| |
Chúa Nhật
XXI Thường Niên - Năm C
Is 66:18-21 ; Dt 12:5-7.11-13 ; Lc 13:22-30
An Phong op : Cửa Hẹp,
Lối Ði Hẹp
Như Hạ op : Chông
Chênh
Fr. Jude
Siciliano, op. : Cửa Hẹp
Fr. Jude Siciliano
op : Hãy Phấn Đấu Hết Mình
G. Nguyễn Cao Luật op
: Ai Sẽ Được Cứu
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
: Phấn Đấu Để Được Cứu
Fr. Jude Siciliano op : Qua Cửa Hẹp Bằng Mở Rộng Tâm Hồn Và Tha Thứ
Phêrô Phạm Văn Hoành op : Hãy Chiến Đấu Để Qua Cửa Hẹp
Đỗ Lực op : Cửa Trời Rộng Hẹp Ai Hay ?
Fr. Jude Siciliano op : Chọn cửa hẹp tình yêu hay
cửa rộng bạo lực ?
Fr. Jude Siciliano
op: Ai
là người được cứu thoát?
An Phong op
Cửa
Hẹp, Lối Ði Hẹp
Lc 13:22-30
Tin mừng chúa nhật 21 thường niên C là những
lời nhắn nhủ của Ðức Giêsu : "Hãy phấn đấu đi qua cửa hẹp mà vào". Như người
chủ đóng cửa ngôi nhà lại, thì Ðức Giêsu cũng sẽ "đóng" bữa tiệc cánh chung,
ngăn không cho những người làm điều ác, những người không nhận biết Người đi
vào tham dự. Bàn tiệc Nước Trời dành cho những ai thành tâm thiện ý, "mến
Chúa và yêu người".
"Hãy phấn đấu đi qua cửa hẹp mà vào". Ðó là
lời nhắn nhủ của Ðức Giêsu cho tất cả mọi người. Vào thời Ðức Giêsu, những
lời này là một thách đố đối với người Do Thái. Vì họ luôn tin rằng, họ sẽ có
phần trong thời đại sắp đến, trong bàn tiệc Nước Trời, bởi vì họ là dân đặc
tuyển, được ưu tiên. Ðức Giêsu đã loại trừ quan niệm đặc tuyển này. Ðiều
quan trọng là họ có thực hiện những lời Người dạy dỗ hay không.
Ðời sống kitô hữu là một hành trình thiêng
liêng đi qua cửa hẹp. Ðức Giêsu muốn nhấn mạnh đến nỗ lực, nhiều nỗ lực để
có thể vượt qua cánh cửa hẹp. Ðể có được một đời sống hạnh phúc, một gia
đình tốt đẹp... chúng ta cần đi qua "cửa hẹp", cần nhiều nỗ lực, cần hy sinh,
cần chiến đấu, "Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Tôi".
Nhưng cánh cửa hẹp này chỉ được mở từ bên
trong, vào một lúc nào đó. Chỉ một mình
Thiên Chúa mới quyết định mở và mở lúc nào, tức là Người quyết định
tất cả. Thiên Chúa mở cánh cửa hẹp, bởi vì cánh cửa tâm hồn chúng ta còn hẹp.
Ðể đi vào vương quốc Tình yêu, chúng ta cần loại bỏ sự hẹp hòi, kiêu ngạo,
những gì chống đối lại tình yêu. Nói khác,
cánh cửa tâm hồn chúng ta có rộng mở thì cánh cửa vương quốc Tình Yêu
mới rộng mở. Ðó là lý do tại sao lối vào
vương quốc của Thiên Chúa đòi cố gắng và hy sinh.
"Người đứng chót sẽ lên hàng đầu, còn những
kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót". Những người từ phương Ðông, Tây, Nam, Bắc
dường như là những người đứng chót, nhưng lại là người đầu đi vào Nước Thiên
Chúa. Còn những người bị ở ngoài dường như là những người đã từng "ăn, uống"
với chủ nhà, đã từng nghe những lời giảng, dạy... Nói chung, họ là những
người ở gần chủ. Họ đồng bàn với chủ, nhưng lòng họ thì lại xa chủ. Thế nên
ông chủ tuyên bố : tôi không biết các anh là người ở đâu cả.
Là người kitô hữu, chúng ta thuộc về Giáo hội
qua bí tích Rửa tội, chúng ta "gần" Ðức Kitô hơn những người chưa lãnh bí
tích Rửa tội, nhưng có thể chỉ là "sự gần gũi bên ngoài". Trong khi đó,
những người không phải là kitô hữu, họ dường như "xa" Ðức Kitô, nhưng họ lại
rất gần Người qua việc đáp trả lời mời gọi của Chúa Thánh Thần trong lương
tâm họ. Họ là những "kitô hữu vô danh".
Nếu các người đĩ điếm và những người thu thuế
đi vào Nước Thiên Chúa trước cả những người Pharisêu, chúng ta cũng có thể
nghĩ rằng có nhiều người không phải là kitô hữu cũng sẽ đi vào Nước Thiên
Chúa trước nhiều người kitô hữu.
Phải chăng chúng ta là những kitô hữu "theo
lý lịch ?"
Phải chăng chúng ta "ở trong nhà" nhưng lại "không
gần" Ðức Giêsu ?
Lạy Chúa,
xin dạy chúng con biết đi qua cánh cửa hẹp
để chúng con có thể bước vào vương quốc của Chúa,
vương quốc của Tình Yêu.
Chìa khóa mở cửa vương quốc này là các mối phúc thật.
Nhờ các mối phúc,
chúng con sẽ nhận ra
cái gì là chính yếu, quan trọng, trường cửu
và
cái gì là phụ tùy, phù phiếm, chóng qua.
Xin Chúa giải thoát chúng con khỏi sự tự mãn,
là người kitô hữu, nhưng lại là "kitô hữu theo lý lịch".
Xin giải thoát chúng con khỏi mọi sợ hãi,
sợ thiếu thốn, sợ hy sinh, phấn đấu.
Amen.
Như Hạ op
CHÔNG CHÊNH.
Lc 13:22-30
Nước Trời mang tính phổ quát hay giới hạn ?
Chúa luôn mời gọi mọi người. Nhưng nhiều người đã từ chối vì Kitô giáo khắt
khe. Nhưng những ai chấp nhận, sẽ nhận được nguồn an ủi lớn lao. Cả một bầu
trời thênh thang trước mắt.
CON ÐƯỜNG HẸP.
Nước Trời luôn rộng mở đón nhận muôn dân.
Chính Ðức Giêsu quả quyết : "Trên nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở." (Ga 14:2)
Ngôn sứ Isaia cũng nhắc tới tiếng gọi phổ quát của Giavê (Is 66:20). Nhưng
hôm nay, tại sao Ðức Giêsu lại nói phải chui qua "cửa hẹp" mới vào được Nước
Trời. Người không ngần ngại nói sự thật : "Có nhiều người sẽ tìm cách vào mà
không thể được" (Lc 13:24) ? Tại sao không vào được ? Phải chăng vì họ thiếu
đức tin hay những việc lành ? Hay phải chăng họ đã vô lầm cửa ? Phải chăng
vì định mệnh khắt khe ? Hay tại họ thiếu ân sủng nên không được Thiên Chúa
tuyển chọn ? Nếu thế tự do con người ở đâu ?
Quả thực, lời Chúa chưa vén màn bí mật về số
phận con người. Nhưng Ðức Giêsu muốn cho thấy hai mặt của một thực tại. Một
đàng Nước Trời phổ quát, vì "thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc
trong Nước Thiên Chúa." (Lc 13:29) Ðàng khác, Nước Trời thênh thang đó chỉ
có một "cửa hẹp". Chẳng mấy ai thích cửa hẹp. Nhưng thực tế, "cửa rộng và
đường thênh thang thì đưa đến diệt vong." (Mt 7:13) Bởi vậy, cần chiến đấu
để qua cửa hẹp mà vào" (Lc 13:24) Nước Trời. Sức chiến đấu đó vừa cho thấy
con người tự do vừa mạc khải Thiên Chúa tình yêu. Chính vì tự do nên con
người có thể chọn chiến đấu cho những giá trị Nước Trời. Chính vì bản chất
là tình yêu, Thiên Chúa mới mời con người đáp trả tình yêu.
Tình yêu sẽ hướng dẫn qua những nẻo đường
chông gai. Nhiều khi có những vấp ngã đau điếng trên đường về nhà Cha. Thế
nhưng Thiên Chúa đầy lòng yêu thương luôn vực dậy những ai sa ngã. Ðôi khi
cần những biện pháp hơi mạnh. "Thuốc đắng giã tật". Xin "đừng coi nhẹ lời
Chúa sửa dạy, chờ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới
sửa dạy kẻ ấy." (Dt 12:5-6) Không phải lúc nào cũng dễ dàng chấp nhận những
lời cảnh giác. Nhưng càng được sửa dạy, càng thấy mình thuộc về Thiên Chúa.
Muốn làm con Thiên Chúa, "anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy." (Dt
12:7) Thiên Chúa không bao giờ sửa phạt cho thỏa cơn giận hay có ý báo thù.
Nhưng Người sửa dạy để như gọt đẽo chúng ta cho vừa khung cửa hẹp của Nước
Trời. Người sửa dạy khác hẳn với người đời. Quả thế, "những người chịu (Thiên
Chúa) rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính." (Dt
12:11) Bình an và công chính là đặc tính của Nước Trời. Bởi thế, ngay từ đời
này, ta đã cảm thấy tất cả kích thước chật hẹp của cửa trời và cả bầu trời
thênh thang trong Nước Chúa.
Nhưng nếu không chịu đi qua cửa hẹp, người ta
sẽ cảm thấy nhục nhã của kiếp lưu đầy khỏi Nước Chúa. Thái độ lạnh lùng của
Chúa càng gây kinh ngạc cho những ai quan tâm tới những đòi hỏi của Tin Mừng
: "Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính !" (Lc
13:27) Thật là kinh hoàng khi phải nghe những lời cứng cỏi đó ! Thái độ lạnh
lùng đó nhằm xua đuổi và loại trừ những người đã không sống công chính theo
lượng ân sủng Chúa. Họ tự hào vì đã dành rất nhiều thời giờ đồng bàn với
Chúa và lắng nghe lời Chúa (x. Lc 13:26). Còn ai có thể hiểu biết Chúa hơn
họ ? Vậy mà Chúa vẫn lạnh lùng đáp : "Ta không biết các anh từ đâu đến !" (Lc
13:25.27) Người ta đã phí phạm biết bao thời giờ hay cả cuộc đời vì đã quên
mất một yếu tố chính tức là mở rộng cõi lòng đón nhận Nước Chúa. Người ta đã
quá khép kín tâm hồn và không thi hành tất cả những đòi hỏi của Tin Mừng là
sống "công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." Không bao giờ Ðức
Giêsu lại trình bày Nước Chúa như một bánh vẽ. Trái lại, Nước Chúa là một
thực tại sống động và là một đòi hỏi gắt gao.
Ðòi hỏi gắt gao nhất là phải mở rộng cõi lòng
theo chiều kích Nước Chúa. Nếu trong cuộc sống còn một chút gì kỳ thị đông
tây nam bắc, chắc chắn không thể vào được Nước Trời. Vì "thiên hạ sẽ từ đông
tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa." (Lc 13:29) Như vậy, những kẻ
"còn đứng ở ngoài" sẽ không bao giờ có thể nếm đượchương vị ngọt ngào và
thơm tho của bàn tiệc Nước Chúa. Tất cả những người công chính, bất kể phát
xuất từ đâu, đều được nhập tiệc với "các ông Abraham, Isaac và Jacob cùng
tất cả các ngôn sứ." (Lc 13:28) Nói khác, họ là những người vất vả phấn đấu
để được cứu thoát. Họ phải trả giá bằng chính con người và cuộc đời. Nếu còn
lấn cấn với những giới hạn về văn hóa, chủng tộc, màu da, chính kiến, tôn
giáo của mình, họ không bao giờ có thể hiểu nổi những chiều kích lớn lao của
Nước Thiên Chúa. Vì ơn cứu thoát chỉ dành cho những người biết hòa nhập với
sứ mệnh của Ðấng đã phán : "Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ."
(Is 66:18)
Nước Trời quả thực là một hồng ân dành cho
hết mọi người. Nhưng hồng ân đó cũng là tặng phẩm dành riêng cho từng người.
Bởi vậy, Nước Trời vừa có chiều kích phổ quát vừa thuộc về từng cá nhân.
Phải nhận ra hai chiều kích đó mới thấy niềm hi vọng của mình tươi sáng
chừng nào và nỗ lực theo đuổi hi vọng đó lớn lao tới đâu.
NƯỚC CHÚA GIỮA TRẦN GIAN
Nhưng Nước Chúa không ai có thể độc chiếm.
Chỉ có Ðức Giêsu mới là cửa độc nhất dẫn vào Nước Chúa. Chính Người đã quả
quyết : "Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu." (Ga 10:9) Nhưng
Người là cửa hẹp hay rộng ? Quả thực, không một nền luân lý thông thường nào
có đòi hỏi gắt gao như giáo lý của Ðức Giêsu. Thế nhưng, cũng không ai có
một sức mạnh giải thoát bằng Người. Bởi vậy, thánh Phaolô đã xác định sứ
mạng lớn lao của Ðức Giêsu : "Chính để chúng ta được tự do mà Ðức Kitô đã
giải thoát chúng ta." (Gl 5:1) Chính Người đã tìm được phương giải thoát cho
thân phận làm người. Con người không thể thoát ra khỏi luật lệ. Nhưng có
nhiều thứ luật trói buộc con người trong vòng nô lệ. Có những luật dẫn tới
tự do hạnh phúc. Ðức Giêsu đã xác định rõ về bản chất lề luật : "Ngày sabbat
được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabbat." (Mc
2:27) Bởi vậy, luật lệ Nước Trời cũng nhằm phục vụ con người. Ðức Giêsu là
cửa hẹp nhưng mở ra vô biên. Ðó là sự thật.
Sự thật ấy đã được chứng minh qua hai ngàn
năm lịch sử. Giáo hội làm chứng Ðức Giêsu là "con đường, sự thật và sự sống."
(Ga 14:6) Thế nhưng, vẫn có những người xuyên tạc sự thật và không chịu nhìn
nhận sứ mạng đó của Giáo hội. Chẳng hạn, thứ bảy 18/8/2001 vừa qua, Thủ
tướng Ấn Ðộ Atal Behari Vajpayee tuyên bố "động cơ" đằng sau các hoạt động
bác ái của người Kitô hữu là "chiêu dụ tín đồ" (CWNews 20/08/2001) Rõ ràng,
Thủ tướng đã cố tình không muốn đọc thấy sứ điệp Kitô giáo ngang qua những
hoạt động vô cùng cần thiết cho những người nghèo khổ và những thành phần bị
gạt ra ngoài lề xã hội. Mặc nhiên ông biện minh cho những thái độ thù nghịch
tôn giáo đang lan rộng khắp nước Ấn độ. Ông đã khoán trắng việc trợ giúp các
nạn nhận lũ lụt đầu năm nay cho Rashtriya Swayamsevak Sangh, một tổ chức Ấn
giáo cực đoan, thủ phạm đã giết nhiều linh mục, giáo dân và tấn công nhiều
giáo xứ Công giáo trong vòng hai năm nay. Tổ chức đã thúc giục các cộng đồng
Ấn giáo từ chối các phẩm vật cứu trợ từ các tổ chức Kitô giáo (x.
