![]() | |
Chúa Nhật XIV Thường Niên - Năm C Is 66,10-14c / Gl 6,14-18 / Lc 10,1-12.17-20
An Phong op : Ra Ði Loan Báo Tin Mừng Fr Jude Siciliano, op : Rao Giảng Tin Mừng G. Nguyễn Cao Luật, op : Những Người Được Sai Đi Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa sai đi Fr. Jude Sicilianô, op : Như Người Mẹ Hiền Vinh Sơn Ngô Đức Duy op : Lúa Chín Thì Nhiều Mà Thợ Gặt Lại Ít Đỗ Lực op : Chiên Con Giữa Bầy Sói Fr. Jude Siciliano, op : Đem bình an cho người để nhận bình an của Chúa Fr. Jude Siciliano, op: Bình an là dấu chỉ triều đại Thiên Chúa đến gần
Ra Ði Loan Báo Tin Mừng Tin mừng chúa nhật 14 thường niên C là trình thuật Ðức Giêsu gởi các môn đệ lên đường sứ vụ... Người sai họ đi như "con chiên ở giữa sói rừng..., đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép... nhưng nói bình an cho nhà này" (Lc 10,4). Người sai họ đi "cứ từng hai người", vì theo luật Do Thái, chứng từ hợp pháp phải dựa trên hai hoặc ba nhân chứng (Ðnl 19,15). Trong Giáo hội sơ khai, "cứ từng hai người" như Phaolô và Banaba (Cv 13,2), Banaba và Maccô (Cv 15,39), Phaolô và Sila (Cv 15,40), Timôthê và Sila (Cv 17,4)... đã đi rao giảng Tin mừng với nhau. "Nếu vào thành nào mà người ta không tiếp đón các con, thì... hãy phủi bụi đất lại..." là một lời cảnh giác cho những ai không đón nhận Tin mừng. Hình ảnh các môn đệ trở về vui mừng và "Satan từ trời rơi xuống như luồng chớp" muốn nói lên việc rao giảng Tin mừng được thành tựu và các ngài đã thắng được Satan. Ðức Giêsu đã đưa ra những điều kiện thiết yếu cho những ai muốn đi rao giảng Tin mừng "không túi tiền, không bao bị, giày dép". Họ phải là những người nghèo khó, khiêm tốn, và thậm chí yếu đuối, để có khả năng tin tưởng và bám víu vào Thiên Chúa. Họ được sai đến những nơi nguy hiểm, thiếu an toàn, nhưng lại nói lời bình an. Cơn cám dỗ về tiện nghi vật chất luôn đe dọa những người đi rao giảng Tin mừng. Cơn cám dỗ về ngại khó vẫn luôn làm những người đi rao giảng Tin mừng chùn bước. Như thế, người đi rao giảng Tin mừng "đừng khoe khoang về điều gì khác, ngoại trừ về thập giá Ðức Giêsu Kitô" (Gl 6.14). Hơn thế nữa, "sự bình an của các con sẽ đến trên những ai đón nhận Tin mừng". Người đi rao giảng Tin mừng là người có được sự bình an của Thiên Chúa. Từ đó đem sự bình an này đến cho người khác. Ðem đến sự bình an của Thiên Chúa cùng với Nước Thiên Chúa đang đến gần chính là rao giảng Tin mừng. Mọi hình thức áp đặt, đe dọa, "rút phép thông công", những cuộc thánh chiến... sẽ làm tiêu tan sự bình an. Bình an cho nhà này, cho ngôn ngữ, cho phong tục tập quán này, cho các truyền thống, các giá trị, các nghi thức phải là tâm niệm của những người đi rao giảng Tin mừng. Tin mừng cần được hội nhập, được sống trong một nền văn hóa của một dân tộc cụ thể, cùng với những phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc đó. Tin mừng chỉ có thể được đón nhận trong tình yêu và tự do. Là kitô hữu, nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta là những người rao giảng Tin mừng cho mọi người chung quanh. Chúng ta được Thiên Chúa gởi đến để đem lại bình an cho người khác. Những người chung quanh chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận sứ điệp của chúng ta, nếu sứ điệp đó được loan báo cách vô vị lợi, nhẹ nhàng, trong tinh thần phục vụ. Chứng từ "cứ từng hai người" là hình ảnh yêu thương lẫn nhau, cộng tác với người khác, không ghen tương hay thành kiến, là một chứng từ mạnh mẽ, có giá trị làm cho Tin mừng dễ được đón nhận. Các kitô gữu đầu tiên tại Antiôkia đã từng gây ấn tượng tốt đẹp cho cư dân tại đó bằng nếp sống đoàn kết yêu thương nhau, khiến cư dân tại đó đã phải thốt lên "Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao". Vào thời bách hại đạo tại Việt Nam, cha ông chúng ta đã được những người chung quanh gọi là "những người theo đạo yêu nhau". Những chứng từ như thế có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn là "văn hay chữ tốt". Khi phải đối diện với những bất an toàn của cuộc sống, chứng từ lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa cũng là một lời rao giảng tốt đẹp. Phải chăng chúng ta đang rao giảng Tin mừng của Ðức Giêsu bằng chính đời sống yêu thương và phục vụ của mình ?
Lạy Chúa,
SỨ MỆNH HÒA
BÌNH Ðiều quan trọng nhất trên đời này là cái gì ? Chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời vừa lòng mọi người. Tùy cái nhìn, mỗi người sẽ có câu trả lời khác nhau. Câu trả lời sẽ xác định tất cả ý nghĩa và giá trị cuộc đời. ÐIỀU QUAN TRỌNG Thánh Phaolô đã đưa ra câu trả lời chính xác nhất : "Ðiều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới" (Gl 6:15) trong Ðức Giêsu Kitô. Nghĩa là, nhờ cái chết và phục sinh, Ðức Kitô đã trở thành Ađam mới để biến cải toàn thể tạo vật tự bên trong. Vạn vật sẽ sống trong trời mới đất mới, tràn ngập "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Ðó là lý tưởng phải đạt tới ngay trên mặt đất này. Quả thực, chính để xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian, Ðức Giêsu mới sai các môn đệ "như chiên con đi vào giữa bầy sói" (Lc 10:3) với một sứ mệnh duy nhất là loan báo cho muôn dân biết "Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần." (Lc 10:9.11) Dù phải thực hiện sứ mệnh cao cả và vô cùng khẩn thiết đó giữa bầy sói, người môn đệ không bao giờ được phép chối bỏ bản chất "chiên con" của mình. Ðánh mất bản chất hiền lành, họ không thể thực hiện sứ mệnh hòa bình giữa muôn dân. Làm sao có thể sống và thể hiện sứ mệnh đó giữa một thế hệ sa đọa gian tà này ? Ðức Giêsu đã hứa : "Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em." (Lc 10:19) Nếu tin, người môn đệ sẽ thấy tất cả sức mạnh Tin mừng. Ðể thi hành sứ mệnh hòa bình, trước tiên người môn đệ phải sống và thể hiện sứ mệnh đó ngay trong cuộc sống. Ðó là lý do tại sao Ðức Giêsu "sai các ông cứ từng hai người một." (Lc 10:1) Theo đường hướng đó, các môn đệ dễ hỗ trợ nhau và làm cho chứng từ của họ có tính cách xác thực (Ðnl 19:15) Ngay từ đầu Giáo hội đã có một cặp truyền giáo nổi tiếng là thánh Phaolô và Banaba (x. Cv 13). Các ngài đã thành công vì suốt đời không ngừng đeo đuổi sứ mệnh hòa giải và hòa bình giữa muôn dân. Còn biểu tượng nào diễn tả cảnh hòa bình cho bằng cảnh chiên con nằm chung với chó sói (x. Is 11:6; 65:25). Ðó là hình ảnh tuyệt vời đến siêu thực. Ðó cũng là sứ mệnh hòa giải khó khăn nhất người môn đệ phải thực hiện trên bước đường truyền giáo. Dĩ nhiên đứng trước sói dữ, chiên con hoàn toàn bất lực. Cũng thế, vì thiếu phương tiện tự vệ, các nhà truyền giáo cũng không thể đối đầu với kẻ thù. Ðức Giêsu đã biết trước tất cả những nguy hiểm đó. Chính Người cũng đã phải đối mặt với khổ đau và cái chết. Người môn đệ cũng phải chia sẻ cùng một thân phận. Nhưng khổ đau và cái chết không phải là dấu chỉ của sự bất lực hay thất bại. Trái lại, đó là một niềm vinh dự lớn lao như thánh Phaolô nói : "Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô." (Gl 6:14) Người mạnh mẽ bảo đảm với các môn đệ : "Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên mọi thế lực Kẻ Thù." (Lc 10:19) Các môn đệ chia sẻ cùng một quyền bính với Thầy. Quyền năng ấy phát sinh từ ánh sáng Phục sinh. Thực thế, "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất." (Mt 28:18) Các quyền lực ác thần đã bị tấn công và thảm bại nơi sứ vụ của Ðức Giêsu và Giáo hội. Trong Công vụ Tông đồ, thánh Luca thường kể lại cách thức Chúa Giêsu đã cứu các nhà truyền giáo thoát khỏi những lực lượng tiêu hủy (ví dụ 28:1-6) Những lực lượng đó là tất cả các loại ác thần, biểu tượng qua các hình ảnh rắn rết và bọ cạp (x. The New Jerome Biblical Commentary 1990:701). Chiến thắng các lực lượng đó không phải là nguyên nhân làm cho các môn đệ hăm hở trên bước đường chinh phục thế giới cho Ðức Kitô. Nguyên nhân chính là ân huệ lớn lao Chúa dành cho trên trời. Nơi đó họ hoàn toàn trở thành thụ tạo mới với tất cả niềm vui lớn lao phát sinh từ lòng Chúa xót thương. Từ đó họ mới thấy tất cả ý nghĩa và giá trị của một cuộc sống bình an và ân sủng trên quê trời. Họ trở thành công dân Nước Trời. PHÚC ÂM HÓA Nhưng để đạt mục tiêu đó, ngay từ bay giờ người môn đệ Ðức Kitô phải nhận định rõ thực tại cuộc sống và nỗ lực phúc âm hóa môi trường theo đúng sứ mệnh Chúa đã trao. Xã hội Hoa kỳ đang đối mặt với thách đố phải phúc âm hóa "một xã hội ngày càng lâm nguy vì quên mất nguồn gốc linh thiêng của mình." (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) Trong mọi cơ cấu và sinh hoạt đều đang bị trần tục hóa. Trước tình trạng đó, người môn đệ Ðức Kitô phải làm gì ? Trước hết, họ phải biết đây là "giờ hành động của giáo dân." (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) Giáo dân không còn phải là thành phần thụ động, nhưng phải tích cực hoạt động cho việc phúc âm hóa môi trường. Họ hiện diện khắp nơi. Sự hiện diện đó phải có một ý nghĩa và chiều kích mới. Chiều kích đó bắt đầu từ việc "chấp nhận thách đố. Ðiều đó đòi phải có một sự hiểu biết sâu rộng và thực tiễn về những dấu chỉ thời đại để triển khai việc trình bày đức tin Công giáo sao cho thuyết phục được người nghe." (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) Dĩ nhiên không tùy thuộc vào khoa hùng biện cho bằng một đời sống gắn liền với đức tin. Trái lại Giáo Hội Hoa Kỳ "được kêu gọi đáp ứng những nhu cầu và khát vọng tôn giáo của một xã hội ngày càng có nguy cơ lãng quên những nguồn gốc linh thiêng của mình và khuất phục trước một thế giới quan hoàn toàn duy vật và vô hồn." (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) Muốn hoàn thành sứ mệnh cao cả giữa một xã hội như thế, người Kitô hữu phải bắt đầu từ đâu ? Ðức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu "chuẩn bị cho giới trẻ đặc biệt biết đối thoại với những người đồng thời về sứ điệp Kitô và sự thích hợp của sứ điệp ấy trong việc xây dựng một thế giới công bình, nhân bản và hòabình hơn. Trên hết, bây giờ là thời điểm giáo dân được kêu gọi thi hành sứ mệnh ngôn sứ của Giáo hội mà phúc âm hóa các lãnh vực khác nhau trong đời sống gia đình, xã hội, nghề nghiệp và văn hóa, vì họ được kêu gọi uốn nắn thế gian theo Tin mừng." (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) Công cuộc lớn lao đó không thể thực hiện nếu chỉ nhắm vào cá nhân. Trái lại, "với hệ thống các cơ quan giáo dục và bác ái vĩ đại, Giáo hội Hoa Kỳ đứng trước thách đố phải phúc âm hóa văn hóa để có thể lấy ra ?những thứ mới cũ? từ kho tàng khôn ngoan của Tin mừng." (Gioan Phaolô II : Zenit 28.05.04) Sống trong xã hội Hoa kỳ, người Công giáo Việt Nam không thể không quan tâm đến những vấn đề lớn lao đó. Từ niềm tin đặc thù của mình, liệu chúng ta có thể góp phần cho Giáo hội tại đây vượt qua những thách đố của thời đại hôm nay hay không ? Chắc chắn tự bản chất linh thiêng của nền văn hóa Việt Nam, nếp sống đạo của chúng ta sẽ làm sống lại những gì đã mất trong xã hội Hoa kỳ hôm nay.
