Năm C

 
 

Chúa Nhật XXII Thường Niên - Năm C

 Hc 3:17-18.20.28-29 ; Dt 12:18-19.22-24a ; Lc 14:1.7-14

 

An Phong op : Khiêm Tốn Là Nhận Ra Chính Mình

Lm Như Hạ op : Kẹt !

Fr. Jude Siciliano, op : Dự Tiệc

G. Nguyễn Cao Luật op : Những Bàn Tiệc

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Hạ Mình Xuống

Lm. Jude Siciliano, op : Hãy Sống Khiêm Tốn Trung Thực

Ý đẹp : Bàn Tiệc Thánh Thể

Tập Viện 2007 : “Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”

Đỗ Lực op : Chan Hòa Niềm Vui

Fr. Jude Siciliano, op : Khiêm Nhường và Phục vụ

Fr. Jude Siciliano, op: Hạ mình xuống như thế nào?


 

 
An Phong op

 Khiêm Tốn Là Nhận Ra Chính Mình
Lc 14:1.7-14

Tin mừng chúa nhật 22 thường niên C xoay quanh đề tài Ðức Giêsu phê phán những người Pharisêu về thói đạo đức giả, thích phô trương, thích được người ta trọng vọng. Hôm nay, ngay tại bàn ăn trong nhà của chính họ, Người cũng phê phán sự cao ngạo của họ bằng một dụ ngôn.

Nội dung dụ ngôn đó là : Nếu các thực khách tự chọn chỗ ngồi rốt hết, thì ông chủ sẽ mời họ lên chỗ nhất và ngược lại.

Những người Pharisêu là những người thích chọn chỗ nhất. Họ luôn tự đánh giá mình là hạnh kiểm loại "A". Trước mặt Thiên Chúa, họ kể lễ dài dòng những "thành tích" đạo đức của mình. Trước mặt người khác, họ coi thường và cho mình "quyền được hơn người khác".

Nhưng trong vương quốc của Thiên Chúa thì khác : trật tự hiện nay sẽ bị đảo lộn; những chỗ tốt nhất là do Thiên Chúa ban như một quà tặng, chứ không do con người tự chọn cho mình. Như thế, con người có là chi trước mặt Thiên Chúa. Họ cần cúi mình xuống - khiêm tốn.

Khiêm tốn đích thực là nhìn nhận thực tế những gì mình hiện có và mình là. Khiêm tốn đích thực là dám chấp nhận những gì mình có chỉ là hồng ân của Thiên Chúa. Khiêm tốn đích thực sẽ mang lại niềm vui, bình an. "Tất cả là hồng ân" (thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu).

Ðức Giêsu còn đưa ra một lời khuyên nghịch lý : "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối... hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù". Không thể hiểu câu này theo nghĩa đen, nhưng cần hiểu theo một nghĩa sâu xa hơn, tức là về các mối tương quan xã hội khác nhau của mỗi người chúng ta.

Thực vậy, mỗi người chúng ta thường được người khác đánh giá qua đẳng cấp xã hội, tiền tài, nghề nghiệp... Ðó là "môi trường" bao chung quanh một người. Chính những "môi trường" này đã phân chia con người làm nhiều hạng, loại trong cùng một xã hội. Những người cùng một "môi trường" như nhau thường liên kết, giao du với nhau. Từ đó, sự phân cách trở nên ngày càng lớn. Chúng ta thường bị điều kiện hóa bởi "môi trường" của mình. Ðiều này thường ngăn cản chúng ta không mở rộng vòng tay, tấm lòng tới tất cả mọi người không phân biệt một ai. Ðức Giêsu đến để phá đổ những bức tường ngăn cách giữa con người với nhau. "Không còn Do Thái hay Hy Lạp, không còn nô lệ hay tự do" (Gl 3,28), không còn người giàu hay người nghèo, thánh nhân hay người tội lỗi. Tất cả mọi người đều phải có chỗ trong con tim của chúng ta, nhất là những người yếu đuối, bất hạnh, tàn tật... Sự khiêm tốn đích thực là nhìn nhận mình chẳng là gì hết trước mặt Thiên Chúa, cho dù mình có thuộc về một "môi trường sống" cao hay thấp; đồng thời nhìn nhận mọi người là anh chị em cùng một Cha trên trời.

Nơi bàn tiệc Thánh Thể chúng ta tham dự mỗi ngày, không có chỗ nhất hay chỗ bét, chỗ ưu tiên, dành riêng cho tùy loại người. Tất cả đều được Thiên Chúa tiếp đón như những người con và như những người anh em của Ðức Giêsu. Ðời sống người kitô hữu là một bàn tiệc Thánh Thể, thánh lễ kéo dài. Thánh lễ là cuộc đời và cuộc đời là thánh lễ. Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi tham dự bàn tiệc Thánh Thể cùng với anh chị em mình trong Ðức Giêsu Kitô. Ðiều cần thiết là biết nhận ra chính mình trong tương quan với Thiên Chúa và với anh chị em mình.

Phải chăng chúng ta nhận ra chính mình chẳng là gì trước mặt Thiên Chúa ? Phải chăng chúng ta nhìn nhận mọi người là anh chị em, cùng một Cha trên trời ?

Lạy Chúa,
Chúng con hiểu rằng
tự sức mình chúng con chẳng làm được gì.
Tất cả những gì chúng con có được chỉ là hồng ân.
Xin cho chúng con khiêm tốn đủ
để cho phép người khác giúp đỡ mình,
đồng thời cũng cởi mở đủ
để người khác có thể tìm thấy nơi chúng con
một sự tương trợ khi họ cần đến.


Như Hạ op

KẸT !
Lc 14:1.7-14

Ðức khiêm nhường giúp chúng ta nhận biết mình yếu đuối và bất xứng trước nhan Thiên Chúa toàn hảo và nhân lành. Người khiêm nhường nhận thức rằng người nghèo nhất tại bàn tiệc cũng xứng đáng, có lẽ xứng đáng hơn họ, vì người nghèo gần Ðức Giêsu và sứ vụ của Người nhất (x. Fahey 1994:577, 579).

HAI THÁI ÐỘ SỐNG.

Ðức Giêsu đã đưa ra những hình ảnh thật sống động để diễn tả đức tính vô cùng cần thiết trong Nước Chúa: khiêm nhường. Nói khác, sống trong Nước Chúa cũng giống như trường hợp "anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất. Trái lại, hãy ngồi vào chỗ cuối." (Lc 14:8, 10) Ðó là thái độ của người được mời vào dự hôn lễ Con Chiên (Kh 19:7) Chỉ có thái độ đó mới thực sự làm cho người dự tiệc cưới Con Chiên được hạnh phúc. Thái độ khiêm cung là thái độ của người nghèo Giavê, người được hưỡng mối phúc đầu tiên và được mời vào chung vui trong Nước Chúa. Chỉ những người nghèo như thế mới được mời mà thôi. Trên đời, họ bị thiệt thòi đủ mặt, nhưng lại được Chúa chúc phúc : "Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới của Con Chiên !" (Kh 19:9)

Khi đón nhận được hạnh phúc đó, họ sẵn sàng lên đường. Hành trình của họ rất đơn giản. Họ chỉ cần một chiếc áo cưới là lòng khiêm cung. Áo đó rất đơn sơ. Lối phục sức và thái độ của họ không lôi kéo nổi ai, ngoài Chúa. Chính khi tìm đến chỗ cuối, họ đã biết rõ thân phận và địa vị của mình. Cuộc sống đã đẩy họ vào đường cùng. Nhưng Thiên Chúa luôn xuất hiện ở đường cùng để giải cứu những ai hết lòng tin tưởng nơi quyền năng vô biên của Người. Cách xử sự đó khác hẳn với người đời. Người đời chỉ chú trọng đến những ai ăn trên ngồi trốc và tranh giành miếng đỉnh chung. Bởi đó mới có những cảnh vinh nhục. Vinh nhục đó có khi diễn ra ngay trong bàn ăn. Người tự kiếm vinh hoa không tương xứng với mình có thể trải qua những giây phút bàng hoàng, "phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối." (Lc 14:9) Ngược lại, có những cảnh vinh thăng bất ngờ. Giá trị được nâng cao khi chủ tiệc phát hiện : "Xin mời ông bạn lên trên cho." (Lc 14:10)

Cảnh vinh nhục đó chỉ diễn ra tại một xó góc nào trong bữa tiệc, nhưng cũng trở thành một bài học khôn ngoan cho hậu thế : "Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên." (Lc 14:11; Ed 22:32) Sự thật vẫn là sự thật. Ðánh giá quá mức về mình nhiều lúc không phù hợp với thực tế. Thái độ khôn ngoan đòi phải kiên nhẫn chờ đợi Thiên Chúa. Tính chủ quan dễ mê hoặc lòng người. Ðức Giêsu muốn tránh cho môn đệ khỏi mắc tính chủ quan đó. Nên Người dặn dò kỹ lưỡng.

Tuy nhiên Ðức Giêsu chỉ mượn khung cảnh tiệc cưới để dạy một bài học cao siêu hơn. Thiên Chúa chính là chủ tiệc cưới Con Chiên. Tiệc cưới chính là Nước Trời. Chính Người sắp xếp mọi thứ bậc trong bữa tiệc. Con người không có quyền định đoạt cho chính mình. Bởi vậy thái độ tự tôn không thể chấp nhận được. Nếu biết mình, con người sẽ thấy ngay vị thế của mình trong bữa tiệc. Ai chẳng muốn tìm chỗ "ngon" ? Nhưng chỉ có những người đánh giá mình thấp hơn những người khác, mới được vinh dự nghe lời chủ tiệc : "Xin mời ông bạn lên trên cho." (Lc 14:10) Chỗ vinh dự này không ai tự dành cho mình. Nhưng Chúa cho ai, nấy được. Không phải vì tài năng hay đức độ, con người có thể đạt đến công trạng xứng đáng hưởng vị thế đó. Nhưng con mắt Chúa để ý đến những ai hèn mọn. Chính Ðức Maria đã phải thốt lên : "Phận nữ tì hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới" (Lc 1:48) khi cảm nhận hồng ân Chúa vượt ngoài mọi dự tính. Chính vì hạ mình quá sâu thẳm, nên Mẹ đã được Chúa cất nhắc lên trên các thiên thần và loài người. Không còn vinh dự nào lớn hơn ! Mẹ là người khách đã ngồi chỗ thấp nhất trong bữa tiệc. Mẹ đã hoàn toàn từ bỏ chính mình, bởi thế Mẹ đã có thể hòa mình với mọi người và có thể trải rộng tình thương trên toàn thể nhân loại. Bởi đó đã được vào dự hội vui với Chúa. Mẹ đã được mời lên cao hơn chín phẩm thiên thần !

Chính vì thế Mẹ đã trở thành gương mẫu cho những ai muốn vào dự tiệc cưới Con Chiên. Thái độ khiêm cung đã khiến Mẹ gần gũi những người khó nghèo và đau khổ. Nếu đứng vai chủ tiệc, chắc chắn Mẹ đã mời "những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù." (Lc 14:13) Họ là những người bị gạt ra ngoài xã hội chỉ vì "không có gì đáp lễ" (Lc 14:14) theo lối sống "hòn đất ném đi, hòn chì ném lại" hay "bánh ích đi, bánh qui lại" ngoài xã hội. Nhưng chính khi mời những người như thế, mới thấy tính cách vô tư và quảng đại của người chủ tiệc. Phải có một tấm lòng, một lối sống và một cái nhìn khác thường mới có thể thái độ như vậy. Một tấm lòng vô vị lợi. Một lối sống khiêm cung, hòa mình với những người nghèo khổ. Một cái nhìn vượt khỏi những tính toán trần tục và vươn cao trên những biên giới đời này. Có thế "ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại." (Lc 14:14) Chính niềm hi vọng đó đã khiến ông coi tất cả chỉ là phương tiện phục vụ con người. Càng phục vụ những người nghèo khổ, càng nắm chắc niềm hi vọng. "Vì quyền năng Ðức Chúa thì lớn lao : Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường." (Hc 3:20) Trước mặt ông, con người không được đánh giá qua của cải trần thế. Chỉ có niềm tin mới có thể xác định giá trị con người mà thôi. Niềm tin đó mạc khải cho ông thấy mọi người đều là hình ảnh Thiên Chúa và là đối tượng cứu độ của Ðức Giêsu. Ðó chính là giá trị đích thực khiến Thiên Chúa mời mọi người vào dự tiệc Nước Trời.

TÌM MỘT CHỖ TRONG TIỆC CƯỚI.

Thiên Chúa chính là chủ tiệc đích thực. Khi sai Con Chúa đến trần gian, Người muốn chuyển thiệp hồng đến từng người trong cộng đồng nhân loại. Bữa tiệc khoản đãi mọi người không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo v.v. Con Chúa đã hạ mình xuống làm người tôi tớ chuyển thiệp hồng khắp ngang cùng ngõ hẻm. Nhưng hỏi mấy người đến dự tiệc ? (Mt 22:1-10) Cuối cùng chỉ có "những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù" nhập tiệc mà thôi. Vâng lời Chúa, Giáo hội đã xả thân giúp đỡ những người nghèo khổ, xấu số. Giáo hội mong đợi gì ? Phải chăng mong chiêu dụ tín đồ ? Thực ra, Giáo hội chỉ biết phục vụ. Nếu người ta đọc được ý nghĩa chứng từ, Giáo hội hân hoan cảm tạ Chúa. Nếu họ muốn giải thích sai chứng từ, Giáo hội cũng chỉ biết cầu nguyện và kiên nhẫn làm chứng. Muốn hay không muốn trở thành tín đồ, việc hoàn toàn tùy thuộc quyết định cá nhân.

