| | Chúa Nhật
XXVI Thường Niên - Năm C
Am 6:1a.4-7 ; 1 Tm 6:11-16 ; Lc 16:19-31
An Phong op :
Người Nghèo Thiên Chúa Chọn
Như Hạ op : Liên Đới
Fr.
Jude Siciliano, op : Đừng Vô Cảm Trước Nỗi Khổ Của Đồng Loại
Fr.
Jude Siciliano, op:
Người nghèo có chỗ
đứng đặc biệt trong trái tim Chúa
G. Nguyễn Cao Luật op : Ra Khỏi Thế Giới Nhỏ Hẹp Của
Lòng Mình
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Giàu và nghèo
Fr. Jude Siciliano, op : Xây Dựng Cầu Nhân Ái Trong
Cộng Đoàn
Minh Thiện op :
Hạnh Phúc Hay Trầm Luân
Đỗ Lực op : Khoảng Cách Định Mệnh
Fr. Jude Siciliano, op : Lưu tâm đến những người
nghèo khổ
Fr. Jude Siciliano,
op:
Làm gì để lấp hố ngăn cách?
An Phong op
Người
Nghèo Thiên Chúa Chọn
Lc 16:19-31
Tin mừng chúa nhật 26
thường niên C là dụ ngôn về người giàu có và ông Lazarô nghèo khó. Tin mừng
gồm hai phần: phần thứ nhất nói về số phận của con người sau khi chết (c.
19-26); phần thứ hai là cuộc đối thoại của Abraham và người giàu có. Trong
phần thứ nhất, số phận của người giàu có cả một đời được
sung sướng "vận toàn gấm vóc lụa là, ngày
ngày yến tiệc linh đình", bên cạnh một Lazarô "mình đầy ghẻ chốc" đã
bị đảo lộn sau khi chết. "Trong hỏa ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ
ngước mắt lên thì thấy đàng xa có Abraham và Lazarô trong lòng ngài". Người
giàu có ích kỷ là hình ảnh người không lắng nghe lời giáo huấn của Thiên
Chúa. Họ "lòng chai dạ đá", không quan tâm đến những bất hạnh của người khác.
Trong phần thứ hai, cuộc đối thoại cho thấy con người phải tự nguyện và tự
do để hoán cải, chứ không cần đến bất cứ một áp lực nào từ bên ngoài. Hơn
nữa, Thiên Chúa đã dự liệu những phương tiện cần thiết để con người có thể
hoán cải.
Dụ
ngôn này không có ý an ủi những người nghèo khó : "Anh em là những người
nghèo ở đời này, hãy can đảm lên, một ngày kia anh em sẽ được lên trời và
anh em sẽ được đền bù những khốn khó đời này như Lazarô". Thật vậy, bài Tin
mừng hôm nay không chỉ khích lệ người nghèo khổ hãy cam chịu nghèo khổ hiện
tại để được hưởng hạnh phúc đời sau. Chỉ vì lý do nghèo khó vật chất thôi
vẫn chưa đủ, cần có nghèo khó tâm hồn "phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt
5).
Dụ
ngôn này cũng không chỉ nói đến cuộc sống bị đảo lộn sau cái chết của hai
nhân vật chính : người giàu và người nghèo, nhưng còn nói đến số phận của
con người tùy thuộc vào cách sống, cách cư xử với người khác ngay tại trần
thế này. Ðúng hơn, chỉ có một nhân vật chính là người giàu. Người nghèo
Lazarô đã chẳng nói một lời nào từ đầu đến cuối. Cuộc đối thoại giữa Abraham
và người giàu cho thấy số phận bi đát của người giàu, nếu họ không chịu hoán
cải. Hoán cải ở đây tức là quan tâm và giúp đỡ người nghèo. Ðóng cửa lòng
mình lại trước những khốn khó của những người chung quanh là một tội lớn. "Khi
tôi nghèo, các anh đã không cho ăn, không cho quần áo mặc, không thăm viếng,
không giúp đỡ tôi" (Mt 25,41-46).
Hình ảnh Lazarô trong câu chuyện là một hình ảnh đẹp. Ông là một người nghèo
hoàn toàn. Ông cần người giàu giúp đỡ. Nhưng, cũng cần phải nói thêm : người
giàu cũng cần người nghèo "giúp đỡ". Lazarô có thể "giúp đỡ" người giàu
thoát khỏi tính ích kỷ của mình. Mở rộng tấm lòng, có được một tình yêu vô
vị lợi. Thật vậy, con người "quên mình là lúc gặp lại bản thân" (thánh
Phanxicô Assissi), cho đi là nhận được. Con người được tạo dựng theo hình
ảnh Thiên Chúa, Ðấng là Tình Yêu, Ðấng đã tự hiến thân mình cho nhân loại.
Thiên Chúa mời gọi con người hoàn thành đời mình theo hình ảnh Thiên Chúa.
Bao lâu con người còn ích kỷ, còn đóng cửa lòng mình lại trước những người
nghèo khổ, bấy lâu con người vẫn chỉ là một nhân loại "thui chột", không
theo hình ảnh Thiên Chúa.
Cho người nghèo khổ một chỗ đứng trong cuộc đời chúng ta, quan tâm đến họ là
một cách thế làm cho đời mình trở nên "giàu có" trước mặt Thiên Chúa. "Mến
Chúa yêu người" vẫn mãi là luật vàng Kitô giáo.
Lạy Chúa,
Xin cho chúng con đầy lòng ưu ái,
đầy tình thương cảm đối với tha nhân,
khởi đầu với những người gần chúng con nhất.
Xin dạy chúng con biết chia sẻ nỗi đau khổ
của những người gặp buồn phiền,
biết đỡ gánh nặng của họ,
nhờ vậy mà chúng con được gần gũi với Chúa.
Lạy Chúa,
xin dạy chúng con biết nhìn thấy những người đang đau khổ.
Chúa đang khóc với những giọt nước mắt của họ.
Biết bao tiếng nức nở đã trôi dạt vào đại
dương của tình thương.
Xin dạy chúng con biết canh phòng
bên ngưỡng cửa đưa vào lãnh địa mênh mông của khổ đau.
Amen.
Như Hạ op :
LIÊN ÐỚI
Lc 16:19-31
Thiên Chúa luôn đứng
về phía người nghèo và bị áp bức. Chính vì thế, Con Chúa mạc khải tất cả
tình yêu Thiên Chúa qua dụ ngôn đầy kịch tính hôm nay. Sự thật đã đảo lộn
tất cả những suy nghĩ thường tình. Bởi vậy, cần suy nghĩ sâu xa và quyết
định sáng suốt để kịp thời hành động.
LUẬT QUẢ BÁO.
Lời kinh "Magnificat" đã ứng nghiệm từng chữ
trong dụ ngôn người phú hộ hôm nay. Không những trở về tay trắng, người giàu
còn phải chứng kiến một cảnh đảo lộn chưa từng thấy trên dương gian. Ngày
xưa ông sống trong cảnh vinh hoa phú quí "lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình."
(Lc 16:19) Trái lại, Ladarô ngước mắt lên "thèm được những thứ trên bàn ăn
của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no." (Lc 16:21) Có lẽ Ladarô đã chết vì đói
khát bệnh tật. Còn người giàu có lẽ chết vì chè chén say sưa.
Tại sao người giàu bị
đầy xuống âm phủ ? Phải chăng ông không có quyền hưởng những gì ông đã làm
ra ? Tin Mừng không hề nói đến cảnh bất công đã đưa ông lên tột đỉnh hạnh
phúc. Ông cũng không hề phạm một tội ác hay tạo nên cảnh?nghèo đói của
Ladarô. Ladarô cũng không hề mở miệng xin người giàu và bị từ chối bao giờ.
Ladarô được thưởng không phải vì nghèo. Nghèo không phải là một điều phúc.
Giàu không phải là một tội. Vậy tại sao Ladarô được thưởng, còn người giàu
bị phạt ?
Vấn đề tùy chúng ta quan niệm thế nào về tội.
Trước thánh lễ, chúng ta vẫn đọc : "Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng,
lời nói, việc làm và những điều thiếu sót." Tội không chỉ tại đã làm hay nói
điều gì xấu. Không làm điều tốt cũng là một tội. Ðiều tốt phải làm trong
trường hợp này chính là phải chia sẻ một chút hồng ân Thiên Chúa với người
nghèo. Ladarô không ở xa nhà ông ta, nhưng "nằm trước cổng ông nhà giàu." (Lc
16:20) Ngày ngày ra vào, tất nhiên ông không thể không nhìn thấy cảnh tượng
"mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta." (Lc 16:21) Nhưng ông đã không
thèm để ý đến cảnh khốn cùng đó. "Yến tiệc linh đình" đã lấn át tiếng lương
tâm. "Lụa là gấm vóc" đã xóa nhòa hình ảnh ghê tởm. Có lẽ thấy cảnh tượng
khốn cùng của Ladarô, ông đã nhổ nước miếng quay đi. Càng nhìn thấy con
người bần cùng đó, ông càng thấy khoảng cách quá xa giữa ông và Ladarô. Ông
chỉ cắm mắt vào của cải. Ðó là lẽ sống duy nhất đời ông. Giá trị con người
hoàn toàn tùy thuộc những gì mình chiếm hữu được. Càng thờ ơ, lãnh đạm trước
những khổ đau của người khác, càng vinh thân phì da. Không cần có trách
nhiệm gì trước những khổ thống của người bên cạnh.
Trên tột đỉnh hạnh phúc, ông thấy rõ chỉ có
của cải vật chất mới đem lại hạnh phúc. Ông đặt tất cả niềm tin vào những
thực tại trần thế. Chẳng có gì có thể phá đổ niềm tin đó. Mọi sự đều được
bảo đảm. Trong tháp ngà hạnh phúc đó, ông sung sướng hưởng tất cả những gì
do mồ hôi nước mắt mình đã tạo nên. Giữa một xã hội mọi người có cơ hội đồng
đều, chỉ những người lười biếng và ngu dốt mới khổ mà thôi. Ai cũng phải lo
cho mình. Tội gì "ăn cơm nhà vác ngà voi" ! Tôi không phạm tội, không gian
tham, không giết người, như vậy chưa đủ sao ? Bổn phận đối với Chúa và tha
nhân tôi đã chu toàn, còn đòi hỏi gì nữa ? Tội không phải vì đã không chu
toàn bổn phận. Nhưng chính lúc không làm gì cho người nghèo khổ và bị áp bức,
tôi đã đắc tội với Chúa. Lý do vì sống là liên đới với tha nhân, nhất là
người nghèo khổ. Người nghèo là ưu tiên số một trong những bận tâm của Chúa.
Người Kitô hữu cũng phải chia sẻ nỗi bận tâm lớn lao đó. Phải đợi sau cuộc
đời này người giàu mới thấy mối liên đới với người nghèo khổ. Lúc mở mắt ra
"thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ" Abraham (Lc 16:23), người giàu mới thấy
choáng váng. Mọi sự đã quá trễ. Lúc đó chung quanh chỉ còn "lửa thiêu đốt
khổ lắm !" (Lc 16:24) Khoảng cách giữa người giàu và Ladarô thành vô cùng.
Trước kia Ladarô "thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn
cho no." (Lc 16:21) Bây giờ người giàu thèm một giọt nước từ ngón tay Ladarô
(x.Lc 16:24) Quả báo nhãn tiền: "Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con
thì phải chịu khốn khổ." (Lc 16:15)
Nằm "trong lòng tổ phụ," (Lc 16:23) Ladarô
hạnh phúc muôn đời trong Nước Chúa. Không dụ ngôn nào nhân vật được Chúa đặt
tên rõ như vậy. Bởi đấy tên Ladarô phải có một ý nghĩa nào đó trong việc
giải thích dụ ngôn. Ladarô có nghĩa "Thiên Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi,"
hay "một người nghèo tin tưởng và phó thác nơi Thiên Chúa." (Ezego : Sunday
Homilies for Year C, 27/9/2001) Không phải ai nghèo cũng có niềm tin như thế.
Trái lại, biết bao người nghèo oán trách trời đất hay cay đắng vì thân phận
hẩm hiu. Ðời này không ngóc đầu lên được. Cả đời sau cũng không khá hơn.
Muốn khá hơn, phải lắng nghe lời "Môsê và các
Ngôn Sứ," (Lc 16:29) nhất là Ðức Giêsu Kitô. Nếu phải đợi "người chết đến
với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối," (Lc 16:30) Lời Chúa chỉ là một bóng ma hù
dọa những người yếu bóng vía mà thôi. Nhưng Lời Chúa tác động đến cõi thâm
sâu nhất trong nội tâm, vì mạc khải tất cả sự thật về Thiên Chúa và con
người. Lời Chúa là "thần khí và sự sống." (Ga 6:63) Nếu sống Lời Chúa, chắc
chắn người giàu đã thấy mình phải làm gì cho người nghèo Ladarô. Vì sống là
liên đới, cảm thông, dấn thân cho tha nhân.
THẾ LIÊN ÐỚI.
Nhưng Lời Chúa mới "làm cho sống" (Ga 6:63)
và "sống dồi dào" (Ga 10:10) cả đời này lẫn đời sau. "Chính vì sự sống ấy,
anh đã được Thiên Chúa kêu gọi." (1 Tm 6:12) Thánh Phaolô nói với đệ tử
Timốt như thế. Chúng ta cũng được kêu gọi để chia sẻ sự sống đó. Thực tế, sự
sống sẽ bị đe dọa mọi mặt khi khoảng cách giữa giàu nghèo quá lớn. Muốn cuộc
sống bảo đảm , "trước hết phải đối thoại với người nghèo, không chỉ là nghèo
về của cải vật chất mà còn nghèo về phẩm giá, về kiến thức, về niềm hy vọng
... Không nên coi người nghèo như đối tượng của ?việc từ thiện? nhưng như
những con người đáng được tôn trọng và cần được lắng nghe." (Thư chung
HÐGMVN 22/9/2001) Lý do vì "đối thoại là tên gọi mới của niềm hy vọng" (Thượng
hội đồng tháng 10-2001, Tài liệu làm việc, số 30) Cuộc đối thoại chỉ thành
công khi những người có trách nhiệm cố gắng sống "công chính, đạo đức, giàu
lòng tin và lòng mến, nhẫn nại và hiền hòa." (1 Tm 6:11) Giữa thế giới đầy
hoang mang hôm nay, không gì khó bằng đem niềm hi vọng cho con người thời
đại. Ai có khả năng đem lại niềm hi vọng, sẽ thu hút được quần chúng. Thiên
Chúa đang cần đến những người như thế. Chính họ mới là những tông đồ đích
thực đem Tin Mừng Hi vọng cống hiến cho nhân loại .
Tin Mừng mạc khải tất cả giá trị đích thực
của những thực tại trần thế. Của cải chỉ là phương tiện để phục vụ chứ không
phải để thống trị. Con đường phục vụ chỉ chiếu sáng lên khi người giầu ý
thức được sự liên đới với người nghèo. Chính sự liên đới này thúc đẩy người
giàu vận dụng mọi phương tiện để chia sẻ với những người cùng khốn hơn mình.
