Năm C

 
 

Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Năm C

Kn 9:13-18 ; Plm 9b-10. 12-17 ; Lc 14:25-33

 

An Phong op : Chọn Lựa Thiên Chúa Là Duy Nhất

Fr Jude Siciliano, op. : Chọn Chúa Trên Hết

Fr. Jude Siciliano, op : Gia Đình Của Lời Chúa

Như Hạ op : Tự Do Hay Là Chết

G. Nguyễn Cao Luật op : Niềm Vui Lớn Hơn

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Từ Bỏ

Lm. Jude Siciliano, op : Thiên Chúa Là Lựa Chọn Trên Hết

Giuse Lê Xuân Hiệp op : Không Sống Từ Bỏ, Không Đáng Làm Môn Đệ Chúa

Đỗ Lực op : Cuộc Xuất Hành Mới

Fr. Jude Siciliano, op : Hãy lãnh nhận lương thực khôn ngoan

Fr. Jude Siciliano, op: Theo Đức Giêsu, giá nào phải trả?

 

 

 
An Phong op 

Chọn Lựa Thiên Chúa Là Duy Nhất
Lc 14:25-33

Tin mừng chúa nhật 23 thường niên C gồm hai phần. Phần đầu là lời kêu gọi từ bỏ con người mình, vác thập giá theo chân Chúa Giêsu. Phần thứ hai là dụ ngôn "xây tháp" và "đi giao chiến". Ý nghĩa chính của hai dụ ngôn này là trước khi tiến hành một công việc quan trọng, người ta phải xem xét mình có đủ khả năng, nguồn lực để đạt được thành công hay không. Và cuối cùng là lời áp dụng "Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được". Lời kết luận này là giáo huấn, là lời mời gọi cho tất cả mọi kitô hữu, những người môn đệ của Ðức Giêsu.

Ðức Giêsu mời gọi hãy từ bỏ. Từ bỏ là một thái độ sống thực tế của người kitô hữu. Từ bỏ nghĩa là hy sinh vì lý tưởng, vì Thiên Chúa. Người kitô hữu từ bỏ không phải là điều kiện để trở nên một môn đệ Ðức Giêsu, nhưng là điều kiện để luôn luôn trung thành là người môn đệ. Là người môn đệ tức là luôn chọn lựa Ðức Giêsu là Hy vọng, là Ðường, Sự thật và Sự sống. Là người môn đệ tức là dấn thân hết mình, đi cho trọn đường của người môn đệ, đừng như người ta khởi công xây tháp nhưng không thể hoàn thành được, hay đừng như ông vua kia đã ra trận nhưng không chiến thắng được.

Bền bỉ, kiên trì, đi cho trọn đường, đó là thánh giá đời người. Ðể là người môn đệ đích thực của Ðức Giêsu, cần phải bền bỉ, triệt để. Ðức Giêsu muốn những ai theo Người phải đi trọn đường thánh giá của mình. Thánh giá tức là những chọn lựa trong hiện tại, được lập đi lập lại và liên tục. Sống trong cuộc đời, chúng ta luôn bị đặt trong tình huống phải chọn lựa. Ðã chọn lựa là không thể chọn lấy tất cả, đã chọn điều này tất phải bỏ điều kia. Việc chọn lựa không luôn luôn dễ dàng. Chỉ có một tiêu chuẩn cho việc chọn lựa, đó là "Thiên Chúa là trên tất cả". Hơn nữa, không luôn luôn dễ dàng để trung thành với chọn lựa Thiên Chúa. Ðể có thể trung thành, cần có một tiêu chuẩn khác nữa, đó là "chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái, hay ruộng đất vì Thầy và vì Tin mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất gấp trăm, cùng với sự ngược đãi và sự sống đời đời ở đời sau" (Mc 10,29-30).

Từ bỏ nghĩa là không nhìn nhận những thực tại trần thế là tuyệt đối, có thể thay thế được chính Thiên Chúa. Chúng ta không loại bỏ những thiện hảo của cuộc sống như tiền bạc, của cải vật chất, nghề nghiệp... nhưng chúng ta chỉ nên coi đó là những phương tiện. Chúng ta nhìn nhận những giá trị trần gian là tốt đẹp, nhưng tất cả những giá trị đó phải quy hướng chúng ta đến với Thiên Chúa. Nếu các môn đệ của Ðức Giêsu yêu mến tạo vật của Người hơn chính Người, thì họ không xứng đáng là môn đệ của Ðức Giêsu.

Hơn nữa, việc từ bỏ này cần phải thực tế, tức là gắn liền với cuộc sống mỗi ngày. Chúng ta có thể hiểu được điều này khi nhìn vào cuộc đời của những người hy sinh cho một lý tưởng mà họ đã chọn lựa. Những người đó dám chấp nhận từ bỏ đời sống gia đình, riêng tư của mình. Họ dám hy sinh thời giờ, sự an toàn và thậm chí cả sức khỏe của mình để hoàn thành sứ mạng.

Phải chăng chúng ta chọn lựa Thiên Chúa là ưu tiên trên hết ?

Phải chăng chúng ta đang kiên trì, trung thành với chọn lựa là người kitô hữu, người môn đệ của Ðức Giêsu qua nhiệm tính Thanh tẩy ?

Lạy Chúa,

Ðể con có thể gắn bó với Ngài tha thiết hơn nữa,

con ước mong ý thức con trở nên bao la như trời biển,

mênh mông như vũ trụ,

trải rộng như loài người khắp mặt đất,

sâu thẳm như quá khứ, sa mạ, trùng dương,

tinh vi như hạt nhân nguyên tử,

thâm thúy như tư tưởng của lòng người.

Phải chăng con cần gắn liền với Chúa

từ mọi địa điểm của vũ trụ bao la này,

và để con đừng sa chước cám dỗ rập rình

trong mọi hành vi táo bạo,

để chúng con đừng bao giờ lãng quên là

chỉ có Chúa mới đáng được tìm kiếm qua mọi sự.


Fr Jude Siciliano, op.

Chọn Chúa trên hết
Lc 14:25-33

Ý Chính : Khôn ngoan của Thiên Chúa thường làm cho loài người thấy mình trật đường. Bởi cái nhìn của nó không giống như của chúng ta (Cựu ước). Đức Kitô là sự khôn ngoan thần linh đó. Ngài dạy chúng ta con đường thánh giá và từ bỏ, ngược với những ước vọng xác thịt (Tin Mừng). Người tín hữu phải tháo gỡ não trạng của mình để nhìn thấy Đức Kitô trong kẻ khác mà phục vụ. Thánh giá và từ bỏ ngầm chứa trong công việc đó (Thánh Thơ).

Thưa quý vị.

Sau khi đọc bài Tin Mừng hôm nay, tôi nảy ra tư tưởng muốn xin lỗi cộng đoàn, bởi lẽ cái giọng điệu "ngược đời" của nó. Đúng vậy. Để làm môn đệ Chúa người ta phải dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và cả mạng sống nữa". Rồi Chúa Giêsu còn nhấn mạnh thêm: "Ai không vác thập giá mình mà đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được."Hẳn đám đông chen chúc theo Ngài lên Giêrusalem lúc ấy phải ngạc nhiên về giáo lý lạ lùng của Ngài. Họ đang hồ hởi theo chân Ngài để được phần vinh hiển khi Ngài thành công ở Thành Thánh. Họ nghĩ thầm: Hẳn ông tiên tri này ở hành tinh khác đến. Ông tuyên bố những điều chẳng hợp với luân lý thói thường. Trên dương gian ai mà không có tình cảm sâu đậm với cha mẹ, vợ con, hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích? Bổn phận đạo đức của mọi người là phải yêu mến họ, phụng dưỡng khi về già, giúp đỡ khi còn trẻ, thăm nom khi yếu đau, quà bánh khi vắng lâu! Vậy mà vị ngôn sứ lại đòi hỏi phải "ghét" họ để được làm môn đệ của Ngài: như thế có nghĩa làm sao?

Thời nay tỷ lệ ly dị, cắt đứt hôn phối, hoặc ly thân sống mỗi người mỗi ngả trong xã hội nhiều quốc gia tân tiến là xấp xỉ 50%. Nghĩa là cứ hai đôi, thì một đôi gặp trục chặc, mặc cho những cố gắng của các toà án hoà giải, các giáo xứ, địa phận. Nhiều nơi còn tổ chức giáo lý hôn nhân, phong trào nuôi dưỡng gia đình trẻ, tổ ấm? Thực tế hiệu quả chẳng được bao nhiêu. Vậy thì lời rao giảng của Chúa Giêsu "ghét vợ con" có nghĩa thế nào trong cộng đoàn chúng ta ? Nhất là đối với các cặp vợ chồng, những thanh niên nam nữ sắp thành hôn ? Danh sách "ghét" của Chúa còn dài lắm. Nhưng quý vị hẳn đã hiểu ra vấn đề. Có thể nào Chúa Giêsu thực sự tuyên bố nảy lửa như vậy trong lời rao giảng của mình ? Và nếu đó là sự thật, thì thử hỏi có ai trong chúng ta dám từ bỏ mọi sự mà theo Ngài ? Hoặc nếu biết ai đã thực hiện như vậy không ? Lúc đó ai là người đứng ra cung cấp các nhu cầu cho họ? Cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà cửa, bảo hiểm, y tế, tuổi già và trăm ngàn thứ sự cần thiết khác ?

Cho nên, đây là lúc chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng Thánh Kinh, tìm ra ý nghĩa thực của nó. Trên môi miệng Chúa Giêsu, chúng ta luôn được nghe những lời bí nhiệm như vậy. Trong ngôn ngữ đông phương từ "ghét" có nghĩa tương đối. Yêu cái này hơn cái khác, tức bao gồm sự so sánh. Điều này có ý nghĩa khi chúng ta nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, hay trong thời kỳ cấm đạo, các tín hữu bị quan quyền bách hại, người ta chọn lựa Thiên Chúa hơn gia đình, bạn bè, của cải hay ngay cả sự sống bản thân. Lúc ấy, chúng ta có thể dùng từ "ghét" đối với các giá trị trần gian. Chứ nó không có nghĩa một tình cảm giận dữ, điên khùng, thù hận, đối nghịch với yêu thương. Nói cách khác "ghét" trong bài Phúc âm hôm nay là yêu ít hơn so sánh với yêu mến Thiên Chúa. Các gắn bó với của cải trần gian, cha mẹ, họ hàng đứng xuống hàng thứ hai. Xin nhớ điều răn thứ bốn buộc nhân loại phải hiếu kính cha mẹ tổ tiên và Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ yêu luôn cả kẻ thù. Vậy từ "ghét" ở đây là chọn lựa Chúa trên mọi sự, phụng sự Người trước khi thi hành các bổn phận khác. Các tu sĩ nam nữ chẳng hạn, họ từ chối lập gia đình để hiến dâng tình yêu cho Thiên Chúa trong lời khấn khiết tịnh. Điều đó không có nghĩa họ phải ghét cha mẹ, họ hàng và đời sống gia đình nơi kẻ khác. Một thí dụ nữa: Ngay sau khi nói đến chuyện ghét, Ngài tiếp luôn phải vác thập giá mình mà theo. Chẳng ai hiểu câu này có nghĩa là thu xếp chịu đựng hiền hoà các đau khổ của cuộc đời, mà là "chọn" con đường thánh giá, chịu đựng các khó khăn, nghịch cảnh với lòng can đảm để có thể chu toàn thánh ý Đức Chúa Cha, như Ngài đã chọn. Thánh giá chẳng bao giờ dễ chịu, thoả hiệp với đau khổ chẳng khi nào thành công. Nhưng can đảm đi theo ý muốn Thiên Chúa làm cho lòng chúng ta mở rộng, trở nên cao thượng, xứng đáng làm môn đệ Chúa Giêsu. Đây là những đòi hỏi nghiêm khắc của cuộc sống người Kitô hữu.

Sau khi tuyên bố những điều trên, Chúa còn tiếp tục đưa ra những điều kiện khác để theo Ngài bằng hai dụ ngôn nhỏ: Người xây tháp canh và ông vua đi giao tranh. Xin đừng nghĩ những thính giả thời Chúa Giêsu bằng lòng với những tuyên bố của Ngài. Họ nghèo, nhưng họ quý trọng những tài sản nhỏ bé của mình và giống như chúng ta họ khao khát chiếm hữu thêm. Gia đình thời ấy quan trọng hơn ngày nay. Bây giờ chúng ta đánh giá cao cá nhân và cố gắng tự cung tự cầu, độc lập khỏi mọi lệ thuộc. Thời Chúa Giêsu ngược lại, căn cước của mỗi cá nhân hoàn toàn gắn chặt vào dòng tộc, gia đình, bộ lạc, giáo phái. Tiếng tăm, danh thơm của cá nhân nối kết chặt chẽ với địa vị người đó có trong xã hội, gia đình mình. Nếu một cá nhân quyết định cắt đứt liên hệ với gia đình, xóm làng, thì tức khắc không còn căn cước nữa. Trước bối cảnh như vậy, việc từ bỏ mọi sự mà theo Chúa thật khó khăn nếu không muốn nói là ngược đời. Tuy nhiên việc đó lại là điều kiện tiên quyết để làm môn đệ Chúa. Ở phần trên Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói rõ những đặc điểm của mối quan hệ gia đình mới Ngài dự tính thiết lập, tức Hội thánh. Trong gia đình này những thành viên là các kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa (8,21; 11,27). Như vậy những ai muốn gia nhập Hội thánh của Ngài để được cứu rỗi, thì nhất định phải đặt các mối liên hệ khác xuống hàng thứ yếu, ngay cả nhiều khi phải gạt chúng sang một bên, nếu cần thiết, để dành ưu tiên cho các đòi hỏi của Ngài. Thí dụ: Trong trường hợp các tông đồ và tử đạo.

