Năm C

 
 

Chúa Nhật IV Thường Niên - Năm C

Gr 1,4-5. 17-19/ 1Cr 12,31– 13,13/ Lc 4,21-30

Lm An Phong op : Thiên Chúa Tự Do Tuyệt Đối

Lm Như  Hạ : Ngôn Sứ

Fr Jude Siciliano, op : Vượt Trên Mọi Chia Rẽ Và Thử Thách

Antôn Lê Văn Thi - TSVN : Ơn Cứu Độ Phổ Quát

Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Lòng người đổi thay

Đaminh Tạ Văn Tịnh op : Kiên Vững Làm Chứng Cho Tình Yêu

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Tiếp Tục Con Đường

Fr. Jude Siciliano op.: Thân phận người ngôn sứ chân chính

Fr. Jude Siciliano, op : Đáp Trả  Tỉnh Yêu Không Loại Trừ  Của Thiên Chúa

Lm Đỗ Lực op : Tiếng Ai Gọi Đò

Phêrô Mai Vũ Quốc Duy op : Mạnh Dạn Loan Báo Tin Mừng

Fr. Jude Siclliano: Đức Mến cao trọng hơn cả

 


Lm An Phong op

Thiên Chúa Tự Do Tuyệt Đối

Tin mừng hôm nay thuật lại việc dân chúng Nagiarét thán phục Đức Giêsu vì những phép lạ Người làm để mang lại lợi ích cho quê hương mình. Họ cho mình có quyền đòi Đức Giêsu làm phép lạ vì họ là người đồng hương với Đức Giêsu. Nhưng Đức Giêsu lại mạnh mẽ phản kháng, vì Người không chỉ thuộc về làng quê xứ sở mình. Đức Giêsu là Đấng cứu độ, là Ngôn sứ cho toàn thể nhân loại. Người không thuộc về riêng ai, riêng tập thể nào, thậm chí cả Giáo hội. Thiên Chúa không chỉ thuộc về người kitô hữu. Nhưng người kitô hữu lại thuộc về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng tự do.

Đức Giêsu, một vị Thiên Chúa tự do, đến để cho con người tự do.

* Những người đồng hương với Đức Giêsu chỉ muốn Người làm phép lạ cho quê hương mình. Đức Giêsu đã nại đến hai vị đại Ngôn sứ của Cựu ước, Êlia và Êlisêô đã làm phép lạ cho cả những dân ngoại. Điều này nghĩa là người không chỉ là hồng phúc cho quê hương mình, nhưng cho tất cả những ai đón nhận Người. "Khi trời bị đóng lại trong ba năm sáu tháng, khi nạn đói lớn xảy ra khắp trong xứ... Êlia chỉ được sai đến với bà góa tại Sarépta. Cũng có nhiều người phong cùi trong Israel thời ngôn sứ Êlisêô, thế mà không người nào trong họ được lành sạch, ngoại trừ Naaman người Syria" (Lc 4,16t). Thiên Chúa tự do hành động qua hai ngôn sứ Êlia và Êlisêô.

* Đức Giêsu là hình ảnh vị Thiên Chúa tự do. Người đến và "đánh bạn" với đủ mọi hạng người, cả những người bị xã hội Do Thái khinh chê, ruồng bỏ. Người làm bạn với người thu thuế, loại người bị xem là tội lỗi. Người đến với những người phong cùi, mù, què, câm, điếc... loại người bị xem là "bị Chúa phạt"... Đức Giêsu không loại trừ một ai. Người hành động với quyền năng của tình yêu và tự do. Người Do Thái là những người ý thức rõ mình là dân Chúa chọn, nên việc Đức Giêsu, sứ giả của Thiên Chúa, quan tâm tới mọi loại người, kể cả dân ngoại, là một cớ vấp phạm lớn cho họ. Hơn nữa, những lời lẽ của Đức Giêsu tuyên bố đôi khi "quá tự do" đã "xúc phạm" đến họ. Người không kiêng nể bất cứ gì, nếu điều đó làm cho con người mất tự do. Thậm chí, Người đả phá những lề luật chi li tỉ mỉ, đè bẹp con người... Đức Giêsu đến để giải thoát con người, để làm cho con người được tự do, tức là tự lãnh lấy ơn gọi và trách nhiệm ơn gọi đó. Tự do là một tặng phẩm của Thiên Chúa. Con người được tự do và tự do làm nên trách nhiệm.

* Hơn nữa, như Đức Giêsu không chỉ đến với người Do Thái thế nào, thì Thiên Chúa không chỉ thuộc về các kitô hữu như vậy, nhưng các kitô hữu phải thuộc về Thiên Chúa. Thuộc về Thiên Chúa là một ý thức nền tảng làm người kitô hữu. Qua phép rửa tội, Thiên Chúa đã chọn chúng ta để trở nên những người con của Người, không phải vì "công kia việc nọ" của chúng ta. Trở thành một kitô hữu là một ơn Thiên Chúa kêu gọi nhưng không. Là kitô hữu tức là được lãnh nhận tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Do đó người kitô hữu phải ý thức tình trạng nghèo khó của mình, chỉ có lòng biết ơn và khiêm hạ quì xuống mới là thái độ xứng đáng. Thiên Chúa làm cho chúng ta tự do, sự tự do trong Thánh Thần. Thiên Chúa không đặt trên chúng ta những gánh nặng của lề luật, của những điều không thể thực hiện được. "Ách của tôi thì êm ái, gánh của tôi thì nhẹ nhàng".

Một cách truyệt vời nhất
để diễn tả lòng tri ân của chúng ta
đối với Thiên Chúa và anh chị em
là vui vẻ tiếp nhận mọi sự.

Sống hạnh phúc với Ngài bây giờ đây có nghĩa là :
"Yêu mến như Ngài đã yêu,
Giúp đỡ như Ngài thương giúp đỡ,
Ban tặng như Ngài ban tặng,
Phục vụ như Ngài phục vụ,
Cứu chuộc như Ngài cứu chuộc".

Ở với Ngài 24 tiếng mỗi ngày,
đụng chạm đến Ngài ẩn mình dưới bộ áo khốn cùng
của những người nghèo và những người đau khổ".

Một trái tim vui tươi
là hậu quả hiển nhiên của một trái tim nồng cháy yêu thương.

Xin Chúa chúc lành cho chúng ta. Amen.
(Thi ca tán dương niềm vui của Mẹ Têrêsa Calcutta)


An Hạ

NGÔN SỨ

Thiên Chúa muốn và thực sự đã nói với con người qua trung gian là các ngôn sứ. Nhưng ngôn sứ đã trở thành một vấn đề lớn cho dân Chúa.

MỘT ƠN GỌI

Vai trò ngôn sứ bắt đầu từ một niềm tin. Nếu chỉ đóng khung tầm nhìn trong những giới hạn trần gian, không thể chấp nhận được sứ mệnh ngôn sứ. Thực vậy, ngôn sứ là người đại diện Chúa nói cho dân biết về những mạc khải của Người. Nếu không tin nơi Chúa, không thể đón nhận những lời ngôn sứ. Nhưng nếu tin Thiên chúa, sẽ thấy ơn gọi ngôn sứ vượt qua mọi tính toán trần gian.

Thật vậy, Thiên Chúa từng mạc khải cho ngôn sứ Giêrêmia : “Trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” (Gr 1:5) Ơn gọi ngôn sứ hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa. Bởi đó, ngôn sứ không thể nói theo thị hiếu quần chúng, nhưng phải theo ý Thiên Chúa. Ý Thiên Chúa luôn là sự thật. Sự thật mất lòng. Chính vì thế, Đức Giêsu mới nói : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.” (Lc 4:24) Quê hương là hình ảnh thân thương. Nhưng quê hương cũng có thể giới hạn tầm nhìn con người. Nói khác, quê hương quá gần khiến con người không thể nhìn xa hơn.

Đây là một cơ hội tốt hay xấu cho ngôn sứ ? Có những ngôn sứ đã run sợ trước những trở ngại từ chính đồng hương. Trước những đe dọa, tù đầy, giết chóc, nhiều người đã không dám nói sự thật. Nhưng cũng không thiếu những ngôn sứ vững tin vào ơn gọi và sứ mệnh. Họ dám đánh đổi mạng sống lấy sự thật. Tận thâm tâm, họ luôn nghe thấy tiếng Chúa : “Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ.” (Gr 1:17) Phải được phấn khích như thế, họ mới có đủ can đảm lên đường làm chứng.

Lời ngôn sứ bao giờ cũng tạo hai phản ứng ngược chiều. Có thể thuận lợi. Chẳng hạn sau khi nghe Đức Giêsu nói, “mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.” (Lc 4:22) Nếu thực tế lúc nào cũng như thế, chắc chắn ngôn sứ đã thành điểm hấp dẫn muôn dân. Biết đâu ngôn sứ không là một nghề nuôi sống nhiều gia đình ?

Thế nhưng, trong lịch sử Dân Chúa, đã có nhiều ngôn sứ bị bỏ mạng vì sứ mệnh. Hoàng hậu Giêdêben đã từng giết nhiều ngôn sứ Giavê (x. 1 V 18:4,13) Chính ngôn sứ Êlia cũng làm chứng “con cái Ítraen đã dùng gươm sát hại các ngôn sứ.” (1 V 19:10, 14) Chút xíu nữa Đức Giêsu cũng phải chung số phận với các ngôn sứ rồi. Nếu không nhờ Thần Khí hướng dẫn “băng qua giữa họ mà đi,” (Lc 4:30) Người đã bị vùi thân dưới lòng vực thẳm, vì “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.” (Lc 4:28) Thái độ quần chúng thật khó hiểu. Khen chê thất thường. Không còn biên giới giữa thán phục và phẫn nộ. Cùng một cử tọa, một thời điểm đã diễn ra hai cảnh ngộ trái ngược nhau. Chẳng qua chỉ vì Đức Giêsu không màng tới những tham vọng đầy ích kỷ của họ mà thôi.

Nhưng chính khi bị từ chối, ngôn sứ mới có cơ hội vượt qua biên giới quê hương. Từ xưa, ngôn sứ Êlia đã “phớt lờ” các bà góa đồng hương. Vượt qua biên giới đồng hương, ông “được sai đến giúp bà góa thành Xêrépta miền Xiđôn.” (Lc 4:26) Giữa bao tiếng kêu gào của những “người phong hủi trong nước Ítraen,” tại sao ngôn sứ Êlisa chỉ chữa lành cho “ông Naaman, người xứ Xyria.” (Lc 4:27) Lịch sử chứng minh, ngôn sứ không được sai đến để chiều theo thị hiếu hay thỏa mãn óc tò mò, nhưng chỉ để đáp ứng khát vọng của những con người chân thành.

Chỉ với niềm tin, mới có thể thấy được tất cả chiều kích lớn lao của sứ điệp Thiên Chúa. Niềm tin sẽ mở rộng nhãn quan và làm nền tảng đức ái, khiến con người có thể “vui khi thấy điều chân thật” (1 Cr 13:6) phát xuất từ miệng ngôn sứ. Nếu quả thực đồng hương chấp nhận Đức Giêsu, nghĩa là tin Người là Con Thiên Chúa, họ đã có một trái tim rộng mở để “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hi vọng tất cả, chịu đựng tất cả,” (1 Cr 13:7) chứ không đòi nhốt chặt ngôn sứ trong biên giới Do thái. Lời Chúa luôn mang chiều kích phổ quát. Tin mừng dành cho muôn dân.

THÂN PHẬN

Sứ mệnh và số mệnh ngôn sứ luôn gắn liền với Lời Chúa. Lời Chúa luôn tra vấn và xoáy sâu vào lòng người. Theo chân Thày chí thánh, rất nhiều ngôn sứ đã đi đến tận cùng trái đất để làm chứng cho Thiên Chúa và bỏ mạng vì Lời Chúa. Theo Thông tấn xã Fides, năm 2003 vừa qua, ít nhất 29 người Công giáo đã bị giết trong khi đang làm việc truyền giáo. Trong số đó, có bốn giáo dân, một tu sĩ, ba chủng sinh, 20 linh mục và một tổng giám mục. Dẫn đầu trong việc sát hại các nhà truyền giáo là Colombia với sáu vị, Châu Mỹ La tinh bốn vị, El Salvador hai vị, Ba tây và Guatemala mỗi nơi một vị. Phi châu 17 vị : sáu tại Uganda, năm tại Congo, và mỗi vị tại các nước Cameroon Burundi, Nam Phi, Equatorial Guinea, Somalia và Kenya. Á châu hai vị : một tại Ấn độ và một tại Pakistan.

Dù sống giữa bao hiểm nguy và ngộ nhận, Giáo hội không bao giờ lùi bước trước vai trò ngôn sứ. Nếu những miền đất đó đón nhận ngôn sứ, chắc chắn hòa bình đã ngự trị. Vì Lời ngôn sứ sẽ là sức mạnh nối kết con người với Thiên chúa và với nhau. Quả thế, “sống giữa nhân loại, Kitô giáo có sứ mệnh tạo lập tình thân hữu, sự hiểu biết, cổ võ, thăng tiến, nâng cao tinh thần. Đó là sứ mệnh cứu độ.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 06/01/2004) Nói khác, đó là sứ mệnh tình yêu, một sứ mệnh vô cùng cần thiết giữa một thế giới hận thù. Hình ảnh ngôn sứ càng trổi vượt, nhân loại càng tiến gần chân lý. Ngôn sứ cao cả nhất và quyền năng nhất đó chính là Đức Giêsu Kitô. Thực vậy, chỉ “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6:68)


Fr Jude Siciliano, OP.

VƯỢT TRÊN MỌI CHIA RẼ VÀ THỬ THÁCH
(Lc 4,21-30)

Thưa quý vị,

Trong những đám cưới mà tôi chủ trì hoặc tham dự, dễ thường đến phân nửa cô dâu, chú rể chọn bài đọc 2 hôm nay hoặc phần ngắn hơn làm bài thánh thư. Phần ngắn bắt đầu từ câu : “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương…” và bởi vì thính giả trong các thánh đường gần như đã quen với bối cảnh, cho nên tôi cũng chọn bài này làm đề tài suy gẫm hôm nay. Tôi hy vọng bản văn sẽ có chút ít tác động vào cuộc sống chúng ta ở thời điểm này. Ngoài ra, nếu quý vị có thêm cơ hội để tham dự một đám cưới khác, hẳn bài đọc 2 thường niên C sẽ nảy sinh nhiều ý nghĩa hơn (hy vọng tôi không quá lạc quan, ít ra nó cũng đáng nhớ đấy chứ !). Vậy xin tiếp tục.

