Năm C

 
 

Chúa Nhật XXXII Thường Niên - Năm C

2 Mcb 7:1-2.9-14 ; 2 Tx 2:16-3:5 ; Lc 20:27-38

 

An Phong op : Thiên Chúa của kẻ sống

Như Hạ op : Sống

Fr. Jude Siciliano, op : Đối Với Chúa, Tất Cả Đều Đang Sống

Fr. Jude Siciliano, op : Phục Sinh Và Thiên Đàng

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Thực Tại Mới Tương Quan Mới

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Vấn đề sống lại

Lm. Jude Siciliano, op : Thiên Chúa Là Đích Đến Của Chúng Con

Giuse Vũ An Tôn op : Họ Là Con Cái Thiên Chúa, Con Cái Sự Sống Lại

Fr. Jude Siciliano, op : Chúng ta có một tương lai để hướng tới

Fr. Jude Siciliano, op: Để cho lời Chúa được vang xa

 

 


An Phong op

Thiên Chúa của kẻ sống
Lc 20:27-38

Niềm tin vào sự sống đời sau vừa là một khát vọng, vừa là một điều khó khăn đối với con người. Khát vọng vì con người không cảm thấy bằng lòng với cuộc sống này; không thể chấp nhận những bất công còn đầy dẫy mà cuộc sống này không bao giờ có thể giải quyết hoàn toàn; không thể chịu đựng được sự phi lý vì những mất mát, chia lìa của cuộc sống nhân loại phải đón nhận.

Khó khăn vì người ta dễ cảm thấy chắc tâm khi đạt được những thành công, tìm thấy những bảo đảm cho cuộc sống này để mình được sung sướng; hơn là "thả mồi bắt bóng" ở thế giới nào khác.

Những người Sađốc là những người muốn an tâm với những sung sướng rõ ràng như thế; vua Antioco và quần thần của vua thì tưởng ai cũng như thế, nên lấy những hình phạt thể xác để đe dọa các tín hữu.

Niềm tin của người kitô hữu không phải là khinh chê cuộc sống này để "thả mồi bắt bóng", nhưng luôn qui chiếu đời sống của mình vào ngày Thiên Chúa hoàn thành chương trình cứu độ; khi đó Ngài "trả lại" những mất mát, Ngài hoàn thành những khát vọng, Ngài nối lại những chia lìa, Ngài biến đổi những giới hạn nên một "trời mới đất mới".
Người ước vọng hạnh phúc đời sau không phải là người chán đời, bi quan; nhưng là những người tràn đầy lòng yêu thương, sống mãnh liệt niềm khát vọng thực hiện cuộc đời mình cho tốt đẹp hơn, muốn mang lại hạnh phúc cho người khác trọn vẹn hơn.

Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, xác tín điều đó giúp cho người kitô hữu vượt qua lòng ích kỷ, thắng được sự nhát đảm và cảm nhận được giá trị của niềm vui đích thực, niềm vui "là con cái Thiên Chúa, bởi đã được sống lại".

Tâm tình hiệp lễ

Vầng đông dậy, ánh hồng gieo rắc
Chốn thiên cung nhã nhạc vang hòa...

Ấy Vua Cả oai phong lẫm liệt
Cõi âm ty: hủy diệt tiêu tan.
Chân người dẫm nát tử thần
Tù nhân đau khổ ân cần đưa lên.

Ðã im bặt câu than tiếng khóc,
Ðã hết rồi cảnh ngục thê lương,
Sứ thần áo trắng vui mừng
Loan tin Chúa đã vui mừng phục sinh.

Xin cho mọi lòng thành hoan hỉ
Mãi muôn đời mừng lễ Vượt Qua
Tái sinh ơn nghĩa chan hòa
Vang vang khúc khải hoàn ca reo hò.

Muôn lạy Chúa Giêsu từ ái
Ðấng lừng danh đánh bại tử thần.
Ngàn đời hiển trị muôn dân
Cùng Ngôi Thánh Phụ Thánh Thần quang vinh.

Thánh Thi Phục Sinh


Như Hạ op

SỐNG
Lc 20:27-38

Càng bị đe dọa, sự sống càng vùng dậy mãnh liệt. Cái chết là một đe dọa lớn nhất và ghê sợ nhất. Muốn vươn đạt tới sự sống vĩnh hằng, con người phải có một sức mạnh hơn tử thần. Hôm nay, Ðức Giêsu dẫn ta tới một cuộc sống trên cõi thiên thần.

HAI CUỘC SỐNG.

Cuộc sống rất tương đối. Sự sống thật hữu hạn. Thế nhưng niềm tin mở ra một chân trời mới. Thế giới đang tiến về một đỉnh cao dành cho "những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết" (Lc 20:35) Sống trong thế giới đó, con người không còn bị lệ thuộc vào những điều kiện vật chất hữu hạn nữa. Tất cả đều "là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại." (Lc 20:36) Một cuộc lột xác hoàn toàn sẽ đem lại cho nhân loại một sự sống mới chưa từng thấy.

Sự sống bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Bởi vậy, sự sống không thể thua sự chết, không thể bị tắc nghẽn vì những giới hạn tử thần. "Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi ? Tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta." (1 Cr 15:56-57) Nếu không có Ðức Giêsu, chắc chắn tất cả nhân loại sẽ bị tử thần khuất phục. Ðó là điều sỉ nhục đối với Thiên Chúa. Nhưng Ðức Giêsu đã phục sinh để chứng minh Thiên Chúa "không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống" (Lc 20:38) nhờ máu Ðức Giêsu đổ ra trên thập giá. Chính niềm xác tín vào sự sống như thế đã cho ta có quyền hi vọng vào chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa, Ðấng "đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp." (2 Tx 2:16)

Nếu chỉ nhìn theo nhãn quan trần thế, không thể nào có được niềm an ủi và cậy trông đó. Nhóm Xađốc đã dựa trên hiện tại để củng cố "chủ trương không có sự sống lại." (Lc 20:27) Họ hoàn toàn căn cứ vào tương quan hôn nhân để phi bác cả một thế giới thiêng liêng, nơi con người "không thể chết nữa, vì được ngang hàng với thiên thần." (Lc 20:35) Chỉ trong cuộc sinh tồn đắp đổi này, con người mới cần đến hôn nhân để duy trì cuộc sống. Còn trong cõi vĩnh hằng, tại sao cần phải duy trì sự sống bằng những phương tiện của thế giới vật chất nữa ? Hai thế giới khác nhau không thể dựa trên cùng một nền tảng. Lập luận của nhóm Xađốc hoàn toàn nằm ngoài qui luật thiên giới. Họ không thể vượt ra ngoài cõi tục để thấy được cuộc sống của con cái Thiên Chúa, vì họ không phải là con cái sự sống lại. Cuộc sống đó thật là mầu nhiệm và siêu việt, nhưng lại rất thực tiễn vì đáp ứng được niềm ước vọng bất tử của nhân loại và vào chính sự phục sinh của Ðức Giêsu. Thật vậy, "nếu kẻ chết không sống lại, thì Ðức Kitô đã không chỗi dậy. Mà nếu Ðức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em." (1 Cr 15:13.16) Nếu niềm tin chúng ta hoàn toàn hão huyền, làm sao Kitô giáo lại có thể đem lại cho nhân loại một nền văn minh tốt đẹp như vậy ? Thực tế, nhân loại đã được giải thoát khỏi xích xiềng tội lỗi nhờ cuộc phục sinh của Ðức Giêsu. Bởi thế, không thể không có sự sống lại. Ðó là niềm tin căn bản nhất và vững chắc nhất, chi phối toàn thể cuộc sống Kitô hữu.

Niềm tin đó đã bắt nguồn rất sâu xa trong Kinh thánh. Quả thế, "hồi ấy, có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ" (2 Mcb 7:1) dưới thời vua Antiôkhô. Họ đã có tất cả sức mạnh chiến thắng tử thần nhờ "dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hi vọng sẽ được Người cho sống lại." (2 Mcb 7:14) Bao nhiêu cực hình đã không chiến thắng nổi niềm tin vững chắc và đầy quả cảm đó. Nếu "luật pháp của cha ông" (2 Mcb 7:8) đã khiến cho họ có sức mạnh lớn lao đến thế, thì "Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới." (Rm 8:11) Thế nên, niềm tin vào sự sống lại được chính Ba Ngôi bảo đảm. Niềm tin đó đang trổ sinh những mùa màng tươi tốt trên toàn thế giới.

Như vậy Ðức Giêsu đã dùng một lập luận vững chắc để phi bác niềm tin của phai Xađốc. Lập luận đó căn cứ trên thực tế cuộc sống thiên thần và qui chiếu vào Kinh thánh. Chính thực tại lớn lao là "Thiên Chúa của kẻ sống" đã đủ mạnh để áp đảo tất cả những lập luận bênh vực cho sự chết. Ðối với Thiên Chúa, không có vấn đề chết. Vì tất cả đã được Ðức Kitô trả lại sự sống mới bắt nguồn từ Thiên Chúa. 

MỞ RỘNG TẦM NHÌN.

Không có sự sống mới đó, cuộc sống hiện tại sẽ trở thành nhàm chán và vô nghĩa. Nói khác sự sống lại không phải là sự nối tiếp cuộc sống hiện tại. Bởi vậy vấn đề các người Xađốc đặt ra hoàn toàn "trật dơ". Sự sống lại khác tự bản chất, vì con người sẽ "ngang hàng với các thiên thần." (Lc 20:36) Không có niềm hi vọng sống lại, không thể đủ nghị lực và phấn khởi vượt qua những thách đố phi lý của cuộc sống hiện tại. Trái lại, sự sống lại là động cơ thúc đẩy con người vươn tới những mục tiêu siêu việt.

Không mở rộng tầm nhìn, không thể thấy được tất cả ý nghĩa sự sống lại đem lại cho sự sống hôm nay. Sự sống hôm nay đang dẫn tới cái chết. Ðó là một sự phi lý hoàn toàn. Nhưng sự sống lại giúp con người hiểu được tại sao mình sống và đang đi về đâu. Sự sống lại sẽ dẫn con người tới một sự thật : Thiên Chúa là "Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống." (Lc 20:38) Nghĩa là, đối với các tín hữu, không gì, kể cả cái chết, có thể làm họ thất vọng. Những người không có niềm tin vào "Thiên Chúa của kẻ sống", chỉ thích chọn giải pháp dễ dãi của tử thần. Chẳng hạn, những người chủ trương cho chết êm dịu, phá thai, triệt sản, khủng bố v.v hoàn toàn đóng khung tầm nhìn vào những giới hạn trần giới.

Bởi đấy, cần phải mở rộng tầm nhìn vào cõi sống của "con cái sự sống lại" để tìm một giải pháp toàn diện cho những bế tắc hôm nay. Nhưng đừng để bị những kẻ mơ mộng đánh lừa. Họ có thể nhân danh sự sống đời sau để đẩy con người vào cõi chết. Những kẻ khủng bố 11/9/2001 vừa qua cũng tin vào sự sống bất diệt nơi Thiên Chúa. Nhưng họ đã tạo ra bao đau thương cho chính mình và nhân loại. Có một sự mâu thuẫn giữa cuộc sống hiện tại và tương lai trong niềm tin của họ. Mặc dù có sự khác biệt sâu xa, nhưng niềm tin vào cõi bất tử không thể là một lối thoát cho những người tuyệt vọng như vậy.

