| |
LỄ
MÌNH MÁU THÁNH
St 14:18-20 / 1 Cr 11:23-26 / Lc
9,11b-17
An Phong op : Điều Cần Duy Nhất
Fr. Jude Sicilianô, op : Thánh Thể, lương thực làm
no thỏa mọi khát vọng
Fr Jude Siciliano, op : Thánh thể : nguồn mạch sự
thánh thiện
Vạn Phúc : Thánh Thể và Truyền Giáo
G. Nguyễn Cao Luật, op : Bánh Ăn Hay Là Tình Yêu
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Mầu nhiệm đức tin
Fr. Jude Siciliano, op. : Hãy Nhận Lấy Mà Ăn : Này Là Sự Sống Của Con
Phêrô Lê Chí Thời op : Xin Cho Con Biết Cho Đi Hơn
Là Nhận Lãnh
Đỗ Lực op : Con Đường Giải Thoát
Fr. Jude Siciliano, op Yến tiệc thỏa cơn đói con
người
Fr. Jude Siciliano,
op:
Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy
An Phong op :
Điều
Cần Duy Nhất
Hằng ngày hằng giờ, trên khắp thế giới,
Giáo hội vẫn không ngừng cử hành bí tích Thánh Thể, để tạ ơn, để xin
bình an, để cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời… Đời sống đức Tin của
Giáo hội, của mỗi người kitô hữu Công giáo luôn gắn liền với bí tích
tình thương này.
Thánh Thể quả là một kho tàng phong phú
vô tận để nuôi sống đức Tin và đức Mến.
Trong mỗi Thánh lễ, Chúa Giêsu lại đang
tiếp tục mời gọi chúng ta “Hãy cầm lấy mà ăn”, mời gọi chúng ta đến dự
tiệc với Người, mời gọi chúng ta hiệp thông với cuộc tử nạn và chia sẻ
sức sống Phục sinh của Người. Như thế, hằng ngày và hằng ngày, qua mỗi
Thánh lễ, người kitô hữu được mời gọi để biến đổi cuộc sống của mình
trong sức sống của Chúa Giêsu; thánh hóa cuộc sống mình trong Máu Chúa
Giêsu; và đưa tất cả cuộc đời mình vào dòng lịch sử ơn cứu độ của Thiên
Chúa.
Mời các bạn cùng chia sẻ một chút tâm
tình của một kitô hữu trước mầu nhiệm Thánh Thể :
Ngài đã xuống tận đáy lòng con.
Xin cho con chỉ để tâm xuống tận đáy lòng con.
Ngài là thượng khách của lòng con.
Xin cho con bước vào nhà là chính đáy lòng con.
Ngài chọn cư trú trong lòng con.
Xin cho con biết ngồi yên ngay tại đáy lòng con.
Duy Ngài ở lại trong con.
Xin cho con biết chìm sâu, lắng xuống đáy lòng con.
Duy Ngài hiện diện trong con.
Xin cho con biết xóa mình khi Ngài ở bên con.
Khi con đã gặp Ngài.
Con còn là gì nữa ? Và Ngài như thế nào ?
Khi con đã gặp Ngài. Không còn con và
Ngài nữa.
Con chẳng là gì cả, và Ngài là tất cả;
Đây là một huyền nhiệm : chỉ còn Ngài hiện hữu.
(Phỏng theo Swami Abhisiktananda)
Lạy Chúa Giêsu đang ngự trong bí tích
Thánh Thể,
Xin cho mỗi người chúng con,
khi được đón rước Chúa,
cũng nhận ra ở đây
một tình thương yêu muốn chia sẻ;
một tình yêu thương
biết quan tâm đến người khác;
một tình yêu thương
chấp nhận bẻ cuộc đời mình ra cho tha nhân.
Fr. Jude Sicilianô, OP. (2005)
Thánh Thể, lương thực làm no thỏa mọi khát
vọng
(Ga 6, 51-58)
Thưa quý vị,
Phúc âm thánh lễ hôm nay thuật lại cuộc
bàn tán của các thính giả Do thái khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố thịt Ngài
là của ăn, máu Ngài là của uống (c. 55). Họ nói : “Làm sao ông này có
thể cho chúng ta ăn thịt của ông ta được ?” Theo kinh nghiệm dân gian,
điều thắc mắc xem ra có lý. Chính vì vậy, thánh Gioan kể tiếp : Nhiều
môn đệ rút lui, không theo Ngài nữa. Vài kẻ khác phàn nàn : “Lời này
chướng tai quá ! Ai mà nghe nổi ?” Sự bất đồng thực ra không chấm dứt
vào cuối thế kỷ I trong cộng đoàn thánh Gioan, mà còn kéo dài mãi cho
tới ngày nay. Gần đây tôi được một linh mục bạn kể cho nghe câu chuyện
về chính ông. Một giáo dân xông vào nhà xứ nhạo cười đức tin của ông.
Hắn nói : “Làm thế nào bánh và rượu có thể biến thành Mình và Máu Chúa
Kitô mà linh mục tuyên bố hằng ngày ? Có lường gạt không đấy !” Bạn tôi
trả lời : “Tôi không bao giờ lường gạt. Chuyện đó có thể và dễ thôi,
ngày ngày ông bạn chẳng ăn vào bụng cơm gạo, rau đậu, thịt cá và chúng
ta đã trở nên da thịt của ông bạn đó sao ?” Người giáo dân say rượu
không chịu thua : “Vậy cái xác to béo của Chúa Giêsu làm sao ở trong tấm
bánh nhỏ xíu được ?” Cha xứ trả lời : “Khó gì đâu ! Cả một phong cảnh
rộng lớn trước mắt ông bạn chẳng lọt vào tròng mắt nhỏ bé như viên bi
của chúng ta sao ?” Người giáo dân ương gàn tiếp : “Thế làm sao một
Giêsu lại có thể hiện diện khắp các nhà thờ trong cùng thời gian được ?”
“Dễ ợt ! như vậy này !” Linh mục cầm một tấm gương soi giơ lên trước mặt
đỏ gay của người thanh niên để hắn nhìn vào, rồi mém tấm gương xuống sàn
gạch, tấm gương vỡ tan thành trăm mảnh. Linh mục bảo người tín hữu cúi
xuống nhìn xem trăm mảnh vỡ, nói : “Mặt bạn chỉ có một nhưng bây giờ bạn
thấy bao nhiêu ?” Người vô tín cúi mặt bỏ đi. Câu chuyện như vậy xem ra
không hiếm trong thời đại chúng ta ! Nhất là nơi những thanh niên thiếu
nữ va chạm với các môi trường thiếu niềm tin tôn giáo, như trường học,
nhà máy, xí nghiệp, công trường, …
Người Do thái tuy ăn bánh vật chất Chúa
cung cấp, nhưng lại thấy giáo lý của Ngài quá đáng, khó có thể chấp nhận
(dù đó là sự thật). Họ ăn bánh nhưng không có khả năng thâm nhập ý nghĩa
mầu nhiệm Chúa gởi gắm vào những tấm bánh đó. Ngay cả chúng ta ngày nay,
mặc dù tốn biết bao giấy mực giải thích, vẫn chưa thật lòng tin vào lời
Chúa Giêsu. Nếu tin, chắc hẳn chúng ta đã thay đổi nếp sống. Theo dòng
lịch sử, vẫn thường nổi lên ý kiến cho rằng Ngài phát biểu như vậy là
theo nghĩa biểu tượng, tức hình bóng mà thôi. “Bánh bởi trời” là ngôn
ngữ văn chương của nhiều truyền thống thời Chúa Giêsu. Ngài mượn để nhấn
mạnh người ta phải hấp thụ sự khôn ngoan mà Ngài đang giảng dạy. Lại còn
số người khác thông thạo tiếng Hy lạp cho rằng theo ngôn ngữ thì phải
thực sự ăn thịt và uống máu Ngài một cách thể lý chứ không theo kiểu bí
tích như Hội thánh xưa nay vẫn chủ trương.