Càng chia sẻ càng giàu có. Vì khi chia sẻ, họ sẽ thấy niềm hi vọng lớn lao
và vững chắc hơn nhiều. Thiên Chúa sẽ trả lại tất cả những gì đã làm cho
những người anh em bé nhỏ nhất (x. Mt 25:31-46). Ðúng hơn, khi giúp những
anh em khó nghèo, họ đã đặt hi vọng vào một thực tại vượt quá trần thế. Ðức
tin mạc khải cho chúng ta biết giữa trăm chiều thử thách "chính Chúa Kitô
ban cho chúng ta niềm hi vọng đạt tới vinh quang," (Cl 1:27) và "nhờ quyền
năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hi vọng." (Rm 15:13)
Chính đức tin bảo đảm niềm hi vọng lớn lao đó
(x. Rm 5:2) và hạnh phúc đích thực. Vì "Thiên Chúa là nguồn hi vọng, ban cho
anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin." (Rm 15:13) Với niềm
hi vọng lớn lao đó, người tín hữu cảm thấy hạnh phúc khi phục vụ những anh
em khó nghèo. Chỉ có đức tin mới lấp đầy khoảng cách giữa giàu nghèo và đem
lại cho thế giới niềm hi vọng thực sự. Chính Thánh Linh là tác giả đức tin
đó.
Nhưng cũng chính Thánh Linh đang hoạt động
trong lương tâm mỗi người để khơi dậy những tình cảm liên đới và nối kết mọi
người. Chẳng hạn trong cuộc khủng bố tại New York và Washington vừa qua, mặc
dù không ngờ thời đại có thể chứng kiến một sự tàn ác đến thế, cũng nhờ đó
chúng ta có thể thấy sự kỳ diệu của Thánh Linh trong việc liên kết mọi người.
Biết bao người đã hiến máu, tình nguyện và đóng góp tiền của và sức lực rất
lớn cho những người mình chưa hề biết. Chỉ trong vòng hơn một tuần kêu gọi,
đài Little Saigon tại Houston cuối tháng 9/2001 đã quyên góp được trên
400,000 Mỹ kim.
Fr. Jude Siciliano, OP.
Đừng Vô Cảm Trước Nỗi Khổ Của
Đồng Loại
Lc 16:19-31
Ý tưởng chung : Cuộc sống đời này không phải
là hưởng thụ, nhưng là phục vụ. Người nghèo được Thiên Chúa quan tâm đặc
biệt. Vì họ thường bị bóc lột và lãng quên. Thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu
hãy biết trông đợi ngày Chúa quang lâm, để số phận mỗi người được phân định
rõ ràng.
Thưa quí vị,
Sách tiên tri Amos rất ngắn, chỉ gồm 144 câu,
chia ra làm 9 chương. Mỗi chương hơn chục câu. Nhưng lại được phụng vụ trích
đọc khá dài. Lý do là vì quan điểm của vị tiên tri về của cải vật chất về
người nghèo khổ, gần giống với phúc âm Luca. Có thể nói nó bổ túc cho lời
rao giảng của Chúa Giêsu. Bài đọc hôm nay ở đoạn 6: “Khốn cho những người
sống yên ổn tại Sion và sống an nhiên, tự tại trên núi Samari, nằm dài trên
giường ngà, ngả nghiêng trên trường kỷ, ăn những chiên non nhất bầy, những
bê béo nhất chuồng, chúng đàn hát nghêu ngao”. Tiên tri mạt sát nếp sống an
toàn giả tạo của những kẻ cầm quyền lúc bấy giờ. Họ thu tích giàu sang của
cải trái đất mà an hưởng nhung lụa, sung sướng. Đồng thời nghĩ rằng như vậy
là được phúc lành của Thiên Chúa, được Ngài ưu ái, che chở. Tuy vị ngôn sứ
công nhận vị trí đặc biệt của tuyển dân Israel. Nhưng tiên báo sự sụp đổ ghê
gớm của thành thánh Giêrusalem. Bởi vì đã không làm tròn nhiệm vụ của một
dân tộc được Thiên Chúa lựa chọn. Đoạn trước đó (5,20) tiên tri đã nói đến
“ngày của Chúa. (eschaton). Ngày mà quyền bính đền thờ, những kẻ giàu có,
những người sang trọng mong đợi như giây phút tưng bừng, hoan hỷ, khải hoàn
chiến thắng của Giavê thì Amos tiên báo là ngày kinh hoàng. Ngày Thiên Chúa
phán xét và báo oán, chính vì nếp sống của những kẻ cầm quyền: “Vì thế, giờ
đây chúng sẽ bị lưu đầy, dẫn đầu những kẻ bị lưu đầy. Thế là tan tác bè lũ
quân phè phỡn”.
Nên lưu ý những hình ảnh thi vị ngôn sứ dùng
để mô tả tình trạng đối nghịch giữa người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn:
Giường ngà đối với ổ rơm, thịt thà đối với bụng đói, đàn hát phè phỡn đối
với lao động cực nhọc. Điều mà kẻ quyền thế coi như vững chãi thì vị ngôn sứ
nói là khốn nạn trước mắt Đức Chúa Trời. Ông nhấn mạnh từng chữ với giọng
điệu kinh tởm. Những con người sa đoạ này là những kẻ đầu tiên đi đày, kéo
theo cả dân tộc lâm cảnh lầm than. Phải chăng lời tiên tri của ngôn sứ Amos
cũng áp dụng cho nếp sống xa hoa của xã hội đương thời, nhất là cho những vị
lãnh đạo quốc gia hay tôn giáo ? Những cuộc truy hoan của họ chẳng kém thời
Amos. Cho nên khủng bố, chiến tranh không phải là ngẫu nhiên. Nó là kết quả
của áp bức kinh tế, chính trị. Những bóc lột bẩn thỉu và tàn nhẫn, những kế
hoạch sai lầm dựa trên chủ thuyết của Satan chứ không phải của Chúa Giêsu!
Cứ nhìn vào những quay cuồng vì lợi nhuận to lớn, các mánh khoé kinh tế, tự
khắc nhận ra tình trạng sa đoạ của xã hội hôm nay, không khác mấy thời tiên
tri Amos, có khi còn vượt xa hơn. Người ta hô hào thăng tiến xã hội, văn hoá,
nhưng thực tế là thụt lùi luân lý.
Lấy ví dụ xã hội Hoa Kỳ, con số người nghèo
hiện thời suýt xoát 50 triệu, tức 1/5 dân số. Tệ nạn xã hội không ngừng gia
tăng: Cờ bạc, ma túy, kết hôn cùng giới, li dị, bất mãn, sa đoạ, phóng túng.
Thêm vào đó những phương tiện truyền thông hàng ngày cổ võ các hình thức vui
chơi quái đản: Bạo lực, dâm ô, ma quái, kinh dị, thù hận, trả đũa dã man.
Ngược lại, không có lấy một phương tiện tuyên truyền đạo đức, yêu thương nếu
có thì cũng rất yếu ớt trong các tổ chức tôn giáo. Làm sao mà chống lại lực
lượng vũ bão của hoả ngục? Cho nên tiên tri Amos có lý khi tuyên sấm chống
lại ảo tưởng “chúc lành” của Giavê, trong khi thực tế tai hoạ “khủng khiếp”
đang đến gần.
Người giàu trong dụ ngôn hôm nay không có tên
và ông cũng chẳng làm gì sai trái. Ông không vi phạm một giới răn nào của
Thiên Chúa, tuy hàng ngày nhìn thấy Lazarô nghèo khổ lê la trước cửa. Vậy mà
ông lại rơi vào danh sách những người bị Amos nguyền rủa: “Khốn cho những kẻ
sống yên ổn ở Sion. Suốt cuộc đời an hưởng sự giàu có của mình, ăn vận lụa
là gấm vóc. Ngày ngày yến tiệc linh đình”. Lazarô đói khát ước ao những vụn
bánh rơi tư bàn của nhà phú hộ để ăn cho đỡ đói. Phải chăng thánh Luca muốn
ám chỉ đa phần nhân loại ? Nên nhớ phúc âm tuần trước Chúa Giêsu tuyên bố
chúng ta chẳng thể làm tôi hai chủ : Mammom (thần tài) và Thiên Chúa. Nghĩa
là chúng ta phải dứt khoát lựa chọn, không có chuyện lưỡng lự về ưu tiên
hoặc bất động trong thái độ. Nếu không sử dụng của cải một cách khôn ngoan
theo tinh thần phúc âm, chúng ta sẽ rơi vào lời kết án của Amos.
Sau bài Tin mừng tuần trước, phụng vụ bỏ mấy
câu (14,18) để tiếp sang phúc âm hôm nay. Câu 14 nói: “Người Pharisêu vốn
ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy thì chế nhạo Chúa Giêsu” cho nên Ngài
kể dụ ngôn này để trả lời họ. Nó nhấn mạnh hơn đề tài chương 16: Nguy cơ của
tiền bạc dưới nhiều hình thức. Thánh Luca xem ra rất triệt để trong cách đối
sử với người nghèo khó. Chương 6 thuật lại Chúa chúc phúc cho họ và nguyền
rủa những ai giàu có ích kỷ. Khi đọc phúc âm Luca chúng ta nên lưu tâm điểm
này. Có lẽ thánh nhân là một thầy thuốc nên hiểu rõ những khốn khổ của người
nghèo.
Người nghèo khổ sinh ra, lớn lên và xuống mồ
không ai biết đến. Những người đẽo bia mộ thường khắc mấy dòng chữ: “Muôn
đời hãy nhớ đến người thân yêu”. Nếu có tiền, quý vị có thể mua một tấm cho
thân nhân quá cố. Nhưng với vô số người nghèo khổ thì chẳng có chi để ghi
nhớ. Họ chết và bị lãng quên. Tuy nhiên với thánh Luca, ông đã nghĩ ra một
cách để nhớ đến họ. Trong văn chương kinh thánh, ông đặt tên cho họ là
Lazarô. Tưởng chừng như thánh nhân muốn nói: “Đây nhé, muôn đời người ta sẽ
chẳng quên anh Lazarô”. Đồng thời thánh nhân khuyên nhủ chúng ta rằng, tiền
của, giàu có, tiếng tăm chẳng qua là sự đời này, rồi sẽ có ngày chấm dứt,
không tồn tại vĩnh viễn được đâu. Vậy tại sao thu tích chúng để rồi bị quên
lãng đời đời ? Chúng ta được mời gọi suy nghĩ kỹ lưỡng hơn về đề tài này,
ngõ hầu lựa chọn cho thông minh và xây dựng điều vĩnh cửu. Qua dụ ngôn, một
lần nữa Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta Ngài về phe với những người nghèo khổ
và dễ bị tổn thương. Chính Ngài đã sinh ra trong một gia đình thấp hèn. Dâng
mình trong đền thờ bằng của lễ của người bần cùng. Sống nghèo và chết cay
đắng. Những ai theo Ngài lên Giêrusalem đều được dạy dỗ phải canh chừng của
cải và nếp sống giàu sang.
Của cải tự nó không phải là điều xấu, nhưng
lòng tham lam là điều phải tránh. Người phú hộ hôm nay không quan tâm đến
nguy hiểm đó. Ông sống tự mãn, chẳng nghĩ đến ai, ngay cả Lazarô trước cửa
nhà ông. Chi tiết của dụ ngôn Chúa kể làm chúng ta nhức nhối. Ai có thể
không nhớ đến câu chuyện ? Những con chó còn đối xử với Lazarô tốt hơn ông
chủ nhà. Chúng liếm ghẻ chốc cho Lazarô, làm vơi nhẹ nỗi đau đớn, trong khi
đồng loại không đoái hoài đến nhau ! Đau xót biết chừng nào ! Các thính giả
của Chúa Giêsu hẳn lấy làm ngạc nhiên khi họ vẫn có não trạng giàu có là
được Chúa thương, và ngược lại, nghèo đói là dấu chỉ bị trừng phạt bởi đời
sống tội lỗi. Dụ ngôn hoàn toàn bác bỏ suy luận ấy. Thiên Chúa hằng lưu tâm
đến người nghèo khổ, như Đức Mẹ đã nói lên trong kinh Magnificat: “Kẻ đói
nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giàu có lại đuổi về tay trắng”. (1,53). Dụ
ngôn đúng là truyện mỉa mai: Những người xây lăng dựng mộ cho mình, khi chết
lại bị quên lãng. Còn kẻ vô danh tiểu tốt, khi khuất bóng lại được nhớ đến
đích danh Lazarô. Họ có một chỗ xứng đáng trong vương quốc Thiên Chúa, nơi
lòng ông Abraham.
Sự đần độn của nhà phú hộ còn được tỏ rõ do
những yêu cầu của ông ta sau khi chết. Ông ta muốn tổ phụ Abraham sai Lazarô
đem đến cho mình vài giọt nước mát. Thế ra Lazarô vẫn là đầy tớ ông ta! Cho
nên ông ta lại sai Lazarô về nhà báo tin cho 5 anh em còn sống về tình trạng
khốn đốn của mình! Lòng chai đá của ông già mắc dịch thật mãnh liệt, ngay cả
trong hoàn cảnh khốn khổ. Ông chẳng thể hiểu được mình và Lazarô. Ông tiếp
tục khinh bỉ người nghèo khó, không thèm nói chuyện trực tiếp với họ, vẫn
coi họ là tôi tớ chạy việc vặt trong kiếp sống tương lai! Câu chuyện thật là
thấm thía. Chưa hết, Chúa Giêsu còn làm cho chúng ta ngỡ ngàng khi chẳng đả
động gì đến luân lý: Được thưởng vì đời sống đạo đức và bị phạt về hành vi
tội lỗi. Tất cả câu chuyện chỉ là Lazarô nghèo khó và ông phú hộ ích kỷ sống
trên nhung lụa, của cải, chẳng lưu tâm đến ai khác. Nhưng cuối cùng Thiên
Chúa thấu suốt mọi sự và hoàn lại công bằng cho mỗi cuộc đời. Đây là điểm
thần học quan trọng cần suy nghĩ nghiêm chỉnh.
Giống như bài đọc cựu ước, bài Tin mừng rất
nhạy cảm về những đau khổ của kẻ nghèo hèn. Cả hai văn bản đều kêu gọi công
lý cho những kẻ bị áp bức. Công lý thế nào? Nó được thực hiện ra sao ở đời
này ? Nếu như người giàu có còn chút quan tâm, thì là ông nhớ đến 5 anh em
mình. Ông muốn họ biết được số phận đang chờ đợi họ, nếu cũng sống như ông
ta. Abraham bảo ông: “Họ đã được cho biết mọi sự để sống ngay lành, chúng đã
có Môsê và các tiên tri thì chúng hãy nghe lời các vị đó”. Nghĩa là lời dạy
về thương yêu kẻ khó nghèo không phải là điều mới lạ. Truyền thống tôn giáo
Do Thái đã dạy dỗ đầy đủ rồi, khỏi cần thêm thắt điều chi. Ngày nay chúng ta
cũng đã được Chúa chỉ bảo những điều phải biết để lựa chọn mục tiêu chính
đáng cho cuộc đời, không thể viện cớ ngu dốt để trốn tránh bổn phận.
Không ai có thể làm tôi hai chủ, chỉ có thể
chọn một, thế gian hoặc Thiên Chúa. Hành động cho thế gian là tìm tiền bạc,
của cải. Hành động cho Thiên Chúa là giúp đỡ những người thiếu ăn thiếu mặc.
Thánh Luca nhắc lại nhiều lần quan điểm đó và Amos cảnh cáo dân Do thái về
lòng tự mãn vì của cải. Chúng ta không thể sống phè phỡn kẻo sẽ gặp cảnh
khủng khiếp sau này, như dụ ngôn miêu tả. Chúa Giêsu không lên án giàu có,
nhưng là lòng tự mãn không quan tâm đến người khác. Có thể là tuy chúng ta
không giàu có, nhưng vẫn còn khả năng vô cảm trước những quằn quại của đồng
loại, Chúa không muốn như vậy, nhưng hãy quan tâm đến những nhu cầu thiết
yếu của nhau. Lazarô sống ở ngưỡng cửa nhà phú hộ. Ngày nay, qua tivi,
radio, internet, cả thế giới ở ngay trước ngõ chúng ta. Tuy không quán xuyến
được hết mọi sự, nhưng điều đó không phải là lý do để chúng ta thoái thác sự
giúp đỡ kẻ khó nghèo.
