Năm C

 
 

Chúa Nhật II Thường Niên - Năm C

Is 62:1-5 ; 1 Cr 12:4-11 ; Ga 2:1-11

Lm An Phong : Từ Góc Bàn Tiệc Thế Giới

Fr Jude Siciliano, op. : Thiên Chúa Kết Hôn Với Con Người

Lm Như Hạ op : Niềm Vui Trọn Vẹn

Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Phép Lạ Đầu Tiên

Lm Giuse Nguyễn Cao Luật op : Thiên Chúa Trong Tiệc Cưới

Giuse Nguyễn Phan Tài op : Hôn ước giữa Thiên Chúa và loài người

Fr. Jude Siciliano op : Nhận Ra Tình Yêu Hải Hà Của Chúa Trên Cuộc Đời Ta

Fr. Jude Siciliano, op : Ân sủng Thiên Chúa sẽ hoán cải chúng ta

Lm Đỗ Lực, op : Tình Nồng

Máthêu Đinh Thiên Trọng OP : Xin thánh hóa đời sống hôn nhân. 

Fr. Jude Siciliano, op: Niềm Vui Vỡ Òa

 

 
Lm An Phong

Từ Góc Bàn Tiệc Thế Giới
(Ga 2,1-11)

1. Trần gian, một bàn tiệc :

Nói rằng trần gian là một bàn tiệc chẳng biết có lạc quan quá không, trong khi mà 2/3 nhân loại vấn thiếu ăn, trong khi mà vẫn có bao nhiều người chết đói và bao nhiêu người khác đói cho đến chết; và trong khi mà còn có quá nhiều chiến tranh bạo lực, quá nhiều những người chưa có được đời sống xứng với nhân phẩm.

Tuy vậy, trần gian cũng có bao nét đẹp của nó, từ chiếc lá, bông hoa, nụ cười, tiếng nói, cho đến hình ảnh những cặp tình nhân vui đùa, những ông bố bà mẹ đợi con trước cổng trường... Do vậy, cũng có thể gọi trần gian là một tiệc cưới, xét vì trần gian cũng mang lại niềm vui cho con người; xét vì con người vẫn đang phải sống nhờ trần gian, sống trong trần gian, hút lấy "dưỡng chất trần gian" để sống.

Nhưng đây là một bàn tiệc khá lạ lùng, trong đó xum vầy đủ mọi hạng; một bàn tiệc nhưng có bao nhiêu mâm riêng, nhiều loại thức ăn, nhiều thứ rượu uống. Có mâm đầy những thịt thà thừa mứa, có mâm lại lỏng chỏng những cọng rau héo uá; có những thứ rượu "cách mạng", rượu "tự do", rượu "phát triển", "độc lập", "hữu nghị"...

2. Trần gian thiếu rượu

Bữa tiệc trần gian đang vui say thì thiếu rượu. Đó là hình ảnh con người luôn bị hụt hẫng trong niềm hy vọng và nỗ lực của mình, luôn cảm thấy chưa thỏa mãn với tất cả những nguồn hoan lạc trần gian. Trần gian có thể làm cho con người vui say, nhưng rồi nó "hết rượu"; và khi một người la lên : hết rượu rồi ! thì tất cả những niềm vui say của con người cũng lại trở thành hụt hẫng hoặc cay đắng. Trần gian vẫn rất đại lượng trong việc cung cấp dưỡng chất cho con người, nhưng sức lực của trần gian làm sao có thể nuôi được những "đứa con của thần thánh" như con người ? Nguồn mạch trần gian làm sao có thể làm no thỏa nỗi khát vọng tuyệt đối vẫn hằng âm ỉ trong con người ?

3. Chúa Giêsu đi vào bữa tiệc

Hình ảnh Chúa Giêsu và các môn đệ tham dự tiệc cưới ở đây, được thánh Gioan trình bày như là thái độ của Thiên Chúa với con người. Thiên Chúa đi vào trần gian không phải như một vị khách, không phải như kẻ xa lạ trong cuộc đời, nhưng như người dấn thân, tham dự, chia sẻ niềm vui, hưởng dùng dưỡng chất trần gian. Và khi trần gian "thiếu rượu", thì Chúa Giêsu lại xuất hiện như một vị lang quân mới, mang lại ý nghĩa và sinh lực mới cho trần gian.

Ở đây, mẹ Maria xuất hiện như một bà mẹ trần gian, bà mẹ nhạy cảm với những bệnh tật, thiếu thốn của con cái, bà mẹ xoay sở để tìm ra của nuôi cho đứa con khát sữa của mình, và bà Mẹ Giáo hội cũng phải bước theo chân Đức Maria để làm bà mẹ trần gian với đầy lòng thương yêu như thế.

Con cảm tạ Chúa

Vì Chúa đã cho con được dự tiệc trần gian;
con cảm tạ Chúa hơn nữa,
vì trong bàn tiệc trần gian, con được nếm cảm
một chút hương vị của bàn tiệc thiên quốc.

Xin cho con đừng bao giờ mê đắm,
say sưa trong bàn tiệc trần gian
và cũng không thất vọng vì bàn tiệc ấy, vì biết rằng
con còn được mời gọi đến bàn tiệc đầy tràn sung mãn hơn.


Fr Jude Siciliano, OP.

Thiên Chúa Kết Hôn Với Con Người
(Ga 2,1-11)

Thưa quý vị,

Chúng ta đang ở trong những ngày đầu năm. Nhiều người hạ những quyết tâm tốt lành, không phải chỉ về thân hình gầy ốm thêm, tập thể dục thường xuyên, giảm giờ coi truyền hình, nhưng còn về luân lý, hạnh phúc, gia đình. Tỉ như kiên nhẫn hơn, nhiều thời gian cho con cái hơn, làm việc từ thiện xã hội. Nhưng thử hỏi chúng ta giữ lời hứa được bao nhiêu phần trăm ? Trong thời buổi xô bồ, công việc dồn dập và ít giờ giấc suy nghĩ, nghỉ ngơi, chúng ta thấy mình chẳng thực hiện được chi hết, lại rơi vào thói quen cũ. Chúng ta đã làm những quyết định đẹp đẽ, canh tân nếp sống, không đi vào vết xe đổ. Nhưng thực tế, hiệu quả không như mình muốn, đâu vẫn hoàn đấy. Khi nhận ra mình thất bại, chúng ta chỉ còn giơ hai tay lên trời ta thán : “Vũ như cẩn! Vũ như cẩn !” (vẫn như cũ).

Cũng còn các yếu tố khác khiến chúng ta thất bại. Năm này lướt qua năm nọ mà không có gì thay đổi lớn hơn bỏ lịch cũ thay tờ mới. Mọi việc diễn biến như cuối năm trước hoặc cũng như cả năm trước. Vì vậy chúng ta nghĩ rằng mình vẫn là thế, vẫn những sinh hoạt nề nếp, ăn ngủ, gia đình, bạn bè, trẻ con đi học, người lớn lao động kiếm sống. Nhìn rộng ra xã hội, đất nước, thế giới cũng vẫn rặt một điều : Chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật, tranh chấp biên giới, đất đai, tôn giáo, đảng phái, hà hiếp, bóc lột. Có khác chi đâu ? Người ta cảm giác mọi sự vũ như cẩn, thì mình cũng như vậy thôi, khó thấy đổi thay trong bản thân !

Cho nên tôi phân vân không hiểu tình cảnh dân Israel thế nào, khi họ trở về từ chốn lưu đày Babylon ? Họ cảm thấy thất vọng, buồn chán không ? Khi nhìn thành Giêrusalem, xưa kia huy hoàng, nay điêu tàn, đổ nát, đền thờ xưa sang trọng uy nghi, nay chẳng còn viên đá nào nằm trên viên đá nào, thì họ có cùng tâm trạng như chúng ta bây giờ không ? Nếu phải xây dựng lại từ đầu, liệu họ có đủ kiên nhẫn mà hoàn tất ? Nếu công việc quá sức lực thì làm sao đây ? Trước những khó khăn của xã hội, đất nước, thế giới chúng ta cảm thấy quá bé nhỏ, bất lực, thiên về khuynh hướng thoái thác, phủi tay. Ích chi việc đội đá vá trời như Nữ Oa ? Mà làm được gì thì liệu có tác động để thế giới đổi thay ? Khó quá, không khác chi hạt muối bỏ bể. Năm tới sẽ trôi qua và bản thân tôi chắc vũ như cẩn. Toàn bộ thế gian là vậy thôi!

Tuy nhiên tiên tri Isaia, trong bài đọc một, tuyên bố một viễn tượng tốt đẹp cho dân Do Thái từ chốn lưu đày trở về và chúng ta hôm nay. Ngôn sứ nhìn thấy trước Israel được xây dựng lại, trùng tu viên mãn : “Vì lòng mến Xion, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giêrusalem, tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc. Rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi, mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng”. Nhưng việc phục hồi là do Thiên Chúa. Dĩ nhiên dân Do Thái phải bắt tay vào việc, và phải làm việc cật lực. Nhưng Thiên Chúa thấu rõ nhu cầu của họ và Ngài sẽ lo liệu để lao động mang tới kết quả. Israel có danh xưng mới, được Thiên Chúa ưu ái: “Người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới, chính là tên miệng Chúa đặt cho.” Một dấu hiệu của tương giao tốt đẹp với Đức Chúa Trời. Tuyển dân sẽ có địa vị cao sang hoàng tộc và chính Thiên Chúa là yên ổn của họ.

Ở đây ngôn sứ Isaia lấy lại giọng văn của Hôsê : “Chẳng còn ai réo tên ngươi: “Đồ bị ruồng bỏ, xứ sở ngươi hết bị tiếng là “phận bạc duyên đơn”. Nhưng ngươi được gọi là “Ái khanh lòng Ta hỡi” Xứ sở ngươi nức tiếng là “duyên thắm chỉ hồng”. Hơn nữa dân tộc Do Thái sẽ có một giao ước mới với Đức Chúa so sánh bằng cuộc hôn phối khắng khít và hạnh phúc: “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui của chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” – Bài đọc một vang vọng hình ảnh tiệc cưới Cana của Tin Mừng. Tác giả Aelred R. Rosser nói : “Ít phân đoạn trong Kinh Thánh so sánh bằng bài trích hôm nay. Nó là một khẳng định về mức độ và thể loại tình yêu Thiên Chúa dành cho trái đất. Chẳng lạ gì tình yêu đó không bao giờ phai nhạt”. (The workbook for lectors and Gospel readers p48).

Nhưng thật ngỡ ngàng khi mở đọc bài Tin Mừng chúa nhật này. Nó được trích từ Phúc Âm theo thánh Gioan. Đáng lý năm C, chúng ta đọc Phúc Âm thánh Luca. Tuần tới sẽ theo thứ tự đó. Sự thật là bài đọc ba của Chúa nhật này rất thích hợp dẫn nhập nội dung của các chúa nhật năm C. Bài đọc một đoan hứa Thượng Đế sẽ đến để kết hôn với dân Do Thái, nói riêng, với nhân loại nói chung. Chúa Giêsu là dấu chỉ cuộc hôn phối đã thành hiện thực. Tiệc cưới Cana là hình bóng. Cho nên nó là câu chuyện thích hợp nhất, nói lên việc Thiên Chúa ước ao kết hợp với chúng ta. Một dân tộc đang “oải” được Thiên Chúa – chú rể – làm nhẹ tâng gánh nặng nề và đổi mới tâm thần. Tất cả những lời nói, việc làm của Chúa Giêsu trong các chủ nhật tiếp theo sẽ mặc khải Thiên Chúa vươn tới loài người như một Đấng yêu thương. Không phải yêu thương một cá nhân, một dân tộc nào, nhưng toàn thể nhân loại. Bởi lẽ, tiệc cưới là một dịch vụ công cộng. Toàn thể dân làng họp mừng ngày vui. Toàn thể loài người cử hành giao ước mới với Thượng Đế. Nhưng chúng ta thiếu rượu, không đủ phương tiện để cử hành trọn vẹn niềm vui. Cho nên Thượng Đế đã bước vào, ra tay cứu chữa, để loài người có lý do mà vui mừng. Rượu mới trong kỷ nguyên mới. Nếp sống cũ, thói quen cũ không cần phải được lập lại. Năm tháng trôi qua không nhất thiết với những quyết tâm hão, lời hứa suông. Rượu mới làm tâm thần chúng ta phấn khởi, lòng dạ hân hoan. Cuộc đời đã sang trang không nên luyến tiếc cái cũ, không nên cố chấp, hoá đá, mà phí uổng thời gian.

