Năm C

 
 

Chúa Nhật XV Thường Niên - Năm C

Ðnl 30:10-14 ; Cl 1:15-20 ; Lc 10:25-37

 

An Phong op : Lòng Nhân Hậu

An Hạ op : Ai Là Anh Em Tôi

Fr Jude Siciliano, op : Chữa Lành Tâm Hồn

G. Nguyễn Cao Luật op : Cứ Như Thế Mà Làm

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Người Thân Cận 

Phaolô Nguyễn Hải Đăng op : Ai Là Người Thân Cận Của Tôi ?

Fr. Jude Sicilianô, op. : Ai Là Người Thân Cận ?

Đỗ Lực op : Sỏi Đá Vẫn Còn Có Nhau

Fr. Jude Siciliano, op : Anh em hãy đi và làm như vậy

Fr. Jude Siciliano, op: Người Samarita nhân hậu

 


An Phong op

Lòng nhân hậu
Lc 10:25-37

Tin mừng chúa nhật 15 thường niên C là trình thuật về người Samaritanô nhân hậu. Thánh Luca là thánh sử duy nhất viết lại câu chuyện này cho chúng ta, dường như để trả lời cho vấn nạn "làm thế nào để có được sự sống đời đời". Thầy Thông luật đã trả lời câu hỏi này bằng cách trích dẫn sách Ðệ nhị luật 6,5 và Lêvi 19,18 là : "yêu mến Chúa hết linh hồn, hết sức, hết trí khôn và thương mến anh em như chính mình. Ðức Giêsu đã chuẩn nhận câu trả lời đó, và Người thêm "hãy làm thì sẽ sống".

"Ai là người anh em tôi ?" là một vấn nạn thứ hai. Bất cứ xã hội nào cũng đều có hai loại luật : một cho những "người ngoài" và một cho "những người trong nhà". Vào thời Ðức Giêsu cũng thế. Những người trong nhà là những cư dân sống tại Israel, kể cả người ngoại quốc và dân ngoại, còn người ngoài là mọi thành phần còn lại. Nhưng số dân ngoại sống tại Israel ngày càng đông, khiến nảy sinh vấn đề "ai là người anh em của tôi". Câu chuyện người Samaritanô nhân hậu là câu trả lời của Ðức Giêsu. Người anh em của tôi, đó là người đang cần sự giúp đỡ, đang gặp hoạn nạn. Người Samaritanô đã hành động như "người anh em" của người gặp nạn.

Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời ? - "Mến Chúa yêu người" - Yêu thương - đó là việc làm để được sống đời đời. Có một sự liên kết chặt chẽ giữa việc yêu thương và sự sống đời đời. Nếu bạn yêu thương, bạn sẽ sống. Tình yêu được coi như là điều tiên quyết để được sự sống. Ðây chính là luật đem lại sự sống. Nếu bạn không yêu thương, bạn đang hủy hoại sự sống của mình và rất có thể đang hủy hoại sự sống của những người chung quanh. Luật tình yêu và luật sự sống là một.

Trước hết, ai trong chúng ta lại chẳng có khát vọng được sống đời đời ? Khi sáng tạo con người, Thiên Chúa đã đặt cây sự sống giữa vườn Êđen như một biểu tượng của sự bất tử Thiên Chúa hứa cho họ. Nhưng con người đã đánh mất cây sự sống đó. Cuộc đời con người vẫn mãi là một cuộc tìm kiếm trường sinh. Với luật tình yêu Thiên Chúa gieo vào lòng con người, con người có cơ may tìm được cây sự sống mới. Luật tình yêu này phải được sống và hình thành nên tính cách, chiều sâu của một con người. Nơi người ấy, có một sự hòa điệu, loại trừ hận thù, ghen ghét. Khi yêu thương, con người đang sống trọn vẹn ý nghĩa cuộc đời mình.

Từ tình yêu và sự sống nơi chính mình, con người yêu thương người khác, bởi vì "tình yêu của Thiên Chúa đã tuôn đổ trên tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần được ban cho chúng ta" (Rm 5,5). Như thế, Thánh Thần chính là sức mạnh tình yêu nơi chúng ta, Thánh Thần sẽ làm cho chúng ta biết yêu thương không phân biệt, không kỳ thị... nhưng chan hòa. Một tình yêu đích thực đối với người khác là không cần tìm biết "họ là ai", nhưng chỉ biết "họ đang cần gì". Như người Samaritanô, khi giúp đỡ người khách qua đường gặp nạn, không tìm xem người đó là ai, có cảm tình hay là thù địch với mình. Người Samaritanô "trông thấy và động lòng trắc ẩn" là một phản ứng tự nhiên, nhanh nhẹn. Người Samaritanô chỉ biết người bị nạn đó là người đang cần sự giúp đỡ. Thế là đủ để "băng bó những vết thương... đưa về quán trọ săn sóc".

Là người kitô hữu, chúng ta được mời gọi đi tìm sự sống đời đời cho chính mình bằng "mến Chúa yêu người". Phải chăng chúng ta có được những phản ứng "động lòng trắc ẩn" một cách tự nhiên và nhanh nhẹn như người Samaritanô nhân hậu ?

Lạy Chúa,

"không ai là một hòn đảo".
Con đường về nhà Cha là một con đường thênh thang,
người ta có thể reo hò dắt dìu nhau đi tới.

Xin cho con luôn biết đưa tay nâng đỡ
tất cả những ai cần đến sự dìu dắt đỡ nâng của con,
vì con tin rằng con chỉ có thể được cứu rỗi
cùng với những người khác. Amen.

 
An Hạ op 

AI LÀ ANH EM TÔI ?
Lc 10:25-37
 

Giữa một thế giới đầy thù hận hôm nay, làm sao tìm được khuôn mặt người anh em ? Trong số những bạn bè, đồng nghiệp và người thân, ai là anh em tôi ? Câu trả lời không có sẵn. Nhưng phải căn cứ vào thực tế và dựa trên tiêu chuẩn Tin Mừng mới có thể khám phá bộ mặt đích thực của người anh em.

NẠN NHÂN THỜI ÐẠI

Tất cả những điều răn căn bản đã gặp một thách đố lớn. Vấn đề nằm ở câu thắc mắc của người thông luật : "Ai là người thân cận của tôi ?" (Lc 10:29) Tất cả bộ mặt thật được phơi bày khi một nạn nhân thời đại gặp phải những thái độ thờ ơ của những bậc lãnh đạo. Ðức Giêsu đã đưa hai gương mẫu của quần chúng là thày tư tế và Lê vi. Người rất tế nhị khi không đưa thêm một nhân vật thứ ba là người thông luật vào câu truyện, vì sợ đụng chạm tới giai cấp của người đang đối thoại. Có lẽ nhờ thế, người thông luật này mới đủ bình tĩnh thông suốt vấn đề.

Tình trạng người lữ hành bị đánh nhừ tử như thế chắc chắn phải là một lời mời gọi và là một hình ảnh kinh hoàng đập vào mắt người bộ hành. Một người có lương tâm không thể nhắm mắt làm ngơ. Thực tế, những người có trách nhiệm đào luyện lương tâm của người khác, lại bưng tai bịt mắt trước tiếng gào thét của lương tâm. Họ có đủ phương tiện và thời giờ để giúp đỡ người lữ hành đó. Không phải vì kỳ thị, vì đó là một người lữ hành vô danh. Câu truyện không cho biết chắc chắn ông là người Do thái hay dân ngoại.

Chẳng cần biết nạn nhân là ai, người Samari đã nhào tới chăm sóc tận tình. Ông đã "dùng rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc." (Lc 10:34) Thật là ngược hẳn với thái độ của thày tư tế và Lê vi. Người Samari chỉ biết hành động theo tiếng lương tâm. Thái độ hoàn toàn nhân bản. Ông vượt qua mọi thứ ranh giới để đến với con người. Tiếng lương tâm còn thúc đẩy ông tiến xa hơn nữa khi sẵn sàng chi phí mọi thứ cần thiết vì mạng sống đồng loại.

Người Samari nhân hậu là một hình ảnh tuyệt vời trước mắt người thông luật. Ông chẳng cần lý thuyết dài dòng. Dụ ngôn đã mạc khải cho ông biết chính "lòng thương xót" (Lc 10:37) sẽ giúp con người vượt qua mọi biên giới đến với anh em đồng loại. Không phải tiền bạc hay địa vị, cũng không phải mớ lý thuyết hay truyền thống, nhưng chỉ có lòng cảm thương sâu xa mới đem con người xích lại gần nhau. Lòng thương xót chính là điểm gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Không có lòng thương xót, không có ơn cứu độ. Thiếu lòng xót thương, con người biến trái đất thành một nơi không thể sống được và đầy nguy hiểm. Xã hội chỉ dựa trên cơ chế. Gia đình chỉ là một nơi trao đổi theo đúng tiêu chuẩn khế ước, chứ không dựa trên giao ước hôn nhân nữa.

Nghe đến đây, người thông luật chợt tỉnh ngộ. Mặc dù không đề cập tới giai cấp của ông, nhưng Ðức Giêsu đã mở mắt cho ông và giai cấp của ông thấy rõ cách đối xử với đồng loại. Giai cấp của ông đã từng đi khắp nơi để thuyết phục người ta giữ luật Môsê, chất những gánh nặng quá sức lên vai thiên hạ, nhưng một ngón tay họ cũng không động đến. Luật lệ đã làm mờ mắt khiến họ không nhận ra thực tế cần dựa trên tình thương nhiều hơn. Biết bao con người đã chết vì luật lệ. Bởi vậy, cần nhận định ra nguyên tắc : "Con người sinh ra không phải vì luật lệ, nhưng luật lệ vì con người." Có thế, mới có thể xây dựng một nền văn minh tình thương.

Thay vì hành xử cứng ngắc theo luật lệ, con người cần sống dựa trên Lời Chúa. Chỉ Lời Chúa mới đem lại sự giải thoát. Thực vậy, "Lời Chúa là thần khí và là sự sống; Chúa có những lời đem lại sự sống đời đời." (x 6:63c.68c) Lời Chúa vô cùng mãnh liệt, vì đã tạo thành vạn vật, hòa giải và đem lại bình an cho muôn vật trên trời dưới đất (x. Cl 1:16.20) Lời Chúa mạc khải và nối kết con người với Thiên Chúa và với nhau. Lời Chúa là Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta (Ga 1: ). Bởi thế Lời Chúa không xa lạ và vượt quá tầm trí con người. Trái lại, Lời Chúa rất gần gũi, ngay trong miệng, trong lòng chúng ta (x.Ðnl 30:14). Lời Chúa đã chia sẻ tận cùng thân phận con người. Bởi vậy, không còn nơi nào Lời Chúa không đụng chạm tới. Vấn đề chỉ là con người đã đáp ứng lại Lời Chúa ra sao. Người Samari đã đáp lại Lời Chúa. Thày tư tế và Lê vi đã khước từ. Hậu quả chỉ còn những lời con người nói với nhau, thiếu hẳn thần khí và sự sống. Những lời đó không có sức cứu độ mà chỉ chia rẽ và phá hoại con người mà thôi.