Điều thứ nhất phải trình bày là đừng để giọng văn lưu loát của thánh Phaolô làm chúng ta phân tán ! Và cũng không quá hùng biện đến nỗi bay lên tới trời xanh, quên mất thực tại của Giáo Hội và thế giới. Tình yêu lúc nào cũng cho chúng ta nhiều cảm hứng. Nhưng thánh Phaolô không vì thế mà ủy mị hoặc quá lý thuyết, ông lúc nào cũng tỏ ra cân bằng, chừng mực trong các tư tưởng của mình. Có nhiều điều trong Giáo Hội Côrintô làm thánh nhân phiền lòng. Nhưng cứ theo bài đọc hôm nay thì chúng ta khó mà đoán ra. Tình hình bên ngoài tuy không mấy thay đổi, nhưng nội bộ thì quá nhiều chia rẽ, không tốt đẹp như thánh nhân mong đợi. Tuy vậy, giọng điệu của thánh nhân không hề tỏ lộ giận dỗi, buồn lòng, chỉ cho họ biết rằng họ ăn ở, đối xử với nhau chưa đạt tiêu chuẩn người tín hữu. Giống như bậc bề trên ông đưa ra mẫu mực phải theo tức “bài ca bác ái”, để ai nấy so sánh với hạnh kiểm của mình mà sửa chữa. Giống như một người cha, người mẹ trong gia đình khích lệ con trai hay con gái, đưa cho chúng một gương bắt chước : “Này cưng, cuộc thăm viếng ba má của con phải đạo lắm đấy. Từ nay ngoan nhé !”

Để hiểu rõ hơn vấn đề của thánh Phaolô, chúng ta cần một số thông tin. Bài đọc hôm nay là một phần của đoạn văn dài hơn, đề cập đến nội bộ của giáo đoàn Côrintô. Sau một năm rưỡi giảng đạo ở thành phố dân ngoại này, ông lập giáo đoàn và bỏ đi. Ít lâu sau ông nghe tin có sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ giáo đoàn. Người thì thuộc nhóm Phaolô, kẻ khác thuộc nhóm Apôllô, người khác thuộc Cephas (1,12). Một số khác lại tự coi mình có liên quan đặc biệt với Đức Kitô. Thánh Phaolô rất đau lòng viết thư kêu gọi sự hiệp nhất, chấm dứt chia rẽ. Độc giả nào chịu khó coi kỹ chương tám của thư này thì thấy Giáo Hội Côrintô còn nhiều nhiễu nhương hơn nữa. Nào là tội tà dâm, loạn luân (ăn ở với vợ kế của cha mình), kiện cáo nhau ở toà ngoại giáo, kiêng khem ăn uống, thờ cúng ngẫu tượng… Tất cả đều là con cái của Satan kêu ngạo, tự thổi phồng mình lên và gây chia rẽ.

Ngay cả trong bữa tiệc Thánh Thể, gọi là bữa tiệc yêu thương (agape) cũng không tránh khỏi tệ nạn. Có những nhóm trưởng giả, nhóm nghèo khổ, nhóm say sưa, nhóm “ngồi lê mách lẻo”, nhóm “vô công rỗi nghề” (không làm thì đừng ăn), nhóm khác thì gồm những “ông thánh bà thần”, cầu nguyện ngây ngất (ecstatic prayer) trong khi bỏ mặc mẹ goá con côi, người nghèo khổ, kẻ đói ăn, lại còn nhóm thần học gia tiến bộ nghi ngờ sự sống lại của thân xác (chương 15). Căn do của sự chia rẽ có lẽ hệ tại tính chất “mở cửa” của Hội Thánh. Khi được rửa tội sáp nhập vào cộng đoàn tín hữu thì mọi rào cản tôn giáo, văn hoá, xã hội, kinh tế, giai cấp đều bị phá đổ, mọi thành phần đều bình đẳng về nhân phẩm và lòng tin. Cho nên trong Giáo Hội có đủ mọi hạng người, tự do, nô lệ, Hy lạp, Do Thái, Tiểu Á, Pontô, đàn ông, đàn bà, con trẻ … không một thành phần dân cư nào trong thành phố lại mang tính “hổ lốn” như nhóm Giáo Hội tiên khởi nhỏ bé. Tuy nhiên, như chúng ta biết ngày nay, thì họ lại là dấu chỉ hữu hiệu của triều đại Thiên Chúa. Một tổng hợp lạ lùng chỉ có đức tin vào Chúa Giêsu Kitô mới có thể tập hợp được. Vậy thì sự chia rẽ tiềm ẩn, những cãi co lặt vặt là điều không thể tránh khỏi. Đòi hỏi một sự hiệp nhất hoàn toàn là không thực tế.

Xin nhớ lại ở giáo đoàn Galata, thánh Phaolô đã rao giảng việc xoá bỏ mọi ưu tiên xã hội và tôn giáo: “Không còn chuyện Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Kitô” (3,28). Nhờ bí tích thánh tẩy, các Giáo Hội tiên khởi hoàn toàn bình đẳng về địa vị và tư cách làm con Thiên Chúa. Tất cả những phân biệt cũ đều không còn chỗ đứng trong cộng đồng mới, họ đã thực sự mặc lấy Đức Kitô. Đọc bài trích thư Côrintô hôm nay chúng ta thấy rõ điều đó. Chúng ta cũng nhận ra kế hoạch của thánh Phaolô về việc hiệp nhất Giáo Hội. Ngài không cưỡng ép nhưng để cho các thành viên tự giải quyết các khó khăn, vật lộn, bằng cách nêu ra cho họ hiểu thế nào là tín hữu đích thật của Chúa Giêsu Kitô, thánh nhân đã có đầy đủ lý do để viết thư cho các tín hữu địa phương Côrintô. Ong cũng có quá thừa thãi lý do để nhắc nhớ Hội Thánh và chúng ta hôm nay. Thật là một lợi ích to lớn khi phụng vụ cho chúng ta đọc lại thơ của ông trong những tuần đầu năm này, tuần cầu nguyện cho hoà hợp và bình an. Cộng đồng chúng ta không thiếu chiến tranh phe nhóm, tấn công và trả đũa, thậm chí loại trừ nhau.

Tuy nhiên thánh Phaolô dùng một hình ảnh tuyệt vời để mô tả Hội Thánh Chúa Kitô : “Thân mình mầu nhiệm của Ngài”. Thưa anh chị em, ví như thân thể chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận tuy có nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy (12,12). Hai tuần qua chúng ta đã được thánh nhân cho biết như vậy, bài đọc hôm nay tiếp tục bàn về thân thể đó. Chúng ta chối cãi thế nào được nguyên lý hợp nhất của Hội Thánh! Những tinh thần phe phái thật đáng trách trong lúc này. Phép rửa tội đã làm cho chúng ta nên một cộng đồng dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, mỗi người một nhiệm vụ không lẫn lộn, không dẫm chân lên nhau, không bao cấp: “Thần Khí tỏ mình ra với mỗi người một khác, là vì ích lợi chung. Kẻ thì được ban ơn khôn ngoan để giảng dạy, người được ơn hiểu biết để trình bày, kẻ khác thì được ban cho lòng tin, kẻ khác nữa được ban ơn chữa bệnh…” (12,7).

Ước vọng hiệp nhất của Hội Thánh phải bao gồm luôn những nhu cầu này và chúng ta phải phấn khởi vui mừng cử hành những khác biệt đa dạng đó. Như vậy độc tài, độc đoán, không có chỗ đứng trong lòng Giáo Hội tự do và thánh thiện. Nhưng thánh nhân còn một điều hằng ấp ủ: “Tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả…” và ông bắt đầu hát bài ca đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc…” bài ca chia ra làm ba phần: Thứ nhất tính siêu việt của tình yêu: Kiên nhẫn và phục vụ, thứ hai các nết xấu phải tránh kẻo làm tan nát tình yêu, thứ ba là các tính tốt phải vun xới để thăng tiến lòng yêu mến: Sự bền vững của đức mến. Trong bài ca này chúng ta có một điệp khúc nổi tiếng: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”. Chủ yếu thánh Phaolô nói về tình yêu trong Giáo Hội giữa các tín hữu. Thường thì nó đòi hỏi hy sinh và nếp sống tốt. Nhưng nó không tách biệt ra khỏi tình yêu Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy dỗ chúng ta phải yêu mến Chúa và yêu người, cả hai đều cần đến ơn Thiên Chúa, tự thân chẳng thể thực hiện được gì. Chính tình yêu Chúa khiến chúng ta nhận ra phải thương mến nhau ra sao?

Ở một buổi cầu nguyện chung mà tôi tham dự. Người ta đọc bài thánh thư hôm nay, nhưng mỗi khi gặp chữ “lòng mến” thì thay bằng “Đức Kitô” nghe tức cười nhưng thấm thía. Nó chạy như sau: “Đức Kitô thì nhẫn nhục, Đức Kitô hiền hậu, Đức Kitô không ghen tương…” nhờ việc thay đổi như vậy chúng ta ý thức được những điều Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta, thì đã hiện diện nơi Chúa Giêsu. Vậy đời sống người tín hữu như thánh Phaolô mô tả trong bài đọc 2 là có thể thực hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày. Mỗi người thể hiện ơn gọi theo cách thức mình sống. Giáo hội sẽ tốt đẹp biết bao khi mọi người vâng theo lửa thúc đẩy của Chúa Thánh Linh. Năm nay là năm thánh truyền giáo của Hội Thánh Việt Nam, chúng ta đừng hô hào suông, nhưng hãy thực hiện có hiệu quả ước vọng của mình bằng tài năng, đức độ, mà Chúa Thánh Thần đã ban cho mỗi người như thánh Phaolô khuyên nhủ.

Trong bài đọc 1 tuần này và tuần tới, phụng vụ cho chúng ta gặp hai tiên tri của Cựu ước, đó là Giêrêmia và Isaia, cả hai đều gặp chống đối trong ơn gọi của mình. Chúng ta có thể so sánh với những khổ cực của Chúa Giêsu khi khởi đầu sứ vụ, như thánh Luca thuật lại. Chăm chú nghe các bài đọc chúng ta tự nhiên ngộ ra ơn gọi riêng của mỗi người và sẽ đáp trả tiếng Chúa ra sao! Ngôn sứ Giêrêmia một mình chống lại cả xã hội. Đơn phương độc mã ông thi hành sứ vụ, nhưng qua con người ông chúng ta học được phải vâng theo ơn gọi của mình thế nào cho đúng tiêu chuẩn, không chỉ khơi khơi ngoài miệng, còn việc làm thì ươn ái.

Có mối liên kết chặt chẽ giữa bài Tin Mừng và bài đọc 1. Từ cung lòng Đức Chúa Cha, Ngài được kêu gọi để thi hành sứ mệnh cứu chuộc và giống như Giêrêmia bị chống đối mãnh liệt ngay từ khởi đầu.Bài đọc tuần này tiếp tục Tin Mừng tuần trước. Thính giả đã được bảo cho biết lời tiên tri Isaia : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người sai tôi đi công bố cho kẻ tù đày biết họ được tha, người mù được sáng mắt, kẻ què đi được, công bố năm Hồng An của Chúa”, hôm nay được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Nói cách khác Chúa Giêsu công khai tuyên bố sứ mệnh Ngài sắp thi hành. Sứ mệnh mang tính tiên tri như bài Magnificat của Đức Maria, tức Thiên Chúa đoái nhìn đến thân phận kẻ nghèo hèn, tù tội, khuyết tật, ngoài lề xã hội…

Ngài mang Tin Mừng giải phóng, giúp đỡ họ thoát khỏi số kiếp hẩm hiu, khốn khổ. Ngày nay sứ mệnh này được Giáo Hội kế thừa. Nhưng chẳng hiểu thiên hạ được nghe, nhìn từ phía chân trời góc biển nào ? Tiếng nói ngôn sứ còn rõ ràng nữa không hay khàn khàn khó hiểu ? Hoặc bị tiếng máy móc văn minh vật chất lấn át ? Câu trả lời tuỳ mỗi lương tâm ! Nhưng đối với nhà giảng thuyết thì bắt buộc phải là tiếng nói của tự do, hạnh phúc cho thế giới bị chà đạp. Thiên Chúa đã thấy nỗi thống khổ của họ như xưa Ngài trông thấy nỗi lầm than của dân tộc Do Thái ở Ai Cập. Nhà giảng thuyết phải nhân danh Thiên Chúa mà cứu giúp họ, gióng tiếng tố cáo những sai lầm, bất công của tầng lớp tay sai Satan. Về phe với những kẻ mạnh thế vô cớ áp bức người khác là hèn nhát.

Điều cuối cùng phải nhắc đến hôm nay là thái độ của dân làng Nadarét. Bất cứ ai cũng thuộc lòng câu ngạn ngữ “familiarity breeds contempt” (suồng sã nuôi dưỡng khinh bỉ) Chúa Giêsu trước mắt họ không có gì xa lạ, con bác thợ mộc Giuse và bà Maria, anh chị em Ngài không phải là Giacôbê, Giuđa, Simon sao ? (Mt 13,23). Họ đã quá quen thuộc với gia đình Ngài, hàng xóm láng giềng với bà con Ngài. Cho nên chỉ ủng hộ Ngài, bao lâu Ngài đồng ý với họ, với những nét quen thân của xóm làng. Nhưng khi đi xa hơn nữa vào những mầu nhiệm Nước Trời, vào sứ mệnh thiên sai của Ngài, họ trù tính ném Ngài xuống vực thẳm. Như thế mới hay, thói đời chỉ ưa thích những điều họ muốn nghe, ủng hộ những gì vừa bụng mình. Ngoài ra, từ chối tuốt luốt, bắt đầu từ những kẻ thân thích nhất. Quý vị nhận định thế nào? Có phải là sự thật? Cầu xin Chúa cho chúng ta đừng vì thế mà thối chí, nản lòng trong bổn phận, nhưng cứ sự thật mà rao giảng Tin Mừng.