Bởi đấy niềm tin vào sự sống lại chỉ chính đáng khi đem lại cho con người sức mạnh xây dựng cuộc sống hiện tại tốt đẹp hơn. Niềm tin đó đang là điểm tựa cho nhiều người trong cuộc chiến chống lại tử thần. Ðó là lý do tại sao Kitô hữu không ngừng vận dụng mọi nỗ lực xây dựng nền văn minh sự sống, chống lại nền văn minh sự chết. Từ nay nhờ Ðức Giêsu, trong văn minh sự sống Kitô hữu có thể đem lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại.

Tất cả đều "dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại." (2 Mcb 7:14) Lời hứa đó thực sự đã được thực hiện trên thập giá Ðức Giêsu. Chính Người "là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11:25) của chúng ta. Không có Người, tất cả sẽ trở thành vô nghĩa và vô giá trị, vì tất cả bị thần chết tiêu diệt. Nhưng nếu muốn thoát ách tử thần, Kitô hữu phải "đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hi vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết." (Pl 3:10) Thập giá là con đường dẫn tới sự sống và sự sống lại trong Ðức Giêsu Kitô.  


Fr. Jude Siciliano, OP.

ÐỐI VỚI THIÊN CHÚA, TẤT CẢ ÐỀU ÐANG SỐNG
Lc 20, 27 - 38

Thưa quý vị.

Chúng ta cảm thấy năm phụng vụ C đã gần kết thúc, vấn đề tương lai sẽ ra sao được đưa ra cho chúng ta suy gẫm trong ba tuần tới. Tuần này là về sự sống lại. Nội dung của nó không phải là thế gian sẽ kết thúc thế nào và bao giờ, nhưng tương lai nhân loại ra sao sau khi thời gian chấm dứt, cuộc sống loài người hoàn thành sứ vụ ? Cả hai bài đọc 1 và 3 đều đề cập đến sự kiện sống lại. Bài đọc 1 về cuộc tử nạn của 7 anh em nhà Macabê dưới thời vua Antiôkhô. Bài đọc 3 về một người người phụ nữ qua bảy đời chồng mà không có con, cuối cùng khi sống lại bà là vợ của ai? Câu chuyện đặt trước mắt tín hữu nội dung quan trọng về Ðức tin. Liệu cuộc đời này sẽ chấm dứt vĩnh viễn hay sự liên kết giữa chúng ta với Thiên Chúa sẽ muôn năm tồn tại, bất chấp cái chết và thế giới qua đi? Thực tế chúng ta biết rằng, cuộc sống của mỗi cá nhân trên dương gian không kéo dài mãi mãi, thần chết đánh bại mọi người! Nhưng người Công giáo tin rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi mình. Ngược lại, Ngài luôn liên kết chúng ta với sự sống vĩnh cửu của mình, ngay cả khi thân xác qua đi trong cái chết. Kinh thánh liên tục mạc khải chân lý này. Mối tương giao bền chặt giữa mỗi linh hồn và Thượng đế luôn được Kinh thánh nhắc lại, nó chẳng bao giờ bị bẻ gẫy, dầu là do sức mạnh khủng khiếp của hoả ngục và tử thần. Ðó là lý do Hội thánh luôn thúc giục các tín hữu tin vào bằng chứng của Kinh thánh chứ không phải của khoa học. Thiên Chúa không phải của kẻ chết mà là của người sống. Trước mặt Thiên Chúa tất cả đều đang sống. Khoa học thì chứng minh ngược lại.

Ðể nuôi dưỡng Ðức tin và để kích thích tưởng tượng của các tín hữu, Thánh kinh đã đưa ra nhiều hình ảnh về cuộc sống vĩnh cửu mượn từ các biểu tượng đời này. Ví dụ: Nước hằng sống, Bánh trường sinh, tái sinh, thuộc vương quốc của Thiên Chúa... Dĩ nhiên, chúng chỉ là hình ảnh hoặc ẩn dụ để mô tả một thực tại siêu việt, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ loài người. Hiện nay chúng ta đã lãnh nhận trong linh hồn thực tại ấy và vẫn kéo dài mãi, một khi cuộc đời dương thế chấm dứt. Nhưng ngôn ngữ chỉ là ý niệm chung chung, tổng quát chứ không phải là các chi tiết chính xác. Bởi lẽ chưa ai có kinh nghiệm, ngôn ngữ loài người bất lực trước những sự thật vô hình.

Bà thánh Bernadette Soubirous khi nhìn thấy Ðức Mẹ Vô Nhiễm ở bang Massabielle (Lộ Ðức) đã kinh nghiệm sự bất lực này, cô bé mơ ước được sống trong cõi vô biên với bà lạ, nhưng không làm thế nào diễn tả nổi. Người ta coi cô bé 14 tuổi mắc bệnh loạn trí, ngày nay gọi là bệnh tâm thần và đã đề nghị nhốt cô vào nhà thương điên! Vì vậy ẩn dụ chỉ là hình thức rất nghèo nàn để mô tả đời sống vĩnh cửu mà chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội. Thế nhưng đối với con mắt trần xác thịt, thì đã rõ ràng lắm rồi. Họ cố gắng dùng những hình ảnh mượn từ cuộc sống hay từ óc tưởng tượng lấp đầy chỗ trống và vẽ lên cảnh tượng nào đó trong đầu óc. Ví dụ: Ðền bằng vàng, cửa dát ngọc, lối đi trải nệm đỏ, thiên thần có cánh, đàn ca vô tận... Tuy nhiên, những cảnh tượng ấy về căn bản vẫn là cuộc sống dương gian dù rằng được dùng để miêu tả thiên cung thần tiên. Sự thực thì phải nói chúng ta chẳng hề biết gì cả. Bà thánh Bernadette đã phải vượt một quãng đường dài từ tình trạng ngất trí đến khi tỉnh dậy về cõi dương gian.

Những người Sađucêo trong Phúc âm hôm nay lầm lớn khi dùng một nghi vấn giả lấy từ cuộc sống dương gian để minh chứng tính nghịch lý của sự sống lại, một thực tại siêu nhiên. Theo họ cuộc sống mai sau chỉ là một cuộc du hành liên tục của cuộc đời hiện tại. Bảy người chồng kế tiếp nhau của một người phụ nữ sẽ ở cùng mặt bằng thời gian, vậy thì cuối cùng cô ta sẽ là vợ của ai? Thực chất người Saducêo không tin có đời sau, không tin có thiên thần và sự phục sinh, cho nên đối với họ câu hỏi thật thâm độc, trả lời kiểu nào cũng vô lý, nực cười. Các tín hữu thường xuyên suy tư về vấn đề này, bởi vì đối với họ kẻ chết sống lại là quan trọng. Họ không thể tưởng tượng tổ tiên mình, những người đã khuất, không còn tồn tại. Hằng ngày họ vẫn cầu nguyện cho các kẻ thương yêu đã qua đời, sống chung trong ký ức với họ, cho nên khó mà tách rời kẻ sống người chết ra khỏi trí óc các tín hữu. Hơn nữa họ hằng tin tưởng các kẻ đã chết luôn được Chúa thương yêu ban cho một kiếp sống bất tận, không bệnh tật, khổ đau, không nghèo đói, thiếu thốn. Ngược lại hạnh phúc và bình an.

Ðối với mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy, chúng ta khao khát được sống mãi, sống bất tận và đến thời điểm phải ra đi chúng ta cũng hy vọng sẽ sống lại. Như vậy phục sinh để sống cuộc đời mới, đáp ứng khát vọng căn bản của mỗi linh hồn tin kính. Tuy nhiên, phái Sađucêo không than khóc thân nhân qua đời, không tìm kiếm niếm tin sống lại khi họ đặt câu hỏi với Chúa Giêsu. Quan niệm của họ rõ ràng và bất định; không bao giờ có chuyện kẻ chết sống lại. Họ thuộc tầng lớp trí thức trong xã hội, cộng tác với người La Mã và là tư tế. Rất nhiều thành viên của đảng phái này giàu có và nhiều ảnh hưởng. Họ đặt niềm tin tôn giáo của mình trên 5 cuốn sách đầu của Kinh thánh Do thái, tức sách lề luật của ông Môsê viết ra. Theo như những cuốn sách này thì không có sống lại, bởi Môsê không hề nói chi về chuyện đó. Cho nên niềm tin cốt cán của đạo không bao gồm sự kiện kẻ chết sống lại. Thêm thắt vào là bịa đặt, chỉ những kẻ ít học thức mới chấp nhận hoang đường. Trái lại, nhóm Biệt phái và tầng lớp bình dân không những công nhận 5 cuốn sách của Môsê và còn lời dạy truyền khẩu và các văn bản khác nữa, trong đó có vấn đề kẻ chết sống lại. Thánh Luca đã kể việc tranh luận giữa hai bên trong Công vụ Tông đồ (23,6-10). Và thánh Phaolô đã lợi dụng sự mâu thuẫn này mà thoát nạn. Hôm nay người Sađucêo lại mang câu chuyện ra gài bẫy Chúa Giêsu. Họ lật ngược câu chuyện 7 anh em nhà Macabê thành 7 người chồng của một người phụ nữ và áp dụng sách Ðệ nhị luật (25,1-10) để chế giễu những ai tin vào sự sống lại. Họ cho niềm tin đó là hoang đường. Chắc hẳn quý vị đã cảm thấy Ðức Kitô thất vọng biết bao khi nghe họ đưa vấn đề ra bàn luận. Bởi Ngài là Thiên Chúa, biết rõ sự thật, còn phái Sađucêô đóng kín, sai lầm và chẳng tỏ dấu chi cởi mở cho chân lý thấm nhuần.

Dầu sao Ngài trả lời họ trong ngôn ngữ họ có thể hiểu được. Tức là đừng dùng lý luận và biểu tượng đời này mà xây dựng thực tế đời sau, một thực tế chưa ai từng kinh nghiệm. Người Sađucêô đã ngây thơ dùng luật Lêvi trong sách Ðệ nhị luật 25,5-10, nói rằng nếu một người đàn ông có vợ mà chết không con, thì người anh em kế tiếp phải kết hôn với người đàn bà góa đó để duy trì giòng giống và tài sản cho anh mình. Phái Sađucêô đưa ra tới 7 anh em cùng kết hôn với một phụ nữ, rồi cuối cùng người phụ nữ cũng chết, thì khi sống lại, cô là vợ của ai ? Như vậy, sự sống lại là điều không thể xảy ra (tôi không hiểu trong cộng đoàn chúng ta, chị em nghĩ sao ? Vì theo ý kiến các Sađucêô, chị em không có quyền làm người, bị truyền từ tay đàn ông này tới tay đàn ông khác như thể một tài sản !).

Câu trả lời của Chúa Giêsu làm cho người nghe ngạc nhiên. Theo Ngài (và đây là một mặc khải quan trọng cho nhân loại), có sự khác biệt căn bản giữa cuộc sống đời này và mai sau. Hiện thời kết hôn và sinh sản là điều quan trọng để giòng sông sự sống tiếp tục chảy. Nhưng đối với những ai được xét là xứng đáng hưởng hạnh phúc đời đời, thì mọi sự khác hẳn : Người ta không chết nữa, không cần lo lắng cho tương lai, chẳng phải thu tích tài sản để người khác hưởng dùng. Sự chết không làm chủ được ai nữa, mọi người sẽ giống như thiên thần. Việc sinh sản là điều thừa thãi bởi sự sống tồn tại muôn đời, vì được chia sẻ sự sống vĩnh viễn của Thiên Chúa. Ngài đã ký giao ước với nhân loại thì giao ước ấy muôn thuở, không thể bị bẻ gãy. Cho dù cuộc sống mai hậu hoàn toàn khác với hiện nay, nhưng mối ràng buộc trong giao ước sẽ tồn tại mãi, bởi lòng tín trung của Thiên Chúa. Ngài không thể mâu thuẫn với chính mình làm tiêu tan giao ước.