Dù được hiểu thế nào đi nữa, Chúa Giêsu
muốn kết hiệp mật thiết với tín hữu, không khoảng cách nào được cho phép.
Lấy trên tay, ăn như bánh, uống như rượu và tan biến thành một thực thể.
Đám đông Do thái đã ăn bánh vật chất Chúa Giêsu ban thế nào, thì cũng là
điều Ngài muốn các tín hữu rước Ngài như vậy vào lòng. Chúng ta phải
được nuôi dưỡng bằng chính thân thể Ngài. Ngài chính là bữa tiệc thịnh
soạn Thiên Chúa ban cho loài người để được sống muôn đời. Một tác giả
người Pháp đã viết : “Le repas des adieux de Jesus va se changer en un
festin de présence éternelle”(bữa tiệc ly của Chúa Giêsu đổi thành yến
tiệc của sự hiện diện đời đời). Một tư tưởng chân thật và thâm thuý cho
những ai yêu mến Thánh thể. Nó chứa đựng tràn trề hy vọng cho những lữ
khách trần gian. Ngài là bữa tiệc ban sự sống vĩnh cửu, không phải như
những bữa ăn tạm thời nơi trần thế. Ngài ao ước ban Mình Máu Ngài cho
chúng ta toàn vẹn và vĩnh cửu. Ngài quá gần gủi với mỗi tâm hồn đến độ
trở nên làm một hữu thể, một sự tồn tại. Có lẽ vì thế mà các thính giả
cảm thấy lời Ngài là quá đáng chăng ? Bởi lẽ Ngài đã ban tặng như vậy,
chúng ta phải làm điều chi đó để đáp trả ?
Giả như Thiên Chúa còn có ý định giữ một
khoảng cách nào đó, như các thần linh khác, thì có lẽ Giáo hội được tổ
chức khác đi, với nhiều hoạt động hoành tráng hơn, lễ vật thịnh soạn hơn,
thịt béo rượu ngon, hương thơm ngào ngạt hơn, như trong Cựu ước. Lúc ấy
tín hữu có thể rộng đường hành động, bởi lẽ không nhiều đòi hỏi đáp trả.
Nhưng được tiêu hoá Thiên Chúa, tan biến vào Thiên Chúa thì quả là việc
vựơt xa trí tưởng tượng của loài người. Rồi phải đáp trả bằng dâng hiến
toàn thân làm hy lễ tình yêu cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân hết khả
năng, thì đúng loài người không thể làm nổi. Có lẽ vì vậy mà đám đông
cằn nhằn sau lưng Chúa Giêsu. Nhưng trong lịch sử Israel, Thiên Chúa đã
nuôi sống họ bằng Manna suốt 40 năm trường nơi sa mạc khô cằn và Chúa
Giêsu đã nuôi đám đông đói khát bằng hai phép lạ nhân bánh lên nhiều,
thì Ngài tặng ban mình làm của ăn, của uống nuôi dưỡng nhân loại trên
đường hành hương về Nước trời không phải là vô lý. Tác giả Abbé Paul
viết trong cuốn “Les Merveilles de l’amour Miséricordieux” (Phép lạ của
tình yêu thương xót) : “Trái tim Chúa Giêsu đã thực hiện một kiệt tác
của tình yêu, đó là phép Thánh thể. Phép Thánh thể rút ra từ Thánh Tâm
Chúa như giòng sông từ nguồn mạch.”(trang 293). Chúng ta lại gặp một tư
tưởng lớn hết sức an ủi. Những người có thói quen suy niệm sẽ nhận ra
đây là một kho tàng phong phú cho việc chiêm niệm : Nguồn mạch của bí
tích Thánh Thể chính là Thánh Tâm Chúa, Thánh Tâm đã bị đâm thâu vì yêu
dấu nhân loại, máu cùng nước tuôn trào để làm phát sinh ơn cứu độ, phát
sinh các bí tích, đứng đầu là Thánh thể. Nuôi dưỡng bằng thịt máu Chúa
không thể có hiệu quả nào khác ngoài sự sống muôn thuở và ở lại vĩnh
viễn trong Ngài.(trừ phi chúng ta cố tình đuổi Ngài đi). Và Ngài ở lại
trong chúng ta, không như khách trọ nhưng là người cư trú vĩnh viễn.
Thức ăn của uống Ngài ban không bao giờ mai một và làm cho kẻ ăn lại đói.
Ngược lại, nó làm no thoả cơn đói nhiều mặt của cuộc sống con người.
Lễ trọng hôm nay về của ăn thức uống,
đương nhiên cũng về kẻ đói người khát. Thức ăn của uống là để thoả mãn
các cơn đói khát của chúng ta. Nhưng thế giới ngày nay tạo nên nhiều
kiểu đói khát mà chúng ta chẳng hề hay. Các quảng cáo, các nhà hàng, các
tiếp thị, các hãng xưởng liên tục đưa ra xã hội khát vọng mua sắm : Kiểu
xe hơi mới nhất với đầy đủ tiện nghi sang trọng, chiếc truyền hình màn
phẳng siêu mỏng rỏ nét nhất, điện thoại di động đa chức năng, máy vi
tính “Laptop”siêu tốc, quần nhung áo lụa Trung quốc hàng hiệu. Trăm ngàn
thứ cám dỗ làm khuynh đảo lòng người, nhất là thanh niên thiếu nữ mới
lớn, chưa có kinh nghiệm về cạm bẫy xã hội. Những thuốc “lắc” liều lượng
Viagra, dược phẩm có tác dụng trẻ hoá mười năm, hai mươi năm đầy tràn
thị trường, … Nhưng khi tiêu xài, thoả mãn rồi, thì lại nảy sinh khao
khát khác. Tình trạng kể như vô tận, bởi dục vọng loài người xem ra
không hạn định, càng được thoả mãn nó càng đòi hỏi. Tuy nhiên, Thiên
Chúa luôn quan tâm đến những nhu cầu của chúng ta, không phải thứ đói
khát vừa được liệt kê ở trên, chúng giả tạo nhưng là thứ đói khát căn
bản hơn. Tận đáy linh hồn chúng ta có những khát vọng chân thật như tự
do, công bằng, yêu và được yêu, hạnh phúc, tín ngưỡng, nhất là được sống
mãi mãi. Tác giả Jim Wallace đề nghị nêu lên những điểm sau đây :
Thứ nhất: khao khát thánh thiện hay nói
theo kiểu phổ thông là nhân phẩm vẹn toàn. Nó nằm ở tận đáy chiều sâu
của con người, Chúa Giêsu đã từng kêu gọi chúng ta thoả mãn khát vọng
này : “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em ở trên trời là Đấng hoàn
thiện.”(Mt 5, 48). Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào khát vọng này dưới ánh
sáng của Tin mừng hôm nay. Chúa Giêsu ban tặng bản thân Ngài cho chúng
ta làm của ăn thức uống chủ yếu để thoả mãn ước ao vẹn toàn nhân cách
của nhân loại. Các phân tích xã hội đồng ý chỉ ra rằng con người tân
thời bị vụn vỡ rất nhiều. Họ phân chia linh hồn trong nhiều lãnh vực
kinh tế, chính trị, xã hội, nghệ thuật, bè phái, ý thức hệ. Họ ít còn
khả năng sống cho chính mình, vì vậy liên tục tìm kiếm ý nghĩa vẹn toàn
cho sự tồn tại của mình. Thực tế, các nhà tâm lý học gọi người thời nay
tâm thần phân liệt, nghĩa là yếu đuối, mỏng giòn, dễ tan ra từng mảng
vụn, không dễ nhất quán trong công ăn việc làm, quan điểm và nhân cách.