Câu chuyện Cana không chỉ nguyên nói về nước biến thành rượu. Ý nghĩa của nó rộng rãi gấp trăm. Thánh Gioan gọi là dấu chỉ đầu tiên Chúa Giêsu làm. Chúng ta biết dấu chỉ dẫn đến thực tại. Thực tại ở đây là Thiên Chúa tỏ mình ra cho loài người (nguyên văn Phúc Âm nói: Mạc khải vinh quang Ngài). Nó biểu lộ Chúa Giêsu là Ai, ngõ hầu nhân loại chấp nhận Ngài và cảm thấy sự thân cận của Thiên Chúa mà Ngài là hiện thân. Lúc này người ta đang khao khát cử hành tiệc cưới, nhưng thiếu hẳn phương tiện để tiến hành. Chúa Giêsu hiện diện và ban phương tiện để chúng ta mừng Thiên Chúa ở giữa nhân loại. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật gần gũi. Là Chú Rể của tiệc cưới và làm cho cô dâu “loài người” được hoan hỷ. Ngài giữ rượu ngon cho đến lúc cuối chầu. Có nhà bình luận đề nghị phim “Babette’s feast” làm thí dụ cho bài Tin Mừng hôm nay. Xem phim chúng ta sẽ cảm thấy ý nghĩa của rượu mới và tiệc vui hôn nhân.

Cứ theo thói tục tổ chức việc hôn nhân thời Chúa Giêsu và của ngày nay, thì đám cưới Cana chẳng đáng kể là bao. Một làng nhỏ, cô dâu chú rể vô danh, tiệc đang giữa chừng thì rượu hết chứng tỏ nhà nghèo, vặt đầu cá vá đầu tôm, kéo chỗ lành đắp chỗ rách, chẳng sung túc gì, có thể là … tẽn tò, xấu hổ. Nhưng thánh Gioan đã làm nên chuyện, tưởng chừng như một biến cố lớn, có tầm cỡ quan trọng. Thánh nhân có dụng ý. Ông kể lại trong Phúc Âm của mình vỏn vẹn bảy phép lạ, mà ông gọi là “dấu” (Signum). So sánh với ba Phúc Âm khác thì là con số nhỏ. Ngoài ra, phép lạ đầu tiên này mang ý nghĩa nhiều hơn sự kiện. Chúa Giêsu không chỉ thoả mãn nhu cầu tức thời của đôi tân hôn. Ngài cũng không cung cấp chỉ đủ rượu cho bữa tiệc, nhưng ê hề, có tới gần 500 lít rượu và toàn rượu ngon, đến nỗi người chủ tiệc phải ngạc nhiên, bật ra tiếng khen “Anh giữ rượu ngon đến bây giờ”. Câu nói vô tình, nhưng làm chúng ta suy nghĩ nhiều. Chúng ta rời tiệc cưới mà còn văng vẳng bên tai… giữ rượu ngon mãi tới bây giờ. Lúc nào ? Bây giờ. Thiên Chúa làm đúng như Isaia tiên báo : Ngài kết hôn với nhân loại trong tình yêu mến tràn đầy và vĩnh viễn. Mối tương giao của Ngài với chúng ta không bủn xỉn, bấp bênh mà là “rượu ngon mãi tới bây giờ”, tức say sưa bền vững đến thiên thu. Nhiệm mầu này ai suy cho thấu ? Ai cảm tạ hồng ân cho cân xứng ? Ngài cho chúng ta đầy đủ lý do để cử hành tình yêu của Ngài, ngay cả ở những giây phút khó khăn nhất cuộc sống. Quên ơn Ngài, sống trác táng quả là một phản bội không thể tưởng tượng.

Như vậy Thiên Chúa chúng ta thật vĩ đại, không để chúng ta thiếu thốn điều chi. Cuộc sống con người theo thời gian không hề giảm bớt ý nghĩa và triển vọng. Ngày nay người ta thần thánh hoá tuổi trẻ. Già là một tai nạn, cái khổ. Nhưng đó là thái độ lầm lẫn. Với Thiên Chúa, với rượu ngon của Chúa Giêsu, cuộc sống luôn tăng trưởng. Thân xác có thể tàn lụi dần, nhưng linh hồn luôn lớn mạnh trong tình yêu bình an, kinh nghiệm thiêng liêng và hạnh phúc vĩnh cửu. Khi con người bên ngoài chết dần đi, là lúc con người bên trong nếm hương vị ngọt ngào của những đường hướng mới, năm tháng mới. Những giá trị thực của đời sống được bộc lộ rõ ràng. Chúng ta sẽ uống rượu làm cho mình ngày một lành thánh hơn, hoan hỷ hơn. Nó sẽ dẫn đưa chúng ta đến thứ Rượu Ngon Nhất trong bàn tiệc trên nước trời. Hiện thời chúng ta có rượu Thánh Thể. Rượu này Thiên Chúa tuyên bố luôn dư thừa, thoả mãn mọi ước vọng của con người. Chúa Giêsu sẽ luôn ban cho mỗi người lý do để cử hành vui, giận, mừng, lo trên bước đường lữ thứ trần gian. Ở Cana Thiên Chúa được mặc khải trong thì hiện tại. Nghĩa là chúng ta không bao giờ thiếu rượu, thiếu dấu chỉ để biến giây phút mình đang sống thành niềm vui. Ngay cả khi phải chịu mất mát, hy sinh, người thân yêu qua đời, nghề nghiệp tan vỡ, bạn bè phản trắc, tài sản tiêu tan. Thiên Chúa của tiệc cưới Cana luôn hiện diện bên mỗi người. Đúng vậy, trong nhiều trường hợp Ngài luôn ban khả năng để chúng ta có thể nói : “Tại đây, lúc này, con xin tạ ơn Ngài suốt cả đời con. Rượu con uống ngọt ngào quá đỗi”. Sau này, chúng ta sẽ được nghe Ngài nói : “Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào” (10,10).

Nhưng xin đừng quên : Tất cả những ơn huệ này, là lời yêu cầu của Đức Maria trong tiệc cưới Cana. Không có Mẹ, thì đôi tân hôn chẳng được rượu ngon, và chúng ta cũng chẳng có lý do để vui mừng trong cuộc sống. Mẹ đã làm cho “giờ của Chúa Giêsu” mau đến. Nghĩa là “ơn cứu độ” được ban trước cho loài người, mặc dù giờ tử nạn trên thánh giá, mở màn nhiệm cục cứu chuộc, chưa đến. Quý vị nghĩ thế nào ? Có đáng tán tụng cả hai ? Xin cho mỗi người nhận thức được bổn phận mình, sống vui tươi, thánh thiện, cậy trông, mà tạ ơn Thiên Chúa toàn năng và Đức Trinh Nữ Maria đến muôn thuở muôn đời. Amen.


Lm An Hạ op

Niềm Vui Trọn Vẹn
Is 62:1-5 ; 1 Cr 12:4-11 ; Ga 2:1-11

Đời có gì vui bằng tiệc cưới ? Tất cả đều rạng rỡ. Cảnh vật và con người đều mang nét mới. Một cuộc đổi thay lớn lao. Một bước ngoặt trong cuộc đời. Cả một diễn biến hào hứng trong cõi nhân sinh. Thiên Chúa có thể có mặt trong niềm vui hoàn toàn trần tục đó không ? Làm sao có thể hiểu được hai thế giới thánh thiêng và trần tục hòa hợp với nhau ? Đức Giêsu sẽ cho thấy một hòa điệu tuyệt vời nơi tiệc cưới Cana.

VUI VỚI NGƯỜI VUI

Chưa có tiệc cưới nào vui bằng tiệc cưới Cana. Gia đình nào được vinh hạnh mời cả Đức Giêsu và Mẹ Maria tới chứng kiến cảnh sắt cầm hòa hợp như vậy ? Thêm vào đó, các môn đệ Đức Giêsu cũng chia sẻ niềm vui với tân lang và tân giai nhân. Bỗng một tin như sét đánh khiến Đức Maria phải thở dài với Chúa Giêsu : “Họ hết rượu rồi.” (Ga 2:3) Với con tim phụ nữ, Mẹ nhạy cảm hơn ai hết. Nhạy cảm đến nỗi Mẹ đã quyết liệt can thiệp để phá tan cơn bế tắc của chủ nhà hôm đó. Khác hẳn với các thực khách, Mẹ tự coi như người phải lo lắng cho tiệc cưới thoát cơn bí hiểm. Không ngờ thực khách hôm đó đông hơn dự tính ban đầu.

Mẹ nói với gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” (Ga 2:5) Bên ngoài, có vẻ như Mẹ ra lệnh, bất chấp thái độ lạnh lùng của Đức Giêsu. Nhưng thực tế, đó là một lời tuyên tín tuyệt đối vào quyền năng Con Thiên Chúa và cũng là Con Mẹ giữa muôn vàn thực khách hôm nay. Niềm tin của Mẹ đặt nơi Con đã trở thành sự thật. Đức Giêsu đã truyền lệnh cho các gia nhân đổ đầy “sáu chum đá, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước” (Ga 2:6) Thực ra, đó không phải là một lệnh truyền. Nhưng đó là một nghĩa cử đẹp Chúa dành làm vinh danh Mẹ. Nói khác, như một người con ngoan, Chúa đã vâng lời Mẹ để tỏ lộ quyền năng và vinh quang trước thời hạn.

Khi nước đã đầy chum, Đức Giêsu đã không nói một lời hay làm bất cứ hành động nào trên lượng nước lớn lao đó. Người chỉ truyền gia nhân múc nước và đem cho ông quản tiệc. Rõ ràng, đó là sự vâng lời Đức Mẹ núp dưới bóng một lệnh truyền cho gia nhân. Sự vâng lời đó đã khiến nước thành rượu.

Khi hòa mình với quần chúng, để “vui cùng kẻ vui,” Đức Giêsu đã mạc khải một mầu nhiệm vĩ đại về Nước Thiên Chúa. Ở đây không phải bằng dụ ngôn, nhưng bằng chính thực tế cuộc sống, Đức Giêsu muốn cho mọi người thấy Nước Thiên Chúa đã thực sự hiện diện nơi trần gian. Chàng rể là chính Đức Giêsu. Cô dâu chính là Hội thánh, hiện thân qua con người Đức Maria như một gương mẫu tuyệt vời, “rất xinh đẹp, không tỳ ố, không vết nhăn.” (Sách Lễ Roma 1992:744) Đây chính là giai đoạn “Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi.” (Is 62:5) Niềm vui dâng trào khắp mặt đất, vì “muôn dân sẻ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi.” (Is 62:2)

Mầu nhiệm lớn lao đó cũng chính là sự kết hiệp giữa Ngôi Hai Thiên Chúa và bản tính loài người. Mầu nhiệm chỉ được mạc khải cho những người bé mọn, điển hình là các gia nhân. Các môn đệ cũng được vinh dự ấy. Quả thực, “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người.” (Ga 2:11) Tin vào Người không phải vì “phép lạ” phi thường. Nhưng vì “dấu lạ” dẫn tới mầu nhiệm Nước Thiên Chúa giữa trần gian.

GIỜ HÀNH ĐỘNG

Dấu lạ đó hôm nay vẫn diễn ra nhan nhản khắp nẻo đường đời. Những kỳ công đang thực hiện qua nhiều việc phục vụ và hoạt động khác nhau. Chỉ con mắt đức tin mới cho Kitô hữu thấy rằng : “Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.” (1 Cr 12:5-7) Tất cả đều nhằm mục đích để “đức công chính xuất hiện tựa hừng đông.” (Is 62:1) Đức công chính chính là vinh quang khiến mọi đế vương phải kinh ngạc. Thiên Chúa đang ra tay hành động cứu thoát nhân loại khỏi tai họa diệt vong. Giữa thời đại khủng bố này, Hội thánh không ngừng nhấn mạnh rằng “hoạt động cho hòa bình phải đi đôi với việc cổ động những giá trị thiêng liêng, luân lý và tôn giáo.” (Zenit 8.12.2003) Những giá trị đó đã bị những bụi khói bom đạn phủ lấp. Bởi thế, con người không còn tôn trọng nhau.