Ðó là nội dung của sự sống lại. Nó không tuỳ thuộc vào công nghiệp nhân loại. Nhưng chủ yếu vào lòng trung tín muôn thuở của Thượng đế. Ngài hứa cuộc sống vĩnh viễn cho những tôi tớ mình, thì nhất định việc đó phải xảy ra. Cho nên tôi nghĩ nội dung chính của bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi tin tưởng vào mặc khải của Chúa Giêsu : Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của người sống, vì đối với Người tất cả đều sống, kể cả những Tổ phụ đã khuất bóng của dân tộc Do thái, Abraham, Isaac, Giacóp, Giuse, và mọi người đã yên nghỉ từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Chúng ta tin vào giao ước nhiều lần Thiên Chúa đã ký với nhân loại. Thiên Chúa yêu thương, qua Ðức Giêsu, hằng săn sóc, gìn giữ chúng ta đời này và muôn thuở đời sau.

Nhưng vấn đề là, về phần mình, lòng tin vào sự sống lại và sự sống muôn đời, ảnh hưởng trên nếp sống hằng ngày của chúng ta ra sao ? Nhiều người tuyên xưng lòng tin của mình, nhưng thực chất thái độ và suy nghĩ của họ giống như người Sađốc, chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị, chức quyền, tất cả những tiện nghi sung sướng thoải mái mà thế gian có thể cung cấp. Họ sống như chẳng có đời sau, hoặc đời sau chỉ là cái bóng mờ. Ngược hẳn với gương lành của 7 anh em nhà Macabê. 7 Người này đã sẵn sàng chịu đựng khổ hình và cái chết để trung thành với Ðức Chúa Trời. Không chi có khả năng chia rẽ họ khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa. Người thứ tư nói như sau : "Chúng tôi thà chết vì tay người đời, đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng được Người cho sống lại. Còn nhà vua, vua sẽ không được sống lại, để hưởng sự sống đâu." Như vậy, niềm hy vọng sống lại ban ý nghĩa cho cuộc đời hiện tại của chúng ta và củng cố lòng tin các tín hữu khi gặp gian nan thử thách.

Bà mẹ 7 anh em Macabê đã vững tin vào tình yêu bất tử của Thiên Chúa và dùng lời can đảm an ủi các con đứng vững trong tình yêu này. Như vậy, với lăng kính phục sinh, chúng ta dễ dàng phân định giá trị của thế giới, đâu là những điều thế gian tìm kiếm, ước ao và quý trọng, đâu là những chân lý người tín hữu phải theo đuổi. Nhờ ơn Chúa soi sáng, qua mặc khải phục sinh, chúng ta sẽ nhìn thế gian và những của cải đời này từ một góc độ khác, tức từ viễn tượng đời đời. Viễn tượng này dạy người tín hữu nên đầu tư tiền tài, sức lực, trí khôn, tài năng vào đâu cho hợp lý và bảo đảm tương lai vững bền. Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời một lần mà thôi. Nếu đầu tư sai, mọi sự đều hỏng cả, tương lai kể như không có, cuộc sống hiện tại kể như vất bỏ. Do đó, bài học từ Phúc âm hôm nay rất quan trọng : Tôi đã tiêu phí tiền tài, thời gian, trí tuệ, năng khiếu, sức lực, vào việc chi ? Tìm kiếm ơn Chúa ? Bảo trì giao ước với Ngài hay chơi bời trác táng như người con phung phí ? Chúa Giêsu đã chỉ rõ nội dung khác nhau giữa cuộc đời hiện tại và kiếp sống mai hậu, không còn thắc mắc nghi ngờ. Những lựa chọn, những ưu tiên của chúng ta ngày nay chắc hẳn sẽ ảnh hưởng quyết định đến số phận tương lai của mình. Tương lai ấy mở rộng nếu chúng ta nghe theo lời Chúa khuyên nhủ, bằng không nó khép lại. Vậy chúng ta nên làm gì lúc này ?

Nữ hoàng "Lạc quan" sẽ cho chúng ta câu trả lời. Nàng sẽ ban khả năng cho mỗi người, đầu tư chính mình vào những chương trình to lớn. Chương trình có lẽ cả đời chúng ta không thực hiện hết. Nhưng chẳng hệ gì, đã có những người thuộc tương lai tiếp tục. Khi tham gia thực hiện nó, chúng ta sẽ bày tỏ niềm hy vọng sống lại và dấn thân trong đường lối của Ðức Chúa Trời : Các dự án đó rất nhiều và cụ thể. Thí dụ : Hoạt động cho công bình bác ái, hoà bình công lý, chấm dứt đói nghèo, bình đẳng màu da, giới tính, chống xì ke, ma tuý, áp bức, bóc lột, khủng bố, chiến tranh, chia rẽ, loại trừ, tẩy chay. Ðúng là những dự án lớn đòi hỏi nhiều nghị lực, kiên nhẫn, tiền tài, năng khiếu và ơn Chúa trợ giúp. Chúng chính là dự án thuộc Nước Trời và sẽ được thực hiện bởi những thế hệ con người đầy lòng hy vọng sống lại.

B. Pascal đã cống hiến cho các tín hữu một tư tưởng hay, ông gọi là "cuộc đánh cược lớn". Lý luận như sau : Tin vào sự sống lại, bạn chẳng thua thiệt gì. Nếu sau cái chết, có đời sau, lúc ấy bạn đâu phải thất vọng, ngược lại , được lời to. Trường hợp không đó đời sau, bạn cũng không thất vọng bởi vì bạn có sống đâu mà kinh nghiệm thất vọng. Nhưng Chúa Giêsu đến thế gian không phải để xác nhận Pascal đúng hay sai. Ngài đến để công bố Tin Mừng. Tin Mừng là thế này : "Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn con trong tay cha". (Lc 23,46). Rõ ràng Ngài đặt trọn vẹn linh hồn, thân xác, thần trí, sức lực của Ngài trong tay Ðức Chúa Trời cao cả, là người Cha, Ðấng sẽ làm cho kẻ chết sống lại bởi Ngài là Thiên Chúa của người sống chứ không phải của kẻ chết, đối với Cha Ngài, tất cả đều đang sống. Amen.


Fr Jude Siciliano, OP

Phục Sinh Và Thiên Đàng
Lc 20:27-38

Thưa quý vị.

"Thiên đàng" hai tiếng thật hấp dẫn, nhưng cũng thật mơ hồ. Người Saducêo đã lợi dụng tính chất đó để gài bẫy Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay. Họ không tin vào sự sống lại, vào thiên đàng ở kiếp sau, cho nên câu hỏi của họ chỉ nhằm một mục đích duy nhất là làm cho Chúa Giêsu "cứng họng". Họ không hề thành thực nghe câu giải đáp hữu lý. Còn chúng ta, các tín hữu cũng có những thắc mắc về thiên đàng, về chỗ ở mai hậu : chắc chắn mỗi người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ đã có rất nhiều người khuất bóng và đau xót vì những cuộc chia ly vĩnh viễn đó. Bây giờ họ ở đâu ? Có được khỏe mạnh an toàn không? khi bà nội, bà ngoại qua đời, con cháu hỏi bà đi đâu ? Chúng ta thường tin tưởng trả lời : bà lên thiên đàng gặp ông rồi, và chúng nó tin đúng như vậy. Chúng ta cũng thường khuyến dụ con cháu ăn ở ngay lành để một mai được lên Thiên đàng. Những lời đó là lời nói dối ? Không ai dám trả lời như thế. Vậy thì Thiên đàng là điều có thật, nơi Thiên Chúa đang cùng chung sống với các thánh, các thiên thần. Cộng đoàn các tín hữu khắp trái đất đều tuyên dương "các thánh" là những biểu tượng đầy ý nghĩa của nhân loại. Họ là những gương mẫu mà mọi người có thể đạt tới để được hạnh phúc, ngày nào đó chúng ta sẽ cùng chung sống với họ, vui hưởng tình bạn bè.

Ngay cả trong ý nghĩ và ngôn ngữ hàng ngày chúng ta cũng thường nhắc tới hạnh phúc Thiên đàng. Khi được vui mừng thực sự chúng ta thường buột miệng bình luận : "giống như Thiên đàng trên trái đất". " Bữa ăn hôm nay làm sao ?" "Chà, tuyệt hảo như thiên cung, chẳng có chi ngon hơn được nữa". Ðó là tổng hợp những gì chúng ta suy nghĩ về Thiên đàng. Ðó là nơi hoàn hảo nhất, không khuyết điểm, không buồn rầu, hạnh phúc vô biên. Chúng ta vào nhà thờ nhìn lên các cửa sổ hình màu, mô tả Thiên Chúa đứng giữa các thần thánh, hàng hàng lớp lớp các vị thánh Cựu Ước, Tân Ước, chúng ta bị choáng ngợp bởi tư tưởng tuyệt hảo, sáng ngời, không vết mờ tối sự dữ, đó là Thiên đàng!

Vậy thì tư tưởng về Thiên đàng giữ vị trí tối quan trọng trong trí tưởng tượng và hình vẽ tôn giáo của chúng ta. và chúng ta nghĩ rằng trong Kinh Thánh cũng có rất nhiều đoạn mô tả sự sống lại của loài người trên Thiên đàng. Dĩ nhiên có những dụ ngôn về nước trời nhưng những dụ ngôn đó liên quan đến đời này hơn là đời sau. Cũng thật lạ lùng Kinh Thánh không có nhiều chi tiết về cuộc sống của chúng ta sau khi chết. Các giải thích truyền thống về Thiên đàng chẳng có bao nhiêu, chẳng giúp ích gì được nhiều. Thần học cho chúng ta những danh từ "tĩnh", chẳng hạn : "Thị kiến hạnh phúc" (beatific vision). Tôi phải thú thật khi nghe tiếng này trong lớp giáo lý, tôi thấy mơ hồ và buồn chán, hoàn toàn thiếu tính năng động và sức sống, vĩnh cửu nhất điệu.

