Năm C

 
 

Chúa Nhật XXIX Thường Niên - Năm C

Xh 17:8-13 ; 2 Tm 3:14 - 4:2 ; Lc 18:1-8

 

An Phong : Thiên chúa của Người nghèo

Như Hạ op : Cầu Nguyện Như Một Thách Đố 

Fr. Jude Siciliano, op. : Chúa Bênh Vực Kẻ Nghèo Hèn

Fr. Jude Siciliano, op : Chúa Ban Ơn Cho Kẻ Khiêm Nhường

G. Nguyễn Cao Luật, op : Tin Mừng Thúc Bách Tôi

Giuse Vũ An Tôn op : Hãy Kiên Trì Cầu Nguyện

Đỗ Lực op : Sức Mạnh Truyền Giáo

Fr. Jude Siciliano, op : Được mời gọi để nên tiếng nói cho lòng xót thương

Fr. Siciliano, op: Hãy kiên trì cầu nguyện

 

 


An Phong

Thiên chúa của Người nghèo
Lc 18:1-8

Xã hội loài người

Chúa Giêsu kể chuyện một quan toà bất chính, ông ta "chẳng kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì". Qua lối nói vắn gọn như thế, Chúa Giêsu muốn trình bầy cho chúng ta một con người nắm quyền hành, ngang ngạnh, "khó chơi"...; và điều đó nói lên tình trạng bế tắc, dường như không còn con đường nào để một con người nhỏ bé trong xã hội, một bà goá, có thể tìm được công lý.

"Vũ khí" của người bé mọn

Tuy nhiên, điều tưởng chừng như không thể như thế lại trở nên có thể với lòng kiên nhẫn. Lòng kiên nhẫn của bà góa đã làm cho con đường bế tắc của người yếu thế được thành tựu, nhờ vào chính sự mệt mỏi của vị quan toà cứng lòng. Người nghèo không có tiền bạc, không có sức mạnh, không có lý lẽ khôn ngoan, nhưng có một vũ khí lợi lại, đó là lòng kiên nhẫn. Chính nỗi cực nhọc của đời sống làm cho người nghèo biết kiên nhẫn và có thể đạt được mục tiêu mình mong muốn.

Dĩ nhiên, Thiên Chúa không phải là một quan án bất công. Dụ ngôn ở đây chỉ muốn củng cố kết quả của lòng kiên nhẫn trong việc cầu nguyện. Nếu như lòng kiên nhẫn có thể thay đổi lập trường của vị quán án hắc ám, thì huống hồ gì đối với Thiên Chúa.

"Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ?"

Sự kiên trì của niềm tin

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không trình bầy ở đây một sự kiên nhẫn thuần túy con người. Chúa cho thấy căn bản của vấn đề là ở lòng tin. Chính lòng tin vào chúa giúp người ta biết kiên nhẫn. Do đó, Chúa Giêsu muốn củng cố lòng tin của người tín hữu khi khẳng định chắc chắn Thiên Chúa sẽ ra tay tiếp cứu, dù ra như Ngài có đến chậm. Ðây là một vấn đề lớn của Giáo Hội sơ khai : người ta tưởng Chúa sắp đến để xét xử chung cuộc, những đợi mãi mà vẫn chưa thấy, người ta tưởng Nước của Ngài sắp tỏ hiện huy hoàng, nhưng người Kitô hữu vẫn bị bắt bớ.... Ngày nay cũng vậy, đã có rất nhiều lời tiên báo về ngày tận thế, rồi nhưng rồi mọi sự vẫn trôi qua một cách "bình thường". Chúa Giêsu hình như hiểu rõ điều đó, Ngài phải thốt lên:

"Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Thực sự ta không thể hiểu được cách làm của Thiên Chúa. Việc của ta và điều Chúa Giêsu nhắc nhở ta là : hãy vững tin, đừng sợ.; vì..."Người sẽ mau chóng bênh vực họ"

Lời nguyện :

Lạy Chúa Giêsu,

Có lẽ vì con chưa ý thức tình trạng bế tắc của đời con như bà goá nghèo nọ,

nên con cũng chưa đủ lòng tin,

lòng kiên nhẫn trong lời cầu nguyện.

Con còn tìm nhiều đường lối khác để giải quyết đời con,

nên chưa hoàn toàn tin vào Chúa.

Xin tha thứ cho con.


Như Hạ op

Cầu Nguyện Như Một Thách Đố 
Lc 18:1-8 

Theo Viện Thống kê Gallup, "cuộc thăm dò dư luận từ ngày 21-23 tháng 9 cho biết 64% dân chúng Hoa Kỳ đã cho rằng tôn giáo “rất quan trọng” trong đời sống của họ, 47% nói họ đã dự lễ ở nhà thờ hay hội đường trong tuần lễ trước đó." (CWNews 5/10/2001) Sau đó cả nước Mỹ đã tổ chức ngày cầu nguyện cho các nạn nhân. Nhưng một số người vô thần phản đối, vì theo họ không cần phải cầu xin ai cả. Chỉ cần dựa vào sức con người cũng có thể giải quyết vấn đề ! Nếu không có liên hệ chặt chẽ giữa niềm tin và lời cầu nguyện, liệu có sự phản đối đó không ? Chúng ta chờ đợi câu trả lời của Chúa trong dụ ngôn hôm nay.

HAI KHUÔN MẶT.

Ðức Giêsu là một họa sĩ đại tài. Ðể thu hút giới hâm mộ, Người đã tô đậm một nền đen nghịt, tức là ông quan tòa "chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì." (Lc 18:2) Con người ông là một khối băng giá ngất ngưởng giữa trời. Bằng chứng ông ngâm tôm vụ bà góa kiện đối phương "trong một thời gian khá lâu." (Lc 18:4) Chỗ dựa duy nhất của bà là người chồng không còn nữa. Bà mất tất cả. Bởi vậy, bà mới dễ dàng bị đối phương ăn hiếp. Ai muốn hại bà cũng được. Cuối cùng vì không thể chịu không nổi, bà mới lôi đối phương ra tòa. Hẳn vụ kiện không phải nhỏ. Sau bao ngày tháng kêu réo, bà đã thắng lòng lì lợm của quan tòa. Bà chỉ còn một phương tiện tranh đấu duy nhất là kiên nhẫn kêu than suốt đêm ngày tại cửa quyền. Quan tòa bực bội hết sức. Cuối cùng, "ông ta nghĩ bụng : ?Mụ góa này quấy rầy mài, thì ta sẽ xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.?" (Lc 18:5) Dầu sao, công lý đã trở lại pháp đình, không phải vì quan tòa công minh hay có lòng thương cảm đối với những người thấp cổ bé họng, nhưng chỉ vì một lý do hoàn toàn cá nhân. Con người có thể ích kỷ cả khi làm một việc tốt cho người khác ! Dầu sao, việc bà bị đối phương hãm hại đã được đưa ra ánh sáng.

Sau khi đã tạo được một nền mờ tối như thế, Ðức Giêsu đặt vấn đề : "Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi ? Thày nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ." (Lc 18:7) Mặc dù cao vượt hơn con người, nhưng "Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn," (Lc 2:78) chứ không vô tâm như "quan tòa bất chính ấy." (Lc 18:6) Thực tế, Thiên Chúa luôn dấn thân vào lịch sử nhân loại và can thiệp để kịp thời giải cứu những người cô thế cô thân.

Thiên Chúa sẵn sàng đáp ứng những khát vọng chính đáng của con người. Nhưng không thể hiểu Thiên Chúa như một cái máy rút tiền lúc nào cũng sẵn sàng nhả tiền cho khách hàng. Thiên Chúa thấu hiểu tất cả hiện tại và tương lai. Con người giống như người đứng dưới chân núi, không thể bao quát toàn cảnh như Thiên Chúa ở trên cao. Bởi đấy những nhận định của họ nhiều khi có tính cách chủ quan và hạn hẹp. Ðó là nguyên nhân khiến lời cầu nguyện trở thành một thách đố. Những lúc lâm vào hoàn cảnh như thế, con người thường đồng hóa Thiên Chúa với bộ máy lạnh lùng, lạnh lùng hơn cả quan tòa trong dụ ngôn hôm nay. Bởi thế, có nhiều người không tin vào lời cầu nguyện, nghĩa là không tin có Thiên Chúa lắng nghe khát vọng con người và giải quyết những khó khăn cuộc sống nhân sinh. Họ mất kiên nhẫn. Từ đó, họ có ác cảm với Thiên Chúa và mọi hình thức cầu nguyện.

Nhưng đối với tín hữu, cầu nguyện là lẽ sống. Con người có thể gặp thử thách, nhưng không tuyệt vọng khi chưa đạt được điều mong ước khi cầu nguyện. Thiên Chúa chưa đáp ứng không có nghĩa là Người từ chối lời cầu nguyện. Trái lại, cần phải biết chuẩn bị và biết lắng nghe Thiên Chúa. Nếu bà góa cũng chóng nản lòng thối chí, chắc chắn chẳng bao giờ vụ kiện được minh xét. Lòng kiên nhẫn đã trở thành một sức mạnh khiến cho lời bà thấu đến tai quan tòa. Ðó là một bài học đắt giá cho những ai muốn lời cầu nguyện thấu đến Thánh Nhan. Chính Ðức Giêsu đã quả quyết : "Ai kiên nhẫn tới cùng sẽ được cứu thoát."

Không những cần kiên nhẫn, người tín hữu còn phải cầu nguyện không ngừng. Chính Ðức Giêsu đã làm gương rất lớn và còn dạy chúng ta cầu nguyện cùng với Chúa Cha. Lời cầu nguyện của Người vào giờ phút bi thương nhất tưởng như rơi vào hư vô. Thế nhưng, Chúa Cha đã sai Thánh Linh phục sinh thân xác Ðức Giêsu. Ðó là lời đáp trả kỳ diệu của Thiên Chúa cho người công chính như Ðức Giêsu. Lời cầu nguyện tuyệt vời của Ðức Giêsu đã cuốn hút tất cả con người của Người vào trong tình yêu Thiên Chúa.

Vì thế, khi lắng nghe và nhìn thấy Ðức Giêsu cầu nguyện, chúng ta mới biết mình phải làm gì để Thiên Chúa nhận lời. Dĩ nhiên cần phải "mặc lấy Chúa Kitô" nghĩa là phải sống công chính như Chúa, để lời cầu nguyện có một sức mạnh. Hơn nữa, "chính việc trung thành với Thiên Chúa của Ðức Giêsu là động lực cầu nguyện." (The New Jerome Biblical Commentary 1990:710) Nhưng nếu cho rằng lời cầu nguyện chỉ là một hành động chủ quan, một cách biến đổi chúng ta hay là cách diễn tả một sự bất lực hoặc một thứ hứng khởi tâm lý, đức tin chúng ta sẽ khác lạ với đức tin trong Thánh kinh. Tự căn bản Thiên Chúa chẳng màng gì tới những nhu cầu nhân loại và không đáp ứng nhu cầu đó. Thực tế, Thiên Chúa lắng nghe và đáp ứng lời cầu nguyện của "những kẻ Người tuyển chọn, hằng đêm ngày kêu cứu với Người." (Lc 18:7) "Lời cầu nguyện thực sự có ảnh hưởng nào đó trên cách Thiên Chúa hành động trong thế giới." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:766) Bằng chứng, khi giao chiến với quân Amalếch, chính nhờ lời ông Môsê cầu nguyện, dân Do thái đã chiến thắng (x. Xh 17:8-13)

KHỦNG HOẢNG ÐỨC TIN.