Trước ông chủ tối cao là Thiên Chúa, chúng ta đều là "những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù" cả. Thế nhưng có lẽ chúng ta vẫn cứ tưởng mình đáng chiếm chỗ tốt hơn, ngon hơn những người khác. Nhất là khi có chức có quyền, chúng ta lại càng tưởng mình xứng đáng hơn. Nhưng thật ra "càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Ðức Chúa" (Hc 3:18) và chiếm được lòng người nữa. Chức vị không làm con người cách xa anh em đồng loại, nhưng chỉ là một phương tiện đưa mọi người "tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời." (Dt 12:22-23) Ðại hội đó phải diễn ra ngay tại thế, giữa các cộng đồng dân Chúa. Thế nhưng, nhiều cộng đồng vẫn chưa chấp nhận sự có mặt của những người anh em khác màu da, phong tục, văn hóa. Trong Ðại Hội Liên Dòng Toàn Quốc Hoa Kỳ mới đây, nữ tu Mary Mollison cho biết trong lịch sử phần đông các dòng tu tại Hoa Kỳ đã không thâu nhận các thành viên thuộc các sắc tộc khác. Ngày nay nhiều dòng "đang thực hiện tìm đường lối để xóa bỏ sự kỳ thị chủng tộc trong các cộng đoàn chúng ta." (VietCatholic 29/8/2001) Như thế, chính những người hiến trọn đời cho Tin Mừng vẫn chưa thực hiện được một đòi hỏi căn bản của Tin Mừng. Có những cấp độ mâu thuẫn ngay trong Giáo hội Hoa Kỳ. Ví dụ giáo phận cho phép thành lập các giáo xứ Việt Nam biệt lập, trong khi Hội Dòng Hoa Kỳ vẫn bắt buộc anh em Việt Nam lệ thuộc. Hi vọng chính sách toàn cầu hóa sẽ ảnh hưởng lớn tới các cộng đồng dòng tu tại đây. Vấn đề kỳ thị phải chấm dứt, Tin Mừng mới có thể rao giảng cho mọi người.


Fr Jude Siciliano, OP.

DỰ TIỆC
Lc 14:1.7-14

Khiêm nhường, giản dị là con đường nhỏ bé của các người con Chúa để tiến đến Nước trời, làm bạn hữu với Thượng đế, Đức Ki-tô, các thiên thần và các thánh (bài đọc 1 và Tin Mừng). Vẻ lộng lẫy của Cựu ước nhường bước cho lòng cậy trông đơn thành của Tân ước, đóng ấn bằng máu Đức Ki-tô (thánh thi).

Thưa quý vị. Quả là điều lạ, bài Tin Mừng hôm nay lại liên quan đến Bí tích Thánh Thể, bữa tiệc cánh chung. Bởi lẽ Chúa Giêsu nói: “Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế ông mới thật có phúc: Vì ông sẽ được thưởng công trong ngày các kẻ lành sống lại”. Thực ra thánh Luca luôn liên kết các bữa ăn trong Tin Mừng với Phép Thánh Thể, Tiệc cánh chung. Vậy hôm nay chúng ta tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về tư tưởng này.

Trước hết, xin đưa ra vài điều nhận xét: Xưa nay người tín hữu thường tách rời Bí tích Thánh Thể ra khỏi các biến cố khác của Tin Mừng và sứ vụ của Chúa Giêsu. Điều này không đúng, cần chỉnh lại. Lời lẽ và hành động của Chúa Giêsu trong Bữa tiệc ly phản ánh toàn thể những gì Người đã dạy dỗ và thực hiện. Và trong phụng vụ cũng vậy, chúng ta cũng phạm một lỗi tương tự. Hồi còn nhỏ tôi được dạy rằng xem lễ mà đi chậm đến phần dâng lễ vật chu toàn bổn phận. Người khác lại bảo lúc rửa tay mới là ranh giới mất lễ! Người khác nữa đưa ra ý kiến xem bù đến phần ấy thôi! Chao ôi kiểu cách giữ đạo “kinh tế”! Thế thì Lời Chúa không quan trọng lắm sao? Hoặc Lời Chúa có thể tách rời khỏi Thánh Thể? Hay Thánh Thể chẳng liên quan gì với sứ điệp của Tin Mừng? Tới thời kỳ Công đồng Vatican II, các thế hệ trẻ được dạy dỗ đầy đủ hơn. Nhưng não trạng cũ vẫn còn đó đây. Người ta đi dâng lễ đúng thời gian linh mục bước lên bàn thờ, và ra về lúc chủ tế bắt đầu cho rước lễ. Các cụm từ “đạo gốc” (cây), đạo dòng (đi), đạo núp (xe) rất phổ thông trong giới trẻ ngày nay. Nguyên do cũng là tại chúng ta quan niệm Bữa cuối cùng của Chúa Giêsu cắt ra khỏi lời nói, việc làm, sự chết và sống lại của Ngài!

Giáo Hội tiên khởi nhìn Bí tích Thánh Thể là một phần trọn vẹn của Tin Mừng. Họ cử hành Thánh Thể trong bữa ăn, sau khi nghe đọc Lời Chúa. Đến thời Trung cổ có một sự thay đổi. Lý do là việc tranh cãi vấn đề sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Cuộc đấu khẩu này kéo dài nhiều năm, kết quả là Hội Thánh nhấn mạnh về điều Chúa Giêsu đã làm trong bữa tiệc ly và coi nhẹ giáo huấn cũng như các việc khác của Ngài trong suốt tiến trình thi hành sứ vụ. Hội Thánh tập trung quan trọng vào lời truyền phép: “Này là Mình Ta, này là Máu Ta”. Công thức trở nên trang trọng và đơn độc. Tuy nhiên, các tác giả viết về Kinh thánh, như Eugene la Verdiere dạy rằng trước khi Phúc Âm được viết thành văn, thì đã được các môn đệ của Chúa Giêsu sống và truyền tụng. Những việc làm của họ như giảng dạy, chữa lành, hoà giải đã biểu lộ nội dung Tin Mừng. Như vậy Phúc Âm đã được loan báo trong khung cảnh Thánh Thể như thánh Phaolô viết: “Chúng tôi loan truyền việc Chúa chịu chết, cho đến khi Ngài lại đến” (I Cor 11,26).

Thánh Luca chú ý đặc biệt đến ý nghĩa của Thánh Thể. Tác giả La Verdière nói rằng Luca đã trình bày Tin Mừng của ông trong một kiểu cách làm cho Thánh Thể không thể rời khỏi sứ điệp Tin Mừng. Thánh sử thực hiện điều này bằng cách dàn dựng câu truyện Phúc Âm thành một cuộc hành trình lớn lên Giêrusalem. Trên đường đi, các bữa ăn, lòng hiếu khách, viễn tượng Nước trời, giữ vị trí quan trọng đối với Chúa Giêsu và các kẻ đồng hành. Các môn đệ là những người nhận lãnh sự tử tế, yêu thương và nhân hậu của Chúa. Họ nghiêng mình đồng bàn với Ngài. Cho nên họ phải giống như Ngài ban lại những tình cảm đó cho người khác nhất là những kẻ chịu thiệt thòi trong xã hội như nghèo đói, bần cùng, ngoài lề, bệnh tật, chịu áp bức bất công” Bữa ăn trong Phúc Âm Luca, hoặc là ăn thật, hoặc là chỉ đề cập đến trong lời giảng của Chúa Giêsu, đều hướng về Thánh Thể, ngược lại, Thánh Thể hướng về nội dung Phúc Âm, những biến cố trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, đau khổ, tử nạn và phục sinh. Cho nên Tin Mừng Luca kể lại câu truyện của Chúa Giêsu và những kẻ theo chân ngài, nam phụ lão ấu trên con đường tiến về Thiên Chúa với Ngài. Suốt cuộc hành trình dài ngày này, những mạc khải có ý nghĩa đều đã xảy ra ở các bữa ăn hoặc khi Ngài nói về tiệc tùng.

Tới đây chắc hẳn quý vị đoán ra hướng đi của bài suy niệm này, phải không? Tin Mừng hôm nay kể Chúa Giêsu được một ông Pharisêu mời vào nhà ăn tiệc mừng ngày Sabbath. Người Do thái có tục lệ như vậy. Đang khi ăn người ta dò xét Ngài. Ngài dạy họ một dụ ngôn về bữa ăn và chỉ dẫn chủ nhà nên mời những ai. Như trên đã nói, thánh Luca luôn liên kết các bữa ăn với bí tích tình yêu và vì vậy lời dạy của Chúa Giêsu hôm nay cũng cảnh giác chúng ta về điều thánh sử luôn có ý khuyên bảo cộng đồng của ông. Xin nhớ lại Tin Mừng tuần vừa qua. Nó đi trước tuần này và sửa soạn khung cảnh cho tuần này. Người ta hỏi Chúa, kẻ được cứu thoát thì ít, phải không? Ngài trả lời: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào. Vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được”. Nghĩa là khi Chúa trở lại, không phải những ai đã từng ăn uống với Ngài là được cứu rỗi. Họ phải thi hành nhiều hơn nữa (13,26). Ngoài ra, ngày cánh chung, bữa tiệc Nước trời sẽ bao gồm các khách kỳ lạ. Họ từ “đông sang tây, từ nam chí bắc” tới (13,29). Chúa Nhật này, chúng ta sẽ được biết thêm Thiên Chúa sẽ tặng ban cho chúng ta điều gì qua Đức Ki-tô và đòi hỏi những gì nơi những ai tụ họp quanh bàn tiệc Thánh Thể.

Trong nhà ông Pharisêu, Chúa Giêsu quan sát thấy người ta xô đẩy nhau tìm chỗ nhất, tranh nhau lấy nơi danh dự, bất kể thuộc thành phần nào, tương tự như chúng ta ngày nay trong các tiệc tùng đình đám. Chẳng thế mà các cụ đã đặt ra câu ca dao: Một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp. Có những cuộc cãi vã ghê gớm, thù hận suốt đời vì một miếng ăn nơi công cộng. Một vị linh mục bỏ ra về, vì chủ nhà không xếp đúng chỗ danh dự. Hoặc mắng mỏ người ta vì không gọi theo tên, theo chức vụ. Than ôi, kẻ vỗ ngực làm môn đệ Chúa! Bữa ăn ngày Sabbath là tục lệ trung tâm trong đời sống đạo Do thái. Ngày Sabbath có nhiều ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa chính yếu là dân chúng nhớ đến công việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Ngài truyền rằng ngày thứ bảy trong tuần là ngày nghỉ khỏi mọi lao động nô lệ và là ngày thánh. Sách Đệ nhị luật còn thêm: Ngày Sabbath cư dân phải tỏ lòng liên đới với những kẻ khốn cùng, đang chịu đau khổ vì bất cứ lý do nào. Thí dụ các nô lệ phải được tha khỏi công việc nặng nhọc và nghỉ ngơi: “Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập, và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã dang cánh tay mạnh mẽ, uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó. Bởi vậy, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi cử hành ngày Sabbath” (5,15). Đúng, giống như các dân tộc chung quanh, Israel cũng có nô lệ, nhưng họ phải đối xử với họ bằng thương cảm và vì vậy nô lệ cũng phải được nghỉ việc ngày Sabbath. Đức Ki-tô ở bữa ăn đã tỏ ra rất trung thành với tinh thần truyền thống. Người ki-tô hữu sẽ có lỗi khi hạ cấp việc người Do thái giữ ngày Sabbath thành hoàn toàn vụ luật bề ngoài. Sự thật, mọi tôn giáo đều có tệ nạn này: “Miệng nam mô, bụng một bồ dao găm” hoặc “bên ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Trong xã hội tân tiến, mọi sự đều vội vã xô bồ, thiên hạ làm nô lệ cho tiền bạc, chức vị, công việc. Chúng ta đang thần thánh hoá quá mức Măm mon, thì một chút nghỉ ngơi ngày thứ bảy là đúng lý. Cho nên, phong tục hưu lễ của Do thái giáo mang lại lợi ích cho nhân loại về thể xác cũng như tinh thần rất nhiều. Bắt chước được vài lời dạy của dân tộc Israel về ngày Sabbath quả là một kho báu. Cho nên chỉ trích không phân biệt tính vụ luật của họ là thiếu suy nghĩ.

Ngày nay, Hội Thánh đang lấy lại truyền thống này. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô vừa phát hành thông điệp về ngày Chúa Nhật thánh, cũng là để cổ võ và phổ biến truyền thống tốt đẹp cho nhân loại. Việc nghỉ hư lễ của người tín hữu cho phép chúng ta tụ họp với nhau, bỏ qua những chuyện tầm phào, bon chen, tranh giành để lắng nghe Chúa Giêsu dạy bảo về bữa ăn Thánh Thể và các bổn phận tôn giáo. Chúng ta lại được nghe Ngài tuyên bố Thiên Chúa lộn nhào các giá trị mà nhân loại hằng ấp ủ. Bởi chúng chỉ am hợp với xác thịt kiêu căng mà không phải là ý muốn Thiên Chúa. Hẳn quý vị còn nhớ bài Phúc Âm tuần qua? Kẻ trước nhất sẽ xuống hàng sau chót! Những ai nghĩ mình sang trọng, đáng được ở trên những người khác, kiểu như những thực khách được mời trong bữa tiệc hưu lễ hôm nay, sẽ ngạc nhiên thấy mình chẳng đáng giá chi trước mặt Thượng Đế. Ngược lại những ai chịu thiệt thòi, bị xã hội ruồng bỏ, khinh bỉ, những kẻ ngoài lề, nghèo khổ, hèn hạ lại được đánh giá cao. Những luật sĩ, ký lục, Pharisêu đang lên mặt, rình mò, quan sát Chúa Giêsu trong bữa tiệc, sẽ là đối tượng để Chúa Giêsu khiển trách: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người biệt phái giả hình, các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23,27). Nếu họ muốn sống công chính như Chúa Giêsu rao giảng, dạy dỗ và thực hành, thì họ phải noi gương lòng nhân hậu của Thiên Chúa, xử lý với những kẻ thấp hèn trong xã hội như những nhân vật quan trọng với đầy đủ nhân quyền và nhân phẩm, kẻ sau chót sẽ lên hàng trước tiên. Cho nên, những ai lắng nghe Chúa giảng dạy thì phải “mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” vào bàn tiệc nhà mình.

