![]() | |
Chúa Nhật XII Thường Niên - Năm C Dcr 12,10-11 /Gl 3,26-29 / Lc 9,18-24
Lm An Phong op : Tin Là Đồng hành trên đường thập giá G. Nguyễn Cao Luật op : Tên và Người Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Đau khổ Fr. Jude Siciliano, op : Hành trang theo Chúa là cầu nguyện Fr. Jude Siciliano, op: Đức Kitô, cội nguồn hạnh phúc của chúng ta
Tin : Đồng hành trên đường thập giá
1. Tin là gắn bóTin Mừng hôm nay tường thuật một biến cố quan trọng; đây là một bước ngoặc trong tiến trình huấn luyện các tông đồ. Khởi từ đây, Chúa bắt đầu mặc khải cho các ông biết "vận mệnh" của "Con Người", Người sẽ phải chịu khổ hình; và Chúa chuẩn bị để dẫn các ông lên Giêrusalem. Phêrô, thay mặt cho các tông đồ, đã tuyên xưng niềm Tin của mình vào Ðức Giêsu : "Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa". Ðặt mình trong truyền thống Do Thái, ta hiểu rằng đây không phải chỉ là một sự nhận biết của lý trí, nhưng là một sự gắn bó cụ thể với Ðức Giêsu. Người Do Thái, trong suốt quá trình lịch sử dài và đau khổ, vẫn không ngừng trông đợi Ðấng Cứu Tinh đến để giải phóng dân tộc. Phêrô và các tông đồ không nói lên một sự nhận định của lý trí, rồi sau đó "đường ai nấy đi"; nhưng các ông xác nhận chọn lựa, xác định con đường dấn thân theo Chúa Giêsu. 2. Tin là gắn bó trong quá trình lịch sửChúa Giêsu hiểu con đường mà Người phải trải qua theo Thánh Ý Chúa Cha, con đường đổ máu để mang lại ơn Cứu độ cho con người. Chúa Giêsu đã cẩn thận hỏi lại niềm tin của các tông đồ trước khi cùng với các ông tiến về Giêrusalem để chịu tử nạn. Chúa Giêsu vui mừng khi thấy sự gắn bó của các môn đệ với Người, nhưng Người cũng hiểu rằng niềm tin ấy, sự gắn bó ấy cần phải diễn ra trong thực tế của cuộc đời, được chứng tỏ trong quá trình lịch sử, cũng như bao mối tương quan của con người với nhau. Quả thực, chúng ta thấy Phêrô và các tông đồ thực sự tin vào Chúa Giêsu như là một sự gắn bó bản thân với Người, các ông đã sẵn sàng theo Chúa Giêsu. Lòng tin ấy có yếu đuối, chưa vững bền, nhưng dù sao đó không phải là một niềm tin của lý trí... Lòng tin ấy cần được vững chắc và chân thật hơn trong quá trình lịch sử của cuộc sống; chính vì thế, Chúa Giêsu tiếp tục cùng các ông đi lên Giêrusalem. 3. Tin là gắn bó trong đau khổMặc dù đã có những lời tiên báo trong các ngôn sứ về "Người Tôi Tớ đau khổ của Giavê", nhưng truyền thống Do Thái không hiểu được, không cảm được, không đón nhận được. Họ chỉ có thể chấp nhận được một Ðấng Mêssia quyền năng, vinh quang và "bắt kẻ thù làm bệ dưới chân". Nhưng đường lối của Thiên Chúa là bày tỏ một lòng yêu thương lớn lao hơn mọi tình yêu (cuộc tử nạn), và muốn các môn đệ thực sự tin tưởng vào Chúa khi cùng với Người trải qua đau khổ. Chính qua kinh nghiệm ấy, lòng tin của các ông nơi Chúa được vững chắc và chân thật hơn. "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại" Lạy Chúa Giêsu
Chúa quá biết sự nhát đảm của con,
Con bước theo Chúa, nhưng
LIỀU MẠNG Thánh giá tràn ngập cuộc sống con người. Nói khác, đời là bể khổ. Muốn thoát khổ hay muốn lợi dụng đau khổ cho một mục tiêu nào đó ? Vấn đề là có nhìn thấy đau khổ như một phương tiện hay một chướng ngại cho cuộc đời. Thế thôi. Ðức Giêsu sẽ mạc khải tất cả chiều kích đau khổ trong sứ mệnh cứu độ nhân loại. TIỀM NĂNG Khi tìm cách tránh né đau khổ, người ta có thái độ nào nếu không phải là sợ hãi, kinh tởm . Như thế, phải chăng đau khổ không có một ý nghĩa và giá trị nào đối với con người. Ðức Giêsu không dạy chúng ta đi tìm đau khổ. Ðó là một hoang tưởng. Nhưng Người dạy chúng ta chọn một thái độ trước đau khổ. Muốn hay không, cuộc đời đầy đau khổ. Có những đau khổ phát xuất từ lòng tham của con người. Nhưng cũng có những đau khổ không tùy thuộc con người. Chẳng hạn, tai nạn, thiên tai. Có khi do tha nhân, chứ không tùy thuộc cá nhân mình. Như thế, diệt dục có chấm dứt nổi đau khổ hay không ? Ðức Giêsu đi vào kiếp người. Người cũng phải chấp nhận tất cả khổ đau của thân phận làm người. Bởi vậy, Người không ngần ngại mạc khải tất cả sự thật về chính mình : "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết" (Lc 9:22). Nhưng Người không chịu đau khổ vì đau khổ. Thực vậy, Người buồn rầu khi nghĩ tới đau khổ (Ga 12:27), cầu xin Chúa Cha cất chén đắng (Lc 22:42), và cảm thấy thấm thía đau khổ trên thập giá (Mt 27:46). Nếu cứ quay cuồng trong đau khổ, Người sẽ không tìm được lối thoát. Dĩ nhiên đau khổ của Người phát xuất từ lòng tham lam và gian ác của con người. Nhưng thay vì