Chính vì lý do đó, “cần phải hoạt động tích cực để giáo dục về sự chung sống và tin tưởng lẫn nhau, dựa trên sự tôn trọng tôn giáo, lịch sử, văn hóa và giá trị bên trong mỗi người.” (Đức ông Parolin: Zenit 8.12.2003) Có thế mới có thể đánh thức lương tâm con người và chuẩn bị cho một tương lai tươi sáng hơn cho toàn thể nhân loại. Đặc biệt, Tòa Thánh Vatican nhấn mạnh các chương trình giáo dục của các quốc gia phải tôn trọng bản chất tôn giáo của các học sinh và quyền cha mẹ giáo dục con cái. “Việc tôn trọng bản chất và quyền lợi, cũng như việc hành xử tự do tôn giáo hoàn toàn, góp phần quyết định vào việc chiến đấu chống lại sự bất khoan dung và những thành kiến về chủng tộc.” (Đức ông Parolin: Zenit 8.12.2003)

Việc giáo dục và ý thức đó vô cùng hệ trọng. Chính Giáo hội đã trải qua những giai đoạn khó khăn trong việc giáo dục đó. Hòa bình chính là con đẻ của những sự kiên trì trong giáo dục. Có giáo dục đúng chiều hướng Thiên Chúa, mới có thể “duy trì giá trị hòa bình quí báu cho mọi người thuộc thiên kỷ thứ ba : hòa bình trong tâm hồn, gia đình, cộng đoàn và giữa các dân tộc, đặc biệt hòa bình cho các dân tộc đang diễn ra chiến tranh và chết chóc mỗi ngày.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 8.12.2003) Càng ngày con người càng khép kín cõi lòng. Bằng chứng sự tin tưởng và tha thứ ngày càng trở nên hiếm hoi. Đó là nguyên nhân sinh ra mọi bế tắc. Muốn giải quyết vấn đề, phải “giúp đỡ mỗi người, và mọi chủng tộc và văn hóa gặp gỡ và chấp nhận Đức Giêsu, Đấng đã giáng trần để ban hòa bình cho chúng ta trong mầu nhiệm Giáng sinh.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 8.12.2003)



Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Phép Lạ Đầu Tiên 
(Ga 2,1-11)

 Từ khi sinh ra cho tới khi xảy ra câu chuyện của bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sống ẩn dật, âm thầm như một người thợ mộc nghèo trong xóm làng Na-da-rét, không có một dấu hiệu phi thường nào làm cho dân chúng phải đặc biệt chú ý. Nhưng từ bữa tiệc cưới ở Ca-na, Ngài đã tỏ lộ uy quyền siêu phàm của Ngài : biến nước lã thành rượu ngon, làm cho mọi người ngạc nhiên bỡ ngỡ. Chính thánh Gio-an, tác giả duy nhất kể lại câu chuyện này, đã lưu ý chúng ta về điểm ấy khi ông viết : “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người, Các môn đệ đã tin vào Người”.

Trong khung cảnh đặc biệt này, chúng ta thấy có sự hiện diện của Đức Maria. Theo dõi từng biến cố trong đời sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Đức Maria xuất hiện một cách hết sức kỳ lạ và ngoạn mục ở mỗi chặng quan trọng nhất : khi bắt đầu và kết thúc đời sống ấu thơ, khi bắt đầu và kết thúc đời sống âm thầm ẩn dật, khi bắt đầu và kết thúc đời sống công khai.

Chẳng hạn như trong tiệc cưới tại Ca-na là lúc Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công khai, Đức Maria đã xuất hiện đúng lúc để trực tiếp giới thiệu con của ngài cho những người giúp việc đang bối rối vì thiếu rượu, và gián tiếp giới thiệu người con ấy cho mọi người qua phép lạ biến nước thành rượu. Khi giới thiệu Chúa Giêsu cho những người giúp việc, Đức Mẹ bảo họ phải tuyệt đối tuân theo lời Chúa chỉ dạy : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Câu nói của Đức Mẹ là tiếng vang trung thực lệnh truyền của  Đức Chúa Cha khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Gio-đan : “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người”. Quả thực, Chúa Giêsu sinh ra trên trần gian để cứu nhân độ thế bằng cái chết đau khổ của Ngài, nhưng Ngài cũng còn cứu thế bằng Tin Mừng. Với Tin Mừng, Ngài muốn dạy loài người con đường tự giải thoát, tự cứu lấy chính mình. Bởi đó, nếu loài người muốn được cứu độ thì phải vâng nghe lời Ngài dạy bảo.

Theo thánh Au-gút-ti-nô thì Thiên Chúa tạo thành nhân loại, không cần sự cộng tác của họ, nhưng Ngài không muốn cứu họ mà không có sự tham gia của họ. Muốn cho phép lạ xảy ra, muốn nước lã tầm thường biến thành rượu ngon, thì  những  người giúp việc phải triệt để tuân lệnh Chúa : đổ nước đầy các chum. Họ tuân lệnh, phép lạ đã xảy ra, đó là điều kiện tất yếu, điều kiện tiên quyết, điều kiện bất khả khuyết.

Tình trạng con người sống trong tội lỗi, không ơn thánh hóa, không sức sống siêu nhiên, còn lâm ly bi đát gấp trăm ngàn lần việc thiếu rượu trong tiệc cưới Ca-na. Nhưng đối với Chúa thì dầu bi đát tới đâu cũng vẫn có thể cứu vãn được. Tuy nhiên, ơn cứu độ là công việc liên hệ tới loài người, cho nên Thiên Chúa đòi hỏi sự cộng tác của loài người, Chúa đòi hỏi họ phải có lòng tin. Thiên Chúa Cha đòi hỏi tất cả chúng ta phải nghe lời con yêu dấu của Ngài, mà tin nghe tức là tin nhận những điều Chúa Giêsu giảng dạy và đem ra thực hành. Tóm lại, có thể nói : ơn cứu độ bị ràng buộc, bị lệ thuộc vào điều kiện tin nhận, vâng nghe và thi hành của chúng ta, nếu chúng ta tin nhận, vâng nghe và thi hành thì chắc chắc chúng ta sẽ được hưởng nhờ ơn cứu chuộc.

Như vậy, qua phép lạ ở tiệc cưới này, chúng ta ghi nhận được hai điều quan trọng : Thứ nhất, sự có mặt của Chúa Giêsu và làm phép lạ biến nước thành rượu đã mở màn cho hôn nhân một kỷ nguyên mới, nghĩa là trang sử mới của chế độ bí tích hôn nhân Ki-tô giáo đã được mở màn với đám cưới này. Đây là lễ hôn phối đầu tiên trong đạo mới, đã được chính Chúa Giêsu chủ sự, Ngài đã nâng hôn phối tự nhiên trong đạo cũ thành bí tích hôn phối trong đạo mới, tức là trở thành một phương tiện cho đôi vợ chồng gặp gỡ được chính Đức Ki-tô trong chính tình yêu của họ. Đức Ki-tô hiện diện với họ và không ngừng ban ơn cho họ. Từ đây nếu họ biết quan tâm đến sự có mặt của Chúa, biết cầu xin với Ngài là Đấng có thể làm được tất cả, thì ngay cả giữa những khó khăn dường như không lối thoát, họ sẽ thấy phép lạ Ca-na tái diễn.

Thứ hai, cũng từ phép lạ này cho chúng ta biết Đức Maria giữ một vai trò đặc biệt trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa : Mẹ là đấng đồng công cứu chuộc, là đấng trung gian mọi ơn phúc. Từ đây mọi người đều biết Đức Mẹ không phải là một người mẹ như bất cứ ai, nhưng là mẹ của Đấng Cứu Thế, một người mẹ đầy uy lực đối với con mình, một người mẹ đầy từ tâm hằng lưu ý đến những lo âu, đau khổ của người khác và sẵn sàng cứu giúp.

Tóm lại, Chúa luôn luôn sẵn sàng cứu giúp chúng ta, nhưng cần có sự tham gia, cộng tác của chúng ta, thì trong đời sống hôn nhân cũng vậy, Ngài nâng cao phẩm giá hôn nhân và bảo đảm hạnh phúc gia đình không có nghĩa là Ngài bao thầu tất cả, thay thế mọi cố gắng cần có của đôi vợ chồng. Trái lại, Ngài ban cho họ có khả năng thực hiện hạnh phúc, nhưng chính họ phải thực hiện bằng cách tin nhận, vâng nghe và thi hành lời Chúa một cách triệt để ngay trong gia đình mình và luôn biết cầu xin với Đức Mẹ, một người mẹ hằng cứu giúp, mẹ chuyển giúp những lời chúng ta xin lên Chúa Giêsu và mẹ xin những nhu cầu cần thiết của gia đình chúng ta.


G. Nguyễn Cao Luật, OP

Thiên Chúa Trong Tiệc Cưới
(Ga 2,1-12)

Dấu lạ đầu tiên

Đức Giêsu được mời đến dự tiệc cưới tại Cana, cùng với Thân Mẫu, và Người đã đến, vừa với tư cách bạn hữu, vừa với tư cách họ hàng. Liệu người có biết rằng tại đây, trong đám cưới này, Người sẽ khơi mào các dấu chỉ mà Người sẽ hoàn thành trong suốt thời gian tại thế của mình ?

“Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người” (Ga 2,11).

Thánh Gioan đã viết như thế vào cuối trình thuật tiệc cưới Cana. Câu kết luận vắn tắt này chứng tỏ Gioan là người biết đọc và hiểu những gì đã xảy ra. Quả thế, ngay đầu Tin Mừng thứ Tư, tác giả đã viết : Lúc khởi đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa (1,1). Đức Giêsu là Ngôi Lời và cũng chính là Đấng Mê-si-a được sai đến trần gian : dấu lạ đầu tiên này diễn tả trong thời gian vinh quang vĩnh cửu của Đức Giêsu. Tác giả thuật lại dấu lạ này để người tín hữu tin Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a, là Con Thiên Chúa, và vì tin, họ sống nhờ danh Người (Ga 20,30-31).

Không phải là tình cờ khi tiệc cưới này diễn ra vào vào giai đoạn đầu cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã kết hôn với nhân loại : đó chính là Tin Mừng, mặc dù các thực khách lúc này chưa biết rằng Con Thiên Chúa đang ngồi cùng bàn với họ, và cũng chưa biết rằng Đức Giêsu chính là Vị Hôn Phu đích thực. Trong tiệc cưới này, sự hiện diện của Vị Hôn Phu là một mặc khải trọn vẹn về các mầu nhiệm : chính Người giữ lại rượu ngon cho đến mãi bây giờ mà người chủ tiệc không biết.

Rượu là thành quả từ cây nho và công lao của con người, là thức uống tuyệt hảo trong tiệc cưới. Đó chính là mạch máu của đất đã thấm đượm ánh mặt trời, với biết bao vất vả của người trồng nho trong suốt cả năm. Rượu được đưa ra vào phần cuối bữa tiệc, quả không phải là thứ rượu tầm thường. Đó chính là ơn cứu chuộc, là sự sống.

Theo tác giả Gioan, thứ rượu này được múc ra từ những chum đá đựng nước dùng cho việc thanh tẩy. Nước này biểu tượng cho một thứ thể chế tôn giáo, một thế giới cũ thiên về nghi thức. Giờ đây Đức Giêsu đến để biến nước ấy thành rượu : thế giới cũ bị đổ nhào, nhường chỗ cho một thế giới mới. Lúc này, cuộc lễ mới thực sự bắt đầu, vì người ta được uống một thứ rượu xứng đáng là dấu chỉ Nước Trời như các ngôn sứ từng loan báo.

Cái nhìn của Gioan còn đi xa hơn : trong câu chuyện có vẻ bình thường này, người ta thấy toàn bộ Tin Mừng của Đức Giêsu đang bắt đầu nảy mầm : Giờ đã điểm mở đầu cho giờ chung cuộc là Đức Giêsu đổ máu ra trên thập giá để hoàn tất tiệc cưới giữa Thiên Chúa và nhân loại.

Như vậy, Cana là một khởi đầu kỳ diệu và là biểu tượng về mầu nhiệm cứu độ ! Ngay từ lúc khởi đầu, Đức Maria đã có mặt và can thiệp, mặc dù Mẹ chưa hiểu hết (“Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con?”). Cana quả là dấu chỉ đầu tiên, nhưng lại tóm tắt toàn bộ Tin Mừng. Tất cả đều đã bao hàm trong biến cố này, nếu người ta biết đọc !

Những lễ hội

Trước đây, người Do thái vẫn thường được hỏi : Thiên Chúa ở đâu ? Người ta có thể đến gặp Người ở đâu ? Người ta có thể nhìn thấy Người và nghe tiếng Người ở đâu ? Và họ thường trả lời Thiên Chúa ở tại Giêrusalem. Đền thờ là nơi Người ngự.

Hôm nay, qua câu chuyện Tin Mừng, câu trả lời đã khác đi : Thiên Chúa đang ở trong tiệc cưới, cùng bàn với những thực khách.

Cana không chỉ đồng nghĩa với phép lạ đã được chú giải cả ngàn lần. Đó chính là một nơi cao của Tin Mừng. Xưa kia, Thiên Chúa đã từng bày tỏ vinh quang của Người tại Xi-nai, tại Bê-lem, và Đền thờ ; còn giờ đây, Thiên Chúa xuất hiện tại Cana, trong một tiệc cưới. Địa danh này diễn tả một phương thức hiện diện mới của Thiên Chúa, của giao ước.

Do đó, người ta có thể gọi ? Đức Giêsu là Thiên Chúa của các núi cao, là Hữu Thể Vĩnh Cửu. Qua sự hiện diện mới này của Thiên Chúa, cuộc đời trở nên sống động hơn, đẹp đẽ hơn, bởi vì luôn chất chứa trong mình một niềm hy vọng, một sự chấp nhận.