VĂN MINH TÌNH THƯƠNG

Trái lại, Lời Chúa liên kết lòng người và xây dựng cộng đoàn nhân loại. Giáo hội có sứ mệnh rao giảng và làm cho Lời Chúa thấm nhuần vào mọi cơ cấu xã hội và lương tâm con người. Thế nhưng, Ðức Hồng Y George, Tổng giám mục Chicago, nói với Ðức Giáo hoàng : "Từ bên ngoài, sứ mệnh Giáo hội bị đe dọa vì tự do cơ chế đang bị soi mòn." (Zenit 01/06/2004) Nhìn chung, tự do của Giáo hội Hoa kỳ "đang bị đe dọa bởi các phong trào bên trong" và "bởi chính quyền cũng nhưng các bè nhóm bên ngoài." (Zenit 01/06/2004) Trong tình cảnh đó, làm sao Lời Chúa có thể đến với con người ? Làm sao nền văn minh tình thương có thể bắt đầu xây dựng cho cộng đồng nhân loại ?

Thực tế xã hội Hoa kỳ hôm nay đang tìm cách bó chân bó tay Giáo hội. Thực vậy, "việc một số linh mục làm gương mù trong việc lạm dụng tình dục trẻ em và các giám mục không giám sát đầy đủ đã làm cho nhiều người phản đối Giáo hội Công giáo một cách công khai hơn. Văn hóa Hoa kỳ bao giờ cũng thế. Trong bối cảnh đó, tòa án và cơ quan lập pháp càng sẵn sàng hạn chế tự do hoạt động công khai của Giáo hội và can thiệp vào việc điều hành nội bộ Giáo hội theo những đường hướng mới lạ đối với nếp sống Hoa kỳ. Sự tự đo điều hành nội bộ Giáo hội đang bị suy giảm. Sứ mệnh Giáo hội đang suy yếu hơn vì không thể tạo ra một cuộc hội thảo công khai cho dân chúng hiểu Tin mừng và những nhu cầu làm môn đệ Chúa.

Ở Hoa kỳ họ thường bàn luận công khai về quyền cá nhân ; không ai có thể nói về công ích nữa. Những vấn đề vượt ngoài phạm vi luật pháp trong một nền dân chủ hiến định với một chính quyền hạn chế - bản chất đời sống, hôn nhân, và ngay cả đức tin - bây giờ đều được tòa án quyết định để bảo vệ quyền lợi cá nhân. Trong nền văn hóa này, Tin mừng mời gọi người ta nhận lãnh tự do như một tặng phẩm Thiên Chúa và sống các đòi hỏi của tự do một cách trung tín. Nhưng tiếng mời gọi đó lại bị coi là áp chế, và khi công khai phát biểu những đòi hỏi đó, Giáo hội bị coi là kẻ thù của tự do cá nhân và nguyên nhân gây bạo động trong xã hội. Cuộc đàm thoại công khai ở Hoa kỳ thường bị lạm dụng và cũng không bao giờ phù hợp với thực tế quốc gia và thế giới, làm cô lập các mầu nhiệm đức tin. Cuộc đàm thoại đó chủ yếu làm sai lạc niềm tin Công giáo và các cơ chế khác bị coi là ?ngoại lai? đối với đặc tính của cá nhân chủ nghĩa trần tục. Sứ mệnh Giáo hội bị đe dọa từ bên trong do sự chia rẽ đang làm tê liệt khả năng hành động mạnh mẽ và quyết liệt của Giáo hội." (ÐHY George : Zenit 01/06/2004)

Nếu Giáo hội không còn tự do hoạt dộng, chắc chắn những giá trị sẽ bị soi mòn và cuộc sống sẽ bị đe dọa trầm trọng. Xã hội sẽ mất bình an. Trật tự đảo lộn. Ðâu là giải pháp đối phó với nguy cơ khủng bố đang đe dọa phá tan mọi giá trị hôm nay ? Mọi người đều phải tìm cách sống với nhau như anh em. Phải liên đới mới có thể tạo một sức mạnh thực sự chống khủng bố. "Liên đới không phải là một sự cảm thông mơ hồ hay nỗi buồn đau nông cạn trước những bất hạnh của rất nhiều người xa gần. Trái lại, liên đới là một quyết tâm vững chắc và kiên trì phó thác cho công ích, nghĩa là, cho thiện ích của tất cả và từng người, vì tất cả chúng ta thực sự có trách nhiệm đối với tất cả mọi người." (Thomas D. Williams : Zenit 15/05/2004) Không coi nhau như anh em, nhân loại không thể tồn tại và phát triển.


Fr Jude Siciliano, op

CHỮA LÀNH TÂM HỒN
Lc 10:25-37

Thưa quý vị.

Một thiếu phụ trẻ rời bỏ miền quê để tìm việc làm. Chị xin được một việc làm tại Cleveland, bang Ohio với chân tốc ký. Quá nhớ nhà, chị vào một quán ăn nhỏ, khi chị uể oải nâng chén cơm và không nuốt được, một bà đứng tuổi buóc vào và xin ngồi bên chị. Người thiếu phụ không muốn tiếp bà, tức thời bà đứng tuổi cảm được người thiếu phụ có điều buồn bực. Bà hỏi thăm và khôn ngoan an ủi, sau cùng người tốc ký bật cười nhưng cười trong nước mắt. Bà đứng tuổi nói chuyên lâu với nàng, cùng nàng về quán trọ và mỗi ngày ghé thăm nàng, trong hai tuần lễ, tới khi người thiếu phụ rở lại bình thường và chế ngự được nỗi nhớ nhà.

Đây là  câu chuyện nói về người Samaritanô nhân hậu. Người thiếu phụ trẻ không bị đánh nhừ tử nơi thân xác, nhưng nơi tâm hồn. Một người đàn bà đầy thiện cảm tới và giúp nàng. Chúa Kitô muốn chúng ta giúp đỡ không những đau khổ thể xác, mà cả những đau khổ nơi tâm hồn. Giáo hội của Chúa cũng dạy chúng ta phải thực thi không những việc từ thiện thể xác, mà còn phải thực thi những điều cần thiết hơn, đó là việc từ thiện tinh thần. Đó là ý nghĩ của tôi trong ngày hôm nay.

Hằng ngày chúng ta gặp những chuyện cô đơn như cô tốc ký trong câu chuyện, những người buồn chán, bối rối, bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, thiếu tình thương và chăm xóc, bị ngược đãi, thất vọng, chán nản và mặc cảm tội lỗi. Tâm hồn họ bị thương nặng như thể xác của người bị cướp đánh đập. Họ kêu cứu như bài đáp ca hôm nay: “Tôi buồn sầu và đau đớn” Chúng ta đừng bỏ qua. Hãy dừng lại và giúp họ.

Làm thế nào ? Một nụ cười chân thành, một lời chào vui vẻ, sự ân cần thăm hỏi có thể giảm bớt nỗi đau của một tâmhồn sầu muộn,. Một lời “cảm ơn” nồng nàn có thể khích lệ một người bị quên lãng, bị  khinh khi. Bạn hãy cố gắng cám ơn bác tài xế, người phu hốt rác, người phát thơ và bạn cũng cần cám ơn  những người trong gia đình bạn. Thầy cô giáo bạn, người chiêu đãi và cả người thợ cao râu hớt tóc. Chào hỏi người lớn tuổi cũng rất quí giá. Tình yêu chân thành sẽ cho bạn biết bạn phải nói gì và nói làm sao.

Có những người gặp thảm kịch như tai nạn, bệnh nặng, có người chết trong gia đình, tâm hồn họ sẽ được nâng đỡ, xoa dịu nhờ lời ân cần thăm hỏi, viếng thăm hoặc qua điện thoại. Có người bị dằn vặt bởi nghi ngờ, bị tổn thương vì bạn bè, đồng nghiệp, thiếu tế nhị. Bạn hãy tử tế với họ và bạn chữa lành được tâm hồn họ.

Quả thật, con đường từ  Giêrusalem xuống Yêricô, trên đó kẻ cướp để nạn nhân nửa sống nửa chết, trên đó người Samatitanô nhân hậu đã chăm sóc nạn nhân. Con đường đó khởi sự từ nhà thờ này, từ cửa nhà thờ tới nhà bạn, tới bàn giấy, tới xưởng thợ, tới lớp học của bạn. Dọc theo con đường ấy, có biết bao người bị thương nặng, nhẹ trong tâm hồn, hãy dừng lại và tiếp giúp họ. Nói vài lời, làm một việc để giúp đỡ.

Câu chuyện Chúa Giêsu kể hôm nay, chỉ cho chúng ta biết ai là người lân cận mà chúng ta phải yêu thương. Người cho chúng ta sức mạnh, sự khôn ngoan để yêu thương qua thánh lễ này. Xin Chúa giúp bạn thành người Samatitanô nhân hậu. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op

CỨ THẾ MÀ LÀM
Lc 10:25-37

Như Ðức Giêsu lên đường đi Giê-ru-sa-lem, người ta cũng lên đường tiến về Giê-ru-sa-lem trên trời. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào biết được con đường dẫn đến nơi đó và đâu là điều cốt yếu để đạt tới đích.

Câu hỏi của luật sĩ nói lên hai chủ đề ấy : "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?" Câu trả lời thật rõ ràng. Ðó là những khoản luật được ghi lại trong Cựu Ước mà người Do-thái môỵi ngày phải đọc hai lần (Ðnl 6,5 ; Lv 19,18) : yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người thân cận.

Yêu mến Thiên Chúa

Thiên Chúa là cùng đích. Yêu mến Thiên Chúa là con đường. Yêu mến Thiên Chúa là bỗn phận của con người. Nhân loại đã được sáng tạo do lòng yêu thương của Thiên Chúa và tình yêu ấy đã không bị bất cứ khó khăn nào ngăn trở. Người Do-thái, cá nhân cũng như cộng đoàn, đều ý thức và cảm nghiệm được tình yêu mến Thiên Chúa dành cho mình. Bởi vậy, yêu mến Thiên Chúa là điều tất nhiên, không cần tranh cãi. Và có lẽ điểm nhấn của bài Tin Mừng hôm nay không phải là đề cập đến giới răn này, vì đó là điều quá rõ ràng.

Thực ra, con người có bỗn phận yêu mến Thiên Chúa, không phải là một thứ trả ơn, nhưng sâu xa, đó là để con người được chìm sâu vào tình yêu đầy sáng tạo, tình yêu chân thật của Thiên Chúa. Nhờ yêu mến Thiên Chúa, con người được thông tràn tình yêu của Người, thứ tình yêu vô vị lợi, tình yêu với tất cả ý nghĩa và chiều kích của nó.

Ðể đạt tới điều này, có lẽ mỗi người cần có được một kinh nghiệm riêng về lòng yêu mến Thiên Chúa dành cho mình. Nhờ kinh nghiệm ấy, môỵi người thấy rằng mình không chỉ được yêu mến cách chung chung, như bất cứ ai khác, nhưng là một tình yêu cá vị, một tình yêu như dành riêng cho mình. Có được kinh nghiệm ấy, lòng yêu mến Thiên Chúa mới có thể vững bền và sâu sắc.