tránh né, Người đã mạc khải tất cả bản chất và ý nghĩa đau khổ. Cái chết của Người tuyệt đối cần thiết cho công cuộc cứu độ và vinh quang phục sinh (Mc 8:31-33; Lc 24:25-26). Ðau khổ là phương tiện để Người trở thành "Ðấng Kitô của Thiên Chúa" (Lc 9:20). Từ vị trí này, Người thấy rõ một tương lai rực rỡ mở ra trước mắt. Nghĩa là, sau khi bị giết chết, Người "sẽ chỗi dậy" (Lc 9:22). Không phải chỉ Người mới chỗi dậy. Nhưng "chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại" (Rm 6:5). Chính vì thế, Ðức Giêsu mới dám kêu gọi mọi người theo Chúa (x. Lc 9:23). Nếu không theo Chúa, cứ lầm lũi vác thập giá theo ý mình, chắc chắn sẽ không thể nào vào cõi vinh quang phục sinh. Người đã không dừng lại ở biên giới đau khổ, nhưng đã vượt lên trên để mạc khải ý nghĩa của đau khổ hôm nay. Ðó chỉ là con đường đưa tới vinh quang, chứ không phải là trở ngại cho bước tiến của con người. Ðó cũng không phải là sức mạnh đêm tối phá tan mọi ước vọng con người. Hơn nữa, cũng như Ðức Giêsu, Kitô hữu có thể biến thập giá thành sức mạnh cứu độ cho toàn thể nhân loại. Bởi vậy, Kitô hữu trân trọng từng bước chân theo Thày. Nếu ngã gục dưới sức nặng khổ giá, họ sẽ không thể nào bước vào vinh quang. Phải bước theo Thày, mới có đủ sức mạnh biến khổ đau thành nguồn ơn cứu độ cho chính mình và tha nhân. Như thế, nhờ đau khổ, Ðức Giêsu đã mạc khải chính mình. Cũng chính nhờ đau khổ, Kitô hữu mới có thể biết Chúa là ai. Người không muốn chúng ta đau khổ. Nhưng Người muốn chúng ta tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa khi chạm trán với thực tế cuộc đời. Con người có khuynh hướng tránh đau khổ. Khi gặp đau khổ, họ tự nhiên muốn co cụm lại, chỉ muốn tránh xa mọi người và sống cho riêng mình. Lúc đó, con người tìm mọi cách để cứu mạng sống mình. Nhưng đó không phải là con đường giải thoát. Chỉ có một lối duy nhất đem lại sự toàn vẹn cho con người, đó là liều mất mạng sống vì Thày Chí Thánh (Lc 9:24). Chỉ khi nào dấn thân tới mức đó, Kitô hữu mới có thể thấy bản chất Kitô hữu là gì (Mt 5:10-12). Cũng như Ðức Kitô, các môn đệ sẽ chịu bách hại (Mt 10:24; Ga 15:19-21). Theo Ðức Kitô, họ phải từ bỏ chính mình (Mt 16:24; Mc 8:34-35; Lc 9:23), phải học chịu đau khổ bất công (1 Pr 4:15-19), mà vẫn vui mừng (Gc 1:2; 1 Pr 4:13), vì Chúa Kitô (1 Cr 4:9-11; Pl 1:29). GIẢI THOÁT Ðau khổ dai dẳng nhất trong cuộc sống chính là lao động. Danh lợi và tủi nhục cũng từ đó. Lao động có thể giải thoát, nhưng cũng có thể xích hóa con người. Nhờ đôi tay, con người tạo ra danh lợi. Nhưng cũng chính danh lợi lại trở thành cạm bẫy nhốt chặt con người. Không bao giờ cái vòng danh lợi buông tha con người. Thật luẩn quẩn ! Con người tưởng chừng lên tới tận mây xanh nhờ sức mạnh danh lợi. Nhưng thực tế họ bị tội lỗi và lòng dạ ích kỷ che mờ lý trí đến nỗi không còn nhìn thấy chương trình quan phòng đầy ắp tình yêu Thiên Chúa. Ðể tìm lại hình ảnh nguyên thủy, con người cần phải bắt đầu lấy lời Chúa giải cứu việc làm khỏi "lô-gích của lợi nhuận, chia rẽ, nong nả tìm kiếm thêm của cải, lòng tham tích lũy và hưởng thụ," vì khi lệ thuộc "tài sản phi nhân bản" việc làm trở thành một "ngẫu tượng quyến dũ và bất nhân" (Gioan Phaolô II : Zenit 4/5/2004). Phải bắt đầu công cuộc cứu độ từ chính việc làm, vì việc làm đào luyện và sáng tạo con người về một phương diện nào đó. Nhưng lao động để làm gì ? Phải chăng lao động chỉ để kiếm ăn ? Nếu đúng thế, con người và loài vật khác nhau chỗ nào ? Thật là luẩn quẩn. Chỉ Thánh Linh mới có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn đó mà thôi. Thật thế, "người lao công Nadarét nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống còn giá trị hơn thực phẩm và lao động vì con người, chứ con người không sinh ra để lao động. Cái làm cho cuộc sống cao cả không phải là toàn bộ những gì thủ đắc, cũng không phải loại chuyên môn, hay cấp độ công việc. Con người vô cùng cao cả hơn những sản phẩm họ sản xuất hay sở hữu." Thực tế, "tâm hồn con người quan tâm quá mức tới đồ ăn áo mặc mà chẳng quan tâm tới những anh em nghèo khổ nhất, con tim bị mù quáng vì của cải, mất khả năng sống liên đới và yêu thương vô vị lợi, khép chặt tâm hồn trước Thiên Chúa và anh em. Bởi vậy, người Kitô hữu, cá nhân hay tập thể, đặc biệt giáo dân, có bổn phận len lỏi vào cơ cấu xã hội để in sâu luật Chúa vào cuộc sống trần thế" (Gioan Phaolô II : Zenit 4/5/2004). Nhờ thế, con người và môi trường sẽ được phúc âm hóa. Ơn cứu độ sẽ chan hòa mặt đất. Hòa bình sẽ đến với nhân loại.