Kinh nghiệm cho hay, những người giàu ít có
tinh thần liên đới, họ sống ích kỷ, khép kín. Trái lại, các gia đình nghèo
khó thường có nhiều tình làng nghĩa xóm hơn. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm.
Nhưng người Mỹ chúng ta sống cao ngạo hơn người Phi Châu hoặc Á Châu. Họ có
tinh thần cộng đồng nhiều hơn, biết chia sẻ của cải, văn hoá với đồng bào
mình. Dầu tài sản chẳng có là bao nhưng họ sẵn sàng chăm sóc đến nhu cầu của
tha nhân. Người Mỹ, từ tấm bé, đã được dạy cho biết sống cá nhân chủ nghĩa:
xây dựng cuộc đời do chính bàn tay lao động của mình. Vì vậy, có câu thành
ngữ rằng: “Những gì tôi kiếm được là do hai bàn tay này, hãy để người khác
noi gương” (I have earned what I have, let others do the same).
Cho nên phúc âm hôm nay dạy mọi người phải
liên đới với nhau sâu xa hơn. Kinh thánh không ngừng nhắc nhở tính cộng đồng
nhân loại, dù rằng Thiên Chúa tuyên sấm cho một vài cá nhân, nhưng chính vì
lợi ích của cả một dân tộc. Ngài ký kết giao ước không phải với cá nhân mà
là với toàn thể tuyển dân Israel. Ông phú hộ và Lazarô là những thành viên
của dân tộc đó. Có lẽ người giàu có quên mất chân lý này. Ông đã bẻ gẫy giao
ước với Thiên Chúa. Nên ông phải chịu hậu quả đắng cay của việc ông làm.
Chính nhà phú hộ, chứ không phải Thiên Chúa, đào hố ngăn cách giữa ông ta và
Lazarô. Hố không từ đây sang đấy được. Thật là khủng khiếp.
Tóm lại, Thượng đế toàn năng, Đấng ban dụ
ngôn hôm nay, ví tựa một hiền mẫu trong gia đình. Bà nói với con cái mình:
“Này các con, tại sao những đứa sung túc lại có thể sống nhung lụa, bỏ quên
anh chị em mình nghèo đói ? Các con không biết rằng mình đều do một mẹ sinh
ra ? Hết thảy các con đều là ruột thịt của ta ? Các con nên nhớ rằng những
đứa ích kỷ chỉ sống cho mình trên những đống tiền, đống của chẳng thể tìm
thấy hạnh phúc cho đến khi biết san sẻ cho những anh chị em nghèo đói khác.
Lúc ấy gia đình không còn chia rẽ, sống hoà hợp thương yêu nhau, không chiến
tranh, không thù hận. Các con sẽ là anh chị em với nhau như Ta đã tạo dựng
nên các con”. Dụ ngôn thật sự đã mở lòng mở trí cho chúng ta nghe theo lời
chân lý hằng sống. Tiếng nói của Bà Mẹ đầy quan tâm cho số phận nhân loại.
Vì Bà thông tuệ mọi sự. Amen.
Fr. Jude Siciliano, op.
Người
nghèo có chỗ đứng đặc biệt trong trái tim Chúa
Lc 16,19-31
Thưa quý vị.
Nếu chúng ta chưa thấm
nhuần những lời Chúa Giêsu dạy dỗ về đức khó nghèo mà thánh sử Luca ghi lại
trong Tin Mừng của Ngài, thì hôm nay thánh sử lại kể cho chúng ta một dụ
ngôn khác chất lượng hơn. Đó là dụ ngôn ông phú hộ giàu có và Lazarô nghèo
khổ cùng cực. Dụ ngôn nói rõ hơn quan điểm của thánh Luca về vấn đề này.
Chúng ta thường tìm kiếm mọi lý do để tránh né. Nhưng thánh Luca không khoan
nhượng. Ngay từ đầu và trong suốt cả Phúc Âm người nghèo và tinh thần nghèo
khó luôn luôn có một chỗ đứng đặc biệt trong trái tim Chúa Giêsu. Họ là
những người dễ dàng đón nhận Phúc Âm (4, 17-19). Chính Ngài cũng thuộc hạng
người nghèo khổ, ngay từ lúc dâng mình vào đền thờ, của lễ cha mẹ Ngài dâng
là của lễ của lớp người nghèo khó (2, 24). Khi ra giảng đạo, Ngài chẳng có
chỗ gối đầu (9, 58), khi chết chẳng có mảnh vải che thân (23, 34).
Tuy nhiên, thánh Luca không thực sự liệt kê
một cách chính xác chúng ta phải sống thế nào để được gọi là nghèo khó. Ngài
chỉ nói rằng phải từ bỏ mọi sự để theo Chúa, như trong Phúc Âm tuần trước :
“Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể
làm môn đệ Tôi được” (Lc 15, 33). Vậy mà Lazarô, Mat-ta, Maria vẫn còn có
nhà cửa để đón tiếp Ngài và các môn đệ khác. Ông Gia-kêu chỉ phải phân phát
có một nửa gia tài mà cũng được khen là theo chân Chúa Giêsu! Cho nên vấn
đề vẫn còn bỏ ngỏ để chúng ta suy gẫm trong ơn soi sáng của ChúaThánh Thần
và chúng ta sẽ đáp ứng theo tiếng gọi của Ngài. Có một điểm chắc chắn trong
bài Tin mừng hôm nay là đừng tự mãn về sự giàu có và gia sản của mình, nhưng
hãy biết chia sẻ với những người cùng cực nghèo khó. Của cải có thể là hòn
đá làm ta vấp ngã trên con đường theo Chúa. Có lẽ thánh Luca đang chống lại
tính tham lam ích kỷ của các quyền lực tôn giáo lúc ấy (16, 14) coi giàu có
là đặc ân Thiên Chúa chúc phúc và khinh rẻ đa số nghèo hèn là tội lỗi. Dụ
ngôn sẽ cho chúng ta cái nhìn chính xác hơn.
Ông phú hộ cực kỳ giàu có, ăn vận hết sức
sang trọng, toàn lụa là gấm vóc. Ông nổi bật trên nền trời nghèo khó chung
quanh ông. Bữa ăn của ông được thánh Luca mô tả là yến tiệc linh đình, nhưng
ông lại chẳng có tên ! Không hiểu thánh sử có dụng ý ám chỉ đến ai ? Các nhà
chú giải kinh thánh cho là toàn thể giai cấp Pha-ri-sêu lúc ấy, bởi lẽ nếu
nói rõ tên, ngài sẽ bị trù dập và khai trừ. Còn Lazarô thì có tên. Người
nghèo thì lấy quyền lực đâu mà trả thù, cho nên phải cắn răng chịu đựng mọi
thứ mạt sát. Lời văn của thánh Luca thật là chính xác và cay đắng. Thời nay
cũng vậy thôi. Tầng lớp nghèo khó tha hồ chịu đựng những lời thóa mạ chua
cay, đắng đót, còn những kẻ sang giàu dù một lời chỉ trích nhẹ nhàng cũng
gây nên sóng gió. Cho nên nhiều vị có bổn phận coi sóc linh hồn phải tìm
cách tránh né, mặc dầu gương xấu tày đình. Xã hội loài người là như thế đó,
không có luật trừ. Sang giàu thì bao giờ cũng kiêu ngạo, chỉ có nghèo hèn
mới khiêm nhường được mà thôi. Vậy những linh hồn khiêm nhường phải là những
linh hồn có tinh thần nghèo khó và sống thực sự bằng tinh thần ấy. Sống xa
hoa không thể nào khiêm tốn được. Có chăng chỉ là giả dối.
Tôi có người bạn thân đi giảng đạo ở Châu Mỹ
La Tinh, ông sống với dân da đỏ mười năm, khi trở về nước Mỹ, bất cứ cái chi
cũng làm ông ngỡ ngàng. Một hôm tôi đưa ông đi thăm siêu thị, vào gian hàng
thực phẩm thấy bầy bán la liệt nước uống tinh khiết, giá một đô la hai mươi
lăm xu một chai. Ông ngạc nhiên hỏi : “Vậy thì nước mạch của chúng ta ô
nhiễm hết rồi sao ? Tôi trả lời : không phải như thế, nhưng bây giờ người ta
ưa uống nước này, vệ sinh hơn. Ông tròn xoe đôi mắt nói : Ngần ấy tiền chúng
tôi sống được hai ngày. Tôi phải vất vả lắm mới giải thích cho ông hiểu nổi
những thức ăn tân thời của nước Mỹ. Tới gian hàng bán đồ ăn cho chó mèo, ông
thở dài khi thấy cơ man nào là nhãn hiệu thực phẩm dành riêng cho chó : ước
chi những người nghèo khổ của tôi ở Nam Mỹ được những thứ này để ăn”. Phải,
chính thế, mọi sự còn tùy vào cách suy nghĩ, cách nhìn sự vật của chúng ta.
Trở lại với dụ ngôn. Có tác giả dịch là
Lazarô nằm lê la ở “cổng” nhà người phú hộ, với ngụ ý nhà của ông phú hộ to
lớn lắm, đó là một lâu đài. Lazarô ước ao được ăn no nê những miếng bánh vụn
rơi xuống từ bàn ăn nhà phú hộ. Liệu Lazarô có phải tranh nhau với mấy chú
cho con không nhỉ. Thảm thương đến thế là cùng ! Trong thực tế thì còn nhiều
hoàn cảnh thảm thương hơn. Cơm không có ăn, áo không có mà mặc, ngày này qua
ngày khác nhịn đói chịu rét hoặc có chút cháo rau cầm hơi. Báo chí, Tv nhan
nhản những cảnh tượng như thế. Vậy mà ở những chân trời khác, khách sạn ba
sao, năm sao mọc lên như nấm ; thức ăn, đồ uống thừa thãi, mỗi ngày phải
đem chôn hoặc phá huỷ từng nhiều tấn lương thực thực phẩm. Vấn đề không phải
là thiếu thốn, mà là ích kỷ, phân phối không đều. Dụ ngôn Lazarô và người
phú hộ tân thời nằm ở ý nghĩa đó.
Đối với đa phần trong chúng ta, chẳng ai dám
tự nhận là người phú hộ, bởi chúng ta sống theo tiêu chuẩn hiện hành của
những người lao động trong xã hội. Thức ăn nhanh, đồ uống pha sẵn, vừa đi
làm vừa ăn sáng, nhưng tiêu chuẩn của chúng ta có khi quá đáng, so với những
người nghèo đói, nó đã là thịnh soạn (sumptuous) rồi ! Các nhà đạo đức
thường khuyên nhủ chúng ta mỗi khi ăn uống nên nhớ đến những người nghèo đói,
bớt một phần phung phí để giúp đỡ họ (giống như hũ gạo tình thương ở Việt
Nam). Bằng không chẳng bao giờ chúng ta có được tinh thần khó nghèo và
tình tương thân tương ái. Trong dụ ngôn Chúa Giêsu gọi rõ tên một người
nghèo đói, ông Lazarô. Nghĩa là rất cụ thể chứ không phải là chung chung
trừu tượng. Không có người nghèo đói trừu tượng, mà chỉ có người đói khổ cụ
thể, ở bên cạnh chúng ta, ở gần nhà chúng ta. Ông A, bà B. Phản ứng của
chúng ta ra sao ? giúp đỡ hay khinh bỉ ? số phận của họ là số phận của Chúa
Giêsu hay của kẻ bị chúc dữ ? điều đó tuỳ thuộc vào viễn tượng mỗi người.
Phần thứ hai của bài dụ ngôn là một nghịch
đảo của phần trên. Lazarô được hạnh phúc và người phú hộ bây giờ bất hạnh.
Ông van xin tổ phụ Ap-ra-ham sai Lazarô nhúng ngón tay vào nước để làm mát
lưỡi ông, nhưng chẳng được, tương tự như xưa kia Lazarô ước ao được ăn những
mẩu bánh rơi, nhưng cũng chẳng ai cho ! Hố ngăn cách đã có ngay từ khi hai
người còn sống !
Đây là quan điểm rất quyết liệt của thánh
Luca. Chúng ta nên suy tư cho quán triệt. Cái hố ấy là nghe hoặc không nghe
lời Thiên Chúa. Kinh thánh đã quá đủ để chúng ta tự sửa lỗi lầm và nên lành
nên thánh, nhưng người ta ưa thích nghe theo dục vọng hơn lời Thiên Chúa, vì
vậy cho dù kẻ chết sống lại, người ta cũng không tin. Lời Môisen, lời các
tiên tri đã trở nên vô ích. Điều đó vẫn đúng với thực tế hôm nay, bao nhiêu
sách vở, thông điệp, lời kêu gọi đều rơi vào quên lãng, người ta vẫn ương
ngạnh sống theo sự chỉ đạo của thế gian, ma quỷ và dục vọng. Nếu người ta
biết chất vấn lương tâm, hối cải và thành thật sửa lỗi lầm, thì cục diện thế
giới đã hoàn toàn đổi khác, chẳng cần đến binh hùng, tướng mạnh.
Bài đọc thứ nhất vẫn
còn trích từ sách tiên tri Amos. Ông khiển trách những người giàu có sang
trọng trong xứ sở. Báo trước với họ một tai hoạ khủng khiếp (eschaton) sẽ
giáng xuống đất nước, nếu họ không ăn
năn trở lại, thương kẻ nghèo hèn, giúp
đỡ người cùng khổ. Họ tưởng rằng sự giàu có bất chính họ đang được hưởng là
ân huệ trời ban và như vậy họ được chúc phúc. Không phải như thế, “ngày của
Chúa” đã tới gần và là kết quả của lối sống vô luân, tham lam, ác độc mà họ
đã từng gieo rắc bấy lâu nay. Sự hoà bình chính trị hiện nay thực ra trước
mặc Chúa là ghê tởm, bởi nó là thứ hoà bình liên minh ma giáo để cho người
giàu bóc lột người nghèo.
Đối với viễn tượng của
Amos họ sẽ là kẻ đầu tiên phải lưu đày. Như vậy chúng ta thấy tư tưởng và
lời cảnh cáo
của vị tiên tri am hợp với bài Phúc Âm hôm nay. Và Giáo hội cho
chúng ta đọc lại như bài bổ túc cho Tin Mừng. Chẳng hiểu có mấy ai để ý lắng
nghe mà chất vấn lương tâm. Hiếm lắm thay ! Amen.
G. Nguyễn Cao Luật op :
Ra Khỏi Thế Giới Nhỏ Hẹp Của Lòng Mình
Lc 16:19-31
Những bức tranh tương phản
Tin tức trên báo chí cho biết : khoảng vài phần trăm dân số địa cầu nắm giữ
gần hết tài nguyên của thế giới, trong khi đa số dân còn lại chỉ được hưởng
dùng một số nhỏ. Hố phân cách giữa các miền của thế giới càng lúc càng rộng
thêm, số người giàu chỉ tăng lên rất ít, còn số
người nghèo càng lúc càng
tăng lên rất nhiều. Hình ảnh đó là một sự kiện rõ ràng của thế giới hôm nay,
và cũng xuất hiện tại nhiều quốc gia, nhiều vùng đất, nhất là tại các thành
thị.