Yêu mến người thân cận

Chủ đích của bài Tin Mừng hôm nay nhắm tới giới răn này, bởi vì ở đây vẫn có điểm lấn cấn. Quan niệm Do-thái giáo về yêu thương rất là hạn hẹp : chỉ buộc yêu thương người đổng hương và đổng đạo, còn đối với lương dân, với người ngoại kiều cư ngụ tại Ít-ra-en thì chẳng có liên hệ gì cả, họ chẳng phải là người thân.

Ðức Giêsu muốn đánh tan óc thiển cận đó bằng một thí dụ cụ thể, để từ đó đưa ra một vấn nạn, mà luật sĩ buộc phải thấy được câu trả lời, phải cư xử như thế nào mới gọi là cư xử trong tình anh em ? Ai trong ba người bộ hành đã xử thế nào trong tình anh em ? Ai là người thân cận của kẻ vô danh ?

Như vậy Ðức Giêsu đã hoàn toàn đảo ngược những cách nhìn và những giáo lý đã có từ trước cho đến ngày đó về quan niệm đổng loại. Chính việc quay mặt với nhau trong đức mến mới tạo nên sợi dây tình đổng loại. Tha nhân - đổng loại được định nghĩa bằng tình yêu sống động, chứ không phải bằng những khoản luật cứng ngắc. Lòng yêu mến làm cho mọi người không còn thấy ai là xa lạ. Mọi chướng ngại được san bằng.

Ðàng khác, trong giới răn của luật cũ mà luật sĩ nhắc lại, có một điểm thường bị bỏ quên, đó là yêu thương như chính mình. Người ta phải yêu thương người khác như chính mình, tức là không chỉ ở phía tiêu cực, nhưng còn phải tích cực. Thật là đơn giản và dễ hiểu khi có những giới lệnh, những hàng rào : không nên làm điều này điều nọ. Nhưng còn phần tích cực : nên làm điều này điều kia, thì ở phía sau, vẫn còn biết bao sắc thái, biết bao tế nhị, biết bao sáng tạo nữa chứ. Lệnh truyền ấy mở ra biết bao chân trời mới, bởi vì mọi nơi, mọi lúc nó luôn có hiệu lực.

Sau nữa, cả giới răn yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người khác đều được đặt ngang hàng với nhau. Nếu chỉ yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương người khác thì là người dối trá (thánh Gio-an). Còn nếu chỉ yêu thương người khác bằng tình yêu của con người, không phải bằng tình yêu Thiên Chúa thì cũng không đưa đến đâu. Cả hai tạo thành cây thập giá với chiều dọc và chiều ngang : không thể bỏ đi một chiều nào. Như vậy, trong khi yêu thương người đổng loại, người ta gặp gỡ, và phải gặp gỡ Thiên Chúa ; khi yêu mến Thiên Chúa, người ta cũng tôn trọng người khác (ss Mt 25).

Thiên Chúa, người thân cận của tôi

Với định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu, Thiên Chúa đã ở trên con đường của chúng ta, dù hoàn cảnh, tình trạng của chúng ta có như thế nào. Người vẫn ở đó, bên cạnh chúng ta, với tình bạn chân thành, với lòng thương xót. Người là tình yêu, nên cũng là Người Thân Cận Tuyệt Hảo, là người trợ giúp và nâng đỡ.

Trong dụ ngôn hôm nay, Thiên Chúa đóng vai người khách lạ - người Sa-ma-ri đầy lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ. Thiên Chúa là người đi đường, đi để tìm kiếm, để gặp gỡ, để cứu vớt. Như vậy, giao ước giữa Thiên Chúa và con người được đóng ấn với những can thiệp tích cực và cụ thể. Thiên Chúa trở thành thân cận của người khốn khỗ : Người vừa thực thi giới răn thứ nhất, đến nôỵi để Con của Người chịu chết, vừa thi hành giới răn thứ hai : yêu người khác như chính mình.

Cũng trong dụ ngôn của Ðức Giêsu, người thân cận là người luôn quan tâm đến người khác. Không phải chỉ quan tâm đến người khác để được sống đời đời, cũng như không phải giữ luật để được sự sống đời đời làm gia nghiệp, nhưng ngay từ bây giờ, yêu thương là để sống. Thiên Chúa đã trở thành người thân cận của loài người, và đến lượt mình, họ lại trở thành người thân cận của nhau. Trở thành người thân cận, không phải là nhằm đến lợi ích của cá nhân mình, ngay cả đó là cuộc sống vĩnh cửu, nhưng vì lợi ích của người khác, nhất là của những người bị bỏ rơi, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Ðó là giới răn : cứ thế mà làm !

Ðể yêu thương người khác

Một trong những cách thế để yêu thương người khác, đó là nghĩ đến họ, quan tâm đến những ưu tư của họ.

Tại một ghi-sê bưu điện, có một bà tỏ vẻ sốt ruột vì phải đứng nối vào một hàng đợi khá dài. Cuối cùng khi đến lượt bà, bà đã cáu kỉnh nói với nhân viên đang đầy ứ công việc : "Này ông, tôi đứng trước ghi-sê này đã nửa giờ rổi đấy !" Người nhân viên điềm tĩnh trả lời : "Còn tôi ấy à, thưa bà, đã ba mươi năm nay, tôi ở đàng sau cái ghi-sê này."

Ðây là vấn đề quan điểm, vấn đề cái nhìn. Nên cố gắng nhìn sự việc ở bên kia ghi-sê, nhìn sự việc từ quan điểm của người khác : một thế giới của sự tế nhị và ân cần sẽ bất chợt mở ra.

Khi ấy, chúng ta sẽ khám phá ra những hành vi phải làm để cho cuộc đời của người khác nên tươi đẹp hơn.

* * *

Ðể yêu mến người thân cận,

chỉ cần đưa mắt nhìn đến bao nỗi muộn phiền.

Ðể không yêu thương người thân cận,

người ta phải hành hạ mình, phải chống đối lại mình,

phải làm cho mình ra khô cứng,

phải làm sự dữ.

Lòng yêu mến là điều rất tự nhiên,

rất đơn giản.

Ðó là hoạt động đầu tiên của trái tim

...

Ðể không yêu thương người thân cận,

người ta phải che mắt, phải bịt tai,

trước bao tiếng kêu, bao nôỵi muộn phiền.

(phỏng theo Ch. Péguy)


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Người Thân Cận
(Lc 10,25-37)

 Ai là người thân cận của chúng ta ? Dụ ngôn người Sa-ma-ri trong bài Tin Mừng sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi ấy. Từ Giê-ru-sa-lem về miền xuôi Giê-ri-khô, chỉ có một con đường duy nhất, đây là một con đường hiểm trở, có những quãng rất hẻo lánh, hai bên đầy những hang hốc, là nơi bọn cướp vẫn lợi dụng để kiếm ăn. Đó là bối cảnh cho câu chuyện dụ ngôn hôm nay. Có một người lữ hành đi trên con đường này, không rõ ông ta là ai, quốc tịch nào, tôn giáo nào, nhưng cô thân cô thế độc hành, đã bị bọn cướp chặn đánh ngã gục, tước đoạt hành trang, nằm ngấp ngoái, nửa sống nửa chết bên đường.

Tình cờ một vị tư tế, sau khi hành lễ ở Giê-ru-sa-lem đi về qua đó, hẳn là ông nghe được những tiếng rên rỉ đau thương đâu đây, và đã nhận ra con người bất hạnh kia đang cần cứu giúp. Nhưng ngó thấy rồi ông bỏ đi. Tại sao vậy ? Có thể vì ông nghĩ rằng “vạ gì gánh giữa đàng quàng vào cổ”, trong khi bọn côn đồ có thể còn lẩn khuất chờ mồi thì sao ? Cũng có thể ông nghĩ thêm rằng mình chỉ có bổn phận phụng thờ Thiên Chúa, dâng của lễ lên Chúa, thế là đủ rồi, chứ đâu phải đeo theo cái gánh nợ tha nhân làm chi cho bận lòng. Nghĩ thế, ông tránh né đi qua.

Sau đó, người thứ hai đi qua đây, là một thầy Lê-vi. Ông có bổn phận phục vụ nơi đền thờ, ông cũng nghĩ rằng : bổn phận chuyên nghiệp của mình có bấy nhiêu thôi, nên khi gặp kẻ xấu số nằm hấp hối, ông phát sợ, sợ nhất là người đó có thể chết trong tay ông thì quả là một việc bất xứng, bất hợp luật. Nếu ông đụng vào xác chết là phải thanh tẩy mới được phép lên đền thờ, phiền phức quá, vì thế ông liếc mắt nhìn thương hại nạn nhân, rồi ra đi tiếp, ông quên mất điều luật dạy : “Nếu ngươi thấy con bò, con lừa của anh em ngươi té chỏng bên đường thì ngươi đừng tẽ lối tránh đi, mà hãy ra tay cứu giúp nâng đỡ nó dậy”, huống chi ở đây lại là một con người đáng sống như chính ông.

Rồi một người xứ Sa-ma-ri, là một thường dân, đi qua quãng đường này, ông là người thứ ba đi tới và dừng lại. Tin Mừng nói rõ như có ý nhấn mạnh : ông là người xứ Sa-ma-ri, nghĩa là một người thấp bé, bị dân Do Thái kỳ thị, cho là kẻ thù. Như vậy, ông này mới là người có quyền tránh né nạn nhân, vì theo luật, ông không có một liên hệ ràng buộc nào, không cùng chủng tộc, không cùng tôn giáo, không cùng nghề nghiệp, xứ sở, nhưng người Sa-ma-ri này đã trở nên bạn thân của nạn nhân, chỉ vì tình thương. Tình thương xóa bỏ mọi hàng rào, tình thương xóa bỏ mọi ngăn cach, trước mắt ông, đó là một người cần tình thương để sống. Và ông đã ra tay cứu giúp, băng bó, xoa dầu, bóp rượu theo phong tục lúc ấy, rồi đặt lên lừa của mình đưa vào quán trọ phụng dưỡng, và còn hứa khi trở lại sẽ thanh toán mọi tốn phí.

Người Sa-ma-ri này chính là lời giải đáp cho câu hỏi : ai là người thân cận của chúng ta. Người thân cận, cận thân, cận lân chính là người đang cần được giúp đỡ. Là con cái Chúa, chúng ta mắc nợ món nợ yêu thương đối với bất cứ ai đang cần được chúng ta giúp đỡ. Có người ở sát ngay bên cạnh nhà chúng ta, nhưng họ không cần được giúp đỡ, đó chưa phải là người lân cận. Nhưng nếu có một người ở đâu đâu xa lạ, mà họ gặp chúng ta, họ cần sự giúp đỡ của chúng ta, và chúng ta có khả năng giúp đỡ người ấy, họ chính là người thân cận của chúng ta. Người đó cần tình thương của chúng ta, tình thương đó phải được thi hành cấp thời, đúng lúc, hữu hiệu và vô vị lợi. Lúc đó cần một tấm lòng giúp đỡ thật tình, không tính toán, so đo, nghĩa là không nghĩ xem mình giúp đỡ họ như vậy rồi họ có giúp đỡ lại mình không.