Tên và Người Câu hỏi gây bối rối Thêm một lần nữa, tác giả Lu-ca cho biết là Đức Giêsu đang cầu nguyện, tức là đang trao đổi thân mật với Chúa Cha. Và "cầu nguyện một mình" có nghĩa là thoát khỏi mọi xôn xao để có thể đón nhận tình yêu đang ở trong mình. Chỉ một mình tác giả Luca thuật lại chi tiết các môn đệ cùng đi với Đức Giêsu. Trong cuộc tiếp xúc riêng tư giữa Thầy và trò, Đức Giêsu đã hỏi các môn đệ về căn tính của Người. Khởi đầu, Đức Giêsu không vào vấn đề ngay. Người nêu lên một câu hỏi có tính gợi ý, thông tin : "Đám đông nói Thầy là ai ?" Các môn đệ đã thuật lại những ý nghĩ của dân chúng về Đức Giêsu. Người ta không biết rõ Người là ai, nhưng họ nhận thấy Người quả là một nhân vật lạ lùng, gây nhiều ngỡ ngàng. Có người cho rằng Đức Giêsu là một ngôn sứ, có người nghĩ rằng Đức Giêsu là ông Ê-li-a sống lại, người trước đây đã được cất đi trong chiếc xe bằng lửa. Bao nhiêu là ý kiến, bao nhiêu là nhận định. "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?" Câu hỏi này làm các môn đệ bối rối. Các ông yên lặng nhìn nhau. Đây không phải là chuyện báo cáo lại nữa. Đây cũng không phải là chuyện trả lời về điều mình biết, nhưng là điều mình tin. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ xác định mối tương giao cá nhân và sâu xa của các ông với Người. Ai dám chắc chắn để trả lời? Một cách nào đó, thái độ yên lặng của các môn đệ cũng có ý nghĩa : các ông nhận thấy nơi Đức Giêsu một điều gì đó rất đặc biệt, nhưng không thể diễn tả. Ông Phêrô thưa : "Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa." Ông trả lời như một người Do-thái có thể làm. Câu trả lời của ông nói lên niềm trông đợi của dân Ít-ra-en là chờ mong Đấng Mê-si-a. Nhưng câu trả lời của ông quả là lạ kỳ vì xác định rõ Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a. Không ai trong số các môn đệ phản đối. Các ông yên lặng và như vậy, có thể hiểu là các ông đồng ý. Thực ra, ông Phêrô chưa hiểu hết ý nghĩa của điều ông vừa nói : ông không hề nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ bị hàng lãnh đạo Do-thái loại bỏ, Người sẽ phải đi qua cuộc Thương Khó, phải đón nhận cái chết. Do đó, Đức Giêsu báo cho ông và các môn đệ biết điều này, đồng thời Người cũng cho biết là Chúa Cha sẽ cho Người sống lại. Trong khi chờ đợi những điều ấy xảy ra, tất cả vẫn còn trong vòng bí mật. Tiếp đến, Đức Giêsu mời gọi mọi người cùng tiến bước với Người trên con đường yêu mến để gặp gỡ với Chúa Cha. Đó là một tình yêu mở ra với người khác, và do đó, người ta phải từ bỏ chính mình. Cũng do tình yêu này thúc đẩy, người ta sẵn sàng chấp nhận mang nơi mình mọi mâu thuẫn và mọi khó khăn, đó là "vác thập giá mình hằng ngày". Như vậy, đời sống yêu thương này mời gọi mỗi người rời bỏ sự đầy đủ của mình, để tìm thấy nơi Đức Giêsu lẽ sống cho cuộc đời, dù có những cám dỗ và thử thách. Người ta không thể cứu mạng sống mình khi muốn tách riêng ra một chỗ, bằng mọi giá, nhằm trốn tránh đau khổ và sự chết. Như vậy, mỗi người đều cùng sống với Đức Giêsu dưới cái nhìn đầy yêu thương của Chúa Cha. Mỗi người đều tin rằng mình sẽ vượt qua những thất bại của cuộc sống. Họ được hướng dẫn, vượt lên trên cái chết để đạt tới niềm vui đã được ban tặng trong Đức Giêsu Phục Sinh, Đấng đi trước họ. Danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu Anh là ai ? Người ta vẫn đặt câu hỏi như thế với người họ cần tiếp xúc. Một câu hỏi rất bình thường bởi vì người ta cần phân biệt người đang nói chuyện với mình ra khỏi đám đông mà người ta không biết, không quen. Còn Đức Giêsu lại đảo ngược câu hỏi. Người hỏi các môn đệ : "Anh em bảo Thầy là ai ?" Thực ra việc đọc tên một người không gợi lên một điều gì về con người mang tên ấy. Vẫn có những tên gọi gợi lên một ý nghĩa khác, trong khi chính con người lại không có gì phù hợp với tên gọi. Cần phải có thời gian, phải có một lịch sử chung để tên gọi ấy gắn liền với một con người duy nhất, không thể thay thế được. Khi đặt câu hỏi xem các môn đệ bảo mình là ai, Đức Giêsu mời các ông cùng bước đi trên con đường các ông đang theo Người. Tên gọi đích thực của Người không phải do con người đặt cho. Các môn đệ chỉ hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của tên gọi ấy khi đi đến cuối hành trình. Hành trình này bao hàm một sự hiểu biết, một cuộc sinh ra. Lúc này đây, các Tông Đồ chưa thể cảm nhận hết tầm mức của tên gọi do ông Phêrô nói lên. Có lẽ các ông chỉ hiểu từ ngữ Mêsia như Kinh Thánh quen sử dụng: đó là tên gọi vẫn được biết đến nơi những người trông chờ Thiên Chúa. Còn trong thực tế, các ông chưa hiểu được ý nghĩa thực sự của tên gọi này. Để đạt tới tầm mức hiểu biết ấy, các ông phải gạt bỏ những ước vọng riêng tư về Vị Thầy của mình, và nhìn nhận Thầy theo thực tại sâu xa của tình yêu bị đóng đinh trên thập giá. Chỉ những người nào cùng theo Đức