Đó là điều Thiên Chúa thực hiện cho mỗi người chúng ta trong thánh lễ này. Chúng ta đui mù, què quặt về đời sống thiêng liêng. Không trừ một ai, chúng ta đều là những tội nhân, thấp hèn trước mặt Đấng Tối Cao, đáng ở vị trí sau chót trong hàng ngũ phàm nhân. Nhưng chúng ta đến đây không vì địa vị xã hội hoặc quyền lợi mà hoàn toàn qua Chúa Giêsu. Chúng ta được lòng thương xót của Ngài đưa lên hàng danh dự. Thiên Chúa đã gọi chúng ta lên vị trí của phẩm giá cao sang. Ngay trên bàn tiệc hôm nay, những ai lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa Giêsu đều được biến đổi làm con Thiên Chúa nhờ cuộc thương khó, tử nạn, và sự phục sinh của Ngài. Cũng tại nơi đây Hội Thánh nhắc nhở chúng ta về Bí tích Thánh tẩy, căn cước chính yếu của mỗi người vào Nước trời. Chúng ta phải sống kết hiệp với Chúa Ki-tô, cộng tác với Ngài, đồng hành với Ngài cải tạo và xây dựng thế giới mới, trong đó ơn thánh và yêu thương ngự trị. Liệu chúng ta có thật sự tin vào những chi Chúa dạy ở bữa tiệc hưu lễ của người biệt phái? Liệu chúng ta đáng là những kẻ lãnh nhận lòng thương xót của Chúa? Nếu vậy, thì sau khi rời khỏi thánh lễ, chúng ta phải hành động như Ngài đối với những số phận hẩm hiu trong xã hội, những kẻ bị chà đạp, cầm tù, loại trừ, áp bức, những kẻ không có chi để đền đáp chúng ta. “Những gì anh em muốn người khác làm cho mình thì hãy thi hành cho tha nhân”. Lòng yêu thương vô điều kiện là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại. Chúng ta được kêu gọi để trở thành dấu chỉ đó. Chúa Giêsu nhắc nhớ chúng ta ở nhà thầy biệt phái: “Điều quan trọng không phải là chỗ nhất, nhưng là bữa tiệc và danh sách những kẻ được mời”. Ước chi mọi người luôn ý thức điều này. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op 

NHỮNG BÀN TIỆC
Lc 14:1.7-14

Từ bàn tiệc trần gian

Ðức Giêsu được mời đi dự một bữa tiệc. Tại đó, Người đưa mắt quan sát những sự việc đang xảy ra : những người hầu bàn chạy đi chạy lại, các quan khách trò chuyện trao đỗi, mời chào nhau, người này chọn chỗ nọ, người khác tìm chỗ thuận tiện cho mình. Không có gì thoát khỏi tầm quan sát của Ðức Giêsu. Trong một bữa tiệc như thế, tính cách và tâm trạng của con người được bộc lộ một cách rõ ràng. Trước mắt Ðức Giêsu, tất cả như tạo nên một bức biếm hoạ với cả những nét đáng yêu lẫn đáng ghét. Tất cả như một trò ngu xuẩn, một chuyện ngớ ngẩn.

Nhưng không phải chỉ có thế. Nếu Ðức Giêsu chỉ đến dự tiệc và đứng quan sát thì Người cũng giống như mọi người, hay vượt lên trên một chút mà thôi. Trái lại, Nggười đến với tư cách là Ðấng thiên sai đến tham dự bữa tiệc trần gian để mở ra một bữa tiệc khác, rộng lớn hơn, sang trọng hơn và đích thực hơn. Ðó là bàn tiệc Nước Trời. Người không mất giờ để nghĩ hay nói xấu bất cứ ai, Người có mặt trong bữa tiệc, cũng như trong trần gian này với mục đích khác.

Trước mắt Ðức Giêsu, bữa tiệc hôm nay là một thế giới thu nhỏ, trong đó con người sống, làm việc. Ðó là khuôn mặt của nhân loại với những tranh giành, những mưu toan, những niềm vui và nỗi buổn. Bữa tiệc không phải chỉ là ăn uống, đó là một nghi lễ có tính cách xã hội, trong đó có những nghi thức, có lễ nghi. Bữa tiệc cho thấy khuôn mặt của xã hội với những quy tắc, những giá trị của nó. Như thế, có thể nói rằng, bữa tiệc là một thứ "cơ cấu" được tỗ chức, được quy định cách rõ ràng. Kẻ nào muốn đụng chạm, muốn thay đỗi những nghi thức ấy, quả là liều lĩnh.

Vậy mà Ðức Giêsu muốn thay đỗi tất cả cái "cơ cấu" đó, bởi vì Người muốn hướng xã hội đến một tầm nhìn khác, cao hơn, đúng đắn hơn. Người đã đến trần gian trong thân phận của người tôi tớ, người phục vụ, và Người muốn cho nhân loại thấy đó chính là con đường đúng đắn nhất, con đường dẫn tới Nước Trời. Người đã nhiều lần cho thấy người ta phải sống với nhau trong một tinh thần mới, khác với những điều trước đây, đó là tinh thần khiêm tốn và yêu thương. Do đó, từ một bữa tiệc trần gian, Người đã bày tỏ tinh thần của Nước Trời, Người đã đưa ra một cách ứng xử khác với những thói quen xưa nay.

Còn có bàn tiệc khác

Trong mối quan tâm đến con người và trong tinh thần hiệp thông với Chúa Cha, Ðức Giêsu coi bữa tiệc hôm nay như một hình ảnh của Nước Trời. Nhưng để bữa tiệc trần gian này trở thành dấu chỉ đích thực cho vương quốc Thiên Chúa, cần phải có hai điều kiện :

- Trước hết : "Khi anh được mời đi dự tiệc ... thì hãy vào ngổi chỗ cuối." Ðây là cách thế hoạt động của Chúa Cha và cũng là của Ðức Giêsu. Thiên Chúa đã không bắt con người phải hầu hạ, nhưng đã sai Con của Người đến để phục vụ. Con Thiên Chúa đã đến trần gian không phải để áp đặt, nhưng là để bày tỏ Nước Thiên Chúa. Thay vì đến xét xử trần gian, Con Thiên Chúa đã hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc. Trong suốt quãng đời sống trên trần thế, Ðức Giêsu luôn sống như một người nghèo. Người đã chia sẻ thân phận của những người bị loại bỏ, bị đẩy ra bên lề xã hội. Không ít lần Tin Mừng đã thuật lại mối quan hệ của Ðức Giêsu với những người, mà trước mắt con người thời xưa cũng như thời nay, được gọi là những kẻ tội lỗi. Ngay cả những người bị xã hội lãng quên vì bệnh tật, vì hoàn cảnh, Ðức Giêsu cũng đến bên họ để nâng đỡ, để chữa lành. Người đã không từ chối bất cứ ai đến với Người, và cũng chẳng từ chối bất cứ ai cần đến Người.

Bởi đó, chẳng lạ lùng gì khi Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã sống đến tột cùng của ý tưởng phục vụ, để rổi sau đó, còn đi xa hơn nữa qua việc chịu treo trên cây thập giá.

Chính ở chỗ rốt cùng ấy, Ðức Giêsu đã thông cảm, đã chia sẻ trọn vẹn với tất cả những gì là yếu đuối, là khỗ đau, ngoại trừ tội lỗi của con người. Và từ chỗ rốt cùng ấy, Người đưa con người lên đỉnh cao tuyệt vời, đỉnh cao của những người được chọn, những người được tham gia vào đời sống thần linh. Chính ở chỗ rốt cùng của bàn tiệc trần gian, Ðức Giêsu đưa con người vào dự bữa tiệc Thiên Quốc, trong đó mọi người đều được no thoả.

Phải nói thêm rằng, lời khuyên của Ðức Giêsu, tuy nhắm đến Nước Trời, nhưng cũng cho thấy một cách ứng xử mới trong xã hội ; không tranh giành, không kiêu căng, nhưng khiêm tốn ... Có lẽ đây cũng là điều cần phải có trong xã hội, nhưng không vì thế mà áp dụng theo nghĩa đen, gây khó khăn cho người khác.

- Thứ nữa, Ðức Giêsu còn đi xa hơn ; Người đặt vấn đề về chuyện mời khách : "Khi đãi tiệc ... hãy mời những người không có gì đáp lễ." Tại sao vậy ?

Ðây cũng là cách thức hành động của Chúa Cha và của Ðức Giêsu. Thiên Chúa mời tất cả nhân loại, dù họ có yếu đau tật bệnh, dù họ có thế nào chăng nữa, đến dự tiệc do Người khoản đãi. Mời mà không đòi hỏi gì, mời cách nhưng không.

Thiên Chúa mong muốn tất cả mọi người đều được cứu độ, đều được quy tụ trong Nước Trời. Tin Mừng được loan báo cho hết mọi người, và mọi người đều có thể đón nhận không cần có một ưu tiên, một đặc quyền nào. Ai cũng được, miễn là họ đón nhận lời mời và sẵn sàng đáp trả.

Như vậy, cái vòng luẩn quẩn của xã hội thông thường bị phá đổ hoàn toàn, người ta không còn đối xử với nhau theo kiểu "hòn đất ném đi, hòn chì ném lại", nay tôi mời anh, mai anh mời tôi, nhưng đặt trên tương giao mới là tình yêu, là kính trọng. Sự thay đỗi này thật lớn lao : bởi vì mời dự tiệc không chỉ có nghĩa là phân phát lương thực cho những người khốn cùng, nhưng còn là công nhận, còn thăng tiến phẩm giá của họ.

Ðây chính là điều làm cho Nước Thiên Chúa có được chiều kích lớn rộng bởi vì chẳng có giới hạn nào cả. Bất cứ ai cũng được mời tham dự và được mời cách nhưng không. Người được mời tức là được Thiên Chúa công nhận có quyền tham dự vào vương quốc của Người. Ðó là hồng ân vô thường của Thiên Chúa : Người muốn đưa họ vượt qua những yếu đuối, những lầm lỗi của mình để bước vào đời sống mới. Và dự tiệc cũng có nghĩa là được công nhận, được đổng bàn với Thiên Chúa. Thật là điều cao quý.

Thánh lễ, bàn tiệc của Thiên Chúa

Cho đến ngày nay, thánh lễ của Giáo Hội vẫn tôn trọng hai điều kiện này. Thánh lễ là bàn tiệc do Thiên Chúa khoản đãi và mọi người đều có quyền tham dự, bất kể tuỗi tác, màu da, trình độ văn hoá. Ðức Giêsu đã chịu chết để cứu độ mọi người, và hy lễ đó vẫn được dâng lên để quy tụ về một mối những con người ở các thời đại khác nhau. Thánh lễ là một sự hạ mình của Thiên Chúa để đưa con người lên, là một hiến lễ dưới hình thức một bữa ăn mở rộng cho tất cả. Thánh lễ không còn là bữa tiệc trần gian, nhưng cũng chưa phải là bàn tiệc thiên quốc. Ðây mới chỉ là khai mào, là bước khởi đầu. Tuy thế, ai từ chối tham dự vào bàn tiệc này cũng là từ khước lời mời của Thiên Chúa và như vậy, khó có thể được tham dự vào bàn tiệc vĩnh cửu.

Mỗi ngày Chúa nhật, tín hữu chúng ta đến nhà thờ để tham dự thánh lễ là sống lại hy lễ của Ðức Ki-tô. Bàn tiệc này không chỉ đóng khung trong số những người quen biết, những bạn hữu, nhưng phải mở rộng cho mọi người. Ðiều này đòi chúng ta phải khiêm tốn, phải nhẫn nại : người giàu kẻ nghèo đều bình đẳng trước Thiên Chúa, cùng cử hành hy lễ của Ðức Ki-tô, cùng đón nhận lương thực như nhau là Mình và Máu Người. Những người được mời có thể từ chối, nhưng phần chúng ta, chúng ta không được quyền không mời họ. Ngày xưa, vào thời gian đầu, Thánh Thể được lưu trữ trong Nhà Tạm là để dành cho các anh chị em vắng mặt.

Như vậy, ngay từ hôm nay, Thiên Chúa đã mở tiệc Thánh Thể. Người mời mọi người đến tham dự mỗi ngày, và sau này để tham dự vào bàn tiệc vĩnh cửu. Trong bàn tiệc của Thiên Chúa, mọi người đều có chỗ, không còn kể chỗ đầu hay chỗ cuối, nhưng tất cả đều được no thoả.

* * *

Lạy Chúa,

xin ngự đến trong con,

để chỉ còn là Chúa,

chứ không phải con nữa.

Ước chi con được nên trong sáng

nhờ sự hiện diện và tình yêu của Chúa,

và con trở thành chứng nhân.