Sự giúp đỡ phải xuất phát từ động cơ tình thương, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giàu nghèo, là bạn hay thù. Chúng ta có bổn phận, có dịp tiện, có khả năng, có người cần giúp đỡ, thì sự giúp đỡ này phải được thực thi, và sự giúp đỡ đó phải được coi như một hành động trả nợ, nghĩa là chúng ta bắt buộc phải yêu thương họ để giúp đỡ họ. Có người cần giúp về phương diện vật chất, có người cần giúp về phương diện tinh thần, bất cứ sự giúp đỡ nào cũng đem lại niềm vui cho cuộc đời họ và cho chính chúng ta nữa, vì khi chúng ta làm cho một người nào được vui thì chúng ta cũng cảm thấy vui, hơn nữa, còn có công phúc trước mặt Chúa như Chúa đã nói : “Dù một bát nước lã chúng ta giúp cho người khác đều được Chúa ghi công”.

Đàng khác, cũng trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải yêu thương người thân cận như chính mình, nghĩa là chúng ta phải cảm thông, dễ dãi với họ như mình vẫn thông cảm với chính mình. Cũng như chúng ta, họ có những sở trường sở đoản, những khó khăn riêng, do đó, chúng ta sẽ không vội phê phán khi thấy họ khác mình, chúng ta cũng không vội kết án họ khi họ lầm lỗi, chính chúng ta cũng có nhiều khuyết điểm và lỗi lầm, nên chúng ta phải hiểu cho sự yếu đuối của người khác. Chúng ta cũng cần nhớ rằng : Chúa không bảo chúng ta đừng ghét nhau, nhưng bảo chúng ta hãy yêu thương nhau. Trọng tâm của tình yêu không phải là chấp nhận những khuyết điểm của nhau, nhưng là chấp nhận những ưu điểm của nhau. Để ý soi mói những khuyết điểm của người khác chúng ta dễ thành kiêu căng, trái lại, biết chấp nhận những ưu điểm của người khác, chúng ta sẽ dễ biết khiêm nhường. Sau cùng, trở thành người thân cận của người khác có nghĩa là yêu thương họ cách chân thành, tự đáy lòng, không so đo tính toán, không đòi người khác phải xin lỗi mới tha thứ, không đòi người khác phải xử tốt với mình, chúng ta mới yêu thương họ. Đó là yêu thương người thân cận như chính mình và cũng là yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng ta.

Bài học yêu thương Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng hôm nay rất rõ ràng, chúng ta hãy ghi nhớ, hãy suy nghĩ, và nhất là hãy cố gắng thể hiện tình yêu thương đó với nhau và với mọi người.


Phaolô Nguyễn Hải Đăng
op

AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN CỦA TÔI ?
Lc 10,25-37

LỜI DẪN

Kính thưa cộng đoàn, Mến Chúa yêu người là cốt lõi trong Mười điều răn mà Thiên Chúa đã ký kết với loài người. Nhưng xem ra việc thực hiện những điều ấy, nhất là luật yêu thương, mới chỉ dừng lại ở lời nói.

Vì thế, hiệp nhau trong giờ Chầu Thánh Thể này, chúng ta cùng khám phá thế nào là người thân cận, hầu có thể thấy rõ khái niệm yêu thương tha nhân và cách thức biểu hiện tình yêu ấy.

 

Tìm kiếm sự sống đời đời là nỗi khắc khoải lớn nhất của con người. Đối với người không có niềm tin tôn giáo, họ đi tìm sự sống bất diệt bằng cách kéo dài sự giới hạn của thời gian ngay trong cuộc sống hiện tại. Còn đối với người có niềm tin tôn giáo, họ cố gắng sống theo những giá trị luân lý mà nền đạo đức tôn giáo đòi hỏi hầu có thể tin chắc chiếm hữu một phần thưởng hạnh phúc trong cuộc sống mai hậu.

Đó cũng chính là điều mà người thông luật trong trình thuật Tin Mừng hôm nay muốn tra vấn Đức Giêsu: “Lạy Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời ?”. Và Đức Giêsu đã giúp người thông luật tự tìm ra câu trả lời cho chính mình bằng chính những điều được ghi chép trong sách luật Môsê: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa hềt lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi và hãy yêu mến anh em như chính mình”. Đây chính là huấn truyền tâm điểm, cốt tuỷ của Cựu ước và cả Tân ước. Yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa “hết lòng, hết sức, hết trí khôn” là một bổn phận tôn giáo mang giá trị kết ước giữa Thiên Chúa và con người. Nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa phải được thực sự triển nở nơi tình yêu đối với đồng loại hay nói cách khác tình yêu đối với Thiên Chúa nhất thiết phải phát sinh và khơi nguồn tình yêu đối với đồng loại vì “không thể yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”. (1 Ga 4, 20)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, toàn bộ giáo huấn của Ngài chỉ tóm kết trong hai giới luật: mến Chúa và yêu thương người thân cận. Chúng con hằng ngày vẫn luôn ý thức tuân giữ những bổn phận cần thiết đối với việc tôn thờ Thiên Chúa như: tham dự thánh lễ, tham dự các bí tích, giữ các giới luật của Hội Thánh. Nhưng còn bổn phận đối với người anh em ? Đôi lúc, chúng con cũng giống như người thông luật trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, thường tự hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?”. Phải chăng đó chỉ là những người có mối liên hệ thân thiết với tôi ? Phải chăng đó chỉ là những người mà tôi có thể đồng cảm ? Còn những người anh em gây điều trái ý cho tôi, những người anh em không tương hợp với tôi về lối sống, quan điểm, cách nhìn, tư tưởng. Họ không thể là người anh em của tôi được ?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, đó những giới hạn của bản thân con. Con vẫn chưa thể đón nhận người khác với tất cả những yếu đuối, bất toàn. Con vẫn chưa thể yêu thương người anh em như giới luật Chúa đòi buộc vì trong con vẫn còn sự phân biện kẻ tốt và người xấu, vì trong con vẫn còn tư tưởng loại trừ. Con chưa dám đón nhận người anh em với tất cả những gì là của họ vì trong con vẫn còn những nỗi sợ: sợ phải liên đới, sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ phải hy sinh sự an toàn và tiện nghi của bản thân. Xin nâng đỡ con để con có thể học cách yêu thương của người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu trong trình thuật Tin Mừng hôm nay : Yêu thương không phải là cho đi một cái gì nhưng là cho đi chính bản thân mình. Yêu thương mang giá trị cao cả bởi nó đòi buộc sự hy sinh bản thân để quên mình phục vụ người khác. Càng đi tìm bản thân, chúng con càng đánh mất chính mình. Càng giới hạn bản thân trong những toan tính ích kỷ, chúng con càng đánh mất sự nhạy cảm trước những nhu cầu của người khác. Xin cho con nhận ra được giá trị của yêu thương trong cuộc sống để chúng con sẵn sàng đón nhận những thiếu xót, bất toàn của nhau như cách thế đáp trả lại tình yêu nhưng không mà chúng con đã lãnh nhận từ chính Chúa. Đức ái là món nợ lớn nhất mà mỗi người chúng con phải trả cho nhau. Được Thiên Chúa yêu thương, vì vậy mỗi người chúng con phải có bổn phận yêu thưong nhau với tất cả sự đơn thành. Đó là dấu chỉ căn bản của niếm tin Kitô giáo, là cách thức chu toàn Lề Luật trọn hảo nhất ”Vì yêu thương chính là chu toàn Lề Luật”

Lạy Chúa Giêsu, Xin cho con biết thể hiện những điều con nhận hiểu bằng những hành động cụ thể trong cuộc sống. Biết sẵn sàng đón nhận, chia sẻ những yếu đuối của nhau. Biết sẵn sàng mở lòng yêu thương với tinh thần quảng đại, không loại trừ. Biết mau mắn nhạy cảm trước những nhu cầu cần sự nâng đỡ, trợ giúp của người anh em. Biết mau mắn đưa vai đón nhận, sẻ chia và gánh lấy thập giá của nhau trên hành trình trở nên người mộn đệ đích thật của Chúa. Amen.


Fr. Jude Sicilianô, O.P.

Ai Là Người Thân Cận ?
(Lc 10, 25-37)

Thưa quí vị,

Trong một cuộc phỏng vấn tuyển dụng công nhân, người ta đưa ra câu hỏi: trong trường hơp bạn gặp tai nạn lao động, chúng tôi có thể liên lạc với ai ? Địa chỉ ? Số điện thoại ? Nhân viên tuyển dụng nhận được một câu trả lời hết sức “bất thường”: Bất cứ ai có mặt tại hiện trường. Dĩ nhiên, câu trả lời bị loại và ứng viên không được nhận vào làm vì nằm ngòai tiêu chuẩn của xí nghiệp. Tuy nhiên, xét về mặt tôn giáo thì lại là câu trả lời “tuyệt vời”, đáp ứng đúng giáo huấn của Chúa Giêsu. Ông tiến sĩ luật trong bài Phúc Am hôm nay cũng hỏi Chúa Giêsu về đề tài này: Ai là thân cận của tôi? Mục tiêu của ông ta là đặt Chúa Giêsu vào một thử thách, vì lề luật đã chỉ rõ: Thân cận của người Do Thái là đồng chủng, đồng loại. Ngoài ra là hạng “chó má” và là kẻ thù. Về phần Chúa Giêsu, Ngài hỏi lại: vậy theo ông nghĩ ai trong ba người đó là thân cận của người bị nạn? Giáo lý của Chúa ngược với truyền thống Do Thái. Lúc này, chúng ta ngộ ra Giáo lý ấy là cao siêu, nhưng thời ấy quả khó nghe! Chẳng ai trong cư dân Giêrusalem có thể chấp nhận được và chứng cớ nằm ngay trong thái độ của thày Tư tế và Lê vi. Họ hiểu rõ Lề luật lắm chứ!

Riêng phần tôi, câu chuyện gợi cho tôi nhớ lại thời còn là trẻ con, (có lẽ cũng là thời thơ ấu của quí vị, của chung mọi người). Liệu câu hỏi ai là láng giềng của tôi khiến quí vị liên tưởng đến những người bạn thời son trẻ? Tôi lớn lên ở khu phố Brooklyn, New York, America. Láng giềng của gia đình tôi là bà Weissman, căn hộ bên cạnh, bà là người Do Thái, có hai con trai: Jules và Herbert. Chúng tôi thường chơi đùa trên hè phố. Mẹ tôi và bà Weissman trao đổi bánh mì vừa nướng với nhau. Khi ngửi thấy mùi thơm từ căn hộ bà Weissman bay sang, chúng tôi bấm bụng, thế nào chút nữa cũng được nếm bánh của bà. Ngược lại, gia đình bà cũng vậy. Đó là kiểu cách thông thường hàng xóm đối xử với nhau. Chúng tôi cũng có láng giềng khác ở phía dưới cầu thang. Họ là chủ nhân của những căn hộ chúng tôi thuê. Chị tôi và tôi đi học với con cái của họ: Mary Anne và Louie, cùng với các trẻ con Ai Nhĩ Lan khác.