Khi chấp thuận lời mời đến tham dự tiệc cưới tại Cana, Đức Giêsu muốn khai mạc lễ hội của niềm vui, lễ hội của tình yêu, lễ của đôi vợ chồng. Sự hiện diện của Đức Giêsu tại tiệc cưới Cana đưa ta trở về với cuộc lễ tại vườn Ê-đen, trở về với tình trạng nguyên thủy, hay nói cách khác, sự hiện diện ấy là việc thánh hiến tình yêu.

Quả thế, sự hiện diện của Đức Giêsu tại tiệc cưới là một cuộc lễ với nhiều ý nghĩa.

* Lễ của giao ước : người Kitô hữu quan niệm hôn nhân là một bí tích, tức là dấu chỉ hoàn hảo nhất về mối tương giao giữa Thiên Chúa và con người,. Đời sống vợ chồng là một dấu chỉ hữu hình về tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

* Lễ Hiển Linh : đây không phải chỉ là một phép lạ, nhưng còn là sự bày tỏ chính thức của Thiên Chúa. Chính Người có mặt trong tiệc cưới, cùng ăn cùng uống với các thực khách.

 Cuộc hiển linh này không phải là của Đức Chúa Toàn Năng, nhưng là của Thiên Chúa Bêlem, người bạn của các mục đồng và các đạo sĩ, bạn của những người khiêm tốn và của những người dám phiêu lưu, của những người nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần.

* Lễ thánh : Thiên Chúa xuất hiện không phải với những nghi thức long trọng. Chính sự hiện diện của Người làm cho những địa điểm, những con người, những đồ vật tại đó trở nên thiêng thánh, bởi vì Người thánh hóa tất cả. Người ta sẽ còn gặp Thiên Chúa tại bờ giếng Gia-cóp, ở bàn ăn nhà người thu thuế, tại nghĩa trang, trước ngôi mộ của người bạn, sau nữa tại thập giá. Tại tất cả những nơi đó, Người sẽ biến đổi sự chết thành sự sống.

Thiên Chúa ở Cana là như vậy.

Cuộc đời là tiệc cưới

Đức Giêsu có mặt tại Cana và biến nước thành rượu ngon. Đối với chúng ta, biến cố này có ý nghĩa gì ?

Người đã có mặt ở Cana, để cho ta thấy Người cũng có mặt trong những biến cố khác nhau của đời ta. Sự hiện diện của Người trong những biến cố này làm cho chúng ta nhận ra quyền năng của Người. Đồng thời làm cho tất cả sự kiện mang một ý nghĩa mới, ý nghĩa đặc biệt.

Thật thế, cũng như sự hiện diện của Đức Giêsu tại tiệc cưới Cana làm cho bữa tiệc này trở thành một dấu chỉ về sự can thiệp của Thiên Chúa, thì sự hiện diện của Người trong cuộc đời chúng ta cũng đem lại giá trị vĩnh cửu. Chính Đức Giêsu làm cho bữa tiệc của nhân loại được trọn vẹn và tràn đầy niềm vui. Do đó, nếu không có Đức Giêsu, mọi bữa tiệc của nhân loại vẫn còn dang dở và niềm vui chưa tới mức trọn vẹn.

Chính Đức Giêsu muốn có mặt trong cuộc đời chúng ta để biến tất cả thành những dấu chỉ của niềm vui và hy vọng. Người đến và biến cuộc đời ta thành mối tương giao để qui hướng về một điểm duy nhất là tình yêu.

Vì vậy, dù cuộc đời chúng ta có thế nào chăng nữa, chúng ta vẫn hiểu rằng Đức Giêsu đang chia sẻ với chúng ta, Người đang nâng đỡ và đang chiến đấu cùng với chúng ta. Đó là điều ta phải tin tưởng.

Chúng ta phải tin vào quyền năng của Đức Giêsu: Người có thể biến đổi tất cả. Người cho cuộc đời vô vị và tầm thường của chúng ta thành một cuộc sống có giá trị. Người có thể sử dụng những nỗi yếu đuối của chúng ta làm chất liệu cho một cuộc đời mới. Phải tin tưởng vào Người.

Tuy vậy, một điều nữa là phải muốn thay đổi. Đôi khi chúng ta vẫn chống chế : Nước đã biến thành rượu, rượu đã trở nên Máu Đức Kitô. Điều ấy đã xảy ra tại Cana, tại đồi Can-vê, nhưng cuộc đời thì khác.

Cần nhớ rằng, nếu không muốn biến đổi, thì chúng ta chưa sám hối thực sự. Chỉ khi nào sẵn sàng làm theo điều Người chỉ, lúc ấy chúng ta mới có thể buớc vào lễ hội của Thiên Chúa, lễ hội của niềm vui.


Giuse Nguyễn Phan Tài

Hôn ước giữa Thiên Chúa và loài người
(Ga 2, 1-11)

Chỉ trong một tuần lễ thánh, phụng vụ Giáo Hội dẫn chúng ta đến với ba cuộc hiển linh lớn của Chúa Giêsu. Lần thứ nhất xảy ra tại Belem cho ba vị hiền sĩ, đại diện cho dân ngoại. Lần thứ hai tại sông Giođan cho dân Do Thái, đại diện cho Cựu Ước. Và lần thứ ba này tại tiệc cưới Cana, qua phép lạ biến nước thành rượu, Chúa Giêsu muốn tỏ lộ vinh quang của Người cho các môn đệ, đại diện cho Tân Ước. Đây cũng là hôn ước giữa Thiên Chúa và loài người.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Ngài nhập thể và nhập thế trước hết là để hiện diện cách hữu hình với nhân loại. Qua đó, Chúa muốn cùng chung chia niềm vui, nỗi buồn; hạnh phúc, khổ đau của phận người với chúng con. Thật vậy, bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Ngài đã cùng với Mẹ Maria và các môn đệ của Ngài đến tham dự tiệc cưới tại Cana, để cùng chia sẻ niềm vui, niềm hân hoan với gia đình tân hôn. Và để cho niềm vui được tròn đầy hơn, chính Ngài đã làm cho sáu chum nước hóa thành sáu chum rượu ngon, hầu giúp cho vị hôn phu khỏi bẽ mặt với quan khách và bà con họ hàng khi đang trong bữa tiệc thì hết rượu.

Lạy Chúa, nhìn vào thế giới ngày nay, một thế giới được được xem là toàn cầu hóa với nền kinh tế ngày càng phát triển, những tiện nghi hiện đại, phương tiện khoa học kĩ thuật tối tân, con người có thể dễ dàng trao đổi, liên lạc với nhau tức thời dù cách xa nhau cả một vòng trái đất. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ khiến cho các thành viên trong gia đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè… dễ quên đi sự hiện diện, chia sẻ, nâng đỡ nhau thật cần thiết của mình cho tình thân, tình liên đới giữa con người với nhau. Để rồi, hậu quả là tỉ lệ li hôn của các gia đình gia tăng một cách không ngờ, kèm theo đó là những ảnh hưởng tâm lý nặng nề trên con cái và tiếp đến là những tệ nạn xã hội tràn lan. Và như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói : con người đang sống trong nền văn minh của sự chết.

Nhìn lại cuộc sống của con, không ít lần vì sự ích kỉ, hẹp hòi, con tìm cách thoái thác, tránh né sự hiện diện của mình nơi gia đình, nơi cộng đoàn, bà con làng xóm để cùng chia sẻ cho nhau những khó khăn, trăn trở, thao thức hay niềm vui của nhau, thậm chí có những lúc con còn vui mừng trước những nỗi đau, thất bại của người khác, hay ganh ghét khi họ gặp may mắn hơn con.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Ngài đã hiện diện trong tiệc cưới và hóa nước lã thành rượu ngon để chia sẻ niềm vui và giúp cho tiệc cưới được trọn niềm vui, Ngài cũng bày tỏ vinh quang của Ngài cho các môn đệ : Ngài chính là vị hôn phu của nhân loại. Nếu như chú rể không thể cung cấp đủ rượu cho khách dự tiệc, thì Ngài đã làm cho mọi người được vui thỏa. Đó cũng là dấu chỉ Ngài sẽ làm cho toàn nhân loại được hưởng nếm sự ngọt ngào viên mãn bằng chính Thịt Máu Ngài. Quả thật, Ngài chính là vị hôn phu tuyệt vời nhất. Ngài đã thành toàn lời hứa kết giao mà ngôn sứ Isaia đã nói đến : “Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62, 4-5).

Vâng lạy Chúa, dẫu biết rằng thân phận con người vốn bất toàn, yếu đuối, mỏng manh và hay thay đổi, nhưng Ngài vẫn luôn yêu thương, nâng đỡ và hy hiến chính mạng sống Ngài nơi trần gian này, để nâng chúng con từ thân phận tôi đòi, tội lụy trở thành hiền thê dấu yêu của Ngài, và trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa. Xin cho chúng con cảm nghiệm được trong mọi giây phút, mọi biến cố của cuộc đời luôn có Ngài hiện diện, nâng đỡ ủi an và đồng hành. Xin cũng ban cho các bậc cha mẹ trong các gia đình luôn biết dành cho nhau những khoảng thời gian, để cùng chia sẻ, nâng đỡ nhau trong mọi cảnh huống của cuộc sống. Ngõ hầu, họ luôn sống yêu thương, thủy chung với nhau như chính Ngài đã yêu thương và hiến mạng sống vì nhân loại.

Cuối cùng, xin cho chúng con biết noi gương Mẹ của Ngài luôn nhạy bén trước những khó khăn, nguy khốn của người khác, để biết quan tâm giúp đỡ họ như Mẹ đã nói với Ngài : “Họ hết rượu rồi”, và nói với gia nhân : "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo". Amen.


Fr. Jude Siciliano.op. (2007)

Hãy Nhận Ra Tình Yêu Hải Hà Của Thiên Chúa
Trên Cuộc Đời Ta

Thưa quý vị,

Mùa Giáng Sinh kết thúc tuần qua. Chúng ta bước sang chu kỳ thường niên với Phúc Âm Luca. Suốt mùa Giáng Sinh chúng ta cử hành lễ hội với các bài đọc đặc biệt am hợp cho hoàn cảnh. Đúng lý, mùa thường niên phụng vụ trở về với chu kỳ thánh Luca. Nhưng riêng chúa nhật này, phụng vụ lại chọn đọc phép lạ tiệc cưới Cana của thánh Gioan. Tại sao như vậy? Vì lý do gì? Phúc Âm Luca quá ngắn chẳng đủ để dàn trải cả năm chăng? Không đúng vậy. Tin Mừng Luca dài nhất trong 4 Tin Mừng. Vậy thì phải có lý do nào khác để ban phụng vụ toà thánh chọn Gioan cho Chúa nhật này. Họ không khờ khạo đến nỗi chẳng biết việc mình làm. Vậy chúng ta tìm xem có lợi ích chi mà phụng vụ cho đọc phép lạ tiệc cưới Cana? Thực sự, nếu chúng ta chịu khổ công một chút sẽ thấy rõ sự khôn ngoan của các người có trách nhiêm sắp xếp. Tiệc cưới Cana nói lên viễn tượng phải suy gẫm cho cả năm Luca, đúng hơn, cho bất cứ nội dung Phúc Âm nào. Phép lạ tiệc cưới Cana giúp linh hồn tín hữu lắng nghe Lời Chúa cách chính xác suốt năm nay cho đến mùa vọng tới. Nó còn hơn là một câu truyện phép lạ. Nhưng khoan đi vào đề tài. Chúng ta xem xét các bài đọc ăn nhịp với nhau ra sao?

Bài đọc 1, tiên tri Isaia xây dựng cung điệu cho chúng ta. Cung điệu quá ư hồ hởi đến nỗi người ta tưởng chừng vị tiên tri hô hoán lên vì vui mừng. Ong không thể làm chủ được miệng lưỡi: “Vì lòng yêu mến Sion, tôi sẽ không nín lặng. Vì số phận Giêrusalem tôi lặng yên sao đành.” Lý do là đã “tới ngày Đấng công chính xuất hiện tựa hừng đông. Vị cứu tinh của Thành rực nên như ngọn đuốc.” Người ta tưởng tượng vị ngôn sứ như đang dự tiệc cưới. Đúng vậy, ông lạc quan và hạnh phúc: “vì ngươi được Đức Chúa đem lòng sủng ái và lập hôn ước cùng xứ sở ngươi.” Lúc này không phải là thời gian nghiêm nghị, giữ kẽ. Người ta đang ở giữa đám tiệc cưới, tưng bừng , nhảy múa, hát ca, chúc rượu, nắm tay, ôm hôn thắm thiết, tìm bạn mới, gặp người quen. Thời gian của ồn ào, náo nhiệt, thịt béo, rượu ngon. Chúc tụng hai họ nội ngoại, nhất là đôi tân hôn. Xem ra Isaia nâng chén chúc tụng cô dâu chú rể đặc biệt.