Cho nên, thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta : “Chén chúng ta chia sẻ là dự
phần vào Máu thánh Chúa Kitô, và bánh chúng ta bẻ ra không phải là tham
dự vào Thân thể Người sao ?” Trong bữa ăn này, chúng ta hiệp nhất với
Chúa và liên kết với nhau trong sự thánh thiện chung hay nói cách khác,
trong sự toàn vẹn của nhân phẩm loài người, triệt tiêu mọi sự chia rẽ do
tội lỗi gây ra. Đức giáo hoàng Phaolô VI nói ở Orvieto ngày 11- 08-1964
rằng : “Con người thời nay, cũng như con người hôm qua luôn cần đến Chúa
Kitô để thoả mãn khát vọng tự do, trưởng thành và tiến bộ xã hội, hoà
bình thế giới và mở rộng các ước mơ của mình. Họ cần Chúa Kitô, bởi vì
chỉ mình Ngài mới có thể hoà hợp chúng với chân lý và cuộc sống”. Qua bí
tích Thánh thể, điều mà quá khứ Chúa thực hiện cho các giáo dân thì bây
giờ Ngài vẫn làm thành hiện tại và sống động nơi mỗi linh hồn chúng ta.
Đó là ơn cứu rỗi, sự thánh thiện và tính vẹn toàn nhân phẩm của chúng ta.
Khát vọng thứ nhất của nhân loại đã được thoả mãn.
Sự đói khát thứ hai lôi kéo chúng ta đến
bàn tiệc Thánh thể là đói khát ý nghĩa đời sống. Không khoái lạc nào,
không việc mua bán nào có thể thoả mãn ước vọng này. Hãy nhìn vào những
kinh hoàng, những bạo lực, những chiến tranh, những hình thức khác của
tàn phá như khủng bố, giết người, thiên tai chúng ta sẽ phải ngạc nhiên
đặt câu hỏi : “Tất cả những điều này có nghĩa làm sao ?” Câu trả lời khó
mà tìm thấy giữa những hỗn loạn của thế giới, giữa những ồn ào của xã
hội loài người. Nhưng giây phút chia sẻ bánh và rượu đã trở thành Mình
và Máu Chúa Giêsu cho chúng ta không gian thực tế để nhận ra ý nghĩa của
cõi nhân gian này. Bởi vì Mình và Máu thánh Chúa nối kết chúng ta với
cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Đấy là ý nghĩa của
cuộc đời mỗi người. Nó tập hợp chúng ta thành một dân tộc với một tương
lai rõ ràng : Thi hành thánh ý Thiên Chúa trên cõi trần gian. Không có
lý tưởng nào cao đẹp hơn. Có thể trong cuộc sống chúng ta chẳng tìm được
câu trả lời. Nhưng tiếp xúc với Chúa Kitô chúng ta được Ngài giúp đỡ để
nhìn ra ý nghĩa của niềm vui nỗi khổ của mình qua tối tăm của biển đời
trần thế.
Tác giả Wallace còn kể ra một loại đói
khát nữa liên hệ với thánh lễ hôm nay, là ước mong được thuộc về cộng
đoàn, được liên lạc ấm áp với tha nhân. Ước vọng này cũng nằm sâu thẳm
dưới đáy con tim mỗi người. Ai ai cũng sợ nỗi cô đơn, trốn tránh những
giây phút lẻ loi. Vì thế, người ta ưa tìm đến các tụ điểm, những chỗ ăn
chơi như quán trà, cà phê, tửu điếm và trở nên trác táng. Chúa Giêsu
giúp đỡ chúng ta tránh xa sự hoang vắng vô bờ nên đã tuyên bố : “Những
ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người
ấy.” Bữa tiệc thánh chúng ta tham dự hằng ngày nối kết chúng ta, không
những với Chúa Giêsu, mà còn với tất cả mọi tín hữu trên thế giới cùng
ăn uống hôm nay như chúng ta. Tất cả đều trở thành bạn đồng hành. Tiếng
La tinh bạn đồng hành là companio, gồm hai từ ghép lại với nhau : từ com
= cum = có nghĩa cùng nhau và panis nghĩa là bánh. Companio là cùng ăn
bánh với nhau. Do việc ăn bánh và uống rựơu trên bàn tiệc thánh, Chúa
Giêsu dọn cho, chúng ta họp thành một cộng đoàn cùng hành hương về nhà
Cha. Chúng ta tuyên bố mình không cô đơn, ngược lại, liên kết với nhau
khăng khít như anh em ruột thịt qua phép Rửa tội và Thánh thể. Chúng ta
dấn thân phục vụ nhau như thành phần của một thân thể.
Hơn nữa, Mình Máu thánh Chúa còn nối kết
chúng ta với những người đã qua đời, những tổ tiên trong đức tin. Họ
cũng từng ăn và uống Mình Máu Ngài và hiện đang dự yến tiệc trên thiên
quốc. Họ là những đấng thánh. Trong nghĩa này, họ cũng là bạn đồng hành
(companio) với chúng ta trên hành trình về quê trời. Họ cầu nguyện cho
chúng ta, nêu gương sáng cho mọi người bằng chính đời sống mình. Họ
khuyến khích chúng ta bước đi vững chãi trên con đường thánh thiện và
cầu mong mọi người đều sum họp. Như thế, mối giây thân ái yêu thương của
bí tích Thánh thể ràng buộc chúng ta với Chúa Kitô và các tín hữu khác
không hề bị bẻ gãy, dù là sự chết. Nó bền vững muôn đời. Tử thần không
thể nuốt chửng chúng ta được, đúng như lời Chúa Giêsu tuyên bố : “Ai ăn
bánh này thì sẽ sống muôn đời.” Ước mong các tín hữu cảm nghiệm được
thông điệp chân thật của Chúa Giêsu trong thánh lễ hôm nay. Amen.
Fr Jude Siciliano, op.
Thánh thể : nguồn mạch sự
thánh thiện
(Lc 9,11-17)
Thưa quý vị. Một người trong nhóm soạn
bài giảng của chúng tôi xung phong triển khai đề tài Thánh Thể của chúa
nhật này. Ông khoe, chắc chắn sẽ tìm ra tài liệu để giúp đỡ mình. Tôi
nghĩ chẳng nên làm thế. Hãy để bản văn ngày lễ tự nói lên ý nghĩa và
Thánh Thể soi sáng chúng ta những tư tưởng mới về Mình Máu Thánh Chúa.
Một trong những tư tưởng ấy là nhìn vào sự đói khát trong cộng đồng
chung quanh và trên toàn thế giới. Rồi nhìn xem các bản văn chúa nhật
này giải quyết vấn đề ra sao? Thực ra loài người luôn ở trong tình trạng
đói khát, đói vật chất và tinh thần. Hình thức nào cũng khủng khiếp. Báo
chí hàng ngày đăng tải những tin tức não lòng về đói kém. Hiện thời ở
Phi Châu, già nửa dân số sống dưới mức nghèo khó tức khoảng 1 đôla một
ngày. Ở Châu Á, tình hình không sáng sủa hơn. Theo báo cáo của LHQ thì
2/3 thế giới là nghèo khó, thêm vào đó, loạn lạc, chiến tranh ngày càng
đẩy một số lớn nhân loại vào cuộc sống bần cùng không cửa không nhà. Số
dân tị nạn hiện thời khoảng 13 đến 15 triệu người. Một con số không thể
tưởng tượng nổi, nhưng đó chỉ là hình thức thống kê, thực tế còn vượt xa
hơn nhiều.