VietCatholic 22/8/2001) Trên đất nước đầy những thù nghịch đó, Kitô hữu đang
phải chui qua cửa hẹp. Lời chứng càng mạnh mẽ hơn khi nào. Lực lượng thù
nghịch càng cố gắng giới hạn sức mạnh Giáo hội, Thánh Linh càng có cơ hội
làm cho nhiệm thể Chúa Kitô phát triển. Những nỗ lực thù nghịch chỉ để lộ ra
sự sợ hãi trước những ảnh hưởng của Giáo hội. Chẳng hạn, nữ tu Têrêsa
Calcutta đã nhá lên cho thế giới thấy tình yêu như ánh sáng đang soi chiếu
vào tận những nơi tăm tối nhất trong thân phận làm người và sởi ấm những ẩm
thấp nhất nơi những hang cùng ngõ hẻm trên thế giới.
Fr. Jude Siciliano,OP.
Cửa Hẹp
Lc 13:22-30
Thưa qúi vị, Nội dung bài tin mừng Chúa nhật hôm nay chứa
đầy những đòi hỏi và lời cảnh cáo đối với các người tự mãn. Nếu như tôi được
đồng hành với Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài lên Giêrusalem, tôi sẽ tự
hỏi Ngài xem đích xác có bao nhiêu người được cứu rỗi. Có lẽ tôi cũng được
chứng kiến số người thay đổi cuộc sống của mình theo lời mời gọi của Chúa
Giêsu để được vào Nước Trời, và những người sau lúc hồ hởi ban đầu, đã từ
chối tiếng gọi của Chúa, trở lại nếp sống cũ đầy tự mãn và kiêu ngạo ! Kết
quả sẽ làm tôi rất buồn và kêu lên: "Lạy Chúa sao mà ít qúa vậy ! Chúa rất
nhọc công , mà người được cứu chẳng là bao nhiêu !" Tôi mong đợi Chúa thông
cảm với tôi, quan tâm đến câu hỏi của tôi và cũng buồn như tôi. Nhưng không,
Ngài chẳng để ý chi hết, ngược lại câu trả lời của Ngài thật nghiêm nghị: "Hãy
tranh thủ mà vào Nước Trời qua của hẹp. Thầy bảo thật anh em, nhiều kẻ tìm
vào nhưng không đủ sức"(Lc.13,22).
Làm thế nào giải thích cho câu trả lời đó?
Xem ra nó cứng cỏi như một câu khiển trách !Tôi trộm nghĩ có lẽ khi đặt câu
hỏi tôi đã không thành thực quan tâm đến vấn đề cho đủ hoặc là thiếu cảm
thương thiên hạ hay tôi hơi tự phụ kể mình như đã có tên trong danh sách
những người được cứu rỗi, còn những người khác thì chưa. Nếu đúng như vậy,
tôi thật có lỗi và Chúa sửa lưng tôi, nói :"Này đừng nên xét đoán người khác,
ngưng ngay thái độ tự mãn, coi lại xem đã thực sự là người môn đệ tốt của ta
chưa ! Ngươi đã sống xứng đáng ơn gọi của ta chưa !"Tiếng Ngài nghiêm nghị,
nhưng chủ ý của Ngài là ngăn chặn lòng tự mãn, tự phụ của chúng ta. Bởi
chúng ta thường hay sa ngã vào cạm bẫy xét đoán người chung quanh.
Ðối với môn đệ Chúa, xét đoán người khác là
một thói xấu, vi phạm giới răn thương yêu. Tự mãn cũng là thói xấu, vi phạm
thái độ khiêm tốn, cho nên xét đoán và tự mãn là bắt đầu xa cách Chúa, là tự
nắm vận mệnh trong tay, rút lui không muốn làm môn sinh của Ngài nữa. Lúc ấy
chúng ta đã mất dần Thần khí Chúa, thần khí nuôi dưỡng và thúc đẩy chúng ta
nhập cuộc vào công trình cứu độ của Ngài : "Ta không biết các ngươi từ đâu
tới", mặc dù"chúng ta đã từng ăn uống với Ngài".
Biển Thước là một thầy lang giỏi của Trung
quốc thời cổ,trông người biết bệnh. Hoàng Hầu là một ông vua keo kiệt, một
hôm Biển Thước vào thăm nhà vua, trong nhà vua, Biển Thườc đề nghị bốc thuốc.
Hoàng Hầu cho là Biển Thước muốn làm tiền, nhà vua khoẻ mạnh đâu cần thuốc
thang, nên đuổi ra. Ít lâu sau, nghe tin nhà vua cảm nhẹ, Biển Thước vào
chầu và đề nghị bốc thuốc. Hoàng Hầu nghĩ bệnh nhẹ vài hôm là khỏi, hà tất
phải bốc thuốc, rồi lại đuổi Biển Thước đi. Mười ngày sau Biển Thước lại vào
thăm vua, trông thấy nhà vua Biển Thuốc ù té chạy. Hoàng Hầu lấy làm lạ, sai
lính đuổi theo bắt lại hỏi rõ nguyên do. Biển Thước tâu: Thần với nhà vua là
chỗ thân tình, lần đầu trông thấy vua, bệnh còn ở ngoài da, chữa được, nhưng
vua không nghe, lần thứ hai, bệnh đã vào đến ruột gan, nhưng vẫn còn chữa
được, đề nghị bốc thuốc, nhà vua vẫn không nghe. Lần này bệnh đã vào đến
xương tủy, không chữa được nữa nên thần ra về. Quả thật mấy tháng sau Hoàng
Hầu ngã bệnh nặng, sai đi tìm Biển Thước. Nhưng ông đã lánh sang nước Tần (truyện
cổ Trung Hoa).
Tự mãn là bệnh ở ngoài da, kiêu ngạo là bệnh
ở phèo phổi và tham lam là bệnh tại xương tủy. Tự mãn về lối sống của mình
là chúng ta mắc bệnh ngoài da. Chẳng mấy hồi nó sẽ tiến vào các cơ quan bên
trong, rồi đến xương cốt. Lúc đó thì vô phương cứu chữa. Kinh nghiệm đã cho
hay như thế đó. Trái lại những linh hồn nhạy cảm việc nhà Chúa, luôn luôn
quan tâm đến tha nhân vì được thần khí Chúa Giêsu thúc đẩy, tiếp sức, sẵn
sàng xắn tay nhập cuộc trong các chương trình bác ái và những công việc
thường nhật, có khi là trần tục. Nhưng họ ý thức được đó chính là ơn gọi của
mình. Họ tiếp cận những biến cố xẩy đến hằng ngày trong cuộc đời với nhiệt
tâm và hy vọng. Họ biết họ phải làm gì trước nhan Chúa và trên hết mọi sự họ
ý thức họ đang đồng hành với Ai trên trái đất này. Có thể bạn gọi họ là các
tín hữu "công giáo tiến hành". Vậy chính vì họ cố gắng sống ơn gọi của mình
cho nên tôi gọi họ là "qua cửa hẹp mà vào nước trời". Không phải họ cảm thấy
cần phải làm đẹp lòng Thiên Chúa, mà qua Chúa Giêsu, họ đã cảm nghiệm được
họ đang làm vui lòng Thiên Chúa, Thiên Chúa đang được tôn vinh nơi họ. Chúa
là nguồn mạch ơn gọi của họ. Thần khí Chúa Giêsu ban nghị lực cho họ để cố
gắng vào nước trời qua cửa hẹp. Xin nhớ rằng bằng cách này hay cách khác
Chúa Giêsu luôn nhắc nhở :"Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha các con đã
vui lòng ban vương quốc cho anh em"(Lc.12,32), trong suốt các sách tin mừng
! Những linh hồn nhận được ân huệ này của Thiên Chúa, luôn luôn tỏ vẻ vui
mừng, họ thực sự được hạnh phúc và bình an. Chúng ta còn bồn chồn lo âu, là
bởi chưa nhận được ân huệ đó .
Tôi chẳng có ý nói công việc của họ là dễ
dàng, thoải mái. Thánh Luca dùng từ Hy lạp "Agonizesthe" để mô tả thực tại
cố gắng vào nước trời. Từ này đồng nghĩa với từ hấp hối (agony) của tiếng
Anh ngày nay. Phiên dịch rộng ra, chúng ta dùng từ "cố gắng, tranh thủ, phấn
đấu". Theo ngôn ngữ đầy hình ảnh và cũng là một dụ ngôn, Chúa Giêsu mô tả
Nước Trời như một bữa tiệc đầy dẫy thức ăn, của uống, sơn hào hải vị, phòng
ăn thì rộng rải thênh thang. Nhưng chỉ những người công chính mới được vào.
Họ ngồi đồng bàn với nhau không phân biệt người sang kẻ hèn, người giàu kẻ
nghèo. Nhưng những ai nghĩ mình là quan trọng, là nhất, lại được đối xử như
người rốt hết, và người rốt hết lên chỗ cao nhất. Không ai phải mua vé vào
cửa, nhưng cửa thì hẹp, người đến dự tiệc phải bỏ lại những thứ lỉnh kỉnh,
cồng kềnh mang theo mình ngoài cửa để có thể bước vào, tức phải thay đổi
cuộc sống, đơn sơ, nhẹ nhàng, phải thay đổi những ưu tiên, lo lắng trong
cuộc đời thường nhật. Những ai tưởng mình quan trọng, phải ăn ở khiêm nhường,
những ngươì nhát đảm, hèn yếu phải được nâng đỡ. Những kẻ bị vùi dập, sống
ngoài lề xã hội phải được chăm sóc.
Nhưng xin hãy nhớ, chúng ta chẳng thể thi
hành những thay đổi đó nguyên chỉ bằng sức lực loài người, bằng quyết tâm và
cố gắng riêng phần chúng ta. Bài tin mừng tuần trước Chúa Giêsu đã tuyên bố
chính Ngài mới là Ðấng mang lửa xuống đốt cháy thế gian, đốt cháy những tâm
hồn thành kính, yêu thương. Ðó là ngọn lửa soi đường cho nhân loại bước vào
cửa hẹp, và cũng là ngọn lửa thúc đẩy chúng ta qua cửa đó. Cửa đó chính là
các giới răn và lời giảng dậy của Ngài. Chẳng phải rằng chúng ta bắt buộc
làm những gì to lớn mới được gọi là "phấn đấu". Phấn đấu là sống hoàn hảo
công việc hằng ngày, quét phòng, sơn nhà, chăm sóc con cái, dọn vườn, tưới
hoa, cầy cấy.hằng trăm công việc lặt vặt, không tên, hàng ngàn công việc sản
suất, thăng tiến cuộc sống, đều đòi hỏi phấn đấu. Người môn đệ Chúa phải
biến chúng thành những "cố gắng" để vào nước trời,đáp ứng tốt đẹp dụ ngôn
của Chúa Giêsu .
Chẳng có gì trong thế gian này là vĩnh viễn,
ai ai cũng thuộc lòng câu thơ của tuổi thiếu thời : "Life is short,death is
sure, the hour of death remains obscure."(đời sống thì ngắn, sự chết là chắc
chắn, nhưng giờ chết chưa ai biết.) cơ hội làm việc lành một khi đã qua đi,
chẳng bao giờ trở lại. Cửa sẽ đóng lại vĩnh viễn, kêu gào cũng bằng vô
ích."Ta chẳng hề biết các ngươi là ai !". Lúc ấy những người ngoài từ đông
sang tây, từ nam chí bắc sẽ được vào hưởng tiệc vui Nước Trời cùng với
Abraham, Isaac, Jacob. Nhưng con cái trong nhà thì lại bị đuổi ra ! Chúng ta
nghĩ sao về lời cảnh cáo đó ? Tự mãn về nền sống "đạo đức" của mình, thật là
tai hại . Amen.
Fr. Jude Siciliano op
Hãy phấn
đấu hết mình
Lc 13:22-30
Thưa quý vị, Có lẽ chúng ta thắc mắc về động lực của nhân
vật hỏi Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, những người được cứu thoát thì ít, phải
không ?” Ông ta hỏi vì tò mò hay vì tự mãn mình là thành viên của dân Do
thái, nên đương nhiên sẽ được cứu rỗi ? Hoặc giả ông ta thuộc đám đông đi
lên Giêrusalem với Chúa, cho nên cảm thấy đã an toàn về phần rỗi, không bị
ném ra ngoài theo như lời rao giảng của Chúa Giêsu cách đó ít lâu ? Thực
đúng không hễ thuộc về nhóm môn đệ Chúa là tự động được chia phần Nước Trời,
chẳng cần cố gắng thêm? Thân cận với Chúa Giêsu là đủ rồi chăng ?
Mấy câu nói của Chúa lúc khởi đầu phúc âm hôm nay, làm người nghe khiếp sợ:
“Ngài bảo họ: hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh
em biết: có người sẽ tìm cách vào mà không thể được!”Quả thực Chúa không
trực tiếp trả lời câu hỏi ít hay nhiều người được chọn, việc đó thuộc mầu
nhiệm nước Trời, không ai được biết. Nhưng điều kiện để được nhận vào thật
khó khăn. Cứ như tình trạng hiện thời của mỗi người, liệu chúng ta có chắc
nắm được phần rỗi? Chúng ta làm đầy đủ nghĩa vụ một kitô hữu, là thành phần
của cộng đoàn đáng kính, là môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta tuân giữ lề luật Hội
thánh, ăn chay kiêng thịt, làm công tác bác ái. Liệu đã đủ chưa? Theo tiêu
chuẩn loài người thì có lẽ đủ. Nhưng trước mặt Chúa Giêsu, Đấng thánh thiện
vô cùng thì chưa bảo đảm. Chúa trả lời cho người chất vấn: Hãy quên đi vấn
đề nhiều ít sẽ được vào dự tiệc cưới trên trời, nhưng xem xét lại phẩm chất
sống đạo của mình. Thay vì đùa vui cho thoả mãn tính tò mò về con số thì hãy
chú tâm vào những cố gắng của mình. Chúa dạy chúng ta phấn đấu hết mình để
qua cửa hẹp. Từ phấn đấu ở đây trong tiếng Hylạp là Agonizesthe (hấp hối).
Tiếng Anh là “agony”. Nó cho cảm tưởng là cạn kiệt sức lực, như các tay đua
trong đấu trường thế vận hội Olympic. Họ luôn luôn phải mạnh hơn, cao hơn và
nhanh hơn (forius, altius và citius), không ngừng phá kỷ lục cũ. Nhiều vận
động viên đã tắt thở vì cố gắng quá sức. Nhiều năm tập luyện nghiêm khắc mới
đưa họ được đến cuộc thi danh tiếng. Đúng là các vận động viên thể thao đã
phải qua cửa hẹp, rất hẹp để đến vinh quang. Chúa Giêsu cũng kêu gọi các kẻ
theo ngài có cùng thái độ nhân danh nước trời. Tuy nhiên Ngài biết rõ mục
tiêu sẽ cân xứng với các cố gắng của họ. Và có thể là còn vượt xa hơn.