Antôn Lê Văn Thi - TSVN

Ơn Cứu Độ Phổ Quát

Kính thưa cộng đoàn ! Ngôn sứ Isaia đã loan báo về Đấng Mesia sẽ đến, Người đem ơn Cứu độ phổ quát cho mọi dân tộc trên mặt đất, chứ không chỉ riêng cho ngươì Do Thái. (Is 49,12)

Sau khi Chúa Giêsu đọc và giải thích đoạn Kinh Thánh này, mọi người trong hội đường hết sức bỡ ngỡ thán phục Người. Người chính là Đấng được Cha sai đến làm ngôn sứ cho chư dân, như trong bài đọc I mà Giêrêmia đã loan báo: “Này, hôm nay, chính Ta làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt, tường đồng chống lại cả xứ…” (Gr 1,18).

Thật vậy, Đấng Mesia đến cứu độ muôn dân, nhưng luôn gặp phải chống đối, vong ân. Dù vâỵ, vì mến Chúa Cha và thương yêu nhân loại, Người sẵn sàng chấp nhận tất cả, chiụ đựng tất cả, và hy sinh tất cả. Qua cuộc đời Chúa Giêsu, thánh Phaolô đã giới thiệu một mẫu người lý tưởng trong bài đọc II : “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù v.v..” (1 Cr 4-8)

Chúa đến để giải phóng cho những người bị áp bức, đưa ra khỏi tù những ngươì bị xiềng xích, phóng thích cho những người bị lưu đầy, làm cho người mù được thấy, người điếc được nghe, người câm được nói, và người nghèo được đón nhận Tin Mừng. (Is. 61,1-2).

Giả như Người đến chỉ mong được tung hô ca tụng mà không phải vất vả hy sinh, thì có lẽ cái đến đó cũng không có ý nghĩa là bao.

Giả như Người đến chỉ mong được cầu lợi là xén lông và vắt sữa chiên mà không phải lo chăn dắt gì, thì có lẽ cái đến của Người cũng qua đi như bao người đã đến.

Giả như Người đến chỉ mong làm những phép lạ lẫy lừng mà không phải tốn công sức, tiền của, thì có lẽ đồng bào quê hương đã đưa Người lên tận mây xanh

Nhưng … Người đến không phải để hành hạ người ta, mà để hàn gắn lại bao cõi lòng tan vỡ. ( Is. 61,1)

Người đến không phải để chiêu mộ binh hùng, tướng mạnh, mà để đi tìm từng con chiên lạc. (Ga, 10.11)

Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục và hiến mạng sống làm giá cưú chuộc cho nhiều người. (Ga. 3,16-17; 10,15)

Quả thực, dân Nazareth rất tỉnh táo và nhanh chóng nhận ra ngay sức mạnh thần thiêng từ Lời Ngươì giảng dạy. Thánh Luca kể lại chi tiết rằng : “mọi người đều đồng tâm , khâm phục những lơì giảng dạy của Người”. (Lc. 4,22)

Nhận ra quyền năng của Chúa Giêsu, những người Nazareth muốn Người làm phép lạ lẫy lừng cho thiên hạ biết nhân tài của họ. (Lc 4,23)

Phần Chúa Giêsu, Người đến đem ơn Cưú độ phổ quát cho mọi dân tộc chứ không phải để thỏa mãn tính tò mò ích kỷ của nhóm người Do Thái. (Is. 49,12). Vì vậy, những đòi hỏi của họ chẳng những không được đáp ứng mà còn bị Chúa Giêsu lên án quở trách. Người đã kể laị câu chuyện thời ông Êlia để chứng minh rằng, không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. Bị lên án, họ bực tức trục xuất Người ra khỏi hội đường và muốn xô Người xuống vực, nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

Kính thưa cộng đoàn ! Trong hành trình cuộc đời …

Biết bao lần chúng ta đã muốn Thiên Chúa dùng uy quyền để thỏa mãn những đòi hỏi riêng tư của ta.

Biết bao lần chúng ta kêu trách Thiên Chúa, vì Ngài để chúng ta gặp đau khổ mà chúng ta cho là bất công.

Biết bao lần chúng ta vừa tung hô Chúa ở nhà thờ, rồi chưa về tới nhà đã hùa theo bọn đầu gấu đòi đóng đanh Chúa qua thái độ hành hạ anh em chúng ta cách này hay cách khác.

Thế rồi, Chúa lại bỏ chúng ta mà đi. Không có Chúa chúng ta làm được trò trống gì ? Vì có Chúa là Thiên Đàng hạnh phúc, xa Chúa là một địa ngục nặng nề. (Gương Chúa Giêsu).

Trong cuốn Góp Nhặt Cát Đá có câu chuyện : “Một ni-cô đi du lịch Trung Quốc mua được một nén trầm hương đặc biệt thơm tho đắt giá. Cô tính rằng, cô sẽ dành nén trầm hương qúy này để kính riêng vị Phật Tổ mà cô tâm đắc nhất. Nhưng khốn nỗi, mỗi khi cô đốt nén trầm hương đắt giá này, khói hương nghi ngút tỏa bay khắp nơi. Bực mình, vì không làm thế nào thực hiện được dự định. Một hôm cô nảy ra một sáng kiến : cô lấy một cái phễu hứng hết khói hương và làm một đường dẫn từ đĩa trầm hương lên tới hai lỗ mũi tượng Phật Tổ. Thế là, mỗi khi cô đốt nén trầm hương, hương thơm có thể dành riêng cho vị Phật Tổ. Chẳng bao lâu, nén trầm hương đã hết, cô tháo bỏ phễu, bấy giờ cô mới té ngửa, vì hai lỗ mũi của tượng Phật Tổ mà cô tâm đắc nhất đã bị phủ đầy mồ hóng, đen ngòm …

Kính thưa cộng đoàn. Nhìn vào thái độ của những người Nazareth, chúng ta cần xa tránh lối sống ích kỷ.

Tính ích kỷ nhiều khi đã thay đen đổi trắng. Nhất là tính ích kỷ phá vỡ tình người, làm sứt mẻ yêu thương ; nó như lửa rừng thiêu rụi nhân đức ; nó như virus đục khoét tình bằng hữu ; nó như vị quan toà nghiêm nghị vạch trần bộ mặt thật của con người nhỏ nhen, cố chấp.

Mark Link đã nói : “Khi Chúa đến, có lẽ Ngài không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào, nhưng Ngài sẽ cân đo trái tim chúng ta đã yêu thương ra sao ?”

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến làm người ở làng quê nghèo Nazareth, đã sống trọn phận người ở đó, đã nếm đủ đau khổ và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người trong một cuộc đời mong manh ngắn ngủi trước cái kiếp trường sinh vĩnh cửu. Xin cho con biết nhìn vào cái số mệnh nghiệt ngã và phi lý như một hành trình tiến về nguồn cội yêu thương.

Xin đừng để con mãn nguyện với cái tầm thường của khối óc hẹp hòi ích kỷ, mà luôn biết mở rộng trước Đấng Tuyệt Đối và tha nhân. Xin cho con biết cộng tác với Chúa và cộng đồng, cùng nhau xây dựng một cuộc sống văn minh tình thương, để mọi người đều có cơ may gặp Chúa ngay trên bước đường đời của mình, cho tâm hồn mỗi người thành chốn trời cao là nơi Chúa ngự trị, nghỉ ngơi, và ngang qua đó, Ơn Cứu độ của Chúa đến với tất cả mọi người.

Mỗi đời người là một câu chuyện thần tiên chính tay Thượng Đế viết (Anderson)


Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Lòng người đổi thay
(Lc 4,21-30)

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp liền bài Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, trình bày một bức tranh thật phũ phàng về quan hệ giữa Chúa Giêsu và những người đồng hương của Ngài. Chúa trở về Na-da-rét, vào hội đường đọc và giải thích Sách Thánh, mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp Ngài nói. Nhưng tại sao từ chỗ tán thành và thán phục ấy, người ta đột ngột chuyển sang phẫn nộ và chống đối mãnh liệt, tàn bạo tới mức lôi kéo Ngài lên đỉnh núi để xô Ngài xuống vực thẳm, nghĩa là rõ ràng có ý định thủ tiêu Ngài ?

Chúng ta có thể trả lời như sau : dân làng Na-da-rét tán thành và thán phục những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, nhưng ngay tức khắc họ lại không thể nào chấp nhận được những lời hay ý đẹp ấy lại có thể nói ra từ miệng lưỡi của một anh thợ mộc tầm thường mà họ vẫn quen biết, con ông Giu-se và bà Ma-ri-a, một người mà suốt 30 năm qua đã sống bình thường lặng lẽ giữa họ, một người có lẽ đã bao lần đi làm thuê làm mướn cho họ để lấy tiền nuôi mẹ và nuôi thân, kể từ ngày mồ côi cha. Nếu như Chúa Giêsu là một tư tế, một kinh sư, hay ít ra cũng có một địa vị nào đó trong xã hội, thì có thể mọi sự sẽ khác. Cho nên, thành kiến về con người, về địa vị, nhất là quan niệm sai lầm về Đấng Thiên Sai, khiến họ không thể nào chấp nhận được Chúa Giêsu.

Đúng vậy, chính vì Chúa chọn cuộc sống nghèo khó và khiêm tốn nên người ta khinh dể Chúa. Trước mắt họ, Chúa chỉ là anh thanh niên đồng vai với họ, tầm thường như họ, thế mà Chúa muốn tự tôn mình lên, lòng ghen tức khiến họ không thể chấp nhận một người hôm qua vẫn chỉ là anh thợ mộc tầm thường, mà nay lại tự xưng mình là một người do Thiên Chúa gửi đến. Nếu như Chúa sinh trưởng nơi lầu son gác tía, nếu Chúa đã theo học nơi các trường danh tiếng, và nhất là nếu Chúa tỏ ra những thiên tài mà Chúa hằng giữ kín, thì chắc chắn người đời sẽ chạy lại bu quanh Chúa mà tôn kính. Người đời chỉ sùng mộ những ai tài giỏi, những ai trổi vượt hơn họ, và chỉ ghen tương với người đồng hàng như mình, bản tính loài người là như thế. Chúa đã biết rõ điều đó hơn ai hết, tại sao khi nhập thể làm người Chúa không chọn lấy giai cấp cao hơn ? Tại sao Chúa không tỏ lộ ra ngoài những dấu chứng thần linh của Chúa để cho người đời dễ dàng nhận biết Chúa ? Tại sao vậy ? Không tại sao cả, Chúa muốn sống như thế để làm gương cho chúng ta.

Thực vậy, trước những con người cố chấp không muốn tin nhận các phép lạ đồn thổi khắp nơi, trước những con người cứng đầu đòi chứng kiến các phép lạ mới, và không chịu nhìn nhận Chúa là chính Đấng Thiên Sai như các ngôn sứ đã loan báo, Chúa Giêsu lên tiếng dạy họ một bài học đích đáng, Chúa so sánh sự bất trung của riêng họ với sự bất trung của cha ông họ. Nghe vậy, họ vô cùng phẫn uất, đuổi Ngài ra khỏi hội đường, rồi họ còn đuổi theo Ngài qua các phố xá, đẩy Ngài lên đỉnh một ngọn núi cao và định xô Ngài xuống vực sâu cho chết đi. Nhưng giờ Chúa chưa đến, Ngài đưa mắt oai nghiêm ngăn chặn hành động của họ. Phải, với một cái nhìn đó thôi, thế mà ai nấy đều khuất phục, không ai dám chống đối, không dám hành động thêm gì nữa, họ từ từ đứng rẽ sang hai bên đường nhường lối cho Chúa đi. Chúa bình thản đi qua họ, chẳng khác gì một phép lạ nhãn tiền trước mắt họ.

Chúng ta đã thấy rõ phản ứng của dân làng Na-da-rét và thái độ của Chúa Giêsu. Những người đồng hương của Ngài, những bà con bạn hữu của Ngài đã đón tiếp Ngài như thế đó, họ thay lòng đổi dạ, họ đang tâm xua đuổi Ngài, không nhìn nhận Ngài, không ai tỏ lòng thương mến Ngài, họ khinh dể và chối từ mối thiện cảm Ngài muốn trao đổi với họ, họ giả điếc làm ngơ trước những ưu tiên Ngài dành cho họ khi Ngài khởi đầu sứ mạng cứu độ. Ngài đau khổ vô cùng, có những đau khổ tinh thần vò nát con tim, thì đây là một trường hợp cụ thể. Rồi Chúa ra đi, ánh mắt Ngài nhìn về tương lai, và lòng Ngài quặn đau hơn nữa khi thấy rồi đây còn biết bao nhiêu cảnh vô ơn bội nghĩa như thế nữa.    

Qua tất cả những điều đó Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì ? Chúa sẵn sàng trở về nguyên quán để đón nhận cuộc tiếp đón đầy ác cảm mà Ngài đã biết trước, nghĩa là Ngài chủ động muốn đối diện với cuộc đón tiếp ác cảm ấy. Tại sao vậy ? Vì Ngài muốn nhận một cuộc thanh tẩy mới, đau đớn và mãnh liệt hơn cuộc thanh tẩy sám hối, đó là thanh tẩy bằng ô nhục. Ngài đón nhận cuộc thanh tẩy này trong sự tự hạ thấp nhất và trong mối thất vọng đau đớn nhất đối với bà con thân thuộc tại nguyên quán. Cuộc sống ẩn dật, khiêm nhường suốt 30 năm trời, Ngài chưa lấy làm đủ, Ngài còn muốn tăng thêm đức khiêm nhường bằng chính sự ô nhục. Đó cũng là số phận Hội thánh của Ngài, và đó cũng là số phận của chúng ta. Mẫu gương của Ngài sẽ là tia sáng soi đường, sẽ là điểm tựa vững chắc, và sẽ là niềm an ủi sâu xa cho chúng ta.

Vì vậy, nếu cuộc sống mỗi người có gặp phải những thử thách tương tự, nghĩa là nếu người đời hiểu lầm hay nghi ngờ thiện chí của chúng ta, hoặc lấy oán đền ơn cho chúng ta, hoặc những khi bị ganh ghét dèm pha, những lúc bị khinh rẻ, bỏ rơi, những khi bị lừa gạt, thất bại, nhất là bởi những anh chị em thân thiết chung quanh, những lúc đó chúng ta hãy nhớ lại bài Tin Mừng hôm nay, hãy nhớ đến Chúa Giêsu và hồi tưởng lại cảnh Chúa bị khinh rẻ, hất hủi cách bất công trên đây, chúng ta sẽ cảm thấy mình được nhẫn nhục, tin tưởng và an ủi, vì Chúa thông biết mọi sự và thấu hiểu nỗi cơ cực của chúng ta, rồi Chúa sẽ làm gì ? Chúng ta cứ tin tưởng và hy vọng.