Vì vậy, câu hỏi của các người Saducêo trong Tin mừnghôm nay kích thích trí tưởng tượng của chúng ta. Vâng, thưa Chúa Giêsu, đời sống khi phục sinh ra sao ? Liệu có giống bây giờ ? Liệu chúng con có những cuộc vui nữa không ? Liệu chúng con hát hay hơn không ? Luôn luôn đúng giọng chứ không phải vịt đực khàn tiếng ? Liệu chúng con chạy nhanh hơn không ? Luôn luôn vượt kỷ lục ? Liệu chúng con có được nói đùa, pha trò và những trận cười bể bụng ? Liệu chúng con có được mẹ cho ăn món sốt cà chua tuyệt vời hay món nui vĩnh cửu của ngày Chúa nhật ? Ðó thực sự là Thiên đàng (That would really be heaven !) nếu chúng con khuyết tật bây giờ, liệu sau khi sống lại chân tay có được lành lặn không ? Và cũng giống như câu hỏi của người Saducêo, liệu chúng con chết vợ, chết chồng rồi tại giá và yêu thương cả hai, khi sống lại ai là vợ, là chồng chính thức ? Nếu một người đàn bà lỡ kết hôn với một tay bợm nhậu, khi sống lại bà ta còn phải ở với hắn nữa không ? Hay được quyền chọn chồng khác ? Người Saducêo không tin vào sự phục sinh. Họ chỉ nhận năm cuốn sách đầu của Cựu Ước làm quy điển đức tin. Trong các sách này không dạy về sự sống lại. Vấn đề còn đang tranh cãi, cho nên họ không tin. Nghi vấn họ đặt cho Chúa Giêsu là để tỏ lộ rằng phục sinh là điều nghịch lý, và Chúa Giêsu trả lời thế nào đi nữa, thiên hạ cũng chẳng thể nghe được.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu rất nhân từ, Ngài coi vấn nạn của họ là nghiêm trọng. Ngài nói : cuộc sống mai hậu, về căn bản, khác hẳn cuộc sống đời này. Rút các kết luận từ cuộc sống đời này hoặc mở rộng các ý niệm của cuộc sống hiện thời cho cuộc sống phục sinh là trật lất. Ðây không phải là lý luận đúng hướng. Nó phiếm diện và vô dụng. Trong não trạng Do thái thời sơ khai trước khi ý niệm về phục sinh được phát triển, thì cuộc sống đời này là căn bản. Hôn nhân, con cái, là phương tiện duy nhất để vĩnh cửu hóa dòng giống. Ðời sống của cha mẹ được tiếp tục nơi con cái. Vì vậy, gia đình là thiết yếu. Luật hôn nhân Lêvi (25, 5 - 10) ra đời. Người em phải lấy chị dâu góa để anh mình có con. Ðó là một lề luật có ý hướng tốt để giữ cho gia đình luôn tồn tại và ngăn ngừa sự mai một của dòng họ nào đó trong dân Ít-ra-en. Dần dà ý niệm này thành cố định.

Nhưng Chúa Giêsu giải thích, trong cuộc sống phục sinh, tất cả đều là con cái Thiên Chúa. Ngài không cần hôn nhân để làm nên chúng ta. Sống lại là hành động riêng của Thiên Chúa và là món quà nhưng không ban cho mọi người. Tất cả đều là con Ðấng Tối Cao. Chúa Giêsu thông thạo Thánh Kinh và để đối lại với quy chiếu của các ông Saducêo về Ðệ nhị luật, Ngài chưng dẫn Xuất hành đoạn 3 câu 6, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống, chứ không phải là Thiên Chúa của kẻ chết. Ðối với Ngài tất cả đều là kẻ sống ! Ðời sống phục sinh sẽ như thế nào? Giả tỉ Chúa cho chúng ta một chút kiến thức về đời sống đó ! nhưng Ngài đã không nói gì cả. Tuy nhiên những việc Ngài thực hiện đã cho chúng ta được an lòng. Ngài bảo đảm Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa của chúng ta sau khi chết. Nếu chúng ta đã có Chúa ở đời này, thì khi sống lại ngài vẫn là Thiên Chúa ấy.

Tác giả Barbara Brown Taylor có ý kiến rằng : Thực ra sự phục sinh chẳng liên hệ gì đến loài người, nó liên hệ trực tiếp đến Thiên Chúa. Chúng ta tập trung ý niệm về nó dựa trên đức tin hoặc thiếu đức tin nơi chúng ta, đều lạc đề. Nó là sự đòi hỏi căn bản của lòng Chúa tín trung. Ngài tín trung, chứ không phải chúng ta trung tín, cho con cái Ngài sống lại. Ngài không thể bỏ rơi con cái Ngài trong cảnh hư nát vĩnh cửu. Bởi vì họ là những kẻ Ngài yêu mến. Ðó là điều Chúa Giêsu muốn trả lời cho các người Saducêo. Ðừng quan tâm nhiều về hôn nhân, nó là phương tiện để chúng ta duy trì sự sống ở thế gian này, nhưng trong thế giới mai hậu nó không cần thiết nữa. Thiên Chúa có thể làm cho bụi đất trở thành con cái Ngài. Từ miếng xương khô, từ nắm tro tàn chúng ta sẽ trở thành sự sống mới trong tình yêu của Ngài. Việc đó chẳng khó khăn gì, bởi Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống, chứ không phải của kẻ chết. Chết là hoa quả của tội lỗi, không phải của ơn thánh. Một khi tội lỗi không còn, thì chết cũng không còn nữa. Trước mặt Ngài tất cả chúng sinh đều đang sống.

Lý giải ở cấp bậc tự nhiên không thể chứng minh có sự sống lại. Nó thuộc về bình diện siêu nhiên, kết quả của Ơn Cứu Chuộc. Ðọc trong Tân Ước Chúa Giêsu đã qua sự chết mà sống lại. Một đàng Ngài giống như chúng ta ăn uống, nói năng. Nhưng mặt khác, Ngài hoàn toàn khác hẳn : vào phòng không cần mở cửa. Xuất hiện và biến mất trước mặt các tông đồ. Chỉ cho phép một số ít người xem thấy Ngài … Có điều gì đó mầu nhiệm nơi Ngài.

Brian Doley khi khảo sát về lòng tin vào sự sống lại của các tín hữu tiên khởi đã nói rằng : về căn bản họ nhìn vào sự phục sinh của thân xác là hoa quả của sự kết hợp hoàn hảo với Thiên Chúa hằng sống. Bởi vì họ là phần tử của một cộng đồng tin vào Chúa Giêsu, Ðấng đã sống lại, ngự trị trong vinh quang. Ngài gửi Thần khí của Ngài xuống phán xét lịch sử.

Kinh thánh khi nói về sự phục sinh loài người, chỉ mô tả chúng ta được sống bên nhau trong niềm hoan lạc vĩnh hằng. Chúng ta biết nhau, biết Chúa và được Chúa biết đến. Từ "biết" trong Kinh thánh có nghĩa là kinh nghiệm về tha nhân trong mối tương quan hết sức thân mật và phong phú. Dầu thế nào đi nữa. Thiên đàng không phải bất động, ở trạng thái tĩnh. Mà cùng nhau chia sẻ sự sống vĩnh hằng, năng động trong hạnh phúc của Thiên Chúa. Chúng ta chưa biết điều đó có nghĩa gì. Nhưng trước bàn thờ Thánh thể hôm nay, chúng ta đã có những cái nhìn đúng đắn, bảo đảm một đời sống không bao giờ nhàm chán. Amen.


Giuse Nguyễn Cao Luật op

THỰC TẠI MỚI, TƯƠNG GIAO MỚI
Lc 20:27-38

Câu trả lời của Vị Ngôn Sứ

Ðứng trước cái chết, con người cảm thấy cuộc đời cá nhân của mình bị cắt ngang, họ tìm cách kéo dài sự hiện diện, sự tổn tại của mình qua các tác phẩm nghệ thuât, qua các công trình, qua con cái. Với những dấu vết đó, họ tự an ủi mình bằng cách nghĩ rằng họ không hoàn toàn biến mất, không hoàn toàn tiêu tan vì vẫn có những người nhắc nhớ đến họ, vẫn lưu giữ những kỷ niệm, những dấu vết của họ. Theo chiều hướng này, luật Mô-sê đã đưa ra điều khoản về "thế huynh" (xem Ðnl 27,5-6) : một người đàn bà goá mà không có con, phải kết hôn với em chổng để duy trì dòng dõi cho người anh quá cố.

Luật Mô-sê dành ưu tiên cho người đàn ông, nên phụ nữ, trẻ con chỉ là phương tiện, và từ đó tạo nên cả một hệ thống về quyền lợi, dựa trên những mối liên hệ khác nhau của ý định muốn tổn tại lâu dài. Những người thuộc phái Xa-đốc đã bắt đầu từ những mối liên hệ, những quyền lợi của cuộc sống này để đặt câu hỏi với Ðức Giêsu : "Người đàn bà ấy sẽ là vợ ai ?"

Theo một khía cạnh, câu hỏi đó có lý, vì nó khởi đi từ quan niệm về sự tổn tại, về quyền lợi, như đã được ghi lại trong luật Mô-sê, với mục đích duy trì dòng dõi của con người.

Thế nhưng, câu hỏi tự nó có tính cách phi lý và quá chi li : đây là một câu hỏi lắt léo nhằm để bắt bẻ hơn là làm sáng tỏ vấn đề. Ðức Giêsu biết điều đó và Người không quan tâm. Người làm bùng nỗ hệ thống tư tưởng của con người về cuộc sống mai sau. Với tư cách là Vị Ngôn Sứ, Ðức Giêsu đưa ra câu trả lời không theo lối suy nghĩ và những hoàn cảnh của cuộc sống trần gian. Người đến để loan báo, để thông ban sự sống mới, nhưng sự sống đó không phải là một sự tổn tại, không phải là trường thọ ; trái lại, đó là một cuộc tái sinh, là sự đạt tới một thực tại khác, một mức độ mới.
Câu trả lời của Ðức Giêsu không hề có ý nói rằng thực tại mới sẽ làm cho mọi người, mọi mối tương giao trở nên bằng nhau, như là một kiểu san bằng tất cả, nhưng chỉ có ý gạt bỏ khía cạnh xác thịt hay tình cảm của những mối tương giao : đó chỉ là những điểm khởi đầu có tính cách tự nhiên.

Khi người ta khen ngợi thân mẫu của Người, Ðức Giêsu đã nói : "Ai là mẹ tôi, ai là anh em tôi ?", và Người đã khẳng định về một tương giao mới, về ý nghĩa của gia đình dựa trên mối tương giao với Lời Chúa. Những tương giao nhân bản vẫn có giá trị, nhưng sẽ phải nhường chôỵ cho một tương giao đích thực, trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.

Thực tại mới

Như thế, đời sau là một thực tại, một thực tại mới, khắc hẳn với trần thế này. Trong thực tại mới đó, tất cả đều biến đỗi : không thể lấy những tiêu chuẩn của trần gian để xét đoán, để mô tả đời sau. Thật là lầm lẫn khi đặt vấn đề : trong cuộc sống mai sau không có hôn nhân sao ? hay tương tự như thế : ở đời sau có đá banh không ? có ti-vi không ? có ... không ? Những câu hỏi này vẫn chỉ dựa trên cái nhìn của trần thế để hiểu về đời sau.
Tuy vậy, vẫn có thể dựa trên mặc khải để hiểu về thực tại mới này như sau :

- Con người được nhìn thấy Thiên Chúa "nhãn tiền". Thiên Chúa như thế nào, con người được thấy như vậy : đó là hưởng kiến, đó là hạnh phúc, vì được nhìn thấy Thiên Chúa với tất cả vinh quang của Người. Trong Thiên Chúa, con người hiểu rõ những gì liên quan đến mình, kể cả mối tương giao với bạn bè, với người thân trên mặt đất.

- Trong thực tại mới này, con người chìm ngập trong vinh quang rực rỡ của Thiên Chúa, không có gì cao đẹp hơn vinh quang đó, và con người chỉ có việc hưởng vinh quang, ca tụng vinh quang.

- Trong cuộc sống trần thế, con người vui hưởng tình yêu, cái đẹp, sự hiểu biết, quyền lực ... những điều này chỉ có tính cách tương đối. Còn trong thực tại mới, Thiên Chúa là chính tình yêu, tình yêu trọn vẹn, là toàn năng, toàn mỹ, toàn thiện.

Ðàng khác, theo thánh Phao-lô : thân xác của con người trong thực tại mới này sẽ hoàn toàn khác hẳn với thân xác trên mặt đất, như một cây to lớn khác với hạt giống khởi đầu. Cái gieo xuống là thân xác tự nhiên, cái mọc lên là thân xác thiêng liêng.