Giêsu lên đồi Can-vê mới có thể đọc lên tên gọi Đức Giêsu và nắm bắt toàn bộ ý nghĩa của tên gọi ấy. Chính tại đây, tên gọi ấy trở thành danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Nếu Đức Giêsu trở lại Ngày nay, nếu Đức Giêsu trở lại và đặt câu hỏi : "Anh em bảo Thầy là ai ?", con người ngày nay sẽ trả lời như thế nào ? Phải chăng là một câu trả lời như sau : "Lạy Chúa, Ngài là Đấng đã lập nên một tôn giáo tuyệt vời, làm cho mỗi người yêu quý vị trí của mình, Ngài xuất hiện như bảo đảm chắc chắn cho trật tự xã hội." Hay một câu trả lời khác: "Ngài là Đấng đã gợi lên một nền văn minh hoàn hảo." hay "Ngài là Đấng đã đề ra những quy tắc đạo đức đúng đắn nhất”. Nhưng chúng ta có nghĩ rằng đó là một trong những câu trả lời của Mẹ Têrêxa Cancutta ? Chắc chắn là không. Có lẽ Mẹ sẽ trả lời : "Lạy Chúa, Ngài là Đấng đã nói : Hãy yêu thương người khác. Ngài cũng là Đấng đã nói : Điều các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là làm cho chính Ta." Còn Madeleine Delbrêl, người đã sống với những người nghèo, những người vô thần, có lẽ sẽ trả lời : "Lạy Chúa, Ngài là Đấng đã chiếu sáng trên con, đã làm cho con nên gần gũi với những anh em không Kitô giáo." Và giám mục Dom Helder Camara sẽ nói : "Lạy Chúa, Ngài là Đấng đã dạy con là hãy cho đi tất cả những gì con có, hãy cho đi tất cả những gì con là." Chúng ta có chấp nhận câu trả lời ấy ? Đó là những câu trả lời xuất phát từ một lòng tin sống động, một tấm lòng chân thành, một cuộc sống được Đức Giêsu chiếm đoạt (x. Pl 3,12). * * * Ôi Chúa Kitô, Chúa không ngừng nêu lên câu hỏi : Con bảo Thầy là ai ? Chúa là Đấng yêu thương con mãi mãi trong cuộc sống, không bao giờ chấm dứt. Chúa mở ra cho con con đường. Chúa đi trước con trên đường thánh đức, tại đó, phúc cho người chết vì yêu mến, và tử đạo là câu trả lời cuối cùng. Chúa là Đấng đang cầu nguyện trong con, cả đêm lẫn ngày mà con chẳng biết như thế nào. Chúa là Đấng vào mỗi buổi sáng xỏ vào tay con chiếc nhẫn, chiếc nhẫn tượng trưng cho quyền lợi và lễ mừng. Chúa là Đấng không ngừng kiếm tìm con. Tại sao con lại nghi ngờ và dành thời gian cho những việc riêng ? Tại sao khi đã cầm cày, mà vẫn còn ngoái lại đàng sau ? Con đã không xứng đáng để đi theo Chúa. Dầu vậy, dầu không nhìn thấy Chúa, con vẫn yêu mến Chúa. theo R. Schutz n
Đau khổ Nhóm 12, tức là các tông đồ, sau một thời gian được ở bên Chúa, được chứng kiến mọi việc Ngài làm, được Ngài dạy dỗ cách riêng, được tham dự vào chính công việc rao giảng Tin Mừng của Ngài, được dự phần vào việc Ngài nuôi dân chúng bằng năm chiếc bánh và hai con cá, nay đến lúc Chúa muốn các ông dứt khoát lập trường, nói lên lòng tin vào Chúa. Nhưng đây cũng là khúc quanh quan trọng : Chúa bắt đầu tỏ ra cho các môn đệ biết con đường đau khổ Ngài phải đi để hoàn thành sứ mạng. Bởi vậy việc ông Phê-rô tuyên xưng lòng tin và việc Chúa báo trước con đường đau khổ của Ngài là một biến cố bản lề trong quá trình thi hành sứ mạng của Chúa cũng như trong quá trình huấn luyện các môn đệ, vì khi nói về con đường của Ngài thì Chúa cũng nói đến con đường các môn đệ phải đi theo Ngài. Đó là nội dung bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể nhận ra ba điều rõ ràng : Người ta nghĩ gì và các môn đệ nghĩ gì về Chúa Giê-su, con đường đau khổ Chúa phải đi, và con đường các môn đệ và mọi người đi theo Chúa. Mở đầu, Chúa Giê-su hỏi các môn đệ về dư luận của quần chúng : người ta bảo Ngài là ai ? Hẳn các ông phải biết, vì các ông vẫn ngồi lẫn trong đám đông khi Chúa giảng dạy, bởi vậy các ông có thể trả lời dễ dàng : người thì bảo là Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Ê-li-a, người khác lại cho là một vị ngôn sứ nào thời trước đã sống lại. Câu trả lời cho thấy dư luận quần chúng khá hoang mang về Chúa Giê-su, họ nhận ra một khía cạnh nào đó của Ngài, và cố gắng diễn tả bằng những hình ảnh quen thuộc, do kinh nghiệm hoặc do truyền thống, như vậy họ mới chỉ biết mập mờ về Chúa và bập bẹ nói về Ngài. Nhưng câu hỏi mở đầu của Chúa chỉ là để chuẩn bị cho một câu hỏi quyết liệt và liên quan trực tiếp tới các tông đồ : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”. Ông Phê-rô đã thay mặt cho anh em đáp ngay : “Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa”. Sau câu trả lời ấy, chúng ta có thể ngạc nhiên khi thấy Chúa không vỗ tay hoan hô cũng không nói một lời khen hoặc xác nhận ông Phê-rô nói đúng, nhưng lại trịnh trọng truyền cho các ông không được nói điều đó với ai, và chính Chúa giải thích lý do tại sao Ngài truyền như thế : “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”, đó là con đường Ngài phải đi. Liền sau đó Chúa nói với mọi người chứ không phải chỉ nói với các môn đệ, về con đường họ phải đi : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Từ bỏ mình và vác thập giá không