Chính nhờ niềm tin sâu xa nơi Thiên Chúa, ông Môsê đã đem lại sức mạnh cho dân Do thái. Con người hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu giải thoát vô cùng lớn lao. Nhưng những ai hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, sẽ thấy Người hành động để "hạ bệ những ai quyền thế" và "nâng cao mọi kẻ khiêm nhường." (Lc 1:52) Niềm tin đó phải được thể hiện qua việc cầu nguyện. Nói khác, cầu nguyện chính là một cách diễn tả niềm tin cách sống động và sâu xa nhất. "Vì khi cầu nguyện, chúng ta diễn những gì chúng ta tin về Thiên Chúa và về mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:766) Lời cầu nguyện quả thật có một tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống. Nhưng lời cầu nguyện chỉ thực sự có giá trị và sức mạnh khi phát xuất tự một "đức tin có chất lượng và sống động." (NIB 1995:339) Nếu tin, chúng ta sẽ thấy "chính Thiên Chúa quan tâm tới tạo vật và đáp ứng tiếng chúng kêu xin." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:766)

Nhưng niềm tin đó đang gặp khủng hoảng lớn lao trên thế giới. Nhân loại đang đánh mất chiều kích lớn lao nhất, chiều kích Thiên Chúa. Vì thế, con người không thể giải quyết những vấn đề phức tạp. Tương quan nhân loại trở thành nhạt nhẽo và trống rỗng. Bởi không tin Thiên Chúa và khinh thường anh em, nên họ cũng chẳng cần phải gắn bó với ai. Nhân loại phân rẽ thành các khối thù nghịch. Vết nứt càng ngày càng lớn thành một hố sâu sẽ nuốt sống toàn thể nhân loại. Ðể lấp đầy hố sâu đó, con người cần phải chạy đến với Thiên Chúa. Vì chỉ một mình Thiên Chúa mới có khả năng "xẻ núi lấp sông" mà thôi. Bởi đấy, các tín hữu hoàn toàn tin tưởng sẽ tìm được sức mạnh đích thực trong lời cầu nguyện. Nhờ sức mạnh đó, con người có thể lớn lên theo một tầm vóc Ðức Kitô. Càng dựa vào Thiên Chúa, con người càng trưởng thành. Niềm tin vô cùng quan trọng cho thăng tiến nhân loại theo chiều hướng cánh chung. cần kiên trì mới thấy được tất cả sức mạnh của niềm tin. "Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?" (Lc 18:8)


Fr. Jude Siciliano, OP.

Thiên Chúa Bênh Vực Kẻ Nghèo Hèn
(Lc 18, 1 - 18)

Thưa quí vị.

Khi khai triển tin mừng hôm nay hôm nay, chúng ta phải cẩn thận kẻo dụ ngôn người đàn bà goá và viên quan toà bất chính dẫn chúng ta đi lạc đường. Nó có thể là một bài học quí giá về kiên trì cầu nguyện. Nhưng cũng là một cái bẫy nguy hiểm. Chúng ta có nguy cơ làm cho thính giả hiểu sai về Thiên Chúa, Ðấng luôn đầy lòng yêu thương. Trong câu truyện thì ông quan toà độc ác, vô lương tâm. Không thể so sánh với Thiên Chúa. Xin nhớ lệnh truyền: "Các người sẽ không có thần lạ trước mặt ta (Xh 20, 3). Cho nên nguy hiểm giảng "thần lạ" cho giáo dân tuần này là rất lớn. Nếu chúng ta không lưu tâm về ý nghĩa của câu truyện. Ngay cả khi diễn giả có ý "ngay lành" khai triển nó theo chiều hướng đạo đức. Cái bẫy nằm ở chỗ những quí vị có đầu óc tân thời, quá tự do phóng khoáng, thích những chuyện giật gân, ăn khách.

Tôi muốn nói chúng ta thiếu kinh nghiệm, gượng ép những hình ảnh cầu kỳ làm sai lạc điều Chúa Giêsu dạy bảo. Thí dụ: Có vị so sánh ông quan toà là Ðức Chúa Trời và nhân loại là các bà goá. Tác giả khuyên phải cầu nguyện không ngừng nếu muốn được Thiên Chúa nghe lời. Cứ cầu khẩn rồi thì tất yếu Ngài nhượng bộ mà ban cho chúng ta điều ước muốn, bất kể nội dung cầu nguyên chính đáng hay không. Thành thử dụ ngôn biến thành cách nói ví von (allegory = biểu dụ). Hậu quả là chúng ta vẽ ra một Thiên Chúa lòng chai dạ đá (hard hearted God) và những lời cầu nguyện của chúng ta giống như những giọt nước nhỏ mãi, nhỏ mãi trên mặt phiến đá khiến nó phải sói mòn. Ðức Chúa Trời sẽ mệt mỏi để rồi ban tất cả những thứ chúng ta xin. Ông quan toà trong dụ ngôn là một kẻ xấu, không có lương tâm, đầy tham nhũng so sánh với Thiên Chúa nhân hậu, từ bi sao được !

Chúng ta chỉ nên áp dụng một phần của dụ ngôn, tức lòng kiên trì đòi hỏi của bà goá. Còn phần không xứng hợp thì bỏ qua. Nếu cứ ương ngạnh so sánh Thiên Chúa với ông quan toà thối nát, thì khi cầu xin, chúng ta sẽ cảm thấy hoàn toàn cô đơn, bởi lẽ chẳng Thiên Chúa nào thèm lắng tai nghe và cũng chẳng biết cậy nhờ vào ai ! Ðấng toàn năng đã được tô vẽ như một thần linh vô cảm ! Lúc ấy dù thanh minh thế nào đi nữa, chúng ta vô tình rao giảng về "thần lạ" cho tín hữu, chứ không phải Thiên Chúa là Cha Ðức Giêsu. Thê thảm biết mấy, nhưng là điều thường xảy ra trong giáo hội. Người ta sáng tạo ra những tên hấp dẫn để gọi các thứ thần học ấy. Thí dụ : giải phóng, hậu Kitô giáo, nữ giới, địa phương, nhân quyền. Tựu trung là những hình ảnh giả tạo của một Thiên Chúa rập khuôn theo não trạng riêng tư, phe nhóm. Hoặc một Thiên Chúa quá nghiêm khắc, oán phạt những kẻ xúc phạm, không tha thứ, không xót thương. Hoặc Thiên Chúa phân liệt, một nửa với chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô, nửa khác là thượng đế chí thánh cao vòi vọi ở xa nhân loại.

Những ai năng đọc phúc âm thì nhận ra ngay dụ ngôn này là của thánh Luca, không cần chỉ rõ. Bởi thánh nhân yêu thích đề tài này. Có một lần ông đã đề cập tới nó rồi. Ðó là dụ ngôn người bạn quấy rầy (11, 5). Trong đó Chúa Giêsu tuyên bố một điều phấn khởi : "Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. anh em là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt lành, phương chi cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin người sao". Câu truyên hôm nay cũng vậy. Quan toà tồi tệ mà còn phải nhượng bộ cho bà goá kiên trì huống hồ Ðức Chúa Trời nhân lành ! Lời cầu nguyện của những kẻ nghèo hèn chắc chắn sẽ được Thiên Chúa lắng nghe. Thánh Luca đặc biệt lưu ý đến phụ nữ và trẻ con. Bởi họ là hạng người không quyền lực và dễ bị tổn thương. Xã hội chẳng mấy quan tâm đến họ, coi như những kẻ ngoài lề, thấp hèn. Ðiều đó được đại diện bởi bà goá trong dụ ngôn hôm nay, bà hoàn toàn lệ thuộc vào đàn ông, con trai, nhưng thường khi bị phản bội. Bà biết chạy đến ai để kêu cứu ? Dĩ nhiên đến quyền bính. Nhưng quan toà hôm nay được mô tả: "Chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì." Bà hết đường hy vọng, chỉ còn phương cách là chai lì năn nỉ.

Nhưng đây không phải là người đàn bà bình thường. Bà nhất quyết đòi cho được quyền lợi của mình. Vũ khí là lòng kiên trì đòi hỏi công lý: gặp quan toà thoái hoá bà cũng không nản lòng. Bà làm cho ông ta mệt mỏi và bà đã đạt được mục tiêu. Theo ngôn ngữ gốc Hy lạp thì ông sợ bà nổi sùng, cho ông vài cú đấm, có khi làm ông xưng mặt mù mắt. Phúc âm kể: "Nhưng mụ goá này cứ quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài mãi, làm ta nhức đầu nát óc." Lớp bình dân, thính giả của Chúa Giêsu lúc ấy, hẳn tức cười khi nghe Chúa mô tả người đàn bà "nguy hiểm" này. Bà tính đấu võ và cho đo ván ông quan toà bất chính. Bởi họ cũng là nạn nhận của quyền bính, thường bị quan trên ức hiếp, tước bỏ quyền lợi, ăn cướp tài sản !

Tuy nhiên, số phận của bà ta cũng là số phận của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân thời nay. Các cuộc bầu cử ở nước Mỹ đang tới gần. Những chính trị gia, phe nhóm, đảng phái sẽ lắng nghe ai ? Quyền lợi của ai sẽ đứng đầu danh sách tranh cử ? Bằng tiền bạc, ảnh hưởng, họ luôn luôn làm mưa làm gió, làm bão táp trên nền chính trị nước Hoa kỳ ! Nếu không có những nhóm người này kêu gào thì chúng ta đâu cần nhiều cuộc bầu cử đến thế ! Cho nên, trong suy nghĩ của họ không phải là quyền lợi của di dân, vô gia cư, thiểu số, ngoài lề, già cả, thanh niên thất nghiệp mà là của guồng máy tài chính, thương mại, các công ty đa quốc gia ! Hãy coi chừng các ứng cử viên. Họ thay đổi lời hứa như những chiếc chong chóng mà người Trung hoa gọi là cái thiên địa vận.

Xin lưu ý cụm từ: Thiên địa vận quay như chong chóng, thì nền chính trị nước Mỹ cũng vậy. Nói chung mọi nền "dân chủ" đều như thế cả. Hỡi ôi, tâm địa loài người! Vì lẽ đó, chúng ta có thể hiểu tiếng nói của bà goá trong Tin Mừng từ góc cạnh khác. Lúc này bà nói thay cho những kẻ bị áp bức trong xã hội. Liệu lời yêu cầu của bà có được các tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, tỉnh trưởng, thống đốc lắng nghe ? Liệu các nhà hoạch định chương trình kinh tế, khoa học, môi trường, sinh thái, để ý đến các nhu cầu của tầng lớp nghèo khổ trong xã hội ? Hay vô tâm di dời, chiếm đất đai để lập công trình, nhà máy mà không đền bù thoả đáng. Hãy tưởng tượng người đàn bà can đảm đứng giữa những phó thường dân kêu lớn: "Ðối phương tôi hại tôi, xin ông minh xét cho." Tiếng kêu của bà cũng là của đa phần công dân các nước hiện nay. Người ta hứa hẹn công lý, nhưng là thứ công lý cho kẻ mạnh, lắm tiền nhiều của, còn dân đen tha hồ chờ đợi. Báo chí đầy dẫy những trường hợp như vậy. Có người đến 10, 20, 30 năm mới được minh oan. Lúc ấy tài sản đã tiêu tan hết vì vụ kiện. Nhiều trường hợp khác nạn nhân chịu đựng bất công trọn cả cuộc đời.

Cho nên dụ ngôn này là một dụ ngôn "biết bao". Thiên chúa sẽ bênh vực các kẻ nghèo hèn, khốn khổ, kêu cầu Ngài hơn biết bao. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu vẽ ra một ông quan toà đáng ghét. Nhưng ông buộc lòng phải xét xử cho bà goá liên tục kêu oan và thỏa mãn yêu cầu của bà. Như vậy Chúa Giêsu muốn dạy bảo: "Nếu như một người xấu đến thế mà còn phải nhượng bộ, huống chi Thiên Chúa, Ðấng nhân lành vô cùng, lại không thương đến các số phận hẩm hiu hơn sao ? Ðó là lý do để chúng ta tin cậy vào lẽ công bình của Ngài. Chắc chắn, Ngài chẳng bao giờ đang tâm chống lại dân mình , một dân luôn chịu đựng thù ghét, áp bức, bóc lột bất công ! Dĩ nhiên, cuộc đấu tranh của Hội thánh, của từng tín hữu nằm ở sự kiện thế giới đầy dẫy bất công áp bức, nhất là đối với những kẻ thua thiệt trên đường đời. Chẳng khi nào, chẳng nơi đâu vắng bóng Satan gây chiến tranh, chết chóc. Cho nên cuộc vật lộn phải là trường kỳ và liên tục, buông lơi là xảy ra nguy cơ thất bại. Chúa Giêsu đã từng khuyên nhủ tín hữu phải luôn tỉnh thức.