Thân xác vinh hiển không cần phải ăn uống hay những liên hệ của trần thế này. Khi ấy, con người được như thiên thần và nên con cái Thiên Chúa : họ hoàn toàn sống cho Thiên Chúa và quy hướng về Người.

Tin vào Thiên Chúa, Ðấng Hằng Sống

Như vậy, câu trả lời của Ðức Giêsu được giải thích như sau : Với cái chết, nhân loại được biến đỗi từ tình trạng thể lý, và được giải thoát khỏi những ràng buộc của trần thế. Chính Ðức Ki-tô, Ðấng sẽ chịu chết và phục sinh, loan báo sự thay đỗi này. Không chỉ có số phận của thân xác được thay đỗi, nhưng cả các tương giao xã hội : cơ chế và luật pháp sẽ chẳng còn giá trị, bởi vì chúng chỉ là thực tại tạm thời và vô ích, được sử dụng cho cuộc sống trần gian. Còn trong thực tại mới, tất cả phải biến mất, vì đó là cuộc sống vinh quang, là thời gian viên mãn, là "thời của Ðức Ki-tô".
Trong trình thuật này, Ðức Giêsu nối kết hai ý niệm "con Thiên Chúa" và "được sống lại". Ðiều này có nghĩa là con Thiên Chúa là những người được sinh ra trong đời sống vĩnh cửu, đời sống của chính Thiên Chúa.

Những người được hưởng ơn phục sinh có hai nét đặc trưng :

- Một là sự tự do của con cái Thiên Chúa. Theo thánh Phao-lô : những người con của Thiên Chúa không còn phải chịu nô lệ dưới ách lề luật, nhưng là những người hưởng tự do trong ân sủng.

- Hai là họ được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn. Nhờ sự vâng phục Thánh Thần - không hề đi ngược với tự do - họ trở nên những người sống giữa trần gian với nét độc đáo riêng của mình.

Nói thế, bởi vì Thiên Chúa là Ðấng Hằng Sống : Người đã tạo tác sự sống và không để sự sống phải tiêu vong ; trái lại, Người duy trì sự sống qua việc làm cho kẻ chết sống lại và ban phát sự sống trường cửu. Ðức Giêsu sẽ chịu chết và Người sẽ sống lại để tất cả mọi người đều được phục sinh, được tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Khi Ðức Giêsu nói : "Thiên Chúa của tỗ phụ Áp-ra-ham, của tỗ phụ I-xa-ác, của tỗ phụ Gia-cóp", Người không chỉ gợi lại các biến cố của thời quá khứ và các nhân vật đã qua, nhưng còn cho thấy Thiên Chúa là Ðấng Bất Tử, là Ðấng Bảo Tổn. Tất cả những ai đã chân thành, đã tin Thiên Chúa đều được sống với Người, sống vĩnh cửu. Niềm tin chân chính vào Thiên Chúa cũng gắn liền với niềm tin vào sự sống vĩnh cửu.

Qua cuộc đối thoại giữa Vị Ngôn Sứ của sự sống vĩnh cửu và những người không tin vào sự sống này, chúng ta được nhìn thấy những viễn tượng mới, rất rộng lớn.

Con người được mời gọi tín thác vào Thiên Chúa hằng sống, Ðấng luôn yêu thương và hằng mong ước cho họ được sống với Người mãi mãi. Sự sống, tình thương nơi Thiên Chúa không phải là điều bất toàn, có tính cách tạm thời ; trái lại đó là sự sống, là tình thương trọn vẹn, vĩnh cửu. Bởi vì Người là Ðấng Hằng Sống và là Tình Yêu. Không nhận điều đó tức là không tin Người là Ðấng Toàn Năng, và coi Thiên Chúa như bất cứ ngẫu tượng nào khác.

Ngoài ra, con người được kêu gọi vượt qua những giới hạn của tình trạng gia đình, nghề nghiệp, xã hội ; đổng thời họ được kêu gọi vượt qua những biên giới của tình yêu trần thế, để ngay từ cuộc sống nơi trần thế, họ đã khởi đầu cho những tương giao mới, đạt tới tầm mức của con cái Thiên Chúa sẽ được hoàn tất trong cuộc sống mai sau.

Như vậy, với Ðức Giêsu, cái chết không còn là một kết thúc, nhưng là khởi đầu cho cuộc sống mới, cuộc sống đích thực, cuộc sống vĩnh cửu.

Hạnh phúc cho những ai, trong những mối tương giao nhân loại, đã bắt đầu kiến tạo thực tại vĩnh cửu này. Bởi vì ngay từ bây giờ, họ đã khám phá ra sự thật của mối tương giao mới, mối tương giao do chính Thiên Chúa làm nảy sinh.

* * *

Lạy Thiên Chúa, Ðấng sáng tạo tâm hổn,
Chúa là Ðấng cho mọi loài được sống,
xin ban hạnh phúc cho chúng con.

Chúng con sống
không nhờ sức lực của chúng con
nhưng nhờ sự sống của Chúa
đang thấm nhuần cả vũ trụ.

Không phải tự sức chúng con
hoàn thành các công việc,
nhưng chính quyền năng cao cả của Chúa,
đang sống trong chúng con.

Một bạn trẻ Nhật Bản


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Vấn đề sống lại
(Lc 20,27.34-38)

Mấu chốt của vấn đề mà nhóm Xa-đốc hỏi Chúa Giêsu là sự sống lại và sự sống đó như thế nào. Chúa đã trả lời làm hai bước : Trước hết, Chúa nói về bản chất của cuộc sống sau khi sống lại, sau đó, Chúa đưa ra một lập luận dựa trên một kiểu nói cơ bản nhất trong bộ Ngũ Kinh là những sách mà những người Xa-đốc công nhận là Sách Thánh.

Trước hết, về bản chất của cuộc sống sau khi sống lại. Chúa cho biết nó không phải là một sự lặp lại cuộc sống trần gian, hai yếu tố của cuộc sống trần gian mà những người Xa-đốc nêu lên là chuyện cưới vợ lấy chồng và cái chết thì sẽ không còn nữa, những người đã sống lại thì được ngang hàng với các thiên thần nên không thể chết được nữa. Sự sống sau khi sống lại là sự tham dự trọn vẹn vào cuộc sống của Thiên Chúa, lúc đó người ta mới thể hiện đầy đủ bản chất là con Thiên Chúa, vì người ta được sống bằng chính sự sống của Thiên Chúa. Con của loài vật thì có sự sống của loài vật, con của loài người thì có sự sống của loài người, con của Thiên Chúa thì có sự sống của Thiên Chúa. Người ta được ngang hàng với các thiên thần, giống như các thiên thần, không còn bận tâm nào khác ngoài việc chiêm ngắm và ngợi khen Thiên Chúa. Vậy thì lập luận của những người Xa-đốc không đứng vững, bởi vì chính quan niệm của họ về cuộc sống sau khi sống lại không đúng.

Tiếp theo, Chúa Giêsu dựa vào một kiểu nói cơ bản rút ra từ một đoạn văn then chốt trong Cựu Ước và đối với lịch sử Do Thái, đó là đoạn văn kể việc Thiên Chúa hiện ra với ông Mô-sê dưới hình ngọn lửa cháy trong bụi gai (Xuất Ai Cập 3,6). Chúa nhấn mạnh vào ông Mô-sê, vì phái Xa-đốc nhìn nhận uy quyền của ông. Trong sách thì đây là lời Thiên Chúa tự xưng với ông Mô-sê, nhưng vì truyền thống Do Thái coi đây là sách do ông Mô-sê viết, nên Chúa Giêsu dựa vào đó mà lập luận. Ông Mô-sê gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-sa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Phái Xa-đốc không tin có đời sau, chết là hết, bởi vậy Chúa Giêsu lập luận : nếu chết là hết, thì các vị tổ phụ kia đã chết rồi, mắc mớ chi mà gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ đâu phải là Thiên Chúa của kẻ chết. Bởi vì đã gọi Ngài là Thiên Chúa của ai tức là người đó đang sống, tuy đối chúng ta thì người đó chết rồi. Ông Mô-sê không khẳng định có sự sống lại, nhưng trong kiểu nói này ông Mô-sê cho thấy rằng có cuộc sống đời sau, con người không chỉ có cuộc sống trên trần gian này thôi, chết không phải là hết, nhưng là đi vào một cuộc sống mới, sống trước mặt Thiên Chúa và sống cho Thiên Chúa.

Chúng ta thấy lối lập luận của Chúa Giêsu thật độc đáo, nên những người tranh luận với Chúa đã chịu lý và không thể cãi lại. Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay là dịp thuận tiện để chúng ta suy nghĩ về lời tuyên xưng cuối cùng trong kinh Tin Kính về sự sống lại và sự sống đời sau. Thực vậy, chúng ta tin có sự sống lại và có sự sống đời sau, nên chết không phải là hết, nhưng là bắt đầu sống thực sự, như chúng ta vẫn hát trong thánh lễ an táng : “Lạy Chúa, đối với tín hữu Chúa, đời sống thay đổi chứ không bị tiêu diệt”. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, trên giường hấp hối, cũng đã nói: “Tôi không chết, tôi đang bước vào sự sống”. Quả thực, sự chết vẫn hiện hữu, nhưng chết chỉ là chốc lát, một khoảnh khắc, một giây phút, một bước đi : từ tạm thời sang vĩnh cửu, từ hữu hạn sang vô hạn, chết là bắt đầu một đời sống mới, một cuộc đời vĩnh cửu.

Tóm lại, chết là một sự kiện hiển nhiên không cần phải chứng minh, đã là con người thì sẽ phải chết. Và đối với đức tin của chúng ta, thì thân xác chúng ta chắc chắn sẽ sống lại, nhưng sống lại để sống như thiên thần hay quỷ dữ lại là chuyện khác. Chắc chắn thân xác chúng ta sẽ sống lại, nhưng sống lại để sống hạnh phúc muôn đời hay bất hạnh ngàn thu là vấn đề chúng ta phải hết sức quan tâm, bởi vì kẻ lành, kẻ sống tốt lành thánh thiện cũng sống lại, và kẻ dữ, kẻ sống xấu xa tội lỗi cũng sống lại, nhưng sống lại để được thưởng hay chịu phạt, đó là điều khác biệt. Căn cứ vào đâu để Thiên Chúa thưởng hay phạt chúng ta ? Căn cứ vào đời sống hiện nay của chúng ta, đời này quyết định số phận đời sau, như Chúa đã quả quyết : “Ai sống làm sao Ta sẽ trả cho như vậy”, “gieo thứ gì gặt thứ ấy”.

Lạy Chúa, cuộc sống này có là bao ? Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy ? Xin cho chúng  con luôn nhớ mình sẽ phải chết để sống tốt, sống lành hầu xứng đáng đón nhận phần thưởng vĩnh phúc.