Như những kẻ theo Chúa, chúng ta ở trong mạng lưới quan hệ mới, một gia đình gồm toàn những người được Chúa chọn để theo Ngài. Trong gia đình này bất kể sang hèn, giàu nghèo đều có vị trí xứng đáng. Hai tuần vừa qua Chúa tuyên bố: "Người ở hàng đầu sẽ xuống chỗ chót và người ở chỗ chót sẽ lên hàng đầu". Tức Đức Giêsu đến để xây dựng một trật tự hoàn toàn khác với thói thường. Hệ thống bình đẳng này quả thật là một cú sốc cho những ai từng có những quan hệ trật tự tốt trong môi trường tự nhiên. Tôi nhớ lại thời còn phục vụ tại một khám đường quốc gia. Hôm ấy là chủ nhật, tôi đi bộ qua sân nhà tù với một số người tình nguyện mới đến. Họ là những tín hữu từ giáo xứ lân cận. Họ hy sinh nghỉ ngơi với gia đình và bạn bè để đến tham dự thánh lễ ở nhà nguyện khám đường. Một người trong họ khi đi qua sân thấy hàng trăm tù nhân di chuyển chậm rãi trong sân thì bật miệng nói với tôi: "Cảnh này thật sự kéo dãn con ra". Anh chàng dùng sai từ, ý anh muốn nói: Cảnh này làm con lạ quá ! Lần đầu tiên, anh được mục kích hàng trăm người từ từ đi vào nhà nguyện. Nhưng bởi vì quen từ ngữ xã hội, nên anh dùng từ "căng ra" (stretching). Đúng, anh sẽ mở rộng tầm nhìn khi cùng hàng trăm tù nhân tham dự thánh lễ. Lúc ấy quý vị có thể đoán được thâm tâm anh ta tự hỏi: "Làm thế nào tôi lại lọt được vào đây?" Theo Chúa Giêsu là cơ hội để anh căng ra khỏi bối cảnh quen thuộc của mình mà vươn tới các quan hệ mới, thế giới mới. Từ đấy, anh tiếp tục lui tới khám đường và trở nên thân thiết với tù nhân, gia đình mới của anh và anh được phép hãnh diện khoe với thiên hạ: "Anh em tôi trong nhà tù". Đúng là một quang cảnh "dãn ra".

Viết đến đây, tôi lại nhớ đến câu chuyện của người Trung Hoa: Vua Cung Vương nước Sở đi săn, giữa đường đánh mất cái cung. Các quan theo hầu cố xin tìm cho được. Vua Cung Vương nói: "Thôi tìm làm gì nữa. Người nước Sở đánh mất cung, lại người nước Sở nhặt được cung, đi đâu mà thiệt! Đức Khổng Tử nghe truyện bảo: "Đáng tiếc cho cái lòng vua nước Sở, không suy rộng hơn được nữa! Hà tất phải nói: "Người nước Sở? Giá nói: "Người đánh mất cung, lại người bắt được cung, thì chẳng hơn ư?" (Thuyết Uyển). Lại một thí dụ nữa về tấm lòng rộng mở!

Tuy nhiên, không nên hành động bừa bãi, ngược lại, phải đắn đo kỹ lưỡng khi làm một việc gì, ngay cả việc theo Chúa, xem mình có đủ sức lực đi trọn con đường. Chúa Giêsu cảnh cáo tín hữu bằng hai ngụ ngôn nhỏ. Người xây tháp canh và ông vua cất công đi giao chiến. Xin để ý từ ngữ Thánh Kinh: "xây dựng" và "cất công". Từ thứ nhất gợi ý một công việc lâu dài, đòi hỏi kiên nhẫn như quá trình xây cất. Đôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng và chán nản bởi không tiến bộ được nhiều trên con đường nhân đức. Còn nhiều tội lỗi, khuyết điểm, bất toàn trong hành trình làm môn đệ Chúa ở trần gian! Chúng ta cần nghị lực và kiên nhẫn, chưa ai dám nhận mình là gương mẫu! Chưa ai dám vỗ ngực về lòng rộng rãi, từ bỏ, hy sinh như Chúa đòi hỏi. Vậy xin đừng nản chí, công việc xây tháp không phải là một sớm một chiều. Nó chưa hoàn thành mà. Nó còn đang trong tiến trình xây dựng: Hay như người người ta thường nói: "Xin kiên nhẫn với tôi, Thiên Chúa còn đang đợi chờ tôi, Ngài đã phạt tôi đâu !" Từ thứ hai, cất công giao tranh, từ này gợi ý chúng ta phải dừng lại và suy nghĩ trước khi quyết định làm việc chi, nhất là trước những đòi hỏi hy sinh làm môn đệ Chúa. Chúng ta có đủ sức mạnh hay không, đủ ý chí hay dễ chán nản tháo lui? Đây là một ẩn dụ khắc nghiệt trong thời kỳ đầy dẫy chiến tranh này. Tuy nhiên nó nói lên những phấn đấu không ngừng, những hy sinh vượt bậc người môn đệ Chúa phải gánh chịu trên con đường theo Ngài. Mặc dầu, ngay cả khi chúng ta đủ quyết tâm theo Chúa, nhưng có những lúc, những thời gian, phải đưa ra quyết định khó khăn để trung thành với ơn gọi.

Trong cuộc đời người tín hữu đầy dẫy những hoàn cảnh này, và không mấy ai tránh khỏi lỗi lầm! Ngược lại, nhiều trường hợp chúng ta phải nói "không" cho những cám dỗ, những lựa chọn xem ra hấp dẫn. Vì thế có những va chạm, cãi cọ, tranh đấu với gia đình, bạn bè hoặc với nếp sống văn hoá chung quanh. Đây là điều người đang ưa đem ra bàn tán để tung hoả mù. Thí dụ, ngừa thai, phá thai, ly dị, linh mục kết bạn. Nhưng chúng ta phải lựa chọn con đường trung thành với Phúc âm. Chẳng quyền lực nào trên thế gian, kể cả vua chúa, Đức Giáo Hoàng, nhà độc tài có thể nói "được" cho vấn đề ly dị. Vậy nên trong những thời gian như thế này, bài Phúc âm hôm nay nhắc nhớ mọi người rằng mình đang ở trong hoàn cảnh "xây tháp", cần nghị lực, tài nguyên để hoàn thành công việc. Hay đang dự tính cất quân đi đánh giặc. Một trăm ngàn quân có thể đương đầu với 200 ngàn được không? Nghĩa là nếu muốn thành công thì phải tập trung mọi cố gắng và tài nguyên. Liệu chúng ta có đủ khôn ngoan để đưa ra quyết định đúng? Đủ can đảm để trả giá công việc? Hoặc đủ kiên nhẫn để chịu đựng những hậu quả? Tôi nghĩ có lẽ không. Chẳng ai trong chúng ta có đủ quyết tâm, sức mạnh và khôn ngoan tự thân. Chúng ta phải cậy nhờ vào ơn Chúa.

Cho nên, chúng ta phải năng lui tới thánh đường, tụ họp với nhau để lắng nghe lời Chúa dạy, rồi cùng nhau tiến tới bàn thánh để lãnh nhận lương thực hằng sống. Xin nhìn chung quanh để thấy những kẻ tới đồng bàn với chúng ta! Họ không phải là những người chúng ta thường gặp hàng ngày, hay chỗ quen biết. Họ từ khắp nơi tới, không cùng vị trí kinh tế, chính trị, học thức như chúng ta. Nhưng họ cùng ở đây với chúng ta, trong ngôi nhà đầy ắp yêu thương và nhân ái, gọi nhau bằng anh chị em, cùng cầu nguyện, xin ơn với nhau, chung tiếng ca ngợi Thiên Chúa trong cùng lời kinh tiếng hát. Như vậy, tất cả chúng ta đang thuộc về gia đình mới, gia đình của Chúa Giêsu. Điều này làm dãn lòng chúng ta ra, phải không? Đúng như Chúa Giêsu tiên báo khi Ngài mời gọi đám đông trên đường đi lên Giêrusalem. Họ đã chọn Ngài làm ưu tiên số một trên cuộc đời mình. Ước chi mọi tín hữu hoàn cầu đều được tâm tình như vậy. A-men.


Fr. Jude Siciliano, OP.

Gia Đình Của Lời Chúa
Lc 14:25-33

Thưa quý vị.

Để có thể rao giảng ngày Chúa Nhật, tôi thường phải đọc kỹ tất cả ba bài đọc thánh kinh, có khi luôn cả bài đáp ca. Rồi tôi yên lặng suy tư cho đến khi một đề tài thích hợp tự nổi lên và tôi khai triển bài đọc đó. nhưng tôi phải thú nhận rằng nhiều khi công việc chẳng dễ dàng chút nào. Thường thì bài Phúc Am thu hút tâm trí tôi nhiều nhất, và tôi cũng hay giảng về nội dung bài Phúc Am. Riêng Chúa Nhật tuần này, tôi chẳng cần đến một chút do dự, gần như tôi bắt buộc phải chọn bài Phúc Âm.

Thoáng nghe, bài Tin Mừng xem ra có giọng điệu tàn nhẫn, ương ngạnh và cố chấp. Tôi sẽ được thoải mái nếu tôi ngoảnh nhìn đi nơi khác mặc cho giáo dân tha hồ ngỡ ngàng lạ lẫm về bài Tin Mừng. “Ghét cha mẹ, ghét con cái, ghét mọi người trong nhà, từ bỏ mọi sự…” Nghe sao mà kỳ quặc vậy ? Lại còn hai dụ ngôn ? Liệu chúng ta có thể chấp nhận được rằng, một Chúa Giêsu yêu hoà bình, yêu nhân ái lại đi dùng một dụ ngôn ông vua ngồi lượng định sức lực để đè bẹp quân thù, đối thủ của mình ?

Để khỏi đi lạc vào rừng các nghịch lý, tôi phải bám vào một nguyên tắc hướng dẫn căn bản khi tôi tiếp cận với các vấn đề của kinh thánh. Tôi tự hỏi : “Tin Mừng” ở trong đoạn kinh thánh này là thế nào ? “Ơn Thánh” nằm ở đâu ? hỏi như thế để tôi có thể tránh khỏi “Luân lý” hóa quá vội vàng. Nghĩa là áp dụng ngay đoạn sách thánh để bầy ra những bổn phận hoặc những cấm đoán cho giáo dân. Không có ơn thánh thì chẳng sao giữ nổi các bổn phận và cấm đoán đó. Tôi cũng phải thành thật thú nhận rằng nguyên tắc ơn thánh trong bài Tin Mừng hôm nay quả là khó áp dụng.

Nhưng bài Tin Mừng đích thực là của Thánh Luca, mang đầy đủ đặc tính và văn phong của Ngài. Thánh Luca đã sử dụng Tin Mừng thánh Marco, nhưng ngài thay đổi chút ít để am hợp với viễn tượng của riêng ngài. Một trong những đề tài mà thánh Luca yêu thích là ngài nhấn mạnh về khía cạnh từ bỏ của cải, tiền bạc trong cuộc đời theo Chúa Giêsu. Làm môn đệ Chúa nhất thiết phải rũ bỏ mọi sự (5 : 11), ngay cả cây gậy khi đi rao giảng (9, 3). Riêng về lời dạy “ghét bỏ cha mẹ, anh chị em, họ hàng” thì xem ra là một điều xúc phạm đến tình cảm gia đình ! hàng ngàn hàng vạn lần khi đã khôn lớn, chúng ta đều được dạy dỗ về tầm quan trọng của gia đình.

Điều răn thứ tư dạy ta phải hiếu kính ông bà, cha mẹ. Ngạn ngữ dân gian cũng đầy dẫy những lời răn như thế : Một giọt máu đào hơn ao nước lã (Blood is thicker than water !). Trong thời Chúa Giêsu não trạng xã hội là não trạng sơ khai, hợp quần để sống còn, chống lại thú dữ, kẻ thù và sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cho nên gia đình, bộ tộc, tôn giáo là những giá trị căn bản. Cá nhân không mấy quan trọng. Chỗ đứng của cá nhận và ngay cả căn cước của từng người đều đặt trên nền tảng gia đình, bộ tộc, làng xóm. Vậy thì lời dạy của Chúa Giêsu quả là một cú sốc.

Nhưng suy gẫm sâu xa hơn, chúng ta thấy Chúa đang thiết lập một gia đình mới, mà Ngài là đầu. Quan hệ đối với ngài và mỗi phần tử đối với nhau không phải là quan hệ máu mủ, nhưng là quan hệ nghe lời Thiên Chúa (8, 21). Toàn diện và triệt để. Ngài muốn dạy chúng ta phải mở mắt, mở tai, mở lòng đón nhận một lối sống gia đình mới, gia đình của những kẻ theo Ngài. Trong trường hợp này thì máu chưa chắc đã đậm đặc hơn nước.

Lấy thí dụ như nước rửa tội chẳng hạn. Nó là nguồn ơn nối kết mọi người trong một gia đình mới. Thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô. Và như vậy nó ám chỉ ơn thánh, quà tặng của Thiên Chúa ban cho toàn thể gia đình mới, trong một nếp sống mới, viễn tượng mới. Nó sẽ thay đổi hoàn toàn con người chúng ta, hướng dẫn và soi sáng chúng ta trên con đường hướng về “Giêrusalem”. Gia đình mới này sẽ là cội nguồn căn cước mỗi ngừơi, chúng ta sẽ được chấp nhận ở đó, bất chấp màu da, tiếng nói, địa vị xã hội, kinh tế. Đây chẳng phải là lời dạy về địa vị mà chúng ta phải có để được chấp nhận.

Linh mục Gustavô Gutierrez gọi bản văn Tin Mừng hôm nay là vĩ đại và ngài giải thích từ “ghét” một cách rất thoả đáng. Ngài gọi nó là một từ “Á Đông” (Semitic) dễ hiểu đối với thính giả thời Chúa Giêsu. Đối với họ từ này đồng nghĩa với hoãn lại hoặc đặt xuống hàng thứ yếu. Nó cũng có nghĩa quay mặt khỏi ai hoặc cái gì. Chúa chẳng muốn chúng ta phát triển lòng căm ghét gia đình, mà Ngài chỉ muốn chúng ta đặt tất cả mọi liên hệ trong ánh sáng là người môn đệ của Ngài, triệt để và toàn vẹn. Mang thập giá theo Ngài trước, mọi liên hệ khác là thứ yếu. Chọn Chúa Giêsu có thể đưa đến những căng thẳng ngay tại gia đình mình, bạn bè thân hữu mình. Lối sống và các lựa chọn của họ ảnh hưởng nặng nề đến chúng ta, đặc biệt trong trường hợp cha mẹ, ông bà. Rau nào, sấu ấy (Like parent, lide child). Chúng ta sống bằng những giá trị cha mẹ chúng ta đã sống. Mặc dù những giá trị đó đôi khi chẳng tốt đẹp gì : Cho vay nặng lãi, lừa đảo, buôn gian bán lận, ức hiếp, bóc lột v.v…

Cho nên theo Chúa Giêsu, là phần tử của gia đình Ngài có một giá trị độc tôn và đặc biệt, không đâu có được ! Ngài hứa với họ rằng họ sẽ có từng ngàn, từng vạn cha mẹ, họ hàng, anh em, chị em, bạn hữu và ngay cả một tổ ấm. Gia đình này chẳng có máu mủ với chúng ta, chẳng nói ngôn ngữ của chúng ta, nhưng vẫn là gia đình với chúng ta, nâng đỡ và khích lệ chúng ta đi theo con đường của Chúa, bất kể đôi khi gây ra những căng thẳng và đổ vỡ (12, 53). Ngày ngày chúng ta phải chăm sóc cha mẹ già yếu, con cái bệnh tật, chúng ta hãy luôn nhớ rằng tình yêu gia đình vẫn là hình ảnh tình yêu của Chúa và con đường tốt nhất để phục vụ Chúa Giêsu : “Hãy vác thánh giá mà theo Ta” bất chấp mọi hậu quả. Ý nghĩa của bài Phúc Âm đến đây đã rõ.