Lễ Mình Máu Thánh Chúa được thiết lập vào
1264 với chủ ý tôn thờ Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Từ
thời ấy khắp mọi nơi trên thế giới, lễ được mừng rất long trọng, gây
nhiều cảm hứng và lòng tôn sùng nơi các tín hữu. Có các cuộc rước kiệu
Thánh Thể, các buổi chầu Mình Thánh trọng thể, kéo dài hàng chục thế kỷ
cho đến công đồng Vatican II. Phải công nhận rằng lòng tôn sùng Thánh
Thể đã đào tạo nên những vị thánh lớn cho Giáo Hội; ngày nay lòng sùng
kính này có phần giảm sút cho nên người giáo dân không thấy rõ được mối
quan hệ hữu cơ giữa Giáo Hội và Thánh Thể. Họ ít làm việc thờ kính Thánh
Thể cho nên ít thấy Thánh Thể là thân mình Đức Kitô tức là Hội Thánh.
Thật là một điều đáng tiếc!
Câu chuyện trước phân đoạn Phúc Âm hôm
nay là các tông đồ trở về từ sứ mạng rao giảng, họ muốn nghỉ ngơi và
Chúa Giêsu truyền cho họ lánh vào một nơi vắng vẻ như thánh Luca ký sự:
“Các tông đồ trở về thuật lại cho Đức Giêsu những việc các ông đã làm.
Người đem các ông đi riêng với mình lui về thành kia gọi là Bétsaiđa” (Lc
9,10). Nhưng dân chúng đã khám phá ra các ngài và họ kéo đến rất đông.
Chúa Giêsu đón nhận họ và rao giảng về nước trời cho họ nghe đồng thời
chữa lành những bệnh nhân họ đem tới (Lc 9,12). Nói cách khác, Chúa
Giêsu trông thấy rõ và giải quyết mọi nhu cầu của dân chúng, phần xác
cũng như phần hồn. Đám người này thuộc giai cấp bình dân, nghèo khổ và
chất phác, bởi lẽ theo tục lệ, người Do Thái giàu có đi đâu xa cũng mang
theo giỏ thức ăn đủ cho hai đến ba ngày đường. Mục đích là không phải ăn
những đồ dơ bẩn của dân ngoại. Phúc Âm hôm nay kể: “Ngày bắt đầu tàn,
nhóm mười hai đến bên Đức Giêsu, thưa Người rằng: xin Thầy cho đám đông
về, để họ vào các làng mạc, nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm
thức ăn” nghĩa là đám đông hoàn toàn không mang theo thức ăn như tục lệ;
họ nghèo khổ, không có dư để dự phòng, nhiều người có thể đói lả nếu
Chúa không giơ tay cứu giúp. Tuy nhiên họ không phải là hạng phàm phu
tục tử, chỉ chăm lo cho cái bụng. Trước tiên họ đói khát Lời Thiên Chúa
và đến nghe Chúa Giêsu loan báo về nước trời, tiếp theo là được chữa
lành. Nhưng không phải chỉ có thế; họ đại diện cho toàn thể nhân loại
đứng ra xin Chúa nuôi dưỡng, bởi vì loài người thường khi thất bại trong
nhiệm vụ nuôi nấng lẫn nhau. Lúc ấy trời đã bắt đầu tối.
Và một trong những góc “tối” của nhân
loại là đám người đói khát. Theo tính toán của các nhà kinh tế, thế giới
này có đủ lương thực cho những người nghèo khó nếu như người ta biết
phân phối cho đồng đều. Nhưng thực tế không được như vậy, các nước Tây
Âu giàu có sản xuất dư thừa thực phẩm nhưng hoặc huỷ đi hoặc được chính
phủ trợ cấp để bỏ hoang đồng ruộng chứ không cung cấp cho những nước đói
nghèo. Vì thế những người có chút ít lương tâm đã lập ra phong trào
“Bánh ăn cho thế giới” (Bread for the World). Một mặt xuất bản các tin
tức về tình trạng đói nghèo trên thế giới để đánh thức lương tâm nhân
loại; mặt khác tích cực quyên góp để trợ giúp các quốc gia đói ăn. Phúc
Âm hôm nay Chúa Giêsu sau khi cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, đọc
lời chúc tụng, Ngài đưa cho các môn đệ, để các ông phân phát cho dân
chúng và mọi người đều ăn no nê. Tức các môn đệ lãnh trách nhiệm “phân
phối” lương thực cho đám đông. Ngày nay, Giáo Hội cũng lãnh trọng trách
đó, nhưng không phải chỉ về phương diện thiêng liêng mà thôi nhưng còn
về vật chất nữa. Một nhà cách mạng nổi tiếng đã từng nói: “Không sợ
thiếu, chỉ sợ phân phối không công bằng”. Thực tế trong Hội Thánh nếu
chúng ta có lòng thương yêu đích thực, thì chắc chắn không ai phải chịu
số phận túng quẫn quá đáng. Một mình mẹ Têrêsa thành Calcutta đã có thể
giúp đỡ và nuôi sống hàng ngàn người hấp hối trên thế giới. Mẹ không lo
thiếu mà chỉ lo thi thố lòng bác ái. Trong nhiều giáo xứ nếu các hội từ
thiện hoạt động tốt thì giáo xứ giảm hẳn con số người nghèo. Nhiều chính
phủ hiện nay đang phát động phong trào xoá đói giảm nghèo và kết quả rất
là khả quan, có thể giảm tới một nửa số hộ nghèo; chúng ta nên tích cực
tham gia vào các chương trình đó. Nếu thực hiện tốt công việc này chắc
chắn hình ảnh Chúa Giêsu nuôi dưỡng đám đông sẽ được cảm nghiệm rõ nét
trong cộng đồng nhân loại.
Chúng ta sẽ không còn hành động như các
tông đồ thuở xưa, giải pháp dễ dàng của họ là: Xin Thầy giải tán đám
đông để họ tìm lấy chỗ trọ và thức ăn. Nhưng Chúa muốn điều ngược lại:
“Anh em hãy cho họ ăn đi”. Giữa hoang địa thì lấy đâu ra của ăn mà nuôi
sống năm ngàn người đàn ông không kể đàn bà con trẻ. Chúa đã giảng cho
họ về hạnh phúc nước trời, bây giờ là lúc thể hiện nội dung đó. Người đã
chữa nhiều bệnh tật thì vấn đề nuôi sống đám đông không phải là khó;
Nước trời phải được cụ thể nhìn thấy. Tuy nhiên, các môn đệ vẫn còn mù
tối và chưa thực sự tin vào lời rao giảng của thầy mình. Chúng ta cũng
vậy, đã dám can đảm đánh đổi cuộc đời với những dấu chỉ của lòng tin? Đã
dám hy sinh những tiện nghi, lợi lộc cho lý tưởng mình rao giảng? Hay
chỉ đề nghị người khác theo Chúa còn mình thì không ?
Trước phép lạ Chúa Giêsu, các tông đồ đã
được chữa lành về phần thiêng liêng, họ đã tận mắt chứng kiến Chúa Giêsu
thoả mãn nhu cầu “đói khát” của đám đông. Trước hết Ngài truyền chia họ
ra từng nhóm nhỏ: “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm
mươi người một”. Để làm chi ? Đó là những cộng đoàn thân thiện, biết về
nhau, chung tình thân ái, cùng dự bữa ăn Agapé, chứ không phải một bữa
ăn khổng lồ, kẻ thì cao sang, kẻ lại vô danh tiểu tốt, nghĩa là còn loại
trừ nhau và xa lạ với nhau. Nhưng đây là những cộng đoàn bác ái cùng
chung chia bữa ăn bình đẳng, người cao chức vị không được phần hơn, còn
người bé nhỏ cũng không phải chịu thiệt thòi. Mọi người đều được ăn no
nê, phần dư người ta thu được mười hai thúng đầy. Giống như các tông đồ
xưa. Chúng ta hôm nay cũng được chữa lành khỏi những bệnh mù thiêng
liêng, không còn kỳ thị thấp cao, giàu nghèo, sang hèn, người học thức
cũng như người ngu đần, da trắng cũng như da màu. Chúng ta không tách
biệt khỏi những nhu cầu của anh em đồng loại, bởi vì Hội Thánh là những
nhóm nhỏ, biết rõ về nhau, săn sóc những nhu cầu của nhau cho đến chi
tiết.