Xin thứ tha

biết bao tính toán, bao ngại ngần, bao lười biếng

và khước từ yêu thương.

Xin giúp con

biết đem mọi khả năng

làm tất cả những gì Chúa muốn,

nhờ biết sử dụng mọi điều Chúa ban,

mọi điều Chúa làm trong con.

Xin cho con luôn biết cảm tạ

vì bao ân sủng và thương mến Chúa dành cho.

(theo Claude)


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Hạ Mình Xuống
(Lc 14,1.7-14)

Đọc Tin Mừng chúng ta thấy có một hạng người hay bị Chúa Giêsu chiếu cố, có khi khiển trách nặng lời, đó là những người Pha-ri-sêu. Phải công bằng nhìn nhận rằng : những người Pha-ri-sêu có nhiều cái hay, nhưng đồng thời cũng có nhiều cái dở. Một trong những cái dở đó là giả hình và kiêu ngạo. Họ tự cho mình là hơn người, nên hay tìm chỗ nhất và ghế danh dự trong hội đường hoặc nơi phòng tiệc, và thích được bái chào nơi phố xá. Chúa Giêsu thấy đó là một thái độ cần sửa chữa nên Ngài đưa ra một lời khuyên : khi được mời dự tiệc, đừng ngồi vào chỗ nhất, vì hễ ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.

Thật ra, trong Cựu Ước cũng đã có những lời khuyên tương tự : “Trước mặt vua, con chớ vênh váo và đừng ngồi chỗ của kẻ quyền cao”, “Hãy ngồi dưới hai hoặc ba chỗ, để thà người ta mời mình lên hơn là bị mời xuống”, và các kinh sư cũng thường dạy : “Tôi nâng mình lên là tôi tự hạ mình xuống, và hạ mình xuống là nâng lên”. Những lời trên đây chúng ta thấy rất gần với lời Chúa dạy hôm nay.

Như vậy, có phải Chúa Giêsu dạy chúng ta một tiểu xảo, một mánh lới không ? giả vờ hạ mình xuống để được nâng lên, giả vờ ngồi chỗ cuối, chỗ dưới để được mời lên trên ? Chúng ta có thể trả lời ngay : chắc chắn là không. Chúa không dạy chúng ta một tiểu xảo, bởi vì nếu Chúa có ý như vậy thì Ngài đã làm ngược lại chính chủ trương của Ngài. Ngài không dạy chúng ta hạ mình xuống với hậu ý là để được cất nhắc lên, và ai có dụng tâm hay ý đồ như vậy, thì là kẻ háo danh chứ không còn phải là người khiêm nhường nữa.

Hạ mình xuống không phải là một tiểu xảo, một mánh lới mà là chân thành nhìn nhận giá trị thực sự của mình. Nói rõ hơn, hạ mình xuống là khiêm nhường, mà khiêm nhường thực sự là biết mình, biết sự thật về ưu điểm cũng như khuyết điểm của mình. Chúng ta có biết mình thực sự không ? Khó lắm, bởi vì tự ái, kiêu căng, ích kỷ dễ làm chúng ta phán đoán, suy nghĩ, nhận định lệch lạc. Chúng ta hay có khuynh hướng phóng đại : phóng đại những cái tốt, cái hay của mình và phóng đại những cái xấu, cái dở của người khác. Vì thế, hạ mình xuống là sửa lại những phóng đại lệch lạc cho đúng sự thật, đúng với chân giá trị của mình.

Cũng thế, chúng ta hay dựa vào một số khả năng, một số uy quyền của mình để cho rằng mình có quyền trên tất cả. Chúng ta thành công trong một phương diện mà cứ cho rằng mình thành công trên mọi mặt, cho rằng mình không thể thua kém ai hay không ai có thể hơn mình. Chúng ta tự đưa mình lên đến trời và tìm cách hạ anh em xuống tận bùn đen. Như thế là tự cao tự mãn, khoe mẽ cầu danh, phô trương, hợm mình, tự hào về những chuyện nhỏ nhen, và nếu có ai hơn mình thì bực tức, khó chịu, rồi tìm cách bôi nhọ, hạ giá người ấy và bao lâu người ấy còn hơn mình thì chúng ta khổ tâm dằn vặt. Đó là chính mình làm khổ mình, đó là kiêu ngạo hạng nặng.

Kinh nghiệm cũng dạy : khước từ một lời khen thì rất dễ, nhưng đón nhận một tiếng chê lại rất khó; phủ nhận một ưu điểm người ta ca tụng thì rất dễ, nhưng nhìn nhận một khuyết điểm người ta phê phán lại rất khó. Giả sử có ai đó khen chúng ta một điều gì, có thể chúng ta hỉnh mũi và im lặng thích thú trong lòng. Nhưng nếu có ai chê chúng ta một điều gì, chúng ta có đủ bình tĩnh để im lặng không hay chúng ta nóng mặt, bực tức và bốp chát lại liền ? rõ ràng “cái tôi” của chúng ta còn lớn lắm. Vậy khiêm nhường hạ mình xuống là chấp nhận xóa bỏ “cái tôi” của mình. “Cái tôi” có thể xuất hiện hay bộc lộ dưới nhiều hình thức : trong ước muốn thống trị người khác, trong ý chí muốn trổi vượt và tìm cách gây ấn tượng nơi người khác, cả trong những thái độ nhún nhường, có khi ngầm chứa bên trong lại là ý định tạo ảnh hưởng của mình.

Như vậy, bài học khiêm nhường Chúa Giêsu dạy luôn mang tính thời sự nóng bỏng đối với cá nhân mỗi người chúng ta. Ai dám bảo đảm là mình luôn luôn có sẵn một thái độ từ tốn, khiêm nhường trước mặt Chúa và trước mặt đồng loại ? Đó đây trong ngõ ngách tâm tư, một lúc nào đó, cái tư tưởng kiêu căng, tự phụ, tự cao, tự đại có thể xuất đầu lộ diện và chi phối suy nghĩ, hành động của chúng ta. Vì thế, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và cố gắng tập luyện khiêm nhường luôn mãi.

Tập luyện bằng cách nào và thế nào ? Trước hết là phải cầu nguyện, bởi vì trong những giây phút thinh lặng của cầu nguyện, chúng ta sẽ suy nghĩ lại, và nhất là sẽ được ơn Chúa soi sáng để biết rõ chính mình và biết mình làm việc, hành động, đối xử vì tình yêu Chúa hay vì những lý do gì khác như ích kỷ, danh vọng, khoe khoang. Rồi trong thực tế quan hệ với nhau, chúng ta phải tránh đừng bao giờ nói về mình hay so sánh mình với người khác, cũng đừng bao giờ khinh thường, chê bai, nói hành, nói xấu người khác… Tất cả những điều đó đều là “sản phẩm” của khoe khoang và kiêu ngạo. Vì thế, khi cảm thấy bị cám dỗ so sánh mình với người khác hoặc muốn chê bai, nói hành người khác, thì chúng ta hãy làm ngược lại, là chân thành cố gắng tìm hiểu họ, thông cảm với họ, đánh giá cao những tài năng hay những thành quả của họ. Chúng ta hãy tập nói những lời khen và chia vui với những thành công của người khác.

Tóm lại, thái độ kiêu xa, cao ngạo bao giờ cũng khiến cho người khác khó chịu, xa tránh. Trái lại, ai cũng mến yêu những người khiêm nhu, từ tốn. Vậy chúng ta hãy cố gắng loại bỏ tất cả những gì là kiêu xa, cao ngạo và phát triển những gì khiêm nhu, từ tốn.


Lm. Jude Siciliano, OP.

HÃY SỐNG KHIÊM TỐN TRUNG THỰC
(Lc 14, 7 - 14)

Thưa quý vị, Bất cứ người Việt Nam nào cũng thuộc lòng câu ca dao: “Bực mình mang lửa đốt trời, ai hay lửa cháy lửa rơi xuống đầu”. Nhưng ít ai hiểu ra ý nghĩa của nó, bết bát hơn nữa là học được bài học người sáng tác ra nó muốn nhắn gửi thiên hạ. Bài học đó là ăn ở khiêm nhường chứ đừng kiêu ngạo, hành xử bằng thái độ tự cao tự đại. Tuy nhiên, ngày nay khi nói chuyện cùng bất cứ người chưa quen biết nào, nhất là thanh niên, chúng ta thường cảm nghiệm có một “khối” kiêu căng trước mặt. Họ nổ lung tung về mọi vấn đề, xem chừng như họ biết hết, kinh nghiệm hết ngóc ngách của cuộc đời. Sau khi họ đi khỏi, chúng ta có ấn tượng họ là “ông biết hết”, “cô biết hết”, “bà biết hết”. Sự đời chung chung là như vậy, trái ngược với lời dạy bảo của Đức Kitô trong phúc âm hôm nay: “Hãy chọn chỗ rốt hết”.

Phải chăng Đức Giêsu khuyên bảo người ta khiêm tốn giả đò? Để rồi được chủ nhà đến và mời lên chỗ cao hơn? Và nếu xét theo hoàn cảnh xã hội của Ngài, thì lời khuyên còn lạc lõng hơn nữa. Trước mắt các lãnh đạo xã hội, tôn giáo lúc ấy, Đức Giêsu chẳng được ai tôn trọng, trái lại bị họ coi là tay bợm nhậu, tội lỗi, lê la với hạng bẩn thịu, như chúng ta ngày nay coi hạng đĩ điếm, xì ke, đầu trộm đuôi cướp chẳng có tư cách nào mà dạy bảo người khác khiêm nhường thật sự.

Hãy xem lời Ngài khuyên bảo chủ nhà: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em họ hàng hay và con hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đặt tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”. Như vậy thì còn đâu là địa vị xã hội? Mục tiêu của đãi tiệc là chi, nếu không phải là tiếng khen, thân hữu ? Lời khuyên của Chúa cho vị chủ nhà Pharisêu trọng vọng quả là lạc lõng giữa hoàn cảnh ấy. Ngài chẳng phải là nhà mô phạm xã hội,, hoặc tư vấn lỗi lạc, kiểu người ta tư vấn hàng ngày trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, internet.

Nhưng xin nhớ Ngài luôn huấn luyện cho các môn đệ về lòng khiêm tốn chân thật, gạt bỏ ham hố danh vọng thế gian. Ngài làm gương sáng bằng lời nói việc làm và cái chết nhục nhã trên thập tự, chúng ta ngộ ra lời Ngài hôm nay quả là chí lý. Ong chủ mời Chúa Giêsu hôm nay là một thủ lãnh nhóm Pharisêu và bữa tiệc là quan trọng. Bữa tiệc của ngày Sabát mừng dân Do Thái thoát ách nô lệ Ai Cập và bất cứ sự nô lệ nào: “Một ngày Sabát kia, Đức Giêsu đến nhà một thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa”. Dĩ nhiêm trong bữa tiệc này, mỗi người được sắp xếp theo đúng nghi lễ, đồ ăn, thức uống, khách được mời, vị trí và phong cách khách mời. Mọi thứ đều theo tập tục cách hoàn hảo, không để điều chi thiếu sót. Luca thêm một câu làm cho độc giả suy nghĩ về Chúa Giêsu: “Họ cố dò xét Người”. Chẳng hoá ra Chúa đã bị mang tiếng là tay “phá cách”, “ngang ngược”!

Trong bữa tiệc Đông phương làm chi có bảng hiệu tên cho mỗi thực khách, cũng chẳng có bàn nào đề chữ “reserved” (dành riêng). Ai nấy cứ theo địa vị xã hội mà ngồi vào vị trí của mình. Dĩ nhiên là có sự lộn xộn và họ dò xét thái độ của Chúa Giêsu xem Ngài hành xử như vậy không? Tức có khiêm tốn đúng với vị trí của mình, hoặc tự thổi phồng ngồi vào chỗ danh dự? Đối với họ, Ngài chỉ là tay gàn, rao giảng lang thang như các phù thuỷ thời ấy. Biết rõ bụng họ, nên Ngài đưa ra bài học luân lý, chứ không phải dạy bảo người ta giả hình. Trước hết cho những khách dự tiệc: “Khi anh được mời đi ăn tiệc cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất”. Cỗ nhất là cỗ danh dự, dành cho những người cao trọng. Ngồi chỗ đó là tự nhận mình có địa vị trong xã hội, tôn giáo. Thực tế chỉ có số rất ít có vị trí đó, đa phần thì không. Khiêm nhường là vào đúng chỗ của mình. Điều này chúng ta cũng thường hay mắc phải, tự nhận mình cao hơn giá trị thực. Hay nói cách tượng hình: phình to ra như con nhái trong câu truyện “bò và nhái con” của Esop. Thứ hai, lời khuyên cho chủ nhà: không nên đãi tiệc để được lợi lộc, tiếng khen và hệ quả sau đó. Nhiều khi chúng ta đãi tiệc để nhắm lợi lộc: thí dụ để được thăng quan tiến chức, hay kiếm chác vật chất: trúng thầu, trúng hợp đồng, viện trợ không hoàn lại, …

Chuyện kể rằng có một ông nhà giàu kia tên là Oliver. Ông là người tốt bụng, rộng rãi và thường xuyên làm việc bố thí và phân phát rất hào phóng. Ông già rồi chết đi, dân làng ai cũng khen ông nhân đức, sẽ bay lên thiên đàng thẳng băng. Đúng là ông lên thiên đàng, nhưng khi tới nơi, cửa lại đóng. Ông gõ cửa và thánh Phêrô xuất hiện. Ông xưng danh tánh và chờ đợi thánh Phêrô cho vào. Nhưng thánh nhân cản lại, chỉ vào hai đống vàng vụn, đủ mọi kích cỡ. Một đống lớn và một đống nhỏ, lấp lánh sáng ngời. Thánh nhân nói: hai đống vàng đó là công nghiệp của ông khi còn ở trần gian. Nhưng chúng phải được gạn lọc, viên nào xứng đáng tinh ròng, viên nào còn vương mùi ich kỷ, tư lợi, kiêu ngạo, tiếng tăm hão.