Dụ
ngôn của bài Tin Mừng hôm nay nêu lên một bức tranh với nhiều mầu sắc tương
phản. Hình ảnh được vẽ lên là những thế giới đóng kín, những vũ trụ tách
biệt, với những vực sâu ngăn cách. Từ thế giới này sang thế giới kia, không
có mối liên lạc nào : mọi cây cầu đã bị phá đỗ.
-
Bức tranh thứ nhất : Cuộc sống thường nhật. Một người giàu, ăn mặc sang
trọng, yến tiệc linh đình ; và một người nghèo tên là La-da-rô, không có gì
che thân, không có gì để ăn. Người giàu ở trong nhà và người nghèo ở ngoài
cổng. Ở giữa, một cánh cửa đóng kín.
Người giàu không có tên. Chỉ biết rằng ông ta có nhiều của cải, nhiều đến dư
thừa. Thái độ, cách cư xử của ông : không để ý đến ai khác, ngay cả người
nghèo đang ăn xin ở cổng nhà.
Còn người nghèo có tên là La-da-rô, có nghĩa là Thiên Chúa giúp đỡ. Anh sống
mà dường như đã chết. Thế nhưng anh bị đói, anh đợi chờ và mong ước được
sống. Cuộc sống của anh có những lỗ hổng và vì vậy, Thiên Chúa có thể can
thiệp.
Khi cái chết phủ xuống : người giàu được đem chôn, còn người nghèo được đem
lên trời.
-
Bức tranh thứ hai : Tại thế giới kẻ chết : trời cao và âm phủ. Người nghèo
được hạnh phúc trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham: anh đã chết, mặc dù chưa được
hưởng điều Thiên Chúa hứa ; nhưng anh đã thấy từ xa và đón chào các điều ấy,
vì đã xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất (x. Dt 11,13).
Còn người giàu phải chịu muôn vàn đau khổ. Ông muốn được hiệp thông, muốn
được chia sớt một giọt nước, nhưng không thể được : không có lối qua, dù đó
là vì lòng bác ái, dù đó là những người đang thèm khát. Giữa hai thế giới có
một vực sâu, một vực sâu rất lớn. Trước kia người nghèo không có gì cả : anh
chỉ chờ đợi và khát mong được sống ; người giàu thu hẹp đời mình vào trong
những của đang nắm giữ. Bây giờ thì ngược lại, nhưng không còn thay đổi gì
được nữa.
-
Bức tranh thứ ba : Vẫn tại thế giới kẻ chết. Và ở phần cuối là cuộc sống con
người trên trần gian, nơi năm anh em của người giàu đang sống. Giữa hai thế
giới này, có thể thông thương được. Thế nhưng chỉ là điều vô ích, vì tâm hổn
của những con người đang sống ấy đã bị đóng kín.
Và
dụ ngôn kết thúc với một câu nói có liên hệ đến con người thời nay : "người
chết có sống lại, họ cũng chẳng tin đâu."
Cuộc sống trần gian chưa phải là tất cả
Dụ
ngôn trước hết nhắm đến quan niệm sai lầm của những người biệt phái, vì họ
coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là
dấu chỉ bị ruổng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Ở
trần gian này, nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đã làm đẹp lòng
Thiên Chúa, còn nếu ngược lại, thì chính vì con người đã phạm tội. Ðó là
nguyên nhân người biệt phái chế giễu Ðức Giê-su vì Người đòi hỏi phải từ bỏ
lạc thú ở đời này. Yêu sách này của Ðức Giê-su gây ra mâu thuẫn gay gắt với
xác tín tôn giáo của họ. Dụ ngôn đã khai triển sự tương phản đó một cách
không kiêng nể.
Thịnh vượng trần thế không minh chứng giá trị đạo đức và sự hậu đãi của
Thiên Chúa, cũng như nghèo khó không phải là kết quả của sự bại hoại luân lý
và việc Thiên Chúa ruổng bỏ. Người biệt phái đã quan niệm sai lầm. Thiên
Chúa phán đoán hoàn toàn khác. Ðó là ý nghĩa của dụ ngôn.
Vì
thế, không nên căn cứ vào một vài chi tiết của dụ ngôn để rút ra những hệ
luận thiêng liêng : chẳng hạn các hình khổ dành cho người phú hộ hưởng thụ
là biểu hiện những khổ hình của hoả ngục. Ðó chỉ là một hình ảnh. Việc người
nghèo an nghỉ trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham cũng thế ...
Ðàng khác, dụ ngôn còn muốn cho thấy rằng cảnh ngộ trần thế và bên ngoài
không liên quan gì tới trạng thái tâm hổn. Người ta vẫn thường cho rằng
người giàu có, ăn sung mặc sướng là người biết tổ chức tốt cuộc đời của mình,
và người ta thương hại kẻ nghèo phải sống lệ thuộc vào người khác, không có
khả năng thoả mãn những ước vọng ở đời. Tuy nhiên, Thiên Chúa không xét đoán
như thế. Ðây là một trong những quy tắc nền tảng của Ki-tô giáo.
Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống tương lai cũng như tình trạng
đời này. Dụ ngôn muốn chứng tỏ rằng cuộc sống hiện tại của người giàu chẳng
có giá trị gì cả. Chính sự hiện diện của người nghèo nói lên điều đó : anh
đã muốn phá vỡ nếp sống an toàn giả tạo của người giàu, kêu mời sự hiệp
thông, nhưng không được, và thế là hết ...
Kể cả người chết sống lại
Không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc một người đang sống phải
yêu mến. Lời Chúa, luật lệ và các ngôn sứ đã trình bày rõ ràng những điều gì
cần được thực hiện. Mặc khải đã có sẵn, cuộc đời là nơi duy nhất để cho
những điều đó thành hiện thực.
Hoàn cảnh sống ở đời chưa phải là tất cả. Vực sâu lớn nhất của cuộc đời
chính là từ khước yêu mến.
Chỉ có thái độ quan tâm để ý đến người khác mới có thể tạo nên những cây cầu,
những lối đi để từ đó đưa đến sự hiệp thông, đến tình liên đới.
Khi biết quan tâm đến những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa đang được bày tỏ
trong cuộc đời con người ; khi biết lắng nghe lời giáo huấn của tổ phụ
Áp-ra-ham cũng như của các ngôn sứ ; khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là
những cái nháy mắt, những lời thì thầm, và khi biết nhận ra sự hiện diện của
Thiên Chúa torng những biến cố, thì tất cả đều thay đỗi, tất cả đều dễ
thương, tất cả đều trở thành cơ hội để hành động.
Biết để ý quan tâm, biết nhạy cảm, đó là biết bước chân ra khỏi lòng mình
đang bị đóng kín với nỗi trống rộng của riêng mình.
Vậy mà, trong cuộc đời, vẫn có biết bao rào cản đã được dựng nên ; vẫn có
những người đi qua cuộc đời một cách vô tình, không cần chú ý đến ai khác,
vẫn có những tiếng kêu than bị bỏ quên, vẫn có những lời cầu cứu không được
đáp trả ... Người ta vẫn thường dành nhiều thời giờ để bảo vệ mình hơn là để
ý đến người khác. Người ta vẫn không ngừng xây những bức tường kiên cố để
che chắn cho mình, đang khi lẽ ra cần phải mở ra những cánh cửa, cửa ra vào
lẫn cửa sỗ.
Cuộc đời vẫn có nhiều La-ra-rô đang than thở, bị bỏ quên, trong lúc không ít
người giàu có lại lẩn quẩn, lại đóng kín trong những nỗi sợ hãi của riêng
mình. Thực là những bức tranh tương phản.
Hôm nay, lúc này là thời gian để ra khỏi mình : hãy mở toang những cánh cửa,
những cánh cửa của hiệp thông, của liên đới. Chỉ có những người đang sống
mới mở được, những người khác, kể cả người chết sống lại, không thể nào mở
được.
*
* *
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Người Nghèo,
Chúa chẳng có gì cả,
dù
là một viên đá gối đầu.
Chúa chẳng có gì cả,
dù
chỉ là một cơn gió nhẹ,
vinh quang của Chúa chính là sự trần trụi
cả
một cái áo tả tơi của đứa trẻ mổ côi,
cũng còn đẹp hơn.
.....
Chúa là người ăn xin với bộ mặt ẩn giấu,
là
người không có chỗ trên mặt địa cầu.
Nhưng đàng sau sự nghèo khó,
là
ánh sáng rực rỡ.
Phỏng theo R.M. Rilke
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Giàu và
nghèo
Lc 16:19-31
Trong cuộc sống, chúng thấy người ta thường trò truyện với nhau, có khi còn
tranh luận nữa : ai giàu, ai nghèo ? Ai giàu vật chất nhưng có tinh thần
nghèo, ai nghèo vật chất nhưng có tinh thần giàu ? Đối với chúng ta, vấn đề
không phải là phân biệt ai giàu ai nghèo, nhưng vấn đề quan trọng là : ai là
người có phúc, ai là người bị lên án ? Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy : một
người giàu, ăn sung mặc sướng ở đời này, nhưng lại phải khổ ở đời sau. Ngược
lại, một người nghèo, đói khát ở đời này, nhưng lại được hạnh phúc ở đời sau.
Như vậy, phải chăng giàu có là một tội và nghèo khổ là có phúc ?
Trước hết, nói đến giàu nghèo là nói đến tiền của, và nói đến tiền của chúng
ta có thể ghi nhận ba điều : Thứ nhất, tiền của cũng như danh vọng, khoái
lạc, đối với lòng tham của con người, không bao giờ là đủ, lòng tham này vô
đáy. Người ta có thể mơ ước tiền của suốt đêm, bàn tán về tiền của suốt ngày,
lo tìm kiếm tiền của suốt tháng, vơ vét tiền của suốt năm… chẳng bao giờ
thỏa mãn và chẳng biết bao nhiêu là đủ : ta có một triệu, lại muốn được hai
triệu, có hai triệu, ta lại thèm ba triệu, có ba triệu, ta lại ước bốn triệu.
Cuộc săn đuổi cứ tiếp tục leo thang, thỏa mãn, cho là đủ rồi, thật là hai
tiếng xa vời. Thứ hai, thái độ cần tiền của là chuyện tự nhiên, không ai
tránh được, vì ai cũng cần chúng. Và việc cố gắng làm cho có nhiều tiền của
không phải là chuyện xấu, cũng như giàu có không phải là một tội, miễn là
người ta không kiếm tiền và làm giàu cách bất chính. Thứ ba, tiền bạc, của
cải vật chất là điều có thể mất, chúng ta mất chúng vì chúng bỏ chúng ta,
như khi tiêu xài, mất mát, nhưng chúng ta cũng mất chúng, vì chúng ta bỏ
chúng, lúc chúng ta chết chẳng hạn, chúng ta phải bỏ lại tất cả, chúng có
thể hết, vì là vật chất, linh hồn không hết, vì linh hồn thiêng liêng.
Thế nên, tiền của không thể bảo đảm hạnh phúc đời sau cho chúng ta được, mà
trái lại, như thực tế chúng ta thấy, chúng thường là nguyên nhân gây ra bao
tội lỗi, tật xấu và làm mất hạnh phúc đời sau của chúng ta. Tuy nhiên, tiền
bạc của cải, nếu được sử dụng đúng cách, hợp tình hợp lý, cũng có thể là
phương tiện mua nước thiên đàng, như giúp đỡ việc công, làm việc bác ái, cứu
giúp người nghèo khổ… đó là dùng tiền của để mua nuớc trời, đó là cách thu
tích của cải để bảo đảm hạnh phúc đời đời.
Trong dụ ngôn của Tin Mừng, chúng ta thấy không đề cập tới một tội rõ rệt
nào của ông nhà giàu, thế mà ông đã sa hỏa ngục, như vậy, nguyên việc giàu
đã là một tội chăng ? Không, ông bị phạt không phải vì ông giàu, nhưng vì
ông đã sử dụng tiền của một cách xa xỉ, ích kỷ, không biết chia sẻ, thương
giúp người hành khất đói rách, nghèo khổ. Ngược lại, người hành khất La-da-rô
nghèo khổ, nguyên tình trạng nghèo chưa phải là điều kiện để ông được thưởng,
mà là ông có tinh thần, có tâm hồn nghèo khó, biết chấp nhận cảnh nghèo khổ,
bệnh tật, tuân theo ý Chúa. Dĩ nhiên sự chấp nhận này không ngăn trở người
nghèo khổ cố gắng hành động phải lẽ, làm việc chính đáng để thoát khỏi cảnh
nghèo và bệnh tật.
Như vậy, một điều nữa chúng ta cần ghi nhận là có sự tương quan giữa cách
chúng ta sử dụng tiền của với hạnh phúc vĩnh cửu : nếu ông nhà giàu biết đem
tiền của chia sẻ cho ông La-da-rô, thì ông đã sắm cho mình kho tàng trên
trời. Chính vì thế có người đã nói rằng người Ki-tô hữu có ba loại người bạn
là tiền bạc, bà con bạn hữu và việc lành phúc đức. Tiền bạc là người bạn
chúng ta thương nhất, quý nhất, chiếm môt vị trí quan trọng trong đời chúng
ta, thậm chí khi phải chọn lựa, có người đã không theo lẽ phải, nhưng đã để
hấp lực của đồng tiền cuốn hút. Loại người bạn thứ hai cũng chiếm một vị trí
quan trọng trong tim óc chúng ta là bà con ruột thịt và bạn hữu, trong đó
phải kể đến người bạn cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm với chúng ta, người bạn mà
Chúa đã bảo chúng ta với họ không còn là hai nhưng đã trở thành một.
Thân như thế, thương như thế, mà khi chúng ta chết, cả hai đều dừng bước
trước cánh cửa vĩnh cửu. Trước tòa Thiên Chúa, tiền bạc như câm nín, chẳng
một lời biện hộ cho chúng ta. Còn thân quyến bạn hữu, tốt lắm là theo chúng
ta tới huyệt, đẹp lắm là ném cho chúng ta một nắm đất rồi ra về, quên lãng,
việc chúng ta gặp gỡ Chúa khó dễ thế nào họ chẳng biết đến.
Còn người bạn thứ ba là việc lành phúc đức, chúng ta không yêu, không thương
bằng hai người bạn kia, nhưng lại tín trung với chúng ta hơn cả. Khi sống ở
trần gian, nhờ nó chúng ta được mọi người yêu thương quý mến, nhất là khi
chúng ta cất bước đi về đời sau, nó là người bạn sát cánh chúng ta hơn cả,
nó không dừng lại trước nấm mồ, nhưng theo chúng ta tới tận tòa Chúa, mạnh
dạn biện hộ cho chúng ta và đưa chúng ta vào cõi phúc. Người bạn này thật
chân tình đối với chúng ta, thế mà khi sống ở đời này, chúng ta chỉ đáp lại
hờ hững.
Tóm lại, tiền bạc của cải rời bỏ chúng ta khi chúng ta nhắm mắt lìa đời,
thân thuộc bạn hữu còn nán lại lâu hơn đưa chúng ta tới phần mộ, chỉ có việc
lành phúc đức mới đi theo chúng ta vào cõi đời đời. Xin Chúa cho chúng ta từ
nay có thái độ gần gũi, gắn bó với người bạn thứ ba nhiều hơn.
Lm. Jude Siciliano, OP.