Bài học thứ hai là làm thế nào chúng ta
có khả năng nuôi dưỡng thiên hạ? Lời Chúa truyền cho các tông đồ: “Chính
anh em hãy cho họ ăn đi” không phải là một lệnh truyền trống rỗng, Chúa
Giêsu biết rõ các ông chẳng có gì ngoài năm chiếc bánh và hai con cá.
Nhưng ngần ấy cũng đủ để Ngài làm phép lạ miễn là các ông có một tấm
lòng. Trong bí tích Thánh Thể chúng ta nhận lãnh hàng ngày Đấng có quyền
năng biến đổi cuộc đời chúng ta thành phép lạ, nếu chúng ta dâng hiến
toàn thân cho Ngài, không so đo tính toán hơn thiệt. Thánh Thể có thể
chữa bệnh ích kỷ, mở mắt cho người ta nhìn thấy những phương tiện nuôi
dưỡng kẻ khó nghèo. Thế giới không thiếu lương thực nhưng thiếu lòng
nhân ái để phân phát những tặng phẩm của Thiên Chúa. Đức Giêsu hôm nay
làm gương để chúng ta noi theo: Mọi người được ăn cùng một thứ bánh,
cùng uống một chén rượu mà Ngài tặng ban và sẽ được sống muôn đời nhờ
bánh rượu đó. Vậy chúng ta có sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của mình với
tha nhân? Chia sẻ tình yêu, kiến thức, của cải? để giảm bớt sự nghèo đói
của thế giới?
Chúng ta thường có khuynh hướng lãng
quên, bí tích Thánh Thể là điểm mốc để nhắc nhớ nhân loại về những ân
huệ Chúa ban: “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy”. Nhớ đến Chúa
Giêsu bởi Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, là ơn cứu độ, là sự
phục sinh và cuộc sống muôn đời, tóm lại, là hạnh phúc của nhân loại và
từng cá nhân sinh ra trong thế gian này. Mỗi lần chúng ta tham dự thánh
lễ hay kính thờ Thánh Thể là mỗi lần chúng ta được đổi mới linh hồn, lớn
lên trong tình yêu Chúa và tha nhân cho đến khi Chúa lại đến. Thực ra
theo cái nhìn cánh chung, mỗi sáng Chúa Giêsu trở lại trong thánh lễ và
chúng ta được hạnh phúc tiếp rước Ngài. Cùng với Ngài là muôn vàn ân huệ
và hạnh phúc. Nếu sửa soạn tâm hồn cho sốt sắng và xứng đáng, chúng ta
sẽ được hưởng đầy đủ niềm vui thiên đàng như nhiều vị thánh đã từng cảm
nghiệm. Phiền vì thiếu ý thức và hy sinh nên đa phần tham dự thánh lễ
một cách máy móc, ươn lười, uể oải như bị ép buộc. Thành thử chẳng hưởng
được những kho tàng quý báu đó; hậu quả là không thể tiến triển về phần
thiêng liêng, thụt lùi hoặc dậm chân tại chỗ.
Sâu xa hơn nữa, bí tích Thánh Thể gói
ghém trọn vẹn cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đúng như thời điểm Ngài hy
sinh trên thập tự tại núi Sọ. Ngày nay người ta nghệ thuật hoá ảnh tượng
bằng tài hoa của mình trên vàng bạc gỗ quý. Thực tế lúc Ngài chịu đóng
đinh không phải như vậy. Nó là một cuộc hành hình dã man của đám lính La
Mã mất hết tính người; Ngài bị lột trần không mảnh vải che thân, đinh
đóng thấu xương, máu chảy đầm đìa, tanh hôi, ruồi nhặng bu đầy, khách
qua đường không dám nhìn, bước đi nhanh như sợ bị ô uế hoặc có người
buông lời chửi thề. Theo thói thường, cảnh tượng thê lương này kéo dài
vài ba ngày, có khi cả tuần, cho đến lúc nạn nhân tắt thở. Trường hợp
Chúa Giêsu, Ngài chết nhanh chóng đến nỗi Philatô phải ngạc nhiên (Mc
15,44). Cho nên trong thánh lễ chúng ta đừng vì những trang hoàng bề
ngoài mà làm mất tính thô kệch và gồ ghề của mầu nhiệm khổ nạn. Nó tàn
nhẫn hơn các cuộc hành quyết bằng ghế điện hay xử bắn ngày nay.
Tóm lại, lễ Mình Máu Thánh Chúa là một cơ
hội tốt để người tín hữu suy niệm về tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân
loại tội lỗi, về sức mạnh của sự dữ, về những đau khổ ngày nay mà phần
lớn nhân loại còn phải gánh chịu. Chắc chắn trong nhiều thánh đường tín
hữu sẽ được rứơc lễ dưới hai hình thức bánh rượu, bởi lẽ chủ tế (Đức
Giêsu) đã tuyên bố: Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn và uống? này là Mình
Thầy, này là Máu Thầy. Cho nên, với tất cả tâm tình thờ phượng và biết
ơn chúng ta đón nhận bánh và chén ban ơn cứu độ. Cầu xin Ngài thánh hoá
linh hồn mình, cuộc sống hàng ngày, anh chị em thân thiết và cả thế gian
như Ngài đã nói: “Máu này đổ ra cho muôn người được ơn tha tội” (Mt
26,28). Ước chi nhờ thánh lễ hôm nay chúng ta ý thức hơn sứ mạng của
mình là tích cực rao truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng Ngài đã
sống lại, cho đến khi Ngài đến xét xử trần gian. Amen.
Vạn Phúc
Thánh Thể và Truyền Giáo
Ga 6, 51-59
Anh
chị em thân mến ! Vào ngày 13.6.1993 lại bên Tây Ban Nha, trước sự hiện
diện của Đức Gioan Phaolô II, đã diễn ra một biến cố vô cùng quan trọng,
đó là lễ nghi bế mạc Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế tần thứ 45. Nguyên một
tuần lễ, Đại Hội đã xoay quanh chủ đề : "Đức
Kitô là ánh sáng muôn dân - Thánh Thể và truyền giáo".
Kể từ năm 1981 cho đến nay, khi một
thiếu nữ người Pháp đề ra một sáng kiến tổ chức Đại Hội Quốc Tế quây
quanh Chúa Giêsu Thánh Thể, thì Giáo Hội đã không ngừng làm chứng cho
thế giới thấy rằng : "Con người không thể chỉ
sống bằng cơm bánh, mà còn sống bởi mọi lời do Mtệng Thiên Chúa phán ra".
Đành rằng, cuộc sống không thể khép kín
trên trần thế này, nhưng còn phải hướng mở về những giá trị siêu việt và
vĩnh cửu. Trong tuần lễ của Đại Hội Thánh Thể ấy, những cuộc rước kiệu,
nhưng giờ cầu nguyện và thờ Lạy trước Thánh Thể, những buổi gặp gỡ và
chia sẻ từ nhiều ngôn ngữ văn hoá khác nhau đã được tổ chức một cách
thật trang nghiêm và sốt sắng.