 
Lm. Jude Siciliano, OP

Thiên Chúa Là Đích Đến Của Chúng Con
(Lc 2,27-38)

Thưa quý vị,

Nếu như quý vị thuộc về một gia đình lớn hoặc quen biết một gia đình nào như vậy, thì những điều tôi sắp kể rất quen thuộc với quý vị. Số là gia đình tôi rất đông và thường quy tụ với nhau tại nhà ông ngoại tôi mổi tối Chúa Nhật, không thiếu một thành viên nào. Vì chúng tôi sống và làm việc gần cận nhau. Xa lắm cũng chỉ mất vài phút lái xe. Má tôi có tất cả tám anh chị em. Còn sống và trưởng thành trọn cả. Mổi Chúa Nhật, chúng tôi tụ họp nhau đông, vui. Người lớn đánh bài, chơi cờ. Phụ nữ nói chuyện dưới bếp và nấu ăn. Dĩ nhiên bưa cơm lớn lắm và ê hề thức ăn, đồ uống. Trẻ con chúng tôi gồm một bầy vài chục đứa, trai gái đủ hết. Đứa chơi trong nhà, đứa nô đùa ngoài trời. Oàn ào như cái chợ con. Một vài người lớn hút huốc lá, hát nghêu ngao hay xem ti vi trắng đen của ông ngoại tôi. Lúc ấy chưa có ti vi màu và cũng chưa sẵn hoạt hình. Chúng tôi thường coi Ed Sullivan đóng phim hề.

Đúng là bầu  khí của thời cổ thời phải không quý vị Bây giờ nó thuộc về quá khứ, gia đình anh tôi chỉ còn sống sót một ông cậu già nua, bệnh hoạn. Mười bẩy người khác đã qua đời. Trong các đám tang của họ, gia đình rất đau đớn sầu khổ. Chúng tôi chia sẻ kỷ niệm về mỗi thành viên khuất bóng. Anh em cúng tôi an ủi lẩn nhau nhờ những lời kinh sốt sắng, hay thánh vịnh, thánh ca. Chúng tôi thường nói với nhau rằng : “Cậu A dì B bây giờ đang ở Thiên Đàng cùng các thân nhân khác. Các cậu có lẽ đánh bài các dì đang nấu ăn” hoặc “Ông ngoại đang chơi ván cờ vô tận với các con rể”. Nói bừa như vậy, nhưng cũng có tác dụng tốt. Chúng làm dịu bớt nổi thương tiếc của những người còn sống. Có lẽ moi phần tử trong gia đình đều có một ký ức, câu chuyện riêng để trao đổi với nhau trong lúc nhớ thương người khuất bóng. Chúng tôi tưởng tượng rằng thực sự các thân nhân của chúng tôi đang cư ngụ nơi cực lạc gọi là thiên đàng. Ở đấy họ được hưởng nhưng ngày tháng vô tận, không còn còn bện tật khóc than, đau đớn chia lìa nữa. Ơ nền văn hoá khác cũng tương tự như vậy thôi. Đó là đường lối chúng ta tin tưởng cho những thân nhân đa khuất bóng. Họ còn sống và sống mạnh khoẻ, hạnh phúc. Họ sống gần cận, yêu thương và hoà hợp với nhau, không xích mích vì những điều nhỏ nhặt, tiền bạc hay chơi bài gian lận. Chúng ta cố gắng hết sức vẽ lên các bức tranh thật đẹp về thân nhân qua đời về nơi bồng lai, tiên cảnh, về nơi thiên đàng nơi họ đang cư ngụ.

Nhưng mổi lần vào nghĩa trang, chúng ta lại bắt gặp một thực tế phủ phàng, chứ đâu được như trong mộng? Hàng hàng lớp lớp bia mộ sù xi với những tên, những tuổi, ngày sinh tháng đẻ và ngày qua đời. Tôi đứng đấy ngắm nhìn tất cả và nhớ lại tôi đã hiện diện trong những đám tang của họ. Tôi được hân  hạnh dẫn toàn thể gia đinh và bạn bè vào những lời kinh tiếng thát cầu nguyện khi người ta đưa thân nhân chúng tôi xuống lòng đất. Ngươi là bụi tro, nay trở về bụi tro. Không có con đường nào khác. Mẹ tôi, các bác các dì tôi bây giờ nấu ăn ở đâu. Ông ngoại các bác, các cậu tôi bây giờ đánh bài, chơi cờ, truyện trò ở nơi nào? Tôi không biết, nhưng chắc chắn một điều là họ không ném con bài trùm lên bàn gia đinh nữa. Tôi viếng thăm phần mộ của họ, tưởng tượng xương cốt họ nằm trong các quan tài mục nát dưới lòng đất. Tôi tưởng nhớ đến họ với biết bao tinh cảm yêu mến. Nhưng trí óc tôi làm tôi thất bại: Bây giờ họ ở đâu? Đang làm chi? Có được an nghỉ không? Chẳng có câu trả lời. Chẳng có kinh nghiệm để mà tưởng tượng. Hoàn toàn là bí ẩn và thắc mắc. Tôi moi trí nhớ lấy và câu châm ngôn của Kinh Thánh để được soi sáng và ủi an. Tôi cung cần can đảm để trực diện với cái chết riêng của minh vào một ngày nào đó.

Xin dài dòng văn tự như vậy để miêu tả tâm trạng các Saducêo trong Tin Mừng hôm nay, họ chất vấn Chúa Giêsu về việc kẻ chết sống lại. Họ không tin vào sự việc ấy vì ông Môsê không hề tiết lộ điều này trong các sách luật của ông. Vậy nếu như kẻ chết sống lại thi đời sau sẽ ra sao? Còn ăn uống, dựng vợ gả chồng, làm ăn buôn bán nữa không? Đa phần đồng bào Do Thái đều tin là thế. Chết chẳng qua là cái chớp mắt đổi đời. Nhưng có nhiều nghi nan không giải quyết được. Để tăng cường tính vô lý vào niềm tin sống lại, các ngày Saducêo lấy một thí dụ đời thường theo luật Môsê. Một người đàn bà lần lượt làm vợ bảy anh em và vẫn không có con. Vậy khi kẻ chết sống lại bà sẽ là vợ của ai? Đối với chúng ta ngày nay, khoản luật xem ra kỳ quái và tâm trạng người phụ nữ ra sao trước tinh thế trái khoáy như vậy? Nhưng đối với dân  Do Thái lúc ấy thi đó là chuyện binh thường và hợp lý vì tinh hình kinh tế eo hẹp của gia đinh. Đa phần người dân lúc bấy giờ rất nghèo, họ chỉ có rất ít tài sản để sống. Cho nên người đàn bà buộc phải lấy chồng kế tiếp như vậy để gia đinh có người con nối dỏi tông đường và của cải không bị chuyển sang tay người khác. Quyền lợi cá nhân trong xả hội như vậy gần như không được tính tới. Không riêng gi phụ nữ, số phận cả nam giới cung tương tự. Dòng họ, gia đình đứng trên cá nhân.

Các vi Saducêo đa xào nấu luật lệ này để đưa ra tình huống khó xử cho Chúa Giêsu, đồng thời chế nhạo niềm tin vào sự sống lại của nhưng người Pharisêu và phần lớn quần chúng ngu dốt. Hinh như họ muốn nói với Chúa Giêsu: “Ngài xem đấy, niềm tin của ngài và nhưng người Pharisêu nực cười biết bao. Có bẩy anh em nhà kia cùng cưới một cô gái làm vợ, rồi chết mà không ai có con. Vậy ở kiếp sau khi người phụ nữ cung chết, cô sẽ là vợ của ai. vì cả bảy đều cưới cô làm vợ. Tin vào việc kẻ chết sống lại là điều thật phi lý”. Nghe vậy, có lẽ Chúa Giêsu phá lên cười. Mấy ông nhà giàu này có lẽ dùng thí dụ oái oăm để đưa ra đề tài thần học mà gài bẫy Ngài chăng? Ngài đã từng đề cập đến vấn đề kẻ chết sống lại để giảng dạy cho dân chúng. Vậy đây là cơ hội tốt để làm sáng tỏ thêm vấn đề. Rồi nhanh chóng ngài gạt phắt lý luận của họ, dùng chính lời Môsê mà chứng minh. Người Saducêo tưởng tượng rằng cuộc đời sau khi chết nếu có thi cũng hơn kém như hiện thời, dựng vợ gả chồng, xây nhà, chợ búa, tiệc tùng say sưa. Lúc đó, cái chết chẳng qua là một sự chuyển tiếp, một sự gián đoạn bất tiện của cuộc sống, một cái chớp mắt nhanh chóng. Rồi đâu lại hoàn đấy.

Không riêng người Saducêo, ngày nay chúng ta vẫn tin vào tín điều kẻ chết sống lại với nảo trạng tương tự. Chúng ta vẽ vời nó khá giống cuộc đời hiện tại với vài chi tiết đẹp đẽ hơn. Đó là một nơi hạnh phúc như ở đỉnh núi tiên ông vậy, không phải lao động, không phải cắp sách đến trường, không có bệnh tật, vui chơi vô tận, đánh cờ quên cả thời gian, không phải trả tiền nhà, tiền điện tiền nước. Chuyện dân gian miền nào mà chẳng có vài mẩu chuyện như thế. Đúng là một mơ ước.

Nhưng Đức Giêsu cắt ngang mộng mi của chúng ta. Ngài không mô tả chính xác nó là chi và cűng không đáp ứng tính tò mò của nhân loại. Ngài chỉ đơn giản mạc khải nó không hề giống như cuộc sống hiện nay: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ nhưng ai được xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau và sống lại từ coi chết thi không cưới vợ cung không lấy chồng. Quả thật họ không thể chết nưa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên chúa vì là con cái sự sống lại”. Như vậy Ngài không tiết lộ nội dung của cuộc sống mai hậu, nhưng cűng không cho nó giống như hiện tại mà chúng ta từng kinh nghiệm. Chẳng còn cơ cấu, phẩm trật, tổ chức gia đinh. Không có hôn nhân, không tài sản, không lo lắng chiếm hữu. Nhưng ngang hàng với thiên thần và không phải chết. Đây là một đề tài hấp dan để chúng ta suy gẫm và điều chỉnh lối sống theo Lời Chúa.

Nhưng có phải tất cả chỉ có thế ? Ngài không cho biết thêm gi nữa sao? Chẳng có thêm chi tiết để các nghệ sĩ của chúng ta vẽ lên phong cảnh Thiên Đàng? Có! Ngài nói thêm chỉ một điều nữa thôi: ở đời này chúng ta tiếp tục là “con cái Thiên Chúa vi là con của sự sống lại” nếu chúng ta sống xứng đáng, sống am hợp với Phúc Âm. Nghĩa là có một sự kiện cụ thể để chúng ta đặt niềm tin vào. Sự kiện cụ thể ấy là Thiên Chúa Đấng tạo dựng vũ trụ đẹp đẽ đa tỏ lộ bộ mặt yêu thương và tha thứ trong con người xác thật của Đức Giêsu Kitô. Người ta chẳng cần cầu kỳ tìm Chúa đâu xa, cứ nhìn vào Đức Giêsu khắc nhận ra gương mặt thật của Thiên chúa và phó thác số phận minh vĩnh viễn vào cánh tay của Thiên Chúa đó. Ngài sẽ không để chúng ta đi lạc vào con đường thế gian. Ngài sẽ mải mải hướng dẫn chúng ta trở thành con cái Thiên chúa. Sự phục sinh của nhân loại hệ tại điều này. Nếu không, chúng ta chẳng được sống lại. Ngài tuyên bố ro ràng như thế khi nói với những vị Saducêo : Họ là con cái Thiên Chúa vì là con của sự sống lại. Hệ quả thật bẻ bàng : Saducêo không phải là con Thiên chúa, chỉ là con hoang, con tự nhận, vì không tin vào sự sống lại. Dựa vào câu Phúc âm này, thánh Thomas Aquino đưa ra nhận xét rằng những người quen phạm tội xác thit, nhất là dâm dục, đều chán ghét sự sống lại. Ý kiến thật chính xác vậy mà thiên hạ vẫn ưa thích nhung lụa, ăn uống phỉ tình, dung dưỡng xác thit đồng thời tự nhận là môn đệ trung thành của Thiên Chúa. Chẳng hiểu có nên sắp họ vào hàng ngủ Saducêo hay không? Chúng ta phải thành thật với chính minh, không nên nuôi ảo tưởng. Vậy thực tế của minh ra sao ? Yêu xác thit hay yêu sự sống lại ?