Bản dịch của Lm Thomas Trần Ngọc Túy, OP
Xây
Dựng Cầu Nhân Ái Trong Cộng Đoàn
(Lc 16, 19-31)
Thưa quý vị,
Phàm là người, nhất là tín hữu Chúa Kitô, ai cũng có bổn phận quan tâm đến
đồng loại, nhất là những kẻ thân cận với mình. Nhưng ông nhà giàu trong dụ
ngôn hôm nay hành động ngược lại. Phúc âm kể: “Ông nhà giàu mặc toàn lụa là
gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình … Còn Lazarô mụt nhọt đầy mình, nằm
trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt
xuống mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho”. Nghe như Luca mô tả hiện tình của
thế giới hôm nay, khoảng cách giàu nghèo, sang hèn xem ra rộng lớn hơn bao
giờ hết, kể cả trong tôn giáo, tu viện, tầng lớp xã hội. Đó là lý do chủ
thuyết cộng sản một thời đã thành công vượt bậc. Người ta đổ xô đi mua “Tư
bản luận” để tìm huớng dẫn cho lý tưỡng đời mình. Chủ thuyết này rất có thể
chiếm địa vị độc tôn nếu không có phân hoá ngay trong xã hội cộng sản.
Cho nên gần đây tôi quay sang đọc về phong trào Martin Luther King và tranh
đấu cho nhân quyền ngay trong xã hội nước Mỹ vào các năm sáu mươi của thế kỷ
trước. Những hình ảnh của thời gian ấy còn in đậm trong trí óc chúng ta và
tiếp tục khơi dậy những khao khát đấu tranh cho công lý, hoà bình trên thế
giới và trong từng xã hội nhân loại hôm nay. Giai đoạn 1960 quả là quan
trọng, cần chúng ta suy nghĩ dưới ánh sáng phúc âm trong dụ ngôn người phú
hộ và Lazarô.
Điều làm tôi cảm động là tính chất đời thường trong con người Martin Luther
King Jr. Ông sợ hãi bạo lực đang dần vây quanh cá nhân và gia đình ông. Có
nhiều lúc ông tính rời bỏ thành phố và thôi đấu tranh. Ông còn sợ bị rơi vào
cô đơn, loại trừ, cho nên cố gắng tách mình ra khỏi phong trào. Nhưng dầu
vậy ông vẫn sẵn sàng đối mặt với đám đông thù nghịch và cảnh sát. Nhiều lần
bị bắt và bị giam tù.
Năm 1963, Martin King tham gia biểu tình ngồi lỳ ở Birmingham Alabama. Cảnh
sát trưởng Bull O’Connon tuyên bố cùng thế giới rằng sẽ đối phó với các kẻ
biểu tình bằng chó dữ và vòi rồng, bất chấp đàn bà, con trẻ, thanh niên, cụ
già. King bị bắt ngày 12 tháng 4 năm 1963. các đồng chí của ông hiểu rõ cái
giá của cô đơn và tù tội, họ đã lén gửi cho ông giấy bút để ông ghi chép
giết thời gian. Nhờ vậy chúng ta có tác phẩm “Lá thư từ nhà tù Birmingham”.
Ông gởi thơ cho cấp lãnh đạo Kitô và Do Thái giáo mà ông gọi là những kẻ
thiện tâm. Những người này nói với ông rằng lúc này không phải là thời điểm
biểu tình. Mọi sự đang được cải thiện. Xã hội đang nhiều công bằng, bình
đẳng hơn.
Từ
nhà tù, ông trả lời: “Tôi viết chẳng nhân danh ai cả cho những kẻ chẳng chịu
đau khổ vì cái chi ”. Ông ám chỉ ngôn sứ Amos trong Thánh Kinh: “Chúng rời
bỏ làng mạc và bị đưa đi lưu đày, Đức Chúa phán như vậy, dẫn đầu những kẻ bị
lưu đày xa quê hương xứ sở” (Bài đọc 1). King tiếp tục: “Thời giờ không
trung lập. Sự việc không tự động trở nên tốt hơn chỉ bằng cách ngồi đợi chờ
thay đổi. Thực tế những người chẳng bao giờ phải chịu đựng đau khổ có rất
nhiều thời gian kiên nhẫn chở đợi … Trong khi bạn đang chịu các nỗi đau khổ
thì không thể làm như thế. Bạn phải dùng thời gian để mà sáng tạo khi bạn
còn thời gian. Tôi viết vì những người chẳng có thời gian cho những ai có vô
số thời gian để mà chờ đợi”.
Lời văn thật cay đắng nhưng ý tưởng tuyệt vời. Ông cố gắng bắc cầu ngăn cách
hố sâu giữa giầu nghèo, sang hèn, được đặc quyền và bị áp bức. Ông đòi hỏi
công bằng tự do cho tất cả mọi người. Ông bắc cầu, bởi vì xã hội luôn đào
bới những hố sâu. Tôi nghe nói đến chính sách “Một phòng học” trong các nhà
trường, khi quỹ giáo dục đang thu hẹp lại. Kết quả của cuộc thử nghiệm là nó
đập tan các rào cản giả tạo của tuổi tác tồn tại nhiều năm trong các trường
học, lớp học chỉ có một phòng cho trẻ em thuộc nhiều lứa tuổi chơi đùa và
giúp đỡ nhau tận tình. Em lớn giúp em bé tập đọc, tập viết, chơi trò chơi
chung. Từ những “công trình nghệ thuật” trên bảng đen đến các que đếm, hộp
màu, tranh vẽ phức tạp. Em nọ dạy em kia. Vui vẻ và tiến bộ nhanh. Bình
thường các độ tuổi sống tách biệt. Nhưng nay các em lớn khởi sự coi sóc các
em nhỏ, mặc quần áo, xỏ dép, tháo giầy, mặc sơmi, … Ở nhà các em ích kỷ và
quậy phá, đến lớp ngoan ngoãn và hiền hậu hơn. Một giáo viên nhận xét: “Tôi
chưa từng thấy gương mẫu liên đới nào đẹp như vậy”. Các hố ngăn cách đã được
san bằng.
Liệu người lớn có học được bài học đó? Giáo hội cũng đang cố gắng thực hiện
chương trình ấy. Người ta thành lập các giáo xứ ngoại biên thành phố, trong
đó giáo dân giúp đỡ lẫn nhau xây nhà thương, trường học, không chỉ bằng tiền
dâng cúng, nhưng cả bằng lao động chân tay thực sự. Một phụ nữ tham gia
chương trình “vươn tới” đã nhận xét: “tôi từng kết bạn với những người mà
trước đây tôi chưa bao giờ gặp trong đời. Và bạn biết sao không? Nó khiến
tôi bớt thành kiến về người khác. Tôi trở nên dễ thông cảm khi nghe tin tức
về các bạn hữu. Thực tế, tôi nhận được nhiều hơn là cho đi”.
Nếu chúng ta muốn cho con cháu điều tốt nhất, thì không chi bằng dậy dỗ
chúng từ thuở ấu thơ. Chúng ta có những chương trình dày đặc quá đến độ
chẳng còn thời gian đâu mà chăm sóc chúng. Vì vậy hố ngăn cách tuổi tác
trong cuộc sống gia đình chẳng bao giờ được san bằng. Làm thế nào giáo dục
chúng? Tốt nhất là về lòng nhân ái, thương cảm. Chúng ta gửi nó vào trường
học, nhưng ở nhà trường, thầy cô giáo lại chú trọng đến kiến thức, đỗ đạt,
chứ ít khi nói về cách sống đạo đức. Hẳn nào chúng ích kỷ, tàn nhẫn và lẻ
loi. Các hố ngăn cách về nhân bản trong xã hội ngày nay càng bị đào sâu. Hơn
nữa, dụ ngôn hôm nay cho thấy luôn có hố sâu. Ông phú hộ chết đi và mọi sự
đảo ngược nhưng ông không làm chi sai trái, không ăn trôm ăn cắp, không bốc
lột, chẳng làm chi bất công, còn tốt hơn chán vạn linh mục, tu sĩ “nhiệt
thành”. Một vài người đọc xong dụ ngôn nói: “có lẽ ông đã làm điều xấu,
nhưng người ta xóa khỏi Phúc âm”. Đó là nhận xét của não trạng tân thời. Còn
hai ngàn năm qua bản văn vẫn vậy. Chẳng có chi bị lược bỏ cả. Đức Giêsu đã
kể cho người Pharisêu trên đường lên Giêrusalem và do Thánh Kinh khởi hứng
viết ra. Cho nên tôi ngạc nhiên liệu ông phú hộ có phải là người đương thời?
Và đám tang của ông ra sao trong các thánh đường lộng lẫy của các giáo xứ?
Chắc là hoành tráng lắm vì ông ta có phạm tội ác nào đâu, lại lắm tiền nhiều
của, ngày ngày đãi tiệc các Pharisêu linh đình? Đồng tế, bài giảng hùng hồn,
cử tọa gật đầu tán thưởng! Người ta sẽ nhớ đến ông mãi mãi. Còn người nghèo
khó, mà tên cụ thể là Lazarô, thì chắc việc chôn cất đơn giản lắm, bó chiếu
đem vào nghĩa trang công cộng của những kẻ vô gia cư.
Tuy nhiên, điều an ủi là: dụ ngôn không mô tả cuộc sống mai sau, không cho
chúng ta biết thiên đàng trang trí ra sao, cờ xí, bàn ghế, tủ lạnh, máy điều
hòa, máy sưởi, nhiệt độ… như những căn hộ của kẻ giàu có ở trần gian. Tôi
chẳng mường tượng cảnh trớ trêu đó. Chỉ biết rằng các linh hồn ở đó và Thiên
Chúa cũng có mặt. Đức Giêsu chỉ mặc khải rằng có thiên đàng và chúng ta sống
trên ấy thế nào. Nghĩa là Ngài muốn thức tỉnh lương tâm nhân loại. Những chi
chúng ta hành xử hiện tại mang một ý nghĩa và được cân nhắc ở đời sau, không
có chi bị bỏ quên cả.
Đối với phú ông thì câu chuyên quá muộn, ông chết trước khi tỉnh ngộ. nhưng
tác phẩm “Christmas Carol” (Bài hát Giáng sinh) của Charles Dickens, James
Marley từ cõi chết trở về nói cho Ebeneze Scrooge rằng sẽ có ba con ma sẽ
thăm hắn. Sau đêm gặp gỡ, Scrooge tỉnh lại và thay đổi nếp sống. Đó là ý
nghĩa dụ ngôn hôm nay. Nó là một lời cảnh cáo yêu thương cho những ai ưa
thích nhung lụa, tiện nghi, nó kêu gọi tỉnh nghộ, một hồi chuông cảnh báo,
khiến chúng ta thức giấc khỏi mộng mị đời này. Tương lai chưa xảy ra và
giống như Martin King viết từ nhà tù nhân danh “nobodies” to “somabodies”.
Dụ ngôn cố gắng bắc những chiếc cầu thông cảm qua các thung lũng ích kỷ lạnh
lùng mà thế giới thường gặp.
Chúng ta được nhắc nhở Thiên Chúa đi bước trước trong việc xây cầu và tiếp
tục làm như vậy nơi Bí tích Thánh Thể. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ bẻ gãy
mọi rào cản tội lỗi, chia rẽ chúng ta khỏi thiên đàng và nhân loại. Nhưng
chúng ta vẫn tiếp tục phạm tội, tiếp tục đào hố ngăn cách. Tuy vậy, trước
mặt Đức Chúa, chúng ta chỉ là Lazarô nghèo khó mang tên tuổi ông A anh B chị
C bà D ngồi ở ngoài cổng thiên đàng, Đức Chúa xem thấy và tiếp tục xem thấy
để trợ giúp chúng ta mỗi khi chúng ta giơ tay xin lương thực. Đúng như vậy,
thời giáo hội sơ khai, các văn gia ngoại giáo ngạc nhiện khi thấy tín hữu
hội họp để thờ phượng ông Giêsu. Già trẻ, lớn bé, giàu nghèo thuộc đủ mọi
tầng lớp xã hội, ăn uống trên cùng một bàn tiệc, không hề có kỳ thị. Các hố
sâu xã hội mà thời đó người ta rất trân trọng đều được san bằng. Cho nên dụ
ngôn kêu gọi chúng ta ngày nay biến cải nếp suy nghĩ của mình. Để chẳng còn
hận thù, chiến tranh, tiêu diệt lẫn nhau vì tranh giành ảnh hưởng, giàu
sang, phú quý và ông phú hộ không còn tồn tại trên thế gian này nữa. Mong
lắm thay. Amen.
Minh Thiện op
Hạnh Phúc Hay Trầm Luân
?
(Lc 16, 19-31)
“Ít tiền ít của mà là người công chính
hơn nhiều vàng bạc mà là kẻ ác nhân
Vì
cánh tay bọn ác nhân sẽ bị bẻ gãy,
còn người công chính được Chúa độ trì”
Tv
36, 16-17 đã đưa ra hai hình ảnh đối nghịch nhau : người nghèo sống công
chính sẽ được Chúa độ trì, còn người giàu bất chính sẽ bị luận phạt.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, hôm nay một lần nữa Chúa lại dùng dụ ngôn để dạy
chúng con về số phận của con người sau cái chết : người nghèo khó cơ cực ở
đời này nhưng nếu sống công chính sẽ được hưởng hạnh phúc ở đời sau ; còn
người giàu có nhưng sống thiếu công bằng, bác ái sẽ phải cơ cực, khốn khổ
đời đời trong hoả ngục mai sau. Qua đó, Chúa muốn nhắc chúng con rằng : số
phận con người lành hay dữ sẽ được cố định trong giờ chết, và sẽ không còn
chuyện ăn năn, sám hối sau khi chết nữa. Vì vậy, phải hoán cải ngay ở đời
này để khỏi bị luận phạt trong đời sau. Và sự hoán cải này không phải chờ
đợi ở phép lạ hay người chết trở về mách bảo mới tin, mới làm. Nhưng phải
tin vào lời Chúa, để từ đó sống cuộc đời thánh thiện, công bằng, bác ái với
tha nhân. Và những ai nghèo khổ, hãy biết rằng mình được Chúa chúc phúc, hãy
vui sống và cậy trông vào Chúa, phó thác cuộc sống cho Người, nhìn nhận hoàn
cảnh đen tối của đời mình dưới ánh sáng Tin Mừng, ắt sẽ được cứu độ.
Lạy Chúa, là con người ai chẳng muốn được hạnh phúc, chẳng muốn được an vui
và sống trong sung túc, giàu sang. Chính con người cũng được dựng nên để
sống hạnh phúc đấy thôi. Nhưng chỉ tiếc một điều là : con người chúng con
thường chỉ nghĩ đến hạnh phúc chóng qua ở đời này mà quên đi rằng còn có
hạnh phúc ở đời sau, và hạnh phúc ấy mới chính là hạnh phúc thật và trường
tồn mãi mãi. Vì quên đi điều ấy nên chúng con thường chỉ mưu cầu hạnh phúc ở
đời này, bám víu vào những thực tại trần thế, đi tìm sự giàu sang vật chất
và thu vén mọi thứ về mình, sống chỉ biết đến mình mà quên đi, hay thậm chí
chẳng bao giờ để ý đến những người anh em khác sống xung quanh mình, những
người nghèo khổ, đói khát đang rất cần nhận được sự giúp đỡ, cảm thông. Đó
là sự ích kỷ mà Chúa đã ám chỉ qua hình ảnh người phú hộ giàu có và đồng
thời cảnh báo hậu quả tất yếu sẽ phải gánh chịu ở đời sau.
Lạy Chúa, trong con mắt của người đời, nghèo khó bao giờ cũng là nỗi bất
hạnh. Nhưng có lần Chúa lại chúc phúc cho những người nghèo khó : “Phúc cho
anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em; phúc cho anh
em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no
lòng; phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được
vui cười.” (Lc 6, 20-22)
Quả thật, hôm nay anh Ladarô đã nhận được lời chúc phúc của Chúa. Bởi vì khi
công bố mối phúc cho người nghèo khó, đói khát, khóc lóc, bị sỉ vả thì hơn
ai hết, chính Chúa cũng đã từng chấp nhận là một người nghèo khổ đến độ “con
chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,
58), và chính Chúa cũng là người bị sỉ vả, coi thường như phường trộm cắp.