Khi có ai đó trong các bà mẹ phải vắng nhà, thì những người chung quanh có bổn phận coi sóc con cái cho họ. Chúng tôi bày ra mọi thứ trò nghịch ngợm trên hè phố, nhất là đá lon. Các cha mẹ trong nhà đưa mắt canh chừng. Đôi khi có những cuộc ẩu đả nho nhỏ thì bất cứ cha mẹ nào cũng có bổn phận can thiệp. Chúng tôi là hàng xóm với nhau theo nghĩa đó. Đôi khi có những ông bà già hoặc tính nết khó khăn thì cũng than phiền chút ít vì chúng tôi quá ồn ào. Lúc ấy chưa có súng giả để chơi, nên các trò chơi đều mang tính hiền lành, vô hại. Những mùa hè nóng nực, nếu có hàng kem đi qua thì thật tuyệt vời, tình thế chung là như vậy. Chẳng ai tính đến chuyện tôn giáo hay kỳ thị. “Anh giúp đỡ tôi khi tôi có nhu cầu, lần khác tôi giúp đỡ gia đình, con cái anh”. Đó là luật chung!

Cho nên câu hỏi của nhà thông thái luật: “tôi phải làm chi để được sống muôn đời?” mang tính chất lý thuyết hơn, vì ông ta biết rõ câu trả lời. Thực tế ông đã đọc vanh vách Đệ Nhị Luật 6,5 và Lê Vi 19,18 không sai một chữ. Vậy, vấn đề không phải là không biết, mà lá không hiểu ý nghĩa, nhất là không thực hành: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân như chính mình”. Chúa trả lời ông ta: “Ông nói đúng lắm, cứ làm như vậy là sẽ được sống muôn đời”. Người tiến sĩ luật hài lòng về mình và tự nhủ: “thế là ta đã nên công chính trước mặt Đấng Tối Cao, không cần làm chi hơn nữa.” Phải chăng đây cũng là thái độ của tuyệt đại đa phần giáo dân, giáo sĩ, thầy tu hôm nay? Họ chắc chắn về việc giữ đạo của mình, hài lòng với hiện trạng và lên mặt kiêu căng, khinh bỉ kẻ khác? Nhưng ông luật sĩ chẳng biết thân cận mình là ai. Ngày nay chúng ta cũng mù tịt. Chí ít theo tiêu chuẩn của Chúa Giêsu. Vì thế, Chúa phải dạy ông ta một bài học, bằng dụ ngôn cụ thể và rất ấn tượng. Dụ ngôn đã trở thành câu chuyện ngàn đời: Một người từ Giêrusalem đi Jêricô…

Ngày nay, con đường này hầu như nguyên trạng, vắng vẻ và hoang vu như phong cảnh trên mặt trăng (xin coi: “What Jesus saw from the Cross” của A.D. Sertillanger, O.P. sắp được xuất bản tiếng Việt). Cuộc sống con người cũng vậy nếu không có hàng xóm, láng giềng, bạn bè, thân thích. Cho nên dụ ngôn của Chúa Giêsu kêu gọi mọi người xét lại tư duy và thái độ của mình. Chúng ta được dựng nên để yêu thương, sống với người khác. Chứ không phải đơn thương độc mã như một tu sĩ từng tuyên bố: con người bẩm sinh là cô đơn! Vậy mà cũng có bằng tiến sĩ đấy! Oi cái học thời nay! Chắc hẳn người Samaritanô là kẻ “vô đạo” theo tiêu chuẩn của các thầy thông luật. Nạn nhân từ Giêrusalem xuống Jericô là Do Thái chính hiệu. Vậy mà dân vô đạo lại tỏ lòng thương xót kẻ đạo dòng! Trong khi hai thầy chức việc lánh xa vì lý do tôn giáo! Bài học của Chúa Giêsu quả thấm thía và đau xót. Liệu đó có phải là lời cảnh tỉnh cho chúng ta? Ở đây lại chẳng là vấn đề biết hay không mà là hiểu và thực hành. Chúa Giêsu thật quá quắt, dạy dỗ những điều khuấy động lương tâm người ta, nhất là hạng quyền cao chức lớn. Thảo nào thập hình là cái giá “bắt buộc” phải trả cho tính “ngôn sứ” của mình!

Khi lãnh phép Rửa tội và Thêm sức, mọi tín hữu đều được kêu gọi trở nên người Samaritanô nhân hậu cho thế giới đầy dẫy hận thù, chia rẽ, bạo lực hiện nay. Chúng ta đã kể đi thuật lại Dụ ngôn của Chúa nhiều lần, thậm chí đặt tên cho các cơ sở từ thiện, quán ăn, phòng trọ, bệnh viện, ngay cả nguyện đường, nhà thờ… nhưng nhiều lúc thiếu suy nghĩ về ý nghĩa. Chúng ta chạy theo lợi nhuận để ganh đua. Chứng cớ là thường xảy ra bất đồng về lý tưởng, kéo theo chia rẽ vật chất. Phe “tiền” luôn luôn thắng thế vì vật chất bao giờ cũng có sức mạnh hơn. Câu hỏi cuối cùng của Chúa Giêsu: Theo ý ông, ai trong ba hạng người đó là thân cận của người bị nạn? Ít được chúng ta quan tâm. Số phận lời khuyên: “Ông hãy đi và cũng làm như vậy” càng bị bỏ ngòai tai. Tuy nhiên, người ta vẫn tự hào về thái độ “bác ái” của mình, quảng cáo lung tung và rất mạnh mẽ, vì có nhiều tiền. Từ đó, lợi nhuận ngày một cao hơn.

Xin đừng đặt câu hỏi: “Ai là thân cận tôi… Ai làng láng giềng, hàng xóm của tôi… Ai là anh chị em tôi?”. Theo Giáo lý của Chúa Giêsu, những câu hỏi đó là “thừa”. Trước mặt Ngài, mọi người đều là láng giềng, là anh chị em vì đều là con cái Đức Chúa Trời, được Người yêu thương. Nhưng vấn đề phải là: “Ai cần đến sự giúp đỡ của tôi? Ai có nhu cầu cần được cứu trợ? Như Chúa Giêsu đã nói với thầy thông luật: “Theo ý ông, ai là thân cận của kẻ bị nạn?” hay như câu trả lời của ứng viên tìm việc: “bất cứ những ai có mặt tại hiện trường”. Chúng ta nên nhạy cảm thương xót tha nhân, bất cứ họ là ai, không chi có thể tách chúng ta ra khỏi lòng bác ái, tương tự như người Samaritanô nhân hậu. Ông ta và người Do Thái luôn có mối bất hòa, ghen ghét, hậy thù, thậm chí nguyền rủ nhau không tiếc lời: chó má, heo ngựa. Vậy mà ông đã vượt thắng tất cả để trở nên thân cận với người Do Thái. Chao ôi! Một gương sáng bất tận cho mọi thời đại! Xin đừng huyên thuyên, huênh hoang với những “đại ngôn” rỗng tuếch của mình.

Xin nhắc lại, theo Giáo huấn của Chúa Giêsu, bất cứ những ai có nhu cầu cần trợ giúp đều là thân cận của chúng ta, không lọai trừ trường hợp nào, cũng không đặt điều kiện. Chuyện này đơn giản chẳng chút phức tạp, chẳng cần đại học chuyên khoa thần cũng có thể nắm bắt rõ ràng. Chẳng cần xét xem đương sự có xứng đáng hay không và biết ơn hay không, giàu hoặc nghèo. Như vậy, chứng tỏ rằng láng giềng của gia đình tôi còn thiết sót rất nhiều, không chỉ như mô tả ở trên. Ngòai ra, nếu có gia đình da màu nào đến cư ngụ, lập tức họ bị cô lập hoặc chúng tôi dần dần bỏ đi, tình láng giềng bị phá vỡ.

Gần đây có một chương trình truyền hình, nhan đề “Ông Rodgers” dành cho trẻ em. Những ai coi đều được mời gọi nhập vai hàng xóm. Ông ta theo đạo “trưởng lão”, nhưng không lôi kéo ai vào đạo. Ong chỉ khích lệ khán giả trở nên láng giềng của ông, rồi nói chuyện với nhiều minh họa làm thế nào để trở nên hàng xóm tốt, lương thiện, đáng kính và quan tâm, giúp đỡ. Mỗi chương trình đều mở màn với lời chào: “Hello, nào các em, hãy làm hàng xóm của ngộ nhé! Ngộ có điều này hay lắm”. Và Rodgers tiếp tục chương trình. Đôi mắt khán giả nhí dán chặt vào màn ảnh chờ đợi… Chẳng bao giời Rodgers làm các em thất vọng.

Chúng ta thường thiết lập các bức tường để ngăn cách nhau, mặc dầu miệng lưỡi thường xoen xoét nói lời thân thiện. Nhất là trong các hội nghị quốc gia, quốc tế, giao tiếp, chính trị, thương mại, ngay cả trong các nhà Dòng, tu viện, bạn bè… Chúa Giêsu khao khát rũ bỏ hết tất cả, từng viên đá một. Ngày nay nơi cửa ra vào các thánh đường, trong các giờ phụng vụ, kinh lễ, người ta mang phù hiệu chào đón thiện nam, tín nữ, nhưng chẳng hiểu thành thực được bao nhiêu phần trăm? Sỡ dĩ Chúa Giêsu cảm thông và chữa lành các bệnh nhân, vì Ngài đã mang thương tích và sống kiếp lầm than. Chúng ta sống nhung lụa tiện nghi quá quắt, thì có khả năng nghi ngờ tính chân thành của chúng ta, bởi lẽ chúng ta không có kinh nghiệm chịu đựng gian khổ, thì làm thế nào thành thực chạnh lòng thương? Cho nên dù mặc y phục đẹp, đeo phù hiệu lớn và luôn miệng chào đón: “tôi xin làm láng giềng của bạn” thì thế giới vẫn đầy nghi ngờ chưa chắc đã tin. Đức cố Giáo hòang Gioan Phaolô II phát biểu như sau: Sở dĩ có đau khổ trên thế giới bởi vì đau khổ phóng thích tình yêu, nếu không, tình yêu sẽ bị ích kỷ xiềng xích lại. Người ta chỉ tỏ lòng thương xót, yêu mến khi đứng trước đau khổ của tha nhân. Vậy, thiếu thốn và bất hạnh biến chúng ta thành những nhân tình mà Thiên Chúa muốn kêu gọi.

Xin kể ra đây một biến dạng của Dụ ngôn hôm nay: một phụ nữ trên đường đến bệnh viện để phá thai. Lương tâm chị kêu gọi là đừng làm như vậy. Đó là tội sát nhân. Nhưng người phụ nữ biện minh: thân xác là của tôi, tôi muốn làm chi mặc ý. Người chồng nói: Lỗi ở cô ta không ý tứ chứ nào đâu phải của tôi? Ông bác sĩ nói: Nhà nước cho phép phá thai, quốc hội đã tranh cãi và bỏ phiếu. Chẳng tội vạ chi hết. Linh mục nói: Giáo hội quá bảo thủ, tôi còn bận bịu trăm công nghìn việc, thời giờ đâu mà dính dáng đến chuyện này. Chính trị gia lên ý kiến: Tôi chỉ tuân theo cảm tính chung, nếu không, chẳng ai bỏ phiếu cho tôi trúng cử lần hai, lần ba. Một cử tri phàn nàn viết thư cho đại biểu của mình: “bao lâu ông ủng hộ luật phá thai, tôi sẽ chẳng bỏ phiếu cho ông!”. Rồi ông gởi tấm ngân phiếu 1 triệu đôla cho hội tranh đấu cho “quyền sống của con người” với lời nhắn: “xin cho tôi được phép ghi danh làm hội viên”. Trong những người ấy, theo ý bạn, ai là thân cận của đứa trẻ sắp bị hại? Nguyện xin Chúa Giêsu Thánh Thể ban ơn cho chúng ta được sáng suốt phân định rõ ràng. Amen.