Nhưng chúng ta vẫn còn hai dụ ngôn phải giải thích. Hai dụ ngôn này nói với chúng ta rằng đừng có ươn lười đón nhận các biến cố xảy đến cho đời mình, mà phải khôn ngoan sáng suốt, lượng định xem khi nào và bao nhiêu hy sinh phải đổ ra để đón nhận chúng như là một môn đệ Chúa. Chẳng phải ai cũng vào nhà tu được, nhưng mọi người đều được kêu mời ban trọn bản thân mình cho tha nhân theo tiếng gọi chúng ta từ bỏ, không những lòng dính bén của cải mà luôn cả quyền sở hữu trên chúng. Có những thứ mà tiền bạc chẳng thể mua được như tình bạn, lòng trong trắng, tính ngay thẳng và cũng có những thứ mà địa vị không thể nào ban cho, như sự sống, sự chết, bệnh tật… vậy chúng ta phải lượng định xem thế nào là khôn, thế nào là dại trong cách đối xử của chúng ta với của cải, danh vọng đời này. Nhất là chúng ta phải lượng định xem mình có đủ can đảm mà theo Chúa đến cùng đến thành Gierusalem để cùng chịu đóng đinh với Ngài trên thập giá !

Một thí dụ rất cụ thể về quan hệ gia đình mới mà Chúa Giêsu dạy là trường hợp của Onesimus với Philemon mà Thánh Phaolô đã nêu ra trong thư của ngài gởi ông Philemon. Đây là bài đọc duy nhất trong chu kỳ ba năm của phụng vụ. Ông Onesimus là nô lệ của ông Philemon, chẳng hiểu vì lý do gì Onesimus trốn khỏi nhà chủ, đến tìm gặp thánh Phaolô, lúc ấy đang ở tù tại Roma. Onesimus học đạo với thánh Phaolô, được ngài rửa tội cho và gởi trả lại cho chủ. Onesimus có nghĩa là hữu dụng. Ông trở nên rất hữu ích đối với thánh Tông đồ dân ngọai, nhưng thánh Phaolô tôn trọng quyền sở hữu của Philemon, tuy nhiên bây giờ không còn là quan hệ tớ-chủ mà là quan hệ gia đình : “còn hơn là một người nô lệ mà là một người anh em đối với Ngài”. Dĩ nhiên lời nói này chẳng có ý nghĩa gì đối với chế độ lúc bấy giờ, vì đây chỉ là một lá thư cá nhân. Nhưng bây giờ nó có một ý nghĩa rất lớn, khi lá thư được đọc lên trong cộng đoàn tín hữu khắp hòan cầu.

Tóm lại, không tự hủy mình vác thập giá hàng ngày mà theo Chúa Giêsu thì chẳng bao giờ xứng đáng làm môn đệ của Ngài, con đường thánh giá là con đường duy nhất dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Thần sẽ đảm nhận soi sáng cho chúng ta bước đi trên con đường này. Chúng ta hãy bằng lòng để cho Ngài chiếm hữu, dẫn dắt và ban ơn, hôm nay và cho mãi đến muôn đời. Amen.


Như Hạ op

TỰ DO HAY LÀ CHẾT
Lc 14:25-33

Con người khao khát tự do, nhưng cũng cần một hướng để xác định rõ mục tiêu cuộc sống. Nếu không, cuộc đời sẽ phí phạm và vô nghĩa. Ðức Giêsu đem lại cho nhân loại một phương hướng giải thoát hoàn toàn.

GIẢI THOÁT HOÀN TOÀN.

Tự do vẫn là khát vọng muôn đời. Nhưng cho tới nay, con người vẫn chưa đạt được giấc mơ đó. Bởi vậy, Ðức Giêsu mới đến để mạc khải cho mọi người biết tự do là một hồng ân của Thiên Chúa, chứ không phải của con người. Thực vậy, "chính để chúng ta được tự do mà Ðức Kitô đã giải thoát chúng ta" (Gl 5:1) bằng cái chết trên thập giá. Nhờ đó, Người trở thành Môsê mới đưa Dân Chúa vào Ðất Hứa. Người được tôn làm Ðức Chúa. "Người đã lên cao dẫn theo một đám tù" (Ep 4:8) tức là nhân loại trong vòng xiềng xích quỉ ma. Nếu không trút bỏ hoàn toàn mạng sống, Người đã không thể nào giải thoát toàn thể nhân loại.

Thầy đã vạch đường. Muốn làm môn đệ, phải bước theo Thầy. Ðúng là "trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ." (Mt 10:24) Ðó là lý do tại sao Ðức Giêsu quyết liệt đòi hỏi : "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được." (Lc 14:16) Có đòi hỏi nào khủng khiếp hơn không ?! Ðiều kiện theo Người quá khắt khe ! Thực ra, "dứt bỏ" chỉ là giá phải trả cho tự do. Dứt bỏ những liên hệ gia đình phải chăng làphủ nhận những giá trị lớn lao đó ? Không phải thế. Nhưng đòi hỏi như thế, Người muốn mạc khải mình là một giá trị tuyệt đối, vượt trên mọi giá trị trần gian. Không có một giá trị nào cao cả và thân thiết hơn Người. Bởi vì tất cả mọi giá trị đều tương đối và mau qua. Chỉ một mình Người mới toàn hảo, toàn chân, toàn mỹ. Trong Người có thể tìm thấy mọi sự. Người mở lối vào Ðất Hứa.

Trên đường về Ðất Hứa, nhiều mối nguy hiểm chất chồng. Nguy hiểm lớn nhất là cái tôi của mình. Thập giá có mặt khắp nơi và đủ mọi chiều kích. Tin hay không, con người vẫn phải vác thập giá. Nhưng có nhiều người vác thập giá theo cái tôi của mình. Không lối thoát. Cả một cơn hỏa mù dầy đặc. Trái lại, khi vác thập giá theo Ðức Giêsu, người ta có thể có một hướng đi lên tới tận nguồn sống. Vì chỉ có Người "là con đường, là sự thật và là sự sống." (Ga 14:6) Không thể có con đường giải thoát nào khác ngoài Ðức Giêsu Kitô.

Người chính là một bảo đảm lớn lao cho sự tự do của con người. Ðúng hơn, Người là suối nguồn tự do. Thật vậy, "Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống" (Cv 2:33) trên tất cả những ai tin vào Người. Vậy mà, "ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do." (2 C 3:17) Bởi thế, nếu đòi hỏi môn đệ "dứt bỏ", Ðức Giêsu chỉ muốn người môn đệ hoàn toàn tự do, thoát khỏi mọi vướng mắc tình cảm và của cải. Người quả quyết : "Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được."(Lc 14:33) Còn bám víu vào những giá trị trần thế đó, con người không thể bay bổng theo Người.

Bay bổng không có nghĩa là xa rời thực tế. Trái lại, Ðức Giêsu nhấn mạnh : "Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được." (Lc 14:27) Thập giá là những thách đố rất thực tế trong hoàn cảnh và thân phận con người. Tuy nhiên trong Tin Mừng Luca, Ðức Giêsu mới chỉ đòi hỏi hi sinh mạng sống, quyền sở hữu và những thứ tình cảm bên ngoài. Ngay cả mạng sống cũng chưa phải là điều gì thâm sâu lắm. Nhưng trong Tin Mừng Mathêu và Marcô, Ðức Giêsu quyết liệt hơn : "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình." (Mt 16:24; Mc 8:34) Từ bỏ chỉ là mặt trái của tự do. Càng từ bỏ càng thanh thoát. Như vậy, khi từ bỏ, con người hoàn toàn tan biến trong Ðức Giêsu. Chính thánh Phaolô đã cảm nghiệm sâu xa về sự thật đó : "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi." (Gl 2:20) Nghĩa là, khi đã từ bỏ hoàn toàn, thánh nhân cảm thấy mình như bay bổng trong bầu trời tự do là Ðức Giêsu.

Trong tinh thần đó, thánh nhân đã đề nghị với ông chủ Philêmôn nhận lại người nô lệ Onêsimô như "một người anh em rất thân mến, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa." (Plm 16) Nếu không cùng chia sẻ một niềm tin nơi Ðức Kitô, làm sao thánh nhân dám nói như vậy ? Thánh nhân còn nhấn mạnh : "Nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi." (Pl. 17) Thực tế, niềm tin Kitô mạc khải cho chúng ta thấy : "Không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hi lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà ; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Kitô." (Gl 3:28) Còn phân biệt tức là chưa từ bỏ để hòa mình với mọi người.

Chưa hòa mình với mọi người chưa thể làm môn đệ Ðức Kitô. Vì Ðức Kitô đã chết là để hòa giải muôn loài (x. Cl 1:20) Muốn tiếp nối sứ mạng đó, người môn đệ phải tìm hiểu rõ ý Chúa. Trong khi sách Khôn Ngoan băn khoăn về thánh ý Thiên Chúa (Kn 9:13), thì Ðức Giêsu quả quyết : "Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời." (Ga 6:40) Sứ mạng người Con đã được xác định rõ : "Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do." (Ga 8:36) Tại sao được chia sẻ sứ mệnh cao cả như thế người môn đệ lại phải lệ thuộc vào những ranh giới chủng tộc, văn hóa, quốc gia . để không thèm nhìn đến người anh em ? Ðó là một phản chứng tệ hại nhất trong hàng ngũ những môn đệ Chúa Kitô. Tất cả sứ mệnh lớn lao đều tùy thuộc chứng từ hòa giải này.

GIẢI PHÁP THỰC TẾ.

Chứng từ hòa giải đó đang gặp khủng hoảng ngay chính trong cộng đồng dân Chúa. Khủng hoảng vì con người chỉ biết luẩn quẩn trong cái tôi của mình. Chẳng hạn, theo ÐHY Cormac Murphy-O' Connor, não trạng thời nay cho rằng : "chỉ có cái gì tôi thích mới tốt, chỉ mình tôi mới có những quyền đó và chỉ có một cuộc sống có ý nghĩa hay giá trị đó là cuộc sống tôi muốn chọn cho chính mình." (CWNews 6/9/2001) Thật là một bế tắc. Bế tắc đó bắt nguồn từ "một cuộc khủng hoảng đức tin đang ảnh hưởng tới toàn thể cộng đồng Kitô giáo ." (CWNews 6/9/2001) ÐHY nói về Giáo hội Anh quốc trước Hội Nghị Linh Mục Quốc gia tại Leeds như sau : "Giới trẻ ngày nay, và không phải chỉ có bạn trẻ, đang thờ ơ trước những giá trị Kitô giáo và Giáo hội." (CWNews 6/9/2001) Nói khác, các bạn trẻ đang mất hướng. Sau khi đã nhận định như thế, ÐHY dí dỏm : "Chúng ta tự hỏi phải chăng vì chúng ta chưa cố gắng xem chính xác dân đang ngứa ở chỗ nào. Và họ đang ngứa thật." (CWNews 6/9/2001) Muốn đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thời đại, theo ÐHY, phải thiết lập các nhóm nhỏ học Thánh Kinh và cầu nguyện. "Các cộng đồng tí hon này là bí quyết cho tương lai Giáo hội." (CWNews 6/9/2001) Vì từ chính những cộng đoàn tế bào đó, dung nhan Ðức Kitô sẽ hiện rõ nét hơn và tiếng Chúa sẽ nghe rõ hơn. Một cộng quá lớn sẽ loãng. Tiếng Chúa như rơi trong sa mạc. Lời Chúa chỉ triển nở trong nơi sâu đậm tình người. Từ đó, những đòi hỏi của Ðức Giêsu mới đạt tới cường độ như Chúa muốn.

 Ðòi hỏi môn đệ phải "từ bỏ hết những gì mình có" và cả "mạng sống mình", Ðức Giêsu muốn họ thi hành sứ mạng giải thoát nhân loại. Phải chăng đó là một tính toán khôn ngoan ? Dưới cái nhìn trần thế, hi sinh như vậy chỉ là ngu si và ngông cuồng. Nhưng "cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người." (1 C 1:25) Huống nữa, sự khôn ngoan của Thiên Chúa là chính Ðức Giêsu (x. 1 C 24) còn lớn lao hơn gấp mấy ! Chính "nhờ Ðức Khôn Ngoan (đó) mà (loài người) được cứu độ" (Kn 9:18) !


G. Nguyễn Cao Luật op

NIỀM VUI LỚN HƠN
Lc 14:25-33

Cuộc đời, chọn lựa và từ bỏ

Trên báo chí, người ta vẫn đọc thấy chuyện về các vận động viên phải hy sinh một số những điều mình ưa thích, chẳng hạn phải kiêng một món ăn nào đó để khỏi tăng trọng lượng, bỏ một thói quen nào đó không phù hợp với môn thể thao mình đang theo đuỗi. Và rồi, họ phải dành nhiều thời gian, nhiều sức lực để tập luyện, nhờ đó thành tích thể thao càng lúc càng được nâng cao.

Trong việc kinh doanh sản xuất, cũng có những người bỏ cả sản nghiệp của mình để mong làm giàu hơn nữa. Ðôi khi người ta giật mình vì có những người bỏ ra hằng trăm triệu để làm vốn kinh doanh. Hoặc có những người nghèo, nhưng say mê một công việc nghiên cứu nào đó, cũng đành phải bán những vật dụng thân thiết nhất của mình để có phương tiện tiếp tục công trình dang dở.

Cuộc đời là như thế, vẫn có những hy sinh, những từ bỏ, vẫn có những lựa chọn, những phiêu lưu. Hy sinh, từ bỏ là chấp nhận mất mát, chấp nhận thiếu thốn và cũng có lúc phải đau khổ, đau khổ xé lòng. Những hy sinh, những từ bỏ ấy có một mục đích : đáp ứng điều mình lựa chọn và tin chắc rằng đó là điều cao hơn, và điều ấy sẽ thành công. Ðó cũng là cuộc phiêu lưu bởi vì sẵn sàng bỏ ra những gì mình đang có để đạt tới điều cao cả hơn.