Rao giảng Tin Mừng Thưa quý vị. Tôi quen biết một tử tội sắp bị hành quyết, người mẹ đã thôi thăm viếng. Từ niên thiếu anh ta chẳng có ích chi cho gia đình ngoài những đau buồn. Anh ta đã từng vào tù ra khám nhiều lần, sống hoàn toàn ích kỉ, mọi người xa lánh dần, cuối cùng chỉ còn người mẹ theo đuổi. Anh quá hư hỏng, xì ke ma tuý, trộm cắp, lập bè kéo đảng và chơi bời. Một lần anh ta đích thân giết người, cướp của, bị bắt quả tang, lãnh án tử hình. Bố anh ta cũng là người tàn bạo, bỏ nhà ra đi biệt tăm lúc anh mới mười tuổi. Nhiều năm trời bà mẹ một mình thăm nuôi con. Bà phải lặn lội quãng đường vài chục cây số để đến nhà tù hàng tháng. Bà chẳng giàu có chi, lâu ngày cạn kiệt kinh tế. Tuy nhiên bà vẫn cố gắng sống trọn tình làm mẹ, đều đều tiếp tế và đưa những tin tức về gia đình, thân nhân, xóm làng. Bà muốn trực tiếp kể cho con nghe chứ không qua thư từ, người đưa tin hay các nhân viên khám đường. Cho nên khi nghe nói bà thôi thăm viếng, tôi hiểu ngay tai hoạ khủng khiếp sắp đổ xuống thân phận anh. Bởi lẽ các bà mẹ là kẻ cuối cùng thất vọng về con. Tôi cũng nhận ra rằng mọi liên hệ khác với gia đình qua bà mẹ cũng đã chấm dứt. Chẳng còn tin tức gì từ thế giới bên ngoài, và cũng chẳng ai được biết cuộc sống của anh trong nhà giam nữa. Có chăng chỉ vài tờ báo cũ hoặc từ chiếc TV nhỏ trắng đen của nhà tù. Do kinh nghiệm nhiều năm làm tuyên uý, tôi biết các bà mẹ luôn gắn bó với con, dù nó có phạm tội. Các bà luôn ở bên con những lúc khó khăn nhất, để an ủi, chăm sóc, đến nỗi người ngoài mất kiên nhẫn giùm, nói: “Bỏ quách đi cho rồi! Đeo đẳng mãi làm chi cho khổ”. Nhưng thực tế chẳng bà mẹ nào làm điều đó. Tôi hy vọng mình không quá lạc quan về các bà, nhưng điều phải công nhận là tình yêu của họ dành cho con thật mãnh liệt và độc đáo. Dân tộc Israel luôn lâm vào vòng khốn quẫn. Họ là một quốc gia nhỏ bé, vây quanh bởi các đế quốc thù địch. Nhiều lần họ đã bại trận, bị tàn phá và bị bắt đi lưu đày, làm tôi thiên hạ. Họ cần sức mạnh và quyền lực để khôi phục. Cho nên họ quan niệm Thiên Chúa, Đấng bảo vệ họ, thuộc phái nam. Đúng là một ước mơ hợp lý. Bởi lẽ phái nam có nhiều sức mạnh. Đức tính cần thiết cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Dân tộc nào cũng cần đến đức tính đó, cho nên dân Israel luôn quan niệm Thiên Chúa là Cha để bảo đảm hạnh phúc cho mình. Còn thực tế thì Thượng Đế vô hình đâu thuộc phái nào? Dầu vậy, trong bài đọc một hôm nay, tiên tri Isaia lại so sánh Thiên Chúa với người mẹ: “Các ngươi sẽ được nuôi nấng bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông và nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền yên ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy”. Đối với những tù nhân, việc mô tả Thiên Chúa như người cha không giúp đỡ được mấy. Người cha thường nghiêm khắc, hay đánh đòn, hay trừng phạt con và làm cho chúng sợ hãi. Nhà tù chính là hình ảnh người cha mà các con thường có trong đầu óc. Duy chỉ có người cha yêu thương theo lời Chúa Giêsu mới có thể mang lại an ủi cho những linh hồn cần giúp đỡ, mở rộng tầm nhìn của chúng ta khi cầu nguyện. Ngoài ra, nếu nhấn mạnh nam tính nơi Đức Chúa Trời như trong Cựu ước, có thể gây thiệt hại cho lòng đạo đức của tín hữu. Bởi nó giới hạn quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa. Thực ra Thiên Chúa là một mầu nhiệm không ai hiểu thấu, không một biểu tượng nào có thể diễn tả đầy đủ về Ngài. Trong cơn khốn cùng, dân Israel cần một sự tái sinh, cần một nền tự do độc lập, tiên tri Isaia đã đưa ra hình ảnh một phụ nữ đau đớn sinh con, ngõ hầu nói lên Thiên Chúa đang hành động như vậy để cứu vớt tuyển dân. Điều này thật cảm động, cho biết Thiên Chúa yêu mến dân Do Thái biết ngần nào. Đất nước của Isaia phải nhìn vào hình ảnh này để sửa chữa lỗi lầm, từ bỏ tà thần, phản bội và bắt đầu một cuộc sống mới tự do, trung tín. Đây cũng là bài học lớn cho các tín hữu ngày nay. Với lòng yêu thương nhất mực, Thiên Chúa cũng muốn giải cứu chúng ta khỏi mọi ràng buộc, tù túng và câu lệ vô lý. Chúng ta phải được tự do tiếp cận Thiên Chúa trong chân lý và lẽ phải. Thờ phượng Ngài với cương vị một người con chứ không phải nô lệ. Mọi ràng buộc bởi tội lỗi phải bị phá bỏ, Thiên Chúa của Isaia hôm nay không cao sang và trừu tượng, nhưng là một bà mẹ dễ gần gũi. Bà đau đớn sinh con và săn sóc hết tình yêu mến. Thiên Chúa cũng vậy đối với dân tộc Israel và với chúng ta, Ngài không thể lãnh đạm hay quên lãng sau ngần ấy vất vả? Quan niệm Thiên Chúa là một bà mẹ gây nên nhiều an ủi cho các linh hồn đau khổ vì những gian truân cuộc đời. Bài đọc 2 nói rõ hơn công lao giải cứu của Thiên Chúa qua Đức Kitô Giêsu. Sau nhiều kinh nghiệm, thánh Phaolô kêu lên: “Thưa anh em, ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì nữa ngoài thập giá Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta”. Thiên Chúa đã cho Phaolô cảm nghiệm cuộc đời của ông vô tích sự nếu không nhờ thập giá. Nó mang lại bình an, hạnh phúc và tin tưởng cho ông: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới”. Như vậy đối với Phaolô điều an ủi và có giá trị duy nhất là đau khổ của Đức Giêsu, qua đó Thiên Chúa giải phóng chúng ta khỏi ràng buộc tội lỗi. Cũng như người mẹ qua đớn đau mà sinh ra một người con đầy sức sống và hy vọng. Thế giới cũ bị cột chặt vào Ađam và luật Môsê. Một thế giới mới được sinh ra từ cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Như vậy Chúa Giêsu là Ađam mới và nhân loại sẽ tìm thấy nơi Ngài một dòng giống mới, đó là Hội Thánh. Cho nên mọi tín hữu phải được Hội Thánh sinh ra để có sự sống mới và phải hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Giêsu. Nơi các tín hữu, con người cũ phải bị loại bỏ để mặc lấy Đức Kitô. Từ “mặc” ở đây mang nhiều ý nghĩa, trước hết là công nghiệp của Ngài. Chúng ta mặc lấy công nghiệp của Chúa Giêsu để nên công chính. Điều này tự thân chúng ta không làm được, nhưng phải nhờ Đức Kitô “mặc” cho trước tôn nhan Thiên Chúa để trở nên thánh thiện. Sau đó Ngài mặc cho tước vị làm con, ngõ hầu hưởng bình an và lòng thương xót. Cuối cùng “mặc” lấy lối sống của Ngài. Lối sống hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34). Vì thế, Ngài nhất quyết đi lên Giêrusalem để chịu thương khó (Lc 9,51), sự thương khó ấy nảy sinh bình an, ơn cứu độ cho nhân loại. Cho nên thánh Luca, tiếp theo bài Tin Mừng tuần trước, kể lại việc Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Nước Trời. Đây là đoạn Phúc Âm đặc biệt, chỉ có thánh Luca ghi lại. Chúng ta nhớ tuần trước Chúa Giêsu kêu gọi các tông đồ: “Hãy theo Ta”, bất chấp những khó khăn riêng tư của từng người. Tuần này, Ngài chỉ định 72 ông đi trước Ngài vào rao giảng trong các thành và làng mạc mà Ngài sẽ tới. Họ sửa soạn tinh thần dân chúng cho sứ vụ của Chúa Giêsu. Với cánh đồng thế giới mênh mông 12 tông đồ không đủ. 72 cũng còn quá ít, thợ gặt luôn luôn thiếu thốn, cho nên Chúa thôi thúc các môn đệ cầu xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt. Thực ra, thời Chúa Giêsu không thiếu nhân viên trong đền thờ Giêrusalem và trên toàn cõi đất Giuđêa; nhưng thợ gặt chính hiệu thì hiếm. Thợ gặt Nước Trời lại càng hiếm hơn. Chúa sai họ đi từng đôi để làm chứng cho sự thật và bày tỏ tình bác ái. Vì theo luật Môsê, sự thật được nói lên bởi hai nhân chứng và tình bác ái trong cộng đoàn. Họ không được miễn trừ khỏi những nguy hiểm, trái lại luôn gặp gian nan và bách hại: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”. Điều kiện đầu tiên rao giảng có hiệu quả là nghèo khó: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị và giày dép”, đời sống của các nhà truyền giáo hơn hai mươi thế kỷ qua đã chứng minh chân lý này; càng dùng những phương tiện giàu có càng không hiệu quả. Thánh Đaminh, thánh Phanxicô Khó Khăn, thánh Têrêsa thành Calcutta là những nhà truyền giáo vĩ đại, nhưng chỉ bằng phương tiện khó nghèo. Chúng ta hô hào truyền giáo bằng xa hoa thì nhất định thất bại, bởi lẽ trong tận đáy lòng con người sự thật và nhân đức hằng tiềm ẩn, mỗi khi gặp thiên thời địa lợi là nảy mầm, sinh hoa trái. Tựa như chiếc đàn gặp người nghệ sĩ tài ba sẽ phát những âm thanh du dương. Khó nghèo, khiêm nhường gặp Lời Chúa tức thời sinh hiệu quả. Những nhà truyền giáo ưa thích giàu sang và tiện nghi không thể kiếm được linh hồn thiên hạ. Điều kiện thứ hai là khẩn trương rao giảng Tin Mừng: “Đừng chào hỏi ai dọc đường”. Đây là dấu vết còn lại của các nhà rao giảng thời thánh Luca, các vị ưa la cà trong các hành trình giảng đạo, chọn ở lại những nơi giàu sang, phú quý và được người ta tiếp đón hẳn hoi. Còn khi gặp nơi nghèo khó thì họ vội vàng đi ngay. Thói tục này ngày nay vẫn tồn tại và nhiều khi tệ hại hơn. Trong nhiều giáo xứ, các tín hữu thường phàn nàn không được cha xứ lưu tâm lui tới, bởi họ nghèo khó không có chi để tiếp đón các ngài. Ngược lại, những nơi giàu sang thì được ưu ái hơn. Âu cũng là chuyện thường tình! Nhưng người tông đồ phải vượt qua khó khăn này thì công cuộc truyền giáo mới hy vọng kết quả. Khẩn trương rao giảng còn đòi hỏi nhiều đức tính khác như tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho giáo dân, hy sinh tài đức vì Tin Mừng, tính khoa học trong công việc. Điều thứ ba Chúa căn dặn là đem bình an của Ngài cho những dân tộc và linh hồn biết đón nhận. Thứ bình an này khác với an toàn thế gian. Nó tồn tại ngay cả trong gian nan thử thách hay hiểm nguy tính mạng. Các thánh đã từng kinh nghiệm và gọi nó là an bình nội tâm. Bình an của Chúa Giêsu không chi lay chuyển nổi. Bởi được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Tính bền vững của nó không hệ tại bảo đảm vật chất mà là sự trung tín của Chúa Giêsu, tức sự hiện diện của triều đại Thiên Chúa trong linh hồn mình. Những ai được hưởng bình an này luôn bày tỏ vui tươi trong cuộc sống, bất chấp mọi khó khăn gian khổ. Họ làm gì cũng thành công và lôi cuốn nhiều linh hồn đến với mình. Họ như ngọn đèn cháy sáng lôi cuốn thiêu thân. Các thánh lập dòng có thể là một ví dụ. Tuy nhiên, không phải mọi người đều chấp nhận bình an của Đức Kitô. Thực tế có rất nhiều linh hồn từ chối, bởi thứ bình an này đòi hỏi nhiều điều không thích hợp với xác thịt con người. Chúa Giêsu căn dặn: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân, chúng tôi cũng xin trả lại các ông”. Nghĩa là họ đã bị kết án rồi, bởi không nghe lời Thiên Chúa. Các môn đệ ra đi và làm đúng như Chúa Giêsu chỉ bảo. Kết quả thật lớn lao. Các ông hoan hỷ trở về thuật lại. Chúa khen các ông mà nói: “Thầy đã trông thấy Satan từ trời rơi xuống như tia chớp”. Tức thế lực địa ngục đã bị các ông đập tan. Nước Thiên Chúa bắt đầu hiển trị. Còn mơ ước nào cho việc truyền giáo đẹp đẽ hơn? Giả tỉ 72 môn đệ làm theo ý riêng thì kết quả chắc chắn không như vậy. Nhưng ngày nay chúng ta vẫn chưa học được kinh nghiệm, vẫn ưa thích huynh hoang, rùm beng. Tóm lại, sợi chỉ đỏ xuyên suốt các bài đọc hôm nay là: Dù thế giới có bị tan nát, lưu đày như số phận của dân Do Thái và thành thánh Giêrusalem trong bài đọc 1, thì vẫn còn hy vọng. Bởi lời tiên báo cứu vớt của ngôn sứ Isaia. Lời này được thực hiện khi Chúa Giêsu sai các tông đồ và môn đệ đi rao giảng Nước Trời và bình an của Ngài. Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được hạnh phúc ấy nên nói: “Thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi và tôi đối với thế gian, nhờ thánh giá Chúa Giêsu Kitô”. Mọi tín hữu cũng sẽ cảm nghiệm như thánh nhân, nếu chúng ta biết hết lòng theo Chúa không chần chừ và tháo lui. Thế giới sẽ thoát vòng kiểm toả của Satan. Thiên đàng chắc chắn thuộc về mọi linh hồn. Amen.