Trên bình diện siêu nhiên sự so sánh chỉ đúng một phần. Bởi lẽ chúng ta
không cố gắng một mình. Và thành công không hẳn thuộc về loài người. Đã rõ
nó đòi hỏi rất nhiều mồ hôi nước mắt, nghị lực và bền bỉ. Nhưng nằm dưới
những cố gắng ấy là ơn thánh Chúa trợ giúp. Các câu truyện phúc âm đều nêu
bật yếu tố quan trọng này. Cuộc đời thánh phaolô chẳng hạn. Các phấn đấu của
ông luôn đi kèm với ơn thánh. Có lần ông than phiền vì khổ cực, Thiên Chúa
trả lời: “Ơn ta đã đủ cho con rồi.”Khi hồi tâm Phaolô cảm nghiệm đúng như
vậy. Cho nên sự vào qua cửa hẹp khởi đầu bằng lời mời gọi của Thiên Chúa.
Khi lắng nghe và chấp nhận, tức khắc chúng ta sống trong vương quốc của ơn
thánh, nguồn nghị lực chính yếu và cảm hứng sôi nổi của tiến trình phấn đấu
thiêng liêng. Tín hữu nào trung thành với ơn gọi của mình thì là một “đại
phúc”cho linh hồn. Viễn tượng thánh thiện không con bao xa.
Bài đọc 1 trích từ sách tiên tri Isaia: Đoạn nói về tái thiết Giêrusalem và
đền thờ. “Đức Chúa phán như sau: Ta biết rõ việc làm và ý định của chúng, Ta
sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ, họ sẽ đến và được thấy vinh
quang của Ta.”Ngôn sứ báo trước một sự thay đổi lớn về tôn giáo thời cánh
chung, mọi dân tộc sẽ thờ phượng Thiên Chúa. Cộng đồng Israel sẽ được phục
hồi, bắt đầu giai đoạn lịch sử mới. Các dân tộc từ xa xôi như Tarsit (Bắc
phi), Javan (Hylạp), put, lut đều được thi hành chức vụ tư tế như con cái Do
thái: “Giống như con cái Israel mang lễ phẩm trên đĩa thanh bạch đến nhà Đức
Chúa, người ta cũng sẽ đưa tất cả những anh em các ngươi thuộc mọi dân tộc
về làm lễ phẩm tiến dâng Đức Chúa.”Như vậy từ nay nhà của Đức Chúa Trời mở
cửa đón nhận mọi linh hồn, bất kể màu da, ngôn ngữ, nguồn gốc. Tuy nhiên sự
cứu rỗi của Đức Chúa Trời khác với quan niệm của chúng ta về kẻ dữ người
lành, kẻ trong người ngoài, kẻ trên người dưới. Chúa tuyên bố “kìa có những
người đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng
chót.”Chúng ta thật bối rối với lý luận của Chúa Giêsu. Chắc chắn thế giới
của Ngài không phải là nơi chúng ta từng quen thuộc. Nó là thế giới hoàn
toàn mới. Một đường lối khác lạ để thưởng phạt và thâu nhận vào nước trời
qua cửa hẹp. Thực tế, Tin Mừng hôm nay đề nghị chúng ta cất bỏ mọi tính toán
và tiêu chuẩn loài người vào kho và hãy để Đức Chúa Trời làm Thượng Đế trong
việc thâu chọn. Hãy trở lại với bổn phận riêng và nhận ra sự khác biệt mà ơn
thánh hoạt động trong mỗi thân phận. Lúc ấy chúng ta được khả năng phấn đấu
vươn tới mục tiêu. Tạ ơn Thiên Chúa!
Để
giúp đỡ nhận thức quan điểm chúng ta không nhìn vào Nước trời bằng khả năng
riêng. Bài đọc hôm nay nhắc nhớ giai đoạn nào của Tin Mừng mà sự kiện xảy ra.
Nó ở trên con đường Chúa Giêsu tiến về Giêrusalem để chịu chết chuộc tội cho
thiên hạ. Như vậy lời khuyên “cố gắng vào bằng cửa hẹp”thật là ý nghĩa. Nó
liên kết chặt chẽ với sứ mệnh của Chúa Giêsu. Ngài không lên Giêrusalem để
vui chơi, dự lễ mà để chịu hành xích, khổ hình và tử đạo, mang ơn cứu rỗi
cho toàn thể nhân loại. Ngài can đảm trung thành với sự vụ rao giảng và thực
thi Tin Mừng. Ngay cả khi điều đó đòi hỏi đau khổ và tử nạn. Thánh Luca
trong trình thuật hôm nay nhắc nhớ chúng ta: Đức Ki-tô là nguồn sống mới cho
mọi tín hữu, khi Ngài làm hành trình lên Giê-ru-sa-lem. Ngài ban cho mỗi
người ước vọng phấn đấu qua cửa hẹp mà vào Vương quốc Thiên Chúa. Thời Chúa
Giêsu, khi người ta đồng bàn ăn uống thì đương nhiên trở nên thân thiết với
nhau, coi nhau như người trong gia đình. Vậy những người hãy còn ở ngoài khi
cửa đã đóng có quyền đòi hỏi chủ nhà phải mở. Họ có quyền yêu cầu Chúa Giêsu
cho mình vào bên trong, bởi lẽ đã từng ăn uống với Ngài, thuộc về nhóm môn
đồ của Ngài. Theo tiêu chuẩn xã hội thông thường thì họ có lý. Nhưng Chúa
Giêsu cho biết đồng bàn với Ngài còn đòi hỏi nhiều hơn nữa. Những ai ăn uống
với Ngài trong bữa tiệc Thánh Thể cần thánh thiện hơn nữa, chứ không chỉ là
thành viên của cộng đồng, giáo xứ hay Hội thánh là đủ. Điều này đúng cho
những người Do thái thời Chúa Giêsu. Họ giữ đạo hoàn toàn vụ hình thức và đã
tẩy chay Chúa Giêsu. Nhưng càng đúng hơn đối với tín hữu thời nay, tính hoá
đá có lẽ còn tế nhị và nặng nề hơn. Nhờ Lời Chúa hôm nay, chúng ta nên lượng
định lại đời sống tôn giáo của mình, có đúng tiêu chuẩn Chúa Giêsu đòi hỏi
không? kẻo lại được nghe lời khiển trách ghê sợ: “Xéo đi cho khuất mắt Ta,
hỡi tất cả những quân làm điều bất chính: Ta không biết các ngươi từ đâu đến.”
Những khách ở ngoài lại đưa ra một bằng chứng khác. Họ đã được Chúa dạy dỗ
trên các đường phố hoặc ngồi với họ trong các hội đường. Câu đáp trả của
Chúa Giêsu bất ngờ: “Xéo đi, Ta không biết các ngươi”. Điều này cho chúng ta
hay: Nghe suông không đủ, học thuộc lòng giáo lý của Ngài không đủ, Ngài đòi
hỏi nhiều hơn nữa để xứng đáng mang danh hiệu Ki-tô hữu, tức phải đem lời
Ngài ra thực hành. Nhưng trong phạm vi nào? Câu trả lời là mênh mông như bề
mặt trái đất chúng ta đang sống. Lòng bác ái của chúng ta phải vươn tới mọi
nơi, mọi người, bất kể châu lục, màu da, ngôn ngữ, văn hoá, hay nói như Kinh
thánh: Từ đông sang tây, từ nam chí bắc, người tốt cũng như kẻ xấu. Bởi lẽ
tất cả đều được mời gọi vào bàn tiệc của Chúa Giêsu: “Bấy giờ các ngươi sẽ
khóc lóc nghiến răng khi thấy các ông Abraham, Ixaác và Gia-cóp, cùng tất cả
các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình thì lại bị đuổi ra
ngoài.”Cảnh tượng đó chắc hẳn làm cho thính giả của Chúa Giêsu ngạc nhiên,
bởi lẽ họ vẫn nghĩ tưởng mình thân cận với Chúa và có thể tự phụ Ngài thuộc
hàng nghĩa thiết của mình.
Tác giả Gustavo Gutierrez giải thích tại sao cửa lại hẹp ? Ông viết: “cửa
hẹp” không phải tương quan với chúng ta, nhưng với điều kiện để được cứu rỗi.
Ơn giải cứu không phát sinh từ tính gần gũi với Chúa Giêsu về vật lý, nơi
chốn, dòng họ. Cũng chẳng từ việc giao du, ăn uống với Ngài, hay nghe Ngài
rao giảng nơi quảng trường công cộng. Cũng không phải là hệ quả đương nhiên
của dòng máu Do thái. Bản văn không hề đả động đến những đặc ân đó. Hơn nữa,
nếu trung thành với tinh thần câu trả lời của Chúa Giêsu thì phải nói thêm,
ơn cứu chuộc không giới hạn vào một quốc gia nào, sắc da nào, văn hoá nào.
Nó nảy sinh từ sự kiện chúng ta chấp nhận Ngài và đi theo đường lối Ngài chỉ
dẫn. Đây chính là cửa hẹp, lối vào duy nhất đòi hỏi nhiều hy sinh, từ bỏ.
Đôi khi thật gay go như trong bài đọc 2 hôm nay : “Ngay lúc bị sửa dạy, thì
chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người
chịu rèn luyện như thế, sẽ gặp được hoa trái là bình an và công chính.”
Theo suy nghĩ thường tình của mình, chúng ta hay có khuynh hướng ích kỷ,
giới hạn ngặt nghèo sự hiện diện và hoạt động hoạt động của Thiên Chúa,
không để cho Ngài là Thượng Đế mà phải theo ý muốn của mình. chúng ta nhìn
chỉ trong phạm vi bốn bức tường của nhà thờ, và chỉ thấy các tín hữu của tôn
giáo mình, các tôn giác khác là xa lạ hoặc rối đạo, đáng khinh bỉ và tránh
xa, không nghe, không nhìn, không thấy họ. Chúng ta phân biệt rõ ràng kẻ tốt,
người xấu, kẻ gian phi, người thánh thiện, người này hữu ích, kẻ khác vô
dụng. Chúng ta nhanh chóng đi đến kết luận tuỳ vào tư cách ăn nói của tha
nhân, việc làm, địa vị, thu nhập, học thức, nguồn gốc của họ. Thực tế, sự
nhận định của Đức Chúa Trời hoàn toàn khác hẳn: “Kẻ đứng chót sẽ lên hàng
đầu. Người đứng đầu sẽ xuống hàng chót. Và thiên hạ sẽ từ đông tây, nam bắc
đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.”Do đó, chúng ta nên vất bỏ lăng kính của
mình và thay bằng cái nhìn của Kinh thánh. Khi ấy chúng ta sẽ thấy mọi sự
khác hẳn, cuộc đời sẽ rộng rãi hơn, với bao nhiêu sự tốt đẹp, bao nhiêu sự
thánh thiện. Chúng ta sẽ khởi sự “cố gắng”cùng với anh chị em mình bước vào
Nước Trời. Cuối cùng, khi đã được nhận vào, Chúa Giêsu cho hay, mọi người sẽ
rất đỗi ngạc nhiên về những thực khách cùng vui hưởng tiệc cưới thiên quốc.
Cái nhìn và lòng thương xót của Thiên Chúa thật bao la. Con số những người
qua cửa hẹp để được cứu rỗi không giới hạn. Họ đã thành công bỏ lại những
hành lý, tài sản lỉnh kỉnh để qua được cửa Thiên Đàng. Chúng ta cần phải
thay đổi lăng kính của mình, chấp nhận cái nhìn cánh chung các bài đọc hôm
nay gợi ý, mặc lấy quan điểm của Chúa Ki-tô và bắt đầu tiến trình “phấn đấu”.
Amen.
G.
Nguyễn Cao Luật op
AI SẼ ÐƯỢC CỨU
?
Lc 13:22-30
Câu hỏi của mọi thời
Ngày xưa, các môn đệ Ðức Giêsu đã từng băn
khoăn thắc mắc : Ai sẽ là người được cứu ? Và theo quan niệm thời ấy, số
người được cứu thoát thì ít.
Câu hỏi này phát xuất từ một quan niệm về
Thiên Chúa. Người ta cho rằng Thiên Chúa là Ðấng nghiêm khắc, luôn đưa ra
những đòi hỏi rất cao, và người nào không thực hiện những yêu cầu ấy, sẽ
không được cứu thoát. Người ta cũng nghĩ rằng ơn cứu độ là do những cố gắng
lập công của con người, ai thực hiện đầy đủ những tiêu chuẩn do lề luật quy
định, người ấy sẽ được cứu thoát.
Trước câu hỏi này, chỉ có một giải đáp duy
nhất : Giêsu - có nghĩa là "Thiên Chúa cứu". Nhờ Người, với Người và trong
Người, mọi kẻ tin đều được cứu thoát. Ðây chỉnh là điều mà Ðức Giêsu đã nỗ
lực bày tỏ trong suốt cuộc đời của Người. Rao giảng, chữa lành, làm phép lạ
... tất cả đều cho thấy rằng người ta phải tin vào Người, phải nhờ vào Người
mới được cứu thoát. Nhưng đó lại là điều mà người Do-thái không muốn chấp
nhận. Họ không tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến để
loan báo Tin Mừng cứu độ. Họ mong chờ Ðấng Cứu Thế, nhưng họ không nghĩ rằng
vị ấy chính là Ðức Giêsu. Họ muốn được cứu thoát, nhưng lại không chấp nhận
Ðức Giêsu. Trong khi đó, Ðức Giêsu đã nhiều lần cảnh cáo : nếu không tin vào
Người, họ chẳng được cứu; nếu không đi qua cửa là Ðức Giêsu, họ sẽ chẳng vào
được Nước Thiên Chúa.
Câu hỏi tưởng chừng rất xưa ấy, ngày nay vẫn
còn được nhắc lại. Vẫn có nhiều người của thời đại này cứ băn khoăn thắc mắc
về con số những người được cứu, những người được lên thiên đàng. Họ nghĩ ra
nhiều điều, thoạt nghe, có vẻ đúng; nhưng xét kỹ, thì không phù hợp với tinh
thần Tin Mừng. Nói cách khác, vẫn có nhiều người quan niệm về Thiên Chúa
theo những suy nghĩ cũ kỹ, không dám sống thực với Thiên Chúa. Họ tính toán
từng hành vi, từng suy nghĩ, không phải để yêu mến Thiên Chúa hơn, nhưng chỉ
là để thực hiện những chỉ tiêu mà họ đề ra, và nghĩ rằng những điều đó đem
lại cho họ ơn cứu độ.
