| |
Chúa Nhật III Thường Niên - Năm C Nkm 8,2-4a. 5-6. 8-10 / 1Cr 12,12-30 / Lc 1,1-4; 4,14-21
Lm An Phong op : Thiên Chúa, Đấng Giải Thoát
Fr Jude Siciliano op : Khai Mở Năm Hồng Ân
G. Nguyễn Cao Luật op : Hôm nay đã ứng nghiệm ...
Nguyễn Chí Thanh op : “Bản tuyên ngôn tình thương”
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Tôn giáo của Chúa Giêsu
G. Nguyễn Văn Tiến op : Tin Mừng được loan báo cho những người nghèo khổ
Fr. Jude Siciliano, op:
Hôm nay Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài
Fr. Jude Siciliano, op : Xin Cho Đôi Tai Biết Mở Ra
Lm Đỗ Lực op : Trái Tim Không Ngủ Yên
Fr.
Jude Siciliano op:
Loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó Lm An Phong op
Thiên Chúa, Đấng Giải Thoát (Lc 1,1-4; 4,14-21)Tin mừng hôm nay gồm hai phần : Lời mở đầu Tin mừng thánh Luca, với lời "Kính gửi ông Thêôphilê"; và trình thuật Đức Giêsu trở về quê hương là Nagiarét, miền Galilê "trong quyền lực của Thánh Thần". Trong lời mở đầu Tin mừng của mình, thánh Luca đã tuyên bố những sự kiện mà ngài viết ở đây là "cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự... và giáo huấn... thật là vững chắc." Trong trình thuật Đức Giêsu trở về quê hương, thánh Luca thuật lại việc Đức Giêsu vào Hội đường và đọc đoạn sách ngôn sứ Isaia : "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi... xức dầu cho tôi... sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó... ân xá cho kẻ tù đày... cho kẻ đui mù được thấy... trả lại tự do cho người bị áp bức... công bố năm hồng ân của Chúa". Đây thật là những dấu chỉ của thời đại cứu thế, thời đại Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ. Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu trở về quê hương xứ sở của mình. Điều này cho thấy sứ vụ công khai đầu tiên của Người được thực hiện nơi quê quán. Người đã trở nên nỗi tiếng "danh tiếng Người lan tràn khắp miền chung quanh". Người muốn mang tin mừng cứu độ, "năm hồng ân của Chúa" khởi đi từ những người thân thuộc, họ hàng, đồng hương đến toàn thể thế giới. Như thế, Đức Giêsu, tuy là con Thiên Chúa, sinh ra bởi quyền năng Thánh Thần, vẫn gắn bó mật thiết với quê hương của mình. Việc trở về quê cha đất tổ nói lên mối thâm tình nhân loại. Việc loan báo năm hồng ân của Chúa nơi quê nhà nói lên ân sủng tràn đầy nhờ sự hiện diện của Người. Đời sống công giáo là gì, nếu không phải là "gắn bó với nơi mình sinh ra", nhưng làm cho nơi đó trở thành nơi hồng ân. "Ân sủng không phá hủy tự nhiên, nhưng kiện toàn" (thánh Tôma Aquinô). Một đời sống công giáo thực sự không tách rời chúng ta khỏi người đồng hương của mình, người hàng xóm láng giềng, người thân quen, nhưng làm cho chúng ta gần gũi với họ, có khả năng yêu mến họ, để biến cuộc sống trở nên hồng ân. Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ nơi những người nghèo, những người bị áp bức, những người khuyết tật, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Lời ngôn sứ Isaia sẽ được Đức Giêsu thực hiện trong sứ vụ công khai. Người là tình yêu, niềm vui, bình an, hạnh phúc và hồng ân của Chúa. Người quan tâm đến những nỗi khổ về thân xác cũng như tâm hồn của con người. Người giải thoát con người khỏi tội lỗi, sự dữ, đồng thời mở con mắt đức tin cho họ. Tình yêu, bình an, hạnh phúc và hồng ân của Chúa vẫn được tiếp tục trong và qua Hội thánh của Người. Nhờ các bí tích, Đức Giêsu tiếp tục giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi, nuôi dưỡng chúng ta bằng Thánh Thể Người, củng cố chúng ta bằng ân sủng của Người. Qua lời rao giảng và giáo huấn của Hội thánh, Đức Giêsu vẫn đang chiếu dọi ánh sáng Người vào nơi tối tăm. Năm hồng ân của Thiên Chúa vẫn đang được thực hiện nơi những tâm hồn đón nhận Tin mừng và ánh sáng của Đức Giêsu. Đức Giêsu giải thoát chúng ta khỏi lo âu, sợ hãi, đơn độc, ích kỷ...miễn là chúng ta biết lắng nghe Lời Người. Đức Giêsu đổ tràn ân sủng người trên những ai thành tâm tìm kiếm "hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho". Như thế, Đức Giêsu chính là tình yêu, niềm vui, bình an, hạnh phúc và là hồng ân. Người đang hiện diện để cứu độ con người. Lạy Thiên Chúa toàn năng, trường cửu, Chúa tạo dựng và Chúa hoàn tất. Một năm dưới mắt Chúa chỉ là một phút chóng qua. Nhưng đối với chúng con là tạo vật, đôi mắt đâu có thấy được chiều dài cũng như chiều sâu của chuỗi ngày chất chứa những điềm tốt và điềm xấu. Chúng con biết chắc một điều : Mỗi năm là một bước tiến đến gần Chúa. Người đời tiến đến tuổi già, người kitô hữu tiến về ngày mới. Năm cũ đang trôi qua, tựa như một con đường cái, lúc thì thẳng tuột, lúc thì quanh co, lúc lên đèo, lúc xuống dốc, lúc đầy ổ gà. Đã có lúc chúng con đến chậm, bị kẹt xe, chúng con lỡ hẹn. Lạy Chúa, xin ban cho con sức mạnh trong năm mới sắp đến. Xin cho con khao khát Lời Chúa. Amen. (Lời nguyện cầu Phi châu) Fr Jude Siciliano, OP.
Khai Mở Năm Hồng Ân (Lc 1,1 -21)Thưa quý vị, Khi khởi sự năm phụng vụ C, tức Chúa nhật 1 mùa vọng, chúng ta tập trung nghe Phúc Âm Luca. Một Tin Mừng đầy đủ nhất trong ba Tin Mừng nhất lãm, nó là bảng tổng hợp thánh Matthêu, Marcô và cuộc điều tra cẩn thận của thánh nhân. Nhưng từ ấy đến nay phải phân tán vì những ngoại lệ trích sách Tin Mừng khác. Hôm nay chúng ta lấy lại khí thế ban đầu, gọi là năm Luca. Bởi lẽ cho đến hết năm, các bài đọc đều trích từ thánh nhân, theo một thứ tự ngăn nắp trước sau. Do đó, Tin Mừng chúa nhật này bắt đầu bằng một đoạn dẫn nhập và lời giảng đầu tiên của Chúa Giêsu tại hội đường Nadarét. Chúng ta đang ở trong giai đoạn khởi sự sứ vụ công khai của Ngài và một ý nghĩa nào đó, của Hội Thánh, của mỗi người tín hữu. Riêng đối với Giáo Hội Việt Nam thì cũng là khởi đầu năm thánh truyền giáo, kỷ niệm 470 năm Đức Tin đến với đất nước và con cháu Lạc Hồng. Tôi phải thành thật thú nhận khi liếc qua bài Tin Mừng, tự nhiên có cảm giác “khổ lắm, biết rồi”. Tôi đã rao giảng nó cách đây ba năm, đúng hơn, nhiều năm trước, vào những năm C. Ở vị trí nhà thuyết giảng đồng thời là kẻ thờ phượng Chúa, tôi bối rối không hiểu còn điều chi mới mẻ để chia sẻ với thính giả ? Trái tim, trí óc, lòng muốn còn rung động khi đọc bài Tin Mừng quá quen thuộc này nữa không? Với bổn phận giảng thuyết tôi có thể tìm ra những điểm tiếp cận mới cho năm này ? Liệu tôi còn tâm huyết để đi trọn con đường ? Quý vị nào cùng cảnh ngộ, xin chung lời cầu khẩn Thần Khí Chúa soi sáng. Chí ít, tôi tìm ra một nhân vật cùng hoàn cảnh, đó là thánh Luca. Chúng ta nghe ông tâm sự: “Thưa ngài Thêôphilô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta…” Nghĩa là những điều ông sắp viết không có gì mới mẻ, mọi sự đã được soạn thảo cả rồi, độc giả đã quen với những điều ấy. Tuy nhiên ông vẫn quyết định viết theo thứ tự, ngõ hầu Thêôphilô ngộ ra tính chân thật của những biến cố đó, chứ không phải dối trá bịa đặt. Ở đây, cũng có điểm mới, đó là tính vững chắc của Phúc Âm. Liệu cộng đoàn thánh Luca đã thuộc lòng câu chuyện của Chúa Giêsu chưa ? Có đúng nó đã mất tính thời sự và chỉ còn là tranh ảnh treo tường, không mấy ai chú ý trong cuộc sống vội vã hàng ngày ? Thực ra, trong giai đoạn đầu của Phúc Âm Luca, chúng ta khởi sự một hành trình. Hành trình sẽ đem độc giả đến những nơi xa lạ, gặp những người không quen, nhiều linh hồn thực sự thiếu thốn đang tìm kiếm chân lý và cuộc sống thiêng liêng, kẻ khác chỉ là thân hữu, bạn bè giúp sức trên đường đi. Phần đông là thù nghịch. Họ ném nghi ngờ, vật cản trên lối tiến. Tuy nhiên, chúng ta sẽ biến đổi khi đi hết con đường. Chuyện của ông sẽ nuôi dưỡng tâm linh chúng ta và giải quyết nhiều khó khăn, thắc mắc nảy sinh từ cuộc sống. Ba năm qua, mọi sự đã thay đổi nhiều, mặc dù nếp sống của chúng ta dường như vẫn theo lối cũ, chẳng có chi khác thường. Một điều chân thật: Lời Chúa không bao giờ bế tắc, tù đọng, nhưng luôn tuôn chảy. Nó không phải là chuyện ngày xưa, xảy ra từ lâu lắm như các chuyện cổ tích. Mặc dù văn phạm trong Phúc Âm đang ở thì quá khứ “đã”. Nhưng thực chất là chuyện hiện tại. Nó “đang” cần cho những tâm hồn theo Chúa Giêsu đích thực. Họ cần nghe Lời Chúa và gẫm xem các việc Người làm. Nếu như “đã” thì làm thế nào “thấm” được? Cho nên, ai đó cảm thấy năm phụng vụ C này là chuyện “khổ lắm biết rồi nói mãi” (Déja vu, all over again) thì xin ăn chay, cầu nguyện Thánh Linh Chúa để Ngài ban phước lành trước khi khởi sự hành trình. Thực ra trong năm Luca, chúng ta đi hành hương hơn là du lịch, cầu nguyện hơn là tìm thú vui chơi. Trên đường chúng ta sẽ nghỉ ngơi và suy gẫm. Như những người hành hương đạo đức khi xưa, chúng ta cùng tiến bước về thánh địa. Khởi sự mỗi chặng đường đi người ta có thói quen cầu xin phước lành. Cũng vậy khởi sự một năm phụng vụ mới, chúng ta cần ơn Thánh Linh để hoàn tất hành trình. Để rằng mọi người sẽ có sức sống mới, nhiệt huyết mới, phấn khởi mới ngõ hầu cùng nhau tiến tới trong đức tin. Mỗi ngày theo quy luật tự nhiên, vạn vật đổi mới, thì mỗi ngày theo quy luật sự sống, con người cần tiến tới. Không tiến tới, hoá thạch, là phản tự nhiên, phản siêu nhiên. Cho nên khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi…” chúng ta phải cầu xin Thánh Linh ngự trên mỗi người, đổi mới mỗi người, sai chúng ta đi rao giảng Lời Chúa. Đó là nhiệm vụ phải chu toàn, nếu muốn làm môn đệ Ngài, ngoài ra là dối trá. Hiện thời, chúng ta suy gẫm sâu xa hơn về Tin Mừng chu kỳ C, chúng ta khẩn nài Thiên Chúa đốt lửa sốt sắng trong lòng mình. Thần Khí Chúa sẽ ngự trong mỗi con tim để chúng ta đủ nhiệt tâm gieo vãi Lời Chúa cho thế gian, đang lầm lạc, đói khát chân lý và phần rỗi cho linh hồn mình. Ôi lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp chúng con cảm nghiệm được lửa Lời Chúa và đam mê rao giảng Nước Trời “thuận tiện cũng như không thuận tiện”. Khi lãnh phép thanh tẩy, mọi tín hữu đều được kêu gọi công bố “Tin Mừng” cho khắp thế gian bằng lời nói việc làm. Xin đừng để lu mờ ơn gọi đó, nhưng ngày càng sáng tỏ và thôi thúc. Phúc Âm hôm nay nhắc lại mệnh lệnh rao giảng cho mỗi người. Theo thánh Luca Chúa Giêsu còn sai 72 môn đệ, ngoài 12 tông đồ, đi khắp các làng mạc Palestine rao giảng Nước Trời. Xin lưu ý, bài đọc 3 hôm