Những Người Được Sai Đi
Một cộng đoàn có nhiều thành phần Đoạn Tin Mừng của thánh Luca cho độc giả cái nhìn tổng quát về cách thức Đức Giêsu quan niệm và tổ chức hoạt động của Người. Đức Giêsu đã chọn mười hai Tông Đồ : đó là một kế hoạch. Đối với người Do-thái, việc quy tụ mười hai chi tộc Ít-ra-en là sự kiện đánh dấu triều đại Thiên Chúa đã khởi đầu. Nhóm Mười Hai chính là hình ảnh tượng trưng cho việc quy tụ này. Ngoài Nhóm Mười Hai, còn có những người thường xuyên đi theo Đức Giêsu trong các cuộc hành trình. Họ đã từ bỏ gia đình và mọi sự để đi theo Người. Họ là những người phục vụ dân Ít-ra-en mới đang được sinh ra. Lại có những người ở một chỗ. Họ cũng là những người gắn bó với Đức Giêsu, nhưng Người không đòi hỏi họ phải giữ những điều kiện như những người thuộc các nhóm trên. Những người này tạo nên một nền tảng bền vững, những người đón tiếp và trợ giúp các Tông Đồ về phương diện vật chất. Họ là những nhóm nhỏ cư ngụ tại các làng mạc hay tại các thành phố. Họ là những người nhiệt thành và sẵn sàng đáp ứng khi cần. Vậy, trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu biết rằng giờ quyết định đã điểm, nên Người đẩy tiến độ công việc đi nhanh hơn : mùa gặt đã đến ! Ông chủ đưa ra hiệu lệnh thu gom. Công việc lúc này của Đức Giêsu không phải là nhằm thuyết phục những người từ chối lời mời gọi của Tin Mừng. Trong nhãn quan của Đức Giêsu, Ít-ra-en mới sẽ nên hấp dẫn trước hết nhờ chứng tá. Đàng khác, Ít-ra-en mới không chỉ thu họp những con chiên lạc mà sau này sẽ nhận ra vị chủ chăn đích thực, nhưng Ít-ra-en mới này còn xuất hiện như một ngọn đuốc giữa thế giới, làm cho dân ngoại phải ngỡ ngàng thán phục. Như thế, các môn đệ của Đức Giêsu có nhiệm vụ đi loan báo và bày tỏ sự sinh ra của thế giới mới. Vương quốc của Xa-tan bị sụp đổ và vương quốc của Thiên Chúa được sinh ra. Vương quốc này đem lại bình an, như lời Đức Giêsu nhắn nhủ các môn đệ trước khi sai các ông đi. Cộng đoàn được sai đi Trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, Nhóm Mười Hai là những người gắn bó chặt chẽ với Người. Các ông là những người được Đức Giêsu huấn luyện cách đặc biệt, và cũng là những người thường xuyên trao đổi với Đức Giêsu. Theo Tin Mừng Mát-thêu, các ông là những người được Đức Giêsu kêu gọi, được Người ban cho quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền (x. Mt 10,1). Mười hai Tông Đồ vì có mười hai chi tộc Ít-ra-en. Con số này là biểu tượng thích hợp cho thấy rằng cách hành động của Đức Giêsu vẫn nằm trong đường hướng vốn có của Thánh Kinh : một nhóm nhỏ những người tin, được Thần Khí tuyển chọn và soi sáng. Cộng đoàn ấy là những người đem Tin Mừng cho toàn thế giới. Cộng đoàn ấy sẽ bất trung nếu chỉ dành riêng cho mình, nếu chỉ nghĩ đến mình. Ngược lại, cộng đoàn ấy sẽ trung tín một khi phát triển thêm mãi, đến vô tận. "Cho đến tận cùng cõi đất." Vậy, nhiều lần trong Tin Mừng, người ta thấy cộng đoàn Tông Đồ đã phát triển vượt trên số mười hai. Ở đây là "bảy mươi hai người khác." Những con người này phải có những phẩm chất nào ? Chắc chắn các ông là những người "đã thấy và đã nghe", đã cảm thấy bị thôi thúc từ bên trong do sứ điệp của Đức Giêsu gợi lên. Chính sự thúc đẩy này là một lệnh truyền sai đi, một thư ủy nhiệm "Hãy đi nói ..." Như vậy, sự hiểu biết về Đức Giêsu càng tăng thêm thì cộng đoàn các môn đệ càng mở rộng thêm, thì mười hai trở thành bảy mươi hai... và mười hai lần bảy mươi hai. Trong cộng đoàn này, mọi thành viên đều có trách nhiệm làm cho cộng đoàn thêm mở rộng nhờ sự hiểu biết sâu xa hơn về Đức Giêsu. Như mười hai chi tộc của Ít-ra-en, cộng đoàn ấy trở thành như một hạt giống được gieo vào lòng đất. Hạt giống ấy tiềm ẩn một sức mạnh và sẽ mọc lên, vươn thành một cây rất lớn. Từ cộng đoàn này, các ông được sai đi, hai người một. Điều này cho thấy Tin Mừng chỉ xuất hiện thực sự nhờ lời chứng của nhiều người. Đó là lời loan báo của một Hội Thánh thu nhỏ. Và nhóm hai người đó không giữ nguyên tình trạng này. Sẽ có thêm người thứ ba, tức là những người sẽ nghe và sẽ tin. Sau đó, đến lượt họ lại trở thành bạn hữu, trở thành môn đệ. Các môn đệ được sai đi để làm gì ? Không phải để thâu nạp thêm hội viên nhằm củng cố sức mạnh của cộng đoàn nhờ số đông. Các ông được sai đi để loan báo : "Triều đại Thiên Chúa đã đến gần." Các môn đệ do Đức Giêsu sai đi có sứ mạng rõ rệt là loan báo rằng con người hoàn toàn không thể hiểu được nếu không có Thiên Chúa, con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, và điều tốt đẹp nhất họ vẫn khao khát nay đã có trong Tin Mừng Đức Giêsu. Họ không còn phải chờ đợi một người nào nữa. Trong Đức Giêsu, nhân loại đã có những lời đem lại sự sống vượt trên sự chết. Cùng với lời cầu nguyện Yếu tố vững bền nhất của Kitô giáo là lệnh truyền không bao giờ được ngừng lại, phải luôn tiến về phía trước. Hội Thánh vẫn còn là một phần nhân loại trong đó Đức Kitô bắt đầu tìm kiếm khuôn mặt đích thực của Người: vẫn còn những người khác đang ở bên ngoài, Hội Thánh có sứ mạng đưa họ về gia nhập. Mục đích của sứ vụ tông đồ không chỉ là tìm kiếm thành công, nhưng là chuẩn bị giúp con người gặp gỡ với Đức Kitô. Chúng ta là những người truyền giáo, chúng ta có nhiệm vụ dọn đường. Nếu chúng ta có chịu vất vả, đó chính là vì Đức Kitô, chính Người thôi thúc chúng ta tiếp đón người khác, và cũng chính Người là Đấng mà chúng ta phải bày tỏ. Thiên Chúa cần đến chúng ta, nhưng chính Người điều hành. Như thế, chúng ta hiểu được mối liên hệ thâm sâu giữa lời cầu nguyện và hoạt động tông đồ. Cầu nguyện, đó là xin Thiên Chúa thi thố quyền lực vô cùng lớn lao cho chúng ta là những tín hữu (x. Ep 1,19), đó là đưa mũi khoan vào tầng sâu của nhân loại để làm vọt lên nguồn nước là chính Đức Kitô. * * * Thật là điên rồ khi hy vọng con người lắng nghe nhau; thật là uổng công vô ích khi phàn nàn than van; thật là đáng xấu hổ khi kêu la gào thét. Lạy Thiên Chúa, xin cho con khám phá thấy sự êm dịu của việc cầu nguyện. theo Pierre-Henri Simon
Chúa sai đi Trong ba năm truyền giảng Tin Mừng, có thể nói, Chúa Giê-su có rất đông người đi theo làm môn đệ, ngoài 12 người được Chúa kêu gọi và đặt làm tông đồ, còn có nhiều người khác nữa, bằng chứng : bài Tin Mừng cho biết Chúa sai 72 môn đệ đi rao giảng. Đúng vậy, Chúa Giê-su có rất đông môn đệ, các ông luôn đi theo Chúa, được nghe những lời Chúa giảng dạy và chứng kiến những việc Chúa làm. Sau một thời gian huấn luyện như vậy, Chúa sai các ông đi tập sự truyền giảng, tức là cách huấn luyện thực hành. Nhưng vì là lần đầu tiên các ông đi hoạt động truyền giáo, có lẽ chưa có kinh nghiệm gì, nên Chúa đã chỉ bảo cho các ông những điều cần thiết như bài Tin Mừng ghi lại. Trước hết, về cách sống trong khi đi truyền giảng. Chúa bảo các ông phải sống khó nghèo và phó thác, nghĩa là không có chút của gì có thể là dư thừa, mà chỉ nên có những gì là nhu cầu tối thiểu. Đừng mang túi tiền, ngay cả chút tiền lẻ giắt trong lưng để phòng thân cũng không cần; bao bị đi đường cũng không cần, vì có mang theo đồ gì đâu mà phải có bao bị để đựng; cũng không cần mang giầy dép, vì tông đồ có thể đi chân không trên các nẻo đường truyền giáo. Tóm lại, Chúa bảo các ông phải có tinh thần hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa quan phòng, ai lo tìm vinh danh Chúa thì Chúa sẽ lo cho họ mọi sự. Thứ hai, về cách đối xử với mọi người, Chúa bảo : đừng chào hỏi ai dọc đường. Không phải Chúa bảo sống bất lịch sự đâu, nhưng đừng để mất thời giờ vào những chuyện không cần thiết. Rồi đến nhà nào, hãy chúc bình an cho nhà ấy. Các tông đồ là những sứ giả bình an, mang bình an đến cho những ai có lòng thành tâm đón nhận Tin Mừng nước trời. Còn nếu các tông đồ chúc sự bình an cho họ mà họ lại không xứng đáng, thì chính các tông đồ sẽ được hưởng sự bình an đó. Trong trường hợp các tông đồ đến truyền giáo ở nơi nào mà người ta từ chối không đón nhận các ông thì sao? Chúa cho phép các ông ra khỏi nơi đó và ngay cả bụi cát dính ở chân cũng hãy giũ trả lại họ để làm chứng tố cáo họ. Thứ ba, về nội dung các tông đồ sẽ rao giảng. Đó là rao giảng Tin Mừng Nước Trời, loan báo cho mọi người biết: “Nước Trời đã đến gần”. Đây cũng là đề tài truyền giảng của Gio-an Tẩy Giả, của chính Chúa Giê-su, và cũng là sứ mệnh của Giáo hội sau này cho đến tận thế. Đồng thời Chúa cũng ban cho các ông quyền xua trừ ma quỷ và làm nhiều phép lạ để củng cố lời giảng của các ông. Sau hết, để kết thúc những huấn thị truyền giáo, Chúa lưu ý các môn đệ phải đề phòng thái độ đừng tìm kiếm hư danh hay tự hào không chính đáng, không cần lấy điểm với người đời, nhưng phải nhằm làm vinh danh Chúa, mưu ích lợi cho các linh hồn. Như thế, chắc chắn các ông sẽ được phần thưởng lớn lao trên trời. Đó là ý nghĩa của bài Tin Mừng. Còn chúng ta hôm nay thì sao ? Chúa có sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng không ? Mỗi người chúng ta khi đã chịu phép rửa tội và thêm sức là chúng ta đã trở thành môn đệ được Chúa sai đi rao giảng Tin Mừng. Mỗi người hãy cố gắng trở thành một nhà truyền giáo, tùy hoàn cảnh và cách thế riêng của mình. Vậy chúng ta có thể rao giảng thế nào ? Có nhiều cách, chúng ta muốn theo cách nào cũng được, nhưng nhất thiết không thể bỏ qua hay thiếu hai cách sau, là cầu nguyện cho việc truyền giáo và sống đời sống chứng nhân. Trước hết, cầu nguyện cho việc truyền giáo. Đây là việc quan trọng hàng đầu, thiếu cầu nguyện, hoạt động sẽ không kết quả. Có thể nói, cầu nguyện là linh hồn của hoạt động truyền giáo, nó đem đến cho những hoạt động một sức sống kín múc tận đầu nguồn sứ mạng. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giê-su cũng đã nói : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”, nghĩa là sự cộng tác mà Chúa đòi hỏi nơi chúng ta để có thêm số thợ gặt, có tính cách siêu nhiên, là cầu xin, cầu nguyện, bởi vì không phải ai cũng có thể đi đây đó truyền giáo, nhưng cầu nguyện cho việc truyền giáo thì ai cũng có thể làm được. Hơn nữa, cầu nguyện còn chứng tỏ lòng tin tưởng, cậy trông của chúng ta, bởi vì từ việc sai thợ gặt đến cánh đồng truyền giáo cho đến việc cứu độ thực thụ là làm cho người ta chấp nhận Tin Mừng, trở về với Chúa, tin theo Chúa…tất cả đều do Chúa. Vì thế, cầu nguyện cho việc truyền giáo là một việc rất quan trọng và cần thiết. Thứ hai, chúng ta hãy truyền giáo bằng chính đời sống của mình. Đây là cách truyền giáo tốt nhất và hữu hiệu nhất, truyền giáo bằng đời sống tốt đẹp của chúng ta. Chúng ta hãy sống tốt đẹp trong gia đình, với xóm ngõ, trong giáo xứ và với những người chung quanh, bất kỳ là lương hay giáo, có đạo hay không. Một đời sống đạo đức, chân thành, cởi mở, yêu thương là một tấm gương sáng trước mặt mọi người, đặc biệt là thể hiện tình yêu thương của chúng ta. Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta đã nói : “Truyền giáo hữu hiệu nhất là dùng cả cuộc sống của mình để làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Giê-su. Truyền giáo không chỉ là rao giảng một giáo lý mà thiết yếu là chia sẻ một cuộc sống yêu thương”. Như vậy, gương sáng và tình yêu thương là bằng chứng cho người ta nhận ra Thiên Chúa. Có nhiều người không bao giờ thấy chúng ta cầu nguyện sốt sắng ở nhà thờ, vì họ có đạo đâu mà đến nhà thờ, nhưng họ thấy cách chúng ta biểu lộ tình thương với họ hay với những người chung quanh mà họ nhận ra Thiên Chúa của tình yêu. Nếu chúng ta sống thực sự yêu thương thì không ai có thể đánh giá sai lầm về đạo Chúa, khi chúng ta chứng minh tình yêu bằng đời sống tốt thì chúng ta thực sự trở nên những người bạn tốt của nhau. Chúng ta hãy suy nghĩ : chúng ta đã làm gì, đang làm gì để đóng góp phần mình vào công cuộc truyền giáo của Giáo hội, đăc biệt trong việc cầu nguyện và đời sống chứng nhân của chúng ta.
Lúa Chín Thì Nhiều Mà Thợ
Gặt Lại Ít LỜI DẪN Kính thưa cộng đoàn, Trong thế giới ngày nay, những nơi chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều nhưng lại thiếu những tông đồ nhiệt tâm, dấn thân, ra đi rao giảng Tin Mừng. Sứ vụ loan báo Tin mừng là bản chất của Giáo hội. Vì thế, Giáo hội không ngừng kêu gọi mọi người hãy nhiệt tâm ra đi rao giảng lời Chúa, đem Chúa đến những nơi chưa biết Tin mừng. Chúng ta là những đoàn chiên của Giáo hội, vì thế, sứ vụ này cũng là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Trong tâm tình đó, chúng ta cùng nhau quỳ trước Thánh Thể Chúa, xin Ngài ban cho Giáo hội nhiều tông đồ nhiệt thành, dám dấn thân ra đi loan báo Tin Mừng ở khắp mọi nơi. Xin cho ơn gọi tông đồ trong Giáo hội ngày càng gia tăng để có nhiều thợ gặt mang những bó lúa về cho chủ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, trên thế giới hiện nay có hơn sáu tỉ người, mới chỉ có hơn một tỉ người là người Kitô hữu. Con số chênh lệch này nhằm nói lên rằng : số người chưa nhận biết Chúa còn rất nhiều, như Chúa đã từng nói với các môn đệ năm xưa : “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Vì thế, ngày nay Giáo hội rất cần có những tông đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa ; rất cần những tông đồ có tinh thần dấn thân đem ánh sáng lời Chúa đến những nơi tối tăm, đem niềm vui đến những nơi sầu khổ…. Đối với Chúa, việc truyền giáo, rao giảng Tin Mừng là một mối lo âu khắc khoải. Điều này đã được thể hiện trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã chỉ định và sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng. Khi sai đi, Chúa đã nói với các ông : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi” (Lc 10, 2-3). Mệnh lệnh sai đi loan báo Tin Mừng của Chúa đối với các môn đệ năm xưa không mất đi nhưng vẫn còn vang vọng, kêu gọi khẩn thiết đối với Giáo hội, với mọi người kitô hữu chúng con trong thời đại hôm nay. Người muốn mỗi người chúng con mang Tin Mừng đến khắp mọi nơi như năm xưa người đã nói với các môn đệ : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 5). Quả thực, sứ vụ loan báo Tin Mừng là bản chất của Giáo hội. Sứ vụ này không chỉ dành riêng cho những tu sĩ, linh mục mà cho tất cả mọi người chúng con. Bởi vì, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng con đã được tham dự vào đoàn dân riêng của Chúa, chúng con mang vào mình sứ vụ ngôn sứ là loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Vì thế, mỗi người chúng con đều có bổn phận loan báo Tin Mừng tùy theo chức phận của mình trong Giáo Hội. Bổn phận loan báo Tin Mừng cũng được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trình bày trong cuốn sách “Nói với bạn trẻ hôm nay” như sau : “Toàn thể hội thánh đón nhận lệnh truyền của Đức Kitô : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 5). Vậy tất cả hội thánh có tính thừa sai và phúc âm hóa, sống trong một tình trạng truyền giáo liên lỉ. Làm Kitô hữu nghĩa là làm những người thừa sai tông đồ, khám phá ra Đức Kitô chưa đủ, phải mang Người đến cho người khác nữa !”. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con ý thức rằng : mỗi người đều có bổn phận trong việc loan báo lời Chúa, đem Chúa đến cho mọi người. Xin cho chúng con dám ra đi khi nghe thấy tiếng Chúa mời gọi như các tông đồ năm xưa đã mau mắn ra đi khi nghe tiếng Chúa gọi mời : “Các môn đệ ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi” (Lc 9, 6). Xin cho chúng con can đảm nói về Chúa, can đảm làm chứng về đức tin bằng lối sống của chúng con, lối sống được kín múc ra từ Tin Mừng. “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2). Do đó, để có nhiều thợ gặt lành nghề, nhiệt tâm ; muốn có nhiều thợ gặt xung phong vào cánh đồng phì nhiêu kia, Chúa đã dạy chúng con phải cầu nguyện. Chúa đã từng nói với các môn đệ năm xưa : “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 3). Người chủ ruộng đó chính là Thiên Chúa, Ngài làm chủ sự sống, làm chủ ơn cứu độ. Chính Người sẽ ban cho chúng con những thợ gặt khi chúng con cầu khẩn người. Cầu nguyện là công việc của mọi người và có thể làm bất cứ lúc nào. Cầu nguyện còn chứng tỏ lòng tin tưởng, phó thác, cậy trông của chúng ta vào nơi Chúa. Chúng ta tin rằng Chúa luôn đồng hành và giúp ta trong mọi công việc : từ việc sai thợ gặt đến cánh đồng truyền giáo cho đến rao truyền lời Chúa để người ta chấp nhận Tin Mừng, trở về với Chúa… tất cả đều do ân sủng của Chúa. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin gởi đến cho nhân loại nhiều thợ gặt lành nghề, thợ gặt nhiệt tâm. Xin cho ơn gọi tông đồ trong Giáo hội ngày càng gia tăng để có nhiều thợ gặt mang những bó lúa về cho chủ. Xin cho mọi người chúng con trong sứ vụ loan báo Tin Mừng luôn biết tín thác vào Chúa, luôn biết chạy đến Ngài để kín múc lòng nhiệt huyết rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Amen.