Đaminh Tạ Văn Tịnh op

Kiên Vững Làm Chứng Cho Tình Yêu

Sau khi khởi sự rao giảng Tin Mừng ở thành Caphacnaum, Chúa Giêsu trở về quê hương. Người vào hội đường Nazarét và công bố sứ mạng của mình như lời của tiên tri Isaia tiên báo trong thời Cựu ước. Thế nhưng, những thành kiến của những tâm hồn ích kỷ hẹp hòi khiến cho những người đồng hương của Chúa không chấp nhận Người. Một đàng, họ cho rằng Chúa chỉ là con của một bác thợ mộc bình thường, trong khi Đấng mà họ trông đợi, lẽ ra, phải đến trong vinh quang và uy quyền. Đàng khác, họ bị giới hạn bởi những ý nghĩ trần tục, đòi Chúa thực hiện những dấu lạ ở quê nhà để họ hưởng lợi, thay vì tôn vinh quyền năng Thiên Chúa. Khi Chúa nhắc lại hai vị tiên tri thời Cựu ước là Êlia và Êlisê không được trọng dụng nơi quê nhà, những người đồng hương với Chúa bắt đầu toan tính kết án Người.

Lạy Chúa Giêsu,

Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, Giáo hội được sống trong tình yêu và ân sủng của Chúa, Tin Mừng bén rễ sâu vào lòng đất, Ơn cứu độ lan tỏa đến mọi dân tộc trên địa cầu. Tuy nhiên, để tình Chúa đến với lòng người, Giáo hội đã phải trải qua rất nhiều gian nan thử thách; lớp lớp những anh hùng tử đạo để minh chứng cho một tình yêu. Trong mọi thời đại của lịch sử, Giáo hội đều có những đau thương, gần đây nhất là một vị linh mục và một nữ tu bị giết chết, khi đang làm chứng cho Chúa, trước sự cuồng nộ của các tín đồ Hồi giáo. Giáo hội Việt Nam thời điểm hiện tại chỉ có trên sáu triệu kitô hữu trong tổng số hơn tám mươi triệu dân, nhưng đã có biết bao những chứng nhân từng đổ máu đào để tuyên xưng niềm tin.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Ngày hôm nay, Giáo hội Việt nam đang được sống trong không khí thanh bình hơn các thời khác của lịch sử; người ta ít chống đối các mục tử của Chúa như những người Do thái xưa đối với vị tiên tri của họ, và đặc biệt, không ai phủ nhận được tinh thần sống đạo cách sốt sáng của dân Chúa trên quê hương đất nước chúng con. Song, tội ác và sự bất công vẫn tồn tại. Viêt nam là một trong ba nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Trong số đó không ít người là những công dân của Nước Trời. Cứ ba người nạo phá thai thì một người là kitô hữu. Ở các bệnh viện trên mọi miền đất nước, hàng ngày, người ta đem đi chôn hàng trăm thai nhi bằng những bịch nilông, thậm chí còn làm thức ăn cho các con vật; truyện ngắn “Tướng về hưu” của nhà văn Nguyễn Duy Thiệp là một sự thật về điều đó. Càng ngày người ta càng coi rẻ sự sống của con người, làm cho những thai nhi vô tội bị giết chết ngay trong cung lòng của người mẹ. Thật xót xa khi quà tặng vô giá của Thiên Chúa bị con người từ chối.

Hằng ngày Lời Chúa được gieo vãi vào lòng con người, nhưng đồng tiền, danh dư, cơ hội, sự nghiệp… đã làm cho Lời ấy không sinh hoa trái, thậm chí còn bị bóp béo. Người ta dễ dàng tiếp thu những mặt trái của luân lý, đạo đức hơn những giá trị chân chính - hoa trái của Tin Mừng. Lương tri con người ngày càng trở nên lệch lạc với những chuẩn mực của nền đạo đức truyền thống. Việc nhân danh công lý theo kiểu tòa án đôi khi trở thành những hành động man rợ; án treo cổ Saddam Husen và những đồng sự là một ví dụ. Sự phát triển của đời sống Xã hội cũng đồng thời tạo ra hố sâu ngăn cách giữa con người với nhau. Có những người đang được sống trên đỉnh cao của vinh quang và hạnh phúc, trong khi không ít những mảnh đời còn đang lê bước trong đói nghèo và bất hạnh. Thay vì mở ra lối đi, người ta lại xây lên những bức tường, làm cho tình người ngày càng trở nên nghèo nàn và xa cách.

Nguyện xin Chúa dùng quyền năng và tình yêu của Người để biến đổi Xã hội hôm nay, một Xã hội đầy rẫy sự khác biệt, bất công và tội ác. Xin Chúa cũng làm thức tỉnh lương tâm của con người, khi nó đang bị băng hoại bởi những giá trị trần tục. Và, xin Chúa cho những Mục tử của Người đang thi hành sứ vụ nơi biên cương được tràn đầy lòng thương xót của Chúa, hầu có thể kiên vững làm chứng cho tình yêu của Người và mang ơn cứu độ cho tha nhân. Amen.


Giuse Nguyễn Cao Luật OP

Tiếp Tục Con Đường
(Lc 4,21-30)

Chỉ còn cách ra đi

Người ta có thể nói Đức Giêsu là con người hoàn toàn gắn bó với truyền thống. Chính Người đã quả quyết ở một nơi khác : “Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17).

Người được gọi là con ông Giuse (x. Lc 3,23), thuộc một gia đình quen biết trong làng. Người tuân thủ những qui tắc văn hoá trong làng : ngày sabát, Người đến Hội Đường với dân làng. Người nhận làm người đọc sách như thói quen. Người tiếp tục di sản thiêng liêng của dân tộc : Người mở sách ra và đọc như là một cách phê chuẩn truyền thống do tổ tiên để lại.

Tuy nhiên, Đức Giêsu không khép kín trong quá khứ. Một truyền thống chỉ được coi là đích thực khi biết mở ra hướng đến tương lai.

"Thần Khí chúa đã ngự trên tôi …

Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn,

…

công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa".

Chính theo nghĩa này mà Đức Giêsu trở thành một người phản chứng – đúng theo nghĩa chặt của từ ngữ. Người có cách thức khác để giải thích truyền thống. Người từ chối biến truyền thống thành một thứ xác tín cứng ngắc. Trái lại, Người cho thấy truyền thống luôn có tính năng động và sáng tạo.

Chính vì vậy, thiên hạ coi Người là kẻ mất trí (x. Mc 3,21) : đây là một kẻ lầm lạc, cần phải loại trừ ra khỏi cộng đoàn.

Từ trước tới nay, dân làng vẫn chờ Đức Giêsu làm gì đó cho quê hương. Tuy nhiên, điều người ta chờ đợi Người, đó là Người phải phù hợp với hình ảnh người ta mong muốn, Người phải là một phản ảnh của cộng đoàn.

Thế nhưng, cái nhìn và cuộc đời Đức Giêsu bám rễ rất sâu vào trong truyền thống mà những người đồng hương không hề nghĩ tới. Cái nhìn của người là cái nhìn về Itraen toàn thể, một Itraen mở ra với vũ trụ, với Xiđon và Xarepta là những thành phố ngoại giáo. Chính vì chiều khích toàn thể này mà Người đã thực hiện các phép lạ. Còn ở Nadarét, năng lực này bị bóp nghẹt, bị cản trở.

Dân làng không hiểu điều này, họ thách thức Đức Giêsu : “Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông làm tại Caphacnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê hương xem nào !” và tình hình đã trở nên căng thẳng : người ta đi đến chỗ muốn sát hại Đức Giêsu, khi Người nhắc lại sự kiện các ngôn sứ trong quá khứ đã làm phép lạ cho những người ngoại. Người có ý chê trách thái độ cứng tin của họ.

Đức Giêsu không còn cách nào khác hơn là ra đi, tiếp tục con đường hướng tới Giêrusalem. Tại đây, Người sẽ bị kết án và bị giết. Nhưng chính vì Người theo đuổi con đường này và đã đi đến cùng mà hôm nay Người đang chiếu soi toàn thế giới.

Số phận được báo trước

Phần cuối của đoạn Tin Mừng hôm nay thật là sinh động, nếu được trình bày bằng hình ảnh. Một đám đông phẫn nộ, chen lấn và hô to : “Giết chết nó đi – Quân rối đạo – Tên nói dối .” Họ kéo một người lên tận đỉnh núi. Trong đám đông hỗn độn ấy, có những người vung tay đánh nạn nhân.

Bất thình lình người ấy quay lại. Thái độ điềm tĩnh, cái nhìn xa xôi, không một cử chỉ, không một tiếng kêu. Đám đông cũng yên lặng, đầy kinh ngạc. Người ấy từ từ lách qua đám đông, tiếp tục con đường của mình, đến một nơi khác.

Hình ảnh trên quả là một gợi ý lạ kỳ về số phận Đức Giêsu, đấng tiếp tục đi con đường của mình, đi loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa tại những nơi khác chứ không tại nơi mà người ta tưởng rằng nắm giữ được Người. Hình ảnh một người leo lên đỉnh núi tại Nadarét, trong khi ở phía sau đám đông vẫn tiếp tục xô đẩy, la hét, là hình ảnh báo trước con người sẽ leo lên đồi Gôngôtha. Đó cũng là hình ảnh báo trước con người sẽ vượt qua số phận khắc nghiệt là cái chết, để luôn tiếp tục con đường của mình, băng qua Galilê và đi đến mọi quốc gia.

Tại sao lại xảy ra tình trạng đổ vỡ này ? Dân làng Nadarét vừa tán thành vừa thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người, mà giờ đây họ lại tức giận, muốn giết chết Người ?

Có hai lý do rất đơn giản :

Dân làng vẫn nghĩ rằng Đức Giêsu là con bác thợ mộc, Người không phải là một ngôn sứ : một ngôn sứ đâu có thể nào sinh ra ở một nơi như thế này ! Nếu họ muốn xô Người xuống vực, vì họ muốn kéo Người trở về với thực tại thấp hèn, với thân phận cuả mình.

Một lý do khác quan trọng hơn : nếu Đức Giêsu là một người chữa lành mọi thứ bệnh, thì không có lý do nào để Người không thi thố tài năng của Người cho những kẻ đồng hương, cho bạn bè thân thích. Kẻ anh hùng, con người xuất chúng, là sở hữu riêng của thành phố, của ngôi làng nơi ngườ ấy được sinh ra, và những người đồng hương có quyền sử dụng cho lợi ích của mình.

Như thế, Đức Giêsu đứng trước một chọn lựa : hoặc là trở thàng ngôn sứ tại Nadarét hoặc là phải chết.

Người đã băng qua giữa họ mà đi, tiếp tục con đường của mình vì Người chẳng có gì để nói, chẳng có thể làm gì trước những kẻ muốn biến Người thành một sở hữu riêng. Con người không bao giờ là sở hữu chủ trên Thiên Chúa, trên lời của Người. Đức Giêsu chỉ có thể ngỏ lời với những người có tâm hồn mở rộng, những kẻ bị tước đoạt tất cả : người nghèo kẻ bị giam cầm, người bị áp bức – như ngôn sứ Isaia nói đến và Đức Giêsu nhắc lại.

Nếu chỉ phê phán thái độ không hiểu biết của dân làng Nadarét thì thật là dễ dàng ! Lịch sử của Hội Thánh cũng như các cộng đoàn địa phương cho thấy về hàng ngàn ví dụ về một Thiên Chúa bị con người giam hãm. Ngày nay, vẫn có những người nghĩ rằng mình là sở hữu chủ của Đức Giêsu, cố gắng đưa Người ra để biện minh cho ý tưởng và hành động của mình.

Hãy coi chừng, dù thế nào chăng nữa, Người vẫn băng qua mà đi, Người vẫn đi con đường của mình.

Lời không của riêng ai

Ta nhận thấy rằng, ngay từ giai đoạn đầu tiên trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu, ngay từ bài giảng đầu tiên, tác giả Luca đã nêu lên một đề tài mà ông không ngừng khai triển trong suốt bộ Tin Mừng cũng sách Công Vụ Tông Đồ. Đó là số phận của Đức Giêsu Kitô và sứ điệp của Người với một kết cục bi thảm. Đó là một ngọn lửa đã được Đức Giêsu thắp lên : sau khi Đức Giêsu phục sinh, ngọn lửa này sẽ lan rộng khắp cả Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8).

Điều này đủ để cho thấy rằng ngày hôm nay của Tin Mừng, với ý tưởng phổ quát, luôn có liên hệ đến chúng ta. Còn rất nhiều điều mới lạ, còn rất nhiều người đang chờ đợi chúng ta ở những nơi khác, ở những miền xa. Chúng ta đừng giam giữ Đức Giêsu tại Naradét, vào thế kỷ đầu. Lời của Người được trao tặng cho mọi dân, mọi nền văn hoá, cho toàn thế giới ở mọi nơi, mọi thời.

“Theo bài Tin Mừng hôm nay, không một người dân làng Naradét nào có quyền trên con bác thợ mộc. Không một hội đường nào, không một Hội Thánh nào có quyền giữ riêng Đức Giêsu. Và dân thánh, dù là dân Itraen hay những người đã chịu phép rửa, phải không ngừng sám hối và phá tung những rào cản, để Đức Giêsu có thể đi đến những nơi khác và thực hiện phép lạ vĩ đại là quy tụ dân mới”.

…

“Bài Tin Mừng của thánh Luca cho chúng ta hiểu rằng, Đức Giêsu thuộc về dòng dõi các ngôn sứ, những người luôn khơi dậy ý thức mới, những người luôn gây phiền hà. Đức Giêsu là NGÔN SỨ luôn chìm sâu trong Thiên Chúa và trong nhân loại ! Cuộc đời và cái chết của Người là một bằng chứng. Liệu chúng ta có để cho Người đánh thức để hướng về bình minh của Thiên Chúa ?” theo G. Bessièrè, Le Feu qui refraichit, Paris, 1978


Fr. Jude Siciliano op.