Qua tất cả những sinh hoạt ấy của Đại Hội
Thánh Thể tần thứ 45 này, Giáo Hội muốn nêu bật một chân lý, đó là: "Đức
Kitô đang thự sự hiện diện giữa nhân loại và con người không thể sống
sung mãn được, nếu họ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi cuộc sống". Đức Kitô
là ánh sáng của muôn dân, Đức Kitô là sức sống đích thực của con người.
Đó là chân lý mà các tín hữu Kitô cam kết thực hiện và loan báo mỗi ngày.
Thật thế, trong Thánh lễ mỗi ngày, chúng
ta đón nhận lời của Chúa Giêsu như một mệnh lệnh : "Các con hãy làm
việc này mà nhớ đến Ta". Việc làm của Chúa Giêsu mà các tín hữu Kitô
phải tặp lại chính là cái chết của một con người đã hiện trọn cuộc sống
của mình cho nhân loại. Làm lại ở đây không phải chỉ làm một nghi thức
để tưởng niệm, mà chính là sống lại cái chết ấy bằng một cuộc sống dấn
thân, hy sinh, quảng đại như Chúa Giêsu.
Đó
là lý do lại sao sau mỗi tần truyền phép, người giáo dân lại phải tung
hô : "Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên
xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến". Thật ra, Kitô
giáo không phải là một tôn giáo của sự chết chóc. Người Kitô hữu chúng
ta không loan truyền một cái chết bất kỳ nào, nhưng là loan truyền một
cái chết vì yêu thương. Bằng cả cuộc sống, người tín hữu Kitô chúng ta
hiện thực hoá tình yêu của Đức Kitô, nghĩa là trở thành khí cụ của sự
hiện diện và tình yêu của Đức Kitô đối với con người.
Cũng bằng cả cuộc sống của mình, người tín
hữu Kitô Mtnh chứng cho nhân loại thấy rằng, sống đích thực là phải sống
yêu thương, sống đích thực là phải sống cho và vì Đức Giêsu Kitô, sống
đích thực là phải sống như Đức Giêsu Kitô. Tất cả mọi cử hành Thánh Thể
đều là một nhắc nhớ về tình yêu của Đức Giêsu Kitô và về cuộc sống chứng
tá của người tín hữu Kitô. Đức hồng y Mailer, Tổng Giám mục bên Đức đã
nhấn mạnh điều đó trong bài diễn văn đầu tiên lại Đại Hội Thánh Thể tần
này, Ngài nói như sau : "Việc rước lễ phải biến
đổi người tín hữu Kitô như thế nào để họ sống đức tin và thông truyền
đức tin qua những cuộc tiếp xúc với tha nhân".
Gương sáng là hình thức tốt nhất để giảng
dạy giáo lý. Các tín hữu Công giáo không phải là những tín hữu tiêu thụ
Mình Thánh Chúa Kitô, nhưng còn phải tham dự vào lối sống của Ngài nữa.
Đức tin không được thông truyền bằng những quảng cáo hay tuyên truyền,
mà phải bằng cả cuộc sống chứng tá. Đó là điều mà thánh Phaolô muốn nhắn
gởi chúng ta trong thư I gởi giáo đoàn Côrintô được Giáo Hội trích đọc
trong Thánh lễ hôm nay: "Chén chúc tụng mà
chúng ta cầm lên để chúc tụng Chúa không phải là thông hiệp với Đức
Giêsu Kitô đó sao? Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là Thân Mình
Chúa Giêsu đó sao? Vì chỉ có một tấm bánh nên chúng ta tuy nhiều người,
chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì tất cả chúng ta thông phần cùng
một tấm bánh".
Anh chị em thân mến ! Chia
nhau một tấm bánh là chính Đức Giêsu Kitô, cử chỉ này nhắc nhớ cho chúng
ta rằng sống là trao ban, sống là chia sẻ, sống là yêu thương và hy sinh
cho nhau. Sống như thế chúng ta làm chứng tá cho những người xung quanh
thấy rằng, Đức Giêsu Kitô chính là sức sống của con người và sống đích
thực là sống yêu thương.
Nguyện xin Chúa Giêsu là Tấm Bánh mà
chúng ta sắp chia cho nhau trong Thánh lễ hôm nay mang lại cho chúng ta
sức sống mới, để chúng ta tiếp tục thành chứng nhân tình yêu của Ngài.
Amen.
G. Nguyễn Cao Luật, op
Bánh Ăn Hay Là Tình Yêu
Lc 9,11-17
Đem chia những gì mình có
Lễ Mình Máu Thánh Đức Kitô được hiểu như
một đỉnh cao mà người Kitô hữu trải qua mỗi năm, bắt đầu từ lễ Giáng
Sinh, qua những ngày của cuộc Thương Khó và Phục Sinh.
Là đỉnh cao vì đây là lễ của cuộc gặp gỡ
mỗi ngày giữa Thiên Chúa và con người. Quả thế, đối với nhân loại, ơn
hiểu biết về Thiên Chúa làm người là một sự kiện làm đảo lộn mọi hiểu
biết. Đàng khác, chiến tháng dứt khoát trên sự chết và cuộc vượt qua
hướng đến Nước Thiên Chúa vĩnh cửu đã làm thay đổi toàn bộ ý nghĩa của
cuộc sống con người.
Tuy nhiên, sự kiện Thiên Chúa hiện diện
trong từng giây phút hiện tại, và dấu chỉ về sự hiệp nhất này là một bữa
ăn chia sẻ – trong đó chính Thiên Chúa trở thành lương thực, tất cả
những điều ấy là kết thúc lạ lùng xuất phát từ một thứ luận lý của tình
yêu Thiên Chúa. Người không chỉ bằng lòng với một cuộc đi qua mau lẹ
trên mặt đất của con người. Trái lại, Người biến mặt đất thành vương
quốc của Người, và dấu chỉ về giao ước này luôn là chính Người, được
trao tặng trong một bữa ăn diễn ra trong tinh thần chia sẻ.
Trong bữa ăn này, giao ước đạt tới ý
nghĩa trọn vẹn, bởi vì mỗi bên đều đem tới một chút gì đó, mỗi bên đều
góp phần của mình. Hãy đọc lại lời Đức Giêsu trong Tin Mừng: “ Chính
anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9,13).
Đức Giêsu không hiện diện ở trần gian để
biến đá thành bánh như Xatan đã gợi ý. Người đón nhận những gì con người
đem lại – năm cái bánh và hai con cá – và thường là ít hơn thế, để biến
thành của ăn nuôi cả đám đông.
Con người cũng không có mặt ở đó như
những kẻ thụ động, những người chỉ đợi chờ mà không làm gì cả ngoài việc
trông mong Thiên Chúa cho ăn cho uống.
Câu nói của Đức Giêsu là
một lời thúc đẩy mỗi người phải lên đường, mang theo cả cái bị gần như
rỗng không của mình. Mỗi người phải biết rằng đừng ăn một mình, đừng rút
vào một góc nào đó để sử dụng chút thức ăn của mình. Hãy đem lại cho Đức
Kitô những gì mình có để phục vụ mọi người.
Khi ấy và chỉ khi ấy, mỗi người đều được
no nê. Tất cả mọi người đều sống một sự sống duy nhất, một sự sống không
phai tàn, tức là sự sống của Thiên Chúa.
Bối cảnh của bữa ăn
“Đức Giêsu nói với họ về Nước Thiên Chúa.”
Cũng như trong thánh lễ, bữa ăn mà Đức
Giêsu sắp thết đãi đám đông được khởi đầu với phần “phụng vụ Lời Chúa”.