Như Người Mẹ Hiền Thưa quí vị, Đọc bản văn tiếng Việt, chúng ta khó có thể nhận ra ngụ ý của Isaia đệ tam trong bài đọc 1 hôm nay. Thực ra, trong nguyên gốc thì tác giả dùng tới ba thì: quá khứ, hiện tại, tương lai. Chính ở trong cách dùng “thì” này mà ý nghĩa của sứ điệp được rõ ràng, và nhờ đó độc giả của ông nhận ra những gì đã qua, nhưng chỉ ở hiện tại và hy vong ở tương lai. Bản văn nói đến cả hai nội dung vui mừng và buồn đau, nhưng ở trong các giai đọan khác nhau: Quá khứ, hiện tại thì đau buồn, chua xót và ân hận, nhưng tương lai đầy hy vọng và ủi an. Giêrusalem và dân Do Thái đã bại trận tan hoang. Dân số giảm thê thảm vì những người tài giỏi, khéo chân tay, sản xuất nhiều đều bị lùa đi đày sang Babylone. Từ đó họ hướng về Giêrusalem và quê hương mà khóc than, nhớ nhung. Isaia gióng tiếng an ủi họ nhân danh Thiên Chúa: “Đức Chúa phán thế này: Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành đô mà hoan hỉ, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành đô.” Họ sẽ được trở về Giêrusalem, được giải thóat khỏi những nhục nhằn của kiếp sống nô lệ trên đất khách quê người. Tuy nhiên cuộc trở về của họ còn in đậm nét u sầu khi nhìn thấy đổ nát. Và điều làm cho đau xót tăng thêm là trách nhiệm của tuyển dân, nhất là của những thủ lãnh cầm quyền. Điều họ trông thấy trước mắt là hậu quả của phản bội, tội lỗi, bất trung với Giao Ước mà cha ông đã ký kết với Giavê. Thật đau đớn biết bao những hậu quả của lãnh đạo sai lầm và lựa chọn tội lỗi. Đây cũng là kinh nghiệm cảnh cáo các linh hồn mọi nơi mọi thời. Chúng ta chẳng những cảm nghiệm tan nát về tội lỗi cá thể, nhưng còn chứng kiến tai họa, đổ vỡ cộng đòan, xã hội, quốc gia, quốc tế nữa. Những cuộc bại trận, dịch họa phải chăng là do tội lỗi chúng ta gây nên? Chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm chung vì những tan rã ấy. Tội của một xã hội không những bày tỏ trong chia rẽ, chiến tranh, hận thù, bạo lực, cô lập của xã hội ấy mà còn ảnh hưởng đến xã hội tòan cầu. Thí dụ, lạm dụng tài nguyên quá đáng, khí thải chất độc vào môi trường sinh thái của trái đất, sản xuất ma túy, thuốc phiện vô lương tâm ảnh hưởng nguy hại đến tòan thể nhân lọai, chứ không riêng một đất nước nào! Chẳng khó mà xác quyết lỗi lầm đối với những người gánh chịu thân phận tha hương khi nhìn thấy cảnh điêu tàn Giêrusalem và họ than khóc vì quá khứ của mình. Nhưng rất khó cho chúng ta nhận ra sai lầm và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai! Bài đọc 1 hôm nay trích từ chương cuối cùng của Isaia đệ tam (Trito-Isaia) thông điệp sau hết cho những người sống sót từ cuộc lưu đày trở về. Nó không phải là những lời khiển trách, nhưng an ủi vỗ về. Không phải là “nhìn xem đấy, tội lỗi của dân gây ra” mà là sấm ngôn của hy vọng và cứu vớt bằng các hình ảnh cụ thể: Giêrusalem sẽ được phục hồi, xứ sở được xây dựng lại: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành đô ơn thái bình tựa dòng sông cả và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ”. Việc phục hồi bất khả thi sẽ trở thành hiện thực. Dĩ nhiên không phải là do bàn tay lòai người, mà do quyền năng của Thiên Chúa. Ngài sẽ xây dựng lại Giêrusalem huy hòang rực rỡ hơn cũ. Isaia đệ tam tuyên bố như vậy: “Để được Thành đô cho hưởng trọn niềm an ủi, được thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ”. Isaia chuyển hướng đột ngột trong việc công bố tin vui: Chẳng phải Giêrusalem an ủi các con cái mình. Lúc này họ đang than khóc trước hoang tàn, mà là Thiên Chúa sẽ là bảo mẫu của họ qua Giêrusalem: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy”. Khi tôi rao giảng trong các nhà tù, tôi cảm nghiệm thất bại mỗi khi đưa ra hình ảnh người “cha” để tượng trưng Thiên Chúa – mặc dù Tân Ước luôn dùng hình ảnh ấy. Bởi vì tôi nhận ra rằng các phạm nhân thường mặc cảm về bố của họ. Họ tưởng tượng lại những lúc bị đánh đập, bỏ đói, vũ phu, trừng phạt nghiêm nghị. Nhưng hình ảnh người ‘mẹ’ thì luôn thành công. Bởi vì bà luôn dịu dàng, tha thứ, khích lệ, không khước từ cho nên họ cảm thấy an lòng. Vậy nếu tuần tới, được giảng lễ cho họ, tôi sẽ lợi dụng tối đa tâm lý này của bài đọc 1 mà giảng giải. Tôi nắm chắc kết quả trong việc cho họ ấn tượng mạnh về Thiên Chúa yêu thương, vỗ về những số phận lạc lòai. Nên chăng chúng ta theo đường hướng này, không những cho các phạm nhân trong nhà tù, nhưng cho tất cả những linh hồn đang bị giam hãm trong các kiểu “khám đường” khác nữa! Thế giới tân thời nhiều người trẻ đang bị ám ảnh bởi quyền lực độc tài, chuyên chính, đòi hỏi. Họ cảm thấy ngay cả trong gia đình: bị bố bỏ rơi, lạc lõng, hiểu lầm, vô cảm, không chút triều mến! Họ và chúng ta cần được nghe lời Thiên Chúa đầy đủ như bài đọc hôm nay! Thiên Chúa là hình ảnh người mẹ luôn chăm sóc vỗ về. Chúng ta cần nghe Thiên Chúa cho mình bú no “bầu sữa mẹ” khi bị thế gian vùi giập, khổ đau, chứ không cần “cải tạo” để kiếm được yêu thương, thông cảm, tha thứ. Ai mà chẳng có lúc rơi vào những hòan cảnh như vậy? Chúng ta cần những người mẹ biết lắng nghe, thấu hiểu và chạy đến chạn đồ ăn thức uống lấy cho chiếc bánh nhà làm lấy! Tất cả những điều này, Thiên Chúa làm hôm nay, trên bàn thờ, trong bí tích Thánh Thể. Xin tưởng tượng ông Kha-Luân-Bố vui mừng biết bao khi khám phá Châu Mỹ năm 1492. Xin tưởng tượng các môn đệ phấn khởi biết mấy khi rao giảng thành công trở về thuật lại cho Chúa Giêsu nghe! Câu trả lời của Chúa Giêsu là: “Thầy đã xem thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống”. Nghĩa là hắn thất bại hòan tòan trước lời rao giảng của 72 môn đệ. Nhưng niềm vui của Kha Luân Bố làm sao sánh được với niềm vui của Thầy trò Chúa Giêsu? Niềm vui của Thầy trò Chúa Giêsu hệ tại truyền thông cho thế giới trầm luân Tin mừng cứu độ và sự sống vĩnh hằng. Ông Kha Luân Bố chẳng qua vì lợi lộc đời này, tương tự như các khoa học gia hôm nay khám phá ra các sáng chế, làm thăng tiến đời sống vật chất. Nhưng niềm vui rao giảng Tin mừng và ơn cứu độ lớn hơn nhiều và cũng thuộc chúng ta, và có thể đạt tới được nếu chúng ta triệt để trung thành với ơn gọi. Vì thế lời cầu nguyện hôm nay là: Lạy Thiên Chúa tòan năng, chúng con nài xin Chúa giải thóat chúng con khỏi mọi tội lỗi và dẫn đưa chúng con vào niềm vui muôn đời. Điều này chúng ta có thể chứng kiến cụ thể nơi những linh hồn làm việc tông đồ nhiệt thành và đắc lực. Thực vậy, bài đọc 1 và 3 liên hòan với nhau. Bài này soi rọi ánh sáng vui mừng lên bài kia. Niềm vui Isaia III minh họa cho niềm vui các môn đệ khi trở về từ sứ vụ rao giảng. Chúa Giêsu là Giêrusalem mới an ủi, khích lệ, nuôi dưỡng những kẻ lưu đày trần gian. Ngài đã làm trọn lời tiên báo của Isaia: “Thiên Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết” Đức Giêsu đã làm như vậy thông qua 72 môn đệ. Liệu chúng ta có được sai đi như họ? Câu trả lời là có khi chúng ta lãnh nhận các bí tích, nhất là Rửa tội và Thêm sức. Chúng ta thực sự được sai đi trước cánh đồng bao la của thế giới. Và Ngài cũng nói với chúng ta: “Lúa chín đầy đồng và thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Như vậy, thực tế, chúng ta là hiệu quả của lời cầu nguyện và phân công của Chúa Giêsu, của Hội thánh, của các Kitô hữu nhiệt thành. Xin đừng phản bội ơn gọi kẻo mắc tội trước mặt Thiên Chúa. Nhìn vào sinh họat của từng giáo xứ, chúng ta đều thấy gương sáng truyền giáo trước mắt. Lễ sinh, đọc sách, chuẩn bị phụng vụ, quét nhà thờ, kéo chuông, thăm viếng kẻ liệt, giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn… Mỗi người mỗi việc góp tay vào sinh họat chung. Chẳng lẽ họ không cộng tác với Chúa Giêsu trên cánh đồng truyền giáo hay sao? Và dĩ nhiên, họ cũng gặp những khó khăn: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Không phải lúc nào các thợ gặt của Chúa đều kinh nghiệm thuận lợi! Ngay cả những Tông đồ đã từng nếm mùi thất bại. Họ tan tác, thất vong khi Thầy bị hành hình và chết tất tưởi trên giá gỗ. Chúng ta không thể gặp may mắn hơn “đầy tớ không hơn chủ”. Tuy nhiên, chúng ta luôn phải giữ vững niềm vui: Thánh Phao Lô trong bài đọc 2 viết: “Thưa anh em, ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngòai thập giác Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” Lý do vì thập giá ấy là dấu chỉ chắc chắn tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa đối với ông, với nhân lọai, chúng ta và cũng là bằng chứng của ông và của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Không hiểu quí vị nghĩ sao về tư tưởng này? Đời sống ngại hy sinh, yêu thích nhung lụa, tiện nghi xác thịt là câu trả lời của vô số người thời nay. Điều chắc chắn là chẳng ai yêu thích khó khăn, đau khổ không lý do. Chúng ta phải yêu mến sự sống, giữ gìn sức khỏe để làm vườn nho cho Thiên Chúa. Chính Đức Kitô trong vườn Cây Dầu đã xin Thiên Chúa Cha cho mình khỏi chết. Nhưng khi cần thiết thì chúng ta làm những hy sinh, ngay cả tính mạng, Thánh ý Chúa là tuyệt đối. Nhưng nếu không tập dượt trước thì làm thế nào chúng ta sẵn sàng hy sinh? Cứ ăn ở nhung lụa, rồi bỗng dưng xả thân hy sinh được ngay thì chỉ là phép lạ. Mà phép lạ hiếm lắm. Người ta phải tập luyện hy sinh để thành tập quán, thói quen. Chính vì vậy, mà Phúc Am hôm nay, Chúa sai môn đệ đi rao giảng với điều kiện: Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường, nhưng hãy nói bình an cho nhà này.” Nghĩa là họ không nên mang theo thứ chi ngòai Chúa Giêsu. Vừa qua đài Chân lý Á Châu kể câu chuyện vui liên quan đến đề tài hôm nay. Xin ghi lại để suy gẫm: Có hai tu sĩ được sai đi loan báo Tin mừng. Một người vui vẻ đi ngay. Người khác đòi hỏi bề trên cho hành lý, tiền nong. Ong ta không chịu đi nếu không được chu cấp, buộc lòng bề trên phải cho ít tiền. Đến quãng sông vắng, trời tối, hai ông định ngủ lại bờ sông nhưng nguy hiểm vì nhiều thú dữ. Ông có tiền liền gọi đò thuê đưa sang sông. Tới nơi, họ tìm được quán trọ an tòan. Ông có tiền liền nói với bạn: Thấy chưa! Không có tiền làm sao qua sông và được thế này? Người bạn trả lời: “đúng là vì Thiên Chúa quan phòng cho anh có tiền nên tôi qua được”. Hai thầy tu đều có lý cả. Ngày nay tiền bạc là quan trọng, đi đâu cũng phải dùng, khắp nơi đều thu lệ phí, qua cầu, đường, quán trọ, xa lộ, nhà hàng, vi tính… Không có tiền thi hành sứ vụ thế nào? Nhưng tu sĩ thứ nhất nhiều lý hơn, vì Lời Chúa là sự thật tuyệt đối và lịch sử Giáo hội đã chứng minh. Công việc Chúa truyền làm đòi hỏi người ta phải hòan tòan cậy nhờ vào Thiên Chúa, tự thân, môn đệ chẳng làm được. Công việc là của Chúa, hiệu quả cũng là của Thiên Chúa, trách nhiệm thực hiện vẫn là của Ngài. Hãy để Thiên Chúa là Thiên Chúa Tòan năng. Xin đừng đảm nhận trách nhiệm về mình kẻo sinh lòng kêu ngạo. Chúng ta chỉ là đại sứ của Ngài, làm việc cho Ngài, hưởng bổng Ngài trả, chẳng liên hệ chi tới chúng ta. Tu sĩ thứ hai đã tự đảm nhận công việc cho mình. Đó là thái độ chúng ta hôm nay. Liệu có sai lầm không? Lời đầu tiên tôi phải nói với chủ nhà là: Bình an cho nhà này. Làm sao tôi có thể nói như vậy, nếu không đem Chúa Giêsu đi theo? Cho nên chúng ta phải triệt để vâng theo lời chỉ dẫn của Chúa Giêsu, tinh thần của Ngài sẽ giải quyết tất cả. Nguyện xin Ngài giúp đỡ chúng ta, những người rao giảng Lời Chúa cho thế gian. Amen.