Họ là ai? Là đôi vợ chồng mới cưới? Cô dâu sắp bước ra khỏi số phận lưu đày, nô lệ. Số phận tồi tệ đến độ được gọi là “bị lãng quên, hoang tàn”. Sự thực, vị tiên tri viết vào thời cuối cùng cuộc lưu đày Babilon. Lúc ấy quốc gia Dothái không còn nữa, quê hương Palestine hoàn toàn bị tàn phá, bỏ hoang. Vậy từ quên lãng, hoang tàn là thích hợp để miêu tả tình trạng Giêrusalem lúc bấy giờ. Tuy nhiên, đã là cuộc hôn phối thì nhất định phải có bên thứ hai: chú rể không ai khác ngoài Đức Chúa của Isarael: “Này tới ngày Đấng công chính xuất hiện tựa hừng đông…” Thiên Chúa sẽ thay đổi mọi sự, sẽ ban cho dân cư Dothái tên mới: “Người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới: ái khanh của lòng ta. Xứ sở ngươi sẽ nức tiếng là duyên thắm chỉ hồng.” Trong Kinh Thánh, việc thay đổi tên ám chỉ căn cước mới, tức một hiện tại và tương lai hoàn toàn mới, giống như hoàn cảnh mới của đôi tân hôn. Một khởi sự của đôi vợ chồng mới về chung sống với nhau: “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ. Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.” Đức Chúa sẽ bỏ qua những bất trung của Israel. Đấng xây dựng quốc gia Dothái từ hư vô sẽ ban cho dân tộc lời hứa mới, lời hứa của tình yêu, cống hiến cho xứ sở vận mệnh hoàn toàn mới: hạnh phúc và tự do. Giọng văn của Isaia bày tỏ tính hớn hở vui mừng của lời hứa này: “Vì lòng mến Sion, tôi sẽ không nín lặng. Vì số phận Giêrusalem, tôi lặng yên sao đành.”

Làm thế nào vị ngôn sứ còn có thể trình bày hình ảnh của Đức Chúa mạnh mẽ hơn? Câu trả lời là không. Bởi lẽ, đối với một quốc gia, một dân tộc, một cá nhân ông đã mô tả Thiên Chúa như người tình mê đắm và trung kiên. Cho nên chúng ta chẳng còn lý do nào xa lánh vị Thiên Chúa ấy. Luca cùng chung tư tưởng này suốt nội dung Phúc Âm của ông. Tiệc cưới Cana của Gioan cũng vậy, chúng ta sẽ xem xét sau. Trước mắt, Luca kêu mời mọi người tiến sát lại Thiên Chúa Đấng say mê yêu thương nhân loại, vị ngôn sứ dùng hình ảnh tiệc cưới để diễn tả quan điểm của ông. Vậy thì chẳng lạ gì khi Gioan dùng tiệc cưới Cana mở đầu Tin Mừng của mình. Điều này cũng rất phù hợp cho chúa nhật hôm nay bắt đầu đọc sách Luca. Nói rộng ra, nếu chúng ta nhìn trước vào các truyện xảy ra trong Tin Mừng của bất cứ tác giả nào, sẽ thấy lời nói, việc làm của Chúa Cứu Thế tàng ẩn trong ý nghĩa phép lạ đầu tiên này. Từ phép rửa, sứ vụ, khổ nạn và cái chết của Ngài trên thập tự đều tỏ lộ tình yêu cao độ của Thiên Chúa cho loài người. Ngay cả khi ngài tỏ thái độ cứng rắn với Pharisêu, tư tế, kinh sư, Ngài vẫn nói tiếng nói của tình yêu vươn tới họ: “Vì lòng mến Sion ta sẽ không yên lặng. Vì số phận Giêrusalem, ta lặng yên sao đành?” Thông điệp của Chuá thật rõ ràng: Đức Chúa Trời sẽ trả bất cứ giá nào để thề hứa, làm giao ước tình yêu với chúng ta. Và nếu chúng ta bẻ gẫy các giao ước vì phạm tội thì Ngài không hề tuyệt vọng vì chúng ta. Nhưng sẽ tìm kiếm, kêu mời, lôi kéo chúng ta về với tình yêu của mình. Chúng ta sẽ được tha thứ khi đáp trả thuận lợi.

Đọc bản văn người ta có cảm nghĩ Isaia là vị khách mời trong đám cưới. Ong bị hoàn toàn lôi cuốn vào cuộc liên hoan. Thánh sử Gioan cùng có thái độ tương tự nhưng tự chủ hơn, lúc đề cập về rượu ngon ở tiệc cưới Cana. Đúng vậy, khi nghe đọc Phúc Âm hôm nay, chúng ta mường tượng như chính mình chúc rượu ngon Thiên Chúa để tạ ơn. Bởi lẽ trong Chúa Giêsu, Đức Chúa Trời đã phuc vụ chúng ta rượu hảo hạng. Xin chúc tụng Ngài. Do đó Cana còn hơn là một phép lạ, thánh Gioan đã ám chỉ điều ấy khi dùng cụm từ: “Đức Giêsu làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilêa và bày tỏ vinh quang của Người, các môn đệ đã tin vào Người.” Đôc giả liên tưởng ngay đến biến cố hiển linh ở sông Giođano hay ở lễ Ba Vua. Vì Chúa bày tỏ “vinh quang” cho người trần mắt thịt được chiêm ngắm thần tính của Ngài. Ơ đây, Thiên Chúa mặc khải mình qua “dấu chỉ” biến đổi nước thành rượu ngon. Câu truyện khởi sự do nhận xét của Đức Mẹ: “họ hết rượu rồi.” Gia đình nào mà chẳng hết rượu sau thời gian chung sống với nhau. Rượu tình yêu cạn dần, chỉ còn toàn “nước lã”. Nhân loại cần sự can thiêp của Đức Maria để Thiên Chúa ban thêm cho “rượu”. Ngày nay người ta quên vai trò của Đức Mẹ cho nên nhiều gia đình tan vỡ. Số liệu thống kê ngày một tăng. Vợ chồng chỉ có “nước lã” làm thế nào sống được với nhau? Đến đây thì Đức Mẹ lui vào hậu trường sau khi đã căn dặn các gia nhân: “Ngài bảo chi các anh hãy làm theo.” Quyền quyết định thuộc về Đức Giêsu, Thiên Chúa thật và là người thật. Đức Giêsu đã chọn dấu lạ biến nước thành rượu để khởi sự sứ vụ của mình. Ban cho các gia đình vô số là “rượu”. Xin lưu ý hôm nay Chúa tặng cho đôi tân hôn hơn 600 lít rượu. Nhiều quá sức tưởng tượng. Loài người chẳng thể tự cung cấp. Ngay cả ở thời buổi văn minh vật chất này, thử hỏi có gia đình tân hôn nào đãi ngần ấy rượu cho khách? Bất quá vài chục lít là cùng (Phúc Âm nói: sáu chum đá mỗi chum từ 80l đến 120l). Xét về lĩnh vực thiêng liêng, các nhà đạo đức cho là rượu hoà giải với Thiên Chúa, rượu để cộng đoàn chúc mừng Ngài, rượu chúng ta tạ ơn Ngài mỗi ngày trong thánh lễ. Rượu của Chúa Giêsu!

Vậy thì tự thân loài người không làm đươc. Thiên Chúa cung cấp cho chúng ta. Ngài tha thứ, chữa lành, hoà giải, cứu chuộc, yêu thương. Nhưng chúng ta tiếp tục đeo mặt nạ để thoả mãn các dục vọng cuả mình. Quả là vô ơn hết tầm cỡ. Cho nên 6 chum nước thanh tẩy không đủ. Giữ lề luật, giới răn, kinh hạt không đủ. Phải tiến xa hơn nữa trong hi sinh hãm mình. Chúng ta không thể tự thân thanh tẩy. Chẳng có chi cứu thoát chúng ta được đâu. Xin đừng kiêu ngạo về nếp sống đạo đức của mình, phải nhờ bàn tay Đức Chúa Trời. Rượu hôm nay là dấu chỉ Chúa Kitô cứu thoát chúng ta: Người ta đổ nước đầy 6 chum, nhưng cần đến bàn tay quyền phép Chúa, mọi sự mới thành rượu ngon cho nhân loại. Vậy Ngài là rượu hảo hạng. Trong Ngài chúng ta cử hành lễ cưới hồ hởi, hoan hỷ và mừng vui như những khách mời của Nước trời.

Nhờ dấu chỉ hôm nay, chúng ta có khả năng nhìn vào tương lai để nhận ra ý nghĩa cho cuộc sống mỗi người. Tuần vừa qua, chúng ta mừng lễ Chúa chịu phép rửa ở sông Giođano. Ngài tẩy sạch nước sông, thánh hoá nó để chúng ta bước vào cuộc sống thánh thiện của bí tích rửa tội. Hôm nay “dấu chỉ hoá nước thành rượu” cho mọi người biết rằng: trong Đức Giêsu, Thiên Chúa ban mình cho loài người và sẽ không bao giờ đòi lại, để rượu tình yêu của Ngài làm ngây ngất linh hồn. Chúa Giêsu mặc khải vinh quang và các môn đệ bắt đầu tin vào Ngài. Họ nhìn thấy điều mà thiên hạ không nhận ra: Thiên Chúa là bạn trăm năm của nhân loại, luôn luôn trung tín ban hạnh phúc qua rất nhiều “dấu chỉ” diễn ra hằng ngày trước mắt. Chúng ta uống rượu ngon trong bí tích Thánh Thể, rượu của sự hiện diện thần linh để chúng ta nhìn rõ nhiều đường lối khác nhau Chúa yêu thương loài người, rượu ban cho chúng ta khả năng nhận ra vinh quang Thiên Chúa trên toàn thế giới và trong từng linh hồn.

Thật vậy, ông chủ tiệc nói với Chúa Giêsu rằng: “Ông giữ rượu ngon cho tới bây giờ…” đây là thế giới nói với người công giáo về bí tích Thánh Thể, đúng không ? Chúng ta phản ứng thế nào ? Xin nhìn rõ ngụ ý của thánh Gioan. Trong Phúc Âm của thánh nhân không có trình thuật về việc Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Có lẽ ông đã thấy ba Tin Mừng khác làm việc này. Ít nhất ba lần, mỗi Phúc Âm một lần. Nhưng người ta nhận ra Gioan là tác giả nhiều tính Thánh Thể nhất, vì nó bàng bạc khắp các diễn từ của ông, nhất là dấu chỉ “Cana”. Dấu chỉ đầu tiên của Chúa, nước biến thành rượu, báo hiệu chúng ta ở đây cử hành bí tích Thánh Thể, giao ước mới và vĩnh cửu được ký kết trong Máu Chúa, biến hoá từ rượu nho. Chúng ta chẳng cần nhắc lại Cana ngày xưa, Cana ngày nay trên bàn thờ cũng đủ để thấy hạnh phúc của mình. còn hỷ hoan nào lớn hơn ? Và thế gian sẽ khám phá ra “tín hữu đã giữ rượu ngon đến bây giờ.”

Cho nên đúng thật Thiên Chúa đã dành rượu hảo hạng, Đức Giêsu Kitô, cho thời đại này. Đáng lý nó phải sản sinh niềm vui mừng vĩ đại trong tâm hồn mỗi người. Thiên Chúa đã làm chúng ta ngạc nhiên. Không cần hoài cổ nhớ đến quá khứ, khi lòng đạo “tốt hơn”. Nhưng ngay lúc này Thiên Chúa vẫn ban thịt béo, rượu ngon, có điều chúng ta phải ý thức đón nhận ơn Ngài. Nó là hy vọng chúng ta sẽ tham dự đầy đủ hơn khi bước vào cõi phúc đời đời. Nhưng Cana thực ra là một địa chỉ bình thường với các con người bình thường và cuộc sống cũng bình thường. Chỉ có tiệc cưới khác thường một chút. Tuy nhiên biến cố Đức Giêsu và Đức Mẹ hiện diện là chìa khoá để chúng ta bước vào chuyện thiêng liêng. Giống như bạn trẻ ngày nay thường dặn nhau: “coi lại xem”. Coi lại xem cuộc sống mỗi người. Coi lại xem Chúa Giêsu ban mình cho chúng ta như bữa tiệc cưới, yêu thương và vui mừng trong các biến cố, các sự kiện, sự hiện diện của kẻ khác. Coi lại xem thánh lễ hôm nay. Coi lại xem có đúng Chúa Giêsu đang ban rượu hảo hạng cho chúng ta trong những bổn phận: làm chồng, làm vợ, làm cha mẹ, ông bà ?