Rồi thánh nhân đưa ra một cái ràng, mắt ràng có thể điều chỉnh. Thánh Phêrô bắt đầu lọc vàng, từ đống nhỏ trước. Oliver ngạc nhiên hỏi: “Tại sao Ngài không bắt đầu từ đống lớn?”. Thánh nhân trả lời “không cần, vì đống to là những tặng phẩm Oliver ban cho bạn bè, thân thích bà con. Cái đó không có giá trị chi cả”. Bỗng dưng một cơn gió đến thổi tung bay tất cả, và chúng biến mất. Oliver xanh mặt thất vọng. Thánh Phêrô sàng đống nhỏ, mẻ sàng còn lại các hột vàng to, thành nhân gom lại và hắt sang một bên, chúng phút chốc thành tro bụi và biến mất. Oliver kinh ngạc hỏi tại sao vậy? Thánh nhân trả lời: “nó còn vương bụi bặm khoe khoang”. Mẻ sàng thứ hai với mắt lưới được điều chỉnh nhỏ hơn. Và thành Phêrô cũng hắt sang một nên những hạt to còn lại trên sàng, chúng cũng đều biến ra tro bụi và bay đi. Oliver thắc mắc tại sao thế? Thánh Phêrô trả lời: “còn vướng mắc lòng tự mãn, coi mình rộng rãi hơn thiên hạ”. Mẻ sàng thứ ba với mắt lưới nhỏ hơn nữa khiến những hạt vàng còn to không lọt xuống được. Thánh Phêrô lại hắt ra ngoài và chúng cũng biến đi nhanh chóng. Thánh nhân giải thích: “còn vương ẩn ý đền bù, làm êm dịu lương tâm”. Mẻ thứ tư và mẻ thứ năm thì chẳng còn gì để mà sàng. Oliver thất vọng, than khóc vì lấy chi mà vào nước Trời? Cả đời coi như toi công.

Tuy nhiên thánh Phêrô an ủi: “Hãy còn tin vui”. Oliver sáng mắt hy vọng: “Thưa Ngài tin vui gì?”. Thánh nhân trả lời: “Bây giờ anh nghèo quá, vì chẳng còn lại gì. Nhưng đó là giấy thông cho anh được vào chầu Chúa”.

Câu truyện không phải là để khuyên chúng ta ươn hèn lười biếng, nhưng cho thấy những việc bác ái không phải để lãnh công Nước Trời, mà là huấn luyện chúng ta nên tốt, nên thánh thiện. Thiên Chúa giàu có vô biên, cần gì “công lênh” của phàm nhân? Một là chúng ta thương yêu nhau vô vị lợi, không dính bén, vị kỷ, tiếng tắm, hay vì một mối liên hệ xác thịt mào đó. Thiên Đàng của mọi người thì Chúa Giêsu đả lập công rồi, bằng giá máu châu báu của Người, phần thưởng thì đã có sẵn. Chỉ cần chúng ta ăn ở tốt lành để chiếm lấy. Vì vậy Đức Giêsu có lý khi Người khuyên ông chủ nhà, đừng mời khách sang trọng, nhưng là những người đui mù, què quặt, lang thang khắp đó đây. Họ chẳng có chi để trả, lúc ấy việc đãi tiệc mới không hề vướng mùi vị kỷ. Kiêu ngạo hết khả năng len lỏi vào các công việc như thế. Các thầy Rabbi Do Thái nói: bố thí đúng nghĩa nhất, là khi người ta không biết mình cho ai, và người nhận cũng không biết tặng phẩm từ đâu đến. Au cũng là thái độ của chúnng ta ngày nay. Xin Chúa cho chúng ta lòng khiêm tốn đích thực.

Nói cho đúng, Thiên Đàng không phải là hàng hoá để người ta mua bán. Ngay cả mọi công nghiệp của thế gian này góp lại cũng không thể “tậu” nổi Nước Trời. Thiên Chúa không như chúng ta. Người là Đấng ban phát nhưng không vĩ đại nhất. Tại sao chúng ta lại cậy lập công để chiếm được Thiên Đàng? Thật vô lý, mà có vì công nghiệp đi nữa, thì có bao nhiêu vượt qua được thử thách thanh lọc của Thánh Phêrô? Chẳng có chi cả, vì việc làm của chúng ta luôn nhuốm mùi vị kỷ, tiếng khen, lời cảm ơn. Chẳng bao giờ chúng ta vô vị lợi hy sinh cho người khác, ngược lại thu vén cho mình trên lưng trên cổ thiên hạ. Chuyện này quá rõ trong sinh hoạt hằng ngày. Duy một mình Đức Kitô dám hy sinh mạng sống vì kẻ khác một cách hoàn toàn bất vụ lợi. Ngài trộn lẫn công nghiệp của mình với nhân loại, và ban cho những ai tay trắng, mà chẳng đòi hỏi họ điều chi, ngoài việc họ phải tuân hành thánh ý Thiên Chúa, để cha Người được vinh quang trên trái đất này. Nếu cần tìm một con chiên bị thất lạc, Người sẵn lòng bỏ lại chín mươi chín con khác và chịu cực nhọc để tìm con chiên lạc. Người chỉ lo đến đàn chiên, không hề lo cho thân mình. Xin đọc kỹ Phúc âm để nghiệm ra chân lý này.

Nên chúng ta phải dùng hết mọi tài năng, thời giờ, tiền bạc phục vụ các linh hồn. Thi hành bác ái, bố thí tiền bạc, của cải không phải là xa xỉ hay nhiệm ý của người Kitô giáo. Nó là bổn phận không cần bàn cãi. Người tín hữu chân thật là người yêu tha nhân hết tình, coi họ như anh chị em mình, mà không mong được đền đáp. Chúng ta thi hành bổn phận chia sẻ cuộc sống với tha nhân, không phải là được nổi tiếng hay lợi lộc, nhưng chỉ vì phải đứng dậy để kẻ khác cùng trỗi dậy với chúng ta trong đời sống mới mà Đức Kitô đã mang xuống trần gian.

Tôi chắc rằng Đức Giêsu không khuyên chúng ta đừng mời mọc thân nhân đến nhà mình dùng bữa, nhất là trong những ngày lễ đặc biệt. Đó không phải là điều Ngài ám chỉ trong Phúc âm hôm nay khi khuyên ông Pharisêu. Người chỉ muôn nhấn mạnh về lòng khiêm tốn khi làm việc bác ái. Ngoài ra, nếu chúng ta làm đúng như Chúa chỉ dẫn, chúng ta được nhiều cái lợi. Thí dụ có những bạn bè mới, tương quan mới, nhất là tìm thấy Chúa Giêsu trong những người nghèo khổ, vì Người thường đồng hoá mình với họ. Người nghèo cần giúp đỡ, nhất là cần nhân phẩm, điều mà xã hội giàu có không muốn cho họ.

Vậy Đức Giêsu không thay đổi quan điểm, ngược lại, nhất quán triệt để ngay cả trước mặt Pharisêu. Ngài không xúi ngầm chúng ta dùng mánh lới để leo lên bậc thang xã hội. Giả vờ ngồi chỗ rốt hết để được cất nhắc lên cao. Ngài chỉ muốn chúng ta có lòng khiêm nhường đích thực, không hậu ý để được khen hay lời cảm ơn. Đồng thời vươn tới những người nghèo khổ, chia sẻ nhân phẩm, của cải vật chất với họ. Có những tương giao mới hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Thánh lễ hôm nay cũng là một bữa tiệc. Chúng ta đối xử với nhau ra sao? Tuy rằng cùng một gia đình Thánh Thể, nhưng trong giáo xứ, hội đoàn, tu viện có rất nhiều những khác biệt, cấp bậc. Liệu chúng ta có ở đúng vị trí, hay đòi “cầm nọc” thiên hạ, cố vấn lung tung, bắt kẻ khác phục tùng ý kiến của mình, ngoi lên địa vị độc tôn rồi chia bè kéo đảng? Bài đọc một và hai cũng cho những lời khuyên thấm thía: “Con ơi hãy hoàn thành việc của con cách nhũn nhặn, thì con sẽ được mến yêu hơn người hào phóng. Càng làm lớn con càng phải tự hạ, như thế con sẽ được đep lòng Thiên Chúa”. “Anh em đã tới núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa là Giêrusalen trên trời với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa”. Như vậy thái độ hống hách trịch thượng là không hợp lý. Chúng ta khiêm tốn phục vụ nhau và chú tâm vào Lời Chúa còn rất mới mẻ hôm nay. Mặc dầu thế giới còn rất nhiều khác biệt. Nhưng trước Thánh Thể, chúng ta chỉ là một gia đình, chúng ta có quan hệ với nhau trong Thần Khí Đức Kitô. Cho nên không có lý do để giữ thái độ kiêu căng, kẻ cả. Trái lại hãy nghe lời Chúa mà sống khiêm nhường vô vị lợi. Amen.


Ý đẹp:

Trong Bí tích Thánh Thể, các tín hữu được đồng bàn ăn uống với Chúa Giêsu, vị tiên tri vĩ đại, như vậy họ phải mở linh hồn ra cho các thách đố của vị đại tiên tri này. Họ phải sẵn sàng hợp tác với Ngài trong công việc biến đổi kẻ khác. Đó là đòi hỏi của tinh thần liên đới đồng bàn. Thoái thác đòi hỏi này là rút lui khỏi bữa tiệc.

Sự thách đố căn bản của vị đại ngôn sứ Giêsu là lòng hối cải (metanoia), một tiến trình trọn đời của mỗi linh hồn. Những ai đồng bàn với Chúa phải luôn sẵn sàng để sự hiện diện của Ngài biến đổi. Chúng ta phải trở nên giống Ngài, bởi vì Ngài đã nên giống chúng ta. Không ai được miễn trừ khỏi thách đố hối cải, bởi lẽ chẳng một ai là công chính, tất cả nhân loại đều có nhu cầu ăn năn, xin ơn Chúa tha thứ.

Một thách đố khác là : thói xấu tìm kiếm danh dự, đặc ân, lợi lộc cá nhân, giống như các khách mời trong bữa tiệc hôm nay, hoặc như ông chủ nhà biệt phái chỉ mời những khách sang trọng, giàu có, chức quyền với hy vọng được đáp lễ. Đúng là có những thách đố lớn trong bữa tiệc hưu lễ tại nhà ông biệt phái vị vọng. Cho nên, muốn đồng bàn trong Nước Thiên Chúa, người ta phải tìm kiếm chỗ rốt hết và người chủ nhà phải mời những kẻ bần cùng đói khổ. (La Verdière: Dining in the Kingdom of God, 1994).


Tập Viện 2007

“Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”
Lc 14:1.7-14

Kính thưa cộng đòan,

Bài Tin mừng hôm nay, Thánh sử Luca đã thuật lại cho chúng ta thấy việc Chúa Giêsu đến dự tiệc tại nhà của trưởng nhóm nhóm Pha-ri-sêu. Qua cách ứng xử của Chúa, Chúa đã cho chúng ta nhận ra một thực tại, một căn bệnh trầm kha của con người trần thế đó là ham danh vọng, hay tự mãn cho mình hơn kẻ khác, đồng thời Chúa cũng dậy chúng ta phải có lòng bác ái, vị tha đừng vụ lợi ăn miếng trả miếng. Hãy cho đi mà không cần đáp trả vì chính Chúa sẽ trả công cho chúng ta.

Trong bữa tiệc, Chúa quan sát thấy ai cũng muốn ngồi cỗ nhất. Một phần vì theo thói thường, ai cũng muốn mình nổi nang, được mọi người kính trọng. Phần khác vì chủ nhà là thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu, là một người rất có thế lực, nên ai cũng muốn ngồi gần ông ta, ngồi vào cỗ nhất hoặc để gây uy tín, hoặc có dịp nhờ ông giúp cho một việc nào đó. Nhưng với Đức Giê-su, vốn không muốn tranh giành, lại coi thường những chức danh phù phiếm, nên đã tự động ngồi vào cỗ chót. Trong tình huống ấy, chủ nhà buộc lòng phải mời những khách không mấy quan trọng xuống khỏi cỗ nhất. Chủ nhà mời Đức Giê-su lên cỗ nhất, một phần vì uy tín của Người, nhưng cũng để nghe Người nói mà dò xét, bắt bẻ.

Lạy Chúa Giê-su, xưa đi dự buổi tiệc, Chúa đã nhận thấy một thói xấu vẫn thường có nơi những người biệt phái là chọn ngồi chỗ nhất. Ngày nay, vẫn còn đó biết bao người vẫn ham tìm danh vọng, chức quyền bằng mọi cách, mọi thủ đọan ; vẫn còn đó sự kiêu ngạo, ai cũng muốn mình trổi vượt hơn, giỏi giang hơn, giàu có hơn, thế lực hơn người khác. Vì muốn nổi hơn người, nhiều người không ngần ngại tìm cách để chà đạp người khác.

Để được vào nước trời, Chúa muốn chúng con sống khiêm nhường, bái ái với tha nhân, nhưng lạy Chúa điều đó thật khó để chúng con có thể thực hiện được khi chúng con vẫn còn mang trong mình sự ích kỷ, lòng tham, ham danh và kiêu căng.

Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên

Dụ ngôn được đem ra dạy dỗ không chỉ đơn thuần là một quy luật xã giao, một thứ lịch sự phải có khi giao tế, mời mọc kẻ khác, nhưng Chúa cho thấy đây cũng là quy luật sống trong Nước Thiên Chúa. Ngày phán xét chung, Thiên Chúa sẽ hạ những kẻ kiêu căng xuống. Đừng ai nghĩ rằng trước mặt Chúa mình là thế này thế khác để đòi ân huệ. Tất cả chỉ là hồng ân nhưng không. Nhưng Thiên Chúa ban cho kẻ khiêm nhường và chống lại người kiêu hãnh : một cô gái nghèo nàn như Ma-ri-a đã trở thành nhân vật cao trọng trước mặt mọi người : “Vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn nữ tỳ Chúa” ; còn người muốn tham vọng bằng Thiên Chúa như E-và, đã thấy mình trơ trọi, bị đuổi khỏi địa đàng. Tại buổi tiệc năm xưa, Chúa đã nhắc nhớ những người biệt phái cần biết điều đó, đừng kiêu hãnh vì dòng tộc Do-thái, vì giữ một số luật lệ, rồi cho đó là công chính và khinh chê những kẻ khác. Ngày nay, Chúa cũng muốn nhắc nhở mỗi người chúng con đừng bao giờ cho mình là đạo đức, tài giỏi, giàu có hơn người…để từ đó dễ sinh ra kiêu căng, khinh dể, coi thường người khác.

Hạ mình, đó là con đường của Thiên Chúa. Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường (Mt 11, 29). Vì thế những ai khiêm tốn là trở nên giống Chúa Giêsu, xứng đáng ngồi đồng bàn với Thiên Chúa trên Nước Trời.

Ai tự nâng mình lên thì không có giá trị gì. Ai được người khác nâng lên, giá trị có đó, nhưng rất mong manh. Ai được Thiên chúa nâng lên, giá trị đó mới thực cao quí và bền vững. Vì Chúa chỉ nâng cao những người khiêm tốn.

Khiêm nhường như Đức Giê-su không phải là hèn nhát. Trái lại chỉ những ai dũng mạnh, can đảm mới dám hạ mình phục vụ anh em.

Khiêm nhường như Đức Giê-su không phải là nô lệ. Trái lại khiêm nhường phục vụ là một cử chỉ đầy tình yêu, một thái độ hoàn toàn tự do, cao quí. Khiêm tốn hạ mình phục vụ là thoát ra khỏi cái tôi chật hẹp ích kỷ để đi vào con đường tự do thênh thang của Thiên Chúa, của Nước Trời.

Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,
Xin Chúa dạy chúng con bài học sống khiêm nhường, biết quên mình, sống tự hạ tự hủy mà Chúa đã sống và mời gọi chúng con sống theo Chúa !

Xin Chúa dạy chúng con bài học sống vô vị lợi, sống bác ái, sống hiến dâng mà Chúa đã sống và mời gọi chúng con sống theo Chúa, sống giống Chúa ! Amen.

 
Đỗ Lực op

Chan Hòa Niềm Vui
(Lc 14:1.7-14)

Mẹ Têrêsa Calcutta là một linh hồn tràn ngập ánh sáng Chúa Kitô, cháy lửa yêu mến Chúa và nồng nhiệt ước mong “làm cho Chúa nguôi ngoai cơn khát tình yêu và các linh hồn.” Mặc dù “vóc dáng nhỏ bé, nhưng đức tin cứng như đá, Mẹ Têrêsa Calcutta đã được ủy thác sứ mệnh loan báo Thiên Chúa khao khát yêu thương nhân loại, nhất là những người nghèo khổ nhất trong các người nghèo. (1)

Chính ở nơi tận cùng bằng số của kiếp người, Mẹ Têrêsa đã gặp gỡ Thiên Chúa và đã hoàn thành sứ mệnh cứu độ của Ðức Kitô. Phải chăng từ Tin Mừng Luca hôm nay, Mẹ đã rút ra được bài học cụ thể cho chiều hướng dấn thân của mình giữa nhân loại. Chúng ta thử theo hướng dấn thân của Mẹ để tìm một bài học ý nghĩa và giá trị từ Tin Mừng cho người nghèo khổ hôm nay.

NIỀM VUI ÐẠI HỘI

Nhìn vào tiệc cưới, Ðức Giêsu nhận thấy có nhiều cảnh thật tức cười. Có những khách quý ngồi chỗ cuối và khách xoàng ngồi chỗ sang. Cảnh lộn xộn trong tiệc cưới diễn tả tất cả tâm trạng con người trong xã hội. Thói kiêu căng và tham vọng làm cho con người không còn nhìn ra sự thật về chính mình. Họ là những con người thích “chơi nổi,” và muốn mọi người nhìn vào họ như mẫu điển hình. Họ biến mọi người thành nấc thang đưa họ lên đài danh vọng. Khi nêu lên thói rởm đời giữa tiệc cưới, Chúa cũng muốn phơi bày tất cả dáng vẻ kiêu căng của các thủ lãnh nhóm Pharisêu. Các tông đồ cũng không khá hơn. Họ đã từng tranh nhau chỗ ngồi bên tả hữu Chúa. Sự thật làm gì có nơi những tham vọng kệch cỡm đó ?!

Sự thật cũng không thể hiện diện nơi những con người chọn sai vị trí. Theo đúng hướng dẫn của chủ tiệc, những người quyền quý sẽ tìm thấy chỗ ngồi giữa những người cùng địa vị hay kiến thức. Có lẽ vì khiêm tốn, họ đã muốn nhường những chỗ cao sang cho người khác. Nhưng khiêm tốn không phải là tự giáng cấp. Người khiêm tốn đích thực biết đánh giá đúng mức và chân thành phục vụ đúng như cam kết. Chúa Giêsu muốn các môn đệ đi tìm nơi phục vụ, chứ không phải tìm thanh thế.

Trên thực tế cũng có những người tỏ vẻ khiêm tốn để lũng đoạn người khác. Có những người giả vờ khiêm tốn để che giấu nhu cầu muốn mọi người biết đến danh mình. Không nên tìm cách xóa mình một cách giả tạo, nghĩa là không nên trút bỏ trách nhiệm hay công việc mọi người đang trông chờ nơi chúng ta.

Người khiêm tốn đích thực chỉ so sánh mình với Ðức Kitô. Làm thế, họ ý thức về tình trạng tội lỗi và những giới hạn của mình. Mặt khác, họ cũng nhận ra những hồng ân và sức mạnh của mình mà hành động theo sự hướng dẫn của Chúa Kitô. Họ không muốn giống như người đầy tớ đem chôn vùi nén bạc xuống lòng đất. Trái lại, không phải vì muốn khoe khoang, khi họ đem nén bạc đầu tư để tạo cơ hội dấn thân phục vụ mọi người. Nếu đúng thế, họ sẽ được Chúa ban thưởng như những đầy tớ trung tín. Chỉ có người khiêm tốn đích thực mới hưởng trọn vẹn niềm vui.

Khiêm tốn không còn là một nhân đức thuần túy luân lý, nhưng đã được nâng cao lên đức tính của Thiên Chúa. Trong Con Chúa, khiêm tốn không còn là điều kiện, nhưng đã trở thành sức mạnh cứu độ. Khi sinh trong máng cỏ Bêlem, rửa chân các môn đệ tối Thứ Năm Tuần Thánh, hay chết trần truồng trên Thánh giá, Ðức Kitô đã cho thấy thân phận và sứ mệnh Người gắn liền với lòng khiêm cung sâu thẳm. Có khiêm tốn mới chấp nhận cảnh khó nghèo cùng cực như thế.

Con người khiêm tốn sẵn sàng mở rộng tâm hồn đón tiếp mọi người, giàu sang cũng như nghèo khó, và đặc biệt ưu tiên cho những người nhỏ bé. Chỉ khi nào khiêm tốn và khó nghèo thực sự, chúng ta mới trở nên giống Chúa Giêsu, biết đồng cảm với những người cùng khổ. Người đã đến trần gian để cứu mọi người, không loại trừ ai. Người bị trấn lột hoàn toàn. Bởi thế, Người mới tự do cứu giúp mọi người, cả giàu lẫn nghèo. Nếu cũng bị ràng buộc vào những tiếng khen, danh vọng, quyền lực, chắc chắn Chúa đã không thể xả thân hết mức như thế.

Mở tiệc đãi những người kém may mắn như thế là tạo cho người nghèo cũng được ăn uống và trọng đãi như người giàu. Khi vì tình yêu đích thực hoạt động hoàn toàn bất vụ lợi, chúng ta sẽ đem lại sự bình đẳng xã hội, mà chẳng cần phải đấu tranh giai cấp. Trong cuộc sống, phải ưu tiên chăm sóc những người nghèo khó và bệnh tật, vì Ðức Kitô đã muốn đồng hóa với họ. Chính nơi khuôn mặt đôi khi dị dạng của một số người, chắc chắn chúng ta gặp Thánh Nhan Chúa Kitô (x. Mt 25:35-45).

Dưới ảnh hưởng Thần Khí, Chúa Giêsu đặc biệt hiến thân cho người nghèo, bệnh tật và tội lỗi. Ðó là lý do tại sao Chúa khuyên chúng ta làm tiệc đãi những người nghèo khổ, tàn tật, què quặt, đui mù, những người không có gì để trả ơn chúng ta. Nhưng chính họ lại là những ân huệ Thiên Chúa ban cho những người giàu có. Quả thế, họ mở ra cơ hội cho người giàu tạo nên những giá trị và ý nghĩa đích thực cho cuộc sống. Ðó là kinh nghiệm bất cứ ai làm việc bác ái cũng cảm thấy sau khi giúp những người nghèo khổ và kém may mắn. Một niềm vui và hạnh phúc khôn tả tràn ngập tâm hồn và cuộc đời.

Ở ÐỜI MUÔN SỰ CỦA CHUNG

Chỉ những người khiêm tốn mới có khả năng mở rộng tâm hồn và hòa mình với mọi người, nhất là những người nghèo khổ. Theo Ruusbroek, càng khiêm tốn, con người càng lặn sâu trong Thiên Chúa, để thấy mình liên đới với người nghèo. Chính vì thế, khi xét đến đặc ân Tin Mừng dành cho người nghèo, Giáo Hội nhắc lại nhiều lần rằng “những người may mắn hơn hãy từ bỏ một số quyền lợi của mình mà dùng tài sản để phục vụ người khác cách quảng đại hơn.” (2) Giúp đỡ người nghèo là phục vụ Chúa Kitô. Khi hoạt động cho người nghèo, Giáo hội luôn sánh vai với họ và coi họ như những người anh chị em của mình. Tình bằng hữu này bắt nguồn từ tình yêu Chúa Cha trong Ðức Giêsu Kitô. Nếu người nghèo là anh chị em, Giáo Hội sẽ chia sẻ tận tình tất cả những gì mình nhận được từ Thiên Chúa.

Người nghèo trở thành một mối phúc cho Giáo hội. Quả thực, “tình yêu Giáo Hội dành cho người nghèo được gợi hứng từ các Mối Phúc trong Tin Mừng, từ sự nghèo khó của Ðức Giêsu và sự quan tâm của Chúa về người nghèo. Tình yêu đó liên quan tới cái nghèo vật chất và nhiều hình thức nghèo nàn về văn hóa và tôn giáo nữa.” (3) Sự nghèo khó nào cũng bắt nguồn từ bất công. Bởi đấy, chống lại bất công là cứu con người khỏi sự nghèo khốn cả vật chất lẫn tinh thần.

Làm việc bác ái hay bố thí cũng được Giáo hội coi là hoạt động cho công lý, đẹp lòng Thiên Chúa. Thực vậy, “khi chú tâm tới những nhu cầu của những người đang lâm cơn quẫn bách, chúng ta trả cho họ những gì của họ, chứ không phải của chúng ta. Chúng ta trả nợ do công lý đòi hỏi, hơn là thực thi công việc từ thiện.” (4) Nghe thế, chắc nhiều người không hài lòng. Từ trước đến nay, họ vẫn hãnh diện về bao nhiêu công tác từ thiện, bố thí, làm phúc, bác ái. Họ đã chia bớt bao nhiêu của cải cho người nghèo. Của cải đó do chính họ vất vả làm ra, chứ có lấy của ai đâu ? Sao bây giờ lại ăn nói “vô ơn” như vậy ?!

Thực ra, tất cả đều là hồng ân. Của cải là những món quà họ đã đón nhận từ Thượng đế. Nói khác, Thiên Chúa trao cho họ quản lý những món quà đó, nhưng vẫn giữ quyền làm chủ. (5) “Của cải là một ơn lành do Chúa ban để ông chủ xử dụng và lưu chuyển, cho cả người khốn cùng có thể hưởng dùng.” (6) Thánh Basiliô Cả minh họa : “một con thác lớn chảy xối xả vào miền đất phì nhiêu, qua hàng ngàn kênh đào. Vậy thì, qua hàng ngàn đường lối khác nhau, bạn hãy làm cho của cải đến nhà những người nghèo khó. Mục đích Chúa trao tặng những món quà đó là để họ tiếp tục trao đi cho người khác.”