Chiên
Con Giữa Bầy Sói Từ thế kỷ VII, Tin Mừng đã được loan báo tại Trung Hoa. Trải qua hơn chục thế kỷ, các thừa sai không ngớt tìm cách rao giảng Tin Mừng cho nước đông dân nhất thế giới này. Trong nhiều thế kỷ, cuộc truyền giáo bị khựng lại vì những thử thách và bách hại. Có thể nói lịch sử Giáo Hội Trung Hoa (GHTH) trải qua năm giai đoạn. Từ thập niên 1980, cuộc loan báo Tin Mừng lần thứ năm khởi sự. Tới nay GHTH vẫn bị bách hại. Giữa lúc GHTH đang gặp thử thách lớn lao vì những bách hại của nhà cầm quyền, ÐGH Bênêđictô XVI viết một lá thư cho dân tộc Trung Hoa. Theo linh mục Federico Lombardi, Giám đốc Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, lá thư đó cho thấy tình yêu Đức Kitô “làm cho con người đi vào một chiều kích mới, nơi lòng khoan dung và tình yêu mến đối với cả kẻ thù địch có thể làm chứng tá cho sự thắng thế của Thập giá trên mọi yếu đuối và bất hạnh của con người. Càng trở thành thuần Trung Hoa, GH càng thực sự là chính mình. Đó chính là cốt lõi thông điệp tuyệt diệu, trung thực và cao cả của ÐGH .” (1) Lá thư của ÐGH quả thực là một Tin Mừng cho người Trung Hoa. Dù bị cấm đoán và bưng bít, giáo dân Trung Hoa cũng vẫn bắt kịp nhịp sống Tin Mừng. Từ xưa tới nay, đã gặp bao nhiêu trở ngại, GHTH vẫn kiên cường. Tin Mừng vẫn tìm mọi cách lọt đến lòng người. Cuộc truyền giáo ở Trung Hoa đã có một lịch sử lâu dài hơn Việt nam rất nhiều. Tin Mừng đến với họ sớm hơn chúng ta gần 10 thế kỷ. Vậy mà tới nay, giáo dân Trung Hoa cũng chỉ mới khoảng 15 triệu trong số gần 1.5 tỉ dân số. Phải chăng Tin Mừng bất lực ? Bao giờ Nước Thiên Chúa (NTC) mới đến với dân tộc Trung Hoa ? CÔNG TRÌNH THIÊN CHÚA Ðứng trước cánh đồng truyền giáo bao la là Á châu, nhất là Trung Hoa, ÐGH Gioan Phaolô II đã hướng tầm nhìn GH Hoàn vũ về miền đất linh thiêng trù phú đó. Nhưng suốt hơn 13 thế kỷ qua, vẫn chưa thấy mùa lúa chín trên cánh đồng truyền giáo Trung Hoa. Phải chăng thực tế không xảy ra như Ðức Giêsu tiên báo ? Thực ra, “lúa chín đầy đồng” là công trình của Thiên Chúa, chứ không phải của con người. Thiên Chúa mới là chủ sai thợ đến gặt lúa (x. Lc 10:3). Ngay từ thời Chúa Giêsu, GH đã sinh ra trong tình trạng thiếu thốn. Chính Chúa đã phải cảnh giác các môn đệ : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.” (Lc 10:2) Ðó là thân phận GH. Lúc nào GH cũng nghèo túng và thiếu phương tiện thi hành bổn phận. Nhưng càng thiếu thốn và nghèo túng, GH càng được mời gọi đặt tất cả niềm tin nơi Chúa. Cánh đồng không thiếu lúa chín, nhưng chỉ thiếu những người thợ tin Thiên Chúa làm chủ cánh đồng. Chỉ tin như thế, họ mới không phản bội sứ mệnh khi xử dụng quyền lực và phương tiện trần gian. Nhờ niềm tin đó, họ dễ dàng sống khiêm tốn và vâng nghe Chúa Thánh Linh. Khiêm tốn chắc chắn là bí quyết làm cho công cuộc rao giảng Tin Mừng sinh hoa kết quả dồi dào. Chỉ nơi những người có lòng tin, Thiên Chúa mới thi thố tất cả quyền năng tuyệt đối. Người khiêm tốn biết nhường bước và đón chào ông chủ là Thiên Chúa vào vườn nho hay cánh đồng đầy lúa chín. Cả về phương diện tập thể lẫn cá nhân, vật chất cũng như tinh thần, họ hoàn toàn bị tước đoạt vì NTC. Chúa nói : “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.” (Lc 10:3) Còn gì nữa đâu mà kiêu ngạo ? Tất cả mọi phương tiện và tương quan xã hội đều phải trở thành xa lạ đối với họ. Chỉ còn một mình họ với Chúa trong công cuộc xây dựng và chiến đấu cho NTC. Như vậy chưa đủ sao ? Khi nghe lời Chúa căn dặn : “Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói,” (Lc 10:3) người môn đệ nào chẳng run sợ ? Run sợ vì lực lượng không cân xứng. Cuộc đối đầu vượt quá tầm sức chiên con. Sao Chúa không sai họ vào giữa đoàn chiên có phải tốt hơn không ? Làm sao chiến thắng lực lượng sự ác lớn như thế ? Nhưng kết quả lại về phần chiên con. Thật bất ngờ ! Rõ ràng sức mạnh không từ môn đệ, nhưng từ Thày. Nếu Thày không là Thiên Chúa, làm sao chiến thắng lớn lao như thế ?! Chiến thắng lớn lao đó phát xuất từ thánh giá. Trước đây các môn đệ đã từng coi thập giá là biểu tượng cho sự thất bại và là gương mù cho dân ngoại. Nhưng “Thiên Chúa đã tôn vinh Người trên mọi sự …” vì Ðức Giêsu đã “vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.”(Pl 2:8-9) Khi tuyệt đối vâng phục thánh ý Chúa Cha, Người đã khám phá tất cả sức mạnh tình yêu và sự thật cần thiết cho công cuộc giải thoát nhân loại. Bởi đấy, Người đã tìm được niềm vui và cũng trở thành nguồn vui cho mọi người. Khi gặp khổ đau, thập giá và cái chết, Ðức Giêsu đã kiên nhẫn biết chừng nào. Người kiên nhẫn vì tin rằng đó là thánh ý Chúa Cha. Tình yêu Chúa Cha đã khiến Người có sức mạnh phi thường. Không đối lực nào có thể thắng nổi. Tin tưởng nơi Chúa, người môn đệ sẽ nhận ra tất cả những giới hạn của mình, nhưng đồng thời nhìn thấy những hoa trái lạ lùng do bàn tay Thiên Chúa hành động qua những phương tiện nghèo nàn. Sau một ngày mệt nhọc trong cánh đồng của Chúa, “nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: ‘Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con.’” (Lc 10:17) Tất cả đều nhờ sức mạnh Chúa. SỨ ÐIỆP DUY NHẤT Dù chỉ là chiên con bị tước lột trần trụi giữa bầy lang sói, người môn đệ vẫn hiên ngang bước theo Ðức Kitô. Không phải lúc nào cuộc hành trình cũng trải đầy hoa hồng. Có nhiều lúc không êm ả chút nào. Những biến cố lớn nhỏ như sóng gió ập đến. Khi gặp thử thách như thế, có những người môn đệ quên cả việc rao giảng Tin Mừng và bẻ cong Tin Mừng theo thời đại và hoàn cảnh, mong thỏa mãn những nhu cầu trần tục. Họ tin vào sức mạnh phương tiện như các tổ chức trần thế. Cố gây sức mạnh bằng cách tăng cường nhân sự, phương tiện, của cải, quyền lực, danh vọng v.v. Nhưng sức mạnh NTC không đến từ những phương tiện trần thế. NTC không thể biến đổi đến nỗi đánh mất bản chất. Người môn đệ phải có lập trường dứt khoát và rõ rệt. Chính Ðức Giêsu đã minh xác với các môn đệ như thế. Dù được đón tiếp hay không, họ phải nhất quyết rao giảng cho mọi người : “Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần.” (Lc 10:9.11) Không phải vì bầy sói đông quá mà khiếp đảm đến nỗi không dám mở miệng rao giảng NTC nữa. Không thể vì những lực lượng bất hảo hay bất chính đang siết gọng kìm mà không dám tranh đấu để xây dựng NTC. NTC không thể dựa trên bất công, vì bản chất và nền tảng của NTC là công lý. Chính lập trường này làm cho người môn đệ đứng vững và ngẩng đầu hãnh diện trước những thách thức của kẻ thù. Lập trường đó chính Chúa đề ra và củng cố bằng sức mạnh Thánh Linh. Không có Thánh Linh không thể giữ nổi lập trường và sứ điệp duy nhất đó trong mọi hoàn cảnh. Hoàn cảnh rất phức tạp và khắc nghiệt. Hỏa mù vô cùng dầy đặc. Nếu Chúa không đưa ra nguyên tắc và sứ mệnh đó, chắc chắn không ai có thể phá vỡ cơn hỏa mù. Khi hoạt động trong GH, người môn đệ nhắm biến đổi toàn thể thế giới. Là phần tử GH, họ có sứ mệnh phục vụ NTC, tức là tranh đấu cho công lý, hòa bình, tự do và mọi người biết tôn trọng nhân quyền. Tất cả đều nằm trong kế hoạch Thiên Chúa tối cao nhằm cứu độ muôn dân. Nhiều người muốn đánh lạc hướng khi chủ trương NTC vượt trên trần thế và nhằm xây dựng trời mới đất mới, chứ không phải trần gian. Bởi vậy, họ muốn biến sứ điệp của Ðức Giêsu thành chuyện tư riêng hay cá nhân. Chiều cạnh xã hội của NTC hoàn toàn bị coi thường và quên lãng. Ngày nay, dù sống trong hoàn cảnh nào, Kitô hữu cần phải nỗ lực cứu Chúa Giêsu khỏi ngục tù cá nhân chủ nghĩa và đem Người trở lại đời sống xã hội. (2) Nếu đặt Chúa Giêsu vào hoàn cảnh văn hóa xã hội thời Người và nhìn sứ mệnh Người trong bối cảnh phục hồi Israel và loan báo “năm đại hồng ân” cho dân Người, chúng ta sẽ thấy rõ sứ điệp Ðức Giêsu hàm ý chính trị. Người muốn triệt để tái cấu trúc mọi cơ cấu xã hội hiện hành trên nền tảng giao ước. (3) Ðể thực hiện công cuộc đó, Người muốn mọi quyền lực trên đời phải mang tính tương đối và nhường bước cho những đòi hỏi của NTC. Có một số người muốn sứ điệp Ðức Giêsu về NTC chỉ thuần túy mang tính tôn giáo và không liên quan tới các cơ cấu chính trị xã hội. Thực ra, Tin Mừng liên quan tới những thực tại sâu xa của trần thế. Bởi thế, sứ điệp của Chúa Giêsu là một phản ứng rõ rệt trước một thế giới đầy áp bức và những cơ chế của một trật tự xã hội bất công. (4) CƠ HỘI PHỤC VỤ Tới đây, chúng ta cần lắng nghe vị Ðại Diện Chúa Kitô. Hoàn cảnh GHVN cũng tương tự GHTH. Trong mọi hoàn cảnh, “Giáo Hội không thể và không được tự đảm nhận chính trường để đem lại một xã hội công bình nhất. Giáo Hội không thể và không được thay thế chính quyền. Tuy nhiên đồng thời Giáo Hội không thể và không đươc ở bên lề cuộc đấu tranh cho công bình. Qua lý chứng, Giáo Hội phải tham gia và phải thức tỉnh năng lực thiêng liêng cần thiết cho công lý chiếm ưu thế và thành công. Bao giờ công lý cũng đòi phải hy sinh. Một xã hội công bình phải là thành quả của chính trị, chứ không phải của Giáo Hội. Tuy nhiên cổ võ cho công bình qua những nỗ lực nhằm giúp cởi mở tâm trí và ý chí theo những đòi hỏi của công ích, là điều can hệ đến Giáo Hội cách sâu xa. Nhờ những nguyên tắc không thể đảo ngược này hướng dẫn, những vấn đề đang tồn đọng không thể được giải quyết qua sự xung đột với các nhà cầm quyền dân sự hợp hiến. Nhưng đồng thời không thể tùng phục những nhà cầm quyền ấy khi họ can thiệp vô lý vào những vấn đề liên quan đến đức tin và kỷ luật của Giáo Hội. Các nhà chức trách dân sự cần nhận thức rõ Giáo Hội luôn dạy các tín hữu trở nên những công dân tốt, tôn trọng và đóng góp tích cực cho công ích của đất nước. Nhưng rõ ràng Giáo Hội cũng đòi hỏi Nhà Nước phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo chân chính và bảo đảm cho những người dân Công Giáo được thi hành đầy đủ niềm tin của mình.” (5) Ðàng khác, Giáo hội được thành lập để phục vụ NTC, chứ không phải để chiếm chỗ của NTC. Nếu không phục vụ NTC, GH sinh ra để làm gì ? Phục vụ NTC nghĩa là tranh đấu cho xã hội ngày càng “công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) Lạy Chúa, xin cho chúng con biết can đảm phục vụ NTC, để công lý mau ngự trị trên quê hương yêu dấu chúng con. Amen.