Từ ý tưởng đó, xin trở lại với bài Tin Mừng. Ðức Giêsu đi "lên" Giê-ru-sa-lem. Phía sau, phía thấp hơn là Na-da-rét, là gia đình thân thuộc, và cả miền Ga-li-lê, nơi Người cảm thấy như nhà của mình, và cũng ở đó, dân chúng đã nghe Người giảng dạy, đã tin Người một phần nào. Phía trước, ở trên cao, là thành đô, nơi những kẻ chống đối Người thường lui tới. Tuy nhiên, Người phải "đi lên", phải đến thành đô, vì tại nơi chốn biểu tượng này, tất cả những điều Người thực hiện từ lâu nay sẽ đi đến kết thúc. Người phải đi lên để chu toàn trọn vẹn thánh ý Chúa Cha, và hoàn tất sứ mạng đã được trao phó. Trước mặt Người là những nguy hiểm đang đợi chờ, cả mối đe doạ đến mạng sống. Người biết rằng ở Giêsu-sa-lem, các đối thủ của Người đang tìm cơ hội, tìm lý lẽ để hại Người. Ðã nhiều lần Người phê phán các hành vi của họ, tố cáo thói giả hình, và cũng đã từng xô đỗ những đặc quyền của họ. Người làm những điều đó vì lòng yêu thương, vì muốn đưa họ đến chân lý, nhưng họ lại coi Người là một đối thủ nguy hiểm, một kẻ phản loạn.

Tất cả những nguy cơ này, Ðức Giêsu biết rõ. Người đi lên Giê-ru-sa-lem, chấp nhận những hiểm nguy. Người không chỉ bằng lòng với những điều đã đạt được ở Ga-li-lê, Người phải thực hiện những điều đó tại Giê-ru-sa-lem nữa, và làm cho những điều Người loan báo đạt tới kết cục toàn vẹn. Người sẵn sàng "bỏ vốn" để đạt được thành công cuối cùng, thành công dứt khoát. Vốn liếng của Người chính là mạng sống chứ không phải điều gì khác.

Ðây thực là một mẫu gương về sự dấn thân. Người Kitô hữu được mời gọi đi lên Giê-ru-sa-lem thiên quốc, bỏ lại những gì mình đang nắm giữ, và đem cả con người mình bước vào con đường hẹp, con đường phiêu lưu với Thiên Chúa.

Chọn Ðức Giêsu hơn tất cả

Trên con đường đi lên Giê-ru-sa-lem, Ðức Giêsu suy nghĩ về tất cả những điều sắp xảy ra. Phía sau Người là các môn đệ, những người đã được Người mời gọi, quy tụ để theo Người và làm chứng cho Người. Như môn đệ của nhóm Pha-ri-sêu, các ông đi theo Người, sẵn sàng lắng nghe những giáo huấn của Thầy. Các ông là những người được Ðức Giêsu tỏ lòng yêu mến. Nhưng liệu các ông có hiểu rõ sứ mạng của Người cũng như những việc Người cần thực hiện ?

Trong tâm trí các ông, Ðức Giêsu đi lên Giê-ru-sa-lem để đón nhận vinh quang, Người sẽ hoàn thành Vương quốc Người đã từng loan báo, và như vậy, chắc hẳn các ông cũng sẽ được thông phần. Các ông đã bỏ mọi sự, cả gia đình thân thuộc, nghề nghiệp và tương lai của mình để đi theo Người, nên lúc này, tâm hổn các ông tràn trề hy vọng sẽ được đền bù xứng đáng. Ðọc lại câu chuyện các ông tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất, và lời thỉnh cầu của bà mẹ các con ông Dê-bê-đê (xem Mt 20,21), người ta hẳn thấy rõ điều ấy.

Thực ra, đó cũng là chuyện bình thường của con người. Ai chẳng mong rằng những vất vả của mình được đền bù, người nào bỏ vốn ra làm ăn mà không mong thu lời. Thế nhưng, chương trình của Thiên Chúa lại khác. Ðoạn đường các ông đã đi, chưa phải là tất cả. Còn có những khó khăn, những nguy hiểm lớn hơn đang chờ các ông ở phía trước. Như Ðức Giêsu, các ông sẽ còn trải qua những đau khổ ghê gớm hơn nữa, và phần thưởng không phải là cuộc sống vinh quang ở trần gian, nhưng là ở trong Nước Thiên Chúa.

Bấy giờ, Ðức Giêsu biết được những điều đang ám ảnh các tông đồ, Người quay lại và đưa ra một lời cảnh cáo rất ghê gớm : đi theo Người, tức là chấp nhận chương trình của Người, đồng thời chấp nhận luôn những đòi hỏi nằm trong chương trình đó. Những đòi hỏi ấy như thế nào ?

Trước hết là yêu mến Ðức Giêsu hơn tất cả, và mang lấy thập giá của mình. Ðiều này không có gì là phi nhân bản. Ðức Giêsu biết rằng trong cuộc đời vẫn có những chọn lựa nền tảng buộc đặt vấn đề lại. Vào những lúc như thế, người ta thường đưa ra những tình cảm chính đáng nhất như cái cớ để tránh những chọn lựa cần thiết.

Không thể là môn đệ của Ðức Kitô khi vẫn sống theo tính ngẫu hứng, theo một hệ thống tư tưởng. Cần phải ý thức về thân phận của mình, đảm nhận thân phận ấy trong cuộc sống thường ngày, và hoàn thành thân phận ấy, không để cho bất cứ điều gì làm lung lạc, làm biến chất hay tiêu diệt. Ði theo Ðức Giêsu là một cuộc sáng tạo trường kỳ, không được quay lại đàng sau, dù bất cứ vì lý do gì.

Như thế, tính cách độc đáo của Nước Trời đòi buộc nằm ngay ở trong nội tâm mỗi người. Ðó không phải là một việc này việc nọ thành công, cũng không phải là vinh quang vì được người đời nhắc đến. Tính cách này không buộc người ta phải trở thành những anh hùng, nhưng là vượt qua chính mình ; nó cũng không kêu gọi con người sống cách tuỳ thích, nhưng kêu mời trao tặng. Trong việc lựa chọn này, lý do căn bản luôn luôn được gợi hứng từ tình yêu.

Sau nữa, đi theo Ðức Giêsu là chấp nhận phiêu lưu, là đánh đổi cả đời mình. Người ta không biết trước điều gì sẽ xảy ra, nên Tin Mừng mời gọi những người muốn trở thành môn đệ Ðức Kitô phải sẵn sàng, phải biết dự liệu : biết sử dụng những phương tiện để đạt tới mục đích. Nếu không dự liệu trước, không những công cuộc này bị thất bại, nhưng còn phá huỷ cả điều đã lôi cuốn, đã hấp dẫn, đã mời gọi con người bước theo. Ở đây, điều đáng nhấn mạnh là cần phải đạt tới Nước Trời. Ðức Giêsu đã báo trước điều này : Người không có ý làm những người nghe nản lòng, nhưng muốn họ nhận định rõ ràng về tầm mức của công việc. Họ phải đánh đổi tất cả để được tất cả, phải đem tất cả của cải và sức lực của mình vào cuộc, phải chấp nhận những hy sinh lớn lao, bởi vì ơn cứu độ là một cuộc phiêu lưu mà không có gì so sánh nỗi.

Niềm vui tiến về phía trước

Năm 1992, cả thế giới hân hoan mừng kỷ niệm 500 năm khám phá ra Châu Mỹ. Ðể có được thành công này, Christophe Colomb đã đem toàn bộ gia tài của mình ra để thực hiện chuyến đi, đồng thời phải lấy uy tín và ảnh hưởng của mình để thuyết phục nhà vua. Cuối cùng sự liều lĩnh và gan dạ của ông đã đem lại kết quả tuyệt vời : khám phá ra Tân thế giới.

Người môn đệ đi theo Ðức Giêsu cũng phải liều lĩnh và gan dạ. Họ chấp nhận phiêu lưu với Ðức Giêsu, chấp nhận chương trình của Người, đồng thời sẵn sàng và vui vẻ mang lấy thập giá của mình. Họ tin tưởng vì những nỗ lực của họ không uổng phí. Họ vui vẻ bước đi vì biết rằng những gian truân hiện tại không đáng kể gì so với tương lại rực rỡ ở phía trước. Ðây là nét đặc trưng của Kitô giáo, trong đó có dấu ấn của nhà nghệ sĩ đồng thời là một người khám phá. Không gò bó, không an phận ; họ sẵn sàng bỏ lại đàng sau tất cả những gì đã có để lao mình về phía trước, và đó là niềm vui, niềm vui của sự từ bỏ, niềm vui của những đỉnh cao mới.

Nước Thiên Chúa vẫn ở phía trước, vẫn có một khoảng cách vô tận, nhưng đồng thời vẫn trong tầm tay.

* * *

"Hồng ân quý giá, đó là kho tàng chôn giấu trong thửa ruộng.
Vì kho tàng ấy, người ta sẵn lòng đem bán tất cả những gì mình đang có.

"Hồng ân quý giá, đó là viên ngọc quý.
Vì viên ngọc ấy, người lái buôn sẵn sàng đem cả tài sản ra đánh đổi.

"Hồng ân quý giá, đó là vương quốc của Ðức Kitô.
Vì vương quốc ấy, con người sẵn sàng vứt bỏ con mắt gây sa ngã.

"Hồng ân quý giá, đó là lời mời gọi của Ðức Kitô.
Vì lời mời ấy, các môn đệ bỏ chài lưới để đi theo.

"Hồng ân quý giá, đó là Tin Mừng mà người ta phải khám phá luôn.
Ðó là ân huệ mà người ta phải cầu xin.
Ðó là cánh cửa mà người ta phải gõ."

...

theo D. Bonhoeffer


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Từ Bỏ
Lc 14,25-33

Có một câu chuyện kể rằng : Một vị linh sư Ấn giáo nổi tiếng kia đang ngồi tĩnh niệm bên bờ sông, thì một người đàn ông giàu có đến xin làm môn sinh. Ông rón rén đến bên vị linh sư và đặt dưới chân nhà tu hành hai viên ngọc quý giá để làm của lễ ra mắt. Vị linh sư mở mắt ra nhưng không tỏ lộ một thái độ nào, không cần nhìn kỹ vào món quà quý giá ấy, ông cầm lấy một viên ngọc và ném xuống sông. Vì tiếc của, người đàn ông liền lặn xuống sông để tìm lại viên ngọc. Nhưng mất suốt một ngày mà ông không tìm lại được. Chiều đến, mệt mỏi và chán chường, ông mon men đến bên vị linh sư và nài nỉ : “Ngài đã ném viên ngọc xuống chỗ nào xin ngài chỉ cho tôi để tôi lặn xuống tìm lại ?”. Không nói gì, vị linh sư cầm lấy viên ngọc còn lại ném xuống sông và nói : “Đó, ta đã ném vào chỗ đó, ngươi hãy lặn xuống mà tìm lại”. Cử chỉ của vị linh sư Ấn giáo trên đây cho biết một đòi hỏi gay gắt đối với những ai muốn xuất gia tu hành, đó là họ phải từ bỏ tất cả.

Chúa Giêsu cũng đòi hỏi một sự từ bỏ như thế : “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Nhiều người cho rằng Chúa Giêsu nói những lời trên là chỉ nói với các môn đệ ngày xưa hay với những linh mục và tu sĩ ngày nay. Không phải thế, chắc chắn Chúa không có ý nói đến những người đi tu mà thôi, nhưng nói với tất cả mọi người. Thực vậy, những điều Chúa nói trên đây có thể hiểu theo hai nghĩa : nghĩa đen, nghĩa chặt áp dụng cho những người đi tu, và nghĩa bóng, nghĩa rộng áp dụng cho mọi người.

Nếu hiểu theo nghĩa đen, nghĩa là hiểu theo sát nghĩa từng chữ, thì đây là điều kiện Chúa đòi hỏi những người theo Chúa và thực sự những ngừơi đi tu đã thực hiện, đã sống theo những lời Chúa nói. Trong cuộc đời của các thánh, chúng ta thấy nhiều vị đã hiểu lời Chúa theo nghĩa đen, có những vị đã bán hết gia tài bố thí cho người nghèo; có những vị đã bỏ hết danh vọng, chức quyền; có những vị đã bỏ hết tiền bạc của cải để theo Chúa; có những vị đã bước qua con cái để ra đi dâng hiến cuộc đời cho Chúa, hay chấp nhận cha mẹ từ bỏ mình để được đi tu; cũng có những vị tự cắt tóc, rạch mặt để được thong dong theo Chúa.

Chẳng hạn thánh Phan-xi-cô Át-si. Truyện kể rằng khi còn là một thanh niên lêu lổng, Phan-xi-cô thường hay đi lễ trễ Chúa nhật. Có một lần khi vừa đến cửa nhà thờ, thì vị chủ tế đang đọc bài Tin Mừng, Phan-xi-cô nghe rõ được câu: “Nếu con muốn nên hoàn thiện thì hãy về bán hết gia sản, bố thí cho kẻ nghèo, rồi đến đây theo Ta”. Phan-xi-cô xác tín lời ấy Chúa nói với chính mình, anh trở về và thực hành đúng như lời Chúa, tơ lụa, vải vóc trong cửa hàng bề thế của gia đình anh đem phân phát cho người nghèo rồi đi theo Chúa và trung thành với sự nghèo khó suốt đời, nên chúng ta thường gọi là thánh Phan-xi-cô khó nghèo.

Trường hợp của thánh Béc-na cũng rất hay. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài sớm nhận ra rằng : khó mà được rỗi linh hồn nếu sống ở thế gian, nên ngài đã quyết định từ bỏ, ngài xin đi tu và còn kéo theo bốn người em nữa. Trước khi lên đường, năm anh em đã nói với người em út, tên là Ni-va: “Vĩnh biệt em Ni-va, các anh đi đây, các anh để lại tất cả đất đai, nhà cửa và của cải cho em”. Ni-va trả lời : “Các anh khôn thấy mồ, các anh chọn trời và để lại đất cho em, em không bằng lòng đâu”. Vì thế, sau này Ni-va cũng theo các anh vào tu viện, từ bỏ đất để chọn trời, từ bỏ thế gian để chọn nước trời.

Những trường hợp trên và nhiều trường hợp khác là những cử chỉ anh hùng, nhưng không phải là luật chung cho mọi người. Dầu sao những người đi tu, chúng ta thấy cũng hiểu được theo nghĩa đen lời Chúa nói : bỏ cha mẹ, gia đình, anh chị em để nhận nhà dòng làm gia đình và nhận những người cùng chí hướng làm anh em, chị em, hoàn toàn sống theo tinh thần từ bỏ bằng ba lời khấn vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh.

Tuy nhiên, nếu hiểu điều kiện từ bỏ theo nghĩa rộng là Chúa nói với mọi người, thì điều đó có nghĩa là phải ưu tiên dành cho Chúa và làm mọi việc để phụng sự Chúa mà thôi, nghĩa là phải chọn Chúa trên hết mọi sự, trên cả những tình cảm thân thương nhất, cả chính bản thân cũng như danh vọng và của cải trần gian. Đây là một đòi hỏi có tính cách khác thường, ngược đời và khó chấp nhận, nên Chúa đã đưa ra hai dụ ngôn để minh họa và giải thích : dụ ngôn người muốn xây tháp hay xây nhà và dụ ngôn ông vua hay ông tướng sắp lâm trận : phải biết lượng sức mình, phải biết đánh giá đúng khả năng của mình, tức là phải tính toán cẩn thận để khỏi hỏng việc, thiệt hại hay thất bại.