nay cho thấy rõ sự thật trong toàn bộ Phúc Âm thánh Luca: Sứ vụ của Chúa Giêsu hoàn toàn đặt dưới tác động của Chúa Thánh Linh: “Thần Khí Chúa đậu trên tôi, Ngài sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó”. Thánh Gioan Tiền Hô xác nhận: “Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa”. Sau đó là một loạt những công việc yêu thương Chúa Giêsu thực hiện trên toàn cõi Giuđêa dưới sự thúc giục của Chúa Ba Ngôi. Các hình ảnh Chúa dùng để rao giảng cũng mang đặc trưng năm hồng ân mà người Do Thái quen thuộc. Những điều kẻ nghèo khó, người khốn khổ, kẻ tù đày, bị áp bức mong mỏi suốt cuộc đời, thì nay đã trở nên hiện thực nơi Đức Giêsu. Họ được giải phóng, chữa lành, nghe Tin Mừng. Như vậy năm hồng ân, năm được Thiên Chúa chấp nhận, thực tế đã khai mở và được công bố cho toàn thể địa cầu. Điều chỉ là giấc mơ, niềm hy vọng trong trái tim dân tộc Israel thì nơi Đức Kitô đã trở thành thực tế. Khoảng trống rỗng trong lịch sử nhân loại nay được lấp đầy bằng sự hiện diện của Chúa Cứu Thế. Thực ra, những điều nghe trong bản văn quá khứ, chúng ta phải hiểu hiện tại. Nội dung của nó là cho ngày nay. Ai hiểu nó chỉ trong lịch sử đã qua thì hoàn toàn sai lầm. Lời Chúa không phải cho kẻ chết, mà chủ yếu cho người sống, uốn nắn và dạy bảo linh hồn nên hoàn thiện. Bài diễn văn công bố sứ vụ thiên sai công khai của Chúa Giêsu cũng không phải dành cho tương lai, một ngày nào đó, thế giới bị quên lãng của nghèo đói, khổ cực sẽ được nhìn ra và nhu cầu được thoả mãn, sửa chữa. Đúng hơn, Ngài phán bảo chúng ta bây giờ. Những sai lầm của thế giới hiện nay cần được sửa chữa, những điều lành thánh cần được thăng hoa, nhân rộng. Hơn nữa Ngài không chỉ nói về thế giới vô hình mà cả thế giới hữu hình. Ngài tuyên bố năm hồng ân cho tất cả mọi loài, mọi vật. Hình ảnh năm hạnh phúc có trong sách Lêvi ký đoạn 25, câu 8 đến 55. Người Do Thái nào cũng thuộc lòng và hiểu rõ ý nghĩa của nó, không thể nhầm lẫn. Thánh Luca khi viết những dòng này đã tra hỏi kỹ lưỡng “nhiều người”, cho nên tư tưởng của ông là chính xác và cụ thể, không tưởng tượng viển vông: “Có nhiều người đã ra công tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu… kể lại cho chúng ta… mong ngài nhận thức được rằng giáo huấn ngài học hỏi là vững chắc.” Chẳng còn gì rõ ràng hơn ! Hết chỗ để nghi nan bài bác. Cho nên vào thời điểm người ta tâm linh hoá quá đáng Kinh Thánh, làm cho nó trở nên linh thiêng, tối tăm, thì chúng ta cần coi lại. Chúa Giêsu tuyên bố cuộc giải phóng toàn diện của năm hồng ân: Kẻ què đi được, người mù sáng mắt, kẻ bị giam cầm được tự do. Không phải chỉ trên bình diện tinh thần mà còn cả vật chất. Vì thế mọi hình thức áp bức, kìm kẹp, bất công trong Giáo Hội phải bị loại trừ. Nhân phẩm con người phải được tôn trọng triệt để bất cứ ở đâu, tuổi nào, trẻ cũng như già, con nít cũng như người lớn. Phá thai là một trọng tội phạm đến sự sống con người. Tước bỏ quyền tự do, hạnh phúc người khác phải được coi là tội bất công. Chúa Giêsu nói về thời của Ngài và sự giải phóng do Ngài đem lại cho dân chúng, cho toàn thể thế giới. Thánh Luca áp dụng nó nơi cộng đoàn của mình và chỉ ra tinh thần giải phóng và tự do đang tiến hành trong Hội Thánh, kêu gọi mọi thành phần góp tay, chung sức xây dựng lợi ích chung, ngõ hầu Nước Thiên Chúa được tỏ hiện rõ nét trước mặt chư dân. Ngày nay cũng vậy, những điều Chúa công bố trong sứ vụ của Ngài, phải được thi hành trong các Giáo Hội, để biểu lộ Ngài đang hiện diện. Theo truyền thống, vị tổng thống mới của Hoa Kỳ, khi lên nhậm chức, đều đọc trước quốc dân bài diễn văn, tường trình công việc tương lai, những dự tính, những chiến thuật chiến lược kinh tế, dân sự, quốc phòng. Bài diễn văn của Chúa Giêsu trong hội đường Nadarét không chỉ trong kỳ hạn của Ngài, mà còn cho toàn thế giới mọi nơi, mọi thời. Nhất là trong đời sống của những kẻ tình nguyện theo Ngài. Chúng ta phải làm rõ những đặc tính ấy bằng lời nói việc làm. Nếu không chỉ là dối trá, lừa đảo bàn dân thiên hạ. Đối với người Hy Lạp, Thần Khí bất định hình mà Chúa Giêsu rao giảng không hiểu được. Họ yêu chuộng cụ thể, trật tự, hài hoà. Nghệ thuật còn lại ngày này của họ chỉ rõ điều đó. Nhưng chính Thánh Thần và lửa bất định hình của Chúa Giêsu lại mạnh mẽ nói lên tự do của ơn thánh. Chúng ta có nhiệm vụ làm thế nào cho thế giới ngày nay hiểu. Chính tính chất vô định của Thánh Linh mà nhân loại được giải phóng khỏi áp bức, bất công. Ước chi năm phụng vụ C, Chúa Giêsu làm cuộc hành trình lên Giêrusalem, theo như thánh Luca kể lại, cho thấy những dấu chỉ cụ thể Ngài tuyên bố, trở nên Tin Mừng cho thế giới hôm nay. Xin cho chúng ta, những người tin kính và rao giảng Nước Đức Chúa Trời, được tràn đầy Thần Khí, miệng lưỡi tự do, lòng trí sốt sắng, công bố cho toàn thế giới: Họ được giải phóng theo tuyên ngôn của Chúa Giêsu tại hội đường Nadarét. Ngõ hầu cùng nhau sống hạnh phúc, thánh thiện suốt năm hồng ân Luca. Amen. G. Nguyễn Cao Luật op
Hôm nay đã ứng nghiệm ... (Lc 1,1-4; 4,14-21) Truyền thống cũng là sáng tạo ''Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Luca.'' Để hiểu ý nghĩa của câu này, cần phải biết rằng Tin Mừng hoàn toàn không phải là một bộ sưu tập những mẩu chuyện liên quan đến Đức Giêsu và các giáo huấn của Người. Mỗi tác giả Tin Mừng đều là một chứng nhân về Con Thiên Chúa, và khi viết Tin Mừng, tác giả có ý trả lời vấn đề vẫn thường được nêu lên : Đức Giêsu là ai ? để nhờ đó mỗi người có thể gặp được Đức Giêsu khi nghe nói về Người, hay khám phá ra Người qua cuộc sống của các môn đệ. Mỗi nhân chứng này kể lại lòng tin của mình vào Đức Giêsu dựa theo một lịch sử : những sự kiện và những lời Đức Giêsu nói. Tuy nhiên mỗi tác giả còn dựa vào kinh nghiệm riêng của mình và của môi trường sống. Điều này giải thích vì sao mỗi tác giả có nét đặc trưng và âm giọng khác nhau. Dù vậy, vẫn luôn chỉ có một Tin Mừng, bởi vì chỉ có một Đức Giêsu Kitô. Mọi bản văn trong Kinh Thánh đều quy hướng về Người. Bản văn được phụng vụ sử dụng hôm nay là một thứ sắp xếp lại. Đây là một cách thức đọc Tin Mừng. Cách thức này làm nổi lên ba đề tài : Luca quyết định viết một quyển sách ; Đức Giêsu mở quyển sách ; Người gấp sách lại và bắt đầu hoạt động. Thánh Luca biên soạn theo một trật tự có sẵn. Người ta nhận ra ngay đây là một ông thầy đang nghiên cứu và soạn thảo nhằm hiểu các biến cố cách khách quan. Mục đích của tác giả thật rõ ràng : giúp người đọc nhận thức được rằng giáo huấn mình đã học hỏi thật là vững chắc. Chính vì vậy, những chữ được viết ra phải đem lại điều chắc chắn. Tác giả mong muốn mỗi người cảm nhận được sự vững chắc này và mỗi người phải tự kiểm chứng lại giá trị của điều đã được viết ra. Nói cách khác, mỗi người phải chọn lựa và dấn thân. Một truyền thống được gọi là đích thực khi truyền thống ấy luôn khơi dậy sức sáng tạo. Khi vào hội đường Na-da-rét và đọc bản văn ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu cũng không làm gì khác hơn. Người không lặp lại bản văn, không bình luận về bản văn lâu đời này; Người cũng không đưa ra những nhận định uyên bác về thời kỳ bản văn được soạn thảo. Trái lại, Người làm nảy sinh một ý nghĩa mới, Người đem lại sức sống cho những chữ chết. Chữ viết không chỉ là chứng từ của quá khứ, nhưng trở thành nguồn mạch cho hoạt động. Đức Giêsu không phải là nhà khảo cổ hay người chú giải. Người hoàn tất điều bản văn đã nói. Người mở ra một thế giới mới. Vì vậy, Người quả quyết : ''Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.'' Đức Giêsu là Đấng mà mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là ''có'' nơi Người (2 Cr 1,20), Người không thể đọc lời Chúa mà không thi hành, không hoàn tất ngay tức khắc. Chính vì thế, theo bước chân Người đi, các phép lạ được thực hiện cho những người nghèo khó, những kẻ bị tù đày, người mù, người bị áp bức ... Như vậy, quả là điều vô ích khi một số Kitô hữu muốn đóng khung truyền thống, đóng khung lời nói và hoạt động của Đức Giêsu. Người ta muốn hiểu chính các điều đã xảy ra trong quá khứ, thế nhưng người ta lại quên rằng, những điều ấy được truyền lại cho thế hệ sau với mục đích mỗi thế hệ phải đọc lại theo một cung cách mới, phù hợp với bối cảnh sống hiện tại của mình. Dấn thân phục vụ lời Chúa, đó là bước vào một hoạt động sáng tạo, đó là biến mình trở thành người phục vụ cho những khởi đầu mới. Lời Chúa không thể mất đi Tin Mừng cứ chạy, chạy mãi : từ Luca đến Ti-mô-thêu, từ những nhân chứng tai nghe mắt thấy đến tất cả chúng tôi - tức là những cộng đoàn tiên khởi, từ ngôn sứ Isaia đến Đức Giêsu, từ Đức Giêsu đến những người Do-thái đang tụ họp trong hội đường, và đến cả những người ngày nay - tại sao lại không? Lời Thiên Chúa do Đức Giêsu công bố, dù mọi người đã biết, nhưng vẫn có tính cách đặc biệt. Người ta chẳng hiểu vì sao Người có uy quyền như thế. Trước đấy, danh tiếng Đức Giêsu đã lan rộng ra khắp miền Galilê. Nhưng khi trở về quê hương, Người biết rõ là người ta không để ý lắng nghe lời Người nói. Tại những miền khác, Người thường đến với những kẻ bị bỏ rơi, những kẻ bị tù đày, những người mắc bệnh phong hủi, hay với kẻ mù loà, với người đàn bà goá ... Còn hôm nay, Người xuất hiện trong một cuộc hội họp : Người tỏ mình ra trong Hội Đường của người Do-thái. Đức Giêsu đứng lên, đọc sách, và ngồi xuống như những người khác. Thế nhưng điều Người nói quả là lạ lùng, khó có thể tin được : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa. … Hôm nay dã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe Các lời Đức Giêsu nói và những việc Người làm vừa có tương quan hỗ tương với nhau, vừa có liên hệ tới toàn bộ sứ điệp Cựu ước. Vì vậy, các thính giả nhận ra một sự thật rõ ràng : Thần Khí Thiên Chúa luôn có mặt ! Người ta vẫn gặp thấy những người hăng hái dấn thân phục vụ người nghèo, mặc dù hoàn cảnh của họ không thuận lợi lắm -nếu không muốn nói là bi đát, và công việc phục vụ của họ rất khiêm tốn. Chính lúc ấy, dường như lời họ nói có sức thuyết phục hơn, chặt chẽ hơn, làm cho người nghe phải bối rối. Trước những mẫu gương này, thường có hai phản ứng : một là bịt tai lại, không muốn lắng nghe, hai là để