1. VietCatholic 03/07/2007. 2. x. Hollenbach 1898:11-22. 3. Dictionary of Fundamental Theology 1995:589. 4. x. Hollenbach 1898:37-48. 5. ÐGH Bênêđictô XVI, Lá Thư Gởi Người CGTH, http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/letters/2007/documents/hf_ben-xvi_let_20070527_china_en.html
Đem bình an cho người
để nhận bình an của Chúa
Ngôn sứ Isaia viết vào cuối thời kỳ đi đày ở Babylon của dân Do Thái. Ngay sau khi bị lưu đày trở về, dân Do Thái bị tai ương nặng nề làm cho đất nước bị tê liệt, nên họ nghĩ đó là do tội lỗi họ đã phạm. Bấy giờ Thiên Chúa muốn tái lập đất nước Do Thái; từ những người mất hết hy vọng. Ngôn sứ Isaia dùng lời đầy hy vọng để nói với họ. Chúng ta thường quen dùng từ chỉ phái nam để diễn tả Thiên Chúa. Nhưng, hôm nay, Thiên Chúa được diễn tả như người mẹ nuôi nấng con đang an ủi vỗ về con mình. Tuy vậy trong kinh thánh, như Is 42:14, Thiên Chúa được diễn tả như người mẹ của dân tộc Do Thái; Is 49:15-16 Ngài không bao giờ quên con mình. Jêrusalem được mang hình ảnh người mẹ của dân Do Thái. Và bài đọc 1 hôm nay Thiên Chúa diễn tả theo những từ ngữ vừa nói. Tại sao lại dùng những từ ngữ hạn hẹp để diễn tả Thiên Chúa? Thiên Chúa là Thần Linh không thuộc phái nam hay nữ. Dù vậy hàng ngày chúng ta vẫn thấy văn chương kinh thánh diễn tả Thiên Chúa thuộc phái nam; Lời văn không thể nào diễn tả được hết bản tính Thiên Chúa đối với chúng ta. Vì thế, hôm nay Isaia giúp chúng ta mở trí tưởng tượng nhìn về những hình ảnh khác. Đó có phải là việc làm của ngôn sứ không? Nếu chúng ta cảm thấy chúng ta yếu đuối, bị kẻ thù vây chung quanh và mạnh hơn chúng ta, thì hình ảnh truyền thống trong kinh thánh diễn tả Thiên Chúa là Đấng dũng lực, có cánh tay mạnh mẽ, giúp chúng ta hăng hái tiếp tục chiến đấu. Nhưng, nói cách khác, trong hoàn cảnh sống hiện tại của chúng ta, chúng ta có thể nghĩ mình như dân Israel đã mệt mỏi, thất bại rã rời, vừa bị lưu đày nhục nhã trở về, thì chúng ta hãy nghe lời ngôn sứ Isaia nói với một dân tộc đang xây dựng lại tổ quốc mình và cậy trông vào Thiên Chúa nâng đỡ. Hôm nay Isaia trình bày Thiên Chúa như một người mẹ nuôi nấng con, ẵm con vào lòng nâng niu, an ủi vỗ về và sung sướng khi được đứa con đang cần sự giúp đỡ của mẹ. Khi dân Do Thái đi đày về họ cảm thấy nhẹ nhàng, nhưng đất nước họ, nhất là Jêrusalem đang bị hoang tàn. Họ phải làm rất nhiều việc để gây dựng lại đất nước họ và họ cảm thấy chán nản. Nhưng Isaia muốn họ sẽ tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa: “Ta sẽ hưởng nguồn phú vinh tại Jêrusalem”. Thiên Chúa sẽ ở với họ và ban sức mạnh để họ xây dựng lại đất nước họ. Còn chúng ta, đã từng lưu lạc ở đâu về? đức tin của chúng ta có trôi dạt đi đâu không, có cảm thấy cần quay về chưa? Chúng ta có muốn trở lại những thói quen trước, Hay một tật xấu nào đó chăng? Và bây giờ chúng ta chán nản vì phải bắt đầu lại từ đầu? Chúng ta có giữ đức tin không? Nhưng không còn tinh thần và hứng thú làm con Thiên Chúa, người con mà Chúa nuôi nấng với sữa mẹ và được nâng niu vỗ về không? Vậy thì chúng ta hãy tin tưởng vào lời ngôn sứ Isaia nói với những người phải bắt đầu cuộc hành trình dài lâu. Thiên Chúa thương yêu chúng ta và sẽ chữa lành chúng ta và vui mừng đón chúng ta lưu lạc trở về, như một người mẹ âu yếm đứa con đi từ phương xa về. Bài đọc 1 có liên quan gì đến bài phúc âm chăng? Các môn đệ có phải là những người được hưởng sự bảo bọc của Thiên Chúa qua Đức Giêsu không? Các ông có phải là những người đã bị gởi đi đến những nơi từ chối họ không? Ai sẽ nâng đỡ họ, những người “con” của Đức Giêsu, khi họ phải ra đi một mình? Thật ra thì họ mới bắt đầu sứ vụ của môn đệ và người rao giảng. Như chúa Giêsu nói, họ như những con chiên đi vào giữa bầy sói. Tệ hơn nữa, các ông lại không nên mang theo những đồ dùng cần thiết lúc đi đường. “Đừng mang theo túi tiền, bao bì, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Vậy các ông có phải là những người đi đường có đủ hành trang chưa? Đừng chào hỏi ai dọc đường? Thật là trái với phong tục của người vùng Trung Đông vui vẻ đón chào khách! Tại sao lại phải vội vàng thế? Các ông có việc khẩn cấp quan trọng phải làm và họ phải bắt tay vào việc. Họ là những người mang bình an đến một thế gian đầy xáo trộn cần hoà bình. Họ là những người loan báo sự hiện diện của Thiên Chúa, và sự quan tâm của Thiên Chúa đối với những người đã từ bỏ Thiên Chúa và sống đơn độc vì “Nước Thiên Chúa đã gần đến”. Các môn đệ đi loan báo “sự bình an” và Thiên Chúa đã đến gần (“Nước Thiên Chúa đã gần đến”), trông giống như hình ảnh một người phụ nữ mà tôi biết. Chúng tôi gọi bà là Maria. Bà ta có một người bạn từ hồi còn nhỏ, tên là Evelyn. Bà Evelyn đã 60 tuổi, và đã ở nhà dưỡng lão được 15 năm rồi, vì bệnh teo cơ. Cách đây vài năm bà Evely cố gắng tự sinh hoạt một mình, nhưng bà không thể làm được. Bà ta chán nản và biết rằng e phải sống thế này đến hết đời trong nhà dưỡng lão. Bà Evely không có gia đình thân thuộc nào, đã mất liên lạc với bạn bè cũ, họ có gia đình riêng và rất bận rộn. Nhưng có bà Maria đến thăm bà Evelyn một tuần một lần hay hai lần, và mua cho bạn một ít quà, ủi áo quần cho bạn vì (bà Evely luôn luôn muốn ăn mặc tử tế). Bà Maria dọn dẹp phòng cho bà Evelyn và đôi khi nói chuyện vui đùa với bà ta. Đến mùng 4 tháng 7 này, người Mỹ chúng ta sẽ mừng lễ độc lập. Chúng ta rất hãnh diện về sự tự do chúng ta đã hưởng. Chúng ta có rất nhiều điều làm chúng ta tự hào. Chúng ta làm việc rất nhiều và chúng ta vui nhận những thành quả chúng ta đã làm được. Nhưng bà Maria đi thăm bà Evelyn nhưng không giúp được gì nhiều. Bà Maria không thể nào thay đổi hoàn cảnh của bà Evelyn, như làm cho bà Evelyn khoẻ ra và ngày nào đó sẽ ra khỏi nhà dưỡng lão. Bà Evelyn cảm thấy mình như bị cắt đứt mọi liên hệ với đời sống trước đây, cũng như dân Israel bị đi đày ở Babylon. Bà Maria là tín hữu tốt, thường đi nhà thờ. Bà sẽ nghe bài phúc âm chủ nhật này. Dù bà ta không nghĩ gì về công trạng việc mình làm, nhưng bà chính là người được Chúa Giêsu chọn “làm thợ gặt”. Bà ta vào phòng một người sống cô đơn. Một lời nói đùa, một cái ôm thắm thiết, một nụ cười hiền hậu và lời nói “bình an cho nhà này”. Rồi đến để đi dọn dẹp phòng, đem đến vài cái bánh ngọt và đọc giùm vài lá thơ của bạn bà Evelyn, đó chính là bà Maria đem bình an đến cho bà bạn mình ngày hôm ấy. Trong tuần đôi khi bà Marai gọi điện thoại đến bà Evelyn giúp giảm bớt nỗi cô đơn, và trông mong gặp lại bà Maria trong tuần. Điều gì đã làm bà Maria lái xe từ bên này qua bên kia thành phố, bỏ ra ít tiền mua quà, làm bánh ngọt, giặt áo quần cho bà Evely? Chúng ta biết rõ câu trả lời, nhờ chúng ta nghe bài phúc âm hôm nay. Người chủ ruộng lúa chín đã giúp bà Maria làm những việc thiện ấy. Thánh Linh của Chúa Giêsu đã mở mắt bà Maria để bà trông thấy; mở trái tim bà để bà ta cảm nhận; mở ý muốn bà ta để bà ta dấn thân, không lui bước né tránh phục vụ một người mà có lẽ không thể trả ơn lại được. Không phải vì bà Maria đem chút ít quà cho bà Evelyn mà bà Maria được đón tiếp niềm nỡ. Khi Chúa Giêsu nói “đừng mang theo túi tiền, bao bì, giày dép”, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở những người Chúa gọi là Ngài sẽ đi cùng họ để giúp việc họ làm có kết quả mỹ mãn. Chính Chúa Giêsu là quà mà các môn đệ mang theo. Nhưng chúng ta hãy nghĩ đây không phải là việc làm một chiều. Trong phòng bà Evelyn có ít hình ảnh đạo đưkợc đem từ nhà vào. Bà Evelyn thường lần hạt mân côi và đọc kinh thánh. Bà Maria nói là bà ta ngưỡng mộ và học hỏi nơi bà Evelyn nhiều điều về đức tin nhờ sự kiên trì và tánh vui vẻ của bà Evelyn. Bà Evelyn thường nói với Bà Maria rằng “Chúa chúc phúc cho bạn” và bà Maria cảm thấy mình được phước Chúa ban. Mỗi khi bà Maria ra về, bà ta cảm thấy bình an về sự thăm viếng đó. Bà Maria lại nói là bà ta nhìn đời sống của mình bằng khái niệm khác. Bà ta đã biết điều gì là quan trọng và bà ta không còn để ý đến những chuyện vụn vặt như trước, cũng nhờ bà Evelyn. Cũng như Chúa Giêsu đã nói “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói bình an cho nhà này. Nếu ở đó có ai đang hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy…” Tôi nghĩ chúng ta có thể nói “Nếu có người bình an ở đó, thì bình an của người đó sẽ đến đậu trên chúng ta nữa…” Có lẽ hôm nay chúng ta nên xin Thánh Linh Chúa Giêsu: “làm sao con có thể đem lời chúc bình an của Chúa Giêsu đến cho những người cần được bình an?” Chúng ta cũng có thể hỏi Chúa Thánh Linh “con sẽ được gọi đi đâu?” Và “Con sẽ nên bỏ lại những điều gì: cử chỉ gì, những do dự gì; những sợ hãi gì; những lo lắng gì; để con có thể phản chiếu hình ảnh sự bình an của Chúa Giêsu?” Lm. Jude Siciliano, OP Bình an là dấu chỉ Triều đại của Thiên Chúa đến gần Isaia 66: 10-14; Tvịnh 