phải là hai hành động riêng biệt, nhưng là hai mặt của một hành động. Từ bỏ mình ở đây không phải là một sự vong thân, nhưng là một điều kiện để thành công, để vươn tới một cái gì cao hơn. Trong cuộc sống chúng ta thấy muốn theo bất cứ một lý tưởng nào, cũng phải từ bỏ mình để đi theo, thực hiện lý tưởng ấy. Muốn đi theo Chúa lại càng phải từ bỏ mình để đi vào con đường của Ngài. Đánh mất mạng sống mình vì Đức Ki-tô nghĩa là chọn lấy tương lai của Chúa làm của mình. Đánh mất ở đây không phải chỉ bằng cách đưa đầu cho đao phủ chém như các vị tử đạo, đó chỉ là hạnh phúc của một số ít, nhưng là sự từ bỏ liên lỉ hằng ngày. Suốt cuộc đời của người Ki-tô hữu là một cuộc chết dần đi để cho Đức Ki-tô sống mạnh hơn. Nói tóm lại, Chúa Giê-su đã không che đậy, không giấu diếm về con đường Ngài phải đi và con đường những người tin Ngài phải đi theo Ngài, đó là đi tới vinh quang bằng con đường gian nan đau khổ. Mơ ước vinh quang thì dễ, nhưng chấp nhận con đường đau khổ để đi tới vinh quang thì khó. Đó là bài học Chúa dạy chúng ta hôm nay. Trong đời sống, hầu như hằng ngày chúng ta đều gặp phải những điều bực mình, khổ tâm, và cuộc đời chúng ta được thêu dệt bằng nhiều thứ đau khổ về thể xác và tâm hồn: bệnh tật, đau yếu, lo âu, bất công, túng thiếu, cực nhọc, nghèo khổ… nên người ta nói trần gian là chốn khổ ải, là thung lũng nước mắt quả thực không sai chút nào. Từ trong nôi cho đến khi nằm yên nơi phần mộ, đời sống con người phải trải qua bao nhiêu khóc lóc, thở than, và có một điều kỳ khôi là thường những người tốt lại gặp đau khổ nhiều hơn. Cũng như sét thường đánh những cây cao hay những tòa nhà nhiều tầng, cũng vậy, sự thử thách hình như cũng thường “thăm hỏi” những người cao thượng và thánh thiện, vì thế, Chúa Giê-su, cũng chính là sự thánh thiện và cao thượng tuyệt đối, đã muốn vác cây thập giá nặng nhất để khuyến khích chúng ta và cho chúng ta một mẫu gương cụ thể, sống động. Trước những đau khổ và thử thách, chúng ta phải hiểu thế nào ? Chúng ta đừng bao giờ hiểu đó là hình phạt Chúa trừng phạt, nhưng đó là một cách Chúa dùng để giáo dục chúng ta, chẳng hạn : một hoạn nạn, một sự cám dỗ dạy chúng ta biết cầu nguyện tha thiết hơn; một cái chết của người thân yêu khơi dậy nơi chúng ta lòng gắn bó với nước trời và cố gắng sống tốt đẹp hơn; một lời xỉ nhục, một lòng phụ bạc, một sự phản bội tách chúng ta xa lánh các tạo vật để bám chặt vào Chúa hơn; một lỗi lầm làm chúng ta nghĩ đến sự công chính của Chúa và hy vọng vào lòng nhân từ của Ngài. Đàng khác, mỗi thử thách, mỗi đau khổ chúng ta gặp là hình như Chúa trao cho chúng ta một cái gai đội trên đầu Ngài, chúng ta đừng vất cái gai ấy, nhưng hãy nhận lấy và mạnh dạn bước theo chân Thầy. Người Ki-tô hữu phải sẵn sàng chịu đau khổ một cách phó thác, và phải biết nhìn lên thập giá của Chúa để thêm tin tưởng và hy vọng. Chúng ta hãy nhớ rằng : đau khổ thường đi trước niềm vui, thánh giá phải đi trước triều thiên, vì thế, mỗi đau khổ chúng ta chấp nhận vì tình yêu Chúa, mai này sẽ trở thành một viên ngọc vĩnh cửu cho chính mình.
HÀNH
TRANG THEO CHÚA: CẦU NGUYỆN Bài phúc âm hôm nay có vẻ như một bài kiểm tra trong lớp học. Thầy giáo đặt câu hỏi và học sinh hăm hở đưa tay trả lời. Chúng ta nghe câu Chúa Giêsu hỏi: “Dân chúng nói Thầy là ai?” Câu trả lời ngay: “Ông Gioan Tẩy Giả”, “Elia”, “Một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại”. Chúng ta nghe các câu trả lời, nhưng các bạn có biết phản ứng của các gương mặt của những người trả lời ra sao không? Chắc những người này đã kéo đoàn hò reo đi theo một thủ lĩnh với đầy tham vọng và đắc ý. Họ đang đi với một thủ lĩnh đang rao giảng và được dân chúng ủng hộ. Họ chỉ có suy nghĩ đơn giản là coi Thầy họ ngang hàng với Gioan Tẩy Giả, Elia, hay một ngôn sứ? Các môn đệ đang nghĩ họ đang tiến đến vinh quang. Có thể đúng thật, nhưng không phải loại vinh quang như các ông đang nghĩ. Trong lớp, khi học sinh không trả lời đúng câu hỏi, thì Thầy giáo đặt lại câu hỏi theo cách khác. Đó là việc Chúa Giêsu làm. Chúa Giêsu lại đặt câu hỏi chú trọng vào các ông, mong rằng các ông sẽ trả lời đúng kinh nghiệm của các ông về Thầy họ. “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Phêrô, thủ lĩnh của nhóm, đôi khi cũng không trả lời đúng câu hỏi được. Nhưng, lần này, Phêrô có vẻ trả lời đúng “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Gương mặt của Phêrô trong lúc trả lời trông ra sao? Có vẻ tôn kính, hay kính sợ? Hài lòng vì mình trả lời đúng? Phêrô trả lời đúng, nhưng ông ta hiểu sai về phong cách Chúa Giêsu là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Các môn đệ, kể cả Phêrô, còn phải tìm hiểu nhiều về Chúa Giêsu là ai. Vì thế khi thầy giáo bảo các học sinh im lặng có nghĩa là các em còn phải học hỏi nhiều. Cũng vậy, đối với các tông đồ, Chúa Giêsu muốn