ý và theo dõi bước chân người đi trước. Theo cái nhìn trong đức tin, các vị thánh, các ngôn sứ hay những người được Chúa xức dầu là những người dùng lời nói hay hành động của mình để thúc đẩy người khác nói và hành động, làm cho vương quốc tự do của Chúa được xuất hiện. Như thế, Thần Khí Thiên Chúa luôn hoạt động trong mọi người và trong mọi thời để người nghèo, kẻ tù đày, người bị áp bức trong mỗi thời đại được giải thoát, về cả đời sống vật chất lẫn những khát vọng sâu xa của con người. Và như vậy, Tin Mừng không bao giờ bị mất đi. "Ngày hôm nay'' Tất cả được bắt đầu vào ngày Đức Giêsu mở sách ra và đọc lại lời ngôn sứ Isaia, và tuyên bố với mọi người : ''Hôm nay'' đã ứng nghiệm ... Không ai, có thể lầm lẫn về lời tuyên bố này, vì đoạn sách Đức Giêsu vừa đọc lại nói về Đấng Mê-si-a. Và Đức Giêsu quả quyết : Hôm nay và chính tôi. Lời tuyên bố này không phải là một lời sấm, nhưng là một biến cố, một biến cố duy nhất và không thể đảo ngược lại. Lời tuyên bố này đòi mỗi người phải tự xác định lại mình trong tương quan với Đức Giêsu. Bởi vì vẫn chỉ là một lời duy nhất, một lời luôn có tính hiện đại : lời Đức Giêsu nói tại hội đường Na-da-rét, lời thánh Luca viết cho ông Thê-ô-phi-lô, và lời chúng ta đang nghe hôm nay. Chính ngày hôm nay mà mỗi người nhận ra Thiên Chúa đang can thiệp vào lịch sử cửa toàn thể nhân loại và của mỗi người. Chính ngày hôm nay mà mỗi người nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương mình. Chính ngày hôm nay mà mỗi người phải hành động vì cuộc sống vĩnh cửu của mình. Chính ngày hôm nay mà mỗi người bước vào mối hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng duy nhất. Chính ngày hôm nay là một cuộc truyền tin cho mỗi người, bởi vì họ phải lắng nghe và chọn lựa. Chính ngày hôm nay, Thiên Chúa đang đến với mỗi người. Chính Người đang hiện diện, qua Hội Thánh, qua các bí tích. Chính ngày hôm nay mà mỗi người phải đón tiếp Thiên Chúa. Phần chúng ta, chúng ta sống ngày hôm nay như thế nào, chúng ta làm gì ? Thánh Luca đã khởi đầu Tin Mừng từ ngày hôm nay. Đó cũng là khởi đầu cho mọi cuộc loan báo Tin Mừng. Ngày hôm nay là một biến cố, người ta không chỉ bình luận về biến cố, nhưng người ta sống và loan báo. Nguyễn Chí Thanh op
“Bản tuyên ngôn tình thương” ( Lc 1,1-4 ; 4, 14-21 ). Ngày 10-12-1948. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã long trọng tuyên bố bản tuyên ngôn quyền con người… đây là lần đầu tiên trong lịch nhân loại, cộng đồng thế giới đã đảm nhận trách nhiệm quảng bá và bênh vực quyền của con người như một nghĩa vụ trường kỳ. Bản tuyên ngôn nhân quyền đã được công bố một thời gian ngắn sau đệ nhị thế chiến. Thảm kịch chiến tranh cho nhân loại mỗi lúc hiểu rằng hòa bình chỉ có thật sự có khi con người biết tôn trọng những quyền lợi và tự do căn bản của con người. Ngược lại, nơi nào quyền con người bị phủ nhận và chà đạp, thì cho dẫu không có chiến tranh đẫm máu, người ta cũng chỉ sống trong một thứ hòa bình giả tạo mà thôi. Thưa cộng đoàn, nếu bản tuyên ngôn ở trên được con người đặt ra để cử xử với nhau trong cuộc sống ở trần gian này, cho dù thế nào đi nữa nó vẫn có những bất toàn của nó. Thì trong bài Tin Mừng hôm nay Đức Giêsu đã công bố “bản tuyên ngôn tình thương”, bản tuyên ngôn ấy vượt ra khỏi không gian và thời gian, và được thể hiện bằng thần khí, bằng sự thật, bằng cuộc sống, bằng tình yêu, bằng tình người và sẽ bằng chính máu – thập giá của Người Trở lại với trình thuật Tin Mừng, chúng ta thấy thánh Mát Thêu diễn tả : Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Thưa cộng đoàn, đã ứng nghiệm vì Đức Giêsu đến trần gian và đi vào cuộc sống làm người chỉ trừ tội lỗi, vì vậy “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế ”. Đã ứng nghiệm vì Đức Giêsu là sợi chỉ nối kết giữa Cựu Ước và Tân Ước. Do đó Người đến không phải là để phá đổ những cái cũ nhưng là để kiện toàn và tạo cho nó một sinh khí mới. Thưa cộng đoàn, qua bài đọc một chúng ta thấy rất rõ sách luật đã nói đến “hôm nay là ngày thánh hiến Đức Chúa của anh em, anh em đừng sầu thương khóc lóc” Đó cũng chính là điều đã ứng nghiệm rằng một viễn tượng hết sức tốt đẹp là sẽ có một đấng thiên sai đến với toàn dân, sẽ giải phóng họ thoát khỏi cảnh lầm than cơ cực, khỏi cảnh bị áp bức bóc lột; vì thế “ hôm nay là ngày thánh hiến cho Đức Chúa chúng ta. Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của Đức Chúa là thành trì bảo vệ anh em ” Và vì vậy đã ứng nghiệm qua trình thuật Tin Mừng của thánh Mátthêu được Đức Giêsu công bố, chúng ta thấy “Bản tuyên ngôn tình thương” đã được ngôn sứ Isaia tiên báo trước đó năm thế kỷ là “Thần khí chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát tuyên cáo lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết sẽ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. Nhưng để thực hiện, để mở ra bản tuyên ngôn này thì chỉ có Đức Giêsu là người duy nhất có chìa khóa mở ra. Điểm cốt yếu của bản tuyên ngôn tình thương tại thủ phủ Nazaret được Đức Giêsu công bố ít nhiều đã làm xáo trộn trật tự sẵn có. Vì đối với não trạng của người Do Thái, đặc biệt của các thượng tế và kinh sư, thường coi những kẻ nghèo hèn, những kẻ khố rách áo ôm, những kẻ đui mù câm điếc… là do Thiên Chúa chúc dữ, do đó cần loại những kẻ ấy ra ngoài đời sống sinh hoạt của tôn giáo, của phụng tự, của xã hội. Thế mà một Đấng Thiên Sai lại đi rao giảng sự giải phóng cho những người ấy. Vâng thưa công đoàn, sao mà có thể chấp nhận cho được ! . Nhưng đã ứng nghiệm vì Đức Giêsu đến loan báo một thứ Tin Mừng khác hẳn, không phải là một thứ Tin Mừng chỉ dành riêng cho một dân tộc ưu tuyển nào, hay chỉ dành riêng cho các thượng tế và kinh sư, nhưng Đức Giêsu còn mang đến một thứ Tin Mừng cho những người đang sầu khổ, đui mù, câm điếc và những dân ngoại đang khao khát lời Chúa. Thưa cộng đoàn, bản tuyên ngôn được Đức Giêsu công bố, đã biến Đức Giêsu trở thành một vị Thiên Chúa ngôi vị, đã trở thành anh cả giữa một đàn em đông đúc mà qua bài đọc hai cho chúng ta thấy Đức Giêsu là Đầu, là Trưởng Tử, còn chúng ta là những thành phần được kết hợp với người, được thông phần với người vì chúng ta đã được đầy tràn một thần khí duy nhất. Chính vì vậy Đức Giêsu đã sống đồng hành, sống cùng sống với thân phận của mỗi con người; lúc thì thủ thỉ như cha con, lúc thì chung chạ như anh em, lúc thì đồng bàn như bạn hữu. Đức Giêsu không chỉ dừng lại đồng hành bên cạnh những thân phận ấy, nhưng Người nhận thấy nơi những con người bệnh tật, bần cùng đói khổ, tội lỗi ấy một giá trị mới, một phẩm giá mới ; là được làm con Thiên Chúa. Một cách quyết liệt hơn nữa nói như tôn sư Eckhart “ Thiên Chúa xuống làm người để con người trở thành Thiên Chúa” là vậy. Thưa cộng đoàn, bản tuyên ngôn tình thương được Đức Giêsu công bố vẫn còn rất thời sự, vẫn còn rất nóng hổi đối với thế giới của chúng ta đang sống. Vậy mỗi người ki tô hữu chúng ta sẽ thực hành bản tuyên ngôn ấy như thế nào trong thế giới hôm nay?. Đây là vấn đề tôi cũng như các quý ông bà anh chị em phải suy nghĩ rất nhiều trước bối cảnh chúng ta đang sống. Ắt hẳn cũng còn rất nhiều điều chưa ứng nghiệm là bởi vì qua thái độ sống của mỗi người chúng ta chưa thực hiện được qua bản tuyên ngôn của Đức Giêsu; Chưa ứng nghiệm là vì chúng ta chưa sống đúng với chứng tá là một ngôn sứ đến với những con người bất hạnh, và vẫn còn những thái độ tránh xa họ. Chưa ứng nghiệm là vì chúng ta chưa mở rộng tấm lòng ra để đón nhận những nỗi đau của đồng loại, bởi vì chúng ta sợ không dám chia sẻ những gì chúng ta có như tinh thần và vật chất. Chưa ứng nghiệm là vì chúng ta chưa công bố một sứ điệp Tin Mừng chân thật, sứ điệp Tin Mừng đó chính là thể hiện cách sống của chúng ta đối với những người bất hạnh. Vâng, đúng vậy, khi chúng ta lãnh nhận bí tích thánh tẩy, chúng ta được tháp nhập vào chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương đế phổ quát của Đức Giêsu. Cho nên mỗi ki tô hữu chúng ta cũng phải có trách nhiệm loan báo, công bố, và thực hiện bản tuyên ngôn đó; là loan báo niềm vui đến với những người đang khát khao lời Chúa biết rằng Thiên Chúa luôn luôn đón chờ, luôn dang rộng cánh tay để dìu dắt nâng đỡ, an ủi một khi trông cậy vào Người Và công bố niềm hy vọng đối với những người tội lỗi, sầu khổ, bệnh tật, đui mù câm điếc về cả tinh thần lẫn thể xác là Thiên Chúa luôn luôn đồng hành với mỗi người chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống, và luôn luôn ôm trọn tất cả những tội lỗi, sầu khổ, bệnh tật của mỗi người chúng ta bằng trái tim đầy thương yêu của Người và chữa lành những vết thương ấy qua Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta đón nhận mỗi ngày. Chính vì vậy mỗi người chúng ta cầu xin Chúa luôn tăng thêm thần khí để dẫn dắt chúng ta dám sống, dám xả thân phục vụ và thực hiện bản tuyên ngôn tình thương mà Đức Giêsu đã trao lại là: mang Tin Mừng đến với mọi người, qua đó nhận biết tình yêu thương của Thiên Chúa. Vì chỉ có như vậy chúng con mới có thể thực hiện lời Người đã dạy “anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, và loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Và cũng chỉ có như vậy thì “hôm nay sẽ ứng nghiệm lời kinh thánh” trong bối cảnh chúng ta đang sống và qua đó làm bật dậy sức sống mới trong từng tâm hồn mỗi người chúng ta. Amen. Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Tôn giáo của Chúa Giêsu (Lc 1,1-4; 4,14-15) Bài Tin Mừng hôm nay thánh
Luca kể lại một lần Chúa Giêsu về thăm Na-da-rét, nơi Ngài sinh trưởng, Ngài vào hội đường với mọi người trong ngày Sa-bát, như từ nhỏ đến lớn Ngài vẫn tới hội đường này. Cũng như tại các nơi khác, Ngài đã làm như thế từ lúc bắt đầu sứ mạng rao giảng. Có lẽ vì đã nghe tiếng đồn về công cuộc rao giảng của Ngài nên người ta trao Sách Thánh cho Ngài đọc, Ngài mở ra và đọc trúng đoạn ngôn sứ
Isaia nói về sứ mạng người tôi tớ của Thiên Chúa. Đọc xong, Ngài gấp sách lại và dõng dạc tuyên bố : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Tất cả bài giảng hôm ấy thế nào chúng ta không được biết, thánh
Luca chỉ ghi lại một câu mở đầu ấy, nhưng thật đầy đủ ý nghĩa.