66; Galát 6: 14-18; Luca 10: 1-12, 17-20 Kinh Thánh thắm đượm tính thi ca, đặc biệt trong các Thánh vịnh, vì Thánh vịnh là những lời cầu nguyện đầy thi vị. Ngày hôm nay, ông Isaia là một mẫu gương ngôn sứ ưu tú, vì ông đã gây chú ý cho chúng ta qua tài năng thuyết phục và quyền uy trong phát biểu đầy thi vị. Ở đây các nhà thơ có thể được nổi bật vì họ đang nổ lực gây chúng ta chú ý, và họ đưa chúng ta từ những vị trí cố định đến những trải nghiệm và tầm nhìn mới. Đó là những điều mà ông Isaia đã làm cho chúng ta ngày hôm nay, vì ông dùng hình ảnh nữ tính để chuyển tải thông điệp hy vọng của mình. Trước hết, ông Isaia áp dụng những hình ảnh người mẹ để nhân cách hóa Giêrusalem. Theo văn hóa thời đó, người phụ nữ hầu như không được kể đến, họ không có tiếng nói và cũng chẳng có uy quyền gì. Vào thời “Isaia I”, Giêrusalem (ví như người phụ nữ) bị khinh bỉ như một tội nhân và kẻ sa ngã (Is 3,25-26). Nhưng bây giờ, trong chương cuối về những điều được gọi là “Isaia III,” thì Giêrusalem đã cho một trẻ thơ chào đời (Is 66,7) và đất nước được tái sinh. Đất nước mới sinh này được người mẹ Giêrusalem nuôi nấng chu đáo và âu yếm quan tâm, được chăm sóc như một người mẹ nuôi con thơ. Dân chúng được hứa ban niềm hân hoan và sự sung túc từ “dòng sữa dồi dào của Giêrusalem”. Ông Isaia diễn tả trí tưởng tượng thi ca của mình xa hơn nữa. Giêrusalem, thành phố đứng đầu, được so sánh với Thiên Chúa, Đấng chúc phúc sự quan tâm của người mẹ dành cho đất nước tái sinh và mới sinh. “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giê-ru-sa-lem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về”. Phần trích đoạn này của ngôn sứ Isaia được viết sau khi dân trở về từ chốn lưu đày. Lúc bấy giờ đất nước chưa được tái thiết và vì thế, vị ngôn sứ đã loan báo niềm hy vọng này đến với dân chúng. Thiên Chúa đang dành cho dân người sự chăm sóc của một người mẹ dịu dàng, và ban cho họ niềm hy vọng để duy trì “trong thời gian chờ đợi”. Vượt qua nỗi sầu khổ không hề dễ dàng chút nào, vì nỗi sầu khổ thường làm cho thời gian dài thêm. Vị ngôn sứ Isaia bảo đảm cho những ai sầu khổ sẽ không còn than khóc nữa, vì rằng ở đây đã có quyền lực đổi mới của Thiên Chúa dành cho họ. Quyền lực này không phải được tỏ lộ bằng sức mạnh, nhưng được tỏ lộ theo cách thức mà chúng ta và một dân tộc được khổi phục cần đến, tựa như cần đến một bảo mẫu vậy. Thiên Chúa là Cha của dân tộc Israel, và khi dân tộc này cần đến thức ăn của trẻ thơ trong thời kỳ măng sữa, thì Thiên Chúa cũng chính là Người Mẹ của họ. Có những lúc chúng ta cần Thiên Chúa ban sức mạnh, đặc biệt khi chúng ta phải đương đầu với thách đố căm go như là: sự đè ép của cơ quan quản lý Thành phố; sức ép của cộng đồng về việc thu nhập sống thấp; thành kiến trong gia đình chúng ta; những bày tỏ tán thành phá thai tàn nhẫn; những chính sách tù nhân dã man. v.v... Vào những lúc này chúng ta cần Thiên Chúa “cho ta điểm tựa” và ban cho ta ân sủng bằng chính cánh tay hữu mạnh mẽ của Người. Vào những lúc khác, đặc biệt sau khi người thân qua đời; sụp đổ một kế hoạch; mất việc; con cái đau yếu, v.v... chúng ta cần Thiên Chúa an ủi và gìn giữ như hôm nay ngôn sứ Isaia mô tả cho chúng ta. Những lúc này, chúng ta khao khát một đường lối mà Thánh vịnh 131 miêu tả một em bé ngoan ngoãn và tin tưởng, “Như trẻ thơ no sữa nép mình bên lòng mẹ”. Có sự so sánh tương đương với ngôn từ Tin mừng ngày hôm nay theo thánh Máccô và thánh Mátthêu, nhưng trong các trình thuật đó, 12 sứ đồ đều được phái đi. Theo thánh Luca thì có 72 người. Con số đó nổi tiếng trong Kinh thánh. Theo sách Sáng thế chương 10, trong toàn thể thế giới có 72 người. Sử dụng cùng con số đó, thánh Luca ám chỉ rằng Đức Giêsu có ý định cho toàn thể thế giới đón nhận sứ điệp của Người. Mùa gặt bội thu là nói đến ngày xưa cũng như ngày nay. Những “người thợ gặt” này phải cầu nguyện, phải kết hợp lời cầu nguyện của họ với lời cầu nguyện của Đức Giêsu, để còn người khác nữa sẽ kết hợp với họ trong việc làm. Đang khi chúng ta cầu nguyện cho nhiều linh mục, phó tế và ơn gọi tu sĩ khác nữa trong Thánh Thể, thì chúng ta cũng tạ ơn những người giáo dân lao động đã kết hợp với chúng ta trong những lĩnh vực phục vụ Thiên Chúa. Nhiều năm qua chúng ta vẫn cầu nguyện cho ơn gọi. Vì thế, chúng ta đừng nhắm mắt làm ngơ trước những lời cầu nguyện được đón nhận qua các ơn gọi khác nhau, và hôm nay chúng ta phải biết dâng lời tạ ơn. Có sự cấp bách trong những lời giảng dạy của Đức Giêsu với các nhà truyền giáo của Người. Vì vậy, đường lối hướng dẫn mà Đức Giêsu ban truyền cho họ là: đừng mang theo túi tiền, bao bị, vì những người Trung Đông này có thể bị trì hoãn do những nhu cầu thông thường về phép lịch sự và lòng hiếu khách, cũng “đừng chào hỏi ai dọc đường”, do thời gian ngắn ngủi. Những người giảng thuyết này có một thông điệp bình dị và cấp bách muốn truyền đạt, đó là “Triều đại của Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Thiên Chúa ở cạnh dân chúng và bình an là dấu chỉ về sự hiện diện của Người. Có người tiếp nhận tin vui này, có người không tiếp nhận. Những của cải chúng ta mang theo để phục vụ Thiên Chúa không bao gồm những đồ dùng. Thay vào đó, chúng ta là những người mang bình an khi dân chúng phải gánh chịu sầu khổ, sợ hãi, lo âu, kỳ thị và tuyệt vọng. Bình an (shalom) là ân sủng mà Đấng Mêsia (Cứu Độ) sẽ mang đến, và vì thế, ân sủng của Đức Giêsu dành cho các môn đệ là sự bình an mà họ sẽ đón nhận đối với những ai cần đến. Đức Giêsu dạy bảo các môn đệ phải giảm thiểu hết mức những hành trang mang theo. Chúng ta biết rằng Đức Giêsu không muốn chúng ta bị quấy rầy bởi những của cải vật chất, vì những thứ đó làm chúng ta sao lãng. Chúng ta cần nhớ rằng Đức Giêsu ở với chúng ta, Người là cội nguồn của mọi vụ mùa mà chúng ta đi thu gặt. Chúng ta không phải đi tìm tiện nghi hay những ân huệ đặc biệt vì chúng ta biết mình là ai rồi. Dân chúng sẽ quan tâm chăm sóc những sứ giả, không phải vì chức vụ hay địa vị của họ, nhưng chính xác hơn họ chăm sóc vì họ cũng là những sứ giả của Đức Kitô, họ loan báo về sự hiện hữu của Thiên Chúa: “Triều đại của Thiên Chúa đã đến gần”. Chúng ta không phải là những người bảo thủ. Chúng ta cảm phục những lời dạy bảo của Đức Giêsu khi đi đường với hành lý gọn nhẹ; Người dạy phải tin tưởng vào Người và tin tưởng sứ điệp mà chúng ta mang theo. Tuy nhiên, có những nơi và những tình huống đòi buộc, thì chúng ta phải dùng đến những nguồn vật chất để cung cấp cho những nhu cầu thể lý của người dân. Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ chúng ta cả thân xác lẫn linh hồn. Vì vậy, những Kitô hữu phải dâng tiền bạc để xây dựng bệnh viện, trại mồ côi, trường học, nhà trọ hoặc nhà tình thương cho những ai lâm cảnh khốn khó. Có những Kitô hữu mẫu mực đã thực hiện những công việc thiện tâm này, trong số đó, có người được phong thánh, có người được biết đến như những người tốt lành và là người yêu quý của những kẻ cơ hàn. Họ có thể giỏi giang với những viên gạch hay nơi đống hồ. Nhưng trong trái tim họ, họ không đặt sự tin tưởng của mình vào “túi tiền”, “bao bị” hay “giày dép”, nhưng họ đặt tin tưởng vào Đấng đã sai họ đi với những lời, “Hãy ra đi…” Nhiều người đã đối diện với “những con sói” tham ăn, tham vọng và uy quyền chống lại họ. Họ đã vượt qua những thế lực tiêu cực này, không phải bằng việc đọ súng với nhau, nhưng vượt qua bằng cách nhớ lại Đức Giêsu đã nói rằng họ sẽ có Thánh Thần cùng đồng hành. Một trong những mẫu gương yêu thích của tôi về lòng dũng cảm và tin tưởng vào Thiên Chúa là (Mẹ) thánh Phanxicô Xaviê Cabrini (1850-1917). Chị sinh ra tại Ý và muốn trở thành người truyền giáo đến Trung Hoa, nhưng lại được Đức giáo hoàng Lêo XIII gởi đi cùng với sáu chị em khác để phục vụ cho hàng ngàn người Ý nhập cư đang sinh sống ở thành phố New York. Trong vòng 35 năm, chị đã thành lập được 67 trụ sở được dâng tặng để phục vụ người nghèo, kẻ bị bỏ rơi, người thất học hoặc đau yếu. Chị đã hãi hùng với nước và sợ chết đuối. Bởi lẽ chị đã vượt đại dương hơn 30 lần. Trong dịp phong thánh cho chị, Đức Piô XII đã công bố rằng: “Mặc dù thể trạng rất mỏng manh… nhưng thánh nhân không cho phép điều gì ngăn cản mình hoàn thành những công việc xem ra vượt quá sức mạnh của một người phụ nữ” Một câu chuyện về Mẹ Cabrini mà tôi thích nhất là khi mẹ đang thảo luận với chị em mình việc xây thêm một bệnh viện nữa. Họ phản đối rằng họ không có kinh phí cho công trình như thế. Câu trả lời của mẹ là “Công việc đó của ai, của Thiên Chúa hay của chúng ta”? Thế là bệnh viện được xây lên. Một mùa gặt đem lại bội thu hoa trái và cho dù người thợ gặt không nhiều và chúng ta được sai đi như những chiên con giữa bầy sói, nhưng “Công việc đó là của ai, của Thiên Chúa hay của chúng ta”?
| |