Mọi người đều biết cha mẹ đều yêu thương con cái mình. Họ dành cho con họ những điều tốt lành nhất, dù phải hy sinh chính bản thân. Họ muốn chúng hạnh phúc nhất đời, như khả năng con người có thể hưởng được. Họ muốn chúng luôn ở bên mình, bình an và an toàn. Đó chính là ước muốn của Đức Chúa Trời dành cho mọi linh hồn. Bởi lẻ chúng ta là con cái Ngài, chúng ta tin tưởng vào sự sống lại. Chẳng lẻ Thiên Chúa lừa dối sao? Hoặc chúng ta biến Ngài thành kẻ nói dối khi xác nhận Đức Kitô đa từ coi chết sống lại Chẳng đời nào có như vậy. Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, chứ không phải của những người đa chết. Bài Tin Mừng hôm nay quả quyết như vậy. Cho nên mỗi khi đức tin bi thử thách, hay nhớ lại lời Chúa Giêsu và sốt sắng lảnh nhận Mình Máu Thánh Chúa như bảo chứng của sự phục sinh.

Đúng thế, nếu không có cuộc sống mai hậu thì cuộc sống hiện nay trên trái đất là vô nghĩa, nó chẳng đi đến đâu cả, tương tự như trâu bò heo gà mà thôi, hay như dòng suối chảy vào sao mạc và biến mất. Cho nên chẳng chi có thể thay thế được đức tin vào sự sống lại. Chẳng kẻ vô thần, phiếm thần, man rợ, vô đạo nào chấp nhận cuộc đời này là tất cả ước mong của họ. Ngược lại họ van khao khát cái chi hoàn hảo, vĩnh cửu hơn. Vậy thì : họ là con cái Thiên Chúa vì là con của niềm tin sống lại. Amen.


Giuse Vũ An Tôn op

Họ Là Con Cái Thiên Chúa, Con Cái Sự Sống Lại
(Lc 20,27-38)

Bạn làm người được mấy năm ?

Chết hết làm người, bạn định làm gì ?

Sống và chết, có lẽ là điều mà ai trong chúng ta cũng đã từng, đang và sẽ còn nghĩ tới. Ngay cả những người vô thần, dù không tin có đời sau, vẫn băn khoăn về ý nghĩa của cuộc đời. Chúng ta lo lắng mình phải sống làm sao, và chết rồi chúng ta sẽ đi về đâu ? Chúng ta thường tìm cách tưởng tượng xem nếu một mai được sống lại thì chúng ta sẽ như thế nào ? Sự tò mò này chính đáng nhưng không đem lại câu trả lời thoả mãn.

Giữa nỗi tuyệt vọng ấy, quan điểm của Chúa Giêsu qua cuộc đối thoại giữa Người và nhóm Xađốc hôm nay, là cơ sở vững chắc cho chúng ta mạnh dạn tuyên xưng trong kinh Tin Kính : “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.

Chúng ta tin tưởng vững vàng và hy vọng chắc chắn rằng : cũng như Đức Kitô đã thực sự phục sinh từ cõi chết và sống mãi, thì sau khi chết người công chính cũng sống mãi với Đức Kitô Phục sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. (GLHTCG, số 989)

Viễn tượng này giúp chúng ta biết nên đầu tư tiền tài, sức lực, trí khôn vào đâu cho hợp lý và bảo đảm tương lai vững bền. Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời một lần mà thôi. Nếu đầu tư sai, ắt tất cả sẽ “xôi hỏng bỏng không”, tương lai kể như không có, còn cuộc sống hiện tại trở nên vô nghĩa. Do đó, sự sống đời đời đã bắt đầu ngay từ cuộc sống hiện tại. Chính mỗi người đã chọn cho mình số phận vĩnh cửu qua cách sống của mình.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, dù tuyên xưng lòng tin của mình, nhưng thực chất thái độ và suy nghĩ của chúng con : chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị, chức quyền, những tiện nghi sung sướng thoải mái mà thế gian có thể cung cấp,… cũng chẳng khác gì nhóm Xađốc xưa, những người “chủ trương không có sự sống lại”. Chúng con loay hoay thu vén và vội vã thưởng thức những thiên đàng giả tạo, chóng qua nơi trần thế mà quên đi còn một điều cần thiết và cao quý hơn cả là sự sống đời đời trong cung lòng Thiên Chúa. Trào lưu tục hoá và hưởng thụ của xã hội ngày càng phổ biến là một thách đố lớn cho niềm tin vào sự sống đời sau của chúng con. Chúng con luôn bị cám dỗ buông xuôi, vì quanh mình bao người khác đang vui chơi, hưởng thụ mà có ai bị làm sao đâu ; dẫn đến chúng con ngại phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp” (Lc 13,24), vì sợ bị thiệt thòi, sợ bị coi là khác người.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, qua bí tích thánh tẩy chúng con đã được tháp nhập vào trong thân thể Chúa là Hội Thánh. Tuy nhiên, bấy nhiêu đó thôi thì chưa đủ bảo đảm một chỗ trên nước Chúa. Chúng con chỉ thực sự có được cuộc sống mới, được “ngang hàng với các thiên thần” và được gọi là con Thiên Chúa, khi ngay còn sống ở đời này, chúng con biết tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa và không ngừng vâng giữ những lời Người dạy, mà cụ thể là giới răn mến Chúa – yêu người.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, “ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc ?”(Tv 16,2) Chúa chính “là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25). Lời Chúa hứa : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54) là cứu cánh cho cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con ý thức được mình đang sở hữu một món quà cao quý là Thánh Thể Chúa, và biết tận dụng những ngày tháng nơi trần thế sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua việc siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa.

Lạy Chúa, xin cho niềm tin vào sự sống lại luôn là động lực để chúng con sống một cuộc sống tốt đạo đẹp đời. Và xin cho tất cả mọi công việc, hành động, lời nói, suy nghĩ của chúng con đều quy hướng về mục đích cuối cùng ấy. Amen.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp)

CHÚNG TA CÓ MỘT TƯƠNG LAI ĐỂ HƯỚNG TỚI
Luca 20: 27-38

Những câu hỏi về sự sống sau khi chết thì chẳng phải mới mẻ gì . Một cách nào đó, con người đã thắc mắc những vấn đề này ngay từ thuở ban đầu. Tôi mới đến thăm viện bảo tàng mà ở đó những phong tục chôn cất của người Hylạp cũng như cách trưng bày cho thấy rằng các Pharaô được chôn cất trong các kim tự tháp cùng với thức ăn, nước uống, quần áo, trang sức và cả những nô lệ bị giết để chăm sóc cho họ trong cuộc sống sau này.

Ai trong chúng ta chưa từng bao giờ nghĩ đến chuyện đời sống mai sau như thế nào hay việc sống lại sau khi chết sẽ ra sao hay không? Vậy, quý vị nghĩ xem, sau khi chết chúng ta sẽ thế nào đây? Những người chơi Golf có thể thấy họ đang chơi Golf ở Bãi Đá Cuội, miễn phí và không giới hạn thời gian. Những bác nông dân có thể thấy một cánh đồng hoa trái bất tận – nhưng không có hoa bồ công anh và những hạt giống khác. Các bậc cha mẹ có thể mường tượng những bữa ăn tuyệt vời, mà không phải đi chợ, nấu ăn hay với những “thực khách” 5 tuổi đang om xòm. Những hành khách thì mong họ sẽ không bị chậm trễ hay mắc kẹt trên đường cao tốc từ nhà đến công sở. Thực ra, sự di chuyển mà họ có thể hình dung ra có thể là những kỳ nghỉ dài không giới hạn nơi bãi biển và trên những vùng núi cao. Những người cao tuổi thì mơ ước lại có thể chạy nhảy ….và vào một ngày đẹp trời có thể thực hiện vài cú lộn mèo! Những người bệnh nặng thì chỉ muốn một nơi không còn phải uống hay chích thuốc và không còn bị giam hãm trên giường cả ngày nắng ráo hay những ngày mưa rơi.

Khi chúng ta suy nghĩ về cuộc sống mai sau, có thể tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng ở đó chúng ta sẽ không phải làm những việc tay chân cho bằng củng cố nhiều hơn nữa những mối tương quan. Chúng ta hình dung ra việc gặp lại những người yêu dấu. Đó sẽ là nơi không còn những nỗi đau chia ly, không còn tạm biệt và cũng không có hiểu lầm. Nơi đó những xúc phạm của quá khứ được thứ tha và những hận thù được quên đi mãi mãi. Và chúng ta chỉ nói và nhớ về những biến cố hạnh phúc,…không có những tiếc nuối, không có loại trừ, hoặc giả như còn thì cũng được xem nhẹ đi. Không phải trở thành ai khác nhưng là chính chúng ta. Và như thế thì thật tốt cho chúng ta.

Nhiều người hình dung đời sau giống như là sự kéo dài của cuộc sống hiện tại – căn bản là giống nhưng được cải thiện rất nhiều. Trong bài Tin Mừng hôm nay, nhóm Sađốc thách thức Đức Giêsu với sự suy đoán của họ về cuộc sống đời sau. Họ phóng đại hoàn cảnh sống hiện tại. Đó là một tập quán để bảo vệ góa phụ không con và để đảm bảo an toàn cho người phụ nữ, người này sẽ cưới người em của ông chồng quá cố của mình. Những người Sađốc muốn gài bẫy Đức Giêsu bằng cách sử dụng một ví dụ vô lý. Bảy người chồng đều chết và hỏi xem ai sẽ là chồng của bà khi sống lại. Họ lấy một ví dụ trong cuộc sống hiện tại và muốn kéo dài nó qua cuộc sống đời sau.

Đức Giêsu trả lời cho họ như sau: “các ông chẳng có ý niệm gì về ý nghĩa của sự phục sinh”. Đức Giêsu không vẽ lên một bức tranh mô tả cuộc sống đời sau như thế nào, Người cũng không nói về những cánh cổng ngọc ngà, con đường bằng vàng ròng hay những ngai báu trên trời. Hay nói cách khác, Người không lấy những sự vật đời này và mang chúng vào đời sau như với một phiên bản đã được nâng cấp. Thay vì nói đến những sự vật, Người nói đến những mối tương quan – tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với tha nhân.

Trong khi cuộc sống đời sau chắc chắn sẽ rất khác cuộc sống đời này - nhưng cũng có vài thứ giống như đời này. Chúng ta vẫn là “Con của Thiên Chúa”, như Đức Giêsu kêu gọi chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay. Đó chính là đảm bảo cho chúng ta. Mối tương quan khăng khít của chúng ta ở đời này với Thiên Chúa sẽ không bị cái chết phá vỡ. Thiên Chúa đã ký kết với chúng ta một giao ước và vì thế chúng ta sẽ chẳng bao giờ bị chia tách khỏi Thiên Chúa.