Isaia công bố về một người tôi tớ của Thiên Chúa sẽ đem ơn lành của Thiên Chúa đến cho mọi người. Chúa Giêsu muốn nói cho những người đang nghe Ngài biết rằng : hôm nay họ đang được nghe chính người tôi tớ mà
Isaia đã loan báo, người tôi tớ ấy chính là tôi. Suốt thời gian Chúa Giêsu sống và rao giảng, Ngài đã thực hiện lời Sách Thánh ấy. Ơn cứu độ Chúa Giêsu công bố và thực hiện không phải chỉ là “cứu các linh hồn” nhưng là sự giải phóng toàn diện con người và xã hội khỏi nghèo đói, bệnh tật, tù đày, áp bức, bất công… Chúa cho người ta hưởng một phần hiệu quả của sự giải phóng ấy qua lời giảng dạy và những phép lạ Ngài làm. Ngài cho người ta nếm những ân huệ của “Năm Toàn Xá của Thiên Chúa”. Như vậy, chính Chúa Giêsu đã tự giới thiệu sứ mạng của Ngài tại hội đường Na-da-rét, và qua ba năm cuộc đời công khai, quả thực Ngài đã thực hiện trọn vẹn sứ mạng ấy. Ngày hôm nay, sứ mạng của Chúa Giêsu vẫn được tiếp tục thực hiện qua Giáo hội và trong Giáo hội. Thực vậy, khi Chúa Giêsu hoàn thành thời gian sứ mạng của Ngài, Ngài gửi Thánh Thần đến cho các môn đệ để họ tiếp tục công bố Năm Toàn Xá của Thiên Chúa, loan Tin Mừng cho mọi người, rao giảng và thực hiện sự giải phóng toàn diện con người và xã hội. Nói rõ hơn, Giáo hội được đầy Thánh Thần từ ngày lễ Ngũ Tuần phải tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu. Như vậy, lời sách
Isaia thâu tóm sứ mạng của Chúa Giêsu cũng là lời thâu tóm sứ mạng của Giáo hội mọi thời đại, hôm nay sứ mạng ấy càng trở nên khẩn trương hơn. Đối với chúng ta hôm nay, nhờ bí tích rửa tội, chúng ta đều thuộc về Giáo hội, chúng ta đã và đang thụ hưởng những hồng ân cao cả của Chúa, chúng ta phải làm sao cho những người mình gặp gỡ, tiếp xúc, được hưởng những ân huệ ấy như mình. Vậy chúng ta phải làm gì và làm thế nào ? Chúng ta hãy sống cho thật tốt đẹp ơn gọi làm người của mình. Tại một bộ lạc trong rừng già Phi châu, có ba thanh niên, sau khi trải qua một số thử thách, đã đến trình diện với viên tù trưởng của họ. Ông nhìn từng người rồi nói : “Trong sáu ngày qua, các ngươi đã được đưa vào rừng sâu để trải qua một cuộc thử thách, sau không biết bao nhiêu gian khổ và nguy hiểm, các ngươi đã trở về bình an vô sự, nhưng vẫn chưa đủ, các ngươi hãy kể lại cho ta nghe tất cả những gì các ngươi đã làm trong sáu ngày qua để xứng đáng được gọi là chiến sĩ”. Lần lượt mỗi người kể lại thành tích của mình. Người thứ nhất cho biết là anh đã giết được con báo. Người thứ hai kể lại anh đã hạ được một con trăn khổng lồ. Đến phiên mình, người thứ ba chỉ biết đứng im lặng, tên anh là Ma-ma-đu. Ông tù trưởng hỏi anh : “Nào Ma-ma-đu, ngươi đã làm được gì ?”. Một cách nhỏ nhẹ, anh nói rằng anh đã lấy được một tảng mật ong. Nghe thế mọi người cười ồ lên, bởi vì họ cho rằng lấy được mật ong thì có gì đáng gọi là một thành tích. Ông tù trưởng hỏi anh : “Tại sao ngươi lấy mật ong mà không chịu đi săn thú dữ ?”. Ma-ma-đu trả lời : “Cha mẹ tôi đã già yếu bệnh tật, tôi luôn nghĩ đến các ngài, cho nên tôi đã lấy mật ong mang về biếu các ngài”. Nghe thế, viên tù trưởng liền đứng dậy, ông lấy cây đao trao cho người thanh niên và tuyên bố : “Ngươi hãy cầm lấy cây đao, bởi vì ngươi là người xứng đáng để lãnh nhận danh hiệu chiến sĩ hơn cả. Trước khi trở thành một người thợ săn giỏi, cần phải nên người đã, và chỉ có một cách duy nhất để biết một kẻ nào đó đã thực sự nên người là kẻ đó biết đặt tình thương trên tất cả mọi sự và hiếu thảo với cha mẹ mình”. Trước khi trở thành một chiến sĩ, phải sống xứng đáng như một con người đã. Người dân nước Mỹ có thể sẽ nói : “Trước khi trở thành tổng thống, hãy sống xứng đáng như một con người đã”. Đó là lý do tại sao người Mỹ đòi hỏi vị tổng thống của họ phải là một người có đời sống trong sạch, gương mẫu. Tất cả những ứng cử viên bị phát giác có những lem nhem, lăng nhăng đều bị cử tri tẩy chay. Chúng ta cũng có thể nói : Trước khi là một tín hữu Chúa Kitô, hãy sống xứng đáng như một con người đã. Thực ra ơn gọi làm Kitô hữu không loại bỏ hoặc chồng lên ơn gọi làm người. Thiên chức Kitô hữu phải là một thể hiện cao độ của chính ơn gọi làm người. Và ngược lại, sống cho ra người, sống xứng với những đòi hỏi của phẩm giá con người, đó cũng có thể là một cách thế làm Kitô hữu. Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn ơn gọi làm người của Ngài. Ba mươi năm thinh lặng của Ngài ở Na-da-rét là một thể hiện trọn vẹn ơn gọi làm người ấy. Sống cho tha nhân, chết cho tha nhân, đó cũng chỉ là đòi hỏi tất yếu của ơn gọi làm người mà thôi. Con người không thể làm người một cách thành toàn nếu không đặt tình yêu thương trên tất cả mọi sự. Chúa Giêsu đã đi cho đến tận cùng ơn gọi làm người ấy khi Ngài dốc cạn giọt máu cuối cùng, Ngài đã trở thành con người kiểu mẫu, bởi vì Ngài đã sống trọn vẹn cho tha nhân. Vì thế, đạo của Chúa Giêsu, tôn giáo của Chúa Giêsu cũng chính là đạo, là tôn giáo của con người. Chúng ta chỉ có thể là tín đồ đích thực của tôn giáo ấy nếu chúng ta biết yêu thương mọi người như anh em của mình. Xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức mình là Kitô hữu, và xin cho chúng ta hiểu rằng làm Kitô hữu có nghĩa là sống trọn vẹn ơn gọi làm người bằng một cuộc sống quảng đại, yêu thương và đầy tình người. Giuse Nguyễn Văn Tiến OP
Tin Mừng được loan báo cho những người nghèo khổ (Lc 1, 1-4 ; 4, 14-21) Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm nay (2007) mời gọi người kitô hữu “Sống đạo hôm nay”. Sống đạo là một ý niệm không mới đối với người Kitô hữu, nhưng cần phải được nhìn theo nhãn quan của thời đại. Sống đạo hôm nay không chỉ là giới hạn ở những phận vụ tôn giáo cần được chu toàn như : kinh kệ, lễ lạc, lãnh nhận các bí tích… mà sống đạo hôm nay còn là lời mời gọi mỗi kitô hữu hãy trở nên ánh sáng, hãy trở nên muối, nên men như dấu chứng về Nước Thiên Chúa cho người khác bằng chính đời sống của mình. Chính vì thế mà bài Tin Mừng hôm nay mời gọi người kitô hữu hãy trở nên nhân chứng Tin Mừng Cứu Độ mà Đức Giêsu đã mặc khải hơn 2000 năm qua: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”. Tin Mừng Cứu Độ này đã được Đức Giêsu hoàn tất trên thập giá và tiếp tục được loan truyền trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội cho đến ngày thế tận thế. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Lời Chúa hôm nay nhắc nhớ mỗi người kitô hữu về sứ vụ của mình. Sứ vụ hãy công bố Tin Mừng của Chúa cho người khác bằng đời sống của mình trước những thách đố của xã hội hiện đại: Một xã hội vẫn còn nhiều người chưa nhận biết Tin Mừng Nước Chúa hoặc đã được đón nhận Tin Mừng nhưng nay đang bị lầm lạc bởi những trào lưu của xã hội mà họ chưa trở về với Chúa. Một xã hội vẫn còn nhiều những người nghèo đói, bất công, chiến tranh và hận thù. Và đặc biệt con người đang dần đánh mất cảm thức tương quan xã hội với người khác bằng lối sống cá nhân ích kỷ và thực dụng. Lạy Chúa Giêsu, Thời đại nào, xã hội nào và môi trường nào cũng có những người nghèo khổ, bệnh tật, cô thế, cô thân mà và họ là những người đang bị bỏ rơi bên nề xã hội. Những con người này đang cần sự chia sẻ, nâng đỡ và cảm thông của đồng loại và đặc biệt là chính mỗi người chúng con đây. Thế nhưng, khi đối diện với những con người ấy, chúng con có thái độ nào đây ? Chúng con sẵn sàng chia sẻ. Chúng con sẵn sàng cảm thông với họ hay là chúng con đến với họ bằng những ánh mắt thiếu thiện cảm. Xin Chúa giúp chúng con luôn có con tim và ánh mắt của Chúa, để chúng con đến và trao cho tha nhân bằng chính niềm vui, sự yêu thương và cảm thông của Chúa như Chúa đến với chúng con. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa mời gọi chúng con hãy yêu thương đồng loại, chia sẻ với những người nghèo khổ, những người kém may mắn hơn chúng con. Vậy mà chúng vẫn chưa thực hiện được lời mời gọi của Chúa. Nhiều khi chúng con có những hoạch định này hoạch định kia cho những chương trình trợ giúp người nghèo, người đang bị bỏ rơi… nhưng tất cả chỉ là những hoạch định, còn những việc chúng con làm được chỉ là những con số khiêm tốn. Xin Chúa cho chúng con luôn biết mở lòng mình ra với đồng loại bằng chính những công việc cụ thể trong đời sống như : chia sẻ với những người nghèo đói, những người bị bỏ rơi và những người kém may mắn, để họ cũng có được sự an ủi trong cuộc sống không chỉ bằng vật chất mà còn bằng cả niềm cảm thông của chúng con. Và xin Chúa ban cho chúng con trái tim biết yêu thương, để chúng con luôn sẵn sàng chia sẻ và cảm thông với những người đau khổ, những người bất hạnh để họ cũng có được niềm vui thật sự trong cuộc sống này. Amen. Fr. Jude Siciliano, op.