Tất cả những công cuộc bác ái đều cần thiết cho con người hoàn thành sứ mệnh và tạo nên ý nghĩa cũng như giá trị cuộc đời. Như thế, mới hiểu tại sao khi “mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đi mù,” (Lc 14:13) chúng ta lại trở thành những người “thật có phúc.” (Lc 14:14) Tiếp tục cho đi là cách tốt nhất chuẩn bị đón nhận hồng ân cao cả nhất “trong ngày các kẻ lành sống lại.” (Lc 14:14) Quả thế, “Chúa Giêsu đến thiết lập ‘Nước Thiên Chúa,’ để con người có một lối sống mới trong xã hội : công bình, huynh đệ, liên đới và chia sẻ. Trong Thánh Linh, con người được kêu gọi trả lại công lý cho người nghèo, giải thoát người bị áp bức, an ủi những người bị bách hại, tích cực tìm kiếm một trật tự xã hội mới để giải quyết thỏa đáng sự nghèo túng vật chất và kiềm chế những lực lượng đang ngăn trở các nỗ lực giải thoát người hèn yếu nhất khỏi những hoàn cảnh khốn cùng và kiếp nô lệ.” (7) Có thế, mối phúc một người mới được nhân lên đến ngàn lần.

MONG ÐỢI GÌ NƠI GIÁO HỘI ?

Bình thường ai cũng muốn giao du với những người quyền thế, giàu sang để thăng quan tiến chức. Chỉ có những tâm hồn khiêm tốn mới nhìn thấy mối liên đới trách nhiệm với những người nghèo khó và quan tâm tới hạnh phúc của họ. Quả thế, nếu không có một tâm hồn khiêm tốn và nghèo khó, chắc chắn Ðức Giêsu đã không thể đề nghị mời những người nghèo khó, đui mù, què quặt đến dự tiệc.

Hiện nay, hàng tỷ người nghèo đói đang chầu chực ngoài các bàn ăn thịnh soạn của bao người giàu có. Họ không có gì để ăn ! Trước tình trạng ấy, Giáo Hội có thể làm gì ? Có phải con người đang mong chờ những món quà viện trợ từ Vatican hay các tòa giám mục ? Làm sao Giáo Hội có khả năng để giúp đỡ một số người đông đảo như thế ? Giáo hội có phải là một đế quốc đâu ! Vậy nhân loại mong chờ gì nơi Giáo Hội ?

Trước hết, nhân loại không trông mong những giúp đỡ vật chất nơi Giáo Hội cho bằng tiếng nói bênh vực công lý. Tiếng nói Giáo hội thật cần thiết để đánh động lương tâm con người trước một vấn đề trầm trọng của thời đại. “Khởi đầu Tân Thiên Niên Kỷ, tình trạng nghèo đói của hàng tỷ người, nam cũng như nữ, là ‘vấn đề duy nhất thách thức lương tâm con người và Kitô hữu.’ (8) Nghèo đói đặt ra một vấn đề bi đát về công lý. Trong nhiều hình thức và hậu quả khác nhau, đặc tính của vấn đề là sự phát triển bất quân bình vì người ta không nhìn nhận “quyền mọi người đều có chỗ ngồi như nhau ‘trong bữa đại tiệc chung.’ Tình trạng nghèo đói như thế khiến không thể thực hiện một nền nhân bản Giáo hội hằng hy vọng và theo đuổi cho con người và các dân tộc có thể ‘khá hơn’ và sống trong những điều kiện nhân bản hơn.” (9)Thực tế, bao nhiêu tổ chức và chính phủ đã thất bại trong việc giải quyết vấn nạn lớn lao đó. Nếu Giáo hội cũng làm như mọi người, chắc chắn vấn đề vẫn còn nguyên vẹn. Nhân loại không lối thoát. Người nghèo vẫn gặp bế tắc …

Rất may, “cuộc chiến chống lại nghèo đói tìm được động lực mạnh mẽ khi Giáo hội dành tình yêu ưu tiên và lựa chọn đứng về phía người nghèo. (10) Khi tái khẳng định nguyên tắc liên đới, học thuyết xã hội của Giáo Hội đòi phải cổ võ ‘thiện ích của mọi người và mỗi người, vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm đối với mọi người.’ (11) ngay trong cuộc chiến chống nghèo đói, nguyên tắc liên đới phải luôn đi kèm với nguyên tắc bổ trợ nhờ đó có thể nuôi tinh thần sáng tạo, nền tảng mọi phát triển xã hội và kinh tế trong các nước nghèo. (12) Nên coi người nghèo “không phải như một vấn nạn, nhưng như những người có thể nắm vai trò chính yếu trong việc xây dựng một tương lai nhân loại mới và nhân đạo hơn cho mọi người.” (13) Những người cô đơn giữa anh em cũng phải được kể vào số những người nghèo khổ nhất về tinh thần.

Bao giờ ta mới bừng tỉnh trước Lời Chúa: “Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ; nếu không, trước mặt chúng, chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn” (Gr 1:17b) ?!

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết khiêm tốn nhìn nhận sự thật và can đảm bênh vực những anh em đang đau khổ vì chính anh em mình. Amen.

đỗ lực 02.09.2007.

 

1. http://www.vatican.va/news_services/liturgy/saints/ns_lit_doc_20031019_madre-teresa_en.html

2. Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 158.

3. Giáo Lý Công Giáo, sô 1033.

4. Thánh Grêgôriô Cả, Regula Pastoralis, 3, 21: PL 77, 87, trích lại từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 184.

5. x. Thánh Grêgôriô Cả, trích Toát Yếu Học Thuyết Xã hội Giáo Hội 2005, số 329

6. Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 329.

7. ibid, số 325.

8. ÐGH Gioan Phaolô II, Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis, 33: AAS 80 (1988), 558; x. ÐGH Phaolô VI, Tông Thư Populorum Progressio, 47: AAS 59 (1967), 280, trích từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 449.

9. ÐGH Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2000, 14: AAS 92(2000), 366; x. ÐGH Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 1993, 1:AAS 85 (1993), 429-430.

10. x. ÐGH Gioan Phaolô II, Diễn văn đọc trước Ðại Hội các Giám Mục Châu Mỹ Latinh lần III, Puebla, Mexico (28.01.1979), I/8: AAS 71 (1979), 194-195, trích từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 449.

11. ÐGH Gioan Phaolô II, Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis, 33: AAS 80 (1988), 566; trích từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 450.

12. x. ÐGH Phaolô VI, Tông Thư Populorum Progressio, 55: AAS 59 (1967), 284; ÐGH Gioan Phaolô II, Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis, 44: AAS 80 (1988), 575-577; trích từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 450.

13. ÐGH Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2000, 14: AAS 92(2000), 366.; trích từ Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 450.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp)

KHIÊM NHƯỜNG & PHỤC VỤ
Luca 14: 1, 7-14

Bài đọc trích sách Huấn ca hôm nay có thể củng cố những quan điểm về người đạo đức – những người được cho là có lòng khiêm nhường. Khi nghĩ đến sự khiêm nhường, nhiều người nghĩ ngay đến việc đấm ngực, những tâm hồn đạo đức chấp nhận xem mình như thảm cửa cho những kẻ tham vọng bước qua. Chúng ta thường cho rằng những người khiêm nhường thì không hay chống lại luật lệ hoặc trật tự, họ chỉ cầu nguyện và khi gặp gian nan khốn khổ, họ “phó thác” cho Chúa. Nhưng Ben Sira, tác giả sách của quyển sách Khôn ngoan này, không xem khiêm nhường là thụ động và mềm yếu như vậy.

Ông là thầy dạy của người trẻ (57,23-30) và ông muốn bảo tồn niềm tin của người Dothái giữa những thế hệ thày dạy và hiền nhân tiếp theo. Bài giảng về lòng khiêm nhường của Ben Sira là về sự từ bỏ và tín thác nơi Thiên Chúa. Người khiêm nhường thì mở lòng mình ra, học hỏi đường lối của Thiên Chúa và thực thi đường lối ấy. Chẳng phải Đức Giêsu cũng từng nói về Người như là một con người khiêm hạ đó sao? Những ai có thể nhận ra Người như Đấng Chúa sai đến cũng sẽ có một trái tim khiêm hạ.

Hiền nhân viết bài đọc thứ nhất hôm nay không dạy môn đệ của mình hay chúng ta nhún nhườngg khi chúng ta đối mặt với sự dữ và cái ác. Nhưng hoàn toàn ngược lại: người khiêm hạ cúi mình trước thiên Chúa và mở lòng đón nhận thánh ý của Ngài, sẽ đứng thẳng bảo vệ chân lý – biết rằng Thiên Chúa, Đấng Công Chính, luôn đứng về phía những ai khiêm nhường và khát tìm chân lý. Kẻ khiêm nhường muốn cộng tác với Thiên Chúa; thái độ khẳng khái như thế sẽ tăng cường và khơi lên chân lý trong lòng họ và rồi họ “sẽ tìm thấy niềm vui trong Chúa”.

Tin mừng Luca có nhắc đến rất nhiều bữa tiệc. Hôm nay, chúng ta thấy Đức Giêsu ở một bữa tiệc khác. Ngay phần mở đầu câu chuyện thánh Luca đã đưa ra một tình trạng căng thẳng. Đức Giêsu đến dự tiệc ở nhà một “thủ lãnh Pharisêu.” Chúng ta đoán Người sẽ gặp rắc rối khi nghe thánh Luca cho biết “họ cố dò xét Người.”

Tôi cũng mới dự một tiệc cưới rất tuyệt. Ngay khi bước vào phòng tiệc, tôi đã thấy có một cái bàn và trên đó có sơ đồ ghi tên và chỗ ngồi của tất cả các vị khách mời. Tôi đến và tìm xem tôi sẽ ngồi bàn nào. Tôi đã thật sự vui mừng vì thấy mình được sắp xếp ngồi cùng bàn với một số bạn cũ và vài người tôi chưa từng quen biết. Mãi đến khi chúng tôi ăn tiệc và trò chuyện, tôi mới nhận ra rằng chúng tôi có cùng một sở thích và địa vị giống nhau. Tôi biết chủ tiệc cưới đã thận trọng sắp xếp tôi ngồi cùng với những vị khách mà chúng tôi có thể cùng nhau thưởng thức tiệc cũng như chia sẻ niềm vui của bữa tiệc.

Vào thời Đức Giêsu và trong nền văn hóa của Người, việc sắp xếp chỗ ngồi trong bữa tiệc là rất rõ ràng. Chủ tiệc phải sắp xếp khách mời vào “vị trí xứng hợp.” Người quan trọng nhất sẽ ngồi vào chỗ cao nhất và nổi bất nhất. Những người khác sẽ lần lượt ngồi vào những vị trí thấp hơn tùy theo tầm quan trọng của mình. Một khi mọi người đã yên vị, tất cả những gì anh chị em cần làm là nhìn quanh để thấy rọ tầm quan trọng của mỗi thực khách trong mắt chủ tiệc.

Đức Giêsu là một vị khách trong nhà của một vị Pharisêu quan trọng. Có thể chúng ta không biết Đức Giêsu được xếp ở vị trí nào, là một thày giảng và một người nổi bật, có thể Người được mời vào một vị trí nổi bật trong bàn tiệc – chúng ta không biết rõ điều này. Điều chúng ta biết chắc là Người ngồi vào một nơi không mấy gì là thiện cảm, Người cũng không bị tác động bởi “những kẻ quan sát Người.” Người bắt đầu nhìn quanh và chỉ dạy cho những kẻ đang tìm chỗ ngồi quan trọng trong bàn tiệc. Người là một vị khách, nhưng hành xử như ông chủ tiệc, sắp xếp khách khứa vào những chỗ nên ngồi trong bữa tiệc.

Đức Giêsu đưa ra một bữa tiệc khác cho những ai có cái nhìn thiển cận và chẳng bao giờ thỏa mãn. Giống như tác giả sách Huấn ca, Đức Giêsu là một hiền nhân, chỉ cho người ta thấy đâu là sự mãn nguyện đích thực: đó không phải là những chỗ quan trọng trong bữa tiệc, nhưng là việc lắng nghe thông điệp cứu độ của Người. Một khi họ lắng nghe và sống những điều này, bằng cách nhận ra và trân trọng “người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù,” thì họ sẽ nhận được chỗ ngồi danh dự trong bàn tiệc đời đời mà Thiên Chúa chuẩn bị cho chúng ta. “Vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày những kẻ lành sống lại.”

Những người mà Đức Giêsu nói đến thì cũng không tham vọng gì hơn con người ngày nay. Nếu họ nhận được ân huệ từ một nhân vật quan trọng, một vị trí cao trong bàn tiệc, thì họ cũng sẽ tổ chức một buổi tiệc để đáp lễ. Như chúng ta thường nói: “Có qua có lại” – cả hai đều nhận được cái gì đó từ phía người kia.

Nhưng Đức Giêsu đang chuẩn bị cho chúng ta một yến tiệc mà nơi đó những kẻ bần cùng sẽ nhận được sự trân trọng cùng với tất cả sự dư đầy. Vì thế, chúng ta cần thực hành những “hành động thuộc nước trời” ngay bây giờ: hành vi trong cuộc sống của chúng ta sẽ phản ảnh vương quốc mà chúng ta là công dân trong đó. Hành vi của chúng ta phải làm sáng tỏ niềm tin của chúng ta, những cảm nghiệm của chúng ta. Chúng ta chưa làm được gì; chẳng có địa vị xã hội hay danh xưng cao sang nào có thể giúp ta trở thành phần tử trong vương quốc của Đức Giêsu. Nhưng, nếu chúng ta áp dụng dụ ngôn vào cuộc đời chúng ta, thì chúng ta thấy Người đã để ý đến chúng ta và nhu cầu của chúng ta, đồng thời mời gọi chúng ta vào vị trí ưu tiên. Chúng ta không đạt được điều đó, nhưng chúng ta nhận được điều đó. Đó là ân sủng.