Chúng ta phải hằng ngày cầu xin Chúa cho mọi sự được an lành và giúp đỡ cho danh thánh Chúa được tỏ rạng khắp nơi. Tuy nhiên, đừng hy vọng tình thế cải thiện. Nọc độc hoả ngục đã, đang, và sẽ nhuốm bẩn dòng sông sự sống. Ðôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng vì luân lý ngày càng tồi tệ. Chúng ta muốn ngưng cầu nguyện, giơ đôi tay lên trời than vãn: Ích chi nữa đâu ? Khó khăn lớn quá, làm thế nào vượt được trong gia đình, nơi làm việc, giáo xứ, hội đoàn, đâu đâu cũng thấy thất vọng. Chúng ta muốn thôi chiến đấu, thôi nguyện cầu, thôi làm việc cho Nước Chúa trị đến. Tìm nơi trú ẩn cho thảnh thơi, an toàn. Chính Chúa Giêsu đã trông thấy trước những khó khăn này. Ngài nghĩ vấn đề rất nghiêm trọng nên đã đặt câu hỏi: "Liệu khi Con Người ngự đến, Ngài còn thấy lòng tin trên mặt đất này nữa chăng ?". Ý Ngài muốn nói: cầu nguyện đòi hỏi lòng tin, không có Ðức tin chẳng thể cầu nguyện được. Lòng tin đã mất thì cầu nguyện làm sao ? Khi người ta ngưng tin kính thì cũng ngưng cầu nguyện và ngược lại, người ta ngưng cầu nguyện vì lòng tin chẳng còn. Bởi vậy vấn nạn của Chúa Giêsu là có lý, nảy lên từ kinh nghiệm thực tế chứ không phải từ lý thuyết vô căn cứ ! Chúng ta luôn phải cảnh giác, thi hành đức tin, huấn luyện đức tin, để có thể cầu nguyện. Truyền bá đức tin, ngõ hầu xã hội, thế giới biết hướng lòng lên cùng Thiên Chúa. Ðó là bổn phận hàng đầu của mọi tín hữu.

Tác giả Barbara Reid trong cuốn "Parables for preachers" (dụ ngôn cho các nhà giảng thuyết) đưa ra ý kiến : Chúng ta phải tìm hình ảnh thần linh nơi người đàn bà goá, chứ không phải nơi ông quan toà bất chính. Bà can đảm và kiên trì chống lại quyền lực thối nát, tố cáo bất công cho đến khi công lý được vãn hồi. Ðiều này phù hợp với quan điểm của Hội thánh, nhất là của Tân ước. Vì sứ điệp của Chúa Giêsu là bất bạo động và nơi kẻ yếu thế người ta tìm thấy sức mạnh. Thánh Phaolô nói: "Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh hơn cả". Khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh chịu chết là lúc Ngài chiến thắng và được tôn vinh. Như vậy, câu kết luận là như thế này: Nếu chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng nên giống hình ảnh Ngài. Thì chúng ta phải kiên trì theo đuổi công lý, giống như người đàn bà goá, ngay cả lúc quyền lực sự dữ quá lớn có thể đè bẹp mình !

Hình ảnh ông Mosê cầu nguyện trong bài đọc 1 làm tôi cảm động. Ông là mẫu mực sống động cho đức tin các tín hữu trong thời buổi khó khăn. Cuộc chiến đấu đầu tiên dân Do Thái gặp phải từ khi xuất hành ra khỏi Ai Cập là chống lại quân Amalek. Cuôc chiến rất gay go suốt ngày, khi thắng, khi bại. Ông Môsê giơ tay cầu nguyện thì quân đội Do Thái thắng. Khi mỏi tay hạ xuống thì quân đôị nhà thua. Người tín hữu có thể đồng hoá với Môsê lúc nhọc nhằn. Bởi nhiều khi chúng ta cũng cảm thấy mệt mỏi trong việc cầu nguyện. Gian truân của cuộc sống cũng làm chúng ta nhát đảm. Môsê đã phải cần đến sự trợ giúp. Hai ông Aharon và Khua nâng tay ông lên, mỗi người một bên, vì vậy tay ông luôn giơ cao cho đến chiều hôm và Israel đã toàn thắng. Tất cả chúng ta đều cần Thiên Chúa trợ giúp trong cuộc chiến đấu chống thần dữ của mình và trong những lúc gian nan khốn khó, để trung thành được với Ðức Chúa Trời.

Trong thánh lễ này, xin hãy nhìn chung quanh mình: Ông già bà cả, các bệnh nhân, các thanh niên thiếu nữ, cả trẻ con nữa. Họ đang trợ giúp chúng ta đấy ! Họ đang cùng cầu nguyện với chúng ta, nâng cánh tay chúng ta lên cao, ngõ hầu chúng ta có thể thắng trận. Ngay cả những người không đến nhà thời vì bệnh tật, vì ngăn trở công ăn việc làm. Chúng ta biết : họ vẫn cầu nguyện, vẫn kiên trì sống trung thành với ơn gọi Kitô hữu. Họ ban cho chúng ta sức mạnh và quyết tâm, vực chúng ta dậy trong lời cầu xin rã rời, nao núng. Họ cũng đang nâng cánh tay chúng ta lên cao để có thể thắng trận. Ngược lại, biết đâu nhiều linh hồn đang được khích lệ nhờ việc làm đạo đức của chúng ta. Chẳng dám khoe mình là gương mẫu, nhưng Thiên Chúa biết chúng ta đang thành tâm và có ai đó khi xem thấy thì được an ủi trong đức tin của mình. Hy vọng chúng ta giúp đỡ họ bền vững, kiên cường trong lời cầu nguyện ngập ngừng chán nản. Và đôi tay họ cũng được nâng lên trong hy vọng và nguyện xin. Amen.


Fr. Jude Siciliano, OP
.

Chúa Ban Ơn Cho Kẻ Khiêm Nhường
Lc 18:1-8

Thưa quý vị.

Tại sao Chúa Giêsu cần phải nói dụ ngôn này với các môn đệ ? Tại sao Ngài nghĩ rằng các môn đệ có thể trở nên nhàm chán cầu nguyện ? Tại sao Chúa muốn chúng ta phải liên tục cầu nguyện ? Ngài biết có điều chi khẩn thiết trong cầu nguyện mà chúng ta không biết ? Hàng trăm câu hỏi tương tự trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng chắc chắn chúng ta phải biết một điều mà Chúa Giêsu đã biết, đó là các cơn cám dỗ thúc giục chúng ta từ bỏ cầu nguyện. Có hàng triệu lý do để chúng ta chấm dứt cầu nguyện hoặc để chúng ta cảm thấy cầu nguyện là vô ích. Chúa chẳng thèm nghe lời chúng ta, chẳng quan tâm gì đến các nhu cầu của chúng ta, hay chúng ta cầu nguyện không xứng đáng nên Chúa không chấp nhận.

Ðể nghiêm chỉnh trả lời các nghi vấn đó, chúng ta hãy gạt qua một bên những lối cầu nguyện ích kỷ như xin được giàu có, nhiều của cải, con cái thành công, làm giám đốc xí nghiệp nọ, công ty kia, kết hôn với anh đẹp trai, cô xinh gái, v.v… mà hãy tập trung vào vấn đề cốt yếu thân phận làm môn đệ Chúa.

Một trong những lý do khiến chúng ta cầu nguyện uể oải là cuộc chiến đấu triền miên chống lại thế giới thù nghịch, thế giới thờ ơ, trong đó người tín hữu cảm thấy mình chỉ là một món đồ cổ được lưu trữ trong bảo tàng viện, kỳ quặc và cứng đơ, đang bị thời gian gặm mòn. Chúng ta không còn được coi như một nhân tố lập thành các giá trị nữa, không có mấy ảnh hưởng trong các lựa chọn ưu tiên của thế gian. Những điều chúng ta coi là thánh thiêng thường bị gạt ra ngoài, không mấy quan trọng. Chúng ta nhìn một hướng, đa phần nhân loại nhìn hướng khác. Chúng ta đấu tranh đòi hỏi hoà bình, chấm dứt kỳ thị chủng tộc, bất khoan dung tôn giáo, phân chia tài nguyên đồng đều, tôn trọng sự sống, môi trường sống, cộng đồng đức tin sinh động, đối xử công bằng với nữ giới trong Hội Thánh và trong xã hội, chấm dứt bạo lực. Tóm lại chúng ta ước mong những gì Chúa Giêsu gọi là thiện hảo thì được nhân loại đồng tình, ngõ hầu thế giới ngày càng trở nên chỗ ở tốt đẹp, an toàn cho mọi người.

Nhưng hai nghìn năm rồi, chúng ta hoàn toàn ngạc nhiên khi nhìn lại lịch sử ! Có chi đổi khác đâu ? Mùa hè vừa qua Hồng y Murphy O'Connor nói với những người Công giáo Anh Quốc rằng : Tinh thần Kitô giáo đã biến mất khỏi nước Anh. Không phải Ngài có ý nói không còn các cộng đồng Kitô giáo sống động ở đó nữa, mà rằng trong văn hoá xã hội, Kitô giáo không còn có sân chơi, không còn có ảnh hưởng đủ để gây ý thức trong các sinh hoạt xã hội, nhất là trong các tầng lớp đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia như giáo dục, y tế, khoa học, kinh tế, v.v … Chúng ta nghĩ thế nào về nhận xét của đức Hồng y áp dụng vào hiện tình đất nước chúng ta ? Chúng ta có thực sự giúp đỡ thế giới trở nên một chỗ ở tốt lành cho mọi người ? Hay chúng ta về phe với kẻ dữ làm cho nó trở nên tệ hại hơn, xấu xa hơn cho con cháu chúng ta ? Vậy thì chẳng lạ chi Chúa Giêsu đã công bố dụ ngôn này cho các Tông đồ ! Chúng ta cần nhiều khích lệ hơn để đừng phản bội chính mình, phản bội giáo hội, và nhất là chúng ta cần nhiều khích lệ hơn nữa để đừng phản bội Thiên Chúa. Vì vậy Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta, cho nhân loại dụ ngôn này.

Chúng ta đặt tên nó ra sao ? Trong kinh thánh xuất bản ở Mỹ, bằng tiếng Mỹ, người ta đặt tên cho nó là : "Quan toà thối nát" (The corrupt Judge). Kinh thánh Việt Nam gọi là : "Quan toà bất chính". Phần mỗi người, chúng ta đặt tên theo cảm nghiệm của mình. Ai trong hai nhân vật của dụ ngôn thu hút suy nghĩ của chúng ta nhiều nhất ? Ông quan tòa hay người đàn bà goá. Cả hai, chẳng ai có tên tuổi. Họ đại diện cho ai ? Ðiều chắc chắn là bản văn đích thực của thánh Luca với luận đề quen thuộc : Sự cầu nguyện. Thánh Luca nhấn mạnh sự cầu nguyện trong suốt sách Tin Mừng của ngài. Chúa Giêsu thường xuyên cầu nguyện, nhất là ở những giây phút quyết liệt. Trong sa mạc hoang dã suốt cả đêm trước khi lựa chọn nhóm 12, khi biến hình, ngoài dụ ngôn này, Chúa còn kể nhiều dụ ngôn khác nữa về cầu nguyện. Trước khi tắt thở trên cây thánh giá, trong đau đớn tột cùng Ngài thốt lên lời cầu nguyện : "Lạy Cha con phó linh hồn con trong tay Cha". Ngài là hiện thân của những lời Ngài khuyên nhủ. Ngài luôn luôn cầu nguyện và không bao giờ trở nên uể oải, ngay cả khi phải đối mặt với đau khổ, thất bại, cay đắng nhất.