Bởi đó, để trả lời cho câu hỏi này, hay hơn
nữa, chẳng nên đặt vấn đề như thế này làm gì - điều quan trọng là phải gắn
bó với Ðức Giêsu, bước đi theo Người. Ðức Giêsu đã đi trên con đường hẹp, đã
chịu đau khỗ, người ta cũng phải làm như vậy, nếu muốn được cứu. Thiên Chúa
không đưa ra những chỉ tiêu, để rổi lấy đó mà xét đoán con người. Chỉ tiêu
duy nhất - nếu có thể gọi như thế, đó chính là lòng yêu mến, là bước đi theo
Ðức Giêsu với tất cả nỗ lực của mình.
Bước qua cửa hẹp
Như thế, vấn đề không phải là xem có bao
nhiều người được cứu, nhưng là ai dám bước qua cửa hẹp ? Ai dám đi theo Ðức
Giêsu, bỏ lại tất cả, chấp nhận làm môn đệ của Người cách vô điều kiện ? Ở
đây, cửa hẹp không phải là một cách thức thi tuyển nhằm loại bớt một số
người, dựa theo một số tiêu chuẩn đạo đức. Người ta sẽ không phải chỉ đi qua
cửa hẹp một lần trong đời, nhưng là suốt cả đời mình. Người ta không thi
tuyển vào Nước Thiên Chúa để rổi sau đó không bao giờ thi lại.
Ðó là cả một hành trình dài, hành trình của
tình yêu. Người ta sẽ phải thường xuyên theo dõi xem mình có đi đúng đường
hay không, có đi theo Ðức Giêsu hay đã đi ra ngoài con đường do Người hướng
dẫn. Cửa hẹp mở ra một con đường, và con đường đó dẫn tới Nước Trời. Người
ta phải đem tất cả nỗ lực ra để sống, để đi. Cũng chẳng cần phải chen lấn,
xô đẩy nhau, vì mỗi người có cánh cửa của mình, và cánh cửa ấy luôn mở rộng.
Người ta cũng chẳng phải cứ đứng ngoài cửa mà gõ, nhưng là có can đảm bước
qua hay không. Muốn như thế, người ta sẽ phải vất bỏ những thứ cổng kềnh,
những thứ gì cản trở để có thể đi qua cửa ấy.
Ðúng thế, đến với Ðức Giêsu, đi với Người, có
nghĩa là bước đi trên con đường thập giá, chấp nhận thân phận của người tôi
tớ. Ðức Giêsu đã không đi con đường nào khác. Chính qua thập giá, Người đã
đem ơn cứu độ đến cho toàn thể nhân loại.
Một điều an ủi cho con người là, trên hành
trình đó, họ có Ðức Giêsu là người hướng dẫn, là bạn đổng hành, là người
nâng đỡ. Người Ki-tô hữu không tự mình xoay xở, không cô đơn, nhưng có Ðức
Giêsu cùng đi với họ. Chính Người sẽ đưa ra những chỉ dẫn cần thiết trong
những chặng đường khác nhau.
Tuy vậy, đó không phải là nẻo đường dễ dàng,
không phải là con đường trơn tru bằng phẳng. Qua cửa hẹp, đã cần có cố gắng.
Ði trên đường, lại cần có sức mạnh. Những người lười biếng sẽ chẳng được vào
Nước Trời. Chỉ những ai đem hết sức mình để đi theo Ðức Giêsu, mới được tham
dự vinh quang của Người.
Niềm tự hào duy nhất
Phải chăng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ đến
trước mặt Chúa và thưa : "Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và
Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi." Chúng ta lấy
làm tự hào về những việc đạo đức của mình, và chúng ta tin chắc rằng mình sẽ
ở chỗ nhất ?
Thế nhưng, câu trả lời không phải như chúng
ta mong đợi : "Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt Ta."
Ðang khi chúng ta nghĩ rằng mình sẽ chiếm được địa vị cao, thì lại có những
người ở khắp mặt đất, từ đông sang tây, được mời vào dự tiệc, còn chúng ta
lại bị gạt ra ngoài. Tại sao thế ?
Như Ðức Giêsu đang trên đường lên
Giê-ru-sa-lem để chịu khổ hình, người Ki-tô hữu cũng lên đường tiến về quê
trời. Trước khi phục sinh trong vinh quang, Ðức Ki-tô đã trải qua con đường
đau khổ. Cũng vậy, trước khi đạt tới vinh quang vĩnh cửu, người Ki-tô hữu
phải sẵn lòng chấp nhận những vất vả, những khó khăn của cuộc hành trình. Và,
như đã nói, cuộc hành trình đó là đi theo Ðức Ki-tô, tiếp nối con đường
Người đã đi. Bởi đó, niềm tự hào của người Ki-tô hữu là mình đã đi theo Ðức
Ki-tô, gắn bó với Người, bỏ lại tất cả mọi sự, cả những gì đáng yêu quý nhất,
để yêu mến Người. Tất cả những việc làm, dù rất đạo đức, của con người, nếu
không có lòng yêu mến, cũng trở thành vô giá trị, bởi vì họ chỉ làm những
việc đó theo ý mình, chứ không phải vì Ðức Ki-tô.
Thật là một điều ghê gớm ! Ít khi chúng ta
dám nghĩ như vậy. Chúng ta cứ tưởng rằng mình đã "chắc ăn" khi làm điều này,
điều nọ; nhưng không, đó không phải là tiêu chuẩn để dự tiệc trong Nước
Thiên Chúa. Tiêu chuẩn duy nhất là lòng yêu mến đối với Ðức Ki-tô, tin vào
Người, phó thác cho Người. Ðiều này hẳn phải làm chúng ta thay đổi cách sống,
cách quan niệm. Theo Ðức Ki-tô không còn phải là tin vào mình, nhưng là phó
thác vào Người, để Người hướng dẫn, hiệp thông với Người trong tình yêu sâu
xa ...
Như vậy, đi theo Ðức Ki-tô, chúng ta sẽ phải
ra khỏi những an toàn của mình, phải phá đổ những giá trị sai lầm mà xưa nay
chúng ta vẫn tin tưởng. Và một khi đã bước qua cửa hẹp, chúng ta bước vào
đời sống mới với nhiều điều kỳ diệu và cũng đầy khó khăn. Nhưng, lúc ấy,
không còn ai là kẻ đến trước hay đến sau, không còn có những ưu tiên, những
đặc ân, nhưng là hiệp thông, là tiến bước, là tin tưởng.
Nước Trời được dành cho những người mạnh,
những người can đảm. Những người "khơi khơi", "tà tà" không thể vào được
Nước Trời. Chỉ có những người dám liều, dám sống, dám vượt qua. Cửa hẹp,
nhưng vẫn mở rộng, vẫn đủ chỗ cho mọi người đi qua. Người ta không phải băn
khoăn mình có nằm trong số được cứu hay không, nhưng điều ưu tư là mình đã
thực sự đi theo Ðức Ki-tô hay không.
Bước qua cửa hẹp - tin tưởng - yêu mến - đi
theo. Ðó là lời mời gọi gửi đến mọi người. Không thể dựa trên bất cứ điều gì
để từ chối lời mời gọi ấy. Tất cả mọi người, dù là ai chăng nữa, dù thế nào
đi nữa, cũng phải đứng vào vạch xuất phát, vượt qua cửa hẹp và lên đường.
* * *
Lạy Chúa,
hạnh phúc thay kẻ đi trên đường mà không lo
ngại,
luôn an tâm vì có Ngài trợ giúp.
Hạnh phúc thay kẻ sống không quanh co, không
sợ hãi,
đi trên đường của Ngài
mà không có ý định quay trở lại.
Hạnh phúc thay kẻ lên đường
mà không hỏi tại sao,
và theo đuổi dự định của mình cho đến cùng.
Hạnh phúc thay kẻ biết ngổi bên chân Ngài,
yên lặng và lắng nghe,
nhưng tâm hổn luôn bừng cháy.
theo P. Aymard.
Giacôbê
Phạm Văn Phượng op
Phấn Đấu Để Được Cứu
(Lc 13, 22-30)
Bài Tin Mừng đề cập tới nhiều điều : ai được
cứu độ ai không ? Cần gắng công vào cửa hẹp, những người cuối hết sẽ lên
hàng đầu và những người đứng đầu lại lùi xuống chót. Tuy đề cập tới nhiều
điều nhưng đều nhắm làm sáng tỏ một vấn đề cốt thiết nhất của con người, đó
là ơn cứu độ : ai được cứu độ và làm thế nào để được cứu độ ?
Trước hết, có người đến hỏi Chúa Giêsu :
“Thưa Ngài, phải chăng chỉ có ít người được cứu độ ?”. Chắc chắn người hỏi
là một người Do Thái, vì đây là điều thắc mắc thường xuyên của những người
Do Thái đương thời với Chúa Giêsu. Trước câu hỏi ấy, đã có nhiều câu trả
lời, nhưng người nào thuộc nhóm nào cũng cho rằng : chỉ có những người thuộc
phe nhóm của họ mới được cứu độ. Theo chiều hướng đó, câu hỏi đặt ra ở đây
có thể hiểu theo hai cách : Thứ nhất, hoặc người hỏi muốn Chúa Giêsu trả lời
đúng hay sai sự kiện cho rằng chỉ ít người được cứu độ, có nghĩa là qui việc
cứu độ về phía Thiên Chúa : Ngài chỉ cứu một số ít thôi. Mà nếu như thế,
những người không được cứu có quyền đổ thừa cho Thiên Chúa, vì Ngài không
cứu họ chứ không phải tại họ, giống như một học sinh lười, đi thi bị rớt,
thì thản nhiên cho rằng chỉ vì giám khảo khó quá chứ không phải tại mình
lười hay kém. Thứ hai, hoặc người hỏi mang tâm trạng tự tôn của người Do
Thái, dân riêng của Chúa, tự cho mình là số ít được cứu độ, và chẳng cần xét
đến cách sống của mình ra sao, vì thế nào mình cũng sẽ được cứu.
Chúa Giêsu trả lời thế nào ? Ngài nói : mọi
người đều được cứu độ. Nhưng được cứu độ hay không là hoàn toàn do mỗi người.
Như vậy, Chúa Giêsu muốn mọi người đừng bao giờ còn đặt vấn đề một cách sai
lầm và tiêu cực : phải chăng chỉ có ít người được cứu độ ? hoặc tôi có được
cứu độ không ? Trái lại, bất cứ ai, thuộc bất cứ dân tộc hay ngôn ngữ nào,
thuộc thành phần xã hội ra sao, đều phải biết tự hỏi : Tôi có muốn được cứu
độ không ? Bởi vì ơn cứu độ Chúa Giêsu đã lập là phổ quát chung cho mọi
người, và muốn được cứu độ thì phải áp dụng các phương pháp và dùng những
phương thế tương xứng. Phương pháp và phương thế Chúa Giêsu chỉ dạy ở đây là
gắng vào cửa hẹp. Cửa hẹp không phải vì Thiên Chúa hà tiện, hẹp hòi, khắt
khe mà vì con người chúng ta không đủ nhỏ để dễ dàng đi vào, tức là cửa nước
trời không hẹp mà chính vì chúng ta quá cồng kềnh, đó là sự cồng kềnh của
những hành lý chúng ta đang mang nặng trên vai như tiền bạc, của cải, tình
duyên, danh vọng, thú vui, hưởng thụ… Đàng khác, nước trời là phần thưởng
chỉ dành cho những ai đã gắng công, phấn đấu, tỏ ra xứng đáng, biết tự kềm
chế, hãm mình, từ bỏ. Nói khác đi, nước trời không dành cho những ai chỉ
muốn dễ dãi, ăn sẵn, chiều theo bản năng, chạy theo những quyến rũ trần thế,
thích hưởng thụ.
Như vậy, bài Tin Mừng hôm nay nêu lên cho
chúng ta một sứ điệp, một lời mời gọi : “Hãy phấn đấu để được cứu độ”. Phải
phấn đấu, vì đường dẫn đến nước trời không thể và không phải là con đường dễ
dãi mà đa số con người thích chọn, nhưng là lối hẹp. Chính Chúa Giêsu đã
chọn lối hẹp, và tất cả những ai muốn theo Ngài, muốn được cứu độ cũng phải
chọn lối hẹp.
Vua Sác-lơ thứ năm, một lần kia gọi hoàng tử
đến và cho hoàng tử được lựa chọn. Trên bàn, vua đặt một thanh kiếm và một
triều thiên, vua nói : “Con chọn cái nào ?”. Suy nghĩ một lúc, hoàng tử cầm
lấy thanh kiếm. Vua cha hỏi : “Sao con lại chọn thanh kiềm ?”. Hoàng tử cầm
thanh kiếm chỉ vào triều thiên đáp : “Thưa cha, nhờ thanh kiếm này con sẽ
được triều thiên kia”. Chúng ta cũng thế, nhờ thanh kiếm đi vào lối hẹp, tức
là cố gắng vượt qua gian khổ, khó khăn, thử thách, chúng ta sẽ chiếm được
triều thiên nước trời.
Đến một ngày nào đó, khi cánh cửa sự sống
khép lại, chúng ta phải từ giã cuộc đời, chúng ta sẽ bước sang một cuộc sống
mới mà ở đó sẽ hết tranh đấu và không còn đổi thay nữa, khi đó số phận đời
chúng ta được quyết định một lần dứt khoát hoặc suớng hay khổ. Nhưng căn cứ
vào đâu để quyết định sự sướng hay khổ, tức là chúng ta được thưởng hay bị
phạt ? Thưa căn cứ vào cuộc đời chúng ta đã sống ở trần gian, nghĩa là số
phận đó hoàn toàn tùy thuộc vào cách chúng ta đã sống ở đời này. Vì thế, đời
sống ở trần gian, tuy ngắn ngủi, một trăm năm là cùng, nhưng lại rất quan
trọng, vì quyết định số phận đời đời của chúng ta. Đó là lý do Chúa Giêsu
dạy chúng ta hãy đi vào con đường hẹp, hãy vào cửa hẹp.
Có người đã nói : cuôc đời này chẳng khác gì
một bãi mìn, bãi mìn được ngụy trang bằng đủ mọi mầu sắc quyến rũ, ham mầu
sắc mà quên hiểm nguy chúng ta sẽ bị ngộ nạn đau thương. Hương nồng của tửu
điếm đã hủy hoại no ấm của bao gia đình; mùi thơm của hồng lâu đã lót đường
cho bao đời người đi vào trụy lạc; thế lực của đồng tiền đã đưa vào lò sát
sinh từ tình nghĩa phu thê đến ơn sâu phụ tử, mẫu tử; vị ngọt của danh vọng
đã là cái hố chôn sống bao đời người.
Muốn thoát khỏi bãi mìn này, chúng ta phải
biết đi vào con đường hẹp là xa tránh, chứ đừng ham thích dễ dãi, đừng hảo
ngọt để khỏi ngộ nạn thảm thương. Chúa nói : “Nước trời chỉ thua sức mạnh”.
Muốn có sức mạnh phải gian lao tập luyện, kẻ buông thả chẳng khi nào có được.