Hôm nay Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài (Lc 1, 1-4; 4, 14 -21) Thưa quý vị, Mỗi buổi sáng chúng ta thường chào hỏi nhau. Chẳng phải vì xã giao mà thôi. Trong lòng chúng ta ước ao cho nhau một ngày tốt đẹp, tốt đẹp từ “khởi sự cho đến hoàn thành”. Đây là một truyền thống đáng trân trọng, như thể khi thức dậy người ta bước vào một ngày mới, cuộc đời mới, mọi sự sẽ diễn biến như ý. Các nguyên thủ quốc gia khi đăng quang nhận chức đều đọc diễn văn hoạch định chương trình hành động cho nhiệm kỳ của ông, vì lợi ích quốc gia. Đối với mọi người, mỗi ngày đều là khởi sự mới, vơí những quyết tâm, những chương trình cho ngày ấy. Nhưng người tín hữu khởi sự mới là bí tích rửa tội. Bí tích này cống hiến chúng ta một quan điểm hoàn toàn khác về thế giới, chính mình, tha nhân và về Thiên Chúa, mà mỗi ngày chúng ta phải nhìn lại lối sống của mình như những kẻ liên kết với Chúa Giêsu. Chúng ta lãnh thánh tẩy để làm môn đệ Ngài. Nhưng bước đường theo Chúa còn dài. Mỗi ngày chúng ta phải học hỏi việc đón nhận Đức Kitô như Cứu Chúa của mình, gia đình và xã hội. Vậy chúng ta phải phục vụ Ngài ra sao? Khi đồng hành với người khác trên con đường luôn thay đổi, nhiều khúc quặt của cuộc đời? Mỗi ngày đều mang tới những thách đố mà người môn đệ Chúa không thể khoe mình thực hiện cách hoàn hảo, như bài đọc 2 hôm nay chỉ rõ: “Giả như toàn thân chỉ là mắt thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai thì lấy gì mà ngửi?” Vậy theo quan điểm tôn giáo chúng ta chúc nhau “good morning” để hy vọng lần nữa nói “có” cho chức vụ làm môn đệ Chúa. Bí tích thanh tẩy không phải là kết thúc nhưng là khởi đầu của tiến trình theo Chúa. Bài đọc 3, thánh Luca nói rằng ông viết Phúc Âm cho những tín hữu đang học đạo, nghĩa là chưa hoàn thành việc làm tôi Chúa. Bài đọc gồm 2 phần, trích từ chương 1 và 4. Phần thứ nhất dẫn nhập vào Phúc Âm và Công vụ các tông đồ. Ong nêu rõ lý do và nhân vật ông đề tặng: “Thưa ngài Thêôphilô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự kiện đã được thực hiện giữa chúng ta… Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài…” Ong Thêôphilô có lẽ là một vị vọng nhà nước mới trở lại công giáo. Nhưng ý nghĩa của tên ông là “Kẻ Thiên Chúa yêu mến”. Như vậy mỗi chúng ta được phép nhận mình như người tiếp đón Phúc Âm Luca. Chúng ta đều là tín hữu mới trở lại đạo, cần học hành và tìm hiểu những hậu quả của đức tin. Mỗi ngày đối diện với khởi sự mới thì điều chi có ý nghĩa cho chúng ta để trở nên kẻ “Thiên Chúa yêu mến”? Được Ngài kêu gọi để phục vụ Đức Kitô? Chúng ta môi miệng nhiều quá rồi, xin hãy đi vào nội dung thực tế! Thánh Luca giúp chúng ta thi hành điều ấy khi viết: “Mong ngài nhận ra rằng giáo huấn ngài học hỏi thật là vững chắc.” Mục tiêu viết sách của thánh nhân là để chúng ta nhận ra giáo huấn mình học hỏi là vững chắc. Từ “nhận ra” trong tiếng Anh (realize) có nhiều nội dung. Thứ nhất, hiểu cách đầy đủ và chính xác. Đây là nội dung đầu tiên thánh Luca muốn giúp. Chúng ta quán triệt các sự thật Phúc Âm mà chúng ta lãnh nhận về Chúa Giêsu và qua Chúa Giêsu về Thượng Đế. Thứ 2, nhận ra còn có nghĩa làm trở nên thực tại hay thực tại hoá. Nội dung này đưa chúng ta đi xa hơn nhận biết, đến mức hành động. Những gì chúng ta hiểu biết thì thực hiện. Thứ 3, nhận ra còn có nghĩa thực tế (realistic) không mơ mộng hay lý thuyết suông. Liệu đức tin của chúng ta chỉ là một lý tưởng, một ý nghĩa tốt đẹp chứ không phải là “thực tế” mà chúng ta cần bày tỏ cho tha nhân, cho thế giới? Liệu lối sống của chúng ta thực tế, có thật chứ không phải viển vông? Lối sống “good to see, but not to live in” (coi đẹp đẽ lắm, nhưng không sống được), tức giả hình! Mong chúng ta hiểu được như vậy. Hy vọng rằng: mỗi ngày chúng ta cố gắng biến nếp sống mình thành thực tại Tin Mừng. Chúa Giêsu sẽ trợ giúp mỗi linh hồn quán triệt các hệ quả của Tin Mừng như Ngài tuyên bố trong hội đường Nazareth hôm nay. Tại đây Ngài hoạch định chương trình và sứ mệnh của mình, của những ai theo Ngài: loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ, chữa lành những tâm hồn tan vỡ… Nhưng trước khi bước sang phần thứ hai của bài Phúc Âm , chúng ta nên nhìn lại bài đọc một để thấy rõ ý Lời Chúa Giêsu trong hội đường Nazareth hơn. Đoạn trích sách Nêhêmia kể lại việc canh tân giao ước giữa Đức Chúa và tuyển dân. Thời điểm là sau cuộc lưu đày Babylon, tuyển dân trở về quê hương xứ sở. Nhưng mọi sự đã bị tàn phá. Đền thờ không còn nữa, nhà cửa, ruộng vườn bỏ hoang. Bổn phận của tổng trấn Nehêmia là gây dựng lại xứ sở, đặc biệt thành Giêrusalem và đền thờ. Việc đó chẳng thể thực hiện được nếu không kèm theo việc canh tân tôn giáo. Tư tế Esdra lo nhiệm vụ này: “ Hôm ấy, ông Esdra cũng là tư tế, đem sách luật ra trước mặt cộng đồng gồm đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ong đứng ở quảng trường phía trước cửa Nước, đọc sách luật trước mặt đàn ông, đàn bà, và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ong đọc từ sáng sớm tới trưa và toàn dân lắng tai nghe sách luật”. Cuộc canh tân tinh thần diễn ra như vậy, Esdra mở sách luật, chúc tụng Đức Chúa, toàn dân lắng tai nghe. Họ tỏ dấu sầu thương khóc lóc vì quá khứ phản bội nhưng cấp lãnh đạo can họ đừng làm vậy, vì hôm nay là lễ hội tiến dâng cho Đức Chúa, hãy về mở tiệc mừng, ăn thịt béo, uống rượu ngon… toàn dân đáp lại : Amen, Amen (đồng ý, đồng ý). Mối tương giao giữa Thiên Chúa và tuyển dân được nối lại. Giao ước được canh tân và tăng cường. Đức Chúa sẽ là Thiên Chúa của Israel và Israel là dân Ngài. Đến đây chúng ta hiểu ra ngụ ý của Phúc Âm tuần trước về tiệc cưới Cana. Nó dẫn vào Tin Mừng Luca như dẫn vào bàn tiệc Lời Chúa: thịt béo, rượu ngon cho linh hồn mỗi người. Chúng ta cần múc lấy hiệu quả thiêng liêng của bàn tiệc này. Nếu không Tin Mừng Luca trở nên vô ích. Tư tế Esdra hôm nay khuyên tuyển dân làm như vậy để canh tân tinh thần, hầu xây dựng lại xứ sở và đền thánh. Suốt năm nay mỗi khi nghe đọc Luca, chúng ta ăn năn sám hối về quá khứ bất trung rồi nghe Esdra khuyên: “Anh em hãy ăn thịt béo, uống rượu ngon và gửi phần cho những người không sẵn của ăn. Vì hôm nay là ngày thánh hiến cho Đức Chúa chúng ta.” Ước chi suốt năm tới, mỗi Chúa nhật nghe đọc Tin Mừng Luca là chúng ta dự tiệc ngon ngọt lời Chúa. Thánh Luca kể lại việc Chúa trở về Galilêa “trong quyền năng Thánh Thần” : “Khi ấy, được quyền năng Thần Khí thúc đẩy Đức Giêsu trở về Galilêa, và tiếng tăm người đồn ra khắp vùng lân cận.” Bài đọc nhấn mạnh đến vai trò của Thánh Linh trong sứ vụ Đức Kitô. Ngài thăm viếng những người cần được cứu chữa, canh tân, giống như tuyển dân thời Nehêmia và Esdra. Vị ngôn sứ Esdra nói với tuyển dân vừa trở về từ kiếp nô lệ: “ Chúng ta đừng buồn bã vì niềm vui của Đức Chúa là thành luỹ bảo vệ anh em.” Tương tự, Chúa Giêsu bắt đầu công khai giảng dạy cho những ai cần tăng cường giao ước với Thiên Chúa. Tuy nhiên, một khi việc canh tân khởi sự rồi, điều chi khiến tuyển dân và chúng ta lại bẻ gẫy giao ước? Và điều chi giúp chúng ta tránh được tình trạng đáng buồn ấy? Câu trả lời là Thánh Linh. Trước khi trở về Nazareth, Chúa Giêsu đã được tràn đầy Thần Khí ở bờ sông Giođan lúc chịu phép rửa Gioan. Cũng Thần Khí ấy dẫn Ngài vào sa mạc để chịu thử luyện và đã giúp Ngài thắng các cơn cám dỗ. Cũng Thánh Thần thúc đẩy Ngài hoàn thành sứ vụ. Và Luca còn tiếp tục kể ra ảnh hưởng mạnh mẽ của Thần Khí trong Công vụ tông đồ. Vậy Thánh Thần sẽ là sức mạnh của chúng ta trong việc trung thành với giao ước: “Chúa là sức mạnh tôi, tôi còn sợ chi ai? Chúa là thành trì che chở tôi, tôi khiếp gì ai nữa?” Có điều là chúng ta phải ngoan ngoãn để Thánh Thần dẫn dắt. Mê theo dục vọng, chịu sự lôi kéo của thế gian, chúng ta sẽ nhanh chóng rơi vào phản bội và đổ vỡ. Trong hội đường, người ta đưa sách thánh cho Chúa Giêsu. Mở ra Ngài gặp ngay lời tiên tri Isaia: “Thánh Thần Chúa ngụ trên tôi, Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó…” Lời đó nói lên căn cước và sứ mệnh của Chúa. Phải chăng cũng là lời nói lên căn tính và sứ vụ của mỗi tín hữu, nhất là linh mục, tu sĩ? Tôi viết những dòng này trước khi tổng thống Hoa Kỳ, ông G.W.Bush đọc diễn văn trước khối đại đoàn kết quốc gia. Chúa Giêsu dùng hình ảnh của tiên tri Isaia để tiết lộ danh tánh và kế hoạch cho vương quốc của mình. Ngài cũng ám chỉ chúng ta đối với thế giới, nhất là trong tình hình hiện nay, đang cần đến bàn tay xây dựng của các tín hữu. Như Đức Thán Cha Bênêđictô XVI chỉ ra trong bài diễn văn đầu năm vừa qua. Xin lắng nghe và góp phần công sức của mình. Chẳng vậy, tiếng nói của Đức Thánh Cha vô ích mà thôi. Tôi hy vọng bài diễn văn của tổng thống hoa kỳ hoạch định chính sách đứng đắn cho quốc gia và thế giới. Tức đẩy xa chiến tranh, tẩy trừ nghèo khó, áp bức , bóc lột, bạo lực! Ong sẽ lèo lái chúng ta ra khỏi cá nhân chủ nghĩa đầy ích kỷ và đoàn kết toàn dân xây dựng hoà bình công lý. Đó là hy vọng sâu thẳm nhất của các công dân thiện tâm, dù là Cộng hoà, Dân chủ hay không đảng phái nào. Thần khí đã ban quyền năng cho Đức Kitô để Ngài mặc xương thịt cho lời tiên báo của Isaia. Điều mà vị ngôn sứ đoan hứa cho dân tộc Dothái thì nay được ứng nghiệm nơi ông thợ mộc làng Nazareth, mà toàn thể nhân loại được hưởng nhờ. Thần khí ấy cũng ban khả năng và hướng dẫn chúng ta, khiến chúng ta thực tại hoá những điều Chúa Giêsu loan báo hôm nay: kẻ trần truồng được ăn mặc, kẻ đói khát được no nê, tù đày được thả, mù loà xem thấy, què đi được, điếc nghe được, bệnh tật được lành và nghèo khó được nghe Tin Mừng. Chúng ta không chỉ đơn giản chào hỏi nhau “good morning” mà còn làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Chúa Giêsu không nói về những chuyện xa xôi. Những chuyện xảy ra trong tương lai hay ở đời sau, nhưng ngay lúc này ở Nazareth. Thánh Luca nhiều lần nhắc đến từ “lúc này” khi nói về ứng nghiệm của tiên tri Isaia. Hôm nay Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài, ban cho họ được tự do… Sau cùng Chúa Giêsu trả sách cho người giúp việc rồi ngồi xuống giảng dạy một bài: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.” Nếu không có chi khác thì bài giảng của Chúa ngắn nhất mà những người rao giảng Phúc Âm từ xưa đến nay từng nói. Nhưng hiệu quả của nó sâu đậm vô bờ. Xin quý vị mở Phúc Âm đọc tiếp. Tóm lại, bài Phúc Âm chúa nhật này cống hiến cho chúng ta sự hiện diện sung mãn của Thiên Chúa trong ngôn ngữ Đức Kitô. Ngài nói Chúa ban tự do cho chúng ta và điều ấy là sự thật, tự do thân xác, linh hồn và tinh thần. Chẳng thế lực nào áp bức chúng ta được nữa. Nhân loại được hưởng ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Anh sáng của Lời Chúa xua tan bóng đêm tội lỗi. Chúng ta tiếp tục được tự do. Nhưng còn nhiều linh hồn khác đang ngồi trong bóng tối sự dữ. Vậy điều chúng ta kinh nghiệm lúc này hãy chia sẻ với kẻ khác: Công bố năm hồng ân của Thiên Chúa. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP (Vĩnh Quang, OP
chuyển ngữ )
Xin Cho
Đôi Tai Biết Mở Ra
Trước Những Điều Thiên Chúa Đang Nói Với Chúng Ta
Lc 1: 1-4, 4: 14-21
Nếu anh chị em nghĩ “việc đi đạo” chỉ toàn là chuyện “phải làm những
chuyện này, phải tránh những chuyện nọ”, chỉ toàn là việc tuân thủ nghiêm
ngặt những phép tắc, những quy luật mà Thiên Chúa thiết định và cả chuyện
luận phạt dành cho những kẻ lỗi phạm, thì anh chị em hãy dành chút thời gian
để suy gẫm bài đọc 1 trích từ sách Nơ-khe-mi-a hôm nay. Đây là một câu
chuyện tuyệt hay và cảm động về việc công bố Lời Chúa theo nghi thức phụng
vụ và việc đáp trả của dân chúng đối với những gì họ được nghe. Có lẽ, chúng
ta cần xác định thoáng qua bối cảnh của nó.