Dụ ngôn này không có bối cảnh hậu trường. Nó được áp dụng cho hết mọi xã hội, mọi thời gian. Những bà goá, trẻ mồ côi trong các xã hội đó là những nạn nhân thường xuyên nhất của bạo lực và áp bức. Họ cần được luật pháp che chở. Kinh thánh Do Thái chỉ định nhiệm vụ đặc biệt cho các quan toà là phải bảo vệ trung thành và bền bỉ các bà goá, trẻ mồ côi, người nghèo khổ khi họ bị đối xử bất công. Nếu những ông quan toà đó lại trở nên "thối nát" thì họ trông cậy vào đâu để được minh oan ? Chúa Giêsu có lẽ đã lợi dụng tình trạng hiện thời của xã hội Do Thái để dựng nên dụ ngôn này. Tố giác các quan toà bất chính. Chúng ta có dám làm công việc tương tự cho xã hội đương đại ? Câu trả lời tuỳ vào lương tâm ngay chính hay cong queo của các nhà mô phạm.

Về phần ông quan toà, liệu ông có thành thực trong sự nhượng bộ của mình ? Dù thế nào đi nữa, ông không thể nào đứng làm hình ảnh cho Ðức Chúa Trời nhân lành. Ðộng lực ông nhượng bộ không phải là cao thượng, nhưng là thấp hèn, để khỏi bị quấy rầy. Trong khi Thiên Chúa luôn trả lời cho những kẻ kêu xin Ngài. Trả lời bằng ân huệ tốt nhất là Thánh Thần (Lc 11, 13). Sách Gương phúc nói : "Thiên Chúa biết phải ban ơn gì cho ai (3, 22), ban bao nhiêu, ban lúc nào (3, 15)". Ngài không ở xa, Ngài ở rất gần để lắng nghe những kẻ nghèo hèn, bần cùng kêu xin. Chúng ta không được nhận lời không phải vì Thiên Chúa nặng tai, hay quá bận rộn, mà chỉ vì chúng ta không có đủ đức tin và kiên nhẫn (Lc 17, 5). Ông quan toà chỉ có ý nghĩa so sánh từ thấp đến cao, từ xấu đến nhân lành. Người đàn bà tượng trưng cho sự thắng thế của những kẻ yếu hèn. Hay nói cách khác, sức mạnh của những kẻ không quyền lực. Bà ta đòi hỏi ông quan toà cho đến khi ông phải xét xử cho bà. Kinh thánh Cựu Ước nói : "Kiên nhẫn thắng mọi sự" (Patientia vincit omnia). Thánh Phaolô phát biểu : "Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh hơn cả". Chúa Giêsu nằm trong trường hợp của bà goá. Ngài đạt tới thắng lợi và vinh quang chính vào lúc Ngài chẳng có chút quyền lực nào. Ngài hoàn toàn yếu đuối khi người ta xét xử và đóng đinh Ngài, chính lúc ấy Ngài được tôn vinh, được đặt làm Ðức Chúa trên trời và dưới đất.

Ðối với chúng ta, những người tự nhận theo chân Chúa, có lẽ chúng ta đã chấm dứt cuộc chiến cho mục tiêu chống lại sự dữ, sự bất công thế giới từ lâu, giơ cả hai tay đầu hàng. Nỗi khó khăn lớn quá không thể?thắng nổi, nếu không cảm nhận được quyền lực của kẻ yếu, "cầu nguyện không nghỉ". Ðộng lực của cầu nguyện là đức tin. Không có đức tin không thể cầu nguyện. Chấm dứt cầu nguyện là chấm dứt đức tin. Vì thế Chúa Giêsu nói : "Khi Con Người đến, liệu Người còn thấy đức tin trên mặt đất này nữa chăng ?" nói cách khác liệu còn thấy người ta cầu nguyện nữa chăng ? Trở lại với vụ tấn công Lầu Năm Góc và toà nhà Trung tâm thương mại ngày 11 tháng 9. Trong khi tôi đang viết bài này thì người ta kiên nhẫn lật từng viên gạch, làm việc theo ca kíp 16 hay 17 giờ một ngày với hy vọng tìm thấy ai còn sống sót. Tôi hỏi ông trưởng cứu hỏa : Còn hy vọng gì nữa đâu sao không dùng máy ủi cho nhanh. Ông trả lời : tôi có ra lệnh họ cũng chẳng nghe. Bao lâu còn hy vọng, họ còn tìm kiếm. Ðức tin vào cuộc sống đã giữ họ kiên nhẫn đến như vậy ! Thánh Thần cũng nâng đỡ chúng ta trong cầu nguyện để chúng ta tiếp tục chiến đấu cho chính nghĩa của Thiên Chúa.

Bài đọc một cũng có cùng chủ đề : cầu nguyện. Ông Môisen giơ tay lên trời cầu nguyện thì dân Israel thắng trận. Khi ông hạ tay xuống thì dân thua. Muốn thắng trận luôn thì hai ông Aaron và Hur phải đỡ tay ông Môisen, mỗi người một bên. Các ông phải kiên trì cho đến buổi chiều quân Amalec mới bị đánh tan. Như vậy cuộc chiến đấu không phải dễ dàng. Chúng ta chẳng có thể và cũng chẳng nên vận dụng lời cầu nguyện kiểu đó. Nhưng tính kiên trì kêu xin là không thể thiếu được, bởi nó luyện tập lòng kiên nhẫn và sự khiêm nhường của chúng ta, kiêu ngạo thì làm thế nào được ân huệ ? Chúa luôn ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vì thế dụ ngôn hôm nay thực là chí lý. Mấy ai thấu đáo được ý nghĩa. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật, op

Tin Mừng Thúc Bách Tôi
Lc 18:1-8

Hơn một năm trước đây, nhân loại trong bầu khí chuẩn bị buớc vào thiên niên kỷ thứ ba, kỷ niệm 2000 năm Mầu Niệm Nhập Thể. Trong dịp trọng đại đó, Giáo hội nhìn lại việc loan báo Tin Mừng cho thế giới, đồng thời đề ra những đường huớng mới cho một cuộc loan báo Tin Mừng cách cụ thể cho từng châu lục. Ðặc biệt với giáo hội tại Á Châu đã vui mừng đón nhận được Văn kiện "Eccelesia in Asia - Giáo Hội Tại Á Châu" được công bố tại New Delhi (Ấn độ), tháng 11 năm 1999, như một "kim chỉ nam" cho giáo hội nơi đây chuẩn bị mừng Năm Ðại Toàn xá 2000; đồng thời có dịp nhìn lại vấn đề truyền giáo của mình và tìm ra một hướng đi mới cho thiên niên kỷ này.

Và mới đây trong phiên họp chung ngày 10-10-2001, ÐHY Jan Schotte, Tổng thư ký Thượng Hội Ðồng Giám Mục, đã loan báo các nghị phụ về việc công bố Văn kiện Hậu- Thượng Hội Ðồng Giám Mục riêng của Châu Ðại dương (Ecclesia in Ocaenia). Ngài nói : "Tôi vui mừng loan báo trong phiên họp chung này là Ðức Thánh Cha, sau khi suy tư lâu dài và bàn hỏi, đã quyết định công bố Tông huấn Hậu- Thượng Hội Ðồng "Ecclesia in Oceania" tại Vatican (thay vì đi đến một địa điểm trong miền này), trong một buổi tiếp kiến riêng, được ấn định vào ngày 22 tháng 11 năm 2001, lúc 11g30, tại Phòng Khánh Tiết Clementina của Phủ Giáo Hoàng, nhân dịp kỷ niệm năm thứ bốn của lễ nghi khai mạc khóa họp riêng cho Châu Ðại dương".

ÐHY Jan Schotte nhấn mạnh: "Trong lúc này, tôi xin các Nghị phụ cầu nguyện cho Giáo hội tại Châu Ðại Dương, đã từ lâu chờ đợi với nhiều lo âu về văn kiện này. Giáo hội trong miền này được mời gọi đón nhận giáo huấn Hậu Thượng Hội Ðồng trong tinh thần yêu mến, được mời gọi phổ biến văn kiện này và thực hiện nội dung của nó trên cấp bậc giáo phận và giáo xứ với lòng nhiệt thành truyền giáo, đáp lại lời kêu gọi của Ðức Thánh Cha tiến đến việc tái rao giảng Tin Mừng, cách riêng trong lúc bước vào Ngàn Năm thứ ba".
Với những ý nghĩa đó, Chúa Nhật Truyền Giáo có chiều kích của một cuộc khởi khởi đầu mới trong nỗ lực loan báo Ðức Giêsu cho thế giới.

Anh em sẽ làm chứng cho Thầy

Các tông đồ là những người được Ðức Giêsu kêu gọi để chia sẻ cuộc sống của Người; các ông đã được tham dự và chứng kiến những biến cố khác nhau trong cuộc đời của Ðức Giêsu. Những điều đó không phải chỉ là những sự kiện lịch sử,?không phải chỉ làô1 xảy ra trong quá khứ. Các tông đồ không phải chỉ là những chứng nhân về những sự kiện tầm thường. Trái lại đây là những biến cố làm đảo lộn lịch sử, những biến cố đem lại ơn giải thoát cho con người, và các tông đồ là những người loan báo, những người tiếp tục thực hiện công trình ấy.

Những biến cố tập trung vào sự kiện: Ðức Ki-tô đã chết và sống lại. Các tông đồ không làm chứng về điều gì khác ngoài sự kiện đó. Ðó không phải là hoạt động của con người, nhưng là những hoạt động của Thiên Chúa, để thể hiện tình thương và ơn cứu độ cho thế giới. Loan truyền sứ điệp ấy có nghĩa là làm chứng về biến cố quan trọng này. Vì đó là biến cố quan trọng nên phải dồn hết mọi nỗ lực, mọi khả năng để loan báo, để làm chứng. Phải làm chứng bằng lời nói, bằng đời sống và có khi bằng máu nữa.

Do đó, ý thức được tầm quan trọng của sứ điệp, các tông đồ, những người đã được chứng kiến tận mắt, đã đem hết cuộc đời của mình để làm chứng : các ông đã giảng dạy, đã viết thơ, viết sách, đã chịu nhiều gian nan vất vả với một ước mong duy nhất là sứ điệp phục sinh được công bố cho tất cả mọi người. Các ông đã không ngần ngại chịu đổ máu, chịu hy sinh cuộc đời, bởi vì các ông được sai đi làm nhân chứng, theo gương Vị Thầy, Ðấng đã gọi và sai các ông đi.

Và, như lịch sử cho thấy, việc loan báo sứ điệp Ki-tô giáo trong những thế kỷ đầu tiên dựa trên biến cố nền tảng này. Các ki-tô hữu thời sơ khai không chú trọng về các quy luật luân lý, cũng không trình bày nhiều về các chi tiết trong cuộc đời Ðức Giêsu, nhưng tất cả cuộc sống, mọi sinh hoạt của họ đều xoay quanh biến cố phục sinh, vì họ hiểu rằng, đó là biến cố trọng tâm của lịch sử ơn cứu độ.

Như vậy, sứ điệp Ki-tô giáo không phải là một ý tưởng sáng tạo, một sáng kiến độc đáo chi phối những khám phá mới; cũng không phải là việc tìm kiếm các chân lý, nhưng chính là xác quyết sự kiện: Ðức Ki-tô đã chết và sống lại. Ki-tô giáo trước hết là một biến cố, và người loan báo phải làm chứng về biến cố ấy.

Tin Mừng thúc bách tôi

Ơn cứu độ phải được loan đi cho đến tận cùng vũ trụ. Ðó là sự nôn nóng của một tâm hồn đã được đổ tràn tình thương của Thiên Chúa. Ðó cũng là thao thức của một tâm hồn đã được cảm hóa nhờ sự chết và sống lại của Ðức Ki-tô, và đó cũng là niềm phấn khởi của tâm hồn tràn đầy sức sống và gắn bó sâu xa với Ðức Ki-tô.