Nói rõ hơn, đối với phần đông chúng ta, Chúa không đòi hỏi phải từ bỏ của cải, cha mẹ, gia đình, nghề nghiệp để đi tu, nhưng Chúa đòi hỏi phải biết từ bỏ những gì cản bước chân chúng ta đi theo Chúa, những gì làm chúng ta xa Chúa, mất sự bình an, nhất là mất Chúa, mất hạnh phúc nước trời.

Tóm lại, không thể làm môn đệ Chúa nếu không dám dứt bỏ, mà lám sao dứt bỏ được nếu không có tình yêu, nên điều kiện theo Chúa là phải có một tình yêu lớn mạnh. Có tình yêu chúng ta sẽ làm được tất cả, và dứt bỏ vì yêu, chúng ta sẽ thấy nhẹ hơn và dễ hơn. Nói khác đi, từ bỏ là cách diễn tả một tình yêu, khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả. Ước gì chúng ta vui khi gặp viên ngọc quý là Đức Giêsu, dám bán tất cả để thấy mình giàu có.


Lm. Jude Siciliano, OP.

THIÊN CHÚA LÀ LỰA CHỌN TRÊN HẾT
Lc 14, 25-33

Thưa quý vị,

Nếu Chúa Giêsu chạy theo nổi danh và tìm kiếm đám đông, thì hôm nay Ngài thất bại, bởi những lời tuyên bố chói tai. Ngài đang trên đường đi Giêrusalem và là lãnh đạo dẫn đầu. Luca thuật lại: “Khi ấy có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu”. Người quay lại nói với họ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Ý nghĩa rõ ràng quá, không sao giải thích “nghĩa bóng” hoặc úp mở chi được. Phải hiểu nghĩa đen nếu muốn làm môn đệ Ngài. Vậy mà hai ngàn năm nay, người ra vẫn cố gắng bẻ cong lời Chúa cho hợp với dục vọng của mình. Lý do họ đưa ra để biện minh cũng rất thuyết phục: sức khoẻ, văn minh, hiện đại, cập nhật hoá, công trình, rao giảng, … Chẳng lẽ Đức Giêsu “dốt” đến độ không trông thấy trước những “biện minh” này? Bài đọc 1 trích sách Khôn Ngoan trả lời câu hỏi: “Chúng con vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững”. Vậy thì ai “thượng trí” hơn Đức Kitô?

Chỉ có điều chúng ta không hiểu rõ ngôn ngữ Kinh Thánh. Mấy năm trước đây tôi đã cố gắng giải trình từ “ghét” mà Luca dùng trong Tin Mừng hôm nay. Đại ý là đừng quý trọng, đừng ưu tư điều chi hơn Chúa. Có tác giả cắt nghĩa “ghét” trong ngôn ngữ Do Thái là không có tình yêu (love-less) hơn, tức yêu ít hơn yêu Ngài. Cũng trong chiều hướng đặt Chúa làm ưu tiên số một, tôi ngạc nhiên nếu những kẻ nông nổi theo Chúa khi nghe Ngài tuyên bố mà vẫn còn nghĩ được lòng trung thành? Nói chi đến những kẻ nửa vời. Đây là thời gian tốt để họ quay lưng bỏ đi như đã từng bỏ Ngài sau lời Ngài tuyên bố Mình Máu Ngài là của ăn thức uống cho thiên hạ. Họ sẽ trở về với nếp sống cũ, thói quen cũ, với vợ con, thân nhân, họ hàng: lời này chói tai quá, ai mà nghe nổi ?

Cho nên theo Đức Giêsu không thể nào giữ thái độ lừng chừng nửa muốn nửa không, tức còn dè dặt như đa số linh mục, tu sĩ ngày nay. Phải quyết tâm và bền vững làm môn đệ Ngài với hết cả tâm hồn và thể xác. Chúng ta đọc lại: “Ai đến với tôi mà không ghét bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Theo thánh Thomas Aquinas, phải hiểu nghĩa đen trước đã (Summa theologioe III 46 - 52). Bởi vì ngày nay người ta không đọc Summa nên cắt nghĩa liều lĩnh, nhưng vẫn tự phong mình là môn đệ Chúa, lại còn “bảo hoàng hơn vua”!

Đi lễ nhà thờ, bỏ tiền bạc trợ giúp xây dựng cơ sở Giáo hội vẫn chưa đủ. Đức Giêsu đòi hỏi nhiều hơn nữa. Ngài đòi các môn đệ phải đặt Ngài lên trên các tương giao thuộc về xác thịt. Cha mẹ, vợ con, họ hàng chịu đựng gian khổ để phục vụ Ngài, tức toàn thời gian và hết sức lực, đúng như sách Đệ Nhị Luật: “Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6, 4). Chẳng có lối thoát nào cho những kẻ lừng chừng, tính toán. Ngài truyền chúng ta hãy ngồi xuống lượng định sức lực xem có chịu đựng nổi cái giá Ngài đòi hỏi không, giống như ông vua cân đo sức mạnh của mình trước khi giao chiến. Theo Chúa không phải là chuyện liên doanh hời hợt. Nó đòi hỏi dấn thân thực sự và trọn vẹn bằng bất cứ giá nào, ngay cả cái chết. Và chính Ngài đã thực hiện như vậy đối với đòi hỏi của Thiên Chúa Cha.

Có nhiều tín hữu suy diễn rằng đòi hỏi ấy dành cho số ít tuyển chọn, các tu sĩ, linh mục, giám mục, các học giả, chuyên viên, … Quả là một sai lầm. Phúc âm hôm nay nói gì: “Đức Giêsu quay lại nói với đám đông”. Vậy thì đâu phải với số ít tuyển chọn hay với các tông đồ, môn đệ. Tất cả những ai muốn theo Ngài thì phải thực hiện như vậy, không có luật trừ. Luật trừ là của những ai lừng chừng.

Nhưng làm thế nào mà thực hành? Câu truyện sau đây cống hiến cho chúng ta vài suy nghĩ: một đôi vợ chồng gặp khó khăn về hôn nhân. Họ đưa nhau đến một vị giáo sư tâm lý học để xin ý kiến. Vị giáo sư chẳng đưa ra lời khuyên nào cả, chỉ đơn giản bảo họ bỏ hết mọi công việc, ngồi nói chuyện với nhau 24/24, không ti vi, không radio, không báo chí, thậm chí không chăm sóc con cái. Người chồng là một luật gia liền phản đối: “Làm sao chúng tôi có thời giờ làm như vậy? Chúng tôi bận bịu tối ngày”. Nhà tâm lý trả lời: “Đó là vấn đề của vợ chồng anh, chúng ta có thời giờ để làm những công việc quan trọng. Nhưng có một việc quan trọng nhất trong cuộc sống hôn nhân là tình thân mật mà anh chị không có thời giờ thì trục trặc tình cảm hôn nân là phải”. Câu truyện này dạy chúng ta bài học, nếu yêu mến Chúa thực sự thì chúng ta có đủ khả năng và thời gian đáp ứng đòi hỏi của Chúa. Khả năng ấy xét cho cùng không phải của chúng ta mà từ Chúa Thánh Thần. Bài đọc 1 nói rõ điều này: “Ý định của Đức Giêsu nào ai biết được nếu từ chốn cao vời chính Ngài chẳng ban đức khôn ngoan, chẳng gời Thần Khí Thánh và nhờ đức khôn ngoan mà loài người được ơn cứu độ”. Vậy nên lỗi thuộc về chúng ta. Không dám toàn lực dấn thân do tính toán của xác thịt.

Thoạt nghe lời tuyên bố của Đức Giêsu quả là chói tai, ngược đời vì chúng ta sống với giới luật thứ tư: yêu mến và kính trọng cha mẹ, gia đình, tổ quốc mình. Chính Đức Giêsu cũng đã chu toàn bổn phận ấy đối với Đức Mẹ và thánh Giuse, sau này khi rao giảng, Ngài cũng chỉ rao giảng và làm gương về lòng yêu mến. Nhưng việc phụng sự Thiên Chúa là tuyệt đối. Không có ưu tiên nào được phép lấn át. Mọi sự khác chỉ đứng bậc thứ hai, kể cả gia đình, ruột thịt. Khi phải lựa chọn thì Thiên Chúa đứng hàng đầu, dù phải hy sinh sự sống, như các thánh tử đạo vậy. Điều này hợp lý kẻo người ta “biện minh” nọ kia mà gạt Thiên Chúa ra ngoài. Vì Thiên Chúa là ông chủ chính yếu của muôn loài muôn vật. Có toàn quyền đòi hỏi mọi thụ tạo phải phục vụ. Nên tuyên bố của Chúa Giêsu không phải là chói tai. Chẳng lẽ linh mục, tu sĩ thuộc loại này?

Hơn nữa, việc lựa chọn và phụng sự Ngài không phải là một lần hay có thời hạn. Ơn gọi người Kitô hữu là hằng ngày, toàn thời gian và vĩnh viễn. Nhờ ơn Thánh Thần khởi hứng, chúng ta đổi mới tiếng xin vâng liên tục để sẵn sàng theo Ngài trên con đường đi lên Giêrusalem. Phúc âm hôm nay chẳng cho phép ai có thái độ tự mãn, hoặc nói với Chúa: “Thưa Ngài, tôi đã làm hết mọi sự Ngài đòi hỏi”. Vì không ai có thể tố cáo Thiên Chúa không giữ lời hứa, hoặc cho chúng ta ăn bánh vẽ khi chúng ta chu toàn ơn gọi theo Ngài. Ngược lại, phần thưởng của Ngài luôn gấp bội. Không những hạnh phúc thiên đàng sau này, mà còn những ân huệ đặc biệt ngay trong cuộc sống dương gian: được làm bạn hữu với Thiên Chúa và con cái Nước Trời. Mặc dù bị thế gian ghét bỏ, bạn hữu chê cười, thù địch chống đối, địa ngục hành hạ, nhưng Thần Khí Thiên Chúa sẽ hướng dẫn chúng ta trên con đường làm tôi Chúa. Điều nay không phải là lý thuyết suông. Lịch sử đã chứng minh và sách Khôn Ngoan hôm nay chỉ rõ: “Nhờ khôn ngoan của Đức Chúa mà chúng ta được cứu độ”.

Tôi không nghĩ rằng mọi linh hồn phải lột bỏ tiền bạc, tài sản mà sống cuộc đời lang thang theo Chúa. Nhiều linh hồn vĩ đại đã làm được như vậy. Nhưng đa phần còn nhiều trách nhiệm phải làm để dương thế này có thể tồn tại. Đó là mặt khác thi hành ơn gọi Kitô hữu. Và chúng ta có thể vun đắp cho mình thái độ trẻ nhỏ làm những bước chập chững trên con đường lên Giêrusalem như Chúa chỉ bảo. Nghĩa là chúng ta chẳng có thể có hết mọi sự trong cùng một lúc. Chúng ta phải làm một chọn lựa cho chính xác. Chúng ta chẳng thể thanh sạch trong bí tích Thanh Tẩy, mặc lấy Đức Kitô rồi chiếm hữu hết mọi sự mình muốn có trước nhu cầu cấp thiết của kẻ khác, trước thế giới nghèo khó và bần cùng về hết mọi phương diện.

Hôm nay có thể là ngày chúng ta phải quyết định: một két đầy vàng bạc hay một gia đình cần trợ giúp? Một hầm đầy rượu ngon hay một cô nhi viện cần tài trợ? Một tủ đầy sách vở thông thái hay một lớp học tình thương? Một phòng đầy tiện nghi tân thời hay một nếp sống nghèo khó, đơn sơ, thanh đạm? Thật là một lựa chọn rất khó, tuy rằng hằng ngày chúng ta vẫn hô hào từ bỏ vì Nước trời. Chỉ có Thánh Linh của bí tích Thánh Thể mới đủ khả năng soi sáng chúng ta giữ được cân bằng và thánh thiện trong quyết định. Vì thường xảy ra rằng khi sốt sáng chúng ta làm những dự định tốt, nhưng lúc khác lại dùng phương hướng biện minh cho dục vọng của mình. Rồi đâu lại hòan đấy, vũ như cẩn, vẫn như cũ, sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy.

Đó là tình huống phổ thông của các tín hữu. Nó khiến chúng ta chẳng tiến bộ chi trong cuộc sống siêu nhiên. Nhưng vẫn tự hào làm môn đệ Chúa và không ai được quyền phê bình tước hiệu này. Nếu như chúng ta thay đổi, thì chắc chắn thế giới này đã đổi thay từ lâu. Không còn chiến tranh, bóc lột, hận thù, áp bức tràn lan. Điều chi xảy ra nếu chúng ta thực sự chọn Đức Kitô và kiên vững trong đường lối Ngài? Câu trả lời là gia đình mới, tương quan mới: “ mẹ tôi và anh em tôi, chính là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21). Dĩ nhiên, gia đình này gồm nhiều lọai người khác nhau, nhiều trình độ học vấn, kinh tế, văn hóa khác nhau. Nhưng chỉ có một tâm trí và ý hướng duy nhất: lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa. Liệu mỗi thánh lễ diễn ra, chúng ta đã trở nên một gia đình như thế? Lý thuyết là vậy, nhưng thực hành thì không phải. Vậy chúng ta nên chất vấn lương tâm mỗi ngày, nhất là chủ tế, và cố gắng sửa chữa những thiếu sót, để gia đình Thánh Thể mỗi ngày một hòan thiện hơn. Nếu không cuộc hội họp trở thành vô ích. Xin Chúa Kitô Thánh Thể mà mỗi người rước lấy hằng ngày giúp chúng ta.

Vì làm thế nào chúng ta vươn tới người khác và hợp nhất? Chỉ có thể là nhờ sức mạnh của Thần Khí Đức Kitô! Làm thế nào chúng ta từ bỏ được vị kỷ, tham lam nếu không có tinh thần của Đức Giêsu thấm nhập vào tâm trí mỗi người? Làm thế nào chúng ta vác nổi tính tình, đam mê của kẻ khác, nếu không ghé vai đỡ lấy thập gia Đức Kitô? Làm thế nào chúng ta có lòng khiêm tốn và hiền lành thực sư nếu không học trong trường lớp của Thầy Chí Thánh? Tất cả đều đòi hỏi ơn Chúa, tự thân không làm được.

Tác giả Philip Toynbee nhận xét: “Những ai cố gắng sống cuộc đời tín hữu hôm nay không phải đối diện với tử đạo, thù nghịch, khinh chê, lọai trừ mà là dửng dưng chết người của anh em, bạn bè, thân thích, người cùng xứ, cùng dòng, cùng đòan thể, và từng lúc lãnh nhận những trận cười mỉa mai, chế giễu!”. Chẳng hiểu người ta rao giảng nội dung bác ái nào? Chắc chắn không phải của Đức Kitô.