Sau
thảm cảnh lưu đầy Ba-by-lon, tư tế kiêm kinh sư Ét-ra và tổng đốc
Nơ-khe-mi-a tập hợp dân chúng ở cửa Nước tại thành Giê-ru-sa-lem. Hai ông đã
huy động dân chúng ra sức tái thiết quốc gia, một quốc gia không chỉ là một
thực thể chính trị, nhưng còn là một cộng đồng đức tin. Vì thế, việc cùng
nhau đọc Torah (Sách Luật) cũng đồng nghĩa với việc đón nhận ý định Thiên
Chúa mạc khải.
Nhằm tránh những hiểm họa, đất nước họ đã từng thiết lập những liên minh
chính trị tệ hại. Chiến lược nhắm đến chuyện tồn vong của họ đã thất bại,
bởi lẽ họ đã tự thân hành động và không nương tựa vào Thiên Chúa. Và thế là
người Ba-by-lon đã tàn phá đất nước và đưa những thành phần dân cư ưu tuyển
đi đày: họ là những nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo, những nhà giáo dục,
những người trẻ và các thợ lành nghề… Giờ đây, khi được trả về quê
hương mình, họ phải tiến hành một cuộc tái thiết. Dưới sự lãnh đạo của
Nơ-khe-mi-a và Ét-ra, họ được hướng dẫn để thiết tha quay về với Lời Chúa.
Việc lắng nghe Lời Chúa sẽ là khởi nguồn để cải đổi, là cách thức để cộng
đồng tiến sang một đời sống mới.
Nhờ việc lắng nghe Lời
Chúa, dân chúng xưng thú tội lỗi của họ và tái kết bản thân họ với Thiên
Chúa nơi giao ước của họ với Người. Trong đoạn trích sách Nơ-khê-mi-a, kinh
sư Ét-ra đã đọc và giải thích Lời Chúa, “… trước mặt đàn ông, đàn bà và tất
cả các trẻ em đã tới tuổi khôn… và toàn dân lắng tai nghe sách Luật.” Sau
khi Ét-ra đã đọc và giải thích cho họ những điều trong sách Luật, dân chúng
đáp lại “Amen, amen”, họ tán thành lời họ đã nghe và sẽ cố gắng sống theo
lời ấy. Một số người đã mô tả sự kiện này là buổi cử hành Phụng vụ Lời Chúa
tiên khởi. Thế rồi sau này, khi Đền Thờ đã bị phá hủy và dân chúng đã phân
tán, họ lại gặp gỡ nhau tại các hội đường của họ để tiếp tục lắng nghe Lời
Chúa và họ cũng có một người được chọn ra để lãnh trọng trách giảng giải Lời
Chúa cho họ. (Đấy cũng chính là công việc mà Đức Giêsu thực hiện trong bài
Tin Mừng hôm nay: Người đã được chọn để công bố và giải thích Sách Thánh.)
Hôm nay, chúng ta cầu xin cho đôi tai biết mở ra trước những điều Thiên Chúa
đang nói với chúng ta và cầu xin ơn đổi mới của Thánh Thần hầu giúp chúng ta
sẵn lòng hưởng ứng Lời Chúa mà chúng lắng nghe.
Trong đoạn Tin Mừng
Luca hôm nay, Đức Giêsu mới chỉ bắt đầu sứ vụ của Người. Trong ngày lễ Chúa
chịu phép rửa, chúng ta nghe đọc rằng, Đức Giêsu được xức bằng Thánh Thần (Lc
3,15-16; 21-22). Hôm nay với lời chú giải về sách Isaia, Đức Giêsu nhận
Người là Đấng được xức bởi Thánh Thần để đem “tin mừng cho kẻ nghèo hèn.”
Đức Giêsu loan báo chủ đích của sứ vụ mà Người thực hiện: Người sẽ công bố
tự do cho kẻ bị áp bức. Trong khi chúng ta có thể “thiêng liêng hóa” cái
nghèo được nói đến trong đoạn Tin Mừng này, thì rõ ràng là trong lời công bố
của Đức Giêsu, Người đang chạm tới những người đang gặp cảnh hoạn nạn: họ là
những người bị tước đi những quyền cơ bản của cuộc sống, là những kẻ tù đày,
những người mù lòa (trong bóng tối của trại giam) và những người bị áp bức.
Trích sách Isaia,
Đức Giêsu công bố một “năm hồng ân” (“một năm được Đức Chúa thương nhận”).
Dân lắng nghe lời ấy hẳn cũng biết điều Người công bố chính là năm Toàn xá (Lv
25,13), tức là cứ mỗi năm mươi năm, các nợ nần sẽ được xóa bỏ, nô lệ được
tha bổng, đất đai được trả về với chủ cũ và dân chúng được trao cho cơ hội
để bắt đầu lại. Chúng ta không biết việc thực hành năm toàn xá có còn được
người Ít-ra-en lưu truyền hay không. Tuy nhiên, Đức Giêsu công bố rằng, hôm
nay, tự do của năm toàn xá sẽ trở thành hiện thực nhờ những lời nói và những
việc Người làm. “Hôm nay” không phải là một thời khắc nào đó thuộc tương lai,
bởi lẽ lời hứa của Thiên Chúa đã trở thành xác phàm nơi Đức Giêsu và Triều
đại Thiên Chúa đã hiện diện.
Anh chị em có thể cảm
nhận được bầu khí dồn nén trong hội đường liền sau những lời nói của Đức
Giêsu. “… trăm con mắt đều đổ dồn về phía Người.” Điều gì đã tập trung sự
chú ý của họ? Sử dụng những lời Isaia, Đức Giêsu đã quả quyết Người được xức
bởi Thánh Thần. Các Vua Chúa được xức dầu tấn phong; trong khi Đức Giêsu
được xức trực tiếp bằng Thánh Thần. Người đang khẳng định phận vụ của Đấng
Mê-si-a; Đấng công bố Vương Quyền của Thiên Chúa trị đến. Đấy là việc công
bố một năm toàn xá, là tin mừng khi mọi nợ nần được xóa bỏ, mọi lỗi lầm dĩ
vãng được bỏ qua. Đấng được xức bằng Thánh Thần có khả năng làm cho chúng ta
sống trong mối giao hảo với Thiên Chúa và với anh chị em khác.
Không lâu sau đoạn
Tin Mừng này, Đức Giêsu sẽ kêu gọi các môn đệ đầu tiên (5,1tt) để giúp Người
trong sứ mạng “thu phục người ta.” Nhiệm vụ ấy cũng được ủy nhiệm cho chúng
ta là những người cũng đã lãnh nhận cùng một Thần Khí như Đức Giêsu. Trước
nhất, những tội riêng của chúng ta được tha thứ và chúng ta được tự do. Sau
đó, để đền đáp những gì chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta phải lên đường công
bố năm toàn xá bằng chính cuộc sống của chúng ta, với lòng khoan dung chúng
ta trả tự do cho những kẻ bị giam cầm và nâng dậy những người hèn mọn. Chúng
ta không biết người xưa có thực sự cử hành năm thánh hay không, tuy nhiên,
qua Đức Ki-tô, Năm Thánh đã được Người công bố cho chúng ta, thế nên chúng
ta là một dân được xá tội. Và ấy cũng là thái độ sống của chúng ta. Giờ đây,
những gì chúng ta làm cũng chính là việc làm công chính của Người, tức là
việc công bố “tin mừng cho kẻ nghèo hèn” bằng lời nói và hành động. Nghĩa là
chúng ta sẽ hưởng ứng sứ điệp ấy bất cứ lúc nào chúng ta gặp một người đang
trong cảnh cùng quẫn, đang bị áp bức, loại trừ hay một cách nào đó đang bị
làm cho mất phẩm giá con người. Chúng ta hãy rảo mắt để quan sát bằng đôi
mắt mà Thánh Thần đã ban cho chúng ta; hãy lắng nghe với đôi tai được xức
bởi Thánh Thần; đưa mắt nhìn và hãy lắng nghe những nhu cầu khẩn thiết của
mọi người và hãy đáp trả bằng sức lực được Thánh Thần thừa ủy.
Đức Giêsu bày tỏ cho
những thính giả của Người: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị
vừa nghe.” Trải suốt Tin Mừng Luca, từ “Hôm nay” xuất hiện tại những đoạn
then chốt. Trong ngày Lễ Giáng Sinh, chúng ta đã nghe các thiên thần loan
báo, “Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra” (2,11). Khi Đức Giêsu gặp Da-kêu,
Người nói với ông, “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (19,9). Người bảo
đảm với người trộm bị đóng đinh bên cạnh Người, “hôm nay, anh sẽ được ở với
tôi trên Thiên Đàng” (23,43). Ý nghĩa của từ “Hôm nay” mà Đức Giêsu công bố
không chỉ là “ngày hôm nay” vào lúc Người tại thế, mà còn là “ngày hôm nay”
của chúng ta nữa. Thánh Luca đang nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta không
phải chờ đợi một thời khắc và nơi chốn tương lai nào đó, vì lẽ Thiên Chúa
đến để giải thoát chúng ta ngay trong “Hôm nay” đây.
Chúng ta thường hay
có khuynh hướng chần chừ, lần lữa với những cuộc biến đổi mà chúng ta cần
phải thực hiện trong cuộc đời của chúng ta. Thế nhưng, những gì mà chúng ta
trì hoãn đến ngày mai thì Thiên Chúa có thể giúp chúng ta thực hiện ngay hôm
nay. Thiên Chúa không truyền cho chúng ta phải dùng thời giờ của mình để làm
cho mọi sự thuộc thế gian này trở nên hoàn thiện. Tuy nhiên ngày hôm này
phải là ngày của hành động. Vì ngày hôm nay chúng ta cũng đã được xức dầu để
công bố tự do cho những kẻ bị giam cầm, để cho người mù biết họ được sáng
mắt và để trả lại tự do cho người bị áp bức. Hôm nay, chúng ta đã được Đức
Giêsu sai đi để thi hành điều chính trực trên muôn vạn nẻo đường.
Lm Đỗ Lực op
Trái Tim Không Ngủ Yên (Lc 1:1-4; 4:14-21) Ông Lý Quang Diệu, Bộ trưởng cố vấn Singapore,viếng thăm Việt nam từ ngày 16 đến 20 tháng 01 năm 2007.Ông nói : "Việt Nam đang tiến với tốc độ tốt và đang đuổi kịp thời gian bị mất." Việt nam mất gì trong “thời gian bị mất” ? Thời gian đã mất có lấy lại được không ? Lấy lại bằng cách nào ? Phải chăng chỉ kinh tế và chính trị mới có thể giúp lấy lại thời gian đã mất ? Vấn đề không đơn giản như thế ! Khi mời ông Lý Quang Diệu thăm Việt Nam, người ta chỉ mong nghe những diệu kế hay phép mầu kinh tế cho Việt nam. Có ai ngờ trong khi xây dựng một Singapore phú cường, người dân của ông vẫn không mất tự do và quyền làm người ? “Trái tim Singapore,” tức con người, chứ không phải kỹ thuật, đóng vai trò quyết định Singapore có một vị thế không nhỏ trên thế giới. [1] Nếu xã hội chỉ là một nhà máy khổng lồ, vấn đề có thể đơn giản. Nhưng vì xã hội là tổ hợp những con người, nên không thể coi thường sức mạnh tinh thần. Nhưng nếu chỉ nghĩ đến phần thiêng liêng mà thôi, giải pháp cũng không toàn diện. Chúa Giêsu đến trần gian không nhằm cứu các linh hồn, nhưng cứu toàn thể con người. Ðó là sứ mệnh rất cao cả, nhưng cũng rất thực tế. Sứ mệnh đó vẫn được tiếp nối trong Giáo hội hôm nay. Vậy Giáo hội có thể giúp Việt nam “đuổi kịp thời gian bị mất” không ? Chúa Giêsu đã vạch ra một phương hướng giúp chúng ta có thể “đuổi kịp thời gian bị mất.” Những năm tháng qua đã để lại một xã hội và giáo hội “rách nát” ! Những năm tháng đó đã tạo nên những “người Việt nam xấu xí.” Thời gian đó không đáng gọi là năm tháng hồng ân. Bởi thế, cần có một sứ giả đến “công bố năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4:19) Sứ giả đó chính là Ðức Giêsu, đến từ Thiên Chúa. Ðể có thể can đảm “công bố năm hồng ân của Chúa,” Người đã được Thần Khí hướng dẫn. Người là vị Thiên Sai thực sự, vì đã được “Chúa xức dầu tấn phong.”(Lc 4:18) Ðó là tất cả sức mạnh và tước vị Người có khi xuất hiện giữa muôn dân. Không có sức mạnh Thần Khí, Người không thể “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.”(Lc 4:18) Những “kẻ nghèo hèn,” đối tượng số một của Tin Mừng, tràn ngập xã hội Việt nam. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng những nước nghèo nhất thế giới, cả về kinh tế lẫn nhân quyền, dù năm ngoái đã đạt mức tăng trưởng kinh tế 8%, chỉ đứng sau Trung Quốc trong khu vực Đông Á. Nghèo hèn cả về vật chất lẫn tinh thần, con người sẽ không còn điều kiện làm người nữa. Ðó là lý do tại sao Ðức Giêsu rao giảng Tin Mừng để phục hồi phẩm giá con người. Hạt giống Tin Mừng đã gieo. Mùa màng trổ sinh tươi tốt khắp nơi trên thế giới. Còn Việt nam thì sao ? Những ai đang gieo hạt giống Tin Mừng tại Việt nam ? Nhìn lại số lượng và phẩm chất nhân sự của Giáo Hội Việt nam hôm nay, chúng ta có thể hiểu phần nào lý do tại sao hạt giống Tin Mừng chưa trổ sinh mùa màng tươi tốt trên mảnh đất chữ S thân yêu. Nhân sự là một vấn đề vô cùng quan trọng. Chính vì thế, khi quan sát xã hội Việt nam, ông Lý Quang Diệu nhận xét : “… ngoài vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng … cần có một cơ sở quan trọng hàng đầu : đào tạo nguồn nhân lực.”[2] Chẳng lẽ Việt nam không có những trung tâm huấn nghệ, học đường, đại học để làm công việc quan trọng đó ? Kinh nghiệm từ Singapore, ông cho thấy cần phải nhấn mạnh đến phẩm chất của nguồn nhân lực đó. Không phải chỉ cung cấp một mớ kiến thức chuyên môn đáp ứng cho những cơ chế vô hồn, nhưng cần có “những con người tự trọng, mẫn cảm và có ý thức.”