Và đường vào nước trời là đường hẹp, muốn đi tới đó phải chấp nhận chông gai,
kẻ sợ trách nhiệm, sợ phấn đấu, chẳng khi nào tới được. Xin Chúa cho chúng
ta luôn có được ý chí mạnh mẽ để dám vươn lên khỏi nếp sống tầm thường của
mình để sống tốt đẹp, cao thượng trong mọi hoàn cảnh.
Fr. Jude Siciliano, op.
Qua Cửa Hẹp Bằng Mở Rộng
Tâm Hồn Và Tha Thứ
Lc 13, 22-30
Chẳng phải Pharisêu và quyền bính đền thờ mới
mắc bệnh tự mãn. Hình như nó là bệnh chung của mỗi chúng ta. Thí dụ khi tham
gia giao thông, chúng ta lái xe honda với một tốc độ nào đó. Ai lái nhanh
vượt chúng ta, chúng ta nghĩ bụng hắn là thằng điên. Ai đi chậm hơn, chúng
ta cho là thằng ngu. Chỉ mình chúng ta là đứng đắn, khôn ngoan, cẩn trọng.
Cũng vậy, chỉ bài vở chúng ta viết là hay nhất, bài vở kẻ khác là dở ẹc,
không đáng đọc. Mấy bà nội trợ cũng có cùng tâm lý, món mấy bà nấu là tuyệt
vời, tiệm khác nhạt nhẽo. Au tâm lý tự mãn là bệnh chung của nhân loại,
chẳng riêng gì ai. Xét về mặt đạo đức cũng vậy, chúng ta là tiêu chuẩn, kẻ
khác phải được đánh giá theo tiêu chuẩn duy nhất ấy. Ai sốt sáng hơn bị coi
là cuồng tín, ai kém hơn là tội lỗi. Người Do Thái xưa cũng nghĩ tương tự,
các dân chung quanh là dân ngoại hoặc Samaritano đáng ghét, đáng khinh bỉ,
lúc này tâm lý tự mãn còn y nguyên, chỉ đạo của mình thờ lạy Chúa, người
khác thờ lạy tà thần.
Xét cho cùng, lòng kiêu ngạo núp bóng dưới
tất cả những thái độ ấy. Vì vậy có tác giả nói rằng bao lâu ông cha mà không
phiên dịch bài giảng của ông thành hành động, ông giảng chưa trọn vẹn, kêu
như vẹt, hay thanh la inh ỏi. Vậy thì là thế nào chữa được bệnh tự mãn này?
Xin thưa: phúc âm hôm nay cho chúng ta một bài thuốc hiệu nghiệm thần kỳ:
hãy qua cửa hẹp mà vào nước Trời, tức phải khiêm nhường đón nhận thánh ý
Chúa.
Cửa hẹp ở đây hiểu theo “nghĩa đen” chứ không
thể “nghĩa bóng” được. Cứ nhìn vào con đường thánh giá và cuộc khổ nạn của
đức Giêsu khắc rõ. Thánh vinh nói: “thân sâu bọ chứ người đâu phải, chúng
đâm con thủng cả chân tay”, hay câu khác: “xương con đếm được vắn dài, lắc
đầu bỉu mỏ buông lời mỉa mai” áp dụng vào đức Giêsu thì sát nghĩa đen từng
chữ. Cho nên, chúng ta cắt nghĩa bóng rồi ăn ở nhung lụa là phi lý. Chẳng có
biện minh nào hợp lý để cho phép chúng ta hiểu “nghĩa bóng” cả. Chỉ có làm
ngơ để dục vọng thống trị mình mà thôi. Chẳng bao giờ Chúa nói: Hãy qua cửa
rộng mà vào Nước Trời. Ngược lại: “ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác
thánh giá mà theo”.
Giả như quý vị cho lý luận trên là quá đáng,
thì xin nhìn vào con đường từ dinh Philatô đến núi Sọ khắc rõ. Con đường
thẳng chim bay thì chỉ phỏng 200 mét. Nhưng vòng vèo qua các đường phố chật
hẹp, bụi bặm, lên dốc, xuống đèo thì tới 500 mét. Đi suông sẻ chỉ mất hai
mươi phút, nhưng hôm Chúa chịu nạn là lễ Vượt Qua, khách hành hương đông
nghẹt, thì người ta tính mất hơn nửa giờ. Trong nửa giờ ấy, Chúa gặp biết
bao nhục hình cay đắng, đúng như câu thánh vịnh trên: “thân sâu bọ chứ người
đâu phải”.
Này nhé, phố xá đông phương chật hẹp, toàn
đường đất bụi bặm chứ đâu tráng nhựa như ngày nay, xe cộ, người vật qua lại
tự do, hàng rong đủ loại, người bán rong đủ độ tuổi, đàn ông, đàn bà, thậm
chí có cả trẻ con. Họ rao hàng ầm ĩ, nhất là ngày đại lễ Pascha cố bán cho
thật nhiều thật nhanh để móc túi các khách hành hương đổ về Giêrusalem từ
khắp nơi trong miền trung đông. Súc vật chiên cừu từng đàn để làm lễ tế,
chim câu, gà vịt cũng được tự do bày bán. Làm chi có cảnh sát giữ trật tự?
Phương tiện duy nhất mở đường là tiếng la to, hoà chung với tiếng rao hàng,
súc vật rống. Đó là quang cảnh người ta dẫn tử tội Giêsu qua các phố xá để
đến Golgotha hành hình. Dĩ nhiên đám đông theo sau là vô bổ, trẻ vì tò mò,
người khác khinh bỉ chửi rủa, chứ làm chi còn nhân phẩm như ngày nay. Trong
lòng tử tội tủi nhục vô cùng, cầu xin đất xé ra để nuốt mình đi cho xong.
Nhưng chẳng thể được, cứ phải loạng choạng bước đi, chân ngay đá chân siêu,
vai mang thập tự nặng nề, thân mình đầy máu me vì trận đòn nhừ tử đêm qua.
Cổ đeo bản án và chiếc dây thừng to tướng do binh lính kéo đi. Nếu không
khéo thì vấp ngã là chuyện thường, vì mặt đường gồ ghề, đá tảng trồi lên lõm
xuống. Người đi bình thường còn hay vấp, huống hồ kiệt sức và bị xô đẩy
không thương xót.
Thế đấy, quý vị tưởng tượng xem “con đường
hẹp” theo sát nghĩa đen là dường nào. Vậy mà có người đang tâm giảng nghĩa
“bóng” thì hết biết. Và đó cũng là con đường Chúa kêu gọi môn đệ bước theo
Ngài, cho nên không thể chấp nhận “nghĩa bóng” được. Thánh giá rất cụ thể
chứ không lý thuyết trừu tượng. Vậy những ai yêu thích nhung lụa, tiện nghi
hãy coi chừng ơn gọi của mình. Chúa khiển trách tính tự mãn của Pharisêu là
lời khiển trách ngàn thu cho những ai rập theo não trạng Pharisêu, tránh né
hy sinh, hãm mình, chay tịnh với những biện minh giả hình.
Vậy thì phúc âm của Luca là một “ngoại lệ”
trong dòng tư tưởng của Do Thái giáo, và của chúng ta hôm nay. Tại sao? Vì
suốt các bản văn Kinh thánh, động lực duy nhất duy nhất là tình yêu của
Thiên Chúa mang tính chất một quà tặng nhưng không của Đức Chúa Trời. Chẳng
phàm nhân nào có khả năng lập được công phúc để mua sắm quà tặng ấy, thậm
chí xứng đáng chiếm hữu. Chúng ta hoàn toàn bất xứng trước tình yêu của Đức
Chúa Trời. Ngược lại chỉ là tên phản loạn, là kẻ thù, không làm được chi
xứng đáng. Hơn nữa, nếu Thiên Chúa hành động, đó là vì lợi ích của chúng ta,
không vì lợi ích của Ngài. Chúngg ta chẳng thể thuyết phục được Ngài làm
điều thiện cho mình. Ngài làm được điều tốt cho nhân lạoi, nguyên vì bản
tính thần linh và chúng ta may mắn được hưởng nhờ.
Vậy thì làm sao hôm nay Chúa Giêsu lại
khuyên: “hãy chiến đấu để qua được của hẹp mà vào Nước Trời”? Chẳng hoá ra
phúc âm tự mâu thuẫn? Người ta phải làm việc cật lực để chiếm Nước Trời.
Nhiều người xô đẩy, chen lấn, đấu tranh mà không được vào, vì “tôi nói cho
anh em hay, có nhiều người tìm cách vào mà không thể được”. Chúng ta liên
tưởng đến Pharisêu, não trạng Do Thái, cố gắng giữ lề luật Môsê đến từng chi
tiết nhỏ nhặt, hay như nhiều tín hữu vụ lề luật, cố gắng hết mình trung
thành với chữ đỏ, nhưng lại bị Thiên Chúa từ chối: “Ta nói thật, ta không
biết các anh là ai, từ đâu đến”. Những người trên biện minh: “chúng tôi đã
từng được ăn uống với Ngài. Ngài từng giảng dạy trên các đường phố của chúng
tôi”. Nhưng ông chủ cương quyết hơn: “Ta không biết các anh từ đâu tới. Cút
đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”. Thì ra Chúa
gọi thái độ kiêu ngạo tự mãn là bất chính. Than ôi, tất cả chúng ta là bất
chính cả, bởi ai ai cũng tự mãn trong thái độ của mình. Thật dễ sợ. Vậy
chúng ta cần xét lại tính lân cận, láng giềng với Chúa, ngay cả việc cùng ăn
uống với Ngài, Ngài đã từng giảng dạy trên đường phố của chúng ta. Phúc âm
hôm nay buộc chúng ta phải suy nghĩ nhiều hơn: đừng lấy điều chi là lẽ đương
nhiên. Thân cận với Chúa không đảm bảo chúng ta được vào Nước của Ngài. Chỉ
bằng hành động hoà chung với công việc Chúa làm mới mở lối cho chúng ta,
khiến chúng ta được Chúa thương chấp nhận. Nói cách khác, là qua cửa hẹp của
con đường thập giá mà Ngài đã đi. Chúng ta phải thay đổi nếp sống, não trạng
để biết theo lời Ngài chỉ dạy, kéo mở các cửa đã đóng hay khoá lại, và chúng
ta còn đứng bên ngoài. Gõ mấy cũng vô ích.
Tôi ngồi viết những dòng này ở một phi trường.
Thời tiết xấu nên nhiều chuyến bay bị huỷ bỏ. Số khách lại đông. Nhưng tôi
hy vọng chuyến tới sẽ đến lượt mình, bốn giờ nữa. Trong những năm trước vào
mùa này, đôi khi có người lạ đến hỏi tô: “liệu ông sẽ được cứu?”. Chắc chắn
ông khác lạ này là một nhà truyền giáo lưu động. Cũng giống như thường khi
bạn gặp người ta rung chuông trước cửa nhà mình và hỏi cũng một câu tương tự:
liệu bãn sẽ được cứu? Tôi khâm phục lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo.
Nhưng phúc âm của công ta khác của tôi. Dù sao tôi cảm nghiệm được tính tự
mãn về phần rỗi nơi cung giọng nhà rao giảng lang thang. Nó xem ra chắc chắn
về phần người nói, còn kẻ khác thì không chắc lắm.
Đây cũng là cung giọng của người hỏi Chúa hôm
nay, khi Ngài trên đường đi Giêrusalem. Ong ta hỏi về con số được lên thiên
đàng. Ong chắc chắn về phần mình, còn về “thiên hạ” thì không biết. Câu trả
lời của Chúa làm lung lay lòng tự tin của người đặt câu hỏi. Quý vị nghĩ thế
nào về quan điểm của ông ta? Dân Do Thái xưa cũng nghĩ như vậy và khinh miệt
người khác. Nhưng thật bất ngờ đối với họ khi đấng Mêsia đến lại ở giữa
những kẻ “tội lỗi” và họ đã không nhận ra Ngài, đem đóng đinh Ngài vào cây
gỗ.
Tôi thắc mắc người hỏi Chúa Giêsu có bao giờ
nghĩ đến số phận của mình, tìm xem có chi còn thiếu sót trong nếp sống hằng
ngày? Tôi cũng đặt nghi vấn như vậy cho các tín hữu, nhất là tu sĩ, linh mục
của ngày hôm nay. Bởi vì họ cũng thường tỏ thái độ tự mãn và khinh dễ kẻ
khác. Nhất là những người thuộc phe ta, dòng ta, tôn giáo ta.
Chúa Giêsu bỏ qua câu hỏi về số lượng được
cứu, bị trầm luân. Ngài không trả lời, không đếm số môn đệ nhiều hay ít,
hoặc phán đoán về thành công của sứ vụ bằng sĩ số tín đồ. Thực tế Ngài đang
tiến về thành thánh. Biến cố xảy ra ở đấy sẽ cho biết rõ nhựng kẻ trung
thành, họ theo Ngài thế nào. Sự vĩ đại của Ngài và của Giáo hội không nằm ở
vật chất, mà ở tinh thần và luân lý. Vĩ đại luân lý bao gồm hết mọi lãnh vực
của cuộc sống. To lớn vật chất chỉ là phần nhỏ và phiến diện, giống như cái
chết của Ngài, xét theo vật chất thì là một thất bại cay đắng. Nhưng luân lý
và tinh thần thì vô địch, không chi sánh kịp. Một chiến thắng toàn diện và
hiển hách muôn thu.
Khi tôi còn bé, người ta bảo tôi: tôn giáo
của tôi là duy nhất đúng, duy nhất đúng đắn và bảo đảm cho các người công
giáo. Tôi đinh ninh như vậy. Nhưng khi lớn lên, tôi nhận ra còn có các tôn
giáo khác như Tin Lành, Hồi giáo, Do Thái và tôi là bạn bè của họ. Chúng ta
chẳng thể trói chặt Thiên Chúa vào quan điểm của mình. Ngài tự do hành động
trong các truyền thống khác, đức tin khác, văn hoá khác, ý thức hệ khác. Ai
cấm cản được Ngài? Cho nên tự mãn là sai lầm. Điều quan trọng là cuộc sống
và thái độ sống cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Nếu chúng ta đọc kỹ
Luca, chúng ta sẽ nghiệm ra đức Giêsu rất khoáng đạt, không loại trừ một ai.
Những kẻ xem ra là “đồ bỏ” theo quan điểm đền thờ, như người ngoại giáo, đĩ
điếm, tội lỗi, thu thếu vẫn được làm môn đệ Ngài. Thậm chí cả kẻ trộm cướp
lãnh án tử bên cạnh Ngài. Đức Kitô hoàn toàn tự do khi phân phát ân huệ đức
tin. Xin đừng “bảo hoàng hơn vua” mà ngăn cản người khác làm môn đệ Chúa.