Vâng Chúa ơi, con biết chắc rằng Chúa chịu nghèo khổ, đói khát, bị sỉ vả và
coi thường như thế không phải vì Ngài bất lực, mà vì chính Ngài đã tự nguyện
trở nên nghèo khó và chấp nhận bị ngược đãi. Sở dĩ như thế là vì một điều gì
khác, đó chính là thánh ý Chúa Cha : “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này,
nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha.” (Ga
12, 27-28)
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa muốn cho chúng con hiểu rằng, cái phúc của sự nghèo khổ, lầm than mà
Chúa gánh chịu là ở chỗ đó. Giá trị ấy không hệ tại ở chính sự nghèo khổ,
đói khát. Vì nếu thế, Chúa đã không phải thưởng công cho những ai biết chia
sẻ miếng cơm cho người nghèo, thăm viếng kẻ lao tù hay bệnh tật (Mt 25,
31-46), và Hội Thánh cũng chẳng cần quan tâm đến việc bác ái làm chi. Nhưng
phúc của cái nghèo ở đây chính là ở chỗ khi người ta biết nương tựa vào Chúa,
lấy Chúa làm giá trị tuyệt đối, là cùng đích của đời mình.
Lạy Chúa, sự giàu có không phải là một cái tội, nhưng một khi nó làm cho con
người chỉ nghĩ đến bản thân mình mà quên đi những người xung quanh thì đó
lại là tội. Ông phú hộ giàu có sống xa hoa với những bộ quần áo sang trọng,
hằng ngày yến tiệc linh đình, nhưng ông lại chưa một lần cho anh Ladarô
nghèo đói một mẩu bánh vụn nào. Vì vậy, sau khi chết ông cũng chẳng nhận
được một giọt nước nào từ anh Ladarô. Vực thẳm ngăn cách giữa ông và anh
Ladarô sau khi chết chỉ là kéo dài cái cửa mà trước đây anh Ladarô đã nằm và
cái bàn tiệc của ông. Đó là vực thẳm mà ông phú hộ đã không lấp bằng đi khi
hai người con sống, vì ông ta đã không nghe lời mời gọi khẩn thiết của Chúa
về việc sử dụng tiền bạc để làm cho người nghèo Ladarô trở thành bạn hữu của
mình. Lời mời gọi này cũng không phải là điều gì quá mới mẻ mà ông ta không
biết, vì nó đã được chứa đựng trong lời dạy của các ngôn sứ và trong Lề Luật.
Vì vậy, không một phép lạ nào, dù cho kẻ chết có sống lại, có thể hoán cải
được những kẻ đã từ chối đón nhận sứ điệp của Lề Luật và các ngôn sứ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin để chúng con nhận ra Chúa nơi tất cả
những người chúng con gặp gỡ hằng ngày, nhất là nơi những người nghèo khổ,
bệnh tật, nơi những người thiếu thốn tình yêu thương, để chúng con biết
thông cảm, an ủi và sẻ chia với họ như Chúa đã nói : “Điều ngươi làm cho
người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính Ta.” (Mt 25, 40)
Lạy Chúa, xin cũng giải phóng chúng con khỏi sự mê hoặc của mọi kho tàng
dưới đất, và xin cho chúng con biết dùng của cải trần gian mà mua lấy hạnh
phúc Nước Trời (Lc 12, 33). Amen.
Đỗ Lực op
Khoảng Cách Định Mệnh
(Lc 16:19-31)
Tin
trong nước vừa cho biết : “Trưa 23/9, Đội 5 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội Công an TP HCM (PC14) kết hợp với Công an phường 13
quận Bình Thạnh tiến hành khám xét quán karaoke tiệc cưới Đại Nam tại đường
Nơ Trang Long. Trong nhiều phòng karaoke, cơ quan công bắt phát hiện 17
người đàn ông Hàn Quốc đang tuyển chọn 75 cô gái Việt Nam làm vợ.”
[1]
Ðây không phải là trường hợp duy nhất.
Vì sao có tình trạng
trên ? Nguyên nhân trực tiếp là : “Đường dây này do Huỳnh Văn Bình (46 tuổi,
Bình Trị Đông, Bình Tân) làm chủ.”[2]
Nhưng nguyên nhân sâu xa và rộng lớn hơn phải nằm trong những cơ chế bất
công xã hội. Dụ ngôn hôm nay sẽ vạch trần tất cả nguyên nhân sâu xa gây nên
các tệ trạng trong xã hội hôm nay.
TỪ GẦN TỚI XA
Trình thuật Tin Mừng
hôm nay về người giàu và người nghèo Ladarô là cao điểm giáo huấn của Chúa
Giêsu về nguy cơ của sự giàu có. Tin Mừng phát xuất từ giữa những người
nghèo, những người bị gạt ra ngoài lề xã hội và có địa vị thấp kém, như Ðức
Maria, các người chăn chiên, bà Anna và ông Simêon. Ðó là những người biết
mở lòng đón nhận lời Chúa. Tin Mừng Luca thường được gọi là “Tin Mừng cho
Người Nghèo.” Thế nhưng, có quá nhiều điều nói về những nguy cơ của
những của cải và những cạm bẫy người giàu phải trực diện khi đáp lại tin
mừng, nên Tin Mừng Luca cũng được gọi là “Tin Buồn cho Người Giàu.”
Hai hình ảnh đối chọi
sắc nét xuất hiện ngay từ đầu dụ ngôn. Của cải làm con người xa lạ và cách
biệt nhau (dĩ nhiên!). Một bên lụa là gấm vóc (thời xưa rất mắc). Một bên
chỉ có tấm áo da với những ghẻ chốc đầy mình. Một bên yến tiệc linh đình
giữa những thực khách sang trọng. Một bên ăn những thứ thối rữa cùng với
đồng bạn là những con chó đói. Một bên tên tuổi
lừng danh giữa những ông bà tai to mặt lớn. Một bên vô danh tiểu tốt giữa
bày chó hoang.
Sống trong cảnh tương
khắc giàu nghèo, con người không thể không có những suy nghĩ về số phận trần
gian. Của cải là một cạm bẫy đối với người giàu, nhưng là một cám dỗ đối với
người nghèo. Cả hai đều có thể mất đức tin vì của cải. Người nghèo hết lòng
tin tưởng và tuân giữ mệnh lệnh Chúa truyền, nhưng chỉ gặp toàn bất hạnh. Trong khi đó, những người khinh thường Thiên Chúa lại được hưởng mọi thứ
hạnh phúc trên đời và thành công về mọi mặt. Ngày xưa dân Do thái, những
người khôn ngoan vẫn tin Thiên Chúa thưởng người công chính và phạt người
tội lỗi. Sự khôn ngoan đó đã lâm vào cơn khủng hoảng, ít nhất từ thời Lưu
đày. Ðời sống cá nhân cũng như cả dân tộc đều đau khổ hơn những người và
dân tộc chung quanh.[3]
Nhưng tất cả đều đảo
ngược dưới cái nhìn của Ðức Giêsu. Dụ ngôn đã không lưu lại hậu thế tên ông
phú hộ. Thế là ông trở thành vô danh trước Thiên Chúa và nhân loại đến muôn
đời. Còn người nghèo vô danh tiểu tốt lại lưu danh muôn thuở dưới danh xưng
Ladarô (nghĩa đen là Thiên Chúa cứu giúp). Dưới cái nhìn của Ðức Giêsu, trật
tự xã hội đã bị đảo ngược.
Hơn thế, trật tự thiên
đàng còn khác xa hơn nữa. Trước kia, trên trần gian, Ladarô sống giữa chó.
Chúng chỉ quấn quít bên anh vì những mụn nhọt, chứ không biết gì đến anh.
Còn ông phú hộ được mọi người vây quanh và chú ý. Hạnh phúc bao giờ thiếu
vắng. Không bao giờ ông biết đến cảnh cô đơn. Bây giờ, cái chết đã đem đến
bất ngờ. Tất cả đều đảo ngược. “Khi chết, ông Ladarô đã tìm được những người
bạn hữu : các thiên thần, ông Abraham, tổ phụ những người có đức tin. Ngược
lại, ông nhà giàu chẳng có bạn bè, chẳng có trạng sư biện hộ cho hoàn cảnh
của ông ta : hỏa ngục, chính là nỗi cô đơn.”[4]
Nhưng nhất là ông vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa, vì đã sống xa cách anh em.
Ðây là một cực hình khủng khiếp nhất. Những đau khổ thể xác không thấm thía
gì. Ông đã phải học lấy bài học về cuộc đời bằng chính kinh nghiệm mình. Một
giá quá mắc !
Khi nhìn lên trời, ông
thấy Ladarô đang vui vẻ trong lòng Abraham, ông mới nhìn ra nỗi khốn cùng
của mình. Tình cảnh bây giờ thật tội nghiệp. Ông trở thành người nghèo thực
sự. Bây giờ ông mới hiểu thế nào là số kiếp ăn mày. Ông van xin Abraham sai
Ladarô hiện về cảnh cáo những người anh em đang sống trong xa hoa trên trần
gian. Giờ này ông mới biết quan tâm tới số phận của người khác. Tất cả đã
muộn đối với ông, nhưng còn kịp đối với họ. Thế giới vẫn sẵn những phương
tiện và cơ hội để con người chuẩn bị cho hạnh phúc vĩnh hằng. Phương tiện đó
là Lề Luật và lời các ngôn sứ. Ông từng nghe Sách Luật truyền phải quan tâm
tới người nghèo khổ và cùng khốn. Các ngôn sứ cũng đưa ra những lời cảnh báo
tương tự. Dù thế, người giàu vẫn tin nếu có một người chết như Ladarô hiện
về, anh em của ông mới chịu khuất phục. Abraham vẫn không đồng ý và khẳng
quyết Lề Luật và các ngôn sứ đã đủ giúp con người trở lại.
Trong khi người giàu
không thể thỏa mãn nguyện vọng, thì Kitô hữu đã được nghe tiếng của một
người từ cõi chết trỗi dậy. Ðó là Ðức Giêsu Kitô. Người đã từng nghe tiếng
Môsê và các ngôn sứ. Nhưng còn mạnh hơn Môsê và các ngôn sứ, Người đem lại
ơn cứu độ cho muôn dân. Người đã yêu thương và chấp nhận những người bị gạt
ra ngoài xã hội, trong khi điềm tĩnh cảnh cáo những người kiêu ngạo và giàu
có.
Dĩ nhiên, cũng như các
ngôn sứ, Chúa Giêsu không lên án những người giàu vì sự giàu có, nhưng vì họ
tự mãn trước những gian khổ người khác đang phải gánh chịu. Vậy tại sao
người giàu trong dụ ngôn này lại phải chịu một số phận kinh khủng như vậy ?
Trước hết, vì cả ông và Ladarô đều có liên hệ với Abraham, nên chắc chắn
phải là những người chia sẻ cùng một giao ước. Bởi thế, họ có những trách
nhiệm do giao ước đặt ra. Ðây là chiều kích xã hội của giao ước. Muốn tránh
định mệnh khắc nghiệt như ông, các người anh em chỉ cần tuân theo những mệnh
lệnh giao ước. Một trong những mệnh lệnh đó là phải chăm sóc đến những người
nghèo khổ.
Bổn phận đó phát sinh
từ mối liên đới huyết tộc với một vị tổ phụ niềm tin là Abraham. Nhưng ông
phú hộ đã quên sót. Ông bị luận phạt nặng nề không phải đã làm điều gì sai
quấy. Ông không lấy cắp hay đả thương Ladarô. Tuy nhiên, ông có một trách
nhiệm rất lớn đối với Ladarô. Ông đã làm ngơ và không chu toàn bổn phận. Vì
thế, ông đã phạm tội quên sót rất lớn. Hình phạt nghiêm trọng cho thấy bổn
phận đó nặng nề.
Nếu biết mở tấm lòng
đón nhận Ladarô, chắc chắn ông phú hộ đã có thái độ khác. Ông đã quan tâm
chú ý tới nhu cầu của tha nhân, chứ không quanh quẩn tìm cách thỏa mãn chính
mình. Sự thật đơn giản này chỉ được ông nhận ra khi nằm dưới âm phủ. Khác
với ngày còn trên trần gian, dù có muốn, Ladarô cũng không có phương tiện và
cơ hội giúp ông ấy nữa. Khoảng cách ngày xưa ông đã không vượt nổi, mặc dù
rất ngắn, làm sao bây giờ ông lại có thể đòi Ladarô vượt một khoảng cách dài
vô tận ?! Không phải vì Ladarô muốn trả thù ông. Nhưng công lý cần phải được
thi hành.
Không có bức tranh nào
diễn tả và nói lên tất cả sự thật toàn vẹn về công lý như dụ ngôn về ông phú
hộ và người nghèo Ladarô hôm nay. Nếu biết trước công lý có một chiều kích
lớn lao như thế này, chắc chắn ông phú hộ đã có thái độ và lối sống khác.
CHỌN MỘT THÁI ÐỘ
Tất cả đều tùy thuộc
thái độ con người trong cuộc sống trần gian. Chúa Giêsu luôn cố gắng trình
bày những thái độ căn bản con người cần phải có khi sinh sống và hoạt động.
Nơi nào thấy con người có thái độ bất xứng, Người đòi cá nhân phải thay đổi
để con người ngày càng đạt tới mức nhân bản đich thực hơn và phù hợp với
thánh ý Chúa hơn. Thái độ căn bản Chúa Giêsu muốn chúng ta có là cởi mở đối
với Thiên Chúa và đồng loại. Mọi sự khác sẽ từ đó phát sinh. Thái độ căn bản
này là nền tảng xây dựng toàn bộ đời sống đức tin và đạo đức.
Chính vì thiếu thái độ
căn bản đó, ông phú hộ đã không vượt nổi một khoảng cách rất ngắn. Người
nghèo nằm ngay trước cửa ông phú hộ. Khoảng cách con người tạo ra không ngờ
trở thành định mệnh vô cùng bi đát. Khoảng cách đã được nhân lên đến vô cùng
cả về thời gian lẫn không gian. Ðó là chưa kể đến cuộc sống khác biệt như có
và không vậy giữa hai con người. Trong khi Ladarô bơi lội trong đại dương
tình yêu Thiên Chúa, thì người giàu thèm khát một giọt nước cũng không được
thỏa mãn. Cảnh diễn lại y hệt ngày xưa Ladarô mơ ước có một mụn bánh từ bàn
tiệc rớt xuống cũng không ai cho. Công lý đã sáng tỏ !
Ánh sáng công lý chiếu
rọi vào cuộc đời. Công bình vượt qua cả việc thuần túy chia sẻ của cải vật
chất. Dụ ngôn cho thấy điều đó. Nên nhớ, khi sống Ladarô phải ngồi ngoài
cổng. Nhưng khi cả ông phú hộ và Ladarô đều chết, Thiên Chúa đã đem Ladarô
vào bên trong.
Người nghèo là những
con người. Họ có nhân phẩm và đáng được tôn trọng, vì nhân vị của họ và vì
họ cũng được Chúa Kitô cứu độ. Không phải của bố thí, viện trợ, món quà như
thực phẩm, quần áo làm thay đổi cuộc sống người nghèo. Nhưng chính thái đô
chúng ta đối với họ đem lại cuộc thay đổi. Chính tình người nồng ấm, sự chia
sẻ cuộc sống và đức tin đem lại niềm hy vọng.