Suốt năm tới, thánh Luca sẽ cho chúng ta viễn tượng suy gẫm khác về việc làm, lời nói của Chúa Giêsu mà bầu khí tiệc cưới hôm nay dẫn vào. Thánh nhân còn giúp đỡ chúng ta nhận ra ý nghĩa của cuộc đời Chúa cho chúng ta sống hằng ngày. Cuối cùng, giống như Gioan, Luca chỉ cho mọi người nhìn rõ vinh quang của Chúa Kitô, tức tình yêu hải hà của Thiên Chúa trên mỗi cuộc đời qua các kinh nghiêm vui, buồn, sướng, khổ hàng ngày. Chúng ta sẽ chúc rượu Ngài bằng cách ở lại trong lòng mến đó. Đúng là rượu béo thịt ngon phải không quý vị ? Ước chi mọi tín hữu ý thức được như vậy. Amen.


Lm. Jude Siciliano, OP
(Học viện Đaminh chuyển ngữ)

Ân sủng Thiên Chúa sẽ hoán cải chúng ta
(Ga 2, 1-11)

Bên cạnh niềm vui sướng, đâu là thái độ của quý vị đối với câu chuyện Cana – câu chuyện Chúa Giêsu hóa nước ra rượu quá dồi dào cho gia đình nông thôn đang bối rối? Sau niềm vui, chẳng lẽ quý vị không thấy băn khoăn rằng “đâu là điều quan trọng?”

Trong Tin mừng của thánh Gioan, đây là phép lạ đầu tiên của Đức Giêsu – không chính xác là một hành động lạ kỳ trên sân khấu thế giới. Hầu như không phải là một phép lạ đầu tiên nổi đình đám. Thay vì vậy, Đức Giêsu biến nước thành rược trong một tiệc cưới ở thôn quê, khi họ hết một yếu tố quan trọng để tiếp tục buổi tiệc. Tôi thắc mắc không biết những tiệc cưới đó có cụng ly chúc mừng như chúng ta thường làm không? Nếu có, họ đã nâng ly chưa? Nếu không, làm thế nào họ có thể nâng ly nước lã mà chúc mừng được? Họ đã không thể nâng ly chúc mừng sự việc tốt đẹp đang diễn ra giữa họ và cũng chẳng thể nâng ly với Thiên Chúa. Nên chúng ta có thể nói “Thật là chán!”

Nhưng điều gì là quan trọng? Đây không phải là một đám cưới rất quan trọng. Thậm chí chúng ta còn chẳng biết tên của đôi tân hôn, không biết tên của thân sinh của họ, hay họ hàng, bạn bè của họ. Lịch sử chẳng bị ảnh hưởng gì vì một gia đình nông thôn vô danh bị hết rượu trong tiệc cưới. Những sự kiện lớn hơn mới làm nên những trang sử. Dĩ nhiên, trừ khi điều gì đó đã xảy ra trong câu chuyện này; trừ khi Thiên Chúa đã làm điều gì đó có ý nghĩa cho con người mà thế giới có thể coi đó là điều không quan trọng.

Một anh bạn của tôi mới đi nghỉ  ở Anh quốc về, và  kể cho tôi ấn tượng đầu tiên khi anh ấy đáp máy bay ở Luân Đôn. “Anh biết không, họ lái xe sai hướng đường!” Tôi đáp “có thể hướng bên trái không đúng với chúng ta nhưng đúng với họ.” Anh ấy tiếp “họ sơn những dấu chỉ đường tại ngã tư, ‘Nhìn bên phải.’ Nếu anh đã quen với hệ thống giao thông của chúng ta và nhìn về bên trái, thấy không có xe hơi nào chạy đến và thả chân thắng, anh có thể bị nguyên chiếc xe tải phía bên phải cán chết. Dấu hiệu có thể mang nghĩa là sự khác biệt giữa sống và bị giết chết.” Anh bạn tôi đã đưa ra một sự chuyển tiếp thật dễ thương quay trở lại với câu chuyện Cana. Dấu chỉ có thể trao ban sự sống, bảo vệ sự sống và thăng tiến cuộc sống.

Quý  vị có để ý  thấy thánh Gioan không hề  gọi việc Đức Giêsu hoá nước thành rượu là  một “phép lạ” không? Thay vào đó, ngài đặt tên cho hành vi này là “dấu đầu tiên [của Đức Giêsu] tại Cana miền Galilê.” “Dấu” đầu tiên này mang tính mặc khải. Nó chỉ cho chúng ta biết Đức Giêsu và Thiên Chúa, Đấng đã sai Người đến. Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta biết về ý muốn và tấm lòng của thiên Chúa; ý định của Thiên Chúa đối với chúng ta. Những gì Người mạc khải cho chúng ta lý do để ăn mừng. Rượu, chứ không phải nước lã, được cung cấp như thức uống của bữa tiệc cho cộng đồng bị xem là vô nghĩa đối với thế giới – nhưng quý giá đối với Thiên Chúa của Đức Giêsu.

Chúng ta đã quen những câu chuyện Tin mừng hết tuần này sang tuần khác, và chúng ta đã biết một thực tế  Tin mừng căn bản: Những điều vô  nghĩa lại có ý nghĩa trong cái nhìn của Thiên Chúa. Họ có lý do để  ăn mừng, để nâng ly rượu Cana và uống mừng Thiên Chúa của họ: Thiên Chúa của những gì không quan trọng, bị coi thường, bị chèn ép và lao công vất vả. Phép lạ này diễn ra tại Galilê giữa những người mà tôn giáo thức thời của Giêrusalem xem là bán dân ngoại. Galilê ở xa Giêrusalem, nhiều con đường thông thương đi ngang qua khu vực này và vì thế có nhiều cuộc hôn nhân khác tôn giáo với Dân ngoại. Tôn giáo của thành phố lớn cũng buộc tội người Galilê về việc làm suy giảm Dothái giáo. Hãy nhớ lại câu nói mà Na-tha-na-en nói với Philip khi ngài nói “Chúng tôi đã gặp thấy Đấng mà sách luật Môisê đã nói tới…” Na-tha-na-en hỏi Philip: “Từ Na-za-ret làm sao có cái gì hay được.” Na-za-ret thuộc miền Galilê và Na-tha-na-en nói lên cái thành kiến mà mọi người có về người Galilê.

Chúng ta cũng không quên sự hiện diện của  Đức Maria tại tiệc cưới. Đức Maria như một người dẫn giải bữa tiệc. Mẹ nói với Đức Giêsu: “họ hết rượu rồi.” Tin mừng thánh Gioan ám chỉ xa hơn những gì trình bày cho độc giả bình thường. Độc giả quen thuộc của thánh Gioan sẽ nhận thấy nơi lời của Đức Maria nói đến nhu cầu của con người, không chỉ là nhu cầu của gia đình có đám cưới đó cần rượu, nhưng là nhu cầu cần được thỏa mãn và lý do để ăn mừng.

Chúng ta có thể tự hỏi mình: đâu là thứ rượu còn thiếu trong đời tôi? Thiếu mục đích – thiếu niềm vui – thiếu cộng đoàn – thiếu sự tha thứ - thiếu bạn hữu, … Được thúc đẩy bởi lòng tín thác của Đức Maria, chúng ta đặt những nhu cầu của mình trước Chúa, “Lạy Chúa, con thiếu…” Hãy lấp đầy những thiếu thốn. Rồi chúng ta lắng nghe trong cầu nguyện lời đáp trả của Chúa. Cái gì những cơ hội mới này tự bày tỏ cho tôi? Món quà nào tôi chưa mở ra hay chưa sử dụng mà nay tôi quan tâm đến chúng? Đâu là những nhu cầu mà tôi biết rằng tôi cần có một lời đáp trả? Chúng ta lắng nghe và làm theo hướng dẫn của Đức Maria, “Người bảo gì các anh cứ làm theo.” Chúng ta có thể đáp trả những gì chúng ta nghe được vì Thiên Chúa đã gọi tên chúng ta là “Môn đệ của Giêsu,”một cộng đoàn được làm cho mạnh mẽ bởi Thánh Thần để sống lời mời gọi của chúng ta như “hiền thê” của Thiên Chúa chúng ta.

Tên của người và nơi chốn trong sách thánh thường quan trọng. Ví dụ, Êzêkien nghĩa  là “Xin Chúa làm cho trẻ này nên mạnh mẽ.” Trong Thánh kinh một số người được thay tên đổi họ. Sau khi đức Giêsu gọi Simon, tên ông được đổi thành Phêrô (nghĩa là Đá). Khi Chúa đổi tên ai đó, thường là họ được Thiên Chúa trao cho  một sứ vụ đặc biệt.

Isaia nói rằng Thiên Chúa sẽ đổi tên dân người. Họ  được cứu thoát khỏi cảnh lưu  đày Babylon, nhưng vẫn trong tình trạng tồi tệ. Họ  bị gọi là “Đồ bị ruồng bỏ” và đất của họ bị tiếng là “Phận bạc duyên đơn”. Thiên Chúa sẽ cho họ một cái tên mới, “Ái khanh lòng ta hỡi” xứ sở họ nức tiếng là “Duyên thắm chỉ hồng.” Dân không thể giúp đỡ nhưng lắng nghe niềm hy vọng và lời hứa cho tương lai của họ, vì khi Chúa đổi một cái tên thì Ngài cũng làm cho họ tương ứng với cái tên mới đó. Thiên Chúa, được gọi là “Đấng Tác Thành ngươi”, thì sẽ hoàn thành việc canh tân. Dân sẽ nên một với Thiên Chúa như cô dâu nên một với chàng rể. Sự kết hợp mới mẻ này sẽ là nguyên do cho một đất nước tầm thường, những người là đối tượng cho sự khinh bỉ, mắng nhiếc, để được hoan hỉ. Quý vị có hiểu tại sao bài đọc Isaia hôm nay được chọn để hoàn tất bài Tin mừng hôm nay không? Đó là việc Chúa khởi sự một cuộc sống mới cho một dân bị bỏ rơi, thiết lập một mối tương quan yêu thương vĩnh cửu với họ.

Lời hứa của Isaia được hoàn thành nhờ Đức Giêsu, Đấng tham dự một tiệc cưới miền quê và cho họ một lý do an mừng với những chum đầy rượu. Người bị coi là “Đồ bị ruồng bỏ” nay được nhớ tới. tại Cana, “Đấng Tác Thành” kết hôn với dân và sợi dây buộc chặt họ, chúng ta với Chúa thì không bao giờ có thể đứt lìa. Nếu ai trong chúng ta bỏ đi làm “việc riêng của mình” và cảm thấy đây là lúc trở về với Thiên Chúa, thảm đỏ trải ra, cánh cửa rộng mở và ly rượu mừng rót tới miệng đón họ về. Như ở miền Bắc chúng ta vẫn hay nói “Mời vào! Xin cứ tự nhiên như ở nhà.”

Rượu là dấu chỉ cho những người đã chịu đau khổ và  chờ đợi lâu ngày biết rằng thời đại mới của Đấng Messia đã bắt đầu. Nghi lễ thanh tẩy với những chum nước nay không còn cần thiết nữa vì đức Giêsu, rượu mới và dấu chỉ lòng thương xót của Thiên Chúa, đã đến. Nhờ Người chúng ta có thể được thanh tẩy bên trong , Đấng Tạo Thành đã biến chúng ta nên mới.

Thánh Phaolô  đã nói đúng: có nhiều  đặc sủng của Thánh Thần. “Thần Khí tỏ ra nơi mỗi người mỗi khác vì  ích chung. Mỗi chúng ta nhận  được đặc sủng, thường là một đặc sủng cụ thể , “biểu lộ” Thánh Thần. Những ân sủng này đến từ Thiên Chúa, “nhưng chỉ một Thần Khí duy nhất ấy làm nên tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách tùy theo ý [của Người]”. Khi tôi đi giảng lễ ở các xứ đạo hoặc ở những cơ sở tĩnh tâm, tôi thấy ân sủng của Thần Khí hiện thân nơi mỗi người tôi gặp gỡ. Có những người: quan tâm đến người bệnh và già nua không nhà; tập hát ca đoàn và lĩnh xướng trong phụng vụ; công bố sách thánh; quản lý phòng thực phẩm cho người nghèo; tổ chức các ban hậu sự để lo an ủi những tang gia; tư vấn cho giới trẻ; hỗ trợ những người một mình nuôi con; chào đón người ta khi đến cử hành phụng vụ; làm nhân viên văn phòng giáo xứ, …

Vẫn  còn nhiều nữa, nhưng quý vị có được một ý niệm như thế. Gọi họ là thừa tác viên chính thức hay không chính thức của hội thánh. Nhưng chắc chắn họ là phản chiếu công việc của Chúa Thánh Thần; dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đang sống giữa chúng ta và tiếp tục biến nước thành rượu; cuộc sống bình thường thành thứ nước bổ dưỡng của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Hôm nay là một ngày tốt để công nhận và chúc phúc cho những thừa tác viên chính thức và không chính thức của giáo xứ - hội đồng mục vụ - để có thể đào sâu vai trò tư tế và ngôn sứ trong phép rửa của mỗi người.