Dấu chỉ về bánh hàm chứa một biểu tượng sâu xa; và người ta phải tìm
tới ý nghĩa vượt lên trên thực tại vật chất. Lương thực sắp được tặng
ban không chỉ có mục đích làm cho con người hết đói. Con người cũng
không chỉ sống nhờ cơm bánh. Họ không chỉ đót khát lương thực trần gian.
Liệu họ có nhận ra Đấng sắp ban cho họ “bánh bởi trời” chính là
Đấng Thiên Sai ?
Như vậy, Lời của Đức Giêsu là lời giải
thoát con người. Đấng giải thoát nhân loại không phải là một con người
như mọi người khác, nhưng là Đấng Thiên Sai mở ra cho nhân loại con
đường đến gặp gỡ Thiên Chúa.
“Người chữa lành những ai cần được
chữa.”
Ngay từ những ngày đầu của cuộc sống công
khai, Đức Giêsu khẳng định Người đến không phải để cứu những ai khoẻ
mạnh, những người công chính, nhưng để cứu những người yếu đau, những
người tội lỗi (Lc 5,31).
Điều này cho thấy một nhu cầu khác của
con người: họ là những người bệnh tật về cả thể xác lẫn tinh thần và họ
cần được chữa lành. Ngoài những nhu cầu về cơm ăn áo mặc, họ còn cần sức
khỏe, cần được yêu thương.
Đối với Đức Giêsu, việc hoá bánh ra nhiều
có lẽ không phải là điều quan trọng lắm. Người muốn đi xa hơn, đó là Ơn
Cứu Độ, đó là Sự Sống Vĩnh Cửu. Điều này chỉ Thiên Chúa mới có thể ban
tặng.
Như thế, bữa tiệc do Đức
Giêsu thết đãi đám đông sau đó không chỉ nhằm thỏa mãn cơn đói của những
kẻ đã đi theo Đức Giêsu, và đã ở lại với Người đến chiều tối. Đó là bữa
tiệc thiên sai; bữa tiệc cánh chung mà con người hằng khao khát.
Một chi tiết nữa trong phép lạ hóa bánh
ra nhiều giúp người ta nhận ra cách xử sự của Thiên Chúa. Đức Giêsu nói
với các môn đệ : “Chính anh em hãy cho họ ăn.” Người mời các ông
cộng tác vào công việc của Người. Người muốn các ông cùng chia sẻ trách
nhiệm. Thật ra, Đức Giêsu biết rằng các môn đệ không thể nào giải quyết
nổi. Dầu vậy, Người vẫn nói lên để các ông ý thức trách nhiệm của mình.
“Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh
và hai con cá.” Câu trả lời thật xác đáng. Chừng ấy thì thấm vào đâu
với năm ngàn người. Nhưng chính điều này lại khẳng định vai trò thiết
yếu của Đức Giêsu: nếu không có sự can thiệp của Người, các ông đành bó
tay.
Do đó, việc thiết lập Nước Thiên Chúa
không chỉ là một bữa ăn. Bữa ăn chỉ là phần kết thúc cho lời rao giảng,
cho việc chữa lành. Ngoài ra, việc thiết lập Nước Thiên Chúa là một điều
vượt quá sức tưởng tượng của con người. Đó là công việc của Thiên Chúa,
nhưng lại cần có sự cộng tác của con người.
Không chỉ cần ăn, mà còn cần tình yêu
Trình thuật bánh hóa nhiều hôm nay gợi
lên cho chúng ta điều gì ? Phải chăng là tổ chức một chiến dịch chống
lại nạn đói trên thế giới ? Điều này cũng cần, vì cho đến lúc này,
khoảng hai phần ba dân số thế giới vẫn chưa có đủ lương thực. Khoa học
kỹ thuật vẫn nỗ lực để tạo thêm lương thực, nhưng tình trạng đói kém vẫn
kéo dài. Có lẽ vấn đề không chỉ là tạo thêm lương thực, nhưng là cách
phân phối.
Ngoài ra, cũng có những cơn đó, sâu xa
hơn cơn đói vật chất, mà nếu chỉ có những giải pháp kỹ thuật thì không
thể lấp đầy. Người ta còn chưa quan tâm đủ đến những người đang đói làm
sao người ta có thể cảm thông và nâng đỡ những người đang thiếu vắng
tình yêu ? Khi Đức Giêsu từ chối giải tán đám đông trước khi cho họ ăn,
phải chăng Người muốn biểu lộ một cử chỉ yêu thương ?
Chúng ta vẫn nhận thấy mối tương quan
giữa việc hóa bánh ra nhiều và câu chuyện hai môn đệ trên đường trở về
Emmau. Mối tương giao này làm sáng tỏ ý nghĩa của bí tích Thánh Thể mà
ngày nay chúng ta cử hành : Thiên Chúa là tình yêu và Người ban tặng
tình yêu.
Khi đến trần gian để đặt những viên đá
đầu tiên cho Hội Thánh sau này, Đức Giêsu đã không tổ chức một cuộc họp
báo về ơn cứu độ thế giới. Người đã âm thầm và nỗ lực rao giảng, chữa
lành. Bổn phận của chúng ta là đừng để cho Tin Mừng thành một cuốn sách
ố vàng, nằm sâu trong trí nhớ, nhưng là phải có đáp ứng, phải có câu trả
lời. Đó là câu trả lời của tình yêu. Chỉ có tình yêu, chỉ có sự chia sẻ
mới bảo đảm sự hiện diện vĩnh cửu, không tàn phai của Đức Giêsu với nhân
loại chúng ta.
Lạy Chúa,
xin nhìn đến tấm bánh là những khổ đau,
tấm bánh được nhồi
từ những đôi tay khốn khổ của chúng con,
tấm bánh là sự chết, tấm bánh là chiến
tranh.
Xin ban cho chúng con bánh ăn của ngày
hôm nay.
Xin nhìn đến tấm bánh là tình yêu,
tấm bánh được bẻ ra, chia sẻ cho mọi
người.
Đó là tâm tình trao cho nhau,
là niềm vui đem đến cho kẻ nghèo.
Xin ban cho chúng con bánh ăn của ngày
hôm nay.
Xin nhìn đến tấm bánh sự sống,
tấm bánh bởi trời và là đường ánh sáng,
tấm bánh trên đường tiến về vương quốc
vĩnh cửu.
Xin ban cho chúng con bánh ăn của ngày
hôm nay.
Xin nhìn đến ly rượu là niềm vui,
đã được ép từ những chùm nho
ly rượu của ngày lễ, niềm vui của trái
đất.
Xin ban cho chúng con bánh ăn của ngày
hôm nay.
theo L.DEISS
Giacôbê Phạm Văn Phượng op :
Mầu nhiệm đức tin
(Lc 9,11b-17)
Trong thánh lễ, giữa lúc quan trọng nhất,
lúc thực hiện phép lạ biến thể : bánh rượu trở thành Mình Máu Thánh Chúa
Kitô, chính lúc đó cả cộng đồng cúi mình thờ lạy và được nghe : “Đây là
mầu nhiệm đức tin”.
Thế nào là một mầu nhiệm đức tin ? Là một
mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu biết của con người, đến nỗi chỉ còn biết dựa
vào thế giá lời Chúa, dựa vào ơn Chúa, rồi lấy lý trí mà chấp nhận.
Bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm hoàn
toàn vượt quá sự hiểu biết của nhân loại, thị giác, xúc giác và vị giác
đều bất lực trong bí tích này. Trước và sau khi truyền phép, chúng ta có
nhìn xem, đụng chạm tới hay nếm một tấm bánh chưa truyền phép hay “hình
bánh” đã truyền phép, chúng ta sẽ không thấy gì khác nhau, hay là có đưa
vào phòng thí nghiệm để phân chất, cũng chẳng thấy gì khác nhau về phẩm,
lượng, khối, hình...