Xin Chúa cho chúng ta đủ can đảm thực hành lời Đức Giêsu hôm nay, từ bỏ mọi sự và chỉ còn biết chọn Thiên Chúa là ưu tiên tuyệt đối nhu thánh Phaolô đề nghị: tôi chẳng muốn biết điều chi khác nữa, ngòai Đức Giêsu Kitô và là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Amen. 


Giuse Lê Xuân Hiệp op

Không Sống Từ Bỏ,
Không Đáng Làm Môn Đệ Chúa
(Lc 14, 26).

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa muốn ai theo Ngài phải chấp nhận từ bỏ. Từ bỏ những điều xấu, cũng có những điều tốt phải từ bỏ, để chọn điều tốt hơn. Chúng con đang sống trong một thế giới đầy rẫy những cám dỗ, con người yếu đuối khó vượt qua được. Có những kẻ chỉ biết sống hưởng thụ mà không biết chia sẻ cho những người nghèo khổ đang sống chung quanh mình. Có những tật xấu mà không dám từ bỏ như ma tuý, rượu chè, truỵ lạc…

Từ bỏ thường làm cho người ta sợ và tiếc nuối, cuộc sống văn minh càng làm cho người ta có nhiều lựa chọn, con người chỉ biết chọn cái tầm thường mà không biết chọn cái cao cả ; chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền ; chọn lợi ích cá nhân hơn là cho cộng đoàn. Đứng trước những thử thách, những cám dỗ trong xã hội hôm nay, chúng con khó lựa chọn những gì hữu ích lâu dài, nhưng chỉ biết sống hưởng thụ và nuông chiều thân xác là cuộc sống tạm thời.

Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay chúng con thấy Chúa luôn nhắc nhở : “thì không thể làm môn đệ Tôi được”. Kitô hữu là những người theo Chúa, nhưng để tiếp tục làm môn đệ của Ngài, chúng con cần phải đặt Ngài lên trên mọi giá trị khác. Mỗi người lớn lên nhờ chọn lựa và từ bỏ, trung tâm điểm là Chúa Giêsu, con Thiên Chúa. Mọi giá trị đều trở nên tương đối trước Đấng Tuyệt đối. Tiền tài, của cải là những giá trị vật chất ; cha mẹ, vợ con, gia đình là những giá trị tinh thần. Nhưng Chúa muốn ai theo Chúa phải từ bỏ để tuân theo quyền lợi của Ngài, đặt quyền lợi của Ngài trên hết.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, sống cho Chúa thật là điều khó. Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho chúng con. Chúa muốn chúng con phải cho Chúa tất cả, để chúng con chỉ thực sự tựa nương vào một mình Chúa mà thôi. Lạy Chúa, con người luôn có khuynh hướng muốn khư khư giữ lấy những gì mình đã có, và luôn muốn chất đầy thêm cho mình mọi thứ, càng nhiều càng tốt, để dựa dẫm vào đó mà sống cách an thân. Nhưng càng chất đầy thì càng nặng gánh, cuộc sống càng trở nên cồng kềnh, khó lòng mà mà xoay sở để tiến bước. Xin cho chúng con dám từ bỏ chính mình, khỏi những toan tính ích kỷ, xin cho chúng con can đảm hành động theo những đòi hỏi của Chúa, theo Chúa vô điều kiện. Vì chính Ngài đã từ bỏ chốn cao sang để sinh xuống nơi nghèo hèn, chịu khổ hình và chịu treo trên thập giá vì tội lỗi chúng con.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Xin cho chúng con biết dấn thân, can đảm bước vào những gian nan, thử thách, có tinh thần quyết tâm mãnh liệt và dứt khoát, từ bỏ để đi theo, liều mất để tìm thấy. Không phải đi theo tay trắng nhưng là vác thập giá mà đi theo Chúa. Xin cho chúng con biết từ bỏ những gì dính bén ở bên ngoài con người như: từ bỏ địa vị, của cải, đam mê và danh tiếng, từ bỏ những gì thuộc về mình và “Thà mất một tay mà được vào cõi sống còn hơn là mất mạng. Mất một chân đi chậm mà chắc còn hơn cả hai chân đi lẹ nhưng trật đường. Thà mất một mắt mà nhìn chính xác còn hơn có hai mắt nhìn sai lối” (Xc Mc 9).

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, điều kiện trước tiên trong hành trình đi theo Chúa là trút bỏ, rời bỏ, cởi bỏ tất cả những gì không cần thiết để cho tâm hồn mình được thanh thoát nhẹ nhàng. Từ bỏ những cái phụ thuộc để có thể đón nhận những cái chính yếu; từ bỏ những cái nhỏ nhen để được những cái lớn lao; từ bỏ những cái cũ để đổi lấy những cái mới. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con được sức mạnh và lòng can đảm để yêu mến Chúa trên hết mọi sự, để kính trọng quyền lợi của Chúa trong đời sống chúng con, để rồi từ đó chúng con mới có thể kính trọng những quyền lợi của những người xung quanh. Xin Chúa gìn giữ chúng con trong tình thương đối với Chúa và trong đức tin mà chúng con hằng tuyên xưng. Amen./.

 
Đỗ Lực op

CUỘC XUẤT HÀNH MỚI
(Lc 14:25-33)

Theo Tin Mừng Luca, chúng ta đồng hành với Ðức Kitô về Giêrusalem. Ðó là lúc Chúa hướng tới cuộc Khổ nạn và mầu nhiệm Vượt qua, tới cuộc “vượt qua” như đã nói trong trình thuật Hiển Dung : Ðức Kitô biến hình “đàm đạo với ông Môsê và Êlia về cuộc xuất hành chắc chắn sắp xảy ra tại Giêrusalem.” (x. Mt 17:1-8; Mc 9:2-8)

Chính trên chặng đường này, Ðức Giêsu đưa ra những lời khuyên rõ ràng cho những ai muốn theo Người : “Nếu ai muốn theo tôi ...” (Lc 14:26-27) Những lời Chúa nói tuần này thực khó nghe ! Ðó là những lời khiến chúng ta phải “xuất hành,” nghĩa là phải dứt bỏ thế gian để được giải thoát và sống tự do, theo kiểu xuất hành khỏi Ai cập và thoát khỏi ách nô lệ xưa.

Vậy đâu là những lời Ðức Giêsu khuyên những người muốn theo Người ?

LÊN ÐƯỜNG

Chắc chắn khi lên đường trốn khỏi Ai cập, dân Chúa đã phải bỏ lại tất cả sự nghiệp, của cải, nhà cửa, có khi cả người thân lại đằng sau. Nếu không nhẹ gánh, họ không thể lên đường nhắm thẳng tới Ðất Hứa. Muốn theo Ðức Kitô, người môn đệ cũng phải làm một cuộc xuất hành tương tự. Trước hết, họ phải dứt bỏ những mối liên hệ gia đình. Ðây là một cuộc dứt bỏ sâu xa nhất và khó khăn nhất. Cuộc dứt bỏ này không mang tính tiêu cực hay phủ nhận những giá trị căn bản của con người. Nhưng cuộc dứt bỏ này cần thiết như một khởi điểm giúp người môn đệ có thể hướng thẳng về Ðất Hứa. Không dứt bỏ gia đình, không thể tự do theo Chúa. Chỉ khi nào nhận ra Chúa là giá trị tuyệt đối, vượt trên mọi liên hệ gia đình, con người mới có thể hoàn toàn dồn hết tâm lực vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Quyết định làm môn đệ Chúa Kitô đòi hỏi một lựa chọn tuyệt đối, không khoan nhượng. Tin Mừng hôm nay mạnh mẽ nhắc lại điều đó. Ðề nghị của Chúa Giêsu không nhằm tách biệt những người thợ Nước Trời khỏi gia đình. Ðối với Ðức Giêsu, điều quan trọng là phải mở rộng tầm nhìn tới những chân trời rộng lớn hơn. Chính lúc yêu mến Chúa Kitô hơn cha mẹ, anh em, chúng ta có khả năng yêu mến họ một cách khác, yêu họ bằng một tình yêu vô vị lợi và sạch hết mọi dấu hiệu chiếm đoạt hay ích kỷ thường hay chi phối các mối liên hệ của chúng ta. Chọn Chúa Kitô là đáp trả lại lời mời gọi rất mạnh bạo, không cho ta trì hoãn một giây phút nào. Phải luôn cấp thiết đáp trả lại lời mời gọi của Tin Mừng. Trì hoãn chỉ xoi mòn hay làm hư con người, những khát vọng, đam mê, ơn gọi của mình.

Gia đình vẫn chưa phải là giá trị lớn nhất người môn đệ phải từ bỏ. Giá trị lớn nhất có lẽ là chính cái tôi của mình. Có thể tất cả mọi sự đều trở thành vô nghĩa trước cái tôi. Bởi thế, Chúa mới đòi hỏi gắt gao : “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14:27) “Thập giá mình” lộ diện khi búa rìu dư luận xối xả bổ xuống đầu chúng ta. Một sớm một chiều tất cả thanh danh có thể tan ra mây khói. Làm sao chịu đựng nổi khi phải chịu “xỉ nhục” hay mất hết tiếng tăm vì Ðức Kitô, mà “không hổ thẹn vì Người” ? Sống giữa xã hội Hồi giáo hay Âu Mỹ đang tục hóa, các Kitô hữu can đảm chừng nào mới có thể hy sinh theo Ðức Kitô ! Theo thánh Ghêgôriô, cứu cánh đời người là “làm cho mình nên giống Thiên Chúa.” Muốn thế, cần phải có “một cuộc hành trình lâu dài, một cam kết kiên định. Nhờ đó, tín hữu chiến đấu không ngừng để thực hành các nhân đức và đạt đến ân sủng lớn lao hơn. Ðó là một tiến trình “Thiên Chúa liên lỉ mở rộng những khả năng cho linh hồn.” ÐGH Bênêđictô nói, thánh Grêgôriô khuyên dạy các môn đệ noi gương Ðức Kitô “hình ảnh tuyệt hảo của Chúa Cha, là mẫu điển hình và là thày chúng ta.” [i] Khi tâm hồn có những khả năng vô giới hạn, thì cái tôi của mình không có lý do gì ngừng lại để tự mãn với chính mình.

Trong cuộc đời thường, ai không cần của cải để sống ? Nhưng ở đây, Chúa đòi hỏi người môn đệ phải dứt khoát quyết liệt hơn, vì về một phương diện nào đó, của cải cản trở con đường loan báo Tin Mừng. Làm sao dồn tất cả chí thú vào của cải con người còn có thể gắn bó với Ðức Kitô ? Làm sao đã coi tất cả của cải là phương tiện duy nhất bảo đảm cuộc sống, con người lại có thể hoàn toàn phó thác cho Chúa Kitô để trở thành môn đệ đích thực của Người ? Nếu Ðức Kitô là tất cả, người ta không thể sở hữu hay chiếm hữu tất cả mà vẫn hướng về Người. Thực tế, có rất nhiều người đã hy sinh gia đình và bản thân, nhưng lại không thể bỏ của cải. Trái lại, họ còn sẵn sàng dùng mọi mưu kế lừa gạt và trù dập anh em để bước lên đài danh vọng. Chưa dứt khoát với của cải, làm sao có thể theo Chúa Kitô đi giải thoát nhân loại ?

Muốn theo Ðức Kitô, cần phải biết Chúa dẫn mình tới đâu và phải có những điều kiện nào. Không từ bỏ tất cả, cuối cùng con đường sẽ dẫn tới ngõ cụt hay luẩn quẩn mãi với cái tôi của mình. Cuối cùng, nhìn lại chẳng thấy Chúa đâu, chỉ thấy mình mà thôi ! Bởi thế, phải tính toán thật kỹ, y như xây nhà và đánh trận vậy ! Xây nhà hay đánh trận, cả hai đều cần thiết cho cuộc sống. Cả hai đều cần có những tính toán rất cẩn thận. Nếu không, sẽ ảnh hưởng tới mọi người, từ trong gia đình đến ngoài xã hội.

Công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa còn lớn lao hơn. Một tay phải xây dựng. Một tay phải lo chiến đấu. Bởi thế, người môn đệ càng cần đến sự khôn ngoan Thiên Chúa. Sự khôn ngoan đó chính là Thánh Linh do Ðức Kitô trao ban. Chỉ Thánh Linh mới có thể ban cho chúng ta sự khôn ngoan sáng suốt và sức mạnh chu toàn sứ vụ. Thực thế, Thiên Chúa quan phòng để “con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ."(Kn 9:18) Nếu không, con người sẽ lạc hướng và đánh mất cứu cánh cuộc đời.

TỰ DO THEO CHÚA

Nhờ Thánh Linh, sau khi từ bỏ mọi sự, người môn đệ mới có thể tự do bay trên đường theo Chúa. Có tự do, con người mới có thể hy sinh đáp lại ơn gọi của Chúa một cách tự nguyện và vui tươi. Tự do là một hồng ân cao quý nhất của con người. Chính Tin Mừng đem lại tự do và ý nghĩa cho cuộc sống. Chính vì muốn bảo vệ tuyệt đối giá trị cao cả đó, Ðức Giêsu đã có những lời đinh tai nhức óc cho các môn đệ : “Nếu không ghét cha mẹ, vợ con, của cải và cả mạng sống, bạn không thể làm môn đệ tôi.” (Lc 14:26) Lý do, vì những thực tại này dễ dàng cầm chân môn đệ.

Giữa hoàn cảnh không ai thèm đếm xỉa hay vi phạm trật tự kinh tế, xã hội, pháp lý, chính trị, người môn đệ phải phấn đấu tới mức nào mới đủ khả năng giải thoát đồng loại ? “Những hoàn cảnh mù quáng và bất công đó làm tổn thương đời sống đạo đức và làm cho những người khỏe mạnh cũng như đau yếu sa chước cám dỗ mà phạm tội nghịch đức bác ái. Khi sống xa luật đạo đức, con người xâm phạm tự do của mình, tự nhốt chính mình, phá vỡ tình đồng loại và chống lại chân lý Thiên Chúa.”[ii] Tất cả đều do bất công.

Không gì phi nhân và trái đạo đức bằng những hành vi bất công xã hội. Bởi đó, “đẩy xa bất công là cổ vũ tự do và phẩm giá con người : tuy nhiên, “việc phải làm trước tiên là kêu gọi cá nhân vận dụng khả năng tinh thần và đạo đức cũng như cần liên tục sám hối nội tâm, nếu người ta muốn thực hiện những thay đổi về kinh tế và xã hội để thực sự phục vụ con người.”[iii] Nói khác, tất cả mọi cải tổ đều bắt đầu từ nội tâm. Không xây trên nền tảng đạo đức, mọi tiến bộ đều trở thành vô nghĩa và vô ích.