Chúng ta cần có nhiều đặc sủng trong Giáo hội. Quả  là chán ngắt khi tất cả  chúng ta đều có cùng một đặc sủng giống nhau. Như thế, chúng ta thật tội  nghiệp, thiếu thốn biết bao! Danh sách liệt kê các ân sủng của thánh Phaolô chưa phải là đầy đủ vì ngài cũng đã nêu tên những ân sủng khác ở những nơi khác trong thư của ngài. Ngài nhắc nhở chúng ta về Thiên Chúa, Đấng thấu biết nhu cầu của chúng ta và ban những ơn ấy cho chúng ta qua nhiều thành viên khác nhau của cộng đoàn.

Vì thế, chúng ta tự hỏi, “Ân sủng nào Chúa đã ban cho tôi? Làm thế nào tôi có thể sử dụng ân sủng ấy để phục vụ người khác?” Hay có thể nói như thánh Gioan “Làm sao tôi có thể trở thành dấu chỉ của sự hiện diện năng động của Thiên Chúa trong thế giới này? Có gì trong lời nói và hành động của tôi có thể hướng người ta đến với Thiên Chúa?”


Lm Đỗ Lực, op.

Tình Nồng
Ga 2:1-11

Ngày nay hiện tượng “ăn cơm trước kẻng” khá phổ biến trong dân gian, nhất là bên Âu Mỹ. Người ta không còn tin tưởng vào nghi thức cưới hỏi nữa. Ðúng hơn, họ quá tin tưởng khoái lạc sẽ đem lại hạnh phúc cho con người. Nếu đúng thế, tại sao ngày nay ly dị đạt tới mức độ kỷ lục như vậy ?

Ðứng trước tình hình hiện nay, có lẽ cũng không nên quy trách hoàn toàn cho giới trẻ. Ðúng hơn, phải nhận nghi thức hay luật lệ phần nào đã đánh mất nội dung và ý nghĩa đích thực. Tất cả chỉ còn là nước lã. Cuộc sống hôn nhân tẻ ngắt và buồn chán, không còn hấp dẫn nổi giới trẻ nữa. Cần phải có một cuộc canh tân thực sự mới đem lại cho hôn nhân một sức sống mới. Nhờ đó, gia đình mới hạnh phúc.

Nếu Chúa đã biến nước thành rượu trong tiệc cưới Cana, Chúa cũng có thể canh tân và biến đổi cuộc sống hôn nhân hôm nay. Cuộc canh tân đó dựa trên nền tảng tình yêu, một thực tại bắt nguồn từ Thiên Chúa. Tình yêu là động lực phát xuất niềm vui và hạnh phúc thực sự. Nhờ đó hôn nhân có sức mạnh vượt trên mọi thử thách.

Còn cuộc vui nào lớn hơn tiệc cưới Cana ? Tiệc cưới rất trang trọng và diễm lệ, vì được đón chào cả Chúa Giêsu, Mẹ Maria, anh em họ hàng và các môn đệ, nhưng không kém vẻ thân mật gia đình. Các ngài đến chung vui với đôi hôn phối tới phút chót. Hiện diện như thế, các ngài đã chia sẻ tận tình niềm vui lớn lao đó. Niềm vui càng tăng lên khi biến nước thành rượu ngon “khi khách đã ngà ngà.” (Ga 2:10)

Phép lạ đã vượt qua giới hạn một tiệc cưới. Không phải chỉ vì cứu vãn danh dự của cô dâu chú rể hay chủ tiệc, nhưng còn để “bày tỏ vinh quang của Người.” (Ga 2:11) Tất cả ý nghĩa của “dấu lạ đầu tiên” (Ga 2:11) nằm ở chỗ đó. Không phải nhu cầu đám cưới đã thúc bách Ðức Giêsu hành động, nhưng là đức tin của Mẹ Maria, Thân mẫu Người. Mẹ chỉ vỏn vẹn loan báo một sự kiện, chứ không xin gì cho chính mình.

Dĩ nhiên, chưa đến “giờ” Chúa Giêsu hành động. Mẹ biết, nhưng không hề đáp lại, chỉ lẳng lặng nói với gia nhân : “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo.”(Ga 2:5) Câu nói cuối cùng của Mẹ lại được đặt trong khung cảnh tiệc cưới, một cuộc vui lớn nhất và sâu xa nhất của con người. Thái độ trầm tĩnh qua những lời đó đã đủ để Ðức Giêsu hành động. Ðức Mẹ biết chắc chắn những gì sẽ xảy ra sau lời chứa chất đầy tin yêu đó.

Ở đây, Ðức Mẹ đã hành động ngược hẳn với thái độ của những kẻ thách thức Chúa Giêsu dưới cây thánh giá. Họ đòi Chúa bước xuống khỏi thánh giá như một dấu chỉ cho họ tin. Bình thường ai cũng cần dấu lạ mới tin. Trái lại, Mẹ Maria cho thấy đức tin làm nảy sinh dấu lạ. Ðức tin đòi chúng ta phó thác hoàn toàn nơi quyền năng đầy tình thương của Chúa. Ðức tin không đòi con người phải hành động mù quáng hay làm những việc anh hùng. Trái lại, đức tin luôn chứng tỏ qua thái độ tín thác khiêm cung. Ngược lại, một thái độ kiêu ngạo luôn làm con người tưởng mình có thể hành động thay thế Thiên Chúa. Phép lạ hay dấu chỉ là công việc đặc biệt thuộc về Thiên Chúa mà thôi.

Ðức Maria và các môn đệ đã tin như thế. Chỉ những ai tin mới có thể nhìn thấy chính con người Ðức Giêsu Kitô đã làm được những phép lạ, chứ không phải một thứ thần thông hay ma thuật nào. Nhưng Người đã không thi hành quyền năng ấy một cách ồn ào hay biểu hiện một cách phi thường ngoạn mục. Trái lại, Người kín đáo thi thố quyền năng, đến nỗi người quản tiệc cũng không biết rượu từ đâu ra. Chỉ có các gia nhân mới thấu hiểu ngọn nguồn. Bởi đâu họ được diễm phúc ấy ? Có lẽ chính địa vị thấp kém và hoàn cảnh nghèo hèn đã khiến họ có cơ hội gần Chúa và tham dự vào những việc Chúa làm để tạo nên dấu chỉ hôm nay.

Nhưng hơn tất cả mọi người, nhờ niềm tin, Ðức Maria biết Con Mẹ có khả năng làm phép lạ. Niềm tin đó mạnh đến nỗi, dù Chúa có “tỉnh bơ” trước lời cầu xin của Mẹ. Nghe Con trả lời, đáng lẽ Mẹ phải cảm thấy xa lạ, vô duyên và bực bội như “búa tạ” giáng trên đầu. Thực ra, trong cuộc sống bên nhau hơn ba chục năm trời, Mẹ biết đó chỉ là một cách diễn tả thân mật giữa Mẹ Con. Tiếng nói sâu xa của hai con tim đã tạo nên sự đồng cảm sâu xa. Người ngoài làm sao hiểu nổi ? Bằng chứng, sau khi nghe những lời cứng rắn đó, Mẹ vẫn nói như Mẹ và Con đã hiểu thấu đáo ý nhau : “Người bảo gì, các anh cứ làm.” (Ga 2:5) Kết quả đúng như Mẹ mong ước.

Sở dĩ có kết quả như thế, không phải vì Mẹ giỏi tâm lý, nhưng vì Chúa Thánh Linh lên tiếng trong Mẹ. Chúa Giêsu đã nhận ra điều đó, nên thi hành ngay, mặc dù giờ thi hành sứ mệnh cứu độ chưa đến. Thế là, nhờ Chúa Thánh Thần, Mẹ đã được vinh dự đón nhận dấu lạ đầu tiên trong cuộc đời công khai của Con. Còn gì sung sướng hơn khi biết dấu lạ đó đã làm cho các môn đệ tin vào Chúa. Nếu Mẹ không tin, làm sao họ có thể thấy được dấu lạ mà tin. Niềm tin đã sinh ra niềm tin.

Nếu có niềm tin như Mẹ, chúng ta cũng sẽ thấy Chúa Giêsu đang chuẩn bị một đại tiệc trong Nước Chúa. Bằng chứng, những dấu lạ lớn nhỏ đang xảy ra hằng ngày. Quan trọng là có đủ niềm tin để đọc thấy ý nghĩa của những dấu chỉ đó hay không. Nếu có đủ, chúng ta có thể bước theo Chúa, cùng Mẹ và các môn đệ để khám phá những điều lớn lao hơn trong Giao ước đã được ký kết trong Máu Người. Người kêu gọi chúng ta khám phá cuộc sống hằng ngày để nhận thấy những dấu chỉ sự hiện diện của Người. Tham dự một hôn lễ, Chúa Giêsu muốn chuẩn bị một hôn lễ khác – hôn lễ kết hiệp Thiên Chúa với nhân loại.(x. Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:420)

Muốn canh tân thế giới, chúng ta phải bắt đầu từ niềm tin. Không có niềm tin, không thể hy vọng Thiên Chúa biểu lộ quyền năng ban sự sống của Người. Có lúc nào thế giới cần được tái sinh và canh tân như hôm nay ? Vậy mà, niềm tin đang phai mờ và tàn lụi trong tâm hồn nhân loại ! Muốn tìm một sức mạnh canh tân và tái sinh nhân loại, trước hết phải nỗ lực cầu xin Thiên Chúa ban Thần Khí, vì “Thần Khí như một thứ rượu nồng sẽ khiến chúng ta quên đi những quy tắc sáo mòn và những tín điều hẹp hòi của chúng ta.” (Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:420) Chúa Giêsu không dùng nước bình thường, nhưng là thứ nước đã đổ vào sáu chum theo thói tục Do thái dùng vào việc thanh tẩy. Chúa muốn canh tân não trạng của những người đã sống lâu năm trong nghi thức đạo đức vô hiệu lực và đầy giả tạo đó.

Tôn giáo đích thực không bao giờ đồng hóa với những nghi thức như thế. Người Do thái lo lắng thanh tẩy khỏi những điều ô uế. Họ đặt tất cả niềm hy vọng canh tân nơi các nghi thức. Nhưng họ đã thất bại. Chính Thần Khí chủ động trong việc canh tân, chứ không phải nghi thức. Nghi thức chỉ là phương tiện. Nhưng muốn Thần Khí khởi động việc canh tân vô cùng cần thiết đó, cần phải tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu Kitô. Không có Người, không thể có Thần Khí.

Lạy Chúa, xin Chúa hãy hiện diện trong cuộc sống hôn nhân của chúng con hôm nay. Xin hãy ban sức mạnh Thánh Thần để tình yêu chúng con luôn được đổi mới và sinh hoa trái tốt đẹp là hạnh phúc cho chúng con và gia đình. Amen. 14.01.2007


Máthêu Đinh Thiên Trọng OP

Xin thánh hóa đời sống hôn nhân
Ga 2, 1-12 

Kính thưa cộng đoàn,

Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu đến dự đám cưới của đôi vợ chồng trẻ tại thành Cana miền Galilê. Sự hiện diện của Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã mang lại niềm vui và hạnh phúc cho gia đình này. Mẹ Maria thấy đã thấy trước cuộc sống hôn nhân của họ có khó khăn và đang gặp chắc trở, thậm chí có nguy cơ đổ vỡ khi thứ rượu cảm thông, chung thủy và tình yêu trong họ đang dần cạn kiệt. Vì thế, Đức Mẹ đã xin Chúa Giêsu ban cho họ rượu mới là tình yêu, lòng bao dung, sự cảm thông, chia sẻ, và trên hết là rượu Tình yêu của Người.

Thực vậy, khi nói về tình yêu ai cũng biết: Tình yêu xưa như trái đất nhưng lại luôn mới trong mỗi người. Từ thưở tạo thiên lập địa, trời đất đã mang nhãn hiệu của tình yêu. Vì: “ Thiên Chúa là Tình Yêu”( 1 Ga 4,8). Tình yêu có một vai trò quan trọng trong cuộc sống, và chính tình yêu là nền tảng hạnh phúc của mỗi gia đình. Nhưng mấy ai biết được tình yêu tròn méo ra sao? Mấy ai định nghĩa chính xác được tình yêu là gì?

Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói: “ Làm sao định nghĩa được tình yêu; Có nghĩa gì đâu một buổi chiều. Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt. Bằng mây nhẹ nhẹ gió hiu hiu; Hay:“ Yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu) … Đúng vậy, tình yêu là nền tảng của hạnh phúc gia đình. Nhìn lại lịch sử cứu độ chúng ta thấy: Ngay từ đầu Thiên Chúa đã tạo nên những con người đầu tiên đó là Adong và Evà. Người đã liên kết họ lại với nhau thành một xương một thịt : “ Sự gì thiên Chúa kết hợp loài người không được phân ly” (Mc 10, 9)”. Đây là cặp vợ chồng đầu tiên trong lịch sử loài người. Hai người yêu thương nhau tha thiết và cuộc tình của họ đẹp như một giấc mơ. Gia đình họ sống trong niềm vui và hạnh phúc. Họ được hạnh phúc như vậy là do họ được sống trong ân sủng và tình yêu đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa: “ Ngày ngày Thiên Chúa đi dạo mát và đàm đạo với hai ông bà” (St 3,8)

Khi mới lấy nhau, hai người còn trong giai đoạn yêu nhau say đắm. Khi đó trong mắt chàng: em là nàng tiên; còn trong mắt nàng: anh là hoàng tử. Khi yêu chúng ta bất chấp mọi khó nhăn, gian khổ để đến với nhau. Trong tình yêu không có sự so đo tính toán, vì trong mắt họ mọi thứ của người yêu đều là tốt đẹp, thậm chí ngay cả những khuyết điểm, tật xấu của người yêu họ cũng cho là một nét đáng yêu trời ban cho. Như một chàng trai trong ca dao yêu vợ, nhìn những khuyết điểm của vợ rồi khen:

“Mũi em thì tám gánh lông, Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho; Đêm nằm thì ngáy o o, Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Đi chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm. Trên đầu những rác cùng rơm; chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu”.

Nhưng đời sống hôn nhân không phải là những tháng ngày vui vẻ, hạnh phúc. Bên cạnh những ngày hạnh phúc, vui vẻ sẽ có những ngày ảm đạm, u ám và buồn chán trong đời sống hôn nhân. Vì thế, muốn giữ được tình yêu và hạnh phúc gia đình thì chúng ta cần phải có ơn Chúa giúp. Người sẽ kéo chúng ta lại với nhau. Như lời Thánh vịnh: “ Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127, 1). Mà muốn có ơn Chúa giúp, chúng ta phải biết chạy đến cầu xin Chúa và sống gắn bó mật thiết với Người.

Lạy Chúa Giêsu nhìn vào cuộc sống hằng ngày, chúng con thấy có rất nhiều gia đình giầu có, họ có địa vị,danh vọng, tiếng tăm trong xã hội nhưng chẳng thấy họ được hạnh phúc. Vợ chồng họ như là của nợ, là gánh nặng của nhau: “ Có chồng như gông đeo cổ, có vợ như rợ buộc chân”. Gia đình họ như một nhà tù vô hình.

Ngược lại, có những gia đình rất nghèo tiền bạc, không có dang vọng, địa vị trong xã hội, nhưng cuộc sống gia đình họ ngập tràn hạnh phúc. Vợ chồng họ thục sự là đôi bạn tri kỷ, tâm đầu ý hợp. Gia đình họ tỏa ra hơi ấm tình yêu của Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin hãy đến và ở lại trong mỗi gia đình chúng con, như xưa Chúa đã đến dự tiệc cưới của đôi vợ chồng trẻ tại thành Cana. Xin Chúa chúc lành cho gia đình chúng con, xin cho chúng con luôn biết mở rộng cửa nhà để đón Chúa đến. Xin Chúa chúc lành cho mỗi thành viên trong gia đình chúng con, để tâm trí chúng con luôn biết lắng nghe lời Chúa, đôi tay luôn biết rộng mở để đón nhận tình yêu Chúa, và con tim luôn biết hướng về Chúa. Amen. 

Lm. Jude Siciliano, OP. (Anh Em Nhà Học Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ)

 

Niềm Vui Vỡ Òa

 Is 62,1-5; 1Cr 12,4-11; Ga 2,1-11

 

Kính thưa quý vị,

Có lắm lúc quý vị không thể giữ cho một ai đó im lặng được. Chẳng hạn, một người bạn lần đầu tiên lên chức bà ngoại. Chúng ta thậm chí không kịp hỏi thăm đứa con gái đang mang thai của bà. Ngay khi ngồi vào bàn cùng với chúng tôi ở nhà hàng, bà đã reo lớn tiếng thông báo rằng: “Ôi! tôi đã lên chức bà ngoại rồi đấy!” Những người ngồi ở các bàn khác quanh chúng tôi đều mỉm cười, có người vỗ tay, có người thì nói lớn: “chúc mừng bà ngoại!” Bạn tôi không những vui mừng, mà còn thấy nhẹ nhõm, vì con gái bà rất khó thụ thai. Đối với ai cũng thế, những tháng ngày chờ đợi dường như dài vô tận.

Hôm nay cũng có một lời loan báo đầy hoan hỉ như thế trong bài đọc của ngôn sứ Isaia. Niềm vui này diễn ra sau một khoảng thời gian dài chờ đợi. Phần đầu của sách ngôn sứ Isaia (chương 1-39) nói đến một dân tộc đang lưu đày. Bây giờ chúng ta đang ở phần sau của cuốn sách đó, được gọi là phần thứ ba của sách ngôn sứ Isaia (chương 40-55), lúc này dân tộc Dothái đang mong mỏi được trở về Giêrusalem, quê hương của mình. Vị ngôn sứ tựa như một thành viên trong gia đình, loan báo đầy hân hoan, nhưng không chỉ như niềm vui của một đứa trẻ ra đời, mà còn là niềm vui từ việc tái sinh của một dân tộc đã bị hủy diệt.

Một xứ sở đã từng mang tiếng là “Đồ bị ruồng bỏ!” và “Phận bạc duyên đơn.” Nhưng nay, dân tộc này đang được tái sinh và họ sẽ được gọi bằng tên mới: “Ái khanh lòng ta hỡi!” và “Duyên thắm chỉ hồng”. Vị ngôn sứ làm tôi nhớ đến một người bạn, một người mới lên chức bà, vì ngài không thể giữ tin vui đó cho chính mình, bởi lẽ “vì lòng mến Giêrusalem, tôi sẽ không nín lặng...” Lời công khai tin vui của bạn tôi lan ra khắp những người xung quanh trong nhà hàng. Niềm vui cho dân Dothái cũng vậy. Những ai biết đến nỗi gian truân trước đó của “bà ngoại” và gọi bà là “Đồ bị ruồng bỏ!” và “Phận bạc duyên đơn”, thì bây giờ họ sẽ thấu hiểu được những điều Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Dothái, đồng thời biết được mối tương quan mới giữa dân tộc này với Thiên Chúa.

Dân tộc này hiểu rằng họ bị lưu đày vì đã phạm tội thờ các thần ngoại. Do đó, một sự trở về từ miền lưu đày là niềm vui mừng còn hơn được trở về nhà. Lúc bấy giờ, đó chính là dấu hiệu họ được tha thứ và được giao hòa với Thiên Chúa. Những tên mới được ban cho họ sẽ mạc khải một mối tương quan mới và mật thiết với Thiên Chúa.

“Thiên Chúa của Cựu Ước” là Đấng nào? Ngôn sứ Isaia đã phác họa rất rõ ràng. Trong câu cuối của bài đọc một, ông nói đó chính là: “Đấng tác tạo ngươi”. Như thể Thiên Chúa đã thực hiện công trình của Người cách đây rất lâu. Nhưng Thiên Chúa không chỉ dựng nên dân này. Mà, cả khi họ phạm tội thì Thiên Chúa cũng đã đem họ trở về với Người, không phải vì miễn cưỡng, mà vì tình yêu nồng thắm của tình nghĩa phu thê. “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.” Đó chẳng phải là ngôn ngữ trong hôn nhân sao? Nhờ thế, chúng ta có thể thấy được lý do bài đọc một hôm nay được liên kết với bài Tin mừng, tiệc cưới Cana.

Có những âm hưởng của việc cử hành trong bối cảnh của bài Tin mừng hôm nay, và suy cho cùng đó là một tiệc cưới. Đó là nơi chốn và cơ hội mà thánh Gioan đã cho mọi người biết được Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai, tại một tiệc cưới. Vì đã nghe bài đọc một của ngôn sứ Isaia, nên khi bước sang lời tường thuật của thánh Gioan tại tiệc cưới Cana, chúng ta nhớ đến hình ảnh của một Thiên Chúa giữ lời giao ước với dân Người. “Ngươi được gọi: “Ái khanh lòng ta hỡi” và xứ sở ngươi nức tiếng là “Duyên thắm chỉ hồng.”

Rõ ràng thánh Gioan không chỉ đơn thuần kể cho chúng ta biết về việc Đức Giêsu cung cấp dồi dào rượu cho đôi tân hôn trong tiệc cưới tại Cana. Bối cảnh gia đình nhỏ bé này làm nổi bật lên một ký ức lớn hơn về toàn bộ dân tộc Israel, một dân tộc có mối tương quan không chặt chẽ với Thiên Chúa. Trong khi đó, Thiên Chúa lại đang thực hiện những gì ngôn sứ Isaia đã hứa khi xưa, chính Thiên Chúa đã đi bước trước để thiết lập giao ước vững bền với một dân tộc. Vì thế, một tiệc cưới là nơi phù hợp để loan báo việc Đức Giêsu bước vào công khai trong đời sống của dân tộc Israel. Chàng rể đã đến để công bố cô dâu là “Duyên thắm chỉ hồng.”

Hãy nhớ rằng, ở chỗ khác ngôn sứ Isaia cũng đã hứa: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25,6). Nhưng tiệc cưới Cana không không chỉ là một tiệc cưới tại miền quê nhỏ bé. Đức Giêsu là chủ nhà trong một đám cưới giữa Thiên Chúa với dân của Người và Đức Giêsu chính là người cung cấp ”rượu ngon.” (Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người, nhưng Người cũng cho chúng ta cái nhìn sơ lược về cánh chung, lúc đó chúng ta sẽ được dự yến tiệc với Thiên Chúa và với nhau – “trên núi này.”)

Tin Mừng theo thánh Gioan không có trình thuật về việc thiết lập Bí tích Thánh Thể. Nhưng trình thuật này là một “Tin Mừng có tính Thánh Thể” rất cao với những ám chỉ về Thánh Thể xuyên suốt trình thuật. Thánh sử đúc kết câu chuyện Cana bằng câu nói: “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người”. Thánh Thể mà chúng ta lãnh nhận hôm nay là một trong những dấu lạ Đức Giêsu tiếp tục tặng ban. Lời tiên tri của ngôn sứ Isaia được ứng nghiệm khi chúng ta họp nhau “trên núi này” và chúng ta được thết đãi “rượu ngon” để cùng uống. Đức Giêsu không chỉ là chủ nhà trong tiệc cưới Cana hay trong Bữa tiệc Thánh Thể, nhưng Người chính là của ăn và của uống cho chúng ta.

Cách đây hai tuần chúng ta đề cập rằng: lễ Hiển Linh đã mở ra một chuỗi những tỏ hiện của Đức Giêsu: trước đó là chính lễ Hiển Linh, tiếp theo là lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa tuần vừa qua và hôm nay sự xuất hiện của Đức Giêsu tại Cana. Trong tiệc cưới, thánh Gioan cho chúng ta biết: Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang của Người” cho các môn đệ, và họ “đã tin vào Người.” Đó chính là một kết thúc có hậu cho câu chuyện hấp dẫn, và còn hơn thế nữa... Khi nghe câu chuyện này, liệu chúng ta có thấy vinh quang của Đức Giêsu hay không?

Chúng ta thường dùng từ “vinh quang” để nói về sự nổi tiếng của một người, có được là từ những hành động ngoạn mục. Chúng ta cũng nói những điều tương tự như: “một bữa ăn tuyệt vời làm sao!” để khen một đầu bếp. Nhưng trong Kinh Thánh, vinh quang ám chỉ phẩm chất bên trong của một người hoặc quyền năng làm cho người khác tỏ lòng kính trọng. Vinh quang là thuộc tính phù hợp nhất với Thiên Chúa tựa như ngày nay chúng ta chúc tụng ca khen Thánh Thể, “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời.”

Phép lạ tại Cana đã mạc khải về phẩm chất bên trong và căn tính đích thực của Đức Kitô. Phép lạ đó cũng giúp chúng ta nhìn thấy sự tỏ hiện vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Thánh Gioan hứa còn nhiều vinh quang hơn nữa sẽ đến và sẽ có nhiều “dấu lạ” khác để biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Chúng ta sẽ rảo qua Tin Mừng theo thánh Gioan với ân sủng bên trong mà phép rửa mang lại cho chúng ta – tất cả những con đường dẫn đến vinh quang đều được tỏ lộ nơi Đức Kitô trên thập giá. Vì thế, ở đoạn kết ở tiệc Cana, khi trình bày việc Đức Giêsu tỏ lộ vinh quang của Người cho các môn đệ, thì thánh Gioan hướng chúng ta đến cuộc khổ nạn khi “giờ” của Đức Giêsu đến.