Đức Giêsu muốn chúng ta điều gì? Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và giao ước bền vững của Ngài. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và chính tình yêu ấy cùng với chúng ta từ đời này đến đời sau. Tình yêu của Thiên Chúa sẽ không rời bỏ chúng ta dù khi chúng ta quá già hay quá yếu đến độ không tự chăm sóc bản thân mình, không bỏ rơi chúng ta dù khi chúng ta nghi hoặc hay thắc mắc về tình yêu ấy; tình yêu ấy cũng không rút khỏi chúng ta ngay cả khi chúng ta phạm tội. Tình yêu của Thiên Chúa vẫn ở với chúng ta dù chúng ta cảm thấy không thể yêu. Tình yêu của Thiên Chúa vẫn ở quanh chúng ta ngay cả khi chúng ta cầu nguyện không sốt sắng, khi chúng ta lo ra hay đang bận tâm với những nhu cầu vặt vãnh thường nhật.

Tình yêu của Thiên Chúa vẫn luôn trung tín dẫu cho bạn bè hay người thân trong gia đình có quay lưng lại với chúng ta đi nữa, như Đức Giêsu nói: Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống. Thiên Chúa hứa cho chúng ta sự sống đời đời; chúng ta sẽ đến cùng Thiên Chúa và Thiên Chúa của chúng ta sẽ chẳng bao giờ chết, và chẳng bao giờ phá vỡ tình yêu bao la liên kết chúng ta với Thiên Chúa ngay từ đời này. Thế đâu là sự khác biệt về niềm tin vào sự phục sinh của chúng ta? Nó giúp chúng ta nhìn cuộc đời qua “đôi mắt phục sinh”. Nhìn cuộc đời bằng đôi mắt phục sinh mang lại cho chúng ta sức mạnh khi chúng ta chịu thử thách và trong giờ lâm tử.

Sống bằng ánh sáng mới của chúng ta, chúng ta sẵn lòng hiến tế bản thân mình vì sự hiện hữu tốt đẹp của người khác. Chúng ta sẽ cảm thấy vơi  đi phần nào sự bất mãn vì những thiếu thốn của mình, và quan tâm hơn đến những gì chúng ta đang có và mãi có…tình yêu thương của chúng ta đối với người khác và tình thương của Chúa dành cho chúng ta. Đôi mắt phục sinh cho chúng ta mối quan tâm mới đến cuộc sống mà chúng ta được lớn lên trong sự biết ơn đối với tha nhân và cũng là được Thiên Chúa yêu mến. Chúng ta không đánh giá người khác dựa trên những thành tựu hay của cải của họ, nhưng vì họ cũng là con cái của Chúa.

Chúng ta cũng tự vấn chính mình, những người có đôi mắt phục sinh, “Tôi có đang dùng năng lực của mình vào những giá trị vĩnh cửu hay đang phung phí tài năng và thời giờ vào những việc chóng qua? Chúng ta có một tương lai để hướng tới như Đức Giêsu nói với chúng ta, vậy chúng ta đã làm gì để đạt được tương lai ấy? Dù Đức Giêsu không cho chúng ta một bức tranh hay đoạn phim nói về những gì đang chờ chúng ta ở phía trước, Người đảm bảo với chúng ta rằng nếu chúng ta ở lại trong tương quan với Chúa, thì chẳng gì có thể phá hủy nổi tình yêu ấy, dù là sự chết. Thiên Chúa được định nghĩa là Người Yêu, Đấng yêu thương chúng ta qua cả cái chết, tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không bao giờ chết. Bí tích Thánh Thể hôm nay luôn luôn nhắc nhớ chúng ta về tình thương hải hà của Thiên Chúa và hiến tế mà Thiên Chúa đã thực hiện vì yêu thương chúng ta.

Lm. Jude Siciliano, O.P.

 Để cho Lời Chúa được vang xa

2Mcb 7,1-2.9-14; Tv 17; 2Tx 2,16–3,5; Lc 20,27-38

Kính thưa quý vị,

Trong thế giới cổ đại của người Sêmít và ở một vài nơi khác, người ta vẫn tin rằng lời phát biểu là một điều gì đó sống động và có sức mạnh riêng. Vì ít người biết đọc biết viết, nên lời phát biểu đó giữ vai trò quan trọng.

Khi một từ được viết ra giấy là nó mang lấy một sức sống trải dài tới tương lai. Đối với cha ông chúng ta, những lời phát biểu cũng giống như thế; một khi được nói ra, tự thân những lời đó mang lấy một sức sống riêng. Khi người ta hẹn ước với nhau, chẳng hạn trong hôn nhân, thì những giao kèo và khế ước, vốn là những ngôn từ ở hiện tại, đều hướng đến tương lai. Những lời chúc phúc và nguyền rủa cũng tương tự như vậy, đó là những lời một khi được nói ra, mang lấy một thực tại của riêng chúng. Quý vị còn nhớ ông Giacóp đã lừa gạt cha mình là Isaác để nhận lấy phúc lành, mà lẽ ra phúc lành đó thuộc về người anh của ông là Êsau như thế nào không? Dẫu cho ông Giacóp có được phúc lành từ trò mánh lới đi nữa, thì ông Isaác cũng không thể đòi lại phúc lành đó. Phúc lành mà người cha ban cho ông Êsau là một lời chúc phúc khác và thua kém hơn (St 27).

Trong suốt Cựu ước và cả Tân ước, sức mạnh của lời là chủ đề then chốt. Lời Thiên Chúa thường được mô tả như đang hiện diện, hay đang trở thành hiện thực. Lời của Thiên Chúa mà các ngôn sứ đón nhận là sự vươn xa như chính Thiên Chúa vậy. Lời được nói ra thế nào thì lời cũng thi hành như vậy, bởi vì lời đó có sự hiện diện sống động của Thiên Chúa. Thực tại mà lời đề cập đến sẽ trở nên hiện hữu. Chẳng hạn, ngôn sứ Isaia tuyên bố rằng lời giống như mưa với tuyết, nó sẽ hoàn thành nhiệm vụ được sai đi (Is 55,10 tt). Từ những dòng đầu tiên trong Kinh Thánh, ta thấy sức mạnh sinh động và sáng tạo của lời Thiên Chúa đã được biểu lộ. Thiên Chúa phán và công trình tạo dựng được khởi sự (St 1). Lời các ngôn sứ trong những bản văn Hípri được Tin Mừng trong Tân ước tiếp nối.

Những câu mở đầu trong thư thứ hai gửi tín hữu Thêxalônica là một lời chúc lành thật dễ thương, mà chúng ta có thể dùng để cầu chúc cho nhau và cho người khác. Lời đó cũng biểu lộ sự trìu mến và lắng lo mà tác giả dành cho giáo đoàn ở Thêxalônica.

Phần thứ hai nơi bản văn này đề cập những điều được nói ở trên về sức mạnh của lời. Vì những điều thánh Phaolô nói với chúng ta trong bài đọc hôm nay, nên tôi bắt đầu bằng một cái nhìn khái quát về lời.

Thánh Phaolô dạy rằng đức tin có được là nhờ nghe giảng, và khi lời được công bố thì mới có nghe giảng (Rm 10,17). Điều nổi bật nơi bài đọc hôm nay là lời cầu nguyện của thánh Phaolô: “Để lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh, như đã thấy nơi anh em”. Ngài đã dùng một hình ảnh thể thao để nói về Tin Mừng. Ngài không nhắm vào những người sẽ phổ biến lời; nhưng ngài cầu nguyện rằng ước chi Tin Mừng, lời sống động của Thiên Chúa, sẽ mau chóng lan ra khắp thế giới. Chúng ta, những nhà giảng thuyết và những thầy dạy, sẽ an lòng biết bao khi biết được hoa trái của công việc chúng ta làm không phải chỉ lệ thuộc vào những nỗ lực của mình!

Xin được nói vắn gọn về nguồn gốc của tác phẩm và tác giả: thư thứ hai gửi giáo đoàn Thêxalônica được viết trong thời kỳ bách hại của Domitian. Lý do viết thư này là nhằm khuyến khích độc giả giữ vững đức tin. Người ta vẫn còn nghi ngờ không biết thánh Phaolô có phải là tác giả hay không, tương tự như đối với các thư gửi giáo đoàn Êphêxô và Côlôxô. Trong thế giới Hy Lạp – Rôma, người ta thường gán một tác phẩm cho một tác giả khác, hay thậm chí là một tác giả đã qua đời. Mặc dù thánh Phaolô có thể không viết thư thứ hai gửi giáo đoàn Thêxalônica, nhưng việc khẳng định ngài là tác giả đã nại đến thẩm quyền và truyền thống giảng dạy của ngài.

Thư thứ hai gửi giáo đoàn Thêxalônica chứa đựng sự khôn ngoan về mặt tin thần. Điều này giúp chúng ta nhìn vào đức tin của các Kitô hữu tiên khởi; một đức tin gặp nhiều thử thách vì bị bách hại. Hầu như Giáo hội ngày nay không phải trải qua kiểu bách hại như thế. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không gặp những khó khăn từ: những vụ bê bối của hàng giáo sĩ, việc đóng cửa các nhà thờ giáo xứ, khủng hoảng tài chính, những bất bình trong Giáo hội gia tăng, số linh mục và tu sĩ nam nữ giảm sút, những khác biệt về phụng vụ… Trong đức tin, chúng ta có thể được gợi hứng bởi những người biết sống tiết độ trong thời đại của mình, và chúng ta được trở nên mạnh sức nhờ mẫu gương kiên trì và can đảm của họ. Sau hết, Thánh Thần luôn nâng đỡ họ, cũng chính là Thánh Thần hằng ở với chúng ta.

Thánh Phaolô không thất vọng, nhưng thay vào đó, ngài cầu nguyện rằng: “Ước chi lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh”. Lời cầu nguyện đó nói về việc vươn xa và phổ biến mau chóng của Tin Mừng. Thánh Phaolô hy vọng Thiên Chúa sẽ làm cho họ có khả năng thực thi những điều Tin Mừng đòi hỏi. Ngài nhấn mạnh đến sự tín thác nơi lời cầu nguyện cho cộng đoàn đang phải đau khổ, và lời cầu nguyện cho sứ vụ của cộng đoàn là phổ biến Tin Mừng.

Thánh Phaolô từng cầu nguyện cho các tín hữu Thêxalônica, giờ đây ngài muốn họ cầu nguyện cho ngài. Đó không phải là cầu nguyện cho sức khỏe thể lý của ngài, nhưng cầu nguyện cho việc phổ biến Tin Mừng. Những nhà giảng thuyết như chúng ta có thể học lấy từ yêu cầu của thánh Phaolô khi nhờ mọi người cầu nguyện cho việc rao giảng của ngài. Đây đúng là một lời thỉnh cầu khiêm tốn của nhà giảng thuyết tài năng, mang lấy trách nhiệm phải phổ biến Tin Mừng cho các cộng đoàn dân ngoại vượt ra khỏi dân tộc Israel!

Noi gương thánh Phaolô, chúng ta có thể cầu nguyện cho các nhà giảng thuyết hôm nay qua Lời nguyện Tín hữu trong buổi cử hành phụng vụ này. Hẳn rằng, các nhà giảng thuyết đó bao gồm cả hàng giáo sĩ và hàng giáo dân: các linh mục, phó tế, hội đồng mục vụ giáo xứ, những vị thủ lãnh các nhóm Kinh Thánh, các giáo lý viên… Xin hãy nhớ đến các bậc phụ huynh nữa, và những người được mời gọi để chia sẻ niềm tin cho người khác, tất cả chúng ta đều là nhà giảng thuyết! Cùng với thánh Phaolô, chúng ta cầu nguyện để “Lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh”.