Tiên tri Isaia đã phác hoạ hình ảnh ấy từ xưa,
để chống lại thái độ hẹp hòi của dân Do Thái: “Ta biết rõ việc làm và ý định
của chúng. Ta sẽ tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ. Họ sẽ đến và được thấy
vinh quan của Ta”. Ông còn mô tả họ đến Giêrusalem đông như ngày hội: “đưa
bằng ngựa xe, võng cáng, lừa và lạc đà về trên núi thánh của Ta là
Giêrusalem”. Như vậy hệ thống đóng kín mang tính loại trừ của các thế lực
đền thờ được mở rộng cho chư dân.
Cuối cùng thì sự cứu rỗi, cánh cửa vào Nước
Trời không còn khép nữa và người ta phải đáp ứng thuận lợi, phải nhận ra quà
tặng Thiên Chúa ban cho mình là gì, và mở lòng ra cho thiên hạ. Chúa tha thứ
cho chúng ta, chúng ta cũng nên tha thứ cho người khác, và câu hỏi: “thưa
thầy, những người được cứu thoát thì ít có phải không?” không cần thiết phải
trả lời nữa. Vì ai không xứng đáng được cứu thoát ? Chẳng ai cả. Nhưng lòng
thương xót của Thiên Chúa thì bao la và Ngài hoàn toàn tự do phân phát ơn
cứu độ, xứng đáng hay không tuỳ thuộc vào lượng hải hà của Ngài. Bổn phận
của mỗi người là tìm lối hẹp mà vào. Cầu xin Chúa ban đức tin chân thệt để
chúng ta tìm được, và can đảm bước theo Chúa Giêu Kitô. Mong lắm thay. Amen.
Phêrô Phạm Văn Hoành op
Hãy
Chiến Đấu Để Qua Cửa Hẹp
(Lc 13,22-30)
Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu hướng chúng
ta về Phòng Tiệc nước Thiên Chúa, tuy rộng thênh thang, có đủ chỗ cho mọi
dân nước, mọi thành phần trong xã hội, nhưng cửa vào phòng tiệc vừa hẹp và
chỉ mở ra trong một khoảng thời gian nhất định, vì thế đòi hỏi chúng ta cần
phải tỉnh thức và phấn đấu bản thân mới nhanh chân vào cửa được. Một khi
phòng tiệc đã đóng, thì không ai có thể tranh luận, van nài để chủ phòng
tiệc mở ra cho một lần nữa.
“Hãy tỉnh thức” đó là lời mời gọi của Đức
Giêsu Kitô trong mọi thời đại, mọi hoàn cảnh sống. Có rất nhiều người bị ru
ngủ trong những thành kiến, tội lỗi, chạy theo những của cải trần thế và
những thứ chóng qua. Trong những xác tín làm mình ít ra đã đạt được một chân
vào phòng tiệc nhờ những ưu đãi, nhờ thực thi một số những thành tích. Xưa
kia, đối với người Do Thái những ưu đãi thuộc về dòng giống Apraham, ngày
nay những ưu đãi ấy là được lãnh nhận phép thánh tẩy để trở nên con cái
Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xưa Chúa đã nói:
“Không phải tất cả ai thưa Lạy Chúa, Lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu”.
Vâng, qua câu nói đó Ngài muốn lưu ý với nhân loại rằng không phải tất cả
những ai được cơ may ăn uống cùng bàn với Ngài, giảng dạy giữa công đường
của mình là đạt được tiêu chuẩn để vào nước Thiên Chúa. Mà trong sâu thẳm
của tình yêu Ngài mời gọi nơi mỗi người chúng ta phải phấn đấu không ngừng
để nhanh chân bước vào phòng tiệc thánh.
Vậy, lạy Chúa Giêsu Thánh Thể.
Chúng con phải làm gì đây để có được những
hồng phúc đó, phải chăng đó chính là đấu tranh với chính mình để có tình yêu
của Thiên Chúa và của tha nhân. Điều đó xem ra không dễ chút nào.
“Các ngươi hãy cố gắng qua cữa hẹp” cố gắng
là gợi ý của một cuộc chiến đấu cam go, vất vả. Cửa hẹp chỉ có những người
nhỏ bé mới lách qua được, nhất là đối với trẻ con đó là việc dễ dàng. Vậy,
muốn vào nước Thiên Chúa, đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta phải ăn ở khiêm tốn,
hãm mình hy sinh, phải xa lánh lối sống huynh hoang, tự cao tự đại, chạy
theo lợi lộc tiền tài để đánh mất nhân phẩm.
Bàn Tiệc nước Thiên Chúa là bàn tiệc của
những người thắng trận, của những người đã từng ngậm đắng nuốt cay, đã từng
đồng lao cộng khổ để chia sẻ những đau khổ mà Đức Giêsu đã dâng trên bàn thờ
Thập Giá, và được tái diễn trên bàn tiệc Thánh Thể. Vì thế, tham dự vào bàn
tiệc Thánh Thể là đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu để cùng phấn đấu với
Ngài, sẵn sàng hiến dâng những công lao khó nhọc cùng với của lễ Bánh và
Rượu, sẵn sàng chia sẻ Mình và Máu Thánh Chúa và tình yêu của Ngài trên bàn
tiệc Thánh Thể để rồi sau đó trên bàn thờ cuộc đời chúng ta sẵn sàng tiếp
tục trao tặng cho nhau những bàn tay giúp đỡ, những bàn tay băng bó vết
thương thể lý và tinh thần. Sẵn sàng đi thăm viếng những người bệnh tật,
những người già nua để trao tặng cho họ những lời nói và sự cảm thông, những
an ủi đỡ nâng, sẵn sàng hy sinh làm tốt công tác nghề nghiệp của chúng ta
hàng ngày hầu đem lại kết quả và phẩm chất cao đẹp.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chia sẻ cơm áo cho
những người nghèo đói, bệnh tật, qua đó thực hiện tình liên đới, sự hiệp
thông trong tình bác ái, hiệp nhất để đóng góp phần nhỏ bé của mình để xây
dựng gia đình nhân loại. Đó mới thực sự là góp tay biến bàn tiệc Thánh Thể
dần dần trở nên bàn tiệc cánh chung mới cho mọi dân mọi nước đều được tham
dự. Đó mới thực sự là phấn đấu đi qua cửa hẹp để chen chân vào tham dự bàn
tiệc trong nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, cửa hẹp dẫn vào bàn
tiệc cha trên trời không phải luôn luôn rộng mở cho bất cứ ai: xã hội đang
ngày càng phát triển, con người đang lao vào vòng xoáy của đam mê, tiền tài
và danh vọng. Và để đạt được những thứ chóng qua đó hầu như mỗi người phải
đấu tranh, kể cả hy sinh cả mạng sống mình. Nhưng họ đâu biết rằng những của
cải trần thế đó chỉ là phù du, là những thứ chóng qua, những thứ đó chỉ đem
lại cho con người thứ hạnh phúc tạm bợ mà thôi.
Là người kitô hữu, những người mang trong
mình dòng máu Đức Kitô, xin Chúa soi đường dẫn lối để chúng con nhận ra rằng
chỉ có con đường khổ giá mà chính Đức Kitô đã mang lên cây Thập Giá và cũng
từ nơi Bàn Tiệc Thánh Người đã ban phát cho nhân loại bánh hằng sống. Đó mới
là niềm hạnh phúc vĩnh cửu và cũng là con đường ngắn nhất để vào Nước Thiên
Chúa. Amen./.
Đỗ Lực op
CỬA TRỜI RỘNG HẸP AI HAY ?
(Lc 13:22-30)
Hôm nay, ngồi nghe tâm sự bạn trẻ nhiễm HIV
trên mạng, lòng tôi se buồn. Nỗi buồn càng ngấm khi đọc số liệu về tình
trạng HIV tại Việt nam. “Năm 2000, số người nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam là
122.000 người, sáu năm sau con số đó tăng lên hơn gấp đôi, vượt trên 280.000
người. Trung bình mỗi ngày Việt Nam có hon 100 ca nhiễm mới. Cho đến tháng 6
năm 2006, tại Việt Nam mới chỉ có 1500 người được điều trị bằng ARV nhờ tiền
của chính phủ Mỹ, trong khi đó số người chết vì AIDS trong năm 2005 là
14.000 người.” (1)
Nỗi buồn càng tăng khi thấy các bạn hối hận
về quá khứ và lo lắng trước tương lai. Con đường thênh thang đầy đam mê tuổi
trẻ đã dẫn các bạn đến thảm trạng hôm nay. Nhưng bỗng một bạn trẻ nhiễm HIV
cho mình có phước hơn nhiều người, vì có thời gian chuẩn bị ngày gặp Chúa.
Nỗi buồn ngừng hẳn lại. Một chân trời mới đã mở ra. Phải phấn đấu tới mức
nào, bạn trẻ mới có một niềm tin như thế ? Có phải bạn trẻ ấy đang “chiến
đấu (với ác thần) để qua được cửa hẹp mà vào” (Lc 13:24) Nước Thiên Chúa
không ? Ðức tin quả là một sức mạnh phi thường !
CÓ TRỜI CÓ TA
Chúa Giêsu đem đến một cơ hội cuối cùng cho
những người muốn vào Nước Thiên Chúa. Người lên đường lên Giêrusalem, xuyên
qua các thành thị và làng mạc. Ðó là cuộc hành trình chót. Trên đường, Người
dạy dỗ quần chúng. Ðây đó trong Tin Mừng Mathêu cũng có những cảnh tương tự.
Một cửa hẹp (Mt 7:13). Tiếng các thiếu nữ kêu gào (Mt 25:11). Một câu trả
lời tiêu cực : “Ta không biết các ngươi.” (Mt 7:22). Một cuộc đổi đời :
“Những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu.” (Mt 8:11)
Thoáng đọc qua Tin Mừng Luca hôm nay, ai cũng
nhận thấy có một sự căng thẳng ngay từ đầu. Cánh cửa khép lại để bao kẻ chen
nhau ngoài ngưỡng cửa. Chủ nhà cấm cửa thực khách và nói : “Ta không biết
các anh từ đâu đến … Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều
bất chính !” (Lc 13:25.27) Thật là lạ lùng và đau xót !
Ơn cứu độ là công trình của Thiên Chúa. Chính
Chúa có sáng kiến đó. Người quy tụ. Người sai đi. Người chọn các tư tế và
Lêvi ngoài những bộ tộc truyền thống để lắng nghe sứ điệp này: “Ta là cửa !”
(Ga 10:9) Ðó không phải là một cánh cửa mở rộng cho đủ mọi hạng người, nhưng
chỉ cho những ai được Thiên Chúa tiền định nên đồng hình đồng dạng với Con
của Người (x. Rm 8:29.30). Bởi thế, ơn cứu độ hoàn toàn là một hồng ân nhưng
không của Thiên Chúa.
Rõ ràng chúng ta không thể tự cứu rỗi. Không
có cách nào tự mình phấn đấu để được Thiên Chúa ưng nhận. Không phải do sức
riêng, con người có thể chiến đấu và chiến thắng. Nói thế không có nghĩa con
người hoàn toàn thụ động và không cần nỗ lực đóng góp chút gì vào công trình
đó. Nếu không, Chúa Giêsu đã không quả quyết : “Nước Trời phải đương đầu với
sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được.” (Mt 11:12)
Như thế rõ ràng ơn cứu độ là một công trình
của cả Thiên Chúa lẫn con người. “Có Trời mà cũng có ta !” Chính vì thế, con
người không hoàn toàn vô trách nhiệm về phần rỗi của mình. Nếu mọi người sẽ
được cứu độ, chẳng ai cần cố gắng làm việc lành và cũng chẳng cần sám hối
nữa. Nếu Ðức Giêsu mạc khải ít người được tuyển chọn, người ta sẽ nản chí
sờn lòng và dễ dàng bỏ cuộc. Tôi hy sinh làm gì nữa ... nếu tôi biết mình sẽ
không bao giờ vượt qua cửa ải quá nhỏ như thế. Nhưng không ! Ðức Kitô mạnh
mẽ kêu gọi chúng ta cố gắng hết sức để được cứu độ, nghĩa là trở nên công
chính.
Như thế, ơn cứu độ cũng là công trình của tất
cả chúng ta. Các tín hữu phải trở nên những sứ giả và có trách nhiệm làm
chứng tích cực cho anh em mình về hồng ân cứu độ của Thiên Chúa. Mọi người
sẽ nhìn xem cách họ đón nhận và đáp trả hồng ân ấy như thế nào. Chúng ta chỉ
lảng tránh lời mời gọi của Thiên Chúa khi bỏ quên người thân cận, gia đình,
bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp của mình. Chính trong lối sống, tư tưởng, lời
nói, hành động, phán đoán của chúng ta, ơn cứu độ đang diễn ra. Nói khác, sự
công chính được thành hình từ môi trường chúng ta đang sống.
Sống giữa bao nhiêu thử thách và cám dỗ, con
người phải nỗ lực hết sức mới có thể trở nên công chính. Có khi phải liều cả
mạng sống mới có thể chen chân vào Nước Trời. Chúa Giêsu là một thí dụ điển
hình. Viễn ảnh cái chết ở Giêrusalem cũng không làm Chúa chùn chân trước sứ
mệnh cứu độ nhân loại.
CĂNG THẲNG
Dù Israel không nhìn nhận Ðức Giêsu là Ðấng
Thiên sai, Thiên Chúa cũng không ngưng kế hoạch cứu độ nhân loại. Chư dân đã
đến chiếm chỗ dân Do thái trong bàn tiệc Nước Trời. Dù được mời gọi trước
tiên, Do thái đã bị chư dân qua mặt. (2) Thiên Chúa thực hiện lời hứa cho
nhân loại và tập hợp muôn dân (Is 66:18-21). Không có dân tộc nào được ưu
đãi đặc biệt. Israel đích thực gồm mọi người tin vào Thiên Chúa. Ðây là sự
kiện quan trọng thánh Luca nhấn mạnh khi ông hướng Tin Mừng về Dân Ngoại (x.
Rm 4:16-25; Gl 3:6-9). (3) Vấn đề không phải là Do thái hay Dân Ngoại. Vấn
đề chủ yếu là có “thi hành ý muốn của Thiên Chúa” (Mc 3:35) là Ðấng công
chính hay không.
Cuối cùng mọi sự được giải tỏa khi “thiên hạ
sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 13:29) Chắc
chắn đây phải là những người công chính, không phân biệt chủng tộc, văn hóa,
ngôn ngữ, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp v.v. Bởi đấy, không nên ngạc nhiên
khi trong Nước Thiên Chúa đầy những người nghèo, thấp cổ bé họng, bị khinh
miệt và gạt ra bên lề xã hội. Tuy nghèo hèn và bị đời lãng quên, nhưng họ
thật “vĩ đại” trước nhan Thiên Chúa, vì đã trung thành giữ lời cam kết với
Chúa. Họ trở nên công chính vì đặt Thiên Chúa trên tất cả mọi giá trị trần
gian. Bởi đấy họ đủ điều kiện để nhập tiệc Nước Trời với mọi người trên thế
giới. (4)
Tự bản chất, Nước Thiên Chúa là sự công
chính. Những bọn người bất chính, làm sao đủ điều kiện ? Không đủ điều kiện
không phải vì những bất chính quá khứ, nhưng vì không biết nhìn nhận tội lỗi
mình và chấp nhận ơn tha thứ của Chúa. Tuy có lắng nghe và khâm phục những
phép lạ của Chúa, nhưng vì quá tự tin và cố bám vào những thành tích và
truyền thống, nên họ không quan tâm và tin tưởng vào Thiên Chúa cứu độ.