Cái gì bảo đảm những tiến bộ hôm nay đem lại lợi ích sâu xa, thực tiễn và lâu dài cho nhân loại ? Không theo hướng đạo đức, các tiến bộ khoa học chỉ nô lệ hóa và trở thành mối nguy cho nhân loại. Không phải nhân loại thiếu kỹ thuật hay nhân sự, nhưng thiếu chính linh hồn cho nền văn hóa và văn minh nhân loại hôm nay. Không đạo đức, tiến bộ đi đến chỗ phi nhân, cuồng loạn. Xã hội gồm toàn những con người cô đơn, bệnh hoạn. Bởi thế, “trong thời đại toàn cầu hóa, muốn ổn thỏa thống nhất toàn bộ, con người phải bảo vệ nhân quyền. ‘Về phương diện này, không những hình ảnh chưa được hoàn chỉnh về một công quyền quốc tế hiệu lực để phục vụ con người, nhưng thực tế còn nhiều do dự trong cộng đồng quốc tế về bổn phận phải tôn trọng và thực thi đầy đủ nhân quyền. Chúng ta đang chứng kiến một khoảng cách đáng lo ngại giữa một loạt những ‘quyền' mới được cổ vũ trong các xã hội tân tiến – hệ quả sự phồn thịnh và kỹ thuật mới – và các quyền làm người cơ bản còn chưa đạt được trong hoàn cảnh kém phát triển.’”[iv] Nhân loại đang nỗ lực xây dựng một tòa nhà chọc trời, nhưng không lo chuẩn bị một ông chủ xứng đáng cho ngôi nhà đó. Kết quả rỗng tuếch .

Vì quá chú tâm làm giàu về mọi phương diện, con người quên mất hướng sống cần thiết cho cuộc đời. Ngược lại, vì muốn trang bị cho các môn đệ một khả năng giải thoát nhân loại, Chúa Giêsu kêu gọi từ bỏ mọi sự theo Người. Nếu không, lịch sử nhân loại sẽ đi đến chỗ bế tắc. Muốn tạo lập ý nghĩa và giá trị đích thực cho cuộc sống, con người phải tìm đến Người. Thực vậy, “Chúa Giêsu là nguyên mẫu và nền tảng của nhân loại mới. Trong Người, chúng ta thấy sung mãn “hình ảnh Thiên Chúa.” (2 Cr 4:4) Thiên Chúa đã làm sáng tỏ trên cây thập giá của Ðức Kitô tất cả chứng từ dứt khoát của tình yêu.

QUÊ HƯƠNG CHẮP CÁNH

Ngày nay quá nhiều chợ trời đang họp trên mạng. Giữa cảnh bát nháo đó, Tin Mừng rao giảng cho ai ? Có ai còn nhớ Chúa Kitô không ?! Người ta nhằm đích danh từng người anh em để hạ nhục và bôi nhọ. Làm như thể chỉ mình mới là người công chính, còn những kẻ khác đều phải ăn năn sám hối, vì không cùng lập trường với mình.

Nếu là môn đệ đích thực của Chúa Kitô, chúng ta phải đấm ngực mình trước tiên. Kêu gọi người khác sám hối theo chiều hướng mình, chứ chắc gì theo Chúa Kitô, người ta đã vô tình làm hại đến danh dự Giáo Hội và sỉ nhục thánh danh Chúa Giêsu. Người kêu gọi chúng ta theo Người, chứ không theo bất cứ ai, dù người đó có quyền chức cao sang và thánh thiện tới mấy.

Muốn theo Chúa Kitô, phải hoạt động tranh đấu cho nhân quyền. Thực vậy, “nơi Người lịch sử giữa Thiên Chúa và con người được hoàn thành. Nói khác, Ðức Giêsu bày tỏ rõ ràng và dứt khoát đường lối Thiên Chúa hành động cho con người, cả nam lẫn nữ,”[v] có đủ tư cách làm người. Thiên Chúa lo lắng cho từng người.

Trước tình trạng đất nước hôm nay, những người con của Mẹ Việt nam phải làm gì ? Tới nay, tiếng Chúa vẫn vang lên : “Ai muốn theo tôi . . .”

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết từ bỏ mọi sự để tự do theo Chúa trên mọi nẻo đường. Amen.

 


[i] CWNews.com 05.09.

[ii] Giáo Lý Công Giáo, 1740

[iii] Hội Ðồng Giáo Lý Ðức tin, Giáo Huấn Libertatis Conscientia, 75: AAS 79, trích lại từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 450.

[iv] Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 365.

[v] Ibid, số 28.

 


Lm. Jude Siciliano, OP

HÃY TIẾN ĐẾN
ĐỂ LÃNH NHẬN LƯƠNG THỰC KHÔN NGOAN

Luca 14: 25-33

Cách đây ít năm, trong lúc đang tiếp chuyện, tôi bỗng chưng hửng trước lời bình của một bạn trẻ mới 25 tuổi đầu. Cậu ta tự giới thiệu về mình như một “thanh niên kiểu mẫu của lứa tuổi 25”, đã có bằng cử nhân trong tay và một công việc tươm tất. Dù xét về phía cá nhân, cậu ta chẳng gặp phải vấn đề gì gọi là khủng hoảng, ấy thế mà cậu lại đi bàn chuyện dàn xếp những nỗi khuất tất của cuộc sống nhân sinh, đại thể như về công ăn việc làm, về những mối tương giao với bậc sinh thành, bằng hữu, cũng như với cô bạn đầu gối tay ấp của cậu. Tắt một lời, cậu nói: “Con hãy còn trẻ, thế nhưng lại hay bi quan yếm thế, ước chi con có thể chọn lựa lại từ lúc đầu thai. Đời rõ là bể khổ !”.

Một người trẻ mới sống có ngần ấy năm trong đời mà đã thốt lên như vậy đấy! Hẳn cậu đã từng phạm sai lầm và ra như những điều đó đã dạy khôn cậu. Cậu đang lớn lên cùng với sự khôn ngoan về cuộc đời, tức là những điều mà tác giả Sách Khôn Ngoan gọi là, “những gì thuộc hạ giới.” Lèo lái cuộc đời thật khó, vì đôi khi chẳng biết hướng nào là đúng. Một trong những vấn đề của kiếp nhân sinh, là làm thế nào để chúng ta có thể học hiểu và bước đi trong đường lối Chúa?

Trăm năm trước Đức Kitô giáng sinh, tác giả sách Khôn Ngoan đã ngộ ra điều này: “Nào có ai biết được ý định của Thiên Chúa? Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi? Loài người chúng ta vốn yếu nhược, tầm nhìn có hạn và các chọn lựa của chúng ta lại bị chi phối bởi những áp lực từ bên trong cũng như bên ngoài, giữa ý thức và vô thức.

Theo Kinh Thánh, sách Khôn Ngoan luôn được gán cho Sa-lô-môn. Ông đã sống trước khi sách ra đời những 10 thế kỷ, ấy thế nhưng sách Khôn ngoan vẫn kín múc và phô bày tinh thần cũng như mức độ ảnh hưởng của ông. Trong khi dâng lời cầu nguyện, Sa-lô-môn đã được Thiên Chúa hứa ban bất cứ điều gì ông muốn. Ông đã chọn sự khôn ngoan để nâng đỡ ông trong việc thực hiện những quyết định trong đời sống thực tiễn mỗi ngày. (“Xin ban cho tôi tớ Chúa đây, một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái; chẳng vậy, nào ai có đủ sức cai trị dân Chúa, một dân quan trọng như thế?” [1V 3,9]). Nếu người bạn trẻ của tôi có thể kết luận rằng, “Đời là bể khổ!” và nhận ra việc thực hiện những quyết định đúng đắn là điều hệ trọng giữa lúc còn thanh xuân như vậy, thì anh chị em cứ thử nghĩ xem, trong vai trò là một lãnh đạo được Thiên Chúa tấn phong, Sa-lô-môn cần đến sự khôn ngoan biết dường nào, sự khôn ngoan mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể trao ban.

Tác giả sách Khôn Ngoan đã sống giữa một thế giới thấm đẫm văn hóa Hy-lạp, một xã hội được các triết gia và luân lý gia Hy-lạp hướng đạo. Người Hy-lạp yêu mến việc truy tầm sự khôn ngoan, họ nổi danh nhờ các triết gia, hệ thống thư viện, phô diễn nghệ thuật và tri thức khoa học của họ… Họ đã tin rằng, họ có thể đạt được sự khôn ngoan bằng những nỗ lực tự thân. Tuy nhiên tác giả sách Khôn Ngoan và Đức Giêsu (đặc biệt trong Tin Mừng hôm nay) đã có ý định nói đến một kiểu khôn ngoan hoàn toàn khác biệt. Sự khôn ngoan ấy không phải do con người nỗ lực mà thành, nhưng hoàn toàn là do ân ban của Thiên Chúa. (“Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh?”).

Chúng ta sống trong một thế giới bị dẫn dắt bởi vô vàn các hình thái khôn ngoan thế tục đang thách thức sự khôn ngoan của sách thánh. Đấy chính là phông nền dành cho các bài đọc hôm nay. Xã hội của chúng ta không hứng thú với chuyện ấp ủ, tìm kiếm đường lối của Thiên Chúa như bài đọc một cho biết, hoặc cũng chẳng sẵn sàng dâng hiến (“từ bỏ mọi sự”) theo như những gì Đức Giêsu đã giải thích cặn kẽ cho những ai mong ước trở thành môn đệ của Người như trong bài Tin Mừng hôm nay.

Chúng ta vẫn đang lữ hành cùng với Đức Giêsu và những bạn hữu của Người hệt như tình trạng mà Lu-ca đã kể: “Khi ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu.” Ở thời điểm đó, có thể có rất đông dân chúng đang hiện diện với Người, thế nhưng khi Đức Giêsu càng tiến gần đến Giê-ru-sa-lem, và khi những nỗ lực của Người xem ra không còn dính bén với các toan tính kiếm tìm danh vọng của họ, thì càng có nhiều người bỏ đi. Tuy vậy, Đức Giêsu vẫn chờ đợi những ai đi theo người đến tận giây phút cuối cùng, tức là khi họ chứng kiến được điều sẽ xảy ra cho Người và cảm nghiệm được điều họ sẽ được mời gọi. Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người vẫn tiếp tục tỏ lộ những đòi hỏi dành cho những ai bước theo Người. Người muốn chúng ta từ bỏ những suy nghĩ đặt nền trên sự khôn ngoan của thế gian. Người muốn chúng ta được sống và hạnh phúc, biết đón nhận chính Người cũng như đường lối của Người là con đường đưa đến Thiên Chúa, và đưa đến những sự thật về chính chúng ta.

Người càng tiến gần đến Giê-ru-sa-lem, thì càng có nhiều người thuộc số đám đông đi theo sẽ tản hàng. Người vẫn khuyên nhủ họ: đừng đợi đến lúc sau này rồi mới chịu biến đổi theo những đòi hỏi thiết yếu của người môn đệ; khôn ngoan là chọn lựa ngay bây giờ, chọn lựa không dựa trên sự khôn ngoan phù phiếm theo thói thế gian, nhưng là trên sự khôn ngoan mà Thiên Chúa ban tặng. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là một hồng ân. Chúng ta có thể đón nhận và sống bằng sự khôn ấy không? Và sống bằng sự khôn ngoan ấy là sống như thế nào? Đức Giêsu trả lời cho chúng ta qua các việc làm và giáo huấn của Người.

Rõ ràng, Đức Giêsu không tiến cử cho chúng ta một đạo giáo tiện nghi thoải mái. Người cho chúng ta hay, cuộc đời của chúng ta được đóng ấn bằng thập giá. Điều ấy được bày tỏ qua cung cách Người đã sống cùng những gì Người chọn lựa.

Hai dụ ngôn Người gởi đến cho chúng ta hôm nay gợi ý rằng, đừng nên bước vào mối tương giao môn đệ một cách thất thường. Chúng ta không gia nhập một câu lạc bộ xã hội hoặc một tôn giáo lúc nào cũng nhắm đến chuyện dành thế thượng phong! Cũng chẳng phải tự dưng trở thành môn đệ của Đức Giêsu chỉ vì chúng ta đã được sinh ra trong một gia đình Kitô giáo. Suốt cuộc đời, Đức Giêsu đã cân nhắc, quyết định mỗi ngày về chuyện làm thế nào để đối phó với lề thói thế gian và các tín ngưỡng mang màu sắc tôn giáo thời bấy giờ. Người đòi chúng ta phải rập khuôn theo Người. Người cho chúng ta biết, hãy suy nghĩ cho đến cùng trước khi tận hiến cho Người. Rồi trong khi thực hiện, hãy trao hiến tất cả sức lực. 

Tuy nhiên, trong kiếp sống vắn vỏi này, ai trong chúng ta là người có thể khẳng định mình đã sống hết mình hết sức với ơn khôn ngoan ấy ? Đại đa số chúng ta vẫn đang trở nên người môn đệ qua tiến trình từng ngày; từng chút từng chút một, chúng ta cân nhắc các chọn lựa và hành động của mình thật cẩn thận. Tôi phải làm gì trong vị thế là người môn đệ của Đức Giêsu? Khi tôi hoang mang không biết làm thế nào giải gỡ được vấn nạn ấy, thì ấy là lúc tôi thực hiện điều Sa-lô-môn đã làm, là cầu xin sự khôn ngoan. Trên thực tế, nói đúng ra chúng ta phải cầu xin sự khôn ngoan mỗi ngày; cuộc sống luôn phức tạp và nào có ai biết được thách thức và chọn lựa mà mình sẽ phải đối diện trong ngày hôm nay. Điều làm nên cuộc sống không phải là điều tôi nắm trong tay hoặc chỗ đứng của tôi trong gia đình và xã hội, nhưng là Đức Giêsu. Chính vì thế, mọi thứ phải được đặt để dưới chân Người.

Trong thánh lễ hôm nay, cùng với bánh và rượu, chúng ta có thể đặt lên bàn thờ những ước nguyện của chúng ta, để cuộc đời của mỗi người được Đức Giêsu biến đổi. Cuộc đời của chúng ta cũng y như sự dang dở của bánh và rượu. Thế nhưng, vị chủ tế sẽ nhân danh chúng ta rồi đặt tay trên của lễ và trên cả chúng ta nữa để nguyện rằng: “xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này để biến thành Mình và Máu Đức Kitô.” Đấy là điều mà chúng ta cầu xin cho chính chúng ta và cho cộng đoàn đức tin, tức là được trở nên như Đức Kitô và sẵn sàng có thể vác lấy thập giá mà bước theo Người.