Thân phận người ngôn sứ chân chính
(Lc 4, 21 – 30)

Thưa quý vị,

Có lẽ ít người trong chúng ta thấu triệt ý nghĩa của Lời Chúa trong bài đọc một hôm nay: “Ta sẽ đặt ngươi làm ngôn sứ cho muôn dân.” Vì thiếu thốn kinh nghiệm cụ thể về hậu quả cay đắng mà các ngôn sứ phải gánh chịu khi trung thành thi hành vai trò Chúa trao. Chúng ta thường được trọng vọng, biệt đãi, bợ đỡ, hoan hô, khen ngợi khi thi hành chức vụ. Ít ai bị thù ghét, trù dập, xua đuổi, đe doạ thanh toán như Giêrêmia và Chúa Giêsu. Nhưng làm ngôn sứ cho “muôn dân” đòi hỏi hy sinh, nhục nhã, khổ đau, gồm luôn cả cái chết chứ không “vẻ vang” như vua chúa và những người nổi tiếng: “Nghe vậy, mọi người trong hội đường phẫn nộ, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi – họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực thẳm.” Làm ngôn sứ không những bao gồm dân riêng, hàng xóm, láng giềng, bạn bè thân thích mà cả thù địch nữa. Cho nên gặp chống đối, bách hại, xiềng xích là lẽ đương nhiên, là điều chắc chắn. Giêrêmia được Thiên Chúa trao sứ mệnh giữa buổi giao thời của đất nước Dothái. Ach nô lệ Assyria chuyển sang ách nô lệ Babylon. Một thời nhiễu nhương đầy thống khổ. Tan hoang này thay thế bằng tàn phá khác. Giuđa trở nên miếng mồi cắn xé giữa hai đế quốc hùng mạnh Assyria và Babylon. Trong hoàn cảnh như vậy, ông được Thiên Chúa gọi làm ngôn sứ và ông đã can đảm đáp lại, phục vụ Lời Chúa cho dân riêng và cho chư dân: việc này sẽ đem đến cho ông số phận ghê sợ: “Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được.” Thiên Chúa nói trước với ông như vậy.

Thật tội nghiệp cho Giêrêmia. Thiên Chúa vĩ đại hơn ông. Chắc chắn ông sẽ gặp chống đối và cực khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Ong sẽ là ngôn sứ không chỉ cho dân ông mà còn cho cả Babylon nữa. Ong sẽ phải nói cho họ về Thiên Chúa công bằng, nhân từ, chậm giận và giàu tình thương. Nhưng ai sẽ lắng nghe ông? Thật tội nghiệp cho Giêrêmia ( và những người rao giảng chính danh nữa). Thiên Chúa vĩ đại hơn người ta tưởng tượng. Ngài sẽ biến Giêrêmia đang run sợ nên “thành trì kiên cố, cột sắt, tường đồng chống lại cả xứ.” Dĩ nhiên người đọc thưà hiểu tương lai đang chờ đón Giêrêmia: Bị trói vào cột, cổ đeo gông, thả xuống giếng, ăn đòn nhừ tử giữa sân công đường… Nếu Giêrêmia chỉ nói lời an ủi mà thôi thì lại là chuyện khác. Đàng này ông thẳng thừng mạt sát tất cả vì băng hoại luân lý, từ vua quan, tư tế, kinh sư cho tới thứ dân. Làm thế nào thiên hạ không nổi giận? Làm thế nào ông không bị thù ghét? Làm thế nào ông không bị trù dập và đe doạ thanh toán? Đó là số phận của mỗi ngôn sứ chính danh.

Bài đọc bỏ qua khúc giữa (từ câu 6 đến 16) của đoạn tiên tri trả lời Thiên Chúa. Vì nó mang tính chất ấu trĩ, một thái độ đáng xấu hổ: “A, a, a, Lạy Đức Chúa, con chỉ là một đứa trẻ chưa biết nói.” Chúng ta là ai? Ơ độ tuổi nào mà dám tự phụ xứng đáng với ơn Chúa gọi? Chúng ta cậy mình tài năng ở điểm nào để thi hành sứ mệnh Chúa trao? Đúng ra chúng ta nên cảm thấy bất xứng, không đủ khả năng trước mặt Chúa. Nhất là một khi vì sứ vụ Lời Chúa mà phải đối mặt với khó khăn, chống đối! Nhưng nếu như Chúa đi bước trước, sử dụng chúng ta, thì hẳn Người ban sức mạnh ngõ hầu chúng ta chiến thắng, chu toàn sứ mệnh. Ngài quá rõ làm ngôn sứ cho Ngài không phải là chuyện dễ. Ngài quá rõ chúng ta bất tài, vô lực và yếu đuối. Ngài sẽ ban cho chúng ta phương tiện cần thiết để thi hành sứ mệnh. Xin quan tâm đến điều này, vì thường xuyên chúng ta kiêu ngạo, đỏi hỏi trợ giúp vật chất, hoặc rơi vào nản chí, thất vọng. Sức mạnh và thành công của ngôn sứ là ở nơi Thiên Chúa.

Đúng vậy, xin nghe tiếp bài đọc: “Trước khi tạo thành ngươi trong dạ mẹ, ta đã biết ngươi. Trước khi ngươi lọt lòng mẹ, ta đã thánh hiến ngươi…” Đây là ngôn ngữ của sách Sáng Thế Ký, nói về việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Thiên Chúa tạo thành Giêrêmia giống như xưa Ngài dùng bùn đất mà dựng nên Adam, Eva hoặc như thợ gốm nặn nên chíêc bình, hay nhà điêu khắc tạc ra bức tượng đá. Tất cả đều do bàn tay Thiên Chúa theo mẫu mực và mục tiêu Ngài muốn để phục vụ chương trình của Ngài, đâu cần “công sức cân xứng” của chúng ta? Giêrêmia chẳng phải lo lắng chi về tài năng hay thiếu thốn của mình? Khi chọn ông, Thiên Chúa đã biết rõ cả rồi: “Trước khi tạo thành ngươi trong dạ mẹ, ta đã biết ngươi.” Ta đã “thánh hiến” ngươi cho sứ mệnh của ta!

Thiên Chúa thấu rõ những hạn chế của vị tiên tri nên chẳng bao giờ bỏ mặc ông một mình: “Này, hôm nay, chính ta sẽ làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt, thành đồng chống lại cả xứ.” Ngài trợ giúp tối đa để tiên tri hoàn thành sứ mệnh. Trong Cựu ước, chẳng tiên tri nào phải trả giá đắt như Giêrêmia để làm theo ơn gọi của Đức Chúa! Sự trung thành của ông dẫn đưa ông đến nỗi khốn khổ suốt cả một đời. Cái nhọc nhằn của chúng ta so với ông chẳng thấm vào đâu. Vậy mà nhiều lần chúng ta lớn tiếng phàn nàn. Thật đáng xấu hổ. Cho nên, bất cứ ngôn sứ nào trung thành làm theo ơn gọi sẽ bị tẩy chay, hành xích. Đơn giản vì chẳng ai muốn nghe nói đến một Thiên Chúa bao la hơn các bận tâm hàng ngày của mình, gồm hơn là một dân tộc, một nhóm riêng rẽ. Chẳng lãnh đạo tôn giáo, chính trị nào muốn nghe tiếng gọi trở về với lương tâm và đường lối của Thiên Chúa, tránh xa lạm dụng quyền lực, tham nhũng, đồi bại, sao lãng nhiệm vụ, sao lãng người nghèo khó, bất hạnh. Xin cứ nhìn vào cục bộ Giáo Hội, để suy ra tình trạng thê thảm chung.

Ngôn sứ là những kẻ “thọc gậy bánh xe”, quấy rối đời sống phẳng lặng của tư tế, kinh sư, vua chúa, quan quyền, những kẻ hưởng đặc quyền đặc lợi xã hội cho nên họ chẳng muốn nghe. Những ai liều mạng rao giảng chống chiến tranh, hận thù, ghen ghét, xâm lược ắt sẽ bị người ta gọi là “gàn”, không thèm lưu ý đến, nhất là những người quyền cao chức trọng trong tôn giáo hay xã hội. Nói ngay như trong nội bộ Hội Thánh hôm nay, người ta cũng có khuynh hướng ưa xiểm nịnh hơn nói thẳng, ưa ngọt ngào hơn đòi hỏi minh bạch về kinh tế, quan hệ giới tính. Thiên Chúa đã gửi Giêrêmia rao giảng chống lại “cả xứ”, chống lại các vua Giuđa, các công hầu khanh tướng Dothái, chống lại tư tế, kinh sư, tiên tri giả. Lời Thiên Chúa không bao giờ trở thành già cỗi, lỗi thời. Ngài không chỉ phán một lần, ngày xửa ngày xưa ở mảnh đất xa xôi Palestine. Điều Ngài làm thời xưa, ngài vẫn làm hôm nay tại đây, qua nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản tới phức tạp, từ cụ thể đến nhiệm màu. Người ta phải biết lắng nghe. Khi lãnh bí tích Rửa tội, chúng ta được gọi làm “tư tế, tiên tri, vương đế”chẳng khác chi Giêrêmia. Cho nên chúng ta cũng có bổn phận lắng nghe tiếng Chúa gọi, rồi “đứng dậy, nói cho chúng tất cả những gì ta truyền cho ngươi trước mặt Israel, đừng sợ… vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi.

Đó chính là điều Chúa Giêsu làm hôm nay trong bài đọc 3 trước mặt dân làng Nazareth. Ngài đứng giữa hội đường, nói lời Thiên Chúa. Giống như Giêrêmia và các ngôn sứ khác, Thiên Chúa đã gọi Đức Giêsu chu toàn sứ mệnh cho Ngài. Đức Giêsu nói rõ chương trình thiên sai của mình cho dân làng. Ngài đến để làm tròn lời các ngôn sứ trong Thánh Kinh, rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, chữa lành các bệnh nhân, giải phóng kẻ cầm tù, công bố năm hồng ân: “Hôm nay, ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe.” Dân làng tán thành và khâm phục. Họ hồ hởi chờ mong những hành động cụ thể tốt đẹp cho dân làng, dầu sao Đức Giêsu vẫn là đồng hương của họ. Ong “nợ” dân làng về điểm này. Vì ông là con bác thợ mộc Giuse và bà Maria, ai lại không biết điều này? Nhưng giống như Giêrêmia, Chúa Giêsu đã được chỉ định để làm ngôn sứ cho muôn dân, chứ không phải riêng cho dân Dothái hay làng Nazareth. Đây là mấu chốt gây nhiều rắc rối. Vì sứ mệnh của Ngài không thu hẹp vào dân làng, hay một cộng đồng tôn giáo, ngay cả không thu hẹp vào đất nước Dothái, Ngài tuyên bố rõ như vậy khi kể ra Elia được sai đến cưú đói cho bà goá thành Sêrepta miền ngoại giáo Siđon và Elisa chữa phong cùi cho quan Naaman người xứ dân ngoại Syria. Xin tưởng tượng dân làng Nazareth tức giận biết bao khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố như vậy. Thế ra ông này không phải là tiên tri cho Israel sao? Ong còn vươn tới kẻ thù của dân tộc nữa? Như Elia và Elisa xưa kia? Điều họ muốn là một Thiên Chúa riêng tư, nhỏ bé cho mình mà thôi. Truyền thống dân tộc xưa nay vẫn quan niệm như vậy. Thiên Chúa của ông Giêsu này lại muốn cứu vớt cả dân ngoại nữa, những kẻ thù của Israel, đồ chó má bẩn thỉu. Quá sức chịu đựng. Tiếp theo, thánh Luca còn tiết lộ cho chúng ta hay, Chúa Giêsu công bố lời Thiên Chúa cho bất cứ ai muốn đón nhận và tin theo, bất cứ người đó thuộc dòng giống nào, quốc gia, quốc tịch, tiếng nói, màu da, cấp bậc, nam phụ lão ấu, không phân biệt ai.

Nhưng giống như Giêrêmia, Chúa biết mình sẽ bị loại trừ và các tín hữu tiên khởi khi rao giảng Tin Mừng cũng biết như vậy. Nói chung, bất cứ ai thi hành vai trò ngôn sứ chân thật đều cảm nghiệm mình sẽ bị loại trừ. Tuy nhiên, chúng ta còn đang ở giai đoạn đầu của Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu chưa thể chết được, mặc dù Ngài làm cho dân làng Nazareth thất vọng về những đòi hỏi và mong đợi của họ. Dầu vậy, tình thế rất nghiêm trọng nếu chúng ta tận mắt quan sát vị trí họ tính ném Ngài xuống. Nó cao và thẳng đứng như bức tường. Ngày nay người ta gọi là “Mons Precipitationis” (ngọn núi của sự quăng xuống.) Những người muốn giết hại Ngài lại là thân nhân, bà con dân làng, từng chơi đùa ăn uống với Ngài, thì hẳn nỗi tức giận của họ mạnh mẽ biết chừng nào.

Chẳng lẽ chúng ta chỉ là khách bàng quan đứng nhìn sự kiện mà không cảm thấy liên hệ? Kinh Thánh không được đọc cho người đã chết, trái lại cho kẻ còn sống. Vậy Giêrêmia và Chúa Giêsu nói gì với chúng ta hôm nay? Chúng ta nghe thấy gì? Phải trả lời ra sao, trả lời cho ai? Chẳng lúc nào, nơi nào mà chúng ta không có trách nhiệm đối với phép rửa của mình! Mỗi chúng ta đã nghe Lời Chúa. Mỗi chúng ta là một “chư dân”! Các ngôn sứ đã phải gánh chịu số phận khốn khổ vì rao giảng Lời Chúa, thì chúng ta cũng vậy. Sống ngay chính như bài đọc 2, nhất định sẽ mang đến đau khổ, bách hại và chống đối. Cho nên chúng ta hãy can đảm như Thiên Chúa nói với Giêrêmia: “Chỗi dậy, nói với chúng tất cả những gì ta truyền cho ngươi. Này ta sẽ làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt thành đồng chống lại cả xứ”. Thánh thể là sức mạnh của chúng ta, nuôi dưỡng bổ sức để chúng ta phục vụ Lời Chúa. Thánh Thể không chỉ là bữa tiệc cá nhân, an ủi và thêm sức riêng, nhưng còn liên kết mọi người với Đấng là ánh sáng muôn dân, để chúng ta chiếu toả công lý, hoà bình khắp nơi. Thế giới này luôn là nơi tối tăm của quyền lực satan. Nhưng mỗi tín hữu đều mang ánh sáng Chúa trong mình, phải phát tán ánh sáng ấy cho thế giới và Giáo Hội, lúc này hơn bao giờ hết đang bị che phủ bởi gương mù, thói xấu. Thật không may, Phúc Am hôm nay phải gián đoạn với Phúc Am tuần trước. Cho nên nhiều tín hữu không liên hệ được với ý nghĩa toàn bộ câu truyện về sứ mệnh của Chúa và của mỗi chúng ta. Tuần trước Chúa Giêsu tuyên bố rằng: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi vì Ngài sức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, chữa lành các bệnh tật, trả tự do cho kẻ bị cầm tù, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.” Phải chăng đây cũng là sứ mệnh của mỗi tín hữu dù là giáo dân, linh mục hay tu sĩ ? Liệu chúng ta có dám đảm nhận và thi hành ? Bằng phương thế nào ? Ước chi Lời Chúa hôm nay soi sáng cho mỗi người. Amen.