các ông luôn học hỏi về Ngài. Và các buổi học sau Chúa Giêsu dạy cho các ông về tin mừng Ngài đem đến. Là “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy.” Sau đó Chúa Giêsu bắt đầu hành trình đi Giê-ru-sa-lem. (Chúng ta sẽ nghe đoạn này phúc âm thánh Luca tuần tới). Ngài dạy các ông nhiều lần nữa trong lúc các ông đồng hành với Thầy lên thành thánh. Trên đường đi các ông sẽ nghe Thầy dạy dỗ; Thầy sẽ tranh luận với các lãnh đạo tôn giáo, và các ông sẽ trông thấy Thầy chữa bệnh và tha thứ cho người tội lỗi. Suốt mùa hè cho đến tháng 11, chúng ta sẽ cùng đi với các ông, và sẽ nghe các câu chuyện phúc âm trên đường lên Giê-ru-sa-lem. Các môn đệ sẽ hiểu biết thêm Chúa Giêsu là ai. Nhưng cuối cùng, các ông sẽ ngỡ ngàn và bị khủng hoảng vì sự đau khổ của Chúa Giêsu và các ông sẽ bỏ chạy mất. Là Thầy các ông Chúa Giêsu không bỏ rơi các ông. Ngài sẽ chịu đau khổ và chịu chết, nhưng, như Thầy đã nói với các ông là đó không phải là kết thúc câu chuyện “Đến ngày thứ ba” Thầy sẽ chỗi dậy. Lúc bấy giờ các ông chưa hiểu Thầy muốn nói gì trên con đường vinh quang các ông đang đi. Nhưng, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục dạy dỗ các ông, cho đến Khi Ngài trở về với Chúa Cha. Rồi Chúa Giêsu sẽ gởi Thánh Thần xuống trên các ông, vì ngay đoạn đầu phúc âm chúng ta đã nghe Gioan Tẩy Giả nói: Đấng đến sau ông sẽ “làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3:16) Các môn đệ cần phải hiểu các phép lạ Chúa Giêsu làm, và sự hoan hô của đám đông, không đáp đúng câu hỏi của Chúa Giêsu. “Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai?” Tháng vừa qua chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần. Chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã hứa. Nhưng, thử hỏi chúng ta có biết gì nhiều hơn các môn đệ trong lúc các ông đi theo Chúa Giêsu lên Giê-ru-sa-lem không? Hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta chút ánh sáng để hiểu biết thêm về việc làm môn đệ của Ngài là thế nào, và tôi muốn nói sang đề tài khác. Tôi cũng như một học sinh đang gặp một bài học khó hiểu. Tôi đợi đến giờ chơi để ra khỏi lớp. Đối với môn đệ của Chúa Giêsu, không có niềm vui sâu đậm nào mà không có bóng dáng ơn Chúa Thánh Thần. Nói vậy không có nghĩa là đối với người môn đệ, đường lên Giê-ru-sa-lem là một hành trình vui vẻ đâu. Hôm nay Chúa Giêsu nói cho các môn đệ biết là ai muốn theo Ngài có thể phải trả một giá đắt là sẽ bị chết. Nếu Theo Chúa Giêsu là lên đường thắng cuộc, thì chúng ta nên kết luận rằng thắng cuộc là do bởi sự cố gắng của chúng ta. Chúng ta làm việc nhiều, cố gắng nhiều và chúng ta thắng cuộc. Nhưng, ngược lại, khi chúng ta theo chân Chúa Giêsu, chúng ta nghiệm lại sự yếu đối, và thất bại như các môn đệ đã gặp. Và rồi, chúng ta lại tìm thấy sự vui vẻ mới, và chúng ta kiên trì trong đau khổ, và điều đó do bởi Chúa Thánh Linh của Đấnhg đã hứa là Ngài sẽ chỗi dậy vào ngày thứ ba phải không? Chúng ta hiểu ngay vì sao bài phúc âm hôm nay liên hệ đến bài đọc thứ nhất của ngôn sứ Zacaria. Đối với nhiều người, ngôn sứ viết về người chịu khổ là một điều khó hiểu. Mặc dù chúng ta không hiểu ngôn sứ có ý gì, nhưng các Kitô Hữu tiên khởi hiểu đoạn văn này ám chỉ Chúa Kitô. Ngôn sứ Zacaria có thể viết về một số người tốt và huy hoàng trong quá khứ, và ngay cả đến bây giờ, đã bị chịu khổ hình vì họ giúp đỡ người khác. Tiếc thay số các thánh chịu chết vì đạo rất nhiều. Không ai có thể biết được người nào đại diện Thiên Chúa, và theo đường Thiên Chúa có thể dắt đến đỉnh tối cao đó. Zacaria diễn tả Thiên Chúa là “Thần Khí ơn huệ và khấn nguyện” đối với những người chống đối lại. Và rồi, như một tấm màn được vén lên, những người đó sẽ trông thấy sự dữ họ đã làm (chúng sẽ nhìn lên Ta, người chúng đã đâm, chúng sẽ khóc than như người ta khóc than người con một…”) và họ sẽ thay lòng đổi dạ và trở về với Thiên Chúa. Sự tha thứ của Thiên Chúa sẽ như “suối mở ra… để tẩy rửa tội lụy và uế nhơ”. Hãy trở về với lớp học chúng ta. Chúng ta tập ăn năn như các môn đệ một cách máy móc, không như đức tin mà chúng ta đã tuyên xưng. Chúng ta chỉ trả lời “xin vâng” trên môi hay “Thầy là Đức Kitô” mép thôi nhưng lại không chấp nhận lối sống của Đấng Kitô, vì chúng ta chọn sự khai thác hơn là phục vụ; chọn sự lấy lòng hơn ngay thẳng; chọn sự tích lũy hơn là chia sẻ; chọn quyền uy hơn bình đẳng; chọn lên án hơn là tha thứ. Chúng ta thấy rõ là Chúa Giêsu đã nói là làm môn đệ của Ngài không phải là việc làm bán thời gian: Chỉ là vào ngày Chúa Nhật ở nhà thờ và đôi khi hãy làm vài việc thiện trong cả tuần. Vác thánh giá không phải là hành động trong ngày thứ sáu tuần thánh, nhưng phải luôn vác khi nào chúng ta cảm thấy có năng lực. Và cũng không phải hy sinh vì danh thánh Chúa Giêsu là việc dành riêng cho các thánh tử đạo mà thôi. Trái lại, Chúa Giêsu đòi