Nếu chúng ta tin mình nhận được quà tặng này, một chỗ ngồi trong bàn, không phải do tài cán của chúng ta, nhưng do lòng nhân từ của Thiên Chúa, thì chúng ta có thể tỏ ra bằng hành vi tương tự: bằng cách mời vào cuộc đời chúng ta, một cách cụ thể, những người thấp bé và bị bỏ rơi. Hay nói cách khác, chúng ta hành xử như ông chủ tiệc mà Giêsu mô tả trong dụ ngôn, dành chỗ nhất cho những ai bé nhỏ nhất. Và sau khi làm như thế, chúng ta trở thành người phục vụ cho những người chúng ta mời – vì Người cũng dạy chúng ta làm như thế.

Tôi cũng mới thấy dụ ngôn này tái hiện trong chương trình tin tức trên truyền hình buổi tối. Chương trình kết thúc với cảnh nói về một ông chủ nhà hàng Ý ở Anaheim, California. Tên ông là Bruno Serato, và nhà hàng của ông chuyên phục vụ những người giàu có và nổi tiếng ở Quận Cam, ngay bên cạnh Disneyland. Ông đồng thời cũng quản lý Câu lạc bộ Boys & Girls trong vùng, đó là một tổ chức quốc gia để giúp đỡ những trẻ em nghèo. Trong khu vực đó, có rất nhiều trẻ em nghèo đang sống cùng gia đình trong những nhà trọ rẻ tiền. Năm 2005, bà Caterina, mẹ của ông, đến thăm vùng quê này, sau khi đưa bà đến nhà hàng đắt tiền, ông đưa bà đến thăm những đứa trẻ ở Câu lạc bộ. Khi bà thấy những đứa trẻ nghèo đói này, bà quay lại đứa con đang làm ông chủ và bảo ông “Cho chúng ăn!” Và đó chính là công việc ông làm mỗi ngày trong suốt năm năm qua. 

Bruno phục vụ trẻ em mỗi ngày một bữa, không phải với thịt băm và rau xào, nhưng là một bữa tối thịnh soạn y chang thức ăn mà ông phục vụ ở nhà hàng đắt tiền. Chủ nhiệm câu lạc bộ nói: “Những đứa trẻ thích như thế! Chúng tôi giúp một số trẻ em nghèo nhất ở Anaheim thưởng thức một trong những nhà hàng ngoại hạng mỗi tối.”

Với việc suy giảm kinh tế, thì số trẻ em ăn tối của Bruno tăng lên, nhưng thực khách của nhà hàng giảm đi. Vì thế ông lỗ, và phải thế chấp căn hộ của mình để nuôi những đứa trẻ. Nhưng ông vẫn khẳng định sẽ không bao giờ ngừng việc cung cấp thức ăn cho những đứa trẻ, ông nói: “Không Bao Giờ!”

Bruno đã hóa thân vào dụ ngôn mà Đức Giêsu dạy chúng ta hôm nay mà chẳng mất mát gì. Như chương trình phỏng vấn trên TV, ta thấy kết quả trong cuộc sống của Bruno là ông nhận được quà tặng của niềm vui “… khi tổ chức tiệc, ông hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù: như thế ông thật có phúc vì họ không có gì để đáp lại, và ông sẽ được đáp lễ trong ngày những kẻ lành sống lại.” 

Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em HV Đaminh chuyển ngữ)

Hạ mình xuống như thế nào?

Hc 3,17-18.20.28-30; Tv 68; Hr 12,18-19.22-24; Lc 14,1.7-14

 


Kính thưa quí vị,

Thời đại hôm nay, việc mất nhiều thời gian cho nghề nghiệp, cho việc đi lại và những bài tập ở nhà của con cái thực sự đã tạo áp lực cho trách nhiệm của cha mẹ để chuẩn bị bữa tối. Dù chúng ta có gia đình, hoặc sống độc thân, thì sau một tuần bận rộn, chẳng phải quí vị chỉ thích được ai đó mời tới nhà, để rồi quí vị có thể ngồi xuống dùng bữa tối với gia đình hay bạn bè mà quí vị không phải chuẩn bị hay mua vội thức ăn nơi các cửa tiệm trên đường về nhà hay sao?

Ở đoạn Tin mừng trước của Luca (9-51), Đức Giêsu đã quyết định lên Giêrusalem. Vì thế Người đã bận rộn chọn lựa và dạy dỗ các môn đệ mới, chữa lành bệnh tật, giảng dạy và đương đầu với những quan chức tôn giáo. Khởi đầu bài đọc hôm nay, chúng ta biết Người đang dùng bữa tại nhà một thủ lãnh thuộc nhóm Pharisêu. Nhóm Pharisêu rất mộ đạo, đời sống của họ là gương mẫu cho những người Do thái khác về cách sống công chính như quý vị hành xử ngoài xã hội, trong gia đình và nơi hội đường. Sabat là ngày nghỉ ngơi mà người Do thái phải tuân theo và đây là cơ hội cho Đức Giêsu để dừng lại các hoạt động trước cuộc sống bận rộn của Người và thưởng thức một bữa ăn ngon vời bằng hữu.

Theo thánh Luca thuật lại cho chúng ta thì điều đó đã không diễn ra, bởi vì: “Họ đang cố dò xét Người”. Ngay cả ngày Sabat và tại bàn ăn, người ta cũng dò xét Đức Giêsu. Người thường bị các nhà lãnh đạo tôn giáo khả kính lên án vì ngồi ăn với những người tội lỗi. Dù đang bị dò xét, nhưng Đức Giêsu vẫn quan sát lại người ta. Bữa ăn là dịp quan trọng cho bài giảng của Đức Giêsu, và vì thế tại bàn ăn hôm nay, Đức Giêsu đã có lời thách thức nhà lãnh đạo Pharisêu và các khách mời của chủ nhà.

Khi người nào đó bước vào một văn phòng hay xưởng làm nhộn nhịp, họ có thể hỏi: “Ai chịu trách nhiệm ở đây?” Nếu chúng ta đến dùng bữa tối tại nhà vị lãnh đạo nhóm Pharisêu và hỏi các khách mời câu hỏi đó, thì họ sẽ trả lời: “Dĩ nhiên, chủ tiệc chính là vị Pharisêu kia”. Nhưng theo trình thuật của thánh Luca hôm nay, chúng ta nghe có một câu trả lời khác, đó là: “Đương nhiên, người chịu trách nhiệm ở đây là Đức Giêsu.” Rõ ràng Đức Giêsu kể dụ ngôn có tính thách thức này nhằm nói đến những người ở bàn tiệc. Đức Giêsu nói với nhà lãnh đạo nhóm Pharisêu và các thực khách của ông ta bằng một dụ ngôn bất thường.

Trước hết, nghe như là một chiến lược ngoài đời khi có những chỗ ngồi cao nhất tại bàn tiệc và sự thừa nhận từ những người có cùng địa vị. Đức Giêsu cảnh báo cho các vị khách chọn “những nơi vinh dự của bàn tiệc”. Người đề nghị chọn nơi thấp nhất để khi chủ tiệc nhận ra sẽ mời lên chỗ cao hơn: “Xin mời ông bạn lên trên cho.” Còn gì tốt hơn cho bằng: nỗi tiếng là khiêm nhường trước đám đông và còn nhận được chỗ cao hơn tại bàn tiệc? Phải chăng Đức Giêsu đang gợi ý một cách xã giao khôn ngoan tại bàn tiệc để có được sự nể trọng giữa những người có cùng địa vị - vì sự khiêm tốn giả tạo chính là do thái độ kiêu ngạo mà ra? Không phải vì điều đó mà Đức Giêsu đem cả cuộc đời và gương mẫu của mình để chỉ dạy cho chúng ta. Thay vào đó, chúng ta nhận được một thông điệp căn bản từ dụ ngôn này: người môn đệ là phải có tính khiêm tốn và giản dị.

Hẳn rằng Đức Giêsu không bảo chúng ta, những môn đệ thời nay phải lấy điểm thấp ở trường, hoặc tìm một vị trí chậm tiến trong nghề nghiệp hay từ chối lời khen khi làm tốt công việc. Thay vào đó, Người thúc đẩy động cơ nền tảng của chúng ta khi chúng ta theo đuổi những mục đích sống. Thiên Chúa đã trao tặng cho chúng ta những kỹ năng và tài ba để làm điều tốt đẹp trong thế giới, chứ không phải để tìm kiếm địa vị và sự khen ngợi từ những người ở bàn tiệc, hay công sở. Có rất nhiều thứ mà người môn đệ phải thực hiện trong thế giới để nhằm đến những nhu cầu lớn lao, đặc biệt nhu cầu cho những ai đang ở nơi thấp nhất tại bàn tiệc xã hội. Điều này tùy thuộc vào Thiên Chúa chứ không phải phàm nhân, chính Người chuyển trao cho chúng ta danh dự mà chúng ta có thể xứng đáng lãnh nhận. Về phần mình, chúng ta phải suy nghĩ như thế nào khi phục vụ Thiên Chúa, như ngôn sứ Mikha khuyên chúng ta và nói rằng: “Chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng, chúng con chỉ làm bổn phận của mình” (17,10).

Dường như điều đó là chưa đủ, nên Đức Giêsu đi xa hơn bằng cách thách thức các thực khách tại bàn tiệc. Rõ ràng họ thuộc về tầng lớp xã hội khá giả và có khả năng đãi tiệc để mời bạn hữu và các đồng nghiệp của mình. Ở đây, Người lại bảo họ không nên mời những bạn hữu và gia đình giàu có dự tiệc, nhưng yêu cầu họ nghĩ đến người khác. Nghĩa là, họ phải mời “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù.”

Điều này có nghĩa là chúng ta không nên tổ chức tiệc tùng với gia đình và bạn bè phải không? Không phải vậy, chính Đức Giêsu là khách mời trong gia đình của chị Matta, Maria và anh Ladarô mà! Nhưng chúng ta cần nhớ điểm quan trọng trong giáo huấn của Người là: chúng ta không được thờ ơ trước những người nghèo đói, bệnh tật và những người túng thiếu. Những người bị bỏ rơi trong xã hội phải là đối tượng hàng đầu nhắm tới của những môn đệ Đức Giêsu.

Mới đây, một trong những hậu quả của Sequester (tịch thu tài sản tạm thời của người thiếu nợ), những cắt giảm mạnh tay của quốc hội, là Chương Trình Khởi Động Tài Năng (Head Start Program) dành cho các trẻ em nghèo, chương trình này đang bị cắt giảm thảm hại, đó là: 60000 trẻ em chưa đến tuổi đi học sẽ bị cắt giảm. Thêm vào đó, thời gian tài trợ dành cho những trẻ em khác cũng bị rút ngắn lại, cùng với những giảm thiểu hỗ trợ trong y khoa, nha khoa và dinh dưỡng. Với thời gian trợ giúp rút ngắn, cha mẹ của chúng sẽ phải cố gắng xoay sở để vừa chăm sóc con cái vừa phải làm việc mưu sinh. Chúng ta có thể nhận thấy ai là người được ngồi ở chỗ cao nhất, ai là người ngồi chỗ thấp nhất và ai là người không được thừa nhận.

Các môn đệ được giáo dục và có địa vị xã hội sẽ phải tìm ra những cách thức để rời bỏ những nơi vinh dự tại bàn tiệc và ngồi với những người ở “nơi thấp nhất”, tìm hiểu hoàn cảnh của họ, lắng nghe họ và đứng ra bênh vực cho họ. Đức Giêsu bị chỉ trích vì ngồi chung bàn với người tội lỗi, bệnh tật và bất hảo – những người này không chỉ bị ngăn chặn vào dự bàn tiệc, mà còn bị cấm cản vào hội đường. Vậy người ta tìm thấy Đức Giêsu ở đâu? Đó là nơi thấp nhất của bàn tiệc, nơi đây mọi người có thể tìm gặp Người.

Hôm nay, một lần nữa chúng ta lại được dự tiệc của Chúa nơi đây. Chúng ta là những khách mời được tôn trọng. Đức Giêsu là chủ tiệc và trao ban cho chúng ta đồ ăn thức uống ngon nhất; người tội lỗi và người thấp nhất được chào đón ở đây. Chúng ta ăn uống với nhau trong sự khiêm tốn và lòng biết ơn. Thế rồi, khi ăn uống xong chúng ta phải rời khỏi nơi này để thực hành những gì chúng ta đã nghe và đã thấy: người đói được no và kẻ tội lỗi được tha thứ.

Bài đọc sách Huấn Ca hôm nay chuẩn bị cho chúng ta bước vào Tin mừng. Sách Huấn Ca là một phần của truyền thống Khôn Ngoan. Bài đọc hôm nay cũng ngỏ lời cho những người có vị thế trong cộng đoàn của họ. “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức  Chúa.” Giống như Tin mừng, lời khuyên của bậc hiền nhân dành cho học trò không phải là cách để khẳng định mình trước những người cùng địa vị, nhưng là làm đẹp lòng Thiên chúa.

Sách Huấn Ca cho thấy khiêm tôn chính là một đức tính diễn tả niềm tín thác, không phải để tự khẳng định, nhưng là dành cho Thiên Chúa. Thiên Chúa thấy – Thiên Chúa hài lòng – Thiên Chúa ban thưởng. Điều lớn lao thực sự từ đâu đến? Không phải từ chúng ta, nhưng từ Thiên Chúa. Như ngôn sứ Mikha nhắc nhớ, chúng ta phải “thực thi công bình, yêu mến nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa” (6,8).