Lm. Jude Siciliano, OP (HVĐM Gò Vấp  chuyển ngữ )

Đáp Trả  Tỉnh Yêu Không Loại Trừ  Của Thiên Chúa
Luke 4: 21-30

Hôm nay, tiên tri Giê-rê-mi-a và Thánh Lu-ca nhắc nhớ chúng ta rằng nhiệm vụ của các ngôn sứ chẳng dễ dàng chút nào. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã tạo nền cho đoạn tin mừng của chúng ta khi ông thuật lại tiếng Thiên Chúa đã gọi ông, từ khi ông còn trong lòng mẹ! “Trước khi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đã đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”. Thật đáng thương cho Giê-rê-mi-a, trong vai trò ngôn sứ đôi lúc ông cũng phải đối mặt với mối đe dọa bị nghiền nát. Và ngay cả khi không bị thúc ép thì ông vẫn phải nương tựa vào Chúa ngay từ khi còn trong lòng mẹ để thi hành sứ vụ.

Nhiệm vụ của Giê-rê-mi-a quả thật là khó khăn! Ông buộc phải chống lại chính dân mình, phải đương đầu với các vua của Giu-đa, các tư tế và cả dân chúng. Ông sẽ cần điều mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm cho ông: biến ông trở thành “cột sắt tường đồng chống lại cả xứ…” Như Giê-rê-mi-a, chúng ta đã được Thiên Chúa nhào nắn để trở thành một dân ngôn sứ, từ lúc chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Giống như các ngôn sứ, có thể chúng ta cũng muốn tránh khỏi lời mời gọi của Thiên Chúa và không muốn lãnh nhận sứ vụ mà Người trao cho chúng ta (1,6-8), dẫu thế, Thiên Chúa thúc giục chúng ta đến lên tiếng mỗi khi chúng ta gặp phải bất ký bất công nào.

Bài đọc hai trích từ thư 1 Cô-rin-tô dường như đã quá  quen thuộc với chúng ta. Chúng ta nghe bài đọc này gần như trong mọi lễ hôn phối. Bầu khí của buỗi lễ làm cho bài đọc có vẻ như rất lãng mạn. Thực ra, tình yêu mà thư Cô-rin-tô nói đến là tình yêu mang tính ngôn sứ. Tình yêu ấy không chỉ mời gọi chúng ta yêu những người dễ mến nhưng còn yêu cả những người chống lại chúng ta; không chỉ yêu người hiền lành nhưng cả những kẻ hung dữ; không chỉ yêu những người trí thức và giàu có nhưng còn cả những người thất học và bần cùng; không phải chỉ những người bị áp bức nhưng cả kẻ đàn áp người khác; không chỉ những người đã giúp đỡ chúng ta hoặc những người thân trong gia đình chúng ta mà cả những người quay lưng với chúng ta khi chúng ta cần sự giúp đỡ của họ.

Từ “yêu” thực đã bị lạm dụng trong ngôn ngữ thường ngày của chúng ta. Chẳng hạn: “tôi yêu bánh nhân táo… tôi yêu bản nhạc hot…. tôi yêu cái máy I-pod đang thời trang nhất…” Hạn từ yêu mà Thánh Phao-lô sử dụng nhắm đến một tình yêu cụ thể. Không phải thứ tình yêu bẩm sinh mà chúng ta có đối với những người thân, cũng không phải là cảm giác rung động khi chúng ta bị ai đó hớp hồn, cũng không phải là tình cảm dành cho người bạn thân. Hơn thế nữa, thánh Phao-lô muốn nói đến tình yêu “Agape.” Đó là tình yêu vô điều kiện, chính là cách mà Thiên Chúa yêu chúng ta. Agape nghĩa là chúng ta luôn dành cho người khác một chỗ đặc biệt trong trái tim, dù cho chúng ta có thích họ hay không hoặc họ có đáp trả lại tình yêu đó hay không. Vì chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí của Đức Giêsu nên đây là thứ Tình yêu mà chúng ta hoàn toàn có thể có được. Giống như Đức Giêsu, tình yêu của chúng ta cũng mang tính ngôn sứ vì nó phản chiếu tình yêu không loại trừ của Thiên Chúa dành cho mọi người, không kể việc người đó có đáp lại tình yêu của Người hay không.

Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta chỉ đi vào phần thứ hai của cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và những người đang cầu nguyện trong Hội đường Na-gia-ret. Chúng ta đã nghe phần đầu của đoạn Tin mừng này vào Chúa nhật trước. Sự việc chẳng mấy chốc trở nên căng thẳng, vào cuối đoạn đối thoại người ta đã sẵng sàng giết Đức Giêsu. Người bảo với họ rằng Người đã được Thần Khí của Thiên Chúa xức dầu. Người đọc đoạn trích của tiên tri I-sai-a để mô tả sứ vụ của mình, và nói với họ Người đến để “loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù được sáng mắt, và trả lại tự do cho người bị áp bức.” Rồi Người nói tiếp “ngày hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà tai quý vị vừa nghe.”

Gần như quý vị  nghe được tiếng dân chúng thở phào nhẹ nhõm. Vì họ đã chịu sự đàn áp và ngược đãi của người Ai Cập, At-si-ri và Ba-by-lon quá lâu. Cuối cùng họ đã nghe biết việc Chúa đã đến để giải thoát họ. Rốt cuộc, dân chúng nghĩ Thiên Chúa sẽ chiến thắng và trừng phạt kẻ thù của họ. Họ có cả một chuỗi dài những kêu than chính đáng chống lại sự bất công đến từ phía những kẻ đàn áp họ. Thiên Chúa chỉ là kế sách cuối cùng để giúp đỡ họ. Vì họ là “dân được chọn,” họ đoán trước rằng Thiên Chúa dứt khoát sẽ hành động thay cho họ. Sau cùng, chẳng phải những người chống lại dân của Thiên Chúa cũng là những kẻ thù của Ngài đó sao? Và chúng chẳng lẽ không đáng bị trừng phạt ư? Chẳng phải như thế mới là hợp lý sao?

Nhưng nếu họ thực sự chú ý, họ ắt phải nhận ra rằng khi trích sách của ngôn sứ I-sai-a Đức Giêsu đã bỏ qua một câu; một câu mà họ muốn và chờ đợi để nghe từ một nhân vật có thể giúp họ phá bỏ những gánh nặng của kẻ áp bức. Những gì Đức Giêsu bỏ qua không trích dẫn ám chỉ đến “ngày Đức Chúa báo thù để an ủi tất cả những ai sầu khổ”. Đức Giêsu không hứa rằng Thiên Chúa sẽ báo oán. Ngài cũng không hành động như ý họ muốn. Như Đức Giêsu nói với họ, họ chẳng thể nào đòi hỏi được đặc ân chỉ vì dòng dõi của họ. Người minh họa những điểm này bằng lời và hành động của hai ngôn sứ quen thuộc với họ là hai ông Ê-li-a và Ê-li-sa.

Đức Giêsu kể câu chuyện về bà góa dân ngoại thành Xa-rép-ta đã được tiên tri Ê-li-a giúp đỡ trong một nạn đói. Sự việc trở nên tệ hơn khi Đức Giêsu nói đến một người ngoại giáo khác là Na-a-man, người chỉ huy quân đội, một nhà lãnh đạo quân sự của chính đất nước đang thống trị It-ra-en. Đức Giêsu muốn những người đang lắng nghe biết rằng người ngoại giáo này, một kẻ thù, cũng đã được vị ngôn sứ của họ là Ê-li-sa chữa lành. Lấy các ví dụ từ trong sách ngôn sứ thời xưa, Đức Giêsu muốn nhắc họ hiểu rằng Thiên Chúa của họ quan tâm tới tới tất cả mọi dân nước. Chính dân được chọn trở nên dấu chỉ báo trước về một thế giới được tình yêu bao la của Thiên Chúa bao bọc – ngay cả với kẻ thù của họ. Thế nhưng, những người có mặt trong Hội đường hôm đó đã bỏ lỡ hay quên mất sứ điệp chính yếu được mặc khải cho họ qua các ngôn sứ về tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa.

Bà góa kia đã làm gì để xứng đáng được Thiên Chúa thi ân giáng phúc? Chẳng gì cả! Na-a-man đã làm gì để được Thiên Chúa chữa lành bệnh hủi cho? Chẳng gì cả! Sứ điệp của Đức Giêsu nói về một Thiên Chúa quan tâm cả đến những người dân ngoại. Thậm chí, Đức Giêsu còn khen ngợi những người dân ngoại biết mở lòng ra đón nhận sự trợ giúp của Thiên Chúa. Quyền thừa kế và đặc quyền chẳng thể làm được gì.

Đức Giêsu đang nói với những người trong Hội đường, với những người sùng đạo như chúng ta. Ngài không chỉ trích họ nhưng mời gọi họ và cả chúng ta nữa nhận ra tình yêu hải hà của Thiên Chúa và để tán dương chứ không phải để bình phẩm tình yêu ấy. Trong lời nguyện Thánh Thể hôm nay, chúng ta sẽ nghe biết sự tha thứ của Thiên Chúa dành cho con người thật lớn lao biết bao! không phải vì chúng ta chúng ta xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa đã quyết định thi ân cho chúng ta trong Đức Giêsu, là dấu chỉ báo trước tình yêu của Người. Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được tình yêu đó trên đường Đa-mát và chính tình yêu ấy đã biến đổi cuộc đời của ngài. Đó là lý do thánh Phao-lô khuyên giáo đoàn Cô-rin-tô hãy diễn tả tình yêu mà họ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa qua việc yêu thương người khác bằng một “tình yêu Agape” – “tình yêu cho đi.”

Những người trong hội đường có thể cũng đã đoán được một sự biệt đãi dành cho họ khi hỏi : “Người này chẳng phải là con ông Giu-se sao?” Thánh Lu-ca cho biết họ đã “tán thành và thán phục những lời ân sủng từ miệng Người nói ra.” Vì Đức Giêsu là “người cùng làng” nên họ chờ đặc ân được ban cho họ nghĩa là được chia sẻ vinh quang với Người, vì họ là những hàng xóm láng giềng, đồng hương với Người. Chẳng phải họ là những người đầu tiên sẽ nhận được ân sủng của Thiên Chúa nhân lành như Ngài đã hứa với dân It-ra-en sao? Nếu thầy thuốc có được phương dược chữa lành, chẳng phải hàng xóm của Đức Giêsu sẽ là những người trước tiên được nhận sao?

Điều trớ trêu trong bài Tin Mừng hôm nay là chính những người muốn đẩy Đức Giêsu xuống vực thẳm lại là những người đạo đức. Họ là những người vẫn đang giữ ngày Sa-bat. Điều này khiến chúng ta thắc mắc: làm thế nào chúng ta có thể chịu đựng và sống được tin mừng mà chúng ta đã tuyên xưng các đàng hoàng? Chúng ta có tự nhận mình là những con người đặc biệt và được hưởng những ân huệ từ Thiên Chúa nhờ những thực hành tôn giáo hay không? Hoặc, chúng ta có đáp trả món quà tình yêu nhưng không của Thiên Chúa bằng việc tìm cách chia sẻ cho người khác ngay khi chúng ta gặp phải những kháng cự từ những người chung quanh hay không? Với những hình ảnh của kinh thánh hôm nay thì : Đâu là bà góa thành Xa-rép-ta, hoặc ai là Na-a-man - người phong hủi và ngoại giáo, những người nằm ngoài phạm vi quan tâm thông thường của chúng ta, mà chúng ta được mời gọi để yêu thương họ?


Lm Đỗ Lực OP

TIẾNG AI GỌI ÐÒ
(Lc 4:21-30)

Sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), Việt nam đang cần những bước tiến mới và những giây phút nhìn sâu hơn vào nội tâm. Ðứng ở bên này bờ sông Cửu Long hay biển Thái Bình, ông Lý Quang Diệu lấy ngón tay chỉ sang bờ bên kia và nói với các nhà lãnh đạo Việt nam : “Giai đoạn đuổi theo sẽ tiếp tục trong 20, 30, 40 năm nữa để bắt kịp, ví dụ như Malaysia.” Theo thống kê IMF năm 2005, hàng năm thu nhập đầu người của Malaysia là 5042 Mỹ kim, Thái Lan 2659, Việt nam 618, và Singapore 26.836. Một thời gian dài hơn trăm năm có đủ cho Việt nam bắt kịp Singapore không ? Nguyên nhân nào khiến Việt nam tụt hậu quá mức như vậy ? Theo ông, tại Việt Nam cơ sở hạ tầng kém, tiêu chuẩn giáo dục thấp, chương trình đại học và các trường kỹ thuật không cập nhật. [1] Những nhận xét đó có làm các nhà lãnh đạo Việt nam giật mình như tưởng “tiếng ai gọi đò” không ? Tiếng ai gọi đò đã vang rộn cả bến đò từ lâu rồi. Nhưng khách sang sông vẫn cứ “lui cui” ở mãi bên này bờ sông.

Tình trạng đất nước như thế, còn GHVN ra sao ? Có ai dám đưa nhận xét gì không ? Nhận xét rồi, có ai lắng nghe không ? Hôm nay, không phải cô lái đò, nhưng Chúa đang lên tiếng kêu gọi mọi người hãy nhìn sang bên kia bờ đại dương và hãy mạnh dạn lên thuyền với Thày ! Không sang sông, không thể thấy lòng mình mở ra trước những hoa thơm cỏ lạ nơi bờ bên kia.