hãy hy sinh mạng sống mình vì danh Ngài hàng ngày. Vì thế, trong suốt đời theo làm môn đệ Chúa. Và việc vác thánh giá không chỉ dành riêng cho một số ít người, nhưng tất cả chúng ta, các môn đệ đều phải làm để theo Chúa Giêsu. Bài phúc âm hôm nay bắt đầu “Hôm ấy, Đức Giêsu cầu nguyện một mình”. Việc cầu nguyện là điểm chính trong phúc âm thánh Luca, và thường xảy ra trước một việc quan trọng. Thí dụ: trước khi Chúa Giêsu chịu phép rửa (3:21); trước khi Chúa Giêsu chọn mười hai tông đồ (6:12); Phêrô tuyên xưng đấng Kitô trước khi Chúa Giêsu tiên báo sự đau khổ của Ngài (9:18); trước khi Chúa Giêsu dạy các môn đệ đọc kinh “Lạy Cha” (11:2) v.v… Thánh Luca thường viết Chúa Giêsu đi một mình để cầu nguyện. Người đọc phúc âm thánh Luca cần phải học hỏi để trở nên môn đệ chúa không chỉ do lời dạy của Chúa Giêsu, hay là người đó có lòng đạo đức tốt mà thôi. Nhưng thật ra, chúng ta học cầu nguyện nơi Chúa Giêsu vì Ngài luôn cầu nguyện; đó là hành trang của chúng ta trên đường đi theo Ngài, ngay cả khi chúng ta cùng chịu đau khổ vì Ngài tại Giê-ru-sa-lem. Ai lại muốn theo Thầy khi nghe thầy bảo hãy chịu đau khổ? Ai lại muốn khi làm môn đệ thì phải luôn chịu hy sinh? Ở Brooklyn người ta thường trả lời vấn nạn này bằng câu “hãy thử xem”. Nhưng, phúc âm thánh Luca (và sách Công vụ Tông đồ) hứa với chúng ta là chúng ta không đi một mình chúng ta trên đường đời. Chúng ta, những người đã nhận Bí tích rửa tội, đã được Chúa Thánh Linh cho chúng ta năng lực và xức dầu chúng ta để hàng ngày giúp chúng ta làm việc bổn phận. Có lẽ vì thế mà thánh Luca nói Chúa Giêsu năng cầu nguyện để nhắc chúng ta luôn cầu nguyện. Vì khi cầu nguyện, mắt chúng ta sẽ được mở ra, và chúng ta sẽ cảm nhận được Chúa Giêsu và Chúa Thánh Linh đang cùng đồng hành với chúng ta trên đường đi Giê-ru-sa-lem. Đức Kitô, cội nguồn sự hiệp nhất của chúng ta Zacharia 12: 10-11; Tvịnh 63; Galát 3: 26-29; Luca 9: 18-24 Lm. Jude Siciliano, OP (Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Vò Vấp)
Đôi khi Đức Giêsu được những thành viên của nhiều nhóm đạo đức gọi là Rabbi. Nhưng Người là một kiểu thầy dạy khác lạ. Trong Tin mừng theo thánh Mátthêu, chúng ta nghe thấy rằng Người giảng dạy không như những những vị khác đã dạy, nhưng “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” (7, 28-29). Một trong những cách thức các thầy Rabbi dạy là đặt câu hỏi. Những vị thầy giỏi thì đặt những câu hỏi sao cho hướng đến những câu trả lời của người hỏi đặt ra hơn là chỉ cho họ câu trả lời. (Có câu nói đùa rằng: một sinh viên hỏi Rabbi, “Thưa Rabbi, tại sao thầy luôn trả lời bằng một câu hỏi khác?” Vị Rabbi trả lời, “Thế tại sao tôi không nên trả lời bằng một câu hỏi?”) Nếu Rabbi đưa ra câu trả lời, thì đó là câu trả lời của thầy. Nhưng nếu thầy hỏi câu hỏi đúng, thì ông có thể có một câu trả lời khác và câu trả lời của đồ đệ được ghi nhớ và được tiếp thu. Thêm nữa, nếu Rabbi đưa ra câu trả lời thì vấn đề đã được xác định rồi. Nhưng nếu câu hỏi khác được hỏi thì vấn đề tiếp tục được mở rộng cho việc tìm kiếm và khám phá thêm. Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu hỏi các các môn đệ một câu hỏi quan trọng. Người không đưa ra câu trả lời, nhưng cho họ thời gian và thêm kinh nghiệm để tìm ra câu hỏi của riêng họ. Khởi đầu Tin mừng của mình, tác giả Luca thuật lại việc cha mẹ Đức Giêsu tìm kiếm Người sau khi họ phát hiện ra Người không cùng đi với họ trong đoàn hành hương từ dịp lễ Vượt qua ở Giêrusalem. Sau ba ngày tìm kiếm, họ thấy đứa con trai 12 tuổi của mình trong đền thờ, “đang ngồi giữa các thầy dạy, nghe và hỏi họ” (2,46). Khi Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “đám đông bảo thầy là ai?” Họ đã ở với Người một thời gian và đã thấy và đã nghe khi Đức Giêsu nói những nhu cầu của dân chúng, dạy đám đông và đối đáp trước những tấn công từ nhóm đạo đức. Những lời đáp đầu tiên của họ với Đức Giêsu được rút ra từ những điều họ đã quan sát và đã nghe người khác nói. Thế rồi, Đức Giêsu đưa ra câu hỏi, “Còn anh em bảo Thầy là ai?” Câu hỏi của vị Thầy đòi hỏi các môn đệ trở về lòng mình, rút ra từ những kinh nghiệm ở cùng Đức Giêsu và rút ra quyết định của riêng mình. Phêrô đáp thay cho cộng đoàn: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Câu trả lời của ông không chỉ là một chút thông tin để mang theo trong cả phần đời còn lại. Ông sẽ có Đức Kitô hằng sống với ông và sẽ có thêm cho kinh nghiệm, sự hấp thụ và hành trình. Câu hỏi của Đức Giêsu sẽ luôn gắn chặt trong trí nhớ và ý thức của ông và ông sẽ phải trở lại lòng mình để trả lời nó nhiều lần nữa khi ông biết hơn về “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Dù cho lời đáp của Phêrô đúng, nhưng ông sẽ phải củng cố nó cách quyết liệt để hợp với những sự kiện bi thảm sẽ nảy sinh khi ông tiếp tục theo Đức Giêsu. Đối với ông