Người làm chứng phải là người có kinh nghiệm về điều mình làm chứng. Tin Mừng không phải chỉ là những điều được rao giảng, được công bố, nhưng chính là cuộc sống, là những tiếp xúc thâm sâu với Ðức Giêsu, để rồi từ đó mới chuyển qua những hoạt động cụ thể, những công việc bên ngoài.

Ðã có một thời người ta quan niệm việc truyền giáo như là những hoạt động rầm rộ nhằm áp đặt, lôi kéo người khác theo đạo. Dĩ nhiên, những công việc này rất ích lợi nếu phát xuất từ tấm lòng nhiệt tình với Tin Mừng, với ơn cứu độ. Khốn thay, không phải lúc nào cũng được như thế. Không những người ta đã bó buộc, đã áp đặt, nhưng còn lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để mưu tìm những ích lợi cho riêng mình…

Tuy thế, chúng ta không hề có ý phủ nhận công lao vất vả của các vị truyền giáo đã đem Tin Mừng đi khắp thế giới. Chỉ có điều là, vẫn có những bóng đen trong lịch sử truyền giáo, và điều ấy phải là một kinh nghiệm sâu sắc cho cuộc loan báo Tin Mừng mới.

Như vậy, truyền giáo không phải là lôi bè, kết đảng làm sao lôi kéo nhiều người về với phe mình. Nhưng truyền giáo phải là tiếng gọi, là nhu cầu bên trong của cõi lòng tha thiết yêu thương, của tâm hồn có được kinh nghiệm về Ðức Giêsu. Ngoài ra, truyền giáo cũng chính là để mọi người được sống trong tình thương, được tôn trọng để từ đó Nước Chúa được hiển trị và muôn người hợp nhất nên một trong ơn cứu độ nhờ mầu nhiệm Ðức Ki-tô chịu chết và sống lại.

Từ đó, con đường hành động của người Ki-tô hữu không thể nào khác hơn con đường của Thầy mình: là hạt lúa mì gieo vào lòng đất, chịu thối rữa đi; là phải cúi xuống rửa chân cho anh em mình, là phải sẵn sàng phục vụ giúp đỡ những người khó khăn bên cạnh mình … nghĩa là phải đối xử với mọi người cách chân tình, đầy tâm tình yêu mến và kính trọng, bởi vì tâm hồn mình đang thấm đầy tình yêu và sức sống của Ðức Ki-tô, Ðấng đã chịu chết và sống lại cho tất cả mọi người.

Tin Mừng là tin mừng tình thương, chỉ khi nào con người sống trong tình thương, và loan báo, thể hiện tình thương đó, khi ấy mới thực sự là truyền giáo.

Lạy Chúa, con là sứ giả của Chúa

 

"Lạy Chúa,

Chúa đã muốn chọn con để cộng tác vào việc loan báo Tin Mừng của Chúa.

Chúa muốn đến với nhân loại qua cuộc đời của con.

Chúa muốn đi sâu vào cõi thâm cung của lòng người qua trung gian của con.

Con là người được tham dự vào công trình của Chúa,

con là sứ giả của Chúa.


Không còn gì vĩ đại hơn, không còn danh hiệu nào vinh dự hơn.

Vâng, lạy Chúa, Con biết rõ điều đó.

Chính Chúa đã kêu gọi con, đã đổ xuống trên con tình thương của Chúa.

Chính Chúa đã đóng dấu ấn của Chúa trên con,

dù con khốn khổ và nghèo hèn.

Chúa đã muốn dùng con để công bố những điều kỳ diệu

mà không sợ rằng chân lý bị suy suyển vì tội lỗi của con.

 

Riêng con,
con rất vui mừng và sung sướng

được góp phần nhỏ nhoi của mình vào công việc lớn lao của Chúa.

Con cảm thấy hạnh phúc

vì được trở nên khí cụ để Chúa bày tỏ quyền năng.


Xin cho con luôn cảm thấy ngỡ ngàng

khi thấy có những người nhận ra được Chúa đã sai con đi

và đã đón nhận con với tư cách là sứ giả của chúa.

Xin cho con cảm nhận được niềm vui chân thật đó

mỗi khi con được đón nhận, dù con thật bất xứng.

 

Nhưng lạy Chúa,

Con cũng nhận ra đây là một gánh nặng.

Con phải hoàn thành sứ mạng đã được trao phó "

khi thuận tiện cũng như lúc khó khăn".

Con phải loan báo về Chúa, phải làm chứng

- vì khốn cho con, nếu con không rao giảng.

Con không thể tháo lui, bỏ mặc sứ mạng của mình.

Con phải ra đi, ra khỏi mình để loan báo,

để thể hiện ơn cứu độ của Chúa cho mọi người,

dù người đó là ai chăng nữa.

 

Ðôi lúc con cảm thấy mình không đủ sức để chu toàn sứ vụ,

đôi lúc con cảm thấy sứ vụ quá khó khăn

mà dường như con không thể vượt qua.

Xin con luôn nhớ rằng Chúa vẫn ở bên con, vẫn là người hướng dẫn,

vẫn là người chịu trách nhiệm về sứ vụ đã trao cho con.

Xin cho con đủ tin tưởng và can đảm để trở thành một khí cụ tốt …

 

Và lạy Chúa,

Làm sao con có thể thông truyền chân lý của Chúa

mà chính con lại đã không đích thân chiếm lấy chân lý ấy,

và Chúa cũng đã chẳng chiếm lấy con rồi ?

Làm sao con có thể loan báo Tin Mừng

mà đã không được Tin Mừng ấy ghi dấu sâu xa nơi tâm hồn mình.

Làm sao con có thể làm chứng về Chúa

nếu con đã không có kinh nghiệm về Chúa ?

Con hiểu rằng Chúa là Ánh Sáng,

và ánh sáng đó bừng lên là nhờ chất dầu của cuộc đời con.

Con phải để cho ánh sáng đó bừng lên trong cuộc đời mình

trước khi bừng lên trong thế giới.

 

Cuối cùng, lạy Chúa,

Chúa đã muốn sử dụng con,

xin đừng để con thành một ngăn trở.

Xin đừng để những vụng về, những yếu đưối của con

làm hỏng đi công trình của Chúa,

trái lại, xin cho mọi người đón nhận được Chúa qua cuộc đời của con."

Theo Karl Rahner


Giuse Vũ An Tôn op

Hãy Kiên Trì Cầu Nguyện
(Lc 18,1-8)

Cầu nguyện là một giáo huấn xuyên suốt trong Tin Mừng : Cầu nguyện được xem như một linh dược đem lại cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần thiết. Thế nhưng chúng ta cần cầu nguyện như thế nào cho phải, khi trong cuộc sống chúng ta đã từng kinh nghiệm, có những điều chúng ta cầu xin mãi mà chẳng được như ý chúng ta đã cầu xin ?

Qua dụ ngôn quan toà bất chính và bà goá quấy rầy hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra lời khuyên và cũng là câu trả lời cho chúng ta biết nên làm gì, đó là : Hãy kiên trì cầu nguyện. Thử hỏi còn hoàn cảnh nào tuyệt vọng cho bằng hoàn cảnh một bà goá nghèo khó, cô thân cô thế, phải đương đầu với một quan toà bất lương ? Ấy vậy mà sự kiên trì cầu xin đã đạt được chiến thắng trong một hoàn cảnh tuyệt vọng đến thế. Nếu như thái độ kiên trì cầu xin đã khuất phục được một viên quan toà chai lì, vô tâm thì tại sao sự bền đỗ và kiên trì trong cầu nguyện lại không thể lay động Cha Trên Trời của chúng ta là Đấng đầy lòng nhân ái ? Phải chăng từ trước đến giờ chúng ta không xin được điều chúng ta khẩn cầu, là vì chúng ta chỉ nài van trong chốc lát, và sau đó, chúng ta chán chường khi thấy không được ban ngay điều chúng ta mong ước ?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, được sống trong thế giới đầy đủ mọi tiện ích thì dường như chúng con lại đang đánh mất dần ý thức về sự can thiệp của Thiên Chúa vào cuộc sống của mình. Đau ốm ư ? Cần gì phải mất thời gian để vào nhà thờ cầu nguyện, đã có những phòng khám, bệnh viện hiện đại với thầy thuốc chuyên môn luôn chào đón chúng con. Chỉ cần có tiền là chúng con sẽ được quyền chọn bác sĩ giỏi, chọn thuốc tốt cho mình. Vì thế, không lạ gì khi trong thời đại văn minh hưởng thụ ngày nay, cầu nguyện xin ơn đã trở thành một việc hết sức xa xỉ, tốn kém thời gian đối với chúng con. Cầu nguyện chỉ còn dành cho những ai đang phải đứng trước ngưỡng giới hạn của phận người hay khi đã hết cách, đã cùng đường.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, có lẽ vì chúng con chưa ý thức đủ tình trạng bế tắc của đời sống chúng con như bà goá nghèo nọ, nên chúng con cũng chưa đủ lòng tin, lòng kiên nhẫn trong lời cầu nguyện. Chúng con còn tìm nhiều đường lối khác để giải quyết đời mình nên chưa hoàn toàn tin vào Chúa. Chúng con vẫn thích cậy dựa vào sức mình hơn là vào ân sủng và phúc lành của Thiên Chúa. Để giúp mỗi người chúng con tỉnh thức nhìn lại mối tương quan của mình với Thiên Chúa, Chúa đã nhắc nhở: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?”

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa chính là Thầy dạy và là mẫu gương cầu nguyện của chúng con. Vào những giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời : khi chịu phép rửa và nhận sứ mạng Chúa Cha trao phó, đêm trước khi chọn các môn đệ, trước khi biến hình, trước khi chữa lành người điếc, trước khi chịu thương khó, đang khi trên thập giá, … Chúa đã luôn hướng về Chúa Cha cầu nguyện. Trọn cuộc sống nơi trần gian của Chúa chỉ cốt sao cho kế hoạch của Chúa Cha được toàn thành, tuy rằng xem ra trái ngược với sự tính toán của người đời : “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22,42).

Lạy Chúa, lời Chúa dạy về việc cầu nguyện mới nghe qua thật đơn giản : “Cứ xin thì sẽ được” (Lc 11,9). Tuy nhiên, phía sau công thức đơn giản ấy Chúa cũng dạy chúng con một cách sống : một cách sống đức tin, sống tinh thần siêu thoát, sống hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa. Xin cho chúng con cảm nghiệm được sự cần thiết cũng như hiệu năng vô hạn của việc cầu nguyện, luôn biết chạy đến với Chúa trong mọi hoàn cảnh : dù hạnh phúc hay đau khổ. Xin cho chúng con luôn có một thái độ tín thác và kiên nhẫn trong cầu nguyện ; qua đó khiêm tốn đặt cuộc đời mình vào bàn tay quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, vì biết rằng, Thiên Chúa đầy lòng yêu thương, Người luôn sẵn sàng trợ giúp tất cả những ai trung thành phụng sự Người trong mọi hoàn cảnh và nhu cầu của cuộc sống, vì Người biết rõ điều gì là tốt nhất cho con cái mình. Lạy Chúa, xin hãy làm cho chúng con những điều đẹp ý Chúa Cha. Amen.