Chúng ta không thể làm
nên cơm cháo gì, nếu không nói chuyện với họ. Vấn đề có vẻ đơn giản. Nhưng
thường chỉ khi tiếp chuyện với họ, chúng ta mới bắt đầu coi họ như con người
mà thôi. Chỉ khi nói truyện với họ, chúng ta mới bắt đầu bắt một nhịp cầu.
Ðức Giêsu đã yêu người
nghèo. Bằng thái độ và lời nói, Chúa đã nâng người cùng khổ và đem lại cho
họ niềm hy vọng và chữa lành. Không thấy Tin Mừng ghi lại một cơ hội nào
Chúa cho người nghèo tiền bạc. Người cho họ những gì Người cho mọi người
khác. Người cho họ tình yêu. Sau cùng, Người cho họ chính mạng sống của mình.
Ðó chính là bài học
Chúa để lại trong Tin Mừng. Chỉ sống cuộc sống như Chúa, có thái độ như Chúa,
nói những lời như Chúa, chúng ta mới có thể xây dựng Nước Thiên Chúa trên
trần gian và làm cho nhân loại xích lại gần nhau và gần Thiên Chúa hơn.
LADARÔ THỜI ÐẠI
Ladarô thời đại đang
tràn ngập khắp phố phường và các vỉa hè. Họ là nạn nhân của những chế độ bất
công. Chẳng lẽ phải đợi lên thiên đàng,
người nghèo như Ladarô mới được đền bù ?
Thực ra Chúa muốn dùng dụ ngôn để tỏ bày thái độ cương quyết
tuyên chiến với sự bất công. Lời Chúa đã làm cho con người bừng tỉnh
trước chân lý cuộc đời. Ðức tin đã cho Kitô hữu thấy sự khôn ngoan đích thực
không dựa trên của cải vật chất trần gian, nhưng trên Thiên Chúa. Lời Chúa
cho thấy rõ ai dại ai khôn.
Theo gương Ðức Kitô,
Giáo hội cương quyết tranh đấu cho người nghèo. “Sự nghèo đói đặt ra một vấn
đề công bình nghiêm trọng. Với nhiều hình thức và hậu quả khác nhau, đặc
tính của nghèo đói là sự tăng trưởng bất quân bình. Người ta không chịu nhìn
nhận “mọi người đều có quyền bình đẳng ngồi vào bàn tiệc chung. Sự nghèo đói
không thể nào làm cho con người hưởng trọn vẹn quyền làm người.”[5]
Nghèo đói sinh ra dốt nát. Người ta còn vin vào đó để chống chế và biện minh
cho sự độc tài của giai cấp thống trị. Hệ lụy này kéo theo hệ lụy kia. Chẳng
bao giờ mới hết cảnh người bóc lột người. Ðiển hình nhất là quốc nạn tham
nhũng.
Theo ông Liao Ran,
điều phối viên cao cấp của Tổ chức Minh bạch Quốc tế chuyên phụ trách về khu
vực Đông Nam Á, “trên bảng xếp hạng về Chỉ số Nhận thức Tham nhũng năm 2007,
Việt Nam bị sụt hạng, hiện đứng thứ 123 trên tổng số 180 quốc gia trên thế
giới được khảo sát.”[6]
Quả thế, ông Liao Ran đưa ra nhận định : “Nếu chính phủ Việt Nam thật tâm
muốn phòng chống tham nhũng, họ nhất thiết phải thông qua các luật lệ hay
quy định cụ thể, tạo điều kiện cho hệ thống pháp luật được độc lập. Ngoài ra,
những cơ quan phòng chống tham nhũng và các phương tiện truyền thông, báo
chí cũng phải được độc lập, không lệ thuộc nhà nứơc. Quan trọng hơn, nhà
nước cần phải khuýên khích ngừơi dân mạnh dạn tố cáo tiêu cực bằng cách ban
hành luật lệ rõ ràng bảo vệ người dân khi họ phát giác hay đấu tranh chống
tham nhũng.”[7]
Nếu hệ thống pháp luật độc lập và báo chí tự do, liệu điều 4 Hiến Pháp còn
tồn tại không ? Tham nhũng còn là cơ hội béo bở cho các cán bộ nữa không ?
Không ai cầm được nước
mắt khi nghe tin : “Khoảng 8 giờ sáng ngày thứ Tư 26-9-2007, cây cầu Cần Thơ
đang trong quá trình xây dựng bất ngờ bị sập làm hàng chục người chết và hơn
100 người bị thương.”[8]
Nguyên nhân tại đâu ? Nếu báo chí không được tự do, bao giờ sự thật mới được
phơi bày ? Nếu con hạm tham nhũng là những tai to mặt lớn trong đảng cộng
sản, hệ thống pháp luật và báo chí nào dám đưa ra ánh sáng ?
Khó lòng chối cãi vai
trò tham nhũng trong thảm kịch cây cầu Cần Thơ. Tham nhũng đúng là quốc nạn
! Cây cầu Cần Thơ chưa phải là thảm họa cuối cùng của quốc nạn tham nhũng.
Thanh Niên Online mới chỉ dám loan tin : theo “một chuyên gia xây dựng có
trách nhiệm từ một cơ quan nhà nước ‘cột chống ở hiện trường không giống
với cột chống trong bản vẽ,’ có nghĩa là, nếu chuyên gia này (có tên T.D.)
đúng, thì vụ sập cầu Cần Thơ đến tự dàn giáo.”[9]
Nguyên nhân trước mắt là dàn giáo. Nguyên nhân sâu xa tại đâu ?
Lạy Chúa, xin cho
người giàu bớt lòng tham lam. Xin Chúa thu ngắn khoảng cách giàu nghèo, để
mọi người ngày càng sống hạnh phúc hơn. Amen.
[1]
http://vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2007/09/3B9FA8B9/
[3]
x. ÐGH Bênêđictô XVI, Jesus of Nazareth, 2007:212.
[4]
Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:367.
[5]
Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, số 449.
[9]
www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=66626&z=75
Lm. Jude Siciliano, OP (Chuyển
ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp)
LƯU TÂM ĐẾN NHỮNG
NGƯỜI NGHÈO KHỔ
Luca 16: 19-31
Có nhiều thắc mắc liên quan đến
dụ ngôn hôm nay; những thắc mắc chưa được trả lời. Cũng có
những chi tiết bất thường khiến chúng ta phải vò đầu bứt tai. Chẳng
hạn như: tài sản của người giàu có kia từ đâu mà có? Phải chăng ông
ta được thừa kế hay đã vất vả làm lụng cực nhọc mới có được sau bao
năm vất vả, làm ngày học đêm để có công việc tốt? Hay ông ta đã khôn
ngoan đầu tư để bây giờ hưởng lợi ?
Những điều này không thấy dụ ngôn nói
tới. Dụ ngôn chỉ nói rằng ông ta “đã nhận phần phước” trong
cuộc đời ông ta. Dụ ngôn cũng không nói rằng Thiên Chúa là
nguồn gốc sự giàu có của ông ta; rằng Thiên Chúa đã ban cho ông giàu
có. Một số người nghĩ rằng giàu có là ân huệ từ Thiên Chúa. (Chẳng
lẽ người nghèo thìn không được chúc phúc?) Dụ ngôn cũng không khẳng
định ông nhà giàu là xấu. Ông ta chỉ là một thương gia biết khôn
khéo đầu tư tiền của của mình để trở nên giàu có trong khi những
người khác thì thua lỗ; ông sở hữu nhà xưởng và trả lương rẻ mạt cho
công nhân, còn ông ngày càng giàu có. Ông đã làm gì mà dẫn đến tình
trạng đau khổ sau này của ông? Chẳng gì hết. Đơn giản chỉ vì ông đã
phớt lờ người đàn ông nghèo khổ ở ngay trước cửa nhà mình. Đã bao
lần ông ta ra ngoài để làm ăn buôn bán hay vui chơi giải trí và trở
về nhà sau những thương vụ hay sau những buổi tiệc tùng linh đình
nhưng đã làm ngơ một kẻ đáng thương và những con chó ngay trước cửa
nhà ông? Ông nhà giàu chẳng làm gì xấu, ít là chúng ta không thấy
Tin mừng nhắc đến điều đó, nhưng chỉ vì ông đã phớt lờ người nghèo
khổ và vì thế mà ông đã không thể vượt qua được vực thẳm của đời sau.
Lại một vấn nạn nữa khiến ta
khó hiểu. Tại sao Lazarô lại trở nên quá nghèo khổ như vậy? Phải
chăng anh ta quá chây lười đến nỗi không thể tự mình vươn lên được?
Hay anh ta sinh ra đã là một trong 95% những người nghèo khổ thời
Chúa Giêsu? Hay anh ta bị tai nạn khi làm việc ngoài đồng nên giờ
chẳng làm được việc gì để kiếm sống? Anh ta bị mù từ lúc sinh ra hay
bị khuyết tật gì chăng? Hay anh ta bị bệnh tâm thần, hay còn gọi là
“bị quỷ ám” và bị những người thân quen xua đuổi?
Cũng xin lưu ý rằng, câu chuyện cũng
không nói Lazarô là một người đặc biệt tốt nên được ngồi vào lòng
Abraham. Chúng ta không thể đọc thấy điều đó vì Đức Giêsu không hề
kể cho chúng ta những đức tính của Lazarô. Có một người phụ nữ đưa
cho tôi 5 đô la ở ngay của nhà thờ và nói: “Xin cha đưa tiền này cho
người thực sự nghèo.” Thế là, bà ấy để mặc tôi làm thẩm phán quyết
định xem ai xứng đáng nhận số tiền đó. Bà ấy muốn tôi phải phân biệt
“những người nghèo bất xứng” và “những kẻ nghèo xứng đáng.” Giả như
tôi đang ngoài đường, thực sự đói và lạnh, tôi nghĩ mình phải chôm
chỉa cái gì đó để lấy tiền mua bánh mì cho tôi và cho gia đình của
tôi. Phải chăng như thế thì bà ấy sẽ xem tôi như “người nghèo bất
xứng”?
Dụ ngôn không cho biết Lazarô
là người tốt hay xấu hay anh ta tuy “nghèo nhưng tốt” hoặc anh ta có
tiền án tiền sự hay không. Lazarô chỉ là một người nghèo ngồi ở vệ
cửa và bị lãng quên – một người nghèo vô hình. Anh ta chẳng có tấm
áo choàng như của Herry Porter để mà tàng hình. Anh trở thành tàng
hình đối với ông nhà giàu kia, người có nhiều việc cấp bách hơn để
quan tâm. Lazarô chỉ là một phần trong cảnh thường ngày của ông nhà
giàu kia. Có thể chúng ta cũng thấy và chẳng mấy chốc cũng chẳng để
ý đến những người nghèo ở ngay bên cạnh chúng ta.
Câu chuyện còn cho chúng ta thấy đời
sau của họ. Rất nhiều thay đổi đối với họ - một thay đổi lớn
lao. Lazarô giờ đây rất thoải mái và an toàn, trong
“lòng tổ phụ Abraham.” Đối với người Dothái, quý vị chẳng thể
nào có được vị trí cao hơn thế. Ông nhà giàu giờ đây phải đau khổ.
Nhưng có gì đó vẫn chưa thay đổi, nơi ông nhà giàu, ngay cả khi đang
ở nơi khốn khổ ông vẫn muốn một đầy tớ hầu hạ mình. “Lạy tổ phụ
Abraham, xin thương xót tôi. Xin sai Lazarô nhúng ngón tay vô nước,
nhỏ trên lưỡi tôi cho mát, vì ở đây tôi bị lửa thiêu đốt khổ lắm.”
Ông ta vẫn là ông nhà giàu cũ, thậm chí không thèm nói trực tiếp với
Lazarô. Cũng có một đấng khác không thay đổi: Thiên Chúa chưa từng
thay đổi.
Trong tất cả những dụ ngôn mà
Đức Giêsu kể cho chúng ta: người đàn bà nhào bột; người nông dân
gieo giống; ông chủ thuê thợ gặt, thì đây là dụ ngôn duy nhất
mà nhân vật được đặt tên. Thật chẳng giống như thế giới của chúng ta;
chúng ta biết tên của những người giàu có và nổi tiếng còn những
người nghèo thì vô hình và vô danh. Thế nhưng, trong dụ ngôn này,
người giàu có lại vô danh còn kẻ nghèo khó lại có một cái tên. Tên
của anh ta là Lazarô – nghĩa là “người được Chúa giúp.” Vâng, Đức
Giêsu nhắc nhở chúng ta trong dụ ngôn rằng: Thiên Chúa không hề thay
đổi. Thiên Chúa biết đến những người bị lãng quên. Chúa giữ những
người không quan trọng như thể là quan trọng. Chúa sẽ an ủi những ai
bị người đời bỏ rơi trong nghèo khổ. Như thấy trong dụ ngôn, Thiên
Chúa biết tên của người nghèo và yêu thương họ. Cái chết của hai
người này được mô tả thật khác nhau. Thiên thần đón Lazarô và đặt
anh vào lòng Abraham; còn ông nhà giàu chỉ đơn giản “chết và được
người ta đem chôn.” Đó là kết cục của đời ông ta.
Dụ ngôn có thể gây sốc, như
đồng hồ báo thức đánh thức người ta dậy. Dụ ngôn hôm nay
kể về ông nhà giàu và Lazarô ngụ ý thật quá rõ ràng, nó
thức thỉnh chúng ta và cho chúng ta biết tấm lòng của Thiên Chúa ở
nơi đâu. Dụ ngôn cho thấy rằng: giàu có và sung túc không phải là
bằng chứng được Chúa chúc phúc. Cái mà chúng ta gọi là “đời sống tốt”
và “ơn sủng” không hẳn chứng minh rằng chúng ta đã được Thiên Chúa
đóng dấu chuẩn nhận. Hay nói cách khác, việc có nhiều của cải không
thể chứng minh chúng ta đang sống trong ân huệ của Thiên Chúa.
Qua dụ ngôn, Đức Giêsu nói rằng:
“Hãy tỉnh dậy đi! Anh em vẫn còn thời gian. Để ý và hành động
qua những gì mình thấy. Người nghèo ở ngay ngưỡng của nhà anh em, và
đó là nơi dễ thấy, dễ nhìn và giúp đỡ những ai đang thiếu thốn,
những người đang cần đến thời gian và sự quan tâm của anh em.” Đó có
thể là người bạn đời đang giận dỗi mình, là cha mẹ đau ốm, là người
hàng xóm có bà mẹ bị mắc chứng An-dây-mơ (Alzheimer) hay bị ung thư,
là những trẻ em cần được giáo dục đức tin, những người được dòng
Vinsơn Phaolô giúp đỡ, …
Trong thánh lễ này, chúng ta nài xin
Chúa Giêsu xức dầu Thánh Thần của Người cho chúng ta một lần nữa.
Chúng ta cầu xin cho mắt chúng ta mở ra để nhìn thấy những ai cần
được giúp đỡ, có thể là chính người mà chúng ra đi qua mỗi ngày.