Đỗ Lực op

Sỏi Đá Vẫn Còn Có Nhau
(Lc 10:25-37)

Một thời mê nhạc Trịnh. Mãi mãi mê nhạc Trịnh. Trịnh Công Sơn tuyệt vời !

Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động

Làm sao em biết bia đá không đau
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. (1)

Ðó là truyện ngày sau của thế giới sỏi đá. Còn truyện ngày nay của thế giới con người thì sao ? Chẳng lẽ con người không bằng sỏi đá ? Câu truyện người Samari hôm nay cho biết ai là sỏi đá và ai là con người ngay trong thế giới hiện tại.

CON NGƯỜI HAY SỎI ÐÁ

Câu truyện hôm nay như đóng khung trong một loạt câu hỏi. Trước hết, người thông luật hỏi : “Tôi phải làm gì ?” Chúa Giêsu vặn lại : “Trong Luật đã viết gì ?” ... Ông tiếp tục thắc mắc : "Nhưng ai là người thân cận của tôi? " Chúa nêu vấn đề : “Ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ? "

Giữa hàng loạt các câu hỏi này là câu truyện về một nạn nhân đáng thương và một người Samari ... Một cuộc đối thoại lạ lùng giữa ông thông luật và Chúa Giêsu. Ông muốn gài bẫy Chúa. Nhưng Chúa muốn dẫn ông vượt qua trò chơi nhàm chán đó để tìm ra sự thật giải thoát, dù phải nêu một gương sáng về đức bác ái từ người Samari, kẻ thù truyền kiếp của người Do thái. Ðối với Do thái, người Samari hầu như chẳng làm nên trò trống gì cả. Bởi vậy, ông không thể trả lời chính xác đó là người Samari. Ông chỉ nói trổng : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” (Lc 10:37)

Ðứng trước nạn nhân, người thông luật coi đó như một đề tài cần bàn cãi. Kẻ cướp cho đó là một đối tượng phải khai thác. Tư tế coi là một vấn đề phải tránh xa. Thày Lêvi coi như một việc gợi tính tò mò. Chúa Giêsu rất tế nhị khi không cho thêm một nhân vật thông luật vào câu truyện dụ ngôn. Nhưng ông đủ thông minh để rút lấy một bài học để đời . Người Samari coi nạn nhân như một con người cần phải được thương yêu. Ông đã nêu gương sáng tuyệt vời. Còn Kitô hữu chúng ta thì sao ?

Cuộc đối thoại lạ kỳ bắt đầu bằng một câu hỏi : “Làm gì ?” và kết thúc với lời mời gọi : “Hãy làm như vậy !” Trong các Tin Mừng, Chúa Giêsu hay giúp người chống đối khám phá lời giải đáp cho vấn nạn do chính họ đặt ra. Bài học trước hết dành cho những ai quay về phía người khác và bắt phải thực hiện công việc đáng lý mình phải làm. Thực sự họ tìm cái gì ? Ðể thử thách người họ đang nói truyện hay chỉ để tự biện minh ? Có những người hay tự tra vấn chính mình và biết phải làm gì, nhưng lại sợ dấn thân.

Trong khi đó, Chúa Giêsu kể một câu truyện về người Samari cứu giúp một người bị lọt vào tay bọn cướp. Vượt qua luật Lêvi “anh hãy yêu thương người thân cận như chính mình,” (Lv 19:18) Chúa Giêsu dạy yêu thương kẻ thù trong Bài Giảng trên núi. Ðể minh họa điều răn mới này, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh Samari đại lượng và bất vụ lợi. Một bài học thấm thía cho ông thông luật ! Một lời mời gọi nồng nhiệt cho mỗi người chúng ta !

Người thông luật hỏi : “Ai là người thân cận của tôi ?” Chúa Giêsu đi vào cụ thể : “Ai là người thân cận của người gặp cảnh khốn cùng này ?” Qua cảnh tượng này, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta hai thực tại liên kết và soi sáng cho nhau : Kinh thánh và cuộc sống hằng ngày. Ước chi Kinh thánh có thể nhập thể vào cuộc sống và hướng dẫn chúng ta sống làm người môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Thay vì hỏi “ai là người thân cận của tôi ?” chúng ta nên tự hỏi : “Tôi là người thân cận của ai ?” Từ đó, chúng ta mới không mất thời giờ biện minh cho những hành động thiếu bác ái của mình. Mặc dù nhiều lúc thấy việc làm sai quấy rõ ràng, nhưng ai cũng có khuynh hướng muốn tìm mọi lý lẽ chống chế. Nếu biết tự vấn, chúng ta sẽ thấy bất cứ ai cũng có thể là người thân cận của mình. Không còn phân biệt chủng tộc, niềm tin hay địa vị xã hội của những người đang gặp cảnh khốn cùng. Bất cứ đang sống ở đâu, chúng ta vẫn có những người túng thiếu bên cạnh. Không có lý do gì từ chối họ. Nếu có lòng yêu thương thực sự, không thể không hành động cho con người cùng khốn.

Người thông luật giả bộ tìm xem giới luật đó áp dụng cho ai. Nhưng dụ ngôn tìm cách xác định chủ thể, chứ không phải đối tượng tình yêu. Chúa đã chọn người Samari để minh họa một chủ thể không bị giới hạn vào một loại người nào. Như thế mới hay ai cũng có thể đạt tới sự sống (vĩnh cửu) nhờ giới luật tình yêu. Tình yêu phải vô điều kiện, chứ không bao giờ nằm trong những tính toán hay những áp chế miễn cưỡng của bất cứ guồng máy nào. Tuy là một giới răn, nhưng tình yêu không bao giờ ép buộc ai. Một khi bị ép buộc, tình yêu không còn là tình yêu nữa. Chỉ tự do mới làm cho tình yêu có giá trị.

Nhưng tình yêu không dừng lại ở cảm xúc. Nếu chỉ cảm thương mà không ra tay hành động, người Samari có khác gì các thày tư tế, Lêvi ? Cũng như tri thức, cảm xúc không đủ sức mạnh đẩy ta tới anh em. Thiếu gì những viên chức tôn giáo quá trọng luật lệ đến quên cả bổn phận thương yêu và dấn thân. Chưa kể bao người chỉ thích chiều theo xung động mà lên án người khác, không hề biết người mình lên án là ai và đã làm gì. Không bao giờ tìm thấy bất cứ một khích lệ nào, ngay cả khi nói bông đùa với anh em.

TÌNH LIÊN ÐỚI

Tại sao người Samari lại tỏ tình liên đới với nạn nhân ? Chắc chắn không phải vì lý do tôn giáo, chủng tộc, giai cấp. Hoàn toàn vì tình người tự nhiên. Tôn giáo, luật lệ v.v. cũng chẳng giúp lay tỉnh con người, nếu lương tâm đã chết hay con tim đã khô cứng. Dù có đủ lý do để biện minh cho hành động, thày tư tế và Lêvi không thể lấy lề luật khỏa lấp lương tâm. “Một mình công lý không đủ. Thực vậy, công lý còn có thể phản bội chính mình, nếu không mở rộng vòng tay đón nhận quyền lực sâu xa hơn, đó là tình yêu. Quả thế, bên cạnh giá trị công lý, học thuyết xã hội của Giáo hội còn đặt giá trị tình liên đới, vì đó là con đường đặc biệt dẫn tới hòa bình. Nếu hòa bình là hoa quả của công lý, thì ngày nay có thể nói một cách chính xác và theo thần hứng Thánh Kinh: hòa bình là hoa quả của tình liên đới.” (2)

Tình liên đới vượt trên các tính toán khô cứng của đầu óc duy luật và tôn giáo. Thánh Thomas Aquinas từng nói : “Nếu không có lòng từ bi, công lý thật tàn bạo. Nhưng nếu không có công lý, lòng từ bi là mẹ sinh ra sự băng hoại đạo đức .” Người Samari vừa có lòng từ bi, vừa nêu gương công chính. Dù không mắc nợ hay liên hệ gì, nhưng ông cư xử rất “có hậu” với nạn nhân. Bằng chứng, ông đã trả tiền trọ qua đêm và lo lắng thanh toán tất cả phí tổn cho nạn nhân khi trở lại nữa (x. Lc 10:35). Ông không muốn đặt gánh nặng lên vai người khác. Ông thật chu đáo !

Chỉ có lòng từ bi mới giúp con người khám phá thấy mình liên đới với mọi người. Khi có lòng từ bi thực sự, con người không thể ngồi yên nhìn tha nhân quằn quại trên đau khổ hay lẩn tránh nạn nhân. Con người có thể làm ngơ trước những đau khổ tha nhân, nhưng không thể trốn tránh được chính mình, nhất là khi mình nắm giữ vai trò lãnh đạo như các tư tế và thày Lêvi. Có chức vị quan trọng như thế, không thể không liên đới tới người khác. Nhưng chức vị, đạo đức và học vấn cũng không chắc giúp con người nhận ra mối liên đới và nhất là can đảm dấn thân hành động vì lợi ích tha nhân.

Cách đây ít tháng, nữ tu Anne Thole đã chết vì cố gắng cứu bệnh nhân AIDS trong một vụ hoả hoạn tại trung tâm nuôi dưỡng người mắc bệnh AIDS tại giáo phận Dundee bên Nam Phi. Lúc đó chị mới 35 tuổi và đang giữ chức Giám Đốc Nhà Tập. Báo chí tại Johannesburg Nam Phi nhiệt liệt ca ngợi vị nữ tu trẻ đẹp này, và không ngần ngại tôn vinh chị là thánh tử đạo. (3) Nếu không có tấm lòng từ bi và tình liên đới, làm sao chị nữ tu dám liều mạng cứu vớt người khốn cùng như thế ? Người Samari chỉ mất chút thời giờ và tiền bạc. Còn chị nữ tu Anne Thole mất cả mạng sống.

Bình thường ai cũng thích sống theo kiểu “cháy nhà hàng xóm, bằng chân như vại.” Tại sao chị Anne Thole lại không “bảo trọng” đến nỗi mất mạng như vậy ?! Chị có nợ nần hay liên hệ gì với những bệnh nhân bệnh AIDS đó mà phải trả giá quá mắc như thế đâu ! Các bệnh nhân đó bị xã hội xa lánh và chẳng còn giá trị trước mắt người đời, sao chị lại đánh đổi cả một mạng sống quý giá của mình ? Hàng trăm câu hỏi có thể được gợi lên trong những đầu óc “khôn ngoan” như tư tế và thày Lêvi. Rất may trong đầu chị Anne Thole (cũng như người Samari) không có những tính toán như thế, nên mới có những giá trị Tin Mừng đích thực nơi những nhân chứng sống động hôm nay.