“Trong hoàn cảnh sống ngày nay, công lý rất
quan trọng, vì giá trị cá nhân, phẩm giá và quyền lợi con người bị đe dọa
một cách nghiêm trọng bởi các xu hướng lạm dụng các tiêu chuẩn lợi nhuận và
quyền tư hữu một cách thái quá ở khắp nơi.” (5) Từ đó mọi hình thức bất công
mới xuất hiện trong xã hội. Muốn được cứu độ hay nên công chính, Kitô hữu
không thể làm ngơ hay im lặng trước những cảnh cường quyền đàn áp dân oan.
Lời mời gọi của Thiên Chúa vang lên mãnh liệt hơn lúc
nào hết !
Chúng ta có thể giả điếc làm ngơ trước lời
mời gọi ấy mà có thể được cứu độ hay hạnh phúc cho riêng mình không ?! Dĩ
nhiên, nếu cứ tiếp tục im lặng, không những chúng ta có thể bị lạm dụng vào
mục tiêu bất chính, mà còn rơi vào ảo tưởng mình vẫn làm chứng cho sự thật
và sống công chính. “Chúng ta phải tố cáo tội bất công và bạo lực đang len
lỏi vào xã hội bằng nhiều ngả và hiện thân trong xã hội. Biết bao vấn đề xã
hội nảy sinh từ sự bất công trên thế giới. Khi nhân quyền bị lãng quên hay
chà đạp, tình trạng lạm dụng và bất quân bình sẽ nổi lên và đưa tới biến
động xã hội. Bạo lực và bất công sẽ tràn lan. Công bằng xã hội là câu trả
lời đích xác cho những vấn đề lớn lao đó.” (6)
Bất công là nguồn gốc sinh ra mọi vấn đề xã
hội. Thế nên muốn chữa trị những căn bệnh xã hội, phải chữa tận gốc. “Thực
vậy, công lý không phải chỉ là một quy ước thuần túy nhân loại, vì những gì
là ‘công chính’ trước tiên không do luật pháp, nhưng do bản chất sâu xa của
con người quy định.” (7) Nói khác, con người và xã hội không thể quyết định
hay thay đổi những tiêu chuẩn công lý. Công lý cũng như nhân quyền không tùy
thuộc vào văn hóa, hoàn cảnh, dân tộc, luật pháp v.v. Phát xuất từ bản chất
sâu xa của con người, công lý là một tiếng nói phổ quát nằm sâu trong lương
tâm con người.
Thực tế, công lý đòi con người hy sinh nhiều
hơn bác ái, có khi mất cả mạng sống. Nếu chỉ lo làm bác ái, chúng ta chỉ
chạm tới ngọn, mà chưa đụng tới gốc. Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc ! Nếu không,
vấn đề ngày càng phình to hơn. Công cuộc bác ái nhiều khi trở thành một trò
chơi thời thượng trước mắt những kẻ cầm quyền. Bản chất vấn đề xã hội vẫn
còn nguyên vẹn. Những kẻ độc tài và bộ máy đàn áp có thể sống chung với
những người và cơ quan làm việc bác ái, nhưng không bao giờ có thể đồng hành
với những người tranh đấu cho công lý và hòa bình. Chẳng ai chết vì những
công cuộc bác ái bao giờ. Trái lại, có nhiều người chết vì công lý. Trong đó
Chúa Giêsu là số một.
THẾ ÐỨNG GIÁO HỘI
Tóm lại, trên phương diện cá nhân hay tập
thể, sự công chính vẫn là điều kiện duy nhất và cần thiết nhất cho công cuộc
cứu độ. Ở cấp độ quốc gia hay quốc tế, công lý là mẹ sinh ra hòa bình. Bởi
thế, ngày nay nhiều người thiện chí và tổ chức không ngừng săn tìm công lý
cho xã hội. Giáo Hội Công Giáo rất vui mừng khi được kể vào số đó.
Quả thực, tiếp nối công trình của Thày Chí
Thánh, Giáo Hội luôn làm chứng và hy sinh cho công lý và hòa bình nhân loại.
Ðó là điều kỳ vọng duy nhất thế giới đang đặt nơi Giáo Hội Công Giáo toàn
cầu và địa phương. Thực thế, ông Kagefumi Ueno, Tân Ðại sứ Nhật Bản tại Tòa
Thánh nhận định : “Ðức Giáo Hoàng là một hạng ‘người canh giữ’ tình hình quốc tế. Cộng
đồng quốc tế kỳ vọng Người nói về hòa bình và công lý.” (8) Ông thú nhận Tòa
Thánh có một giá trị và thẩm quyền đạo đức được cả các thẩm quyền ngoài Kitô
giáo tôn trọng. Khi phát biểu về các vấn đề quốc tế, từ việc giải trừ vũ khí
hạt nhân đến các cuộc đàn áp tại Phi châu hay Á châu, tiếng nói của Ðức
Giáo Hoàng được
nhanh chóng phổ biến khắp thế giới và thu hút sự chú ý quốc tế. Tóm lại,
theo ông Tân Ðại sứ Nhật Bản, Vatican rất độc đáo và gây nhiều ấn tượng vì
lập trường vô tư và cương quyết trước những vấn đề luân lý xã hội và chính
trị quốc tế ! (9)
Dựa vào đâu Giáo hội có được một tiếng nói
mạnh mẽ như vậy, trong khi nhân loại ngày càng xa dần Thiên Chúa và bị trần
tục hóa ? Thưa, chính vì muốn cho mọi người thấy tầm vóc cao cả và giá trị
đích thực của mình như món quà vô giá của Thiên Chúa, nên Giáo hội không
ngừng tranh đấu hồi phục quyền làm người cho nhân loại. Theo Rose Busingye,
một Nữ Y tá săn sóc bệnh nhân AIDS ở Uganda, Phi châu, vấn đề lớn nhất lục
địa Phi châu không phải là sự nghèo đói hay thiếu thốn các cơ sở hạ tầng,
nhưng là “sự vắng bóng một thẩm quyền cho thấy đang thiếu một lý tưởng và
một ý nghĩa cuộc sống.” Theo cô, đó là nguyên chính gây nên sự bất an nói
chung trong tương quan nhân vị. Hằng ngày cô phấn đấu với hiện tượng này.
Không những lo đáp ứng những nhu cầu vất chất cho bệnh nhân, cô còn cố gắng
làm cho họ ý thức về giá trị của họ. Giá trị này không thể bị suy giảm ngay
cả khi họ chìm ngập trong nỗi khốn cùng.
Dạy cho con người biết giá trị của mình là
giải đáp cho những vấn đề Phi châu hôm nay. Cô kết luận : “Hy vọng của Phi
châu cũng là hy vọng toàn thể nhân loại cần đến, đó là biết mình là ai.”
(10) Nói khác, hy vọng đó tăng lên theo mức độ nhân quyền con người được
hưởng trong một xã hội công bằng. Tất cả giá trị con người nằm ở đó !
Niềm hy vọng đã nhú lên trong xã hội và Giáo
Hội Việt nam chưa ? Bao lâu nhân quyền bị chà đạp và công lý chưa có tiếng
nói, niềm hy vọng vẫn còn tắt ngúm. Trách nhiệm đó về ai ? Dĩ nhiên không
thể quy trách cho hàng lãnh đạo Giáo Hội mà thôi. Nhưng trong tình thế hiện
tại, có lẽ giáo dân cũng không thể làm gì hơn với cơ chế cứng ngắc trong
Giáo Hội. Bởi thế, “người tín hữu đang chờ đợi nhiều cải cách làm sao để
công việc chung của giáo hội không phải là ưu lo riêng, phận vụ riêng của
một giới, một bậc sống mà của mọi tín hữu. Và không phải trong nguyên tắc
nhưng trong thực tế áp dụng với những điều kiện thực hiện được.” (11)
Trong một thế giới đầy biến động và nhiều bất
công hôm nay, “Giáo hội có bổn phận phải biện minh, giải thích, bảo vệ nhân
phẩm và nhân quyền không chỉ bằng lời nói, nhưng hơn nữa còn phải bằng hành
động và cuộc sống của mình. Hơn ai hết, Giáo hội không được làm cho thế giới
chúng ta ngày nay phải thất vọng về nỗi khao khát công lý và ước muốn sôi
nổi tìm về nhân tính của mình.” (12)
Nhưng làm sao Giáo Hội có thể hoàn thành sứ
mạng đó, nếu bộ máy giáo quyền còn quá nặng nề, giáo dân thiếu hiểu biết và
chỉ cúi đầu vâng phục ? Còn lâu giấc mơ mới thành sự thật, vì giáo dân không
tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để trở nên những Kitô hữu
trưởng thành dám lãnh trách nhiệm trước lịch sử !
Lạy Chúa, tất cả sức mạnh chúng con ở nơi
Chúa. Xin cho chúng con luôn phấn đấu cho quê hương và thế giới sống trong
công lý và hòa bình. Amen.
------------------
1. http://www.vietcatholic.net/News/Html/46613.htm
2. The New American Bible 1991:1117.
3. ibid.
4. ibid.
5. Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội
2005:90.
6. ibid., 36
7. ÐGH Gioan Phaolô II, Tông Thư
Sollicitudo Rei Socialis, 40: AAS 80 (1988), 568;
x.Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, 1929.
8.
Zenit.org
23.08.2007
9. ibid.
10. ibid.
11. Gs. Nguyễn đăng Trúc, http://www.conggiaovietnam.net/TiengVongGB/giaohoiconggiaovanhanquyen.htm
12. ÐGH Phaolô VI, trích lại từ Gs. Nguyễn
đăng Trúc, ibid.
Lm. Jude Siciliano, OP (Chuyển
ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp)
ChỌn “CÁNH cỬa
hẸp” tình
yêu
hay đưỜng rỘng
bẠo lỰc?
Luca
13: 22-30
Không biết anh chị em đã đọc loạt sách
nhan đề “Bị Bỏ Lại” (Left Behind) hay chưa? Đây là loạt 16 quyển tiểu
thuyết của tác giả Tim LaHaye & Jerry B. Jenkins. (Cũng có một loạt sách
dành cho trẻ em nữa.) Những quyển sách này nói đến Ngày Tận Thế, trình
bày cái được gọi là viễn cảnh Kitô giáo vào những ngày cùng tận của thế
giới. Ba quyển trong số những tiểu thuyết này đã được dựng thành phim.
Cách đây 10 năm thì 4 trong số những tiểu thuyết này từng giữ vị trí
hàng đầu trong danh mục “Sách bán chạy nhất” (Best seller). Lời lẽ trong
sách dựa trên những bản văn khải huyền của cả Tân Ước lẫn Cựu Ước. Loạt
sách “Bị Bỏ Lại” lấy theo nghĩa đen những hình ảnh hão huyền trong Sách
Thánh với những hình ảnh hết sức thi vị. Ý nghĩa của quyển sách nhằm
“trả lời” cho những thắc mắc về kết cục lịch sử của hầu hết chúng ta –
Có một trật tự luân lý nào trong vũ trụ hay không? Liệu rằng công lý có
được thực thi và ánh sáng có thắng được bóng tối hay không ?
Dùng lời Sách Thánh như bằng chứng, Những
quyển “Bị Bỏ Lại” phỏng đoán về một kết cục “hoan hỉ” sẽ đến. Nó sẽ xảy đến
nhanh như chớp; Đức Giêsu sẽ trở lại và đón chỉ một số tín hữu về thiên
đàng, chỉ những người tốt thật sự, những kẻ khác sẽ bị bỏ lại. Sẽ chỉ có
một ít người được hạnh phúc viên mãn, còn đại đa số sẽ phải khốn khổ vô
vàn – những kẻ bị bỏ lại. Cô dâu bị bỏ lại ở ngay bàn thờ; Các gia đình
than khóc vì người mẹ bị bắt đi; hàng trăm hành khách trên máy bay khóc
la cho đến chết trong khi chỉ viên phi công được nhấc lên và được cứu
thoát, … Vì con người chán ngấy với những đau khổ và sự dữ trên thế giới
nên loạt sách “Bị Bỏ Lại” có vẻ như mang lại cho con người sự an ủi và
khích lệ: Hãy kiên tâm vững trí, đừng bỏ cuộc, cái thiện sẽ chiến thắng.
Anh chị em có thể thấy ngay cả các môn đệ
của Đức Giêsu cũng có những bận tâm tương tự về việc ai sẽ được ở bên
trong và ai sẽ bị loại ra bên ngoài nước Thiên Chúa. “Lạy Thầy, những
kẻ được cứu thoát thì ít, có phải không?” Có thể các ông hỏi câu này vì
chính các ông đang gặp quá nhiều sự chống đối. Có lẽ các ông ngạc nhiên
và thất vọng vì người ta không quan tâm gì đến việc đáp lại lời mời gọi
của Đức Giêsu. Có thể các môn đệ cũng giống như chúng ta chán nản vì
tình trạng bi đát của thế giới “sắp đến ngày tận thế”.
Với câu hỏi như thế, các môn đệ dường
như nghĩ rằng họ là những người trong số ít ỏi được chọn; trong câu hỏi
của các ông âm vang tiền đề của loạt sách “Bị Bỏ Lại” rằng người được
chọn sẽ được cất nhắc đi, trong khi đó những kẻ còn lại sẽ bị loại ra và
bỏ lại. Các môn đệ có thể đã muốn Đức Giêsu giảng một sứ điệp mạnh mẽ
hơn về địa ngục và sự trừng phạt để thức tỉnh dân chúng, làm cho họ sợ
hãi mà quay lại ăn năn hối cải và đón nhận Người – cũng như cả các môn
đệ nữa. Thế nên xưa nay, sợ hãi cũng là cách giúp người ta biến đổi.
Nhưng chúng ta có nghĩ rằng đó là cách
Thái Tử Hòa Bình sẽ trở lại? Phải chăng Thiên Chúa chồng chất những sợ
hãi lên những kẻ ngoan cố như những quyển tiểu thuyết “Bị Bỏ Lại” mô tả?
Chúng ta sẽ hoán cải quay về với Thên Chúa theo kiểu nào nếu vì sợ, chứ
không phải vì yêu mến? Và thêm nữa, liệu chúng ta có tin rằng chỉ có
người Kitô hữu mới được cứu hay không? Giáo Hội không dạy chúng ta như
thế.