và các môn đệ khác “Đấng Kitô của Thiên Chúa” nghĩa là người cai trị đầy quyền lực sẽ lãnh đạo dân Israel và đánh đuổi người Rôma. Nhưng Đức Giêsu phá tan khái niệm đó khi Người khiển trách các môn đệ. Người hướng sự ám chỉ đến chính mình từ “Đấng Kitô của Thiên Chúa” đến “Con Người”. Bài tin mừng nằm trước bài Tin mừng hôm nay thuật lại phép lạ hóa bánh cho 5000 người ăn (9,10-17). Cách trình bày này hẳn sẽ đề nghị các môn đệ rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia hằng được mong đợi, “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Cuối cùng, đây là Đấng Mêsia bắt đầu một thời đại mới. Điều này đủ thực, nhưng Đức Giêsu thêm rằng người ta chỉ vào được thời đại mới này khi họ có tình yêu hy sinh – sự hy hiến này đã được Đức Giêsu thực hiện trên thập giá. “Rồi Đức Giêsu nói với mọi người…” – Đức Giêsu đưa ra một lời mời gọi phổ quát cho bất kỳ ai khao khát chấp nhận nó. Nhưng những ai chấp nhận phải dám từ bỏ tất cả: tham vọng, những cách thức nhận biết tha nhân, những ưu tiên hằng ngày, những thói ích kỷ của họ - cuộc sống của họ chính là thế! Nghe lời đáp của Phêrô Đức Giêsu hướng sự ám chỉ đến chính mình từ “Đấng Kitô của Thiên Chúa” tới “Con Người”. Trong các Tin mừng, thuật ngữ này ám chỉ đến Đức Giêsu. Đây là một danh hiệu ưa thích dành cho Đức Giêsu trong Tin mừng Luca và mang các tầng ý nghĩa. Trước hết, đơn giản nó có nghĩa là “con người”. Nhưng nó cũng là danh hiệu thiên sai được dùng 70 lần trong Tin mừng nhất lãm và 12 lần trong Tin mừng Gioan. Nó xuất hiện trong sách Đaniel (7,13) để mô tả “ai như con người”, đại diện cho dân Israel mới và hiện ra trên mây trời để nhận vương quốc từ Đấng Lão Thành. “Con Người” được dùng thường xuyên qua các sách Tin mừng và thường ám chỉ sự vượt qua và cái chết – như trong bài Tin mừng hôm nay. Sau khi Đức Giêsu phục sinh, Phêrô sẽ mở rộng câu trả lời của ông cho câu hỏi của Đức Giêsu. Trong chương 3 quyển thứ 2 của Luca, Công vụ tông đồ, sau khi Phêrô và Gioan chữa trị người què ở cổng Đền thờ (3,1-26), Phêrô nói với đám đông và ám chỉ Đức Giêsu như: tôi tớ của Thiên Chúa, Đấng Thánh và Đấng Công Chính, Tác giả của Sự sống, và Đấng Mêsia. Rõ ràng trong các sách Tin mừng, Phêrô có nhiều thiếu sót và những hành động sai lầm, nhưng nhờ kết quả của việc Đức Giêsu phục sinh và quà tặng của Thánh Thần, cuộc đời Phêrô đã thay đổi. Lời đáp của ông cho câu hỏi của Đức Giêsu tăng trưởng vì những sự kiện làm thay đổi cuộc sống nhờ vào sự vượt qua và sự phục sinh của Đức Giêsu. Kinh nghiệm của Phêrô dạy rằng chúng ta không thể dùng câu trả lời của người khác để trả lời cho câu hỏi mà Đức Giêsu đã hỏi các môn đệ và tiếp tục hỏi chúng ta, “Còn anh em bảo Thầy là ai?” Câu hỏi này đòi chúng ta phải trả lời mỗi ngày. Chúng ta trả lời câu hỏi này bằng những quyết định mà chúng ta có liên quan đến chọn lựa của các bạn bè chúng ta; chúng ta sử dụng thời gian của mình ra sao; đầu tư cho các nguồn của chúng ta; đối xử với tha nhân, đặc biệt ý nghĩa tối thiểu; một sự sẵng sàng để được nhận biết như các môn đệ Đức Kitô; và sự thực hành từ chối bản thân trước của cải của người khác. Đức Giêsu hứa trong quá trình từ bỏ cuộc sống hằng ngày của mình, chúng ta sẽ tìm lại được. Thế gian khuyên chúng ta tìm kiếm lợi lộc riêng mình, cẩn trọng và tìm kiếm bằng nỗ lực tối thiểu. Tôi đang giữ lại cho bản thân những gì? Tại sao? Đức Giêsu đòi hỏi sự rủi ro và lòng quảng đại khi người khác cần đến mình. Ở chỗ khác có nói hạt giống được tích trữ sẽ mục nát. Đó không phải sự tối thiểu mà tôi có thể làm – nhưng là hết khả năng. Đức Giêsu không phải là người thích đau khổ, việc chọn đau khổ vì mục đích đau khổ. Hơn thế nữa, có lẽ được hướng dẫn bởi những ngôn sứ như Dacaria (trong bài đọc 1), Người đã nhận ra vai trò thiên sai như một người bị ruồng bỏ, đau khổ và thập giá. Người dạy cho Phêrô biết khái niệm về Đấng Mêsia. Đấng Mêsia sẽ phải đau khổ và trong hành động cũng dạy cho chúng ta cách thức để theo Người bằng cách sống cuộc đời của chúng ta. Theo Đức Giêsu làm cho chúng ta mở ra với cùng cách đối xử mà thế thế gian đã gây ra cho Người. Tuy nhiên, nó không kết thúc bằng cái chết, nhưng trong sự chung chia trong sự phục sinh và sự sống mới của Đức Giêsu. Tín hữu Galat đề nghị cách thức những ai cùng với đời sống mới mà Đức Giêsu trao tặng, phải nhìn chính họ và thế giới. Khi chúng ta chịu thua thiệt như các môn đệ và đón nhận thập giá của Đức Kitô, thì chúng ta đã bước vào mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa và với cả người khác. Vì đời sống mới, chúng ta sẽ thấy được giá trị của mỗi và mọi người. Đó là lý do chúng ta được Đức Giêsu gọi để thể hiện sự ưa thích tối thiểu. Vì Đức Giêsu chúng ta chia sẻ cách ngang bằng như con cái của Thiên Chúa. “Không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô”
| |