KHI THÁNH LINH HOẠT ÐỘNG

Người Samari là một nhân chứng không phải của niềm tin, nhưng của một con người còn có lương tâm. Chúa Giêsu thấy ngay trong lương tâm và cách hành xử tự nhiên đó có một giá trị Tin Mừng rất lớn. Lương tâm dạy cho ông biết mình liên đới với mọi người, nhất là những người đang có nhu cầu cấp thiết phải giải quyết để sống còn. Nếu không phản ứng kịp thời, mạng sống nạn nhân có thể bị đe dọa. Nhờ phản ứng tích cực và thực tế, người Samari đã hoàn thành nghĩa vụ đối với người thân cận ông chưa một lần quen biết.

Với những người xa lạ mà ông Samari còn cảm thấy liên đới và bổn phận cứu giúp như vậy, tại sao với những đối với đồng bào ruột thịt, chúng ta lại có thể phủi tay và làm lơ như chưa hề quen biết ?! Chẳng lẽ sống trên đời chỉ lo thăng quan tiến chức và làm giàu để vinh thân phì da ? Trước tình cảnh đồng bào bị đánh nhừ tử và bị quăng ra ngoài đường, ta có thể “sống chết mặc bay” được không ?

Khắp hang cùng ngõ hẻm, các bóng áo đỏ, áo đen, áo vàng đang lướt qua những nạn nhân chế độ. Họ bưng tai trước những tiếng rên siết của đồng bào, đồng đạo. Họ ngang nhiên bước qua những xác chết để kịp giờ dâng lễ mỗi ngày. Còn đâu những người con của hằng trăm ngàn các anh hùng tử đạo Việt nam ? Còn đâu Ðạo Nhập Thể giữa lòng dân tộc ? Còn đâu những chứng từ cần thiết cho Giáo hội lớn mạnh ?

Người ta đã chính trị hóa mọi thực tại, để bịt miệng và vô hiệu hóa sức mạnh Tin Mừng. Ðó là một âm mưu thâm độc nhằm hạ uy thế Giáo hội. Không phải bất cứ những gì liên quan tới con người và xã hội đều là chính trị. Tin Mừng phục vụ con người, nhưng không theo phương cách và đường hướng chính trị. Nên nhớ Giáo hội không quá mù quáng và bất lực đến nỗi làm thinh trước sự thao túng chân lý và danh dự Giáo hội cho một mục tiêu chính trị. Khi chính GHVN hay HÐGMVN trở thành nạn nhân, không ai cứu nổi GHVN ngoài GHVN. Bởi vậy, Giám Mục Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch HÐGMVN, mới can đảm lên tiếng bênh vực sự thật trong lá thư đề ngày 7 tháng 7, năm 2007, gởi thẳng cho chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết. Nguyên văn bức thư có đoạn : “Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây : Nhân đọc trong báo “ Tuổi Trẻ “, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau : Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi “ là không đúng sự thật.” (4)

Thực ra, câu nói đó đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt nam. (5) Họ không e ngại đụng tới quyền lực cao nhất của Giáo hội Công Giáo hoàn vũ và đất nước. Tất cả đều bị họ biến phương tiện phục vụ quyền lợi đảng ! Không biết liêm sỉ ở chỗ nào ! Ðáng lẽ địa vị càng cao, càng phải tôn trọng sự thật chứ ! Tất cả danh dự con người và hướng tiến xã hội đều tùy thuộc sự thật !

Phải chăng “việc lên tiếng của Hội đồng Giám Mục Việt Nam là vì danh dự của các ngài,” (6) như linh mục Trần Công Nghị nhận định ? Chẳng lẽ bao giờ người ta đụng đến mình, mình mới lên tiếng sao ? Tuy chưa ai đụng tới mình, người Samari đã tích cực can thiệp để giúp đỡ nạn nhân. Có lẽ nhận định của linh mục Trần Công Nghị chưa sâu sắc đủ để thấy hết vấn đề.

Muốn thấy hết vấn đề, phải mượn nhận định của ÐHY Phạm Minh Mẫn : “Thực tế cho thấy cơ quan truyền thông xã hội nơi nầy nơi khác thông truyền có khi là sự thật thật, có khi là sự thật ảo, có khi là sự thật bị cắt xén, bị bóp mép, thêm râu ria, có khi là sự thật một chiều, một mặt. Phải chăng nguyên nhân là do quan điểm cho rằng sự thật chỉ là những gì có lợi cho mình? Hoặc do cái nhìn bị giới hạn bởi hoàn cảnh? Hoặc do nỗi sợ hãi nào đó thường núp bóng sau lưng những hình thức bạo lực? Và hậu quả trước mắt là dễ tạo ra mâu thuẫn đối kháng, hoặc gây nhiễu và làm biến chất những mối quan hệ xã hội.” (7)

Thế là chỉ ba ngày sau khi Giám Mục Nguyễn văn Hòa gởi lá thư cho ông Triết, tức ngày 10.07.2007, ÐHY Phạm Minh Mẫn đã lên tiếng : “Tôi nghĩ rằng sự thật là một yếu tố nền tảng cho công cuộc phát triển vững bền đất nuớc, xây dựng các mối quan hệ xã hội thành một sức mạnh cho công cuộc phát triển đó.” (8) Ðúng như thế ! Ðất nước còn lạc hậu vì sự thật bị xuyên tạc và che đậy khắp nơi. Chính vì không nắm được sự thật, con người chưa được giải thoát và dân tộc vẫn chưa có tự do.

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã ban cho các vị lãnh đạo chúng con can đảm lên tiếng nói sự thật. Xin Chúa Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ trong GHVN chúng con. Amen.

đỗ lực 15.07.2007

 

1. Trịnh Công Sơn, Diễm Xưa.

2. Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, Ủy Ban Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình, 2004:90.

3. x. VietCatholicNews 06/04/2007, không biết VietCatholic lấy từ nguồn nào.

4. http://www.honnho.org/

5.http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/07/070713 _vietcatholicviewnhandan.shtml

6.http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/12/ VnBishopCouncilRetortsPresidentTriet_GMinh/

7. http://www.honnho.org/

8. ibid.


Lm. Jude Siciliano, OP
(
Chuyển ngữ: FX Trọng Yên, OP)

ANH EM HÃY ĐI VÀ HÃY LÀM NHƯ VẬY
Lc 10: 25-37

Tôi viết một vài suy nghĩ về người Samaritano nhân hậu trong lúc đang chờ ở phòng đợi phi trường vì máy bay trễ 3 giờ. Ước gì hãng hàng không cho tôi biết trước để tôi ở nhà soạn bài giảng này với tiện nghi đầy đủ hơn. Và tôi được dùng bữa sáng nóng hổi, và được đọc báo nữa. Nhờ thế may ra tôi có được vài suy nghĩ về một người Samaritano nhân hậu hợp với thời buổi này chăng!. Trái lại, tôi phải viết trong khi ngồi trên ghế cứng ở phi trường đặt giấy viết trên đùi, không có tiện nghi gì cả. Nhưng dụ ngôn về người Samaritano không liên quan gì đến những điều bất tiện tôi vừa gặp phải, và không có ý gì đến việc phải tử tế với người khác, vì tôi vừa nóng nảy phiền trách với cô nhân viên của hãng hàng không. Và tất cả dụ ngôn đó cũng không nói gì đến việc đi đường hay làm gì trên đường đi. Đây là câu chuyện về người đi đường, và chúng ta tất cả là người đi đường. Dụ ngôn nhắc nhở chúng ta nhớ là chúng ta phải đối đãi với người khác như thế nào trong lúc chúng ta cùng đi đường với họ trong cuộc hành trình dương thế theo ý chỉ của đức tin.

“Người Samaritano nhân hậu” đó là một cụm từ để khen ngợi một người nào. Ai được gọi là Người Samaritano nhân hậu là chúng ta biết ngay là người đó có lòng thương cảm với người lạ đang cần được giúp đỡ, mặc dù phải tốn kém cho mình. Nhưng, lẽ cố nhiên, đối với người Do Thái, người Samaritano là những người không tốt, và họ bị xem là kẻ thù địch. Và cả hai bên đều không ưa nhau. Hai dân tộc thù nhau từ bao nhiêu thế hệ. Và những người Do Thái đang nghe Chúa Giêsu kể dụ ngôn này đều không cần nhắc đến việc đó. Đối với họ dụ ngôn này không làm họ hài lòng. Dụ ngôn này trở nên một cú sốc làm cho những người nghe suy nghĩ lại về những thành kiến họ đã có từ trước đến nay. 

Người thông luật muốn biết ông “phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Ông ấy không muốn biết những chuyện gì xa lạ, nhưng chỉ muốn biết điều gì giúp ông có được sự sống trong liên hệ mật thiết với Thiên Chúa ngay từ bây giờ, một liên hệ mà ngay cả sự chết không phá huỷ được. Chúng ta nhận thấy câu trả lời cho ông ấy không chú trọng đến Thiên Chúa. Người Do Thái tốt đạo nào cũng biết thương yêu là gì. Và câu trả lời nói về thương người lân cận đều đã có sẵn trong kinh thánh (Đnl 6:4 và Lv 19:18). Điểm chính của dụ ngôn là “ai là người thân cận của tôi?” Và đó cũng là câu hỏi đối với cả chúng ta nữa?

Bài phúc âm hôm nay nằm trong phúc âm thánh Luca nói về “những chuyện xảy ra trên đoạn đường lên Jêrusalem” (9:51-19:27). Câu chuyện này bắt đầu khi Chúa Giêsu bắt đầu thay đổi vì “Ngài hướng về Jêrusalem” (9:51). Thánh Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu biết trước việc Ngài sẽ gặp. Trước câu chuyện này, Chúa Giêsu gọi 72 môn đệ ra đi rao giảng (10:1). Các ông trở về mừng rõ vì đã được thành công (10:17-20). Chúa Giêsu cảm tạ Thiên Chúa vì sự mạc khải đã đến với các “người bé mọn”, là môn đệ (10:21-22), và Chúa Giêsu chúc lành cho họ (10:23-24). Đến đây thì câu chuyện người thông luật xảy đến để hỏi Chúa Giêsu về sự sống đời đời và chúng ta nghe câu trả lời của Chúa Giêsu. Câu chuyện Chúa Giêsu gặp người thông luật, và dụ ngôn kế tiếp là những lời nói của những người đi đường. Chúng ta, những người tin nghe Chúa Giêsu hãy tự hỏi xem chúng ta đối với những người cùng đồng hành với chúng ta như thế nào, hoặc đối với những kẻ đi ngược đường với chúng ta?

Khi người thông luật hỏi “Ai là người thân cận của tôi?”, ông ấy nghĩ là câu trả lời chắc sẽ là: người thân cận anh là bất kỳ người Do Thái nào. Câu trả lời như vậy sẽ chỉ rõ cho ông ta biết lề luật tôn giáo về sự yêu thương là như thế nào. Nhưng, Chúa Giêsu muốn đem hình ảnh người Samaritano ra làm câu trả lời cho người thông luật. Cho dù người bị thương năm kia có thuộc về giới “người thân cận” hay không. Điểm chính là Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy làm như người Samaritano đã làm là: Hãy trở nên người thân cận bằng các săn sóc người cần sự giúp đỡ vì lòng bác ái. Điểm quan trọng là: tôi không còn vai vế nào trong xã hội cả?, và người cần tôi giúp đó là bất cứ ai?

