì chính bằng chứng về thân thế của Thiên Chúa lại được thể hiện nơi kẻ phạm tội đang đau đớn rằng, “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Tất nhiên, Đức Giêsu sẽ nhớ đến ông ta. Đức Giêsu luôn luôn tỏ lòng hiếu khách với những ai không được nơi nào tiếp đón. Tại bàn ăn của Đức Giêsu, những người không cùng địa vị đều được ngồi vào chỗ danh dự. Bất cứ khi nào, Đức Giêsu đều đáp ứng cho kẻ nghèo khó và lầm lũi biết tìm đến Người để xin được chữa lành và tha thứ tội lỗi. Những điều Người đã thực thi trong suốt hành trình sứ vụ, thì Người vẫn tiếp tục thực hiện trên thập giá, đó là tha thứ và đón nhận kẻ xa lạ vào vương quốc của Người. Phía trên đầu thập giá của Đức Giêsu có một bảng hiệu nhằm phản đối Người ghi rằng: “Đây là vua dân Dothái.” Những người lính Rôma chế nhạo và khích bác Người rằng: “Nếu ông là vua dân Dothái thì hãy tự cứu lấy mình đi.” Dường như họ muốn nói rằng: “Đây là điều mà chúng tôi trừng phạt đối với những ai chống lại luật Rôma.” Một trong hai tên tội phạm lại sỉ vả Đức Giêsu khi dùng một danh hiệu khác để gọi Người rằng: “Ông không phải là Đấng Kitô sao?” Có nhiều danh hiệu dành cho Đức Giêsu như muốn tung hô Người; Nhưng chẳng có danh hiệu nào trong số đó tỏ lòng kính trọng hoặc tin tưởng khi tuyên xưng. Những danh hiệu đó là: “Đức Kitô của Thiên Chúa,” “Đấng đã được tuyển chọn,” “Vua dân Dothái.” “Đức Kitô của Thiên Chúa” là cùng với chúng ta trong nỗi đau khổ. “Đấng đã được tuyển chọn” chia sẻ địa vị đặc biệt của Người với chúng ta, và nhờ đó, chúng ta cũng được tuyển chọn. “Vua dân Dothái” cai trị từ trên thập giá, được tìm thấy giữa những tội nhân, và chia sẻ cùng thân phận với họ. Một trong những tội phạm đó đã ý thức được tội lỗi của mình và của đồng bọn, nên mới nói rằng: “Quả thật, chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái.” Ông ta biết mình sẽ chịu xét xử về những gì mình đã gây ra. Kế đến, ông quay sang Đức Giêsu, rồi chân thành và thẳng thắn nói với Người, chứ không cần dùng một danh hiệu nào rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Ông xin được vào vương quốc mà Đức Giêsu đã công bố trên đường lên Giêrusalem. Đức Giêsu vẫn công bố vương quốc đó từ trên thập giá; chính nơi vương quốc đó sự tha thứ được trao ban cho bất cứ ai biết cầu xin, đặc biệt tội nhân đang hấp hối. Thế tội nhân kia đã làm gì xứng đáng để lãnh nhận ơn tha thứ? Xin thưa, ông ta chẳng phải làm gì cả, mà chỉ đơn thuần biết khẩn cầu tha thứ. Có bao giờ cuộc hội nghị đã đạt tỉ lệ tán thành thấp hơn như thời đại ngày nay hay không? Tiến trình chính trị của chúng ta là một trong những cuộc đấu tranh đầy thế lực. Những cuộc đấu tranh mang tính quyền lực đó cũng được thể hiện trên thương trường và trong các mối quan hệ với người khác. Kẻ quyền thế lại bành trướng ý định của họ, lãng quên những ai không có khả năng bảo vệ bản thân, nhưng lại lớn tiếng bênh vực cho quyền lợi của mình. Ngày nay chúng ta vẫn tìm thấy Đức Kitô đang hấp hối trên thập giá. Những loại quyền lực đó là gì vậy? Làm sao Người thu hút được dân chúng từ nơi bất lực như thế? Thánh Luca nói với chúng ta rằng: “Dân chúng thì đứng nhìn...” Họ không sẵn sàng để theo một vị lãnh đạo bị thất bại như thế. Đức Giêsu không chứng tỏ được một loại quyền lực mà nhờ đó trở thành nguồn trợ giúp cho họ khi có nhu cầu. Nhưng Người không có bất cứ một loại quyền lực nào khác. Ngày nay, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng, trong Đức Kitô, “Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái, trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.” Thay vì thống trị trên chúng ta, quyền lực của Đức Giêsu được chứng thực khi Người đem chúng ta vào cộng đoàn mà Người gọi là Vương quốc của Thiên Chúa. Trong vương quốc đó, có những mối quan hệ mới về bình đẳng, công lý, tha thứ và lòng trắc ẩn. Trong vương quốc Đức Vua của ta, các mối quan hệ chúng ta rộng khắp trên toàn thế giới, vì chúng ta làm công việc hòa giải và mang bình an đến giữa các dân tộc. “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” “Hôm nay”, ngay cả một tên tội phạm cũng có thể thay đổi, nhìn chằm vào Đức Kitô, và xin được đón nhận vào vương quốc của Người ngay “hôm nay.” Đó là cách mà Đức Vua sử dụng quyền lực của mình để thống trị từ trên thập giá. Chúng ta sử dụng quyền lực của mình như thế nào? Liệu chúng ta có theo đường lối Đức Vua của chúng ta chính là Đức Kitô, và làm việc để xây dựng cũng như duy trì các mối quan hệ dựa trên tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau hay không? Chúng ta có điều khiển quyền lực của mình để duy trì thế giới quanh ta như trái đất, tôm cá, động vật, chim trời và không khí chăng? Nói cách khác, chúng ta có sử dụng quyền lực của mình để giúp đỡ, khuyến khích, chữa lành, an ủi và trao quyền hành cho những ai bị loại bỏ hay không? Nếu có, thì chúng ta đều là những công dân trong cùng một vương quốc mà Đức Giêsu đã công bố trừ trên thập giá với tên tội phạm đang hấp hối bên cạnh.
| |