Những dạng thức thông tin mới, tivi,
báo chí, hay Internet… mở rộng tầm nhìn của chúng ta. Nó mang người
nghèo trên khắp thế giới đến ngay của nhà ta. Và vì thế mà chúng ta
gom tiền để gửi cho Hội Cứu Tế Công Giáo giúp những nạn nhân bị lụt
ở Pakistan, viết thư cho những nghị sĩ của chúng ta để yêu cầu
giúp đỡ những người đang chịu hậu quả của dịch Aids ở Châu Phi, nhất
là những trẻ em lâm cảnh mồ côi vì cơn dịch này, dành một ngày thứ
Bảy để cùng với tổ chức Nhà Ở & Nhân Quyền đi xây dựng nhà cửa cho
những bà mẹ độc thân và con cái của họ, … Phương tiện truyền thông
mang hình ảnh của Lazarô đến ngay của nhà ta, ngay trong phòng khách
của chúng ta. Điều này đúng với hầu hết chúng ta. Thế nhưng vấn đề ở
đây là: chúng ta có nhìn thấy hay không? Nếu thấy, chúng ta đã làm
gì hay chưa?
Khoảng 2 năm trước, Đức Bênêđictô 16
đã thăm nước Mỹ và nói về vấn nạn người nhập cư. Ngài nói,
chính cách đối xử với người nhập cư sẽ quyết định tương lai của giáo
hội Công giáo ở Châu Mỹ. Đức Giám mục cũng nói: một khi biên giới
quốc gia được tôn trọng thì quyền của công nhân bản xứ hay nhập cư
cũng phải được tôn trọng như vậy. Ngài cũng nhắc chúng ta phải thừa
nhận rằng điều kiện có tuyệt vọng thế nào mới khiến người ta muốn
đến đây. Quốc hội đã không thể đưa ra một cải cách mang tính toàn
diện cho vấn đề di dân, vì thế mà vẫn chưa có giải thích hợp cho
những người tìm kiếm cách vô vọng để vào nước Mỹ làm việc cách hợp
pháp. Những chính sách hợp pháp cho vấn đề di dân sẽ giúp giảm luồng
di dân bất hợp pháp.
Các Đức Giám mục kêu gọi tôn
trọng phẩm giá con người và tính nguyên vẹn của gia đình.
Không được tấn công, bắt giữ hay trục xuất họ, không được chia tách
họ khỏi vợ/chồng và con cái họ. Gần đây, một phụ nữ bị đuổi khỏi nơi
làm việc và bị trục xuất để lại cho hàng xóm một đứa con sáu tuổi và
một đứa mới lên ba. Các Giám mục, lên tiếng thay cho giáo huấn của
Giáo hội về việc tôn trọng sự sống, khẳng định rằng những chính sách
nhập cư hầu như không tôn trọng sự sống và gia đình.
Chính sách này của nước nhà đi ngược
lại với những gì Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta – đón nhận
những người nhập cư như anh chị em của chúng ta. Có thể chúng ta
không biết danh tánh họ, nhưng Thiên Chúa biết tên từng người trong
số họ và đứng về phía kẻ khốn cùng. Ngài cũng muốn chúng ta làm như
vậy. Dụ ngôn mời gọi chúng ta lưu tâm đến những ai đang ở ngay trước
cửa nhà chúng ta, dù họ sống với chúng ta hay chỉ là hàng xóm láng
giềng, dù họ là những anh chị em mà chúng ta chỉ gặp trên tivi hay
qua màn hình laptop.
Trong thánh lễ này, chúng ta hãy cầu
nguyện: “Xin xức dầu đôi tay và cặp mắt để chúng con có thể nhìn ra
những người Chúa cần chúng con giúp họ.” Và rồi chúng ta hãy để mắt
đến những Lazarô ngoài đời, những người Chúa gửi đến cho chúng ta
giúp đỡ. Nơi họ, những kẻ đói, người trần truồng, đau yếu và tù đày,
được tin mừng nhắc đến những chỗ khác, chúng ta sẽ gặp Đức Giêsu, và
chắc chắn sẽ gặp Người trong Bí tích Thánh Thể.
Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em Học viện Đaminh chuyển ngữ)
Làm gì để lấp
đầy hố ngăn cách?
Am 6,1.4-7; Tv 146; 1 Tm 6,11-16; Lc 16,19-31
Kính
thưa quí vị,
Dịp lễ kỷ niệm 50 năm vào tháng Ba ở
Washington vừa qua đã khơi lại biết bao kỷ niệm. Một vài phim tài
liệu được trình chiếu trên truyền hình và trong suốt tuần lễ kỷ niệm
này người ta đã phỏng vấn những nhà lỗi lạc từ phong trào dân quyền.
Ngài John Lewis, nhân vật cuối cùng của nhóm tổ chức nguyên thủy đã
được đài BBC phỏng phấn. Dĩ nhiên, chủ điểm là về Tiến sĩ Martin
Luther King và bài phát biểu của ông “Tôi có một giấc mơ” (I have a
dream). Một số câu chuyện về Tiến sĩ King thể hiện chính khía cạnh
con người. Rõ ràng, ông sợ bạo lực, sợ đơn độc, không muốn những
khoảng trống bị đóng kín hay bị khóa chặt lại. Thậm chí có lần ông
nghĩ đến việc ra khỏi thành phố khi nhiều điều như thể đang vây bủa
và đe dọa ông.
Vào năm 1963 các bộ trưởng da trắng ở
Birmingham, lúc đó đã tiên liệu về cuộc biểu tình, nói với ông King
rằng đây không phải là thời điểm thuận tiện để biểu tình. Có nhiều
điều đang tiến triển, họ bảo ông: “Hãy kiên nhẫn, có nhiều thứ đang
diễn tiến tốt hơn đấy”. Thế rồi khi bị bắt và đơn độc trong nhà tù
Birmingham và cảm thấy thất vọng về hoạt động của mình, Tiến sĩ King
nói rằng đây là thời gian khó khăn nhất trong cuộc đời ông. Ngay cả
những người da trắng trước đây ủng hộ ông, giờ họ lại không hậu
thuẫn cho ông nữa. Bạn bè của Tiến sĩ King đã mang cho ông giấy và
bút chì và tại phòng giam của nhà tù Birmingham, ông đã viết thư cho
các bộ trưởng da trắng.
Nhập đề Tiến sĩ giới thiệu rằng ông
đã viết thư để ủng hộ những con người tầm thường chịu đau khổ vì
“không có quyền công dân”, và đồng thời gởi tới cho những ai đang
quan tâm vấn đề nhức nhối này. Ông nói tiếp rằng không phải là thời
gian không rõ ràng... vì không phải cứ ngồi đó chờ đợi nhiều thứ
thay đổi thì tự động chúng trở nên tốt hơn đâu. Trên thực tế, những
người không bị đau khổ thì có nhiều thời gian và có thể kiên nhẫn
được, bởi lẽ:
Tôi nhận thấy rằng những người ác ý
đã sử dụng thời gian hiệu quả hơn nhiều so với những người thiện ý.
Trong thế hệ này, chúng ta sẽ phải hối hận không chỉ vì lời lẽ chua
cay và hành động đầy căm thù của những người xấu xa, mà còn phải hối
hận vì sự im lặng đáng sợ của những người tử tế. Chúng ta phải thừa
nhận rằng sự tiến triển của nhân loại không bao giờ quay tròn trên
những bánh xe cố định. Nó diễn ra ngang qua những nỗ lực không mệt
mỏi và luôn sẵn sàng làm việc cách bền bỉ, hầu trở thành những cộng
tác viên với Thiên Chúa, và nếu thiếu đi thời gian làm việc gian khổ
này, thì tự nó trở thành đồng minh của lực lượng làm đình trệ sự
phát triển của xã hội.
Từ phòng giam ở Birmingham, Tiến sĩ
King đã cố gắng vươn ra để lấp đầy hố ngăn cách với phía bên kia. Để
làm được việc “lấp đầy hố ngăn cách” thật không hề đơn giản, vì xã
hội chúng ta nắm giữ hố ngăn cách và làm cho nó thêm sâu rộng qua
những chính sách kinh tế, những cuộc bầu cử chính trị, hùng biện,
thành kiến, v.v… Thêm nữa, chúng ta thường sống ở những nơi bị tách
biệt khỏi người khác.
Tôi đã nghe nói đến những ngôi trường
có một phòng học ở một vài vùng nông thôn do ngân sách giáo dục bị
giới hạn. Tác động một phía của những trường như vậy là chúng phá đổ
những rào cản nhân tạo tồn tại theo độ tuổi. Thông thường, những trẻ
em lớn hơn được tách ra có thể chăm sóc cho những em nhỏ hơn bằng
cách dạy học, cài khuy áo, chơi với chúng trong giờ giải lao, v.v…
Một giáo viên đã đưa ra ví dụ về một cậu bé khó trị đã có những xung
đột ở nhà. Cậu bé được giao cho chăm sóc một cậu bé nhỏ hơn và người
giáo viên đã nói rằng cậu bé bướng bỉnh đó chăm sóc rất tốt, đây là
“Một trong những gương chăm sóc tốt nhất tôi thấy được trong đám trẻ”.
Để lấp hố ngăn cách thật sự không đơn
giản chút nào. Chúng ta có rất nhiều những kế hoạch, chương trình
bận rộn và không có thời gian, hoặc cho dù chúng ta làm, chúng ta
cũng không chắc chắn mình nên làm gì. Sau khi chiếu một đoạn phim về
những nhà tù cho các thanh thiếu niên ở một lớp giáo dục tôn giáo
thuộc giáo xứ vùng ngoại ô xem, và sau đó thảo luận với các em về
những vấn đề nghèo đói, tôi hỏi xem các em có biết trẻ em nghèo khổ
nào không? Chúng trả lời “Không biết”. Đó không phải là lỗi của
chúng, vì thế giới của chúng tách chúng khỏi người khác và, với thời
gian, chúng lại càng tách biệt xa hơn nữa. Thời gian này, các nhà
kinh tế cho biết hố ngăn cách giữa “người giàu” và “người nghèo”
càng rộng thêm.
Tại sao chúng ta lại muốn lấp đầy hố
ngăn cách, đang khi các chương trình, kế hoạch của chúng ta lại quá
bận rộn, cuộc sống chúng ta cũng đã được lập trình như thế rồi? Bởi
vì, như dụ ngôn hôm nay cho thấy có những người ở phía bên kia. Điều
bất ngờ trong dụ ngôn này là ông nhà giàu không làm gì sai trái, ông
ta cũng không hành động gì xấu xa gây nên tội cả. Có lần, một người
trong nhóm suy tư về dụ ngôn đã nói: “Chắc hẳn câu chuyện này phải
có điều gì đó bị lược đi”.
Không, chúng ta có mọi yếu tố trong
câu chuyện mà Đức Giêsu muốn chúng ta nghe. Không có hành động ác ý
nào nhắm đến anh Ladarô, người đáng thương đó cả. Có chăng lỗi của
ông nhà giàu là do ông ta đã không thấy và giúp đỡ người đó ở ngay
cửa nhà mình. Cuộc sống và cung cách của ông nhà giàu đã quen với
việc đi lướt qua người nghèo khó kia. Ông ta đã không lấp đầy hố
ngăn cách.
Dụ ngôn này mô tả điều gì đó về cuộc
sống mai hậu. Nó không phải là sự mô tả theo nghĩa đen về sự sắp xếp
đồ đạc, cũng không phải về nhiệt độ trong đám cháy. Chúng ta vẫn
biết rằng con người sẽ ở đó và Thiên Chúa cũng sẽ ở đó. Dụ ngôn là
một câu chuyện sống động có ý thức tỉnh và nhắc nhớ chúng ta rằng
những gì chúng ta làm, hay không làm hôm nay, tạo ra một khác biệt
và mang tầm quan trọng nền tảng cho mai sau.
Nếu ông nhà giàu ở vào thời đại chúng
ta thì đám tang của ông ta sẽ như thế nào? Có lẽ nó sẽ diễn ra trong
một ngôi thánh đường rất đẹp, với những nhà kinh doanh khả kính và
đông đảo bạn bè hộ tang bên quan tài. Một vị giáo sỹ nào đó ca ngợi
về đời sống đáng kính của ông nhà giàu này và nói những điều tốt đẹp
về ông ta. Sẽ có một bữa trưa thịnh soạn để bạn bè cùng với gia đình
diễn tả rằng họ thương nhớ ông ta biết bao. Còn anh nhà nghèo kia
thì sẽ đi đến một nơi dành cho những người nghèo, một phần mộ bình
thường ở đâu đó.
Dụ ngôn nói rằng chúng ta nên nhìn
vượt ra khỏi phần mộ. Ở đó, Đức Giêsu nói, mọi thứ sẽ hoàn toàn đảo
ngược. Quá trễ cho ông nhà giàu, thế nên ông nói với ông Ápraham:
“Xin sai một ai đó đến cảnh báo các anh em của con”. Thực ra, ông
Ápraham trả lời: “Không cần đâu, giống như anh, họ có đời sống của
họ. Điều đó đủ để thức tỉnh họ rồi”.
Còn vài tháng nữa mới đến Giáng Sinh,
nhưng câu chuyện này nghe có chút giống “Bài hát Giáng Sinh”
(Christmas Carol) của Charles Dickens. Jacob Marley quay lại kể cho
Ebenezer Scrooge, qua những giấc mơ, điều có thể xảy ra trong tương
lai nếu anh ta không thay đổi lối sống. Scrooge tỉnh dậy và nhận ra
những điều này vẫn chưa xảy ra và anh ta có thời gian để thay đổi
cuộc sống.
Dụ ngôn cũng giống như thế; nó thực
sự là dụ ngôn của lòng khoan dung. Dù cho âm thanh chói tai, nhưng
nó vẫn phát ra: “Hãy tỉnh dậy!” Nó giống như âm thanh chói tai của
máy dò khói báo động cho chúng ta thức dậy khi nhà chúng ta đang
cháy. Nó là một âm thanh khủng khiếp, nhưng lại cứu sống chúng ta.
Tương lai được mô tả trong dụ ngôn vẫn chưa xảy ra. Như Tiến sĩ
Martin Luther King viết trong phòng giam để lấp đầy hố ngăn cách;
ông viết thay cho những con người tầm thường gởi tới những người lỗi
lạc, nhắc họ rằng: “Hãy tỉnh dậy!”
Mỗi khi chúng ta qui tụ trong Thánh
Thể là Thiên Chúa đang lấp đầy hố ngăn cách để thức tỉnh chúng ta
điều gì là quan trọng. Như anh nhà nghèo, chúng ta có thể đang xin
chỉ một mẩu bánh ở bàn Thiên Chúa, nhưng Người trao ban cho chúng ta
quà tặng quí giá nhất, hơn tất cả những gì chúng ta cần. Thời giáo
hội sơ khai, khi viết về hình thức thờ phượng Kitô giáo, các sử gia
và những nhà văn ngoại giáo đã thấy chướng tai gai mắt bởi những gì
họ nhìn thấy. Họ thấy những điều không đúng sự thật trong xã hội của
họ và mâu thuẫn với kinh nghiệm của họ. Trong Thánh Thể, giàu và
nghèo, nô lệ hay tự do, đàn ông và đàn bà, cùng ăn chung một bàn. Đó
là một cú sốc cho sự nhạy cảm của họ.
Thánh Thể, bánh được bẻ ra và chia sẻ
tại bàn này, lấp đầy hố ngăn cách, không chỉ giữa Thiên Chúa và
chúng ta, nhưng còn lấp đầy hố ngăn cách tồn tại giữa chúng ta qui
tụ quanh bàn thờ. Dụ ngôn là một lời mời gọi hãy thay đổi và hãy
hành động để làm cho thế giới tương ứng với những giá trị được diễn
tả trong nó. Vậy, chúng ta đã sẵn sàng cho sự biến đổi này chưa?
Chúng ta cầu xin cho mình không lướt qua anh Ladarô trong nhà, nơi
hàng xóm, ở cộng đoàn và trong thế giới chúng ta.
|