Người thông luật muốn Chúa Giêsu nói rõ người thân cận là ai, nhưng, trái lại, Chúa Giêsu nói là không cần nói đến người mình giúp đỡ, mà phải nói đến người giúp đỡ: người Samaritano là người chính trong việc giúp đỡ. Ông ta là người biết yêu thương, và chúng ta cũng hãy làm như vậy. Rốt cuộc câu hỏi củng người thông luật là câu hỏi sai. Và, có lẽ chúng ta cũng muốn biết yêu thương thế nào mới gọi là đủ. Hãy cho tôi biết ai là người tôi phải yêu thương và lúc nào tôi phải yêu thương họ. Nhưng, “thương người thân cận” không phải là một bài giảng chỉ định về tình thương yêu người khác. Câu hỏi không phải là “ai là người thân cận của tôi?”, nhưng là “tôi là người thân cận của ai?”. Đó là ý Chúa Giêsu khi Ngài hỏi “vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”… “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”. Từ “thân cận” chỉ sự liên hệ mật thiết. Thiên Chúa làm tất cả mọi người trở nên là người “thân cận” của chúng ta, và câu trả lời của chúng ta với Chúa là con sẽ trở nên người thân cận của người cần được giúp đỡ.

Trên đường đi lên Jêrusalem Chúa Giêsu có nhiều điều để dạy các môn đệ. Một điều Chúa Giêsu dạy các ông là: Jêrusalem sẽ là nơi Ngài chịu khổ hình và chịu chết. Trên đường lên Jêrusalem, Chúa Giesu muốn cho chúng ta biết là chúng ta phải sẵn sàng hy sinh mạng sống chúng ta vì sứ vụ và tình thương. Đó là tất cả những gì mà dụ ngôn hôm nay dạy chúng ta. Người theo Chúa Giêsu phải là người như thế nào? Làm sao chúng ta biết được người đó? Người theo Chúa Giêsu thật sự là người đáp lời ngay khi gặp người cần được giúp đỡ, không so đo xem họ có tiền không, có bằng cấp gì, ăn mặc ra sao, con người đó đi học trường nào, hay người đó thuộc quốc tịch nào, và thuộc nước nào v.v…?

Hôm nay trong phụng vụ chúng ta nghe dụ ngôn người Samaritano nhân hậu. Chúng ta có tạm dừng những thói quen đố kỵ trong làm việc, trong học hành, hay vui chơi trong gia đình như dụ ngôn. Trong đó nhấn mạnh những việc Chúa đã làm, đó là việc tốt dành cho những ai đã lãnh nhận đức tin qua bí tích Thánh Thể, đó là đem Chúa Giêsu đến như người Samaritano. Hôm nay khi chúng ta ra về Chúa Giêsu nói với chúng ta “anh em hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”. Trong phụng vụ chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta “lương thực hàng ngày” và lương thực đi đường đến những nơi cần chúng ta giúp đỡ để trở nên người “Samaritano nhân hậu”.


Lm. Jude Siciliano, OP. (Anh em nhà học Đaminh chuyển ngữ)

 

Người Samarita nhân hậu

Đnl 30,10-14; Tv 69; Gl 1, 15-20; Lc 10,25-37

Kính thưa quí vị,

Câu chuyện về người Samarita nhân hậu là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong Kinh thánh. Thậm chí những không đọc Kinh thánh cũng biết “người Samarita nhân hậu” là gì. Trong thế giới luật pháp có “luật người Samari nhân hậu,” luật này yêu cầu bảo vệ hợp pháp với những ai giúp đỡ chính đáng cho người khác khi người đó bị thương tích, đau yếu hoặc trong những tình cảnh hiểm nghèo. Luật người Samarita nhân hậu này nhằm khuyến khích người khác trợ giúp những ai lâm cảnh hoạn nạn.

Dụ ngôn về người Samarita nhân hậu được thuật lại do một người kể chuyện điêu luyện và câu chuyện có những nét đặc biệt của một “chuyện kể hay.” Một số đặc điểm của câu chuyện hay được chứng thực qua việc sử dụng sự tái diễn, việc chú ý đến chi tiết và một cụm từ được lặp đi lặp lại để tạo ra sức ảnh hưởng có ấn tượng. So với những yếu tố khác, thì những yếu tố này là nét đặc trưng của một dụ ngôn. Ví dụ, bên cạnh những nét đặc trưng gây ấn tượng và khung cảnh khắc nghiệt của câu chuyện, dụ ngôn còn có một cụm từ được lặp đi lặp lại, đó là một hiệu quả hùng hồn.

Chúng ta được nghe kể hai lần rằng cả hai vị kinh sư và Lêvi, khi thấy người đàn ông dở sống dở chết, đều “tránh sang một bên mà đi.” Thật là một cú sốc đối với những thính giả của Đức Giêsu! Hai nhân vật đạo đức, những vị mà người khác mong đợi sẽ dừng lại để cứu giúp, nhưng rồi lại đi qua. Không những thế, họ còn “tránh qua bên kia” mà đi, như thể hai vị này tỏ một thái độ lạnh nhạt giữa mình và nạn nhân đang đau khổ quằn quại kia. Vào thời Đức Giêsu, tất cả mọi người quá quen thuộc với những vụ hành hung xảy ra dọc đường từ Giêrusalem đến Giêrikhô. Vậy, dụ ngôn của Đức Giêsu kể về một trong nhiều nạn nhân dọc con đường nguy hiểm đó. Vì thế, những ai nghe câu chuyện trên đây đều có thể hiểu tại sao hai người lữ hành đơn độc kia lại vội vã khi đi qua nơi này, vì những kẻ tấn công có thể vẫn còn ẩn nấp đâu đó, và đang chờ thời cơ để ra tay với nạn nhân khác.

Chúng ta cũng nghe nhiều về những câu chuyện bi thảm của người gặp đau khổ. Truyền thông đã cho chúng ta biết nhiều về nỗi đau trên toàn thế giới, như hậu quả của những cơn bão, lụt lội và cháy rừng, điển hình là nạn cháy rừng vừa xảy ra tại tiểu bang Arizona – Mỹ, cướp đi sinh mạng của 19 lính cứu hỏa. Chúng ta còn nghe nhiều câu chuyện đau thương khác xảy ra, không chỉ vì thiên tai, mà còn hậu quả từ những kẻ tàn bạo giáng xuống cho người khác. Con đường từ Giêrusalem đến Giêrikhô có nhiều đau khổ, như nội chiến, những xung đột diễn ra khắp nơi trên thế giới; tình trạng bất ổn ở Aicập; những vụ ném bom bên đường ở Afghanistan; các cuộc tấn công tự sát ở Iraq; và chúng ta không thể quên được nỗi kinh hoàng trong quá khứ về cuộc tàn sát và thủ tiêu của người Khơme đỏ đã gây ra cho hơn 1 triệu người Campuchia.

Quá nhiều nỗi kinh hoàng gợi lên trong tâm trí chúng ta những câu hỏi: Con người với nhau sao lại để cho những đau thương này xảy ra? Những người nhân hậu đâu cả rồi? Tại sao họ không kêu gào lên và ra tay hành động? Tại sao con người lại giữ thái độ thơ ơ lạnh nhạt với người khác như thế? Nên chăng phải để cho người ngoài cuộc không quá ngây ngô trong khi kẻ khác đang lâm vào cảnh thừa chết thiếu sống như vậy?

Mới đây Johanna Vos đã qua đời. Trong thời gian Chiến tranh thế giới II, bà và người chồng của mình là Art đã đánh cược mạng sống của mình khi cho những người hàng xóm Dothái trốn khỏi cơ quan mật vụ Đức quốc xã. Họ và những người khác có hành động anh hùng tương tự đều được biết đến như những “vị cứu tinh.” Những “vị cứu tinh” này là những con người bình thường, mà họ lại lấy sự mạo hiểm lớn lao để cứu các nạn nhân “bên đường.” Người ta ước tín khoảng 500.000 người Dothái được cứu sống nhờ những “vị cứu tinh” trong những ngày kinh hoàng đó.

Một cuộc nghiên cứu được thực hiện về những người như các “vị cứu tinh” này. Câu hỏi được đặt ra là: điều gì làm cho họ liều lĩnh như thế? 50 năm sau, khi được hỏi đến lý do tại sao liều lĩnh cứu người như vậy, thì Johanna và Art trả lời với một cung giọng hết sức bình thường rằng: “Chúng tôi không suy nghĩ gì về việc mình làm. Chúng tôi làm những việc mà bất cứ người nào cũng đều có thể làm.” Nhưng chẳng may, lịch sử lại không xác nhận về việc làm đó; lại có quá nhiều người vẫn còn là người bàng quang khi kẻ khác đang lâm vào cảnh nguy nan. Họ không dám băng qua bên kia đường để ra tay cứu giúp kẻ gặp nạn.

Cuộc nghiên cứu kết luận rằng: những vị cứu tinh đến từ tất cả mọi tầng lớp con người, họ là những người có giáo dục hay không có giáo dục, giàu hay nghèo, những người có niềm tin hay vô thần. (Đó là những thực trạng của người Samarita, những người Dothái bị trấn lột, và bên ngoài vỏ bọc của những người đạo đức tuân thủ luật pháp.) Những vị cứu tinh là những người theo chủ nghĩa cá nhân; trong khi những người khác lại chạy theo nhu cầu của xã hội, họ không biết ngượng ngùng về những việc mà người khác mong đợi họ làm. (Gia đình, bạn bè và xã hội có thể gây ra áp lực và ngăn cản những hành động tốt.) Hơn nữa, nhiều vị cứu tinh có lịch sử về những việc làm tốt, như: thăm hỏi những người trong bệnh viện; sưu tầm sách báo cho sinh viên nghèo; chăm sóc những động vật đi lạc, v.v… Bản báo cáo về những vị cứu tinh cho hay rằng: “Họ đơn thuần là có thói quen làm việc tốt. Vì vậy, khi có một nhu cầu nảy sinh, họ thường xuyên đáp ứng.”

Những ai giúp đỡ cho người tuyệt vọng trong chiến tranh thì đều có ý thức về sự “phổ quát.” Họ không nhìn thấy những người Dothái như thể là người Dothái ưu tiên, nhưng nhìn thấy đó là con người. (Người Samarita trong câu chuyện không nhìn thấy người Dothái hay người Samarita bên vệ đường, nhưng đã nhìn thấy một người bị nạn.) Sau cùng, các cuộc phỏng vấn với những vị cứu tinh chứng tỏ họ tin rằng, ân sủng của lòng tốt sẽ qua đi; đó chính là bản tính tự nhiên trong mỗi con người, nhưng nó phải được trau dồi và nuôi dưỡng. (Điều này khuyến khích chúng ta phải nêu gương cho con cái về việc chăm sóc người khác, đặc biệt đối với những cá nhân nằm bên lề xã hội.)