Đỗ Lực op

Sức Mạnh Truyền Giáo
(Lc 18:1-8)

Nhà văn Nguyễn thị Minh Ngọc vừa xuất bản quyển tiểu thuyết "Ký sự người đàn bà bị chồng bỏ." Quyển sách đang xếp hạng các tác phẩm bán chạy nhất hiện nay. Minh Ngọc nói : "Ngày xưa, trong hát bội, màu đen, màu trắng, màu đỏ phân biệt rõ từng vai một, còn bây giờ, trong con người tổng hợp nhiều mặt xấu tốt, đôi khi người ta làm một chuyện, nhưng không phải vì người ta có chủ đích muốn làm chuyện đó.” Trong vở kịch "Người hảo tâm thành Tứ Xuyên," Minh Ngọc đã mượn ẩn dụ các ông tiên đi xuống trần gian để tìm một người tốt, để nói lên rằng "không có người nào tốt" vì "ngay đến người gánh nước thuê cũng dùng một cái thùng hai đáy." (1)

Lời Chúa hôm nay đưa ra hình ảnh một ông quan tòa bất chính. Ông đã thử thách lòng kiên nhẫn của bà góa. Nhìn vào ông, ai cũng thấy ngay khi làm việc tốt, ông cũng không vì cái tốt trong lòng ông. Hình ảnh ông phản ngược với hình ảnh về Thiên Chúa. Phải có một cái nhìn sâu thẳm về Thiên Chúa, mới có thể hành động thiết thực và hữu hiệu trong hoàn cảnh xã hội hôm nay.

GẶP GỠ ÐỨC KITÔ

Con người không thể sống ngoài tầm nhìn của mình. Nhìn làm sao sống như vậy. Ðó là điều Chúa Giêsu muốn đề cập, không phải chỉ cho việc cầu nguyện nhưng còn cho chính cuộc sống và làm chứng nữa.

Thực tế, có nhiều người có cái nhìn lệch lạc về Thiên Chúa. Họ không thể đến với Thiên Chúa, chỉ vì có quá nhiều bất công trong xã hội. Họ nhìn Thiên Chúa như ông quan tòa hôm nay “chẳng coi ai ra gì,”(Lc 18:2) và cũng chẳng quan tâm tới con người. Bởi thế, những bất công mới hoành hành trong xã hội và tạo nên bao thảm cảnh. Ðiển hình, sau những tháng ngày chịu đựng bất công, bà góa đã đến thưa kiện để quan tòa minh xét. Trong cả Cựu và Tân Ước, bà góa thường là nạn nhân của bất công. Bà đi tìm công lý đã bị những người đối phương phủ nhận (có lẽ một thân nhân của người chồng quá cố không muốn trả của hồi môn cho bà). Nhưng dù đại diện cho công lý ông quan tòa đã từ chối giải quyết vấn đề cho bà. Cuối cùng, không phải vì tình thương, nhưng để tránh những phiền toái, ông đành phải chấp nhận lời bà năn nỉ.

Tương quan giữa con người trở thành một thứ bất đắc dĩ hay miễn cưỡng. Nhưng Thiên Chúa khác hẳn. Người không phải là quan tòa bất công hay bất lương. Vì người luôn “minh xét cho những kẻ Người tuyển chọn.” (Lc 18:6) Xét xử của Người dựa trên tình yêu, vừa công minh vừa mau mắn. Làm sao thấy được điều đó nơi Thiên Chúa ? Ðó là vấn đề của đức tin. Không có đức tin, không thể kiên nhẫn và không thể thấy cách hành xử hợp tình hợp lý của Thiên Chúa. Im lặng không có nghĩa là không chú ý và không yêu thương. Im lặng chỉ có nghĩa là kiên nhẫn, vì Thiên Chúa có thời gian của Người.

Nhờ đức tin, con người mới có thể kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện diễn tả tất cả niềm tin, khơi dậy niềm hy vọng và làm cho đức ái đầy sức sống. Chính khi hiệp thông với Thiên Chúa, con người mới có thể có cái nhìn của Thiên Chúa và khám phá thấy tất cả kho tàng chân lý và tình yêu phong phú trong Lời Chúa.

Làm sao có thể trung thành với giáo huấn đức tin ? Làm thế nào lấy Lời Chúa làm kho tàng khôn ngoan ? Theo thánh Phaolô, cần tìm đến và rao giảng Lời Chúa không ngừng. Thánh Phaolô xác quyết với môn đệ : “Anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Ðức Kitô Giêsu.” (2 Tm 3:15) Rao giảng là gặp gỡ và đối thoại để chuyển giao sứ điệp về Nước Thiên Chúa cho mọi người. Rao giảng là khuyến khích người nghe gặp gỡ sứ điệp Nước Thiên Chúa. Hơn lúc nào, sứ điệp đó sẽ làm mọi người thức tỉnh trước những đối lực đang phá hoại sự sống nhân loại, đó là những cơ chế bất công.

Rao giảng Lời Chúa không dừng lại ở việc truyền đạt những kiến thức giáo lý, nhưng phải hành động để “Nước Cha trị đến.” Ðúng như HÐGMVN nhận xét : “Một số nơi, giáo lý vẫn còn bị xem là những bài lý thuyết cần phải thuộc lòng để được lãnh bí tích. Việc giảng dạy chưa thực sự có phương pháp sư phạm phù hợp và chưa đi với chứng từ sống động của người rao truyền.” (2)

Nước Cha trị đến làm sao được, nếu người ta chỉ lo xây dựng đền đài và thu tích của cải và tiện nghi vật chất ? “Vì Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần,” (Rm 14:17) nên Giáo hội không thể rao giảng, nếu không dấn thân hoạt động cho con người và xã hội ngày càng công chính hơn. Ðó mới đích thực là truyền giáo.

NƯỚC THIÊN CHÚA

Muốn dấn thân hoạt động cho công lý, chúng ta phải bắt đầu từ sự công chính của Nước Thiên Chúa. Những người lắng nghe Chúa Giêsu phải trực diện với một cái nhìn mới về thực tại đã khởi sự từ Nước Thiên Chúa, nơi các nạn nhân đòi hỏi quyền lợi và tìm công lý. Sự công chính của Thiên Chúa rất khác với con người. Thiên Chúa công chính đứng về phía người yếu thế và bị tổn thương. Thiên Chúa cứu nguy khi dân chúng kêu than ngày đêm. Lời cầu nguyện liên lỉ không chỉ là sự chờ đợi tiêu cực, nhưng là tích cực tìm kiếm công lý cho Nước Thiên Chúa. Thực thế, chỉ nhờ lời cầu nguyện, chúng ta mới có thể trung thành giữ vững đức tin và hoạt động cho công lý. Hơn bất cứ lúc nào, Giáo hội ngày nay phải sống bằng lời cầu nguyện. Chính vì thế, trong ngày truyền giáo năm nay, ÐGH Bênêđictô 16 đặc biệt kêu gọi các dòng kín cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Trước khi tuyển chọn các môn đệ và sai đi truyền giáo, Chúa Giêsu đã cầu nguyện. Người đã từng lên núi, vào sa mạc, vô đền thờ cầu nguyện trước khi công bố Nước Trời và thiết lập Giáo hội để tranh đấu cho công lý. Ðó là bản chất và sức mạnh của Giáo hội. Vậy mà không hiểu tại sao lại có nhận định : “Giáo hội không phải là cơ chế trực tiếp hoạt động cho công bằng xã hội. Nhưng cơ chế để thực hiện công việc bác ái từ thiện thì Giáo hội phải có, vì nó là dấu chỉ hữu hình cho Tình yêu của Thiên Chúa mà Giáo hội muốn rao giảng và làm chứng.” (3) Nếu thế, cơ chế nào trực tiếp hoạt động cho công bằng xã hội ? Chẳng lẽ Giáo hội chỉ đưa ra những nguyên tắc cho người khác áp dụng, còn mình một ngón tay không nhúng tay vào ?

Cũng như Chúa Giêsu, Giáo hội được sai đến trần gian để “công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức.” (Lc 4:18) Tất cả những người này đều là nạn nhân của cơ chế bất công. Nếu sứ mệnh Giáo hội không nhằm giải thoát muôn dân, các hoạt động của Giáo hội ở Phi Châu, Nam Mỹ, Ðại Hàn đã đi ra ngoài đường lối của Chúa. Thực tế, chính vì đã dấn thân tranh đấu cho công bằng xã hội, các Giáo hội đó đã tiến bộ vượt bực. Còn GHVN đã đạt tới bước tiến nào so với các Giáo hội anh em, sau bao nhiêu thế hệ hoạt động không mỏi mệt vì bác ái ?

Hơn nữa, nếu Giáo hội không phải là cơ chế trực tiếp hoạt động cho công bằng xã hội, tại sao ÐGH Phaolô 6 thiết lập thiết lập Ủy Ban Giáo Hoàng “Công lý và Hòa Bình,” để thể hiện ước vọng các nghị phụ công đồng Vatican II ? Các nghị phụ đã coi như một cơ hội rất lớn khi thiết lập Uỷ Ban này như một cơ chế của Giáo Hội hoàn vũ nhằm hoạt động để cả công lý và tình yêu Chúa Kitô đối với người nghèo được thăng tiến khắp nơi. Một cơ chế như thế có nhiệm vụ khuyến khích cộng đoàn Công giáo đẩy mạnh công cuộc tiến bộ nơi các miền nghèo đói và công bình xã hội trên khắp thế giới.” (4) Tiến bộ và công lý không thể hiện hữu nếu không có nhân quyền. Chính vì thế, Giáo hội không ngừng cổ võ và hoạt động để giành lại cho con người quyền làm người. Ðó chính là bước đường theo Chúa Kitô. Ðó cũng là con đường truyền giáo hữu hiệu nhất. Cả cuộc đời Chúa tóm gọn trong công cuộc hoạt động cho quyền làm người.

DẤN THÂN

Sau khi nêu cao sứ mệnh trả lại quyền làm người cho những người bị áp bức, giam cầm và nghèo khổ, Chúa Giêsu tuyên bố : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.”(Lc 4:21) Từ đó, Tin Mừng luôn có tính thời đại và thực tế. Tự bản chất, Tin Mừng là một tin. Tin tức không thể mang tính hôm qua hay ngày mai. Bởi thế, Tin Mừng luôn chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa cho người thời đại.

Những gì liên quan tới công lý là những vấn đề nóng bỏng trong xã hội Việt nam hôm nay. Thế nhưng những vấn đề sôi động đó đã không được đề cập đến trong Thư Chung của HÐGMVN năm 2007. Chủ đề là vấn đề giáo dục, chứ không phải công bằng xã hội. Ðề tài xoay quanh “Xã hội và Giáo hội ngày mai,” chứ không phải hôm nay. Tất cả nhằm chuẩn bị cho ngày mai. Còn ngày hôm nay không quan trọng. Rõ ràng có một sự né tránh vì sợ hãi quyền lợi của Giáo hội bị giảm sút hay tước bỏ.

Ngay trong phần mở đầu lá thư chung, chỉ thấy các GMVN “bày tỏ niềm cảm thông và phân ưu sâu sắc đối với các thân nhân và nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26-09-2007 và cơn bão số 5 (Lekima) ngày 02-10-2007.” (5) Thế còn những nạn nhân của cơ chế bất công và những anh em đang ngồi tù vì tiếng nói lương tâm và vì sứ mệnh cao cả, các ngài có công bình không ? Càng ngày càng thấy niềm tin và thực tế không đi đôi với nhau.

Trong lá thư chung đó, chỉ có một ghi nhận đáng kể về tình trạng Giáo Hội bị gạt ra ngoài cơ chế giáo dục hôm nay : “Nhưng cũng đáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt : tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. Dù vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những gì được phép để thể hiện sứ mệnh nhập thế, như mở lớp tình thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật, Giáo hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt nam và, vì không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ.” (6)

Tóm lại, muốn thực thi sứ mệnh truyền giáo, Giáo hội cần kiên nhẫn lắng nghe tiếng Chúa và cầu nguyện không ngừng. Không có đức tin sâu xa, không thể thấy được tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại trong cuộc sống hôm nay. Nhưng cũng như ngày xưa, trước tình trạng quá nhút nhát của môn đệ, Chúa đã trấn an : “Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa.” (Lc 12:4) Có lẽ các môn đệ Chúa hôm nay quá nhát sợ kẻ chỉ giết thân xác, còn Ðấng đã sai chúng ta đi, chúng ta không quan tâm. Nhát sợ là dấu chứng tỏ đức tin chưa nhập cuộc hay chưa hiện hữu thực sự. Nhìn vào tình trạng đó, người ta mới thấy Chúa có lý khi nói : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ? "(Lc 18:8)

Lạy Chúa, xin cho chúng con ngày càng tin tưởng mạnh mẽ và dấn thân hơn cho Nước Chúa. Amen.