[3] Giáo Hội Việt nam cũng đang thiếu những con người như thế ! Mặc dù có nhiều chủng viện và học viện, GHVN vẫn thiếu một cách trầm trọng những người lãnh đạo thực sự. GHVN không thiếu nhân tài, nhưng thiếu tầm nhìn và kiến thức quản trị. Thiếu những nhà lãnh đạo biết đón nhận, lắng nghe những tiếng nói khác với mình. Nếu loại trừ hay không tạo điều kiện cho những tiếng nói khác góp phần vào xây dựng công cuộc chung, e rằng giới lãnh đạo cách nào đó không tin Giáo hội là thân thể Ðức Kitô với nhiều bộ phận và chức năng khác nhau do Thiên Chúa an bài trong Thần Khí (x. 1 Cr 12:12-30). Có những người anh em không được đón nhận và chia sẻ sứ vụ. Như thế, phải chăng họ chỉ bị khinh thường và bất tín nhiệm ? Không đâu ! Cả sứ mệnh và Ðấng trao sứ mệnh cho họ cũng bị khinh thường nữa. Ðúng như Chúa nói : “Ai đón tiếp người Thày sai đến là đón tiếp Thày, và ai đón tiếp Thày là đón tiếp Ðấng đã sai Thày.”(Ga 13,20) Khi nói thế, không phải Chúa chỉ nhằm đến đối tượng dân ngoại, nhưng cả những người đang nắm quyền trong Giáo hội nữa. Một cuộc cải tổ sâu rộng nền giáo dục chủng viện vô cùng khẩn thiết ở Việt nam. Qua bao đời, nền giáo dục đó hầu như chỉ chú trọng cung cấp kiến thức thần học hay triết học cho người thụ huấn. Khi còn ngồi trong chủng viện, con người chỉ lo phát triển tài năng và tập những nhân đức cá nhân để vinh thăng trên đường “hoạn lộ,” (“quan triều”!) chứ ít khi chú ý tới tinh thần trách nhiệm, hợp tác, cộng đồng. Kết quả khi ra đời, họ không có khả năng làm việc tập thể và sống cộng đoàn. Nhiều người chỉ tìm danh vọng cá nhân hay quyền lợi phe nhóm. Tham quyền cố vị tới chết cũng chưa chịu về hưu hay đổi xứ ! Cá nhân to hơn Nước Chúa. Làm sao kiếm được tinh thần từ bỏ và khiêm tốn nơi những con người như thế ? Thế mới hay GHVN thiếu những thợ gặt lành nghề. Vẫn không đủ những người có khả năng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo hèn và bị áp bức. Thời nào cũng thế, GHVN đầy dẫy những con người đồng lõa với bọn giàu sang và thế lực trong các cơ chế đàn áp. Những người bị áp bức hầu như nằm ngoài sự quan tâm của Giáo hội. Chỉ có những người nghèo mới là đối tượng của Tin Mừng hay sao ? Người nghèo chỉ là một trong những thành phần bị cơ chế bất công đàn áp. Những hoạt động bác ái và y tế xã hội chỉ xoa dịu phần nào nỗi đau khổ của những người nghèo hèn. Còn những người bị giam cầm trong các trại tù cải tạo, những người bị áp bức đến mất tự do ngoài xã hội và những người dân đang bị hạn chế tự do liên lạc, hội họp, di chuyển … đến nỗi trở thành mù điếc những thông tin cần thiết và đói khát nhân quyền thì sao ? Họ chiếm chỗ nào trong mối quan tâm của GHVN ? Những đối tượng Tin Mừng, như ngôn sứ Isaia loan báo, đều là những nạn nhân của đủ thứ đàn áp bất công. Nếu không quan tâm và tranh đấu cho quyền làm người, GHVN sẽ đem Tin Mừng qua nẻo đường nào cho dân tộc ? Dù có cả bề dầy lịch sử gần 500 năm, GHVN vẫn thiếu những ngôn sứ quả cảm như Ðức Giêsu. Có một lỗ trống khổng lồ trong đức tin của GHVN hôm nay. Chưa ai có thể lấp nổi ! Mặc dù có khối lượng nhân sự khổng lồ, GHVN có lẽ còn thiếu xác tín vào sức mạnh Tin Mừng. Có lẽ đức tin chúng ta chưa bằng hạt cải, nên chưa thể bứng cây đa cổ thụ hay trái núi bất công ra khỏi lòng dân tộc. Trái núi càng cao càng cản bước tiến Tin Mừng. Nếu có đức tin bằng hạt cải, GHVN đã dũng cảm như anh em Công Giáo Nam Hàn. Trước cảnh đàn áp bất công ngoài xã hội, Giáo hội Nam Hàn đã tranh đấu đòi quyền lợi cho công nhân. Nhờ đó, Tin Mừng đã tìm được con đường đi đến với dân tộc. Các giám mục và linh mục đã không ngồi yên hay thỏa mãn với những công trình xây nhà thờ, phòng phát thuốc, hay công việc mục vụ trong khuôn viên nhà thờ và giáo xứ. Cùng giáo dân, họ đã xắn tay áo xuống đường tranh đấu và vô tù vì tương lai xã hội và Giáo hội. Ðó là con đường Thần Khí dẫn Giáo hội Nam Hàn theo Ðức Kitô. Dân tộc chúng ta không thua kém bất cứ ai trong vùng Á châu. Chính ông Lý Quang Diệu phải công nhận : “Tài năng của người Việt Nam trong việc sử dụng và cải tiến các khí tài của Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh và tài năng của người Việt hiện sống ở Mỹ và Pháp nhắc nhở chúng ta về những phẩm chất tuyệt vời của dân tộc này.”[4] Phẩm chất tuyệt vời cũng chẳng là gì, nếu chỉ để phục vụ quyền lợi riêng tư hay phe nhóm. Tất cả đều vô ích nếu không có tinh thần chia sẻ và cộng tác với nhau. Có lẽ ông muốn nói về trí thông minh và khả năng kỹ thuật của người Việt nam, chứ chưa nói đến những phẩm chất đích thực và cần thiết cho việc phát triển của dân tộc, như tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, tự trọng, đoàn kết, cởi mở v.v. Nếu thiếu khiêm tốn và cởi mở, chúng ta không thể vượt qua những thử thách thời đại và loan báo Tin Mừng hữu hiệu. Nếu chỉ lo cho cá nhân và phe nhóm, không bao giờ có thể can đảm dấn thân theo Ðức Kitô. Ai cũng nói đến hy sinh, từ bỏ. Nhưng thực tế mấy ai dám vượt qua cái tôi ? Nếu có đức tin bằng hạt cải, chúng ta sẽ can đảm lãnh nhận sứ mệnh giải thoát như Ðức Kitô. Sứ mệnh đó quyết định tương lai toàn thể Giáo hội. Trước khi bước vào cuộc đời công khai, Ðức Kitô đã được “quyền năng Thần Khí thúc đẩy.” (Lc 4:14) Còn chúng ta đang được Thần Khí nào hướng dẫn ? Nếu được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, chắc chắn chúng ta đã biết quên mình thực sự để dấn thân hoàn toàn cho sứ mệnh “trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4:18) như Ðức Kitô. “trả lại tự do” là sứ mệnh “thâu tóm rõ nhất sự nghiệp của Chúa Giêsu.”[5] Nếu Chúa không chết cho sứ mệnh cao cả đó, chắc chắn chúng ta không dám bàn đến vấn đề gai góc này. Chẳng lẽ Giáo hội có sứ mệnh nào khác với Chúa ? Nuôi sống hay chữa bệnh cho người nghèo không phải dễ. Nhưng so với sứ mệnh “trả lại tự do cho người bị áp bức,” việc bác ái đó tương đối nhẹ nhàng hơn. Phải chăng GHVN chọn phần dễ nhất trong sứ mệnh để ru ngủ chính mình ? Sứ mệnh “trả lại tự do” gay cấn nhất, vì đòi hy sinh chính mạng sống mình, chứ không phải của cải hay thời giờ mà thôi. “Trả lại tự do” có nghĩa là trả lại quyền làm người cho con người. Con người chỉ thực sự làm người khi có tự do. Mất tự do là mất bản chất con người. “Thời gian bị mất” có nghĩa là thời gian con người mất quyền làm người. Quyền làm người bị mất ở đâu, nếu không phải trong các nhà tù và những nơi con người biến thành những bộ máy sản xuất ? Chỉ vì quyền con người, Chúa Giêsu đã được sai đến thi hành sứ mệnh duy nhất là “trả tự do cho những người bị áp bức” (Lc 4:18) Muốn theo Chúa Kitô, Giáo Hội phải tiếp tục sứ mệnh đó. GHVN đang nắm trong tay một cơ hội bằng vàng để thực thi sứ mệnh cao cả cho hạt giống Tin Mừng trổ sinh. Khi nói đến sứ mệnh “trả lại tự do” và quyền làm người cho dân tộc, tôi không có ý hô hào tranh đấu bạo động. Những khẩu hiệu “chống cộng” hay “đánh Mỹ cứu nước” là những phương tiện lỗi thời. Những khẩu hiệu đó chỉ có giá trị trong “thời gian bị mất." Ngày nay, không còn người trẻ nào hiểu ý nghĩa các khẩu hiệu đó nữa. Một trang sử đã lật qua. Không thể dùng những phương tiện lỗi thời. Nhưng mục đích không bao giờ thay đổi. Nhân quyền và tự do vẫn là những giá trị ngàn đời. Tuổi trẻ hôm nay cảm phục những ai đang làm mọi cách cho dân tộc tìm lại những giá trị cao cả đó hầu đuổi kịp trào lưu thế giới. Vận hội đã tới ! Vậy làm cách nào để “trả lại tự do” cho dân tộc ? Dĩ nhiên, chính trị, kinh tế, quân sự không phải là phương tiện tranh đấu của Giáo hội. Phương tiện duy nhất của Giáo hội chính là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Tin Mừng là “sự thật giải thoát.” (Ga 8:32) Sự thật vẫn còn bị che dấu và bưng bít ở Việt nam. Ðó là lý do tại sao dân tộc chưa có tự do. Làm sao người dân có thể làm người tự do khi nền “văn hóa nói dối” đang hoành hành từ Bắc chí Nam, từ trong đạo ra ngoài đời ? Con đẻ của “văn hóa nói dối” là cơ chế bất công đang nghiền nát con người. Vắng bóng công lý, con người chỉ còn cúi đầu vâng theo chế độ “xin cho.” Con người trở thành chúa tể thống trị con người. Cuộc đời chỉ còn là kiếp trâu ngựa lầm than. Con người mất quyền làm người. Quyền làm người biến thành một thứ ân huệ. Chính vì để cho con người được làm người, Chúa đã chết không bằng một con người. Người đã chết một cách bất công để công lý ngự trị trên trái đất. Noi gương Ðức Kitô, giáo dân xứ Phường Tây, Huế hiện nay đang đứng lên tranh đấu đòi lại ngôi trường của giáo xứ. Ðoàn kết với dân Chúa, ngày 9-1-2007 vừa qua, Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể mạnh mẽ tuyên bố: "Toàn thể Giáo phận Huế sẽ đứng đàng sau linh mục quản xứ và giáo dân Phường Tây!" [6] Tinh thần Nguyễn Kim Ðiền vẫn sống mạnh trong lòng giáo dân Huế ! Rất may dân tộc Việt nam còn có những con người dũng cảm tranh đấu cho công lý như vậy ! Nhìn từ Nam ra Bắc, có lẽ chúng ta phải khâm phục truyền thống kiên cường và anh hùng của Giáo Phận Huế ! Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã cho chúng con tiếp nối sứ mệnh cao cả của Con Chúa nơi trần gian. Con biết trái tim Chúa không ngủ yên cho tới khi nào dân tộc chúng con được “trả lại tự do.” Xin Chúa cho GHVN can đảm rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo hèn và đứng lên đòi “trả lại tự do cho những người bị áp bức” trong xã hội và giáo hội hôm nay. Amen.