Ngày xưa, những người đồng hương với Ðức Giêsu cũng thế. Họ quanh quẩn trong “lũy tre xanh” làng Nadarét. Hình ảnh “con ông Giuse” (Lc 4:22) với những dụng cụ làm mộc trên tay quá quen thuộc với dân làng. Ai còn lạ gì anh chàng Giêsu hàng ngày đi hết nhà này sang nhà kia làm mướn kiếm ăn ? Thế mà, không ngờ khi ra khỏi lũy tre xanh, anh chàng thợ mộc trẻ đó đã lừng danh tận Caphacnaum, một thành phố nổi tiếng giàu sang và trụy lạc, nơi đặt bản doanh nhiều quân lính Rôma. Bởi tiếng đồn về Người lan rộng khắp đế quốc Rôma. Ðó là tin đồn. Thực tế, dân làng đợi dịp gặp Người sẽ trực tiếp kiểm chứng thực hư. Hôm nay cơ hội đã đến.

Cơ hội đến với dân làng hay đến với Ðức Giêsu ? Ðúng hơn, đây là cơ hội bằng vàng để Chúa mở mắt và mở lòng cho họ. Người muốn dùng “gậy ông đập lưng ông,” tức những điển tích về ngôn sứ Êlia và Êlisa, để cảnh tỉnh họ về con đường thênh thang của Thiên Chúa dành cho những ngôn sứ đích thực. Sống giữa cảnh đói khổ của hàng ngàn người, ngôn sứ Êlia đã vượt qua hàng rào Ítraen đến với bà góa nghèo thành Xarépta miền Xiđôn. Ông đã làm đầy hũ bột và cứu sống người con trai sắp chết của bà (1V 17:8-24). Thừa hưởng “hai phần thần khí” (2 V 2:9) tôn sư Êlia, ngôn sứ Êlisa đã thi thố quyền năng và tình thương của Thiên Chúa cho tướng Naaman, người xứ Xyri (x. 2V 5), chứ không cho một người phong cùi nào ở ngay quê hương Ítraen của ông (x. Lc 4: 27). Ðáng lý hai ông phải cứu sống những người đồng hương trước chứ ! Tại sao lại thi thố tình thương cho người ngoài và phớt lờ trước những đau khổ của đồng bào ? Thật khó hiểu !

Nhưng, như thế mới rõ vai trò ngôn sứ không lệ thuộc vào biên giới quốc gia hay chủng tộc. Chúa đã nêu ra hai bằng chứng Kinh thánh để biện minh cho sứ mệnh cứu độ muôn dân của Người. Không thể căn cứ vào những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày nơi xóm làng để kết luận về một con người như Ðức Giêsu. Những điều bình thường không không thể biểu lộ hết thực chất con người. Không tỏ lộ quyền năng nơi xóm làng không có nghĩa là con người không vươn xa hơn lũy tre xanh. Những việc hai ông làm cho những người ngoại có khác gì những việc Chúa làm ở Caphacnaum ?

Khi mượn hình ảnh hai ông Êlia và Êlisa, Ðức Giêsu muốn tự phác họa về chính mình như một ngôn sứ của thời đại mới với tầm nhìn vượt qua mọi biên cương. Cũng như hai ông, Ðức Giêsu nhắm tới người dân “tứ chiếng,” không thuộc chủng tộc Ítraen. Ðó là đối tượng sứ vụ của Người. Khi thấy dân ngoại hay người xa lạ được ưu ái hơn, đồng hương Người đã lồng lộn ghen tức. Họ trút cả cơn giận xuống con người Ðức Giêsu (x. Lc 4:28-29), vì không chịu nổi cách cư xử “bất công” của Chúa. Nhưng thực ra, chính lòng dạ cứng tin của họ là nguyên nhân chính ngăn cản Chúa thi thố quyền năng tại quê hương.

Bởi vậy, dân làng chưa sẵn sàng đón nhận được sứ vụ ngôn sứ hay chính ngôn sứ. Chưa mở rộng tầm nhìn, làm sao họ có thể thấy những kỳ công nơi vị Ngôn Sứ Giêsu. Không đón nhận được Ðức Giêsu như Ngôn Sứ, làm sao có thể nhìn nhận Người là Ðấng Cứu Ðộ muôn dân ? Con đường tới đức tin chân chính còn quá dài ! Họ không thể vượt qua nổi !

Ngày nay cũng có những con đường dài như thế ! Con đường đại kết giữa các Kitô hữu chẳng hạn. Hàng bao thế kỷ, những người cùng tin Chúa Kitô vẫn chưa nhận ra nhau là anh em. Như thế, làm sao Chúa Kitô có thể hiện diện và xuất hiện với muôn dân ngoài biên giới các giáo hội ? Có những lúc người ta có cảm tưởng Giáo hội giống như con thuyền trơ vơ giữa dòng vì cô lái đò đi lo chuyện riêng. Cảnh người ùn tắc bờ sông làm tắc nghẽn mọi sinh hoạt :

Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.
[2]

Khách buồn không thể sang bờ bên kia. Biết bao thiệt hại chồng chất năm tháng. Ðáng lý con thuyền đưa người lữ khách sang bến bờ gặp gỡ. Trong quá khứ, Giáo hội khép kín trong những tin tưởng, lo lắng và bận tâm riêng, mặc những ùn tắc bên ngoài.

Rất may, từ Công Ðồng Vatican II, con thuyền Giáo hội bắt đầu rời bến. Bao niềm vui đã rộ lên từ những cuộc đối thoại đại kết. Nhưng cũng từ đó mới thấy vấn đề không đơn giản và mau lẹ như nhiều người mơ tưởng. Quả thế, có gặp gỡ mới thấy “đại kết là một tiến trình chậm chạp, một con đường lên dốc, như mọi con đường sám hối.” Sở dĩ vì “người ta dễ chiều theo cám dỗ thích ‘nghe qua’ chứ không thích ‘chăm chú lắng nghe,’ thích nói những phân nửa các sự thật, thay vì can đảm công bố các sự thật đó.” [3] Người ta thích nghe chính mình, chứ không lắng nghe nhau. Bất cứ ai có ý kiến khác mình đều bị gán cho tội chống đối, phá hoại, gây chia rẽ, xáo trộn v.v. Chính những giọng điệu này mới gây chia rẽ. Những ý kiến hay cả niềm tin khác biệt là những lời mời gọi chúng ta cởi mở chấp nhận đối thoại để tìm điểm gặp gỡ hay hiệp nhất. Hiệp nhất không có nghĩa là bắt người khác phái theo ý mình. Không chấp nhận ý kiến người khác, chúng ta không thể nhìn thấy hết vấn đề và dễ trở thành độc tài và tự mãn.

Chính vì khép kín lâu đời trong những lâu đài tín lý tráng lệ, Giáo hội đã tự cô lập và chưa quen mở cửa đón nhận hay ra ngoài gặp gỡ những con người sống trong thực tế. Bằng chứng, sau 40 năm đối thoại đại kết, Giáo hội cũng chưa đạt tới mức tiến bộ nào đáng kể. Có những giọng nói quá lạ đối với Giáo hội. ÐGH Bênêđictô phải thú nhận : “Người muốn mù điếc thì dễ gì nhận ra khả năng canh tân nơi Tin Mừng, nắm men Chúa quan phòng ban cho mỗi người chúng ta để sám hối và canh tân tinh thần.”[4] Tự bản chất sâu thẳm nhất, Giáo hội duy nhất. Nếu chia rẽ, Giáo hội không thể hiện hữu. Ở đâu có sự chia rẽ, nên lấy sự tha thứ và hòa giải mà phục hồi.

Giữa các Giáo hội, biết bao dư luận không tốt thêu dệt dầy đặc qua bao thế kỷ ! Bao nhiêu nghi kỵ và hiềm khích đã nổi lên trong lòng Giáo hội. Con đường tìm đến nhau để đánh tan những lớp mây mù đó, đâu phải dễ ! “Tuy nhiên, sau những khó khăn ban đầu con đường đó cũng cho thấy các niềm vui, các chặng dừng chân giải khát cho phép thỉnh thoảng hít thở đầy hai lá phổi không khí trong lành của sự hiệp nhất trọn vẹn. Nhìn lại chặng đường 40 năm qua, chúng ta ngạc nhiên về cách Chúa thức tỉnh chúng ta khỏi cơn hôn mê tự mãn và lãnh đạm ; cách Chúa làm cho chúng ta ngày càng có thể ‘lắng nghe nhau’ hơn, chứ không chỉ ‘nghe chính mình’ mà thôi ; cách Người mở miệng lưỡi chúng ta dâng Chúa lời cầu nguyện có sức thuyết phục thế giới hơn.”[5]

Kết quả lớn lao đó phát xuất từ đức tin. Không có đức tin, không thể nhìn thấy bao nhiêu chứng từ ân sủng Chúa ban cho chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần. Không có đức tin, không thể cầu nguyện hữu hiệu. Ðó là điều ÐGH Bênêđictô xác tín : “Quả thực Chúa đã ban cho tôi nhiều ân sủng, và trong ánh sáng Thánh Linh, qua những chứng từ, Người cho thấy mọi sự đều có thể đạt được nhờ lời cầu nguyện, nếu chúng ta biết vâng phục mệnh lệnh tình yêu của Chúa với lòng xác tín và khiêm cung và tha thiết với niềm mong đợi sự hiệp nhất tất cả môn đệ Chúa.”[6] Nếu thế, “việc lo lắng tái lập hiệp nhất liên quan tới toàn thể Giáo Hội các giáo hữu cũng như các chủ chăn, và từng người một theo các khả năng trong cuộc sống thường ngày cũng như trong các nghiên cứu thần học và lịch sử.”[7]

Một lần nữa, lời Chúa Kitô cầu nguyện cho hiệp nhất (x. Ga 17:21-22) lại vang lên trong lòng Giáo hội. Tiếng kêu gào thống thiết đến nỗi không ai có thể giả điếc làm ngơ được ! Quả thực, “phải tìm sự hiệp nhất trong nhiều cấp độ và trong vô số hoàn cảnh khác nhau : giáo xứ, bệnh viện, những cuộc tiếp xúc giữa quần chúng, sự hợp tác giữa các cộng đoàn địa phương ở khắp nơi trên thế giới, và nhất là trong các miền đang thể giúp kêu gọi mọi người nỗ lực tối đa sống tình huynh đệ và thanh tẩy quá khứ nữa.”[8] Nếu mọi người đều có trách nhiệm đối với cuộc hiệp nhất Giáo hội, chúng ta phải làm gì ? Có thể sống mãi trong bốn bức tường nhà thờ như những pháo đài không ?

Ðã đến lúc chúng ta cần lắng nghe tiếng Chúa qua những dấu chỉ thời đại. Chúng ta không thể nhìn niềm tin cóng lạnh trong những truyền thống lâu đời được nữa. Trái lại, đức tin luôn thúc đẩy chúng ta phải tìm mọi phương cách giải quyết những vấn đề thời đại. Ðức tin luôn năng động. Nhờ đức tin, chúng ta biết “nhiệm vụ chung đầu tiên là cầu nguyện. Khi cầu nguyện và khi cùng nhau cầu nguyện các tín hữu Kitô ý thức hơn về tình trạng của các anh chị em khác cả khi còn chia rẽ nhau; và khi cầu nguyện chúng ta học biết lắng nghe Chúa hơn, vì chỉ khi lắng nghe Chúa và theo tiếng của Người chúng ta mới có thể tìm ra con đường của sự hiệp nhất.”[9] Ðức tin không thể cô lập, nhưng mở rộng cõi lòng và tương quan chúng ta với tha nhân. Từ đó, các biên giới sẽ được phá vỡ. Chúng ta có thể dễ dàng đến với anh em cùng niềm tin vào Chúa Kitô.

Dù cùng đang phục vụ Dân Chúa trong một Giáo Hội, nhưng biết bao người tin Chúa Kitô không thể gặp gỡ nhau. Ngay trong GHVN, những bức tường dầy cộm hay những hàng kẽm gai đang vây chặt và phân cách các nhóm người, đến nỗi họ không thể đến với nhau. Rõ ràng dấu chỉ tình yêu đã phai lạt và sức sống Giáo Hội yếu hẳn đi vì thiếu tinh thần hiệp nhất. Theo trào lưu hội nhập thế giới hôm nay, GHVN cần phá đổ những bức tường và hàng rào trong nội bộ. Ðối thoại thẳng thắn và tích cực bao giờ cũng là đường lối vững chắc đi vào tương lai. Có đối thoại, mới có hợp tác. Muốn đẩy mạnh công cuộc truyền giáo và xây dựng cho chính mình và quê hương, GHVN cần phải sám hối. Các thành phần GHVN cần tha thứ cho nhau mới có thể sống hiệp nhất như Chúa Kitô mời gọi và mọi người đang mong chờ ! Nếu không, chẳng còn nhiều thời gian để làm việc cho Dân Chúa trên trần gian nữa đâu !

Thực tế, muốn phá đổ những bức tường hay hàng rào trong GHVN, cần có cái nhìn sâu sắc và nỗ lực lớn lao của mọi người. Ngoài đời chính phủ Việt nam đã mời ông Lý Quang Diệu vạch ra những mặt yếu kém hiện tại và phóng tầm nhìn về tương lai trong nhiều thập niên tới. Ðề nghị GHVN mời một nhân vật nổi tiếng của Giáo Hội Ðại Hàn hay Ấn Ðộ sang thăm để giúp chúng ta có những cái nhìn mới mẻ và thực tiễn hơn . . .

Lạy Chúa, xin thương đến Giáo Hội của Chúa. Xin cho chúng con luôn cố gắng mở rộng tâm hồn để có thể đón nhận và đến với mọi người. Xin cho các Giáo Hội của Con Chúa, nhất là GHVN, hiệp nhất thành một chứng từ tình yêu của Chúa trên trần gian. Amen

 


[2] Nguyễn Bính.

[3] Benedict XVI, Zenit 24.01.2007.

[4] ibid.

[5] ibid.

[6] ibid.

[7]Unitatis redintegratio, 5.

[8] Benedict XVI, Zenit 24.01.2007.

[9] ibid.


Trước Thánh Thể : Phêrô Mai Vũ Quốc Duy op

Mạnh Dạn Loan Báo Tin Mừng dù thuận tiện hay không
(Lc 4, 21 – 30)

Kính thưa cộng đoàn !

Khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu mang trong mình ba chức năng của Chúa Kitô: Tư tế, Vương đế và Ngôn sứ. Trong đó, mọi người Kitô hữu đều có bổn phận thi hành chức năng Ngôn sứ, đó là loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, là nói lời của Thiên Chúa cho mọi người, nhất là cho những ai chưa được biết đến Tin Mừng.

Trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa thường gửi các ngôn sứ đến dạy dỗ dân Người. Thánh Kinh nhắc đến tất cả 16 vị ngôn sứ, gồm 4 vị ngôn sứ lớn và 12 vị ngôn sứ nhỏ. Ngôn sứ là người nói lời của Thiên Chúa. Đó là một sứ vụ không phải dễ. Bởi lẽ, ông không thể chọn lựa điều phải nói, mà phải nói điều Chúa muốn ông nói và nói nhân danh Chúa. Vì thế, mệnh lệnh ông mang lại cho dân chúng và cách riêng cho giới cầm quyền, thường bị đả kích chống đối và có khi phải chết vì sứ mạng. Nhiều vị run sợ vì được chọn làm ngôn sứ; chẳng hạn như ngôn sứ Giô-na khi nghe Chúa gọi, ông đã xuống thuyền bỏ trốn.

Còn ngôn sứ Giêrêmia, một trong bốn vị đại ngôn sứ, đã gặp nhiều đau khổ hơn so với các vị ngôn sứ khác vì ơn gọi của mình. Ông được xem là vị ngôn sứ gần với Đức Giêsu hơn hết và là hình ảnh báo trước về ngôn sứ thành Nadarét có định mệnh “phải chịu đau khổ”. Người ta chống đối, muốn bịt miệng ông, bắt ông phải vào tù ra khám, và có lần đã muốn chấm dứt đời ông. Họ cưỡng lại mọi lời ông nói, vì lời của ông diễn tả ý Chúa, chứ không chiều theo dục vọng của loài người. Dù bị chống đối và đau khổ, ông vẫn vững như thành trì, cột sắt tường đồng, chống lại các vua và khanh tướng. Không phải vì ông can đảm phi thường, nhưng chỉ vì Chúa đã giữ lời hứa với ông là ngôn sứ của Người: “Ta sẽ ở với ngươi khiến chúng không làm gì được ngươi”. Do vậy trong mọi hoàn cảnh, Giêrêmia vẫn cương quyết công bó lời Chúa và khẳng định ơn gọi thiêng liêng của mình.

Tin Mừng thánh Luca hôm nay thuật lại diễn tiến cuộc thuyết giảng của Chúa Giêsu, vị ngôn sứ của Chúa Cha, trong hội đường Nadarét, quê hương của Ngài. Và chính Chúa Giêsu cũng không tránh khỏi những đau khổ, thử thách trước những người quen thuộc nơi đây. Ngay khi được “mọi người tán thành và thán phục những lời ân sủng từ miệng Người phán ra” (Lc 4,21) thì lập tức Chúa Giêsu đã gặp ngay thử thách, dân chúng đòi người phải đưa ra bằng chứng: “Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê hương ông xem nào!” (Lc 4,23). Nhưng Chúa Giêsu không muốn cho họ một dấu lạ, một phép lạ nào cả, để họ khỏi lầm tưởng về sứ mạng của Ngài… Sứ mạng đó không bị hạn hẹp trong phạm vi gia đình quê quán, không chỉ dành riêng cho dân Do-thái mà là ân sủng dành cho hết mọi người. Phản ứng của những người đồng hương của Ngài là rất dễ hiểu, lòng tự ái bị tổn thương, họ căm phẫn, đồng loạt đứng dậy, tống xuất Ngài ra khỏi thành và muốn kéo Ngài lên tận đỉnh núi để xô Ngài xuống vực cho chết đi. Nhưng Người đã nhẹ nhàng đi qua mặt họ để tiếp tục cuộc hành trình.

Kính thưa cộng đoàn!

Con đường loan báo Tin Mừng mà các ngôn sứ và Chúa Giêsu đã đi qua cũng chính là con đường Thiên Chúa mời gọi chúng ta, những người Kitô hữu, bước đi. Đó là con đường đầy khó khăn gian khổ, đòi hỏi nhiều hy sinh, mất mát… vì con đường ấy đòi buộc chúng ta không chỉ giảng bằng lời, nhưng còn bằng chính đời sống chứng tá của mình. Bước đi trên con đường ấy, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, không chỉ với những thế lực của nhà cầm quyền, của những kẻ chống đối… mà còn cả với những người thân cận ngay chính quê hương mình, như Chúa Giêsu đã từng trải nghiệm: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4, 24).

Và, đi trên con đường ấy cũng đồng nghĩa với con đường bác ái yêu thương. Bởi loan báo Tin Mừng không gì khác hơn là mang Tình Yêu Chúa đến cho con người. Con đường ấy đòi hỏi chúng ta phải có những thái độ kiên nhẫn và bộc lộ lòng quảng đại. Dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng không được nóng nảy, bực tức, chán nản, tuyệt vọng. Được như vậy, Tin Mừng Chúa mới có thể đi vào lòng người và trổ sinh hoa trái.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Chúa đã mời gọi chúng con hãy mạnh dạn ra đi loan báo Tin Mừng, dù thuận tiện hay không thuận tiện, dù được vinh quang hay bị nhục mạ, dù hạnh phúc hay đau khổ, dẫu có gặp những chống đối, bắt bớ…, xin cho chúng con luôn vững tin rằng Chúa hằng ở cùng chúng con, ban sức mạnh và ân sủng của người cho chúng con, như khi xưa Chúa đã hứa các ngôn sứ của Ngài: “Ta sẽ ở với ngươi khiến chúng không làm gì được ngươi”, hay như Chúa đã hứa với các môn đệ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Để rồi chúng con can đảm, không còn sợ hãi và lo lắng mình sẽ phải nói gì, vì chính Chúa sẽ dạy chúng con nói. Amen.

Jude Siciliano, op (Anh em Học viện Đaminh chuyển ngữ)

Đức Mến cao trọng hơn cả

Gr 1,4-5.17-19; 1 Cr 12,31-13,13; Lc 4,21-30

 

Gần đây, một người bạn đã đề nghị tôi viết và tập trung nhiều hơn vào các bài đọc hai -- thường là các thư Phaolô. Anh ấy nói đúng, tôi nên làm thế. Là người giảng thuyết, tôi cũng cảm thấy cần phải tự chất vấn: “Lần cuối cùng giảng từ thư Phaolô là khi nào?”  Xin lưu ý, tôi không nói: “Giảng về Phaolô” , bởi lẽ như thế sẽ làm cho một trích đoạn Kinh thánh giống như đề tài mà người giảng thuyết cần phải “thảo luận hoặc giải thích” cho những người nghe. Thay vào đó, chúng tôi rao giảng từ Kinh thánh: chúng tôi cầu nguyện, suy tư và nghiên cứu về bài đọc cũng như cộng đoàn mình sẽ rao giảng. Chúng tôi giảng từ những gì mình đã được nghe và diễn giải làm sao cho phù hợp với những thính giả. Chắc chắn ở đây tôi đã để lại sót một điều gì đó, nhưng đây không phải là một khóa học giảng thuyết, đúng không?

Còn nếu chúng ta không phải là những nhà giảng thuyết thì những điều đã nói ở trên cũng vẫn đúng. Học hỏi Kinh thánh là một điều quan trọng. Nhưng chúng tôi muốn tạo một không gian để điều gì đó trong bản văn nói với chúng ta và làm biến đổi cuộc sống chúng ta. Vì thế, chúng ta cũng cầu nguyện và suy tư, ngõ hầu lắng nghe những điều bản văn nói với cuộc sống của mình. Tiếp đó, như những người yêu mến Lời, chúng ta tiếp tục nghiên cứu để tìm hiểu thêm, để có thể trở nên “sứ giả của Lời” và cũng có thể giúp những người khác lớn lên trong tình yêu của họ đối với Thiên Chúa qua Lời.

Phần giới thiệu như thế là đã đủ. Chúng ta hãy đi tiếp đến các nhiệm vụ sau: bài đọc hôm nay trích từ thư I Côrintô. Ngay cả với những người không mấy quen thuộc với thư thánh Phaolô cũng sẽ nhận ra đoạn văn hôm nay, nếu gần đây có tham dự một lễ cưới. Các đôi hôn phối hầu như luôn chọn đọc bài này trong lễ cưới của mình. Khi nghe trích đoạn này trong thư của thánh Phaolô tại một lễ cưới, lẽ thường, chúng ta và mọi người đang trong tâm trạng hạnh phúc và giác ấm áp.

Tuy nhiên, thánh Phaolô đã không viết cho chúng ta, vì thế mà chúng ta thấy thoải mái và ấm áp trong lòng. Với thánh nhân, tình yêu là một thách thức đối với các Kitô hữu trong cuộc sống hằng ngày. Đó không phải là nói, nhưng là làm. Trong khi bài đọc này đánh động lòng người nghe tại lễ cưới, nó cũng là một lời nhắc nhở rằng tình yêu Kitô giáo là một điều cao quý và luôn bao hàm sự hy sinh.

Tôi chọn bài đọc dài. Bài đọc này mở đầu thật phù hợp với câu cuối cùng trong chương 12 (câu 31) với lời hứa: “Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.” Những vấn đề gặp phải trong cộng đoàn Côrintô là về các ơn Chúa Thánh Thần, “charismata”. Cộng đoàn này đang chia rẽ, cùng với việc quá nhấn mạnh đến một số ân huệ của Thánh Thần như thánh Phaolô nêu ra.

Chúng ta sẽ hiểu được bản văn nếu có thể lưu ý đến những điều liên quan đến thời điểm và lý do bức thư này được viết ra. Chúng ta có thể là những người hiện đại và cho rằng mình không có mấy điểm chung với cộng đoàn Côrintô. Xét cho cùng, chúng ta có điện thoại di động, vệ tinh toàn cầu, máy siêu âm cắt lớp (CAT), Internet… Thế thì làm sao chúng ta có thể có điểm nào chung với cộng đoàn Côrintô năm xưa? Bản tính con chẳng hạn! Dường như chúng ta không có thay đổi nhiều so với thời các tác giả Kinh thánh. Ngoài ra, những chia rẽ và vướng mắc trong cộng đoàn chúng ta hiện nay cũng chẳng khác mấy so với các vấn nạn mà các Kitô hữu ở Côrintô đã gặp phải.

Thánh Phaolô nhắc chúng ta nhớ: dẫu có là một người thông thái trong cộng đoàn, một nhà lãnh đạo bẩm sinh, một nhà giảng thuyết đầy sức lôi cuốn thuyết phục, một người điều khiển đội hợp xướng đầy tài năng, một thiên tài tổ chức… thì cũng chẳng là nếu hành động mà không có đức ái. Tôi có thể là một thiên tài và có uy tín trong cộng đoàn hay trong phẩm trật Giáo hội, nhưng nếu không có đức ái, thì “tôi cũng chẳng là gì”.

Chúng ta đã dùng hạn từ “yêu” ở rất nhiều nơi, đúng không? Tôi yêu kem hồ trăn, bơi lội, phim cao bồi, tàu lượn siêu tốc... Tốt thôi, nhưng thánh Phaolô không có ý dùng hạn từ yêu theo những lối này. Thánh Phaolô đã chọn một trong số các thuật ngữ chỉ tình yêu trong tiếng Hylạp. Thánh nhân chọn hạn từ “agape” thể hiện một tình yêu tự do hướng đến tha nhân; dù người ta có đáp trả hay không, thì nó vẫn lôi cuốn và xứng đáng với tình yêu của chúng ta. Đó không phải là tình yêu kiểu tình bạn hoặc là sự hấp dẫn lẫn nhau. Agape là tình yêu vị tha mà Đức Kitô đã chỉ cho chúng ta bằng cái chết của Người trên thập giá; Đó là một tình yêu cao quí đòi hỏi sự trao hiến toàn vẹn con người của ta.

Các sách Tin Mừng viết sau thánh Phaolô đã nói đến hạn từ này. Các tác giả Tin Mừng đã đặt mình và máu trong tình yêu thánh Phaolô nhắc đến. Trong Tin Mừng, tình yêu đã hhiện hữu trong mọi lời nói và hành động của Đức Giêsu: Người tha thứ cho những kẻ bắt bớ; đón tiếp những người xa lạ và tội lỗi đến dùng bữa với Người; mang hy vọng cho những ai chán chường; những lời dạy của Người như ánh sáng xua đi bóng đêm ngu muội; là lý do cho những người đang thất vọng ê chề được hân hoan vui mừng...

Bản liệt kê các hành vi của đức ái dường như bắt nguồn từ một bài thánh ca của các Kitô hữu tiên khởi. Những ngôn ngữ và tình cảm thật đáng yêu, đó là lý do chúng ta thường được nghe bài đọc này trong các lễ cưới. Tuy nhiên, hành động vì tình yêu, theo như cách mà thánh Phaolô mô tả, sẽ đòi hỏi nhiều hơn những nỗ lực của chúng ta. Tình yêu mà Phaolô nói đến (agape), chúng ta chỉ có thể có được nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Ngài nói: trong các ân huệ của Chúa Thánh Thần thì đức ái cao trọng hơn cả đối với từng người Kitô hữu cũng như toàn thể cộng đoàn Kitô hữu.

Thánh Phaolô cho hay: hôm nay chúng ta xin ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần hầu có thể sống theo “con đường tuyệt vời hơn”. Đôi khi nẻo đường đức ái có những khác thường. Chẳng hạn, một người lính cứu hỏa liều mạng sống mình để cứu một nạn nhân ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy; chồng (vợ) vẫn yêu thương chăm sóc cho người bạn đời của mình bị chứng Alsheimer đã nhiều năm; một bác sĩ từ bỏ một phòng khám đang ăn nên làm ra để đến phục vụ các bệnh nhân ở một nước nghèo; những bậc cha mẹ quyết định vẫn sinh ra và nuôi dưỡng một đứa con mắc phải hội chứng Down; một nữ tu dù ở tuổi 70 bắt đầu che chở bảo vệ cho những người vô gia cư.

Chúng ta cũng hãy khẩn cầu ơn làm tươi mới của Chúa Thánh Thần để ta có thể sống một “con đường tuyệt vời hơn” trong những điều bình dị của cuộc sống vốn đòi hỏi chúng ta một tình yêu trao hiến mỗi ngày để: tôn trọng và đối xử cách công bằng với những người khác biệt với ta; có cặp mắt và đôi tai để đáp lại những người nghèo hèn túng thiếu đang bị gạt ra bên lề xã hội; tha thứ cho những người đã không thành thật với chúng ta; trung thành thực những bổn phận đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực cho gia đình của chúng ta; trung thực trong lời nói và việc làm...