đỗ lực - 21.10.2007

 

1. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/10/071008_minhngoc.shtml

2. Thư Chung 2007 của HÐGMVN, 15. http://www.conggiaovietnam.net/tulieugiaohoi/ thuchungHDGMVN2007.htm

3. Bùi văn Ðọc, Xây dựng Xã Hội Công bằng theo Học Thuyết Xã Hội Công giáo. http://vietcatholic.net/News/Html/48222.htm

4. Gaudium et Spes, 90: AAS 58 (1966), 1112; trích lại từ Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo hội, 99.

5. Thư Chung 2007 của HÐGMVN, 1. Sđd

6. Ibid., 19.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp)

ĐƯỢC MỜI GỌI ĐỂ TRỞ NÊN
TIẾNG NÓI CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
Luca 18: 1-18

Tôi xin kể quý vị nghe một câu chuyện riêng của tôi. Đó là câu chuyện về Henry, bạn tôi. Anh ấy sẽ không thấy phiền gì khi tôi kể cho quí vị, vì khi anh ấy còn sống anh cũng đã muốn mọi người biết câu chuyện của anh và những gì xảy đến cho anh. Trong tám năm cuối cùng của anh, tôi ghé thăm anh bất cứ khi nào có thể tại Raleigh. Henry lúc nào cũng “ở nhà” chờ những cuộc viếng thăm như thế - vì anh đang chờ chết. Anh ta bị giam 18 năm trước khi bị xử tử. Trước đó, anh cũng đã nhận án chung thân trước đó. Anh là một thanh niên nghịch ngợm, như anh ta nói.

Nhưng đó không phải là Henry mà tôi đến gặp suốt một tiếng rưỡi. Trong tù, anh ta quay trở về niềm tin tôn giáo thời nhỏ. Khi gần hết giờ gặp, anh nhìn đồng hồ và nhắc tôi là chúng tôi phải cầu nguyện. Lời cầu nguyện của anh dài và chi tiết, không giống như tập tính của anh. Trong lời nguyện của anh có cả những bậc cha mẹ đang đau khổ mà tôi kể cho anh hay những nơi tôi sắp đến giảng. Thư từ của anh luôn có những lời suy niệm về một đoạn Tin mừng mà anh mới đọc.

Tôi chưa bao giờ cố hoán cải Henry. Tôi không muốn lợi dụng hoàn cảnh nhạy cảm của anh và tình bạn của chúng tôi. Nhưng tự Henry bắt đầu tham dự các Thánh lễ hằng tuần của các cha Phanxicô trong vùng đến cử hành với những phạm nhân chờ tử hình. Và Henry trở thành người Công giáo. Đức cha Gossman, Giám mục giáo phận Raleigh đã đến trại biệt giam để đón nhận Henry và 6 phạm nhân khác vào ngày Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Bản tin giáo phận có một tấm hình về biến cố này. Những tù nhân này mặc áo choàng màu đỏ tươi và Đức cha Gossman mặc lễ phục màu đỏ. Đức giám mục đứng chung với từng người – mỗi người trong màu đỏ của Lễ Chúa Thánh Thần. Tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh này của một giáo hội đang chờ đến ngày bị xử tử.

Như cách người miền Nam chúng ta hay nói thì Henry là “gã nhà quê” – một anh Mỹ  bản xứ nghèo nàn, dong dỏng, đen, thiếu vài cái răng và có giọng miền quê đặc sệt. Quê tôi ở Brooklyn. Tôi vẫn tự hỏi không biết chúng ta phải vất vả cố gắng giao tiếp với nhau như thế nào-nhưng chúng ta đã làm được. Anh ta bị buộc tội giết người cướp của và cũng là nhân chứng cho vụ phạm pháp. Thanh tra tìm thấy mẩu thuốc lá gần các tử thi, đó là loại Henry thường hút. Cái xẻng ở nhà Henry còn dính đất. Bên khởi tố cho rằng cái xẻng đó dùng để chôn xác nạn nhân, nhưng mẫu đất trên xẻng cho thấy không phải là thứ đất ở nơi những cái mộ kia.

Vì Henry nghèo nên chính phủ cử cho anh ta mộ luật sư – người chưa bao giờ đưa ra một bằng chứng nào để bào chữa. Sau năm năm bị giam chờ tử hình, Henry bị đưa ra tòa một lần nữa. Anh ta vẫn chỉ với ông luật sư cũ! Mười năm sau, một công ty luật đưa trường hợp anh ta ra xét lại. Khi họ muốn lấy mẫu DNA thử trên mẩu thuốc với để so sánh với những mẩu thuốc Henry hút trong tù thì cảnh sát nói chứng cứ đã bị tiêu hủy.

Gần đây ở Nam California, quý vị có lẽ cũng đã đọc hoặc nghe được trên kênh tin trong nước, Cục Điều Tra Liên Bang đã bị phát hiện sử dụng những thiết bị lỗi thời để kiểm tra chứng cứ tội phạm và dùng những điều tra viên không được đào tạo cơ bản. Cục này cũng bị phát hiện làm việc chung với phía văn phòng ủy viên công tố thay vì là một bộ phận điều tra độc lập và là phòng thí nghiệm để trình bày chứng cứ cho cả bên công tố viên lẫn các luật sư biện hộ.

Tôi xin lỗi vì đã quá dông dài, như tôi đã nói, đây là một câu chuyện riêng tư. Tôi đã ở cùng Henry trong ngày anh bị tử hình. Tôi cũng không có ý chỉ trích hay lên ánh tất cả những nhân viên thi hành luật. Gia đình tôi có bốn người làm trong lực lượng cảnh sát New York – tất cả đều là những viên chức cao quý. 

Có  vẻ như bất thường, quý vị có thấy có sự tương tự giữa trường hợp của Henry và của bà góa trong bài Tin mừng hôm nay hay không? Cả hai đều nghèo; cả hai đều bị đưa ra xét xử; cả hai đều kiên trì. Trong tiếp Hylạp, từ “bà góa” có nghĩa là “người không có tiếng nói”. Hiểu như thế, Henry cũng là một “bà góa”. Nhưng sự khác biệt là chỗ này: bà góa cuối cùng có thể dành được công lý; nhưng Henry thì chẳng bao giờ đòi được điều đó. Khi chúng ta đến trước tòa công lý, chúng ta mong có được công lý. Nhưng tiếc là, sự thật không phải lúc nào cũng như vậy.

Bài Tin mừng hôm nay được sử dụng để khích lệ những người kiên trì cầu nguyện. Nhưng cẩn thận. Quý vị nghĩ xem đâu là Thiên Chúa trong câu chuyện hôm nay? Chắc chắn không thể là ông quan tòa bất chính đã chán ngán sự kiên trì và tự nhận mình không kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra gì. Tôi cho rằng bà góa là một hình ảnh tốt hơn về Thiên Chúa – tiếng nói kiên trì và bền bỉ đòi công bình cho người nghèo. Viên quan tòa không tôn trọng sự sống nhưng Thiên Chúa thì chắc chắn tôn trọng sự sống.

Tháng mười là “Tháng Tôn Trọng Sự Sống”. Một trong những vấn nạn về bảo vệ sự sống mà các Đức Giám mục yêu cầu chúng ta tập trung vào là xóa bỏ án tử hình. Hơn 30 năm qua, các ngài mời gọi hãy “tiếp tục chiến dịch không ngừng của giáo hội Công giáo đòi xóa bỏ án tử hình”. Hồng y McCarrick gần đây cũng nói: “Án tử hình thật sự là không sửa đổi được. Nó nên được bỏ đi.” Khi Đức Gioan Phaolô II đến St. Louis năm 1999, ngài nói: “Tôi nhắc lại một đề nghị….cho sự đồng thuận xóa bỏ án tử hình, hình án này vừa tàn ác lại không cần thiết”. Ngài không chỉ nói điều đó dành cho những nạn nhân vô tội bị nhận án tử. Trong “Tin mừng về Sự sống” của Đức Thánh Cha, ngài kêu gọi chúng ta chọn “bảo vệ sự sống vô điều kiện” [số 28] và để “loan báo, cử hành và phục vụ Tin mừng sự sống trong mọi hoàn cảnh”.  Trong bất kỳ hoàn cảnh nào – dù là một phạm nhân giết người bị án tử. Phẩm giá của con sự sống con người không được tước mất; ngay cả một người phạm phải tội ác không thể nói ra. Nếu chúng ta tôn trọng sự sống thì phải tôn trọng tất cả mọi sự sống. 

Án phạt tử hình thì chênh lệch về sắc tộc. Gần 90% những người bị tử hình là do phạm tội giết người gia trắng; trong khi quá nửa những nạn nhân bị sát hại ở Mỹ là người da màu. Ví dụ, trong tiểu bang North California quá nửa số phạm nhân chịu án tử là người Mỹ gốc Phi. Trong tám năm qua, có 22 người bị thiểu năng trí não bị tử hình. Qua việc phơi bày công lý do Cục Điều Tra Liên Bang  của Nam California, người ta cho rằng ba người vô tội có lẽ đã bị tử hình – chưa tính Henry. 

Những bà góa trong Sách Thánh thường được mô tả như những người nghèo và không được bảo vệ và thường được kể đến với những con trẻ vì họ đều thiếu tiếng nói và của cải. Nhưng bà góa hôm nay phá vỡ cái lẽ thường đó, bà không phải là một người ngại ngùng hay dúm dó, không phải là một nạn nhân câm nín. Bà đứng lên liều lĩnh chống lại cấu trúc quyền lực và nhất định đòi công lý. Tại sao không? Có lẽ bà biềt rằng Thiên Chúa của dân bà sẽ đứng lên với bà và thêm sức cho bà lên tiếng. Bà là mẫu gương cho chúng ta, những người đang quy tụ thờ phượng hôm nay. Chúng ta được mời gọi để trở nên tiếng nói của lòng thương xót của Thiên Chúa chúng ta và đứng vững  vàng  để công bố về sự sống – tất cả mọi sự sống: những cuộc đời chưa sinh, cuộc sống của những người mắc bệnh nguy tử, sự sống của những người thiểu năng về thể lý và tâm lý, và thậm chí sự sống của những kẻ sát nhân bị án tử.

Lên tiếng và hành động chống lại án tử hình không có nghĩa là chúng ta muốn thả tự do những kẻ sát nhân. Xã hội phải bảo vệ chính mình, nhưng cũng vẫn tồn tại đó những phương tiện đủ để bảo vệ người ta khỏi những tội phạm nghiêm trọng. Quý vị đã bao giờ đi vào phòng biệt giam chưa? Ngay cả Houdini nổi tiếng về khả năng thoát chết, cũng không thể thoát ra được. Nếu chúng ta kiên định với những giá trị Tin mừng mà chúng ta được nghe ở đây mỗi Chúa Nhật, và chúng ta kêu gọi tiểu bang và chính quyền tìm kiếm những phương pháp khác để xử lý những tội phạm hung tợn. Phần cuối của dụ ngôn hôm nay có đưa ra lời khích lệ. Sau một thời gian khá lâu nài nỉ, thì bà góa đã được đáp ứng nguyện vọng. Viên quan tòa có vẻ như sẵn sàng trao cho bà thứ công lý bà đang tìm kiếm.

Hôm nay, ngay trước lúc lên rước Mình Thánh Chúa, chúng ta sẽ  cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha, trong “nước Cha”. Chúng ta không cầu nguyện nhiều cho nước trời mai sau, cho bằng cầu cho nước Chúa  được mở rộng trên thế  gian này. “Nước Cha ngự trị, dưới đất cũng như trên trời.” Vâng, đó không phải là phép màu. Bà góa kiên trì của chúng ta – giống như Chúa muốn thực hiện qua chúng ta để lên án những bất công bất cứ nơi đâu và bất kể khi nào chúng ta gặp. Lên tiếng chống lại an tử thì quả không phải là dễ dàng gì; nhưng tin mừng của sự sống và với lòng thương xót vô bờ cho chúng ta biết đó là việp chính đáng nên làm , nếu chúng ta bước theo Đức Giêsu – Đấng đã chịu tự hình. 