Lm.
Jude Siciliano, OP. (Anh em học viện Đaminh chuyển ngữ)
Loan báo Tin mừng cho người nghèo khó
Nkm
8,2-4a.5-6.8-10; 1Cr 12,12-30; Lc 1,1-4; 4,14-21
Kính thưa quý vị,
Bài Tin mừng hôm nay là hai phần riêng
biệt thuộc hai chương khác nhau. Phần trước là đoạn mở đầu của Tin mừng.
Trong phần này thánh Luca giống như thầy ký lục Étra, trong bài đọc I.
Dân Israel vừa trở về từ sau cuộc lưu đày
và còn nhiều việc phải làm để tái thiết đất nước. Thủ lãnh Nơkhêmia sẽ
phải sắp xếp xây dựng lại thành Giêrusalem, đảm bảo thành sẽ đủ vững
chắc và an toàn để khỏi bị tấn công. Nhưng chỉ nhiêu đó thì không đủ để
tái cung hiến thành và dân cho Thiên Chúa. Đó là nhiệm vụ của Étra. Ông
sẽ kêu gọi dân quay trở lại với Thiên Chúa và tuân giữ Lề Luật.
Nhưng tại sao dân lại khóc lóc đau buồn
khi nghe Étra đọc sách Luật? Có thể khi nghe Lời ấy họ nhận ra những lỗi
lầm trước đây của họ. Hay, có thể trước đây họ đã không hiểu Lời này và
giờ đây khi họ có thể nghe được những tính chất trao ban sự sống của lời
ấy nên đã xúc động đến phát khóc. Nếu chúng ta cũng có được thái độ khát
khao Lời Chúa như họ và khi nghe, có thể những lời ấy cũng sẽ khiến
chúng ta thổn thức vì hối hận và cảm kích trước những gì Thiên Chúa ban
cho chúng ta.
Lời thách thức chúng ta trong bài đọc thứ
I trích sách Nơkhemia là việc Étra đã công bố Lời Chúa long trọng như
thế nào và thái độ thành kính của dân khi nghe những lời ấy ra sao. “Họ
sấp mặt sát đất mà thờ lạy Đức Chúa”. Trong khi, đó không phải là thái
độ của chúng ta khi nghe Lời Chúa trong phụng vụ, vì thế, đấy là lời
nhắc chúng ta phải chú ý hơn và thành kính hơn với Lời Chúa khi chúng ta
nghe.
Cũng có hướng dẫn dành cho những người
công bố các bài đọc, vì Étra “đọc cách rõ ràng sách Luật của Chúa….” Tôi
đã từng được nghe những tác viên chu đáo công bố Lời Chúa cách thành
kính hết sức với những giảng giải thiết thực. Họ nói cho chúng ta về
tình yêu của họ đối với Lời và họ đã “mở tai chúng ta” để nghe sứ điệp
của Sách thánh dành cho ta. Dường như các thừa tác viên này có thể khơi
lên trong lòng thính giả một tình yêu và sự hiếu kỳ đến độ họ sẽ tự mình
tìm đọc Sách Thánh – và điều đó sẽ dẫn đến chỗ nghiên cứu và cầu nguyện
sâu xa hơn. (Gần đây tôi có giảng tại một giáo xứ và người đọc bài đọc
thứ I có vẻ thiếu chuẩn bị nên đọc vội vã bài đọc. Thiếu điều tôi chỉ
muốn đứng bật dậy và la to “Đọc chậm lại!”. Tôi không làm thế, nhưng quý
vị có bao giờ có cảm giác ấy chưa?)
Và quý vị có để ý thấy cũng có một thách
đố dành cho các nhà giảng thuyết không? Étra không chỉ “đọc sách Luật
của Đức Chúa”, ông còn “[giải thích] nó để tất cả có thể hiểu những điều
đã được đọc lên”. Đó chính là một gợi ý cho những người giảng thuyết –
giải thích Lời Chúa nhờ đó những người khác có thể hiểu và áp dụng Lời
Chúa trong cuộc sống mình.
Thánh Luca cũng trong cùng một truyền
thống với Étra và tất cả những ai chuyển trao Lời với trọn vẹn sự cẩn
trọng và tôn kính. Trong những dòng đầu của Tin mừng của mình, ngài nói:
“Thưa ngài Thêôphiô đáng kính!” (Thêôphilô nghĩa là “bạn hữu của Thiên
Chúa” – do đó ngài nói với mỗi người chúng ta) rằng ngài đã “đã ra công
soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta”.
Ngài lấy nguồn từ: “các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục
vụ lời Chúa”. Giống như Étra, Luca cũng là một nhà giảng thuyết tài năng:
ngài đã “biên soạn” tài liệu của mình từ kinh nghiệm thực tế; cẩn thận
“tra cứu” mọi sự và trình bày “cách tuần tự”. Mục đích là gì? Để “bạn
hữu của Thiên Chúa” có thể tái khẳng định niềm tin mà họ đã lãnh nhận.
Étra và Luca với những lời của mình đã làm nên một cuộc hội thảo cho
thừa tác viên đọc sách thánh và một khóa giảng thuyết ngày nay.
Rồi sau đó bài Tin mừng nhảy qua chương
thứ tư nói đến việc Đức Giêsu trở về quê hương Nazarét của Người. Khi
được trao quyển sách Isaia, Người công bố đoạn sách đã chọn. Không có
một bài đọc chỉ định cho từng ngày; Đức Giêsu đã cân nhắc chọn đoạn văn
dựa trên sự hướng dẫn của Thánh Thần. Một lần nữa, lại gợi lại hình ảnh
của Étra, có một thái độ trân trọng Lời Chúa. Khi Đức Giêsu đọc sách
ngôn sứ Người đã thu hút toàn bộ sự chú ý của thính giả, “ai nấy trong
hội đường đều chăm chú nhìn Người”.
Đoạn văn mà Đức Giêsu đọc trích từ sách
Isaia tỏ cho thấy cách Người chọn lựa để thi hành sứ vụ. Một trong những
chủ đề của Luca là vai trò của Thánh Thần trong đời sống và sứ vụ của
Đức Giêsu. Vì thế đoạn trích của Đức Giêsu bắt đầu bằng việc nói đến sự
hiện diện của Thánh Thần - Đấng “xức dầu” và sai Đức Giêsu đến với những
người thiếu thốn đang chờ mong sự cứu độ mà chỉ mình Thiên Chúa mới thực
hiện được. Lời Isaia đã hứa xưa, nay được Đức Giêsu hoàn tất.
Khi kết thúc đoạn sách Isaia, Đức Giêsu
thêm vào: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh thánh mà quý vị vừa nghe”. Từ
“hôm nay” không chỉ nói đến ngày hôm ấy trong hội đường, nhưng cũng là
“hôm nay” của chúng ta. Như lời viết trong thư Hipri (4,12) “Lời Thiên
Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên
thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình
cũng như tư tưởng của lòng người”.
Một số người lắng nghe Sách thánh và nghĩ
rằng đó là những hướng dẫn cho mẫu mực hành xử của họ. Nhưng đó chỉ là
một phần lý do, nhưng trước hết những gì chúng ta nghe thì thực sự đang
xảy ra giữa chúng ta: “Vì lời Thiên Chúa là lời sống động và hữu hiệu…”
Vì thế, hôm nay Đức Giêsu loan báo cho chúng ta biết mình được tự do
khỏi: tội lỗi, những thất bại của việc dấn thân chưa thích hợp và thiếu
chân thành; thiếu tin tưởng vào những ân sủng; nỗi sợ hãi Thiên Chúa;
những bức tường chia cắt chúng ta với những người khác,…
Chúng ta giống như những người trong hội
đường ngày xưa. Chúng ta mời Đức Giêsu bước vào để nói lời giải thoát.
Chúng ta cầu xin cho lời có khả năng mang lại ánh sáng của Người xâm
nhập vào trong sự khép kín của ta, nơi mà ta bám vào quá khứ và nỗi e sợ
về một sự dấn thân sâu hơn cho Người. Lời của Người xua tan đêm tối và
mang lại tự do. Chúng ta mời Đức Giêsu vào trong trung tâm của kinh
nghiệm đời mình và cho chúng ta thấy được Thánh Thần, Đấng sẵn sàng chữa
lành và giải thoát chúng ta, rồi sai chúng ta thi hành cũng một sứ vụ
như Đức Giêsu: “Loan báo Tin mừng cho người nghèo khó”.
Thánh Thần có thể làm gì cho chúng ta?
Thánh Phaolô đưa ra một gợi ý. Ngài dùng phép so sánh với cơ thể. “Chúng
ta đều được chịu phép rửa để trở nên một thân thể”. Vì thế, trong thân
thể của Đức Kitô, Thánh Thần có thể biến đổi sự liên hệ của chúng ta.
Lời của thánh Phaolô nói là một thách đố chúng ta nhận ra mình là ai
trong thân mình của Đức Kitô; rằng chúng ta liên kết với người khác như
những bộ phận của cùng một cơ thể. Theo thánh Phaolô, ơn gọi của chúng
ta là làm những gì trong khả năng để giữ toàn bộ cơ thể, quan tâm đến
tất cả mọi phần bị đau và và tôn vinh những phần đáng khen ngợi.
Đoàn dân hết sức thích thú khi Đức Giêsu
đọc một đoạn sách Isaia cho họ. Nhưng Luca thay từ “kêu gọi” (Is 61,2a)
bằng một động từ mang tính loan báo hơn “công bố”. Vì thế, Đức Giêsu
không chỉ hối thúc giải phóng kẻ bị giam cầm nhưng “công bố” – đó là,
tuyên bố rằng điều này đang hiện hữu và thực sự đang xảy ra. Thánh Thần
ngự xuống trên Đức Giêsu và làm chứng rằng lời của Người sẽ sinh hoa kết
trái và hoàn tất điều Người loan báo.
Mỗi người chúng ta lấy hình ảnh mà Đức
Giêsu khẳng định hôm nay và áp dụng vào chính mình. Trong phần nào của
cuộc sống tôi là người bị giam cầm? mù lòa? và bị áp bức?... Nhưng còn
những áp dụng theo nghĩa sát bản văn thì sao? Chẳng hạn, Đức Giêsu khẳng
định Người đến để “công bố sự tự do cho kẻ tù đày”. Tôi mới đi thăm một
người bạn đang trong tù và đã nói cho anh ấy biết những điều chúng ta đã
biết. Trước hết, rằng xã hội cần được bảo vệ khỏi bảo lực và những người
phạm pháp. Nhưng trong đất nước của chúng ta, chẳng phải hệ thống nhà tù
là dấu cho thấy chúng ta đã đi quá xa đó sao? Rằng nhà tù của chúng ta
mang tính trừng phạt duy nhất? Ví dụ: “ba lần ra tòa” khiến phạm nhân bị
nhót trọn đời; phạm nhân trẻ bị nhốt chung với những phạm nhân trưởng
thành và nguy hiểm; thiếu chương giáo dục, tư vấn và tái hội nhập cho tù
nhân? Và còn tiết gần đây về việc hủy hay giấu chứng cứ có thể giúp bị
cáo tránh án? Chúng ta cân nhắc việc này với hướng dẫn của Đức Giêsu để
giải thoát kẻ tù đày và kết bằng những lời của Đức Gioan Phaolô II nói
ngày 9 tháng 7 năm 2000: “Chúng ta còn lâu mới đạt tới thời điểm mà
lương tâm có thể chắc chắn về việc thực sự đã cố làm mọi cái có thể để
tránh tội phạm và kiểm soát nó cách hữu hiệu, hầu không bao giờ gây hại
và, cùng lúc, tạo điều kiện cho những kẻ phạm pháp một con đường tự cứu
mình cũng như thực hiện một cuộc trở lại với xã hội cách tích cực. Nếu
tất cả những ai liên quan đến vấn đề đều cố gắng…phát triển luồng suy tư
này, có thể nhân loại cùng với nhau có thể tiến một bước lớn đến việc
tạo nên một xã hội sáng sủa và hòa bình hơn”.
[1] x. vnexpress.net, 16/01/2007, trích lại từ báo Tuổi Trẻ. [5] Lời Chúa Cho Mọi Người 2005:290. [6] Tiếng Nói Giáo Dân.net ngày 10.01. 2007 |