Vì thế, khi các môn đệ Đức Giêsu hỏi về việc “chỉ có một số ít” được cứu, Người phủ nhận câu hỏi và nói rằng con số không phải là vấn đề then chốt. Nhưng, còn có một vấn đề đáng lưu ý khác
dành cho các môn đệ của Người: Các ông có nghĩ là các ông sẽ được xét
xử tử tế chỉ đơn giản vì các ông được cho rằng đã bắt chước Đức Giêsu
hay không? Có phải tự nhiên các ông cho rằng mình được chọn vì các ông
đã cùng ăn với Người và Người giảng dạy giữa các ông hay không? Câu trả
lời của Đức Giêsu khiến con cái Giáo hội không được dễ chịu, vì Người
nói cũng các ông, “Nếu nghĩ mình đứng đầu sẽ xuống hàng chót.” Anh chị
em biết rằng Đức Giêsu đã thức tỉnh các môn đệ của Người cũng như những
kẻ có cái nhìn thiển cận và tự cho mình là đạo đức. Nhưng thực tế thì
chính những người được cho là “nhiệt thành đạo đức” lại là người đã chối
Đức Giêsu.
Đức Giêsu và môn đệ của Người đang đi
lên Giêrusalem. Chúng ta biết quyển sách này sẽ kết thúc như thế nào,
không phải là với một “trạng thái sung sướng ngất ngây” chiếm lấy Đức
Giêsu và miễn cho Người khỏi những khốn khó. Thiên Chúa sẽ không vượt
thắng sự giữ bằng bạo lực và sự phá hủy, nhưng bằng chính thập giá của
Đức Kitô. Qua việc chịu đau khổ và bị đánh gục, lòng thành tín của Đức
Giêsu đối với Thiên Chúa và tình yêu Người dành cho chúnh ta sẽ thứ tha
và cứu thoát thế giới. Có thể “cánh cửa hẹp” mà Đức Giêsu bảo chúng ta
“phấn đấu” để đi qua là chúng ta cần phải tiếp tục yêu thương – ngay cả
những người đối nghịch với chúng ta và cố tình hãm hại chúng ta – vì đó
chính là cách Chúa Giêsu đã hành xử như thế.
“Cánh cửa hẹp” là hình ảnh về cuộc đời
của Chúa Giêsu và ân sủng Người trao ban là hy sinh chính mình cho tha
nhân. Đây chính là sự đau khổ đặc biệt và hiến tế chính mình mà Người
mời gọi chúng ta bước vào: tha thứ là một cánh cửa hẹp; phục vụ và tặng
ban của cải, thời gian cho những ai đang cần cũng là một cánh cửa hẹp;
tạm gác lịch trình và thời biểu của mình qua một bên để dành thời gian
lắng nghe những nỗi đau của người khác cũng là cánh cửa hẹp; sống cẩn
trọng và thanh đạm, sở hữu ít đi để người khác có thể có nhiều hơn đó
cũng là cánh cửa hẹp; lên tiếng thay cho những ai bé cổ thấp họng, thậm
chí điều đó khiến chúng ta trở thành bất thường, cũng là một cánh của
hẹp;
Đức
Giêsu nói rằng những người đến bên cửa và nài xin ân huệ vì những người
này biết Người và thậm chí gọi Người là “Chúa” thì không hẳn nhiên được
vào. “Tôi không biết các anh từ đâu đến.” Người sẽ nhận ra nhưng con
người này ngay cửa nếu như Người nhận thấy chính Người bên trong họ, nếu
Người thấy nơi họ: ánh mắt của Người – ánh mắt nhìn thấy những gì bị ẩn
dấu; thấy môi miệng của Người nơi họ - môi miệng dám lên tiếng thay cho
những kẻ bé nhỏ trong xã hội; thấy đôi tay của Người – đôi tay chìa ra
chăm sóc và cảm thông; đôi tai của Người - đôi tai biết lắng nghe những
người không được ai nghe đến. Khi Chúa Giêsu mở cửa để xem coi ai đang
gõ cửa, Người muốn thấy sự tương đồng trong gia đình – những anh chị em
của Người.
Vậy thế giới sẽ kết thúc như thế nào?
Tương lai nào Chúa dành cho chúng ta? Điều đó đã được quyết: hòa bình
thì mạnh hơn bạo lực. Vậy liệu đời sống hiện tại của chúng ta có ảnh
hưởng đến tương lai mà ta hy vọng không? Chúng ta sẽ chọn “cánh cửa hẹp”
của tình yêu hay lại chọn con đường rộng thênh thang của bạo lực? Nỗi sợ
hãi địa ngục của coon người đã giúp bán được mười triệu quyển sách.
Nhưng Thiên Chúa đã chọn cánh cửa hẹp; đã bước vào thế giới của chúng ta
bằng cánh của hẹp của tình yêu và mở rộng cánh của ấy cho chúng ta bước
vào.
Lm.
Jude Siciliano, O.P. (Anh em Học Viện Đaminh chuyển ngữ)
Ai là ngưỜi đưỢc cỨu thoát?
Is 66,18-21; Tv 117; Hr 12,5-7.11-13; Lc 13,22-30
Kính thưa quý vị,
Đức Giêsu tỏ ra nghiêm khắc trong Tin
mừng hôm nay. Chúng ta không quen với một người động lòng trắc ẩn mà lại
nói năng theo kiểu này, trừ khi giới lãnh đạo tôn giáo giả nhân giả
nghĩa. Họ thực sự nổi giận với Đức Giêsu, đặc biệt khi họ lên kế hoạch
gài bẫy Người. Nhưng hôm nay Đức Giêsu có vẻ gắt gỏng với một người như
muốn đi theo làm môn đệ, người đó gọi Đức Giêsu là “Chúa” và hỏi: “Thưa
Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?”
Điều gì đã khiến cho một người đặt câu
hỏi như thế? Và hơn thế nữa, điều gì đã làm cho một trong những người
theo Đức Giêsu hỏi như vậy? Phải chăng chính người đó cũng đang cảm nhận
về đường lối mà đôi khi chúng ta cũng suy nghĩ về cuộc đời của mình? Có
rất nhiều cái sai tệ hại về những gì chúng ta nhìn thấy và nghe được
trên thế giới này: khủng bố và chiến tranh, bạo loạn và đụng độ được
biết đến trên truyền hình, những thành viên trong gia đình đã ra đi vĩnh
viễn, bách hại tôn giáo, những quốc gia tranh chấp nội bộ gay gắt gây
chia rẽ,v.v… Quá nhiều thứ nằm ngoài vòng kiểm soát. Vậy, nếu chúng ta
là những người tín hữu thì trong tất cả những trường hợp này Thiên Chúa
đâu rồi và tương lai của chúng ta sẽ như thế nào? Chúng ta lắc đầu và tự
hỏi liệu thế giới này có thoát khỏi tình trạng “rơi xuống địa ngục trong
một chiếc giỏ xách tay hay không?” Vì thế, chúng ta có thể hiểu câu hỏi
mà người kia đã đặt ra cho Đức Giêsu khi ông ta cảm thấy khó chịu với
thế giới và tình cảnh của địa phương rằng: “Thưa Ngài, những người được
cứu thoát thì ít, có phải không?”
Nhưng có lẽ người đặt câu hỏi này đang
chất vấn vì ông ta cảm thấy rằng dường như một số người “trong nhóm” đó
được an toàn. Hôm nay đoạn Tin mừng được bắt đầu qua lời kể rằng Đức
Giêsu giảng dạy trên đường lên Giêrusalem. Kẻ đặt câu hỏi cho Đức Giêsu
dường như xem Người là vị thầy đạo đức. Bao quanh nơi Đức Giêsu sinh
sống là thế giới ngoại giáo, những người Rôma, có một người sùng đạo
nghĩ rằng họ và những người không phải ngoại giáo đang đi trên con đường
ngay chính và được quyền vào một nơi xứng đáng trong nước Thiên Chúa.
Sau cùng, họ dành thời gian cho một lịch trình bận rộn để đi nghe Đức
Giêsu giảng dạy. Thêm vào đó, người đặt câu hỏi đã tỏ lòng mộ mến của
mình bằng cách gọi Đức Giêsu là “Chúa.” Vì danh hiệu đó chỉ được gọi sau
khi Đức Giêsu phục sinh, ở đây thánh Luca có thể đang bày tỏ mối quan
tâm đến cộng đoàn Kitô hữu của ngài.
Vì thế, nghe có vẻ như một “người trong
cuộc” đang hỏi xem ai là người được vào và ai là người phải ở lại ngoài
cửa. Cách thức mà câu hỏi được đặt ra làm cho quý vị có ấn tượng là
người hỏi như thể biết hết đường đi nước bước vậy. Đó là điều đáng sợ,
vì có lần Đức Giêsu nói rằng: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy
Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu!” (Mt 7,21).
Câu trả lời của Đức Giêsu sẽ làm cho
chúng ta trở thành những “tu sĩ,” nhưng những người tín hữu trong giáo
hội như chúng ta cảm thấy khó chịu với cách trả lời đó. Đức Giêsu luôn
đánh giá cao người môn đệ biết động lòng trắc ẩn, nhưng câu trả lời của
Người hôm nay không ám chỉ rằng Người đang nói về người môn đệ như thế.
Rất có thể chính nhân vật cảm nhận về đường đi nước bước là người trong
cuộc thuộc nhóm của Đức Giêsu, vì người trong cuộc mới cảm nhận được như
vậy, còn người khác không thể biết được.
Quý vị cần biết rằng Đức Giêsu sẽ tức
giận với người quay gót ra đi. Người có thói quen bảo những người đạo
đức là đừng có vênh vang; thực ra, những người được gọi là “nhiệt thành
và đạo đức” thì lại chối từ Đức Giêsu. Người chỉ trích gay gắt những vị
lãnh đạo tôn giáo hay lên án người khác, những vị lãnh đạo này chính là
những kẻ đã kết án Người tại Giêrusalem, nơi Người định đến và cũng là
nơi Người yêu cầu chúng ta đi theo.
"Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào,
vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể
được.” Cụm từ “cửa hẹp” là hình ảnh về lối sống và phương thế tự hiến tế
của Đức Giêsu mà Người đòi buộc chúng ta noi theo. Đức Giêsu vội vã lên
Giêrusalem và Người bất ngờ nói về những kẻ sẽ không được vào Nước trời.
Thậm chí cả những ai nói rằng: "Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt
ngài”, những người có quyền tuyên bố là thuộc nhóm của Đức Giêsu cũng
không được vào.
Đức Giêsu kêu gọi nhiều thành viên khác
nữa đáp ứng yêu cầu khi theo Người. Đó chính là việc lựa chọn “cửa hẹp.”
Vậy chúng ta có hành động theo như những gì ta tin hay không? Hành động
đó được ngụ ý trong câu trả lời của Đức Giêsu là những câu hỏi được đặt
ra cho chúng ta ở chỗ: “Quý vị tin là Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho quý
vị, thế quý vị có tha thứ cho người khác hay không?” “Quý vị tin là
Thiên Chúa phù trợ và chăm sóc cho mình, thế quý vị có giúp đỡ những
người thân thiết với mình đang chờ ngoài cửa hay không?” “Quý vị tin là
Thiên Chúa dưỡng nuôi mình trên bàn thánh, liệu quý vị có bắt chước
Người mà cho kẻ đói ăn hay không?”
Bài đọc của chúng ta trích từ sách ngôn
sứ Isaia gồm những câu gần phần cuối. Dân chúng vừa trở về từ nơi lưu
đày lâu năm. Những câu văn này nói về một thị kiến đầy hy vọng việc Chúa
ngự đến. Người ta có thể mong đợi cuốn sách kết thúc với những lời cảnh
báo gay gắt với dân chúng là không được đi sai đường một lần nữa, vì sợ
rằng họ sẽ bị trừng phạt đến một nơi lưu đày khác. Sau nhiều năm dân
được Chúa chọn trải qua đau khổ, Thiên Chúa hứa sẽ đến “tập họp mọi dân
tộc và mọi ngôn ngữ.” Thiên Chúa có kế hoạch cứu độ, không chỉ một số
nào đó mà cứu độ tất cả mọi người.
Nghe bài đọc Tin mừng hôm nay, ta thấy
câu hỏi được đặt ra cho Đức Giêsu là: “Những người được cứu thoát thì
ít, có phải không?” Nhưng không phải cứ theo những lời cuối của Thiên
Chúa trong sách Isaia mà trả lời. Thiên Chúa đã loan báo rằng các ngôn
sứ sẽ được sai đi đến toàn thể quốc gia, vì các môn đệ của Đức Giêsu
được sai đi đến toàn thể trái đất.
Vì thế, “vinh quang” này là gì mà Thiên
Chúa bảo dân chúng sẽ làm chứng nhân? Họ đã trở về với một Giêrusalem bị
phá hủy sau khi ở chốn lưu đày lâu năm và họ đã chịu đựng thử thách suốt
thời kỳ tái thiết. Những gì không thể làm được thì Thiên Chúa đã giúp
cho họ hoàn thành: Đó là Giêsusalem được tái thiết. Điều đó xảy ra như
thế nào? Họ phải kết luận rằng điều đó chỉ có thể xảy ra khi Thiên Chúa
trợ giúp. Họ đã nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang đó là
một thực tế rất cụ thể mà ta nhìn thấy được, đó là Giêrusalem được dựng
lên từ đám tro tàn. Thành phố được tái thiết sẽ là dấu chỉ về quyền năng
của Thiên Chúa được thể hiện trên người đại diện của họ. Đây là tin vui
mà những sứ giả sẽ mang đến cho các quốc gia; tin vui đó sẽ đem toàn thể
nhân loại về với Thiên Chúa của Israel.
Những sứ giả này được chọn từ những người
nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa và sau đó họ được sai đi đem sứ điệp
đến với những ai “chưa hề được nghe nói đến Ta, và chưa hề thấy vinh
quang của Ta.” Những ai nói về Thiên Chúa cho một người thân cận, hoặc
cho một ai mà chưa hề được nghe đến Thiên Chúa là những người có tầm ảnh
hưởng nhất nếu họ nói về đức tin và kinh nghiệm gặp Chúa của cá nhân
mình. Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã nói trong thông điệp "Evangelii
Nuntiandi" nổi tiếng của ngài rằng người ta lắng nghe nhiều về những
chứng nhân hơn là thầy dạy.
Đức giáo hoàng Phaolô thật có lý khi ngài
nói: những sứ giả có tài thuyết phục nhất cho niềm tin của chúng ta là
những người nói về kinh nghiệm cá nhân của mình trong việc gặp Chúa, họ
là những chứng nhân sống động. Có lẽ họ đau ốm và được Thiên Chúa chữa
lành, hoặc Người ban cho họ sức mạnh và lòng kiên nhẫn. Đời sống hôn
nhân của họ theo một lối mòn và khóa học cuối tuần về Thăng tiến hôn
nhân đã giúp họ hồi sinh đời sống lứa đôi. Bởi lẽ, họ đã đánh mất thói
quen sinh hoạt của mình và công việc của họ chiếm quá nhiều thời gian,
nên họ đã dần chiếu cố lại những sinh hoạt trong gia đình mình. Họ đã về
hưu sau một sự nghiệp lâu năm và không còn cai quản nữa và người ta đã
nhờ họ dạy tiếng Anh cho người nhập cư. Họ là những người đơn thân và cô
độc, và rồi họ đã gặp được một người nào đó để chia sẻ mục tiêu và đức
tin của mình.
|