 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

 

Hãy kiên trì cầu nguyện

Xh 17,8-13; Tv 121; 2Tm 3,14-4,2; Lc 18,1-8

 

Kính thưa quý vị,

Một hôm, sau thánh lễ, có người đàn ông trạc tuổi 60 và là cha của 6 người con đến gặp tôi và kể cho tôi nghe qua về chuyện gia đình ông. Ông tâm sự rằng: “Vợ con đã qua đời vì căn bệnh ung thư cách đây 5 năm. Bà ấy là một người vợ, một người mẹ tuyệt vời và con yêu vợ con rất nhiều. Sau khi được chẩn đoán mắc bệnh thì 2 năm sau bà ấy mất. Trong suốt thời gian đó, vợ con phải trải qua tất cả các phương pháp điều trị với những tác dụng phụ khủng khiếp. Từ lúc vợ con được chẩn đoán mắc bệnh, cho đến những ngày trước khi qua đời, gia đình chúng con đã cùng nhau cầu nguyện rất nhiều cho việc điều trị của vợ con. Bởi lẽ, Đức Giêsu đã dạy rằng: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ được mở cho”.

Người đàn ông nhún vai và tiếp lời: “Chúng con đã làm những điều Đức Giêsu dạy. Chúng con tự hỏi: “Thiên Chúa đang chờ đợi điều gì? Lý do nào mà Người trì hoãn lâu thế? Chẳng lẽ chúng con chưa sống tốt sao? Tại sao Thiên Chúa lại để cho điều này xảy đến với vợ con và với gia đình con?” Người đàn ông đặt ra những câu hỏi mà nhiều người chúng ta cũng đã hỏi. Có phải chỉ những người tốt mới đến được với Thiên Chúa sao? Những người còn lại thì không tốt ư? Có phải chúng ta lại liều lĩnh đi nghe một người không hoàn hảo à?

Trong cuộc đời, chúng ta đã dán nhãn cho một số người đang sống như những vị thánh. Chúng ta gọi các thành viên trong gia đình Gutter là những “vị thánh”. Mẹ Têrêsa Calcutta mất ngày 5/9/1997. Trước đó, vào năm 1979 Mẹ nhận giải thưởng Nobel Hòa bình. Cả những người tín hữu và những người vô thần đều gọi Mẹ là vị thánh ngay khi Mẹ còn sống. Chúng ta nghĩ rằng, với mọi người, Mẹ Têrêsa biết được con đường đúng đắn để cầu nguyện và những lời cầu nguyện của Mẹ nhanh chóng đến với Thiên Chúa. Có thể nói, đây là một sự lắng nghe nhanh chóng và đáp trả tức khắc.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết về tiểu sử của Mẹ, một sưu tập những bức thư Mẹ đã viết cho các cha giải tội qua nhiều năm, trong đó có chỗ viết rằng: “Mẹ Têrêsa: Hãy trở nên ánh sáng của Ta”. Thế đấy, đời sống cầu nguyện của Mẹ đã không tạo ra ánh sáng, không hề có những khoảnh khắc xuất thần nào cả. Thay vào đó, Mẹ mô tả sự im lặng và trống rỗng trong lời cầu nguyện và Mẹ không hề có trải nghiệm thân mật nào về Thiên Chúa cả. Nào ai có biết đằng sau nụ cười không ngớt trên môi, đặc biệt nụ cười khi Mẹ thể hiện với những người nghèo đang chết dần trong thành phố Calcutta, là một bóng tối tâm linh khủng khiếp. Đây quả là một cảm nhận về sự vắng mặt của Thiên Chúa.

Người đàn ông góa vợ kể trên, cả Mẹ Têrêsa, và nhiều người trong chúng ta có chung điều gì đó. Chúng ta đã cầu nguyện và cầu nguyện qua những thời điểm khó khăn, đã không có được bất kỳ sự an ủi hay câu trả lời nào ngay tức khắc cả. Chúng ta đã chịu đựng tất cả những thứ ngờ vực và cố quay lưng lại với Thiên Chúa, vì chúng ta cảm thấy dường như Thiên Chúa đã quay lưng lại với chúng ta. Như Mẹ Têrêsa, có lẽ chúng ta mang một khuôn mặt hạnh phúc và can đảm trước thế giới. Tuy nhiên, khi đấu tranh với những hoài nghi, chúng ta không thể ngừng chất vấn với chính mình.

Đức Giêsu cũng thừa nhận rằng trong cầu nguyện, chúng ta dễ nản lòng, đặc biệt khi chúng ta vật lộn với những khủng hoảng và những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Không chỉ liên quan đến bệnh tật và hoàn cảnh gia đình, nhưng chúng ta còn đấu tranh để làm điều đúng đắn và dường như những nỗ lực của chúng ta không mang lại kết quả gì. Như bà góa trong Tin mừng, chúng ta tìm kiếm những điều thích đáng. Sau hết, trong một thế giới mà chẳng ai chia sẻ quan điểm của mình, thì chẳng lẽ chúng ta không trở nên những cộng sự viên của Thiên Chúa được sao? Chúng ta muốn điều gì đó phải đúng đắn và công bằng cho chính mình và cho người khác. Chúng ta muốn Thiên Chúa lên tiếng và thực thi điều gì đó!

Tuy nhiên, dù chúng ta có nỗ lực hết mình để thực hiện những điều chính trực thì chẳng lay chuyển gì được thế giới này đâu. Chúng ta cố gắng chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trênquê hương mình, trong trường học và nơi công sở. Chúng ta làm những gì theo khả năng mình để ủng hộ cho quyền lợi người nghèo và những người bị bỏ rơi. Chúng ta muốn điều gì đó công bằng cho mình và cho tha nhân. Nói cách khác, chúng ta luôn ghi khắc Đức Giêsu trong tâm trí, chúng ta nghĩ đến những tư tưởng của Người và chúng ta chịu ảnh hưởng những điều Người cảm nhận về tha nhân.

Hôm nay, chúng ta lấy câu chuyện về bà góa làm gương mẫu, vì bà chỉ muốn được trả lại điều đúng đắn cho mình. Bà góa trong dụ ngôn hôm nay có thể nhờ một người nào đó sát cánh bên mình. Bà không xin ơn đặc biệt hay tình bác ái. Bà không muốn vị quan tòa đầy quyền lực kia giúp mình thoát khỏi cảnh tù đày hoặc được hưởng án treo. Bà ta chỉ đòi quyền lợi của mình, đó là: “Đối phương hại tôi xin ngài minh xét cho”.

Đức Giêsu biết chúng ta cầu nguyện khó khăn ra sao. Như người đàn ông vợ mất vì bệnh ung thư, hay như bà góa trong dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu biết rằng chúng ta dễ bị cám dỗ bỏ cuộc. Vì vậy, Người lớn tiếng tự hỏi: “Liệu khi Con Người đến còn thấy niềm tin trên mặt đất này không?” Thế chúng ta có tiếp tục cầu nguyện qua những thời điểm khó khăn hay không? Liệu chúng ta có còn tin cậy vào Thiên Chúa qua những nỗ lực của mình để làm điều đúng đắn, ngõ hầu chống lạinhững thế lực xem ra không thể khắc phục được chăng?

Thiên Chúa không như vị quan tòa trong dụ ngôn, người ta phải hao mòn vì liên lỉ cầu xin ông. Hơn nữa, dụ ngôn trình bày một sự tương phản. Nếu ngay cả một quan tòa bất chính: “Không kính sợ Thiên Chúa, cũng chẳng coi ai ra gì” mà còn nhượng bộ và làm theo lẽ phải, thì Thiên Chúa lại càng sẵn lòng biết bao, và lẽ nào Người lại không “minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Thiên Chúa hằng ở bên cạnh chúng ta biết dường nào, thế thì, đối lập của quan tòa bất chính này là ai vậy? Nhà giảng thuyết cần thận trọng kẻo tạo ra sự nhầm lẫn, đó là: không phải chúng ta cứ nài nỉ cầu xin Thiên Chúa thì mới được nhận lãnh những điều chúng ta cần.

Dụ ngôn của Đức Giêsu không lấy đi chương trình cứu độ mà tất cả chúng ta đềuđặt niềm tin vào đó khi chúng ta tự hỏi: “Thiên Chúa sẽ làm gì khi chúng ta nguy nan? Người trì hoãn đáp lời là vì lý do gì?” Những gì chúng ta làm thì tựa như những điều người đàn ông đã thực hiện cho người vợ quá cố của mình, và cũng tựa như điều Mẹ Têrêsa vẫn thực hiện, đó là: chúng ta cầu nguyện và chúng ta trải qua những ngày vẫn tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta,chúng ta vẫn sẵn sàng chờ đợi Thiên Chúa giang cánh tay của Người.

Thế Thiên Chúa sẽ làm gì khi chúng ta cầu nguyện? Thiên Chúa tiếp tục thay đổi tâm hồn và gia tăng niềm tin cho chúng ta. Vậy, đâu là điều mà Thiên Chúa đã làm cho người đàn ông vợ chết vì căn bệnh ung thư?Đó là, ngay cả khi ông ta còn ấp ủ trong lòng những chất vấn thì ông vẫn tiếp tục cầu nguyện và đi Lễ. Điều Thiên Chúa đang thực hiện cho chúng ta lúc này, và trả lời cho những lời cầu nguyện của chúng ta đó là: trao cho chúng ta niềm hy vọng rằngThiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta.Người sẽ đứng bên cạnh chúng ta, để khi Đức Giêsu trở lại Người sẽ thấy niềm tin nơi chúng ta.

Thư thứ 2 của thánh Phaolô gửi cho ông Timôthê là một suy tư về sứ vụ của thánh Phaolô. Ngài bị tù và viết cho ông Timôthê, vì ông sẽ là người kế nhiệm thánh Phaolô. Bức thư mang âm hưởng về phong thái của người thầy dày dạn kinh nghiệm đã trao cho môn đệ của ngài những yếu tố cần thiết cho sứ vụ.

Qua nhiều năm, với tư cách là thành viên của Dòng Đa Minh (Dòng Anh Em Giảng Thuyết), tôi đã nghe phần thứ hai của bài đọc hôm nay được công bố trong các buổi công hội, và thấy nó được in ngay cả trong cẩm nang ơn gọi của chúng tôi: “Trước mặt Thiên Chúa và Đức Kitô Giêsu, ..., tôi tha thiết khuyên anh: hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (4,1-2). Tuy nhiên, bức thư này không chỉ ngỏ lời với các thừa tác viên Giáo hội và Dòng Anh Em Giảng Thuyết.

Còn thư thứ 2 Timôthê nói với tất cả chúng ta, đặc biệt qua lời mời gọi hãy tin tưởng điều chúng ta đã được biết và tin vào Kinh thánh. Thánh Phaolô đang nói về Kinh thánh của Dothái giáo. Có một số người tin rằng Kinh thánh Cựu ước không còn thích hợp cho các Kitô hữu nữa. Quả thật, điều này không phải theo quan điểm của thánh Phaolô.

Thánh Phaolô cũng nhắc nhở ông Timôthê về những người đã trao đức tin cho ông. Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta dâng lời cảm tạ cho những người đầu tiên đã dạy niềm tin cho chúng ta khi chúng ta còn nhỏ, cũng như cảm tạ những người tiếp tục làm gương và trung thành rao giảng Lời Chúa cho chúng ta.

Trong tinh thần ủy thác chính thức của thánh Phaolô, và chúng ta là những nhà giảng thuyết có lẽ cũng nên lưu tâm việc giảng thuyết từ các bản văn Hipri, vì thánh Phaolô nói rằng, họ “có thể dạy anh nên khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Kitô Giêsu”.