Bài đọc hai hôm nay cho chúng ta một cái nhìn rất riêng về cuộc đời của thánh Phaolô. Đây là Chúa Nhật duy nhất chúng ta được nghe trích đoạn từ thư Phi-lê-môn (thư Phi-lê-mon chỉ xuất hiện một lần theo lịch phụng vụ lời Chúa trong thánh lễ). Điều ấy như thể đang không trèo lên gác nhà để lục tìm chiếc rương cũ có lưu lại bức thư mà ông bà gửi lại cho con cháu. Tuy nhiên, trong các bức thư như thế, tình cảm và mối quan tâm mà ông bà để lại cho đám tử tôn thật tỏ tường. Bức thư vắn tắt của thánh Phaolô gởi cho Phi-lê-mon rất giống với kiểu bức thư ấy. Thánh Phaolô gọi Ô-nê-xi-mô là “đứa con” của ngài với giọng văn như có ý nói, “lão già” (như ngài tự nhận) đã yêu mến Ô-nê-xi-mô đến nhường nào.

Các thư của thánh Phaolô thường được gởi đến các cộng đoàn, phần lớn là các giáo hội ngài đã giúp thiết lập. Thư gởi Phi-lê-mon là bức thư cá nhân duy nhất (và do chính tay ngài viết) mà chúng ta có được. Ngài đã thảo thư này trong tù quãng năm 25 C.N. Phi-lê-môn vốn là một người đạo theo ở Cô-lô-xê và Ô-nê-xi-mô là nô lệ của ông ta, người đã lấy trộm vài thứ có giá của gia đình chủ rồi bỏ trốn. Chắc hẳn Ô-nê-xi-mô đã gặp thánh Phaolô tại Ê-phê-xô rồi trở thành môn đệ Đức Kitô và ngày càng trở nên thân thiết với thánh nhân, người đã xem ông như “ruột thịt”. Ra như Ô-nê-xi-mô đã trở nên rất hữu dụng cho thánh Phaolô trong khi ngài bị giam cầm, tuy nhiên ngài đã gởi trả anh cho Phi-lê-môn.

Mặc dù thánh Phaolô không đưa ra một giáo huấn nào nhằm chống lại chế độ nô lệ, thế nhưng ngài đã khẩn nài Phi-lê-môn nhận lại Ô-nê-xi-mô, “không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến; đối với tôi đã vậy, phương chi đối với anh lại càng thân mến hơn biết mấy, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa.” Thánh Phaolô tha thiết xin Phi-lê-môn bỏ đi mối tương quan chủ tớ vốn được chấp nhận trong văn hóa thời đó, để nhận lại Ô-nê-xi-mô trong một tương giao mới mẻ và triệt để hơn, tức là như anh em trong Đức Kitô. Điều Phi-lê-môn được yêu cầu phải làm cũng là điều Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta hôm nay, là “dứt bỏ” mọi sự sở hữu để bước theo Người, đặt Người trên mọi sự sở hữu.

Ai là người có thể khẳng định mình đã hoàn toàn theo Đức Kitô? Ngày hôm nay chúng ta không còn cùng nhau cử hành việc thờ phượng giống như hình thức thời các môn đệ tiên khởi, bởi lẽ chúng ta chạy hết chặng đường ấy và đã tiến ra bục nhận huy chương vàng. Thay vào đó, giờ đây chúng ta đang ở trong tình trạng đợi ngày hoàn tất, nghĩa là chấp nhận những điều liên quan đến việc chưa thành toàn trong quá trình trở nên người môn đệ. Chúng ta cần Đấng là chính sự Khôn Ngoan như thần lương cho cuộc lữ hành. Chúng ta cũng biết rất rõ, đời là bể khổ như anh bạn trẻ của tôi đã nói. Thế nhưng, chúng ta hãy tiến đến để lãnh nhận lương thực khôn ngoan hầu chúng ta có thể sáng suốt chọn lựa trong khi tiếp tục hành trình hồi hương về Giê-ru-sa-lem thiên quốc.  

Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em nhà học Đaminh chuyển ngữ)

 

Theo đức Giêsu, giá nào phải trả?

Kn 9,13-18; Tv 90; Plm 9-10.12-27; Lc 14,25-33

 

Kính thưa quý vị,

Một điều thật kỳ lạ, đó là không ai đứng dậy và bước ra khỏi nhà thờ khi nghe bài đọc Tin mừng ngày hôm nay. Có thể một số thanh thiếu niên ở đây đã bất đồng với cha mẹ hoặc anh chị em ruột của mình, sau khi nghe Đức Giêsu khuyên họ là hãy ghét cha mẹ và anh chị em mình. Với những người còn lại trong chúng ta đây, lời nói mở đầu của Đức Giêsu hẳn có vẻ là chướng tai gai mắt. Dù có thuận tai lắm đi nữa thì một số người ở đây có lẽ cũng chỉ biết nhún vai và nói với nhau rằng: “Tôi không dám làm theo đâu!”

Tuần trước, trong cuộc gặp gỡ tại nhà của một thủ lãnh nhóm Pharisêu với các bạn bè của ông này, Đức Giêsu đã nói ngay tại bàn ăn là đừng mời gia đình hay bạn bè đến dùng tiệc, nhưng thay vào đó “hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”. Vâng, chúng ta có thể miễn bắt bẻ Người vì lời giáo huấn mạnh mẽ ấy, xét cho cùng thì Đức Giêsu đang nói với người Pharisêu và các bạn hữu của Người. Nhưng ngày hôm nay, Đức Giêsu đang diễn thuyết trước đám đông là những kẻ đã đi theo Người. Với những người này, Đức Giêsu nói về việc “ghét” các thành viên trong gia đình. Người tiếp lời rằng: những ai theo Người phải từ bỏ hết những gì mình có. Thời nay, điều kiện đó không phải là cách tốt để gia tăng số lượng vào danh sách những người mộ mến và đệ tử của quý vị! Vậy, điều gì đang xảy ra ở đây?

Đức Giêsu là một người Xêmít (Semite) nói tiếng Aram. Một số người dịch từ “ghét” là “yêu ít hơn”. Lối dùng ngôn ngữ diễn tả điều gì đó trong những thái cực đối lập mạnh mẽ là cách thức làm cho một chủ điểm được nổi bật lên. Vì thế, liệu chúng ta có “hiểu được chủ điểm này không?” Dường như Đức Giêsu đang nói rằng, nếu chúng ta đón nhận lời mời gọi của Người và đi theo, thì chúng ta sẽ phải chịu nhiều tổn thất. Thậm chí là ta có thể bị gia đình và bạn bè từ chối. Những ai quy hướng về Đức Giêsu và những đường lối của Người thì sẽ phải chấp nhận quay lưng lại với gia đình. Nếu những người thân của chúng ta tán thành lối sống hay các giá trị trái ngược với Đức Giêsu, thì việc quy hướng về Đức Giêsu có vẻ như là “ghét” gia đình mình.

Trong thế giới Địa Trung Hải của Đức Giêsu, thành viên trong gia đình xác định chính danh tính của họ. Ai rời bỏ gia đình sẽ bị coi như là không tồn tại. Vì thế, ai chọn theo Đức Giêsu thì sẽ tách ly khỏi gia đình, đồng thời người đó đánh mất sự xác định danh tính của mình từ những thành viên trong gia tộc. Theo đó, ai chấp nhận lời mời gọi bước theo Đức Giêsu thì sẽ tự đưa mình vào một kiểu gia đình mới, gia đình của những người môn đệ, chứ không phải là những người thân thuộc theo huyết tộc. Điều này không có nghĩa là mọi Kitô hữu đều phải khăn gói lên đường rời xa gia đình, nhưng chỉ một số người có thể làm như thế mà thôi. Vậy, danh tính của họ sẽ như thế nào khi không còn gia đình nữa? Người đó sẽ có một danh tính mới cũng giống hệt như một Kitô hữu được chịu phép rửa tội vậy, khi ấy họ thuộc về một gia đình mới và được gọi bằng một họ tên mới, đó là: “Kitô hữu”.

Thánh Luca cho chúng ta biết rằng lúc đó Đức Giêsu đang nói với đám đông. Lúc này Đức Giêsu không nói những điều ấy với các môn đệ đã được kêu gọi đi theo Người. Thay vào đó, Người nói với những ai đang có ý định muốn đi theo Người. Trước đây đã có một người dự tính theo Đức Giêsu như thế và anh ta quả quyết rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo” (Lc 9,57). Đức Giêsu đã trả lời với người có vẻ đầy nhiệt tình đó bằng một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Một lời nhắc nhở đúng nghĩa về những gì sẽ xảy ra đối với những ai chọn theo Đấng “không có chỗ tựa đầu”. Cái giá mà các môn đệ phải chịu là bị tách rời khỏi thế giới và lối sống của họ trước đó. Đức Giêsu đòi hỏi một lòng trung thành tuyệt đối với Người. Bất cứ điều gì trong lòng mình, hay những gì mà ta vẫn yêu thích, những điều đó có thể gây ra sự rạn nứt lòng trung thành thì ta phải loại bỏ ra bên ngoài để bước theo Đức Giêsu.

Trong hai dụ ngôn nêu ra, Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc những giá phải trả cũng như đề ra những chiến lược để đi theo Người. Trong xã hội nông nghiệp, người ta sẽ xây dựng cây tháp để bảo vệ mùa màng hay vườn nho tránh khỏi thú vật hoặc kẻ trộm xâm phạm tới. Ở đây, dụ ngôn chiến tranh / hòa bình thay đổi gương mặt từ một người nông dân đến hình ảnh một vì vua đứng đầu quân đội. Hình ảnh xã hội đó thật hoàn hảo. Bất kể là người nông dân hay vua chúa, chúng ta cũng phải xem xét một cách cẩn thận nếu chúng ta muốn đáp trả những đòi hỏi của Đức Giêsu về vai trò làm môn đệ, đó là một sự đầu tư triệt để cho bản thân mình. Vậy, đâu là những tiềm lực của chúng ta và chúng ta sẵn sàng cống hiến bao nhiêu cho đầu tư, hoặc từ bỏ, để tiếp bước theo Người?

Phải chăng điều này không tương tự như kế hoạch người ta phải làm khi muốn đầu tư vào nền giáo dục đại học hoặc mua một căn nhà? Họ phải đặt ra câu hỏi: chúng ta cần có bao nhiêu tiền? Nếu mua một căn nhà thì liệu chúng ta có đủ khả năng để thanh toán thế chấp mà vẫn có đủ thực phẩm, bảo hiểm y tế, bảo trì, tiền mua xe,… Nếu tôi đi học ở trường đại học này thì liệu khoản vay nợ của tôi có khiến tôi phải chìm ngập trong nợ nần trong nhiều năm sau khi tôi đã tốt nghiệp hay không? Sau cùng tôi có nên đi học đại học chăng? Tôi muốn làm công việc gì bây giờ và trong tương lai gần sẽ như thế nào đây?

Đức Giêsu đã lấy những ví dụ minh họa từ chính cuộc sống của Người: tháp canh của người nông dân, một vì vua với quân đội của mình lâm vào trận chiến. Còn chúng ta, chúng ta sẽ lấy nhiều ví dụ khác nhau từ những thử thách của cuộc sống, nhưng ta vẫn hiểu được điểm nhấn của Đức Giêsu. Vậy, chúng ta đã cân nhắc lời Đức Kitô mời gọi chúng ta bước theo Người bao gồm những điều gì chưa? Liệu chúng ta có tính toán về các chi phí cá nhân khi việc đầu tư cho bản thân đòi buộc chăng? Chúng ta có sẵn sàng sử dụng sức mạnh và nguồn lực của mình để hoàn trọn những lời mình đã tuyên hứa với Đức Kitô hay không?

Thậm chí còn nhiều hơn thế nữa về điểm này, chúng ta đã nghe những thách thức thẳng thừng của Đức Giêsu: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Cái giá phải trả là thế đó! Phải sẵn sàng vác lấy thập giá, một phương tiện của hy sinh và cái chết; sẵn sàng chấp nhận đau thương và mất mát trong cuộc sống của mình để đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu ngõ hầu trở nên người môn đệ.

Ai trong chúng ta chưa một lần lỗi lầm, vấp ngã, hay thậm chí là thất vọng ê chề trong ơn gọi làm người môn đệ? Chúng ta đã chọn sự thoải mái hơn là sự hy sinh. Chúng ta đã từng nín lặng vào lúc phải lên tiếng. Chúng ta ưa thích sự giải trí hơn là học hỏi thêm về đức tin. Chúng ta đã ở ngoài rìa của cộng đoàn giáo xứ đang khi đúng ra ta phải dành thời gian và nguồn lực để xây dựng cộng đoàn ấy phát triển. Chúng ta lại để cho những người khác phục vụ mình trong những chức năng phụng vụ, thay vì ta phải tham gia trong vai trò là người thực thi tác vụ đọc sách, phục vụ, thừa tác viên trao Mình Thánh Chúa, ca viên, người tiếp tân.v.v… Liệu tôi có làm phương hại đến ơn gọi của tôi khi bước theo Đức Kitô và những hy sinh mà lời mời gọi ấy đòi hỏi hay không?

Xét cách này hay cách khác, chúng ta đã làm tổn thương với tư cách làm người môn đệ. Đó là lý do vì sao chúng ta bắt đầu Thánh lễ với nghi thức sám hối, trong đó chúng ta thừa nhận những sai lỗi của mình. Chúng ta có thể nói như ông Phêrô: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Song, điều quan trọng không phải là tội lỗi của chúng ta; mà quan trọng ở lòng thương xót của Thiên Chúa, như chúng ta hằng cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”. Chúng ta nỗ lực với hết sức bình sinh của mình, và khi chúng ta không thể, thay vì phải xấu hổ thẹn thùng, ta hãy hội họp với nhau như một cộng đoàn mà phó dâng tất cả với sự tin tưởng nơi lòng thương xót của Thiên Chúa.

Hôm nay, chúng ta nghe Đức Giêsu đưa ra ba yêu cầu cho chúng ta là các môn đệ của Người. Ta phải sẵn sàng chịu rủi ro trong mối quan hệ gia đình, thực hiện sự tự từ chối và sẵn lòng từ bỏ hết những gì mình có. Cái giá mà người môn đệ phải trả là rất đắt và không phải là những điều tình cờ ngẫu nhiên. Theo Đức Kitô không hề là một điều dễ dàng chút nào. Nhưng chúng ta không đơn độc một mình. Khi ta vấp ngã, Đức Kitô luôn ở bên cạnh sẵn sàng đáp ứng lời kêu cầu của chúng ta: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.

Cũng chẳng phải là chỉ một mình chúng ta đơn độc khi nỗ lực thực hiện những sự hy sinh lớn lao trong danh thánh Giêsu. Thay vào đó, (điều này đặc biệt đúng trong Tin mừng theo thánh Luca) Đức Giêsu ban tặng cho chúng ta Chúa Thánh Thần, Đấng luôn sẵn sàng hướng dẫn ta ngày càng nhiều để đáp trả trọn vẹn hơn với lời kêu gọi, mà mỗi người chúng ta đã lãnh nhận trong ngày chịu phép rửa tội rằng: “Hãy theo Ta”.