Thế nhưng, theo đức tin thì lại khác nhau
muôn vàn trùng : một đàng là Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Con Thiên Chúa
xuống thế làm người, một đàng là một tấm bánh quá tầm thường không đáng
kể gì. Bởi đó Giáo hội dạy chúng ta “hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác
quan không cảm thấy gì”.
Trong ngũ quan, chúng ta còn có thính
giác, giúp chúng ta nhận biết và tin theo mầu nhiệm này : “Chỉ nhờ có
thính giác, người ta mới tin tưởng chắc chắn : tôi tin tất cả những gì
Con Thiên Chúa nói, vì không còn có chi chân thật hơn là lời của chân lý”.
Vậy Con Thiên Chúa đã nói gì ? Ngài đã
cầm tấm bánh và nói : “Này là Mình Thầy” và Ngài cũng cầm chén rượu nho
và nói : “Này là chén Máu Thầy”. Thế là bánh trở nên Mình Ngài và rượu
trở nên Máu Ngài. Nếu không tin rằng Chúa Kitô nói đúng thì người ta
phải cho Ngài là một kẻ điên khùng hay là tên bịp bợm; trái lại, nếu tin
Ngài là Con Thiên Chúa, là một người hiền lành chân thật thì phải tin
rằng, sau khi Ngài nói những câu trên, bánh rượu đã thực sự trở nên Mình
và Máu Mgài. Cũng vậy, trong thánh lễ, khi linh mục lặp lại những lời
của Chúa Giêsu : “Này là Mình Thầy”, “Này là chén Máu Thầy”, tức thì
bánh không còn là bánh, rượu không còn là rượu, nhưng là Mình và Máu
Chúa Kitô. Vì thế, công đồng Tri-đen-ti-nô đã tuyên bố : “Bản thể của
bánh và rượu trong lúc truyền phép được biến đổi sang bản thể của Mình
và Máu Chúa Kitô”. Đó là giáo lý về sự biến thể. Biến thể có nghĩa là
cuộc biến chuyển vô hình từ một bản thể này sang một bản thể khác. Sau
cuộc biến chuyển này bánh và rượu không còn nữa, mặc dầu hình bánh và
hình rượu vẫn còn, nghĩa là màu sắc, mùi vị, hình thức, tất cả những gì
do giác quan chúng ta cảm nhận được, vẫn còn nguyên không thay đổi,
nhưng bản chất bánh và rượu đã được biến đổi thành Mình và Máu Thánh
Chúa.
Từ giáo lý trên chúng ta suy ra hai chân
lý : Thứ nhất, Chúa Kitô hiện diện hoàn toàn dưới mỗi hình sắc và từng
phần nhỏ của các hình sắc đó, vì không thể nào Chúa Kitô lại bị phân
chia ra được từ khi Ngài phục sinh, thân thể và máu Ngài không thể tách
biệt nhau được nữa. Vậy bất cứ ở đâu có Mình thì cũng có Máu, linh hồn
cùng với thần tính của Ngài. Ngược lại, ở đâu có Máu thì cũng có Mình,
linh hồn với thần tính nữa. Cho nên chỉ cần rước Chúa dưới một hình sắc
cũng là lãnh nhận toàn thân Chúa Kitô.
Đàng khác, Bánh Thánh được chia ra nhiều
phần cũng không ảnh hưởng gì và càng không ảnh hưởng gì khi đồng thời có
hàng ngàn, hàng triệu Bánh Thánh ở khắp thế giới thì Chúa Kitô vẫn hiện
diện khắp nơi với toàn thân Ngài, dưới từng hình bánh, và cũng không vì
thế mà Chúa bị nhân thừa lên. Cái bị nhân thừa là những dấu hiệu chỉ
Ngài hiện diện, nghĩa là những hình sắc bí tích mà thôi.
Chân lý thứ hai, Chúa Kitô vẫn còn hiện
diện thực sự dưới hình bánh và hình rượu bao lâu những hình đó chưa bị
hư hỏng. Thực vậy, Chúa Kitô vui lòng tùng phục cả những định luật tự
nhiên chi phối bánh và rượu để tồn tại hóa sự hiện diện bí tích của Ngài.
Nghĩa là bao lâu bánh còn giữ hình dáng bánh miến, rượu còn giữ hình
dáng rượu nho, bấy lâu Chúa còn ẩn ngự trong đó. Trái lại, khi bánh đã
biến chất hay hư hỏng, khi rượu đã ra chua hay biến tính đi, thì khi đó
Chúa mới thôi hiện diện.
Tóm lại, về Thánh Thể, chúng ta phải biết
rõ ràng và xác tín những điều sau : - Thánh Thể là một bí tích - Trong
Thánh Thể có thật rõ ràng mình, máu, linh hồn và bản tính Thiên Chúa của
Chúa Giêsu Kitô - Sau khi truyền phép, không còn bánh và rượu trên bàn
thờ nữa - Có hoàn toàn Chúa Kitô trong bánh và rượu cũng như trong một
phần nhỏ bé của bánh hoặc rượu.
Chúng ta hãy xin Chúa thêm đức tin cho
chúng ta, một đức tin sống động để chúng ta tin mạnh mẽ và sống theo đức
tin đó : tin mạnh mẽ là dù chỉ thấy có bánh và rượu nhưng chúng ta vẫn
nhận thực không còn là bánh rượu nữa, vì bản chất của bánh và rượu đã
biến mất. Tin mạnh mẽ là quả quyết rằng trong bánh rượu ấy có Chúa Giêsu
với đầy đủ tính loài người và tính Thiên Chúa, là Thiên Chúa cầm quyền
sinh tử chúng ta, là Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, thấy cả những gì kín
nhiệm nhất của cõi lòng chúng ta : ý nghĩ, tư tuởng, ước mơ, toan tính,
bất bình, nghi kỵ… Tóm lại, tin mạnh mẽ là nhận thật Mình Thánh Chúa
chính là Chúa Giêsu Kitô và rước lễ là rước chính Chúa Giêsu để trở nên
lương thực nuôi sống chúng ta trong sự sống của Thiên Chúa và bảo đảm
cho chúng ta được sự sống đời đời.
Xin Chúa cho chúng ta luôn xác tín vào
phép Thánh Thể và siêng năng rước lễ để được hưởng những hồng ân cao quý
của Thánh Thể Chúa.
Fr. Jude Siciliano, op.
Hãy
Nhận Lấy Mà Ăn : Này Là Sự Sống Của Con
Lc 9, 11-17
Thưa quý vị,
Nếu tinh ý một chút, chúng ta sẽ nhận ra
hình như Phúc Âm hôm nay trả lời cho câu hỏi của vua Hêrôđê: “Ông này là
ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế? Rồi vua phân vân tìm cách gặp
Đức Giêsu.”(Lc 9, 9). Đoạn trích hôm nay tiếp liền nghi vấn của Hêrôđê.
Vậy Chúa Giêsu quả thật là ai? Xin viết lại cả đoạn văn: “Tiểu vương
Hêrôđê nghe biết tất cả những gì xảy ra, thì phân vân lắm. Thật vậy có
kẻ nói: Đó là Gioan từ cõi chết trỗi dậy. Kẻ khác nói: ông Elia xuất
hiện đấy. Kẻ khác nữa lại nói: đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại. Còn
vua Hêrôđê thì nói: Ông Gioan chính ta đã chém đầu rồi. Vậy ông này là
ai?” Nhưng trả lời cho ông vua độc ác mang tên Hêrôđê không phải là chủ
ý của Luca, cho dù Hêrôđê quan trọng đến đâu! Cũng không phải Luca muốn
làm toại nguyện những bộ óc “tò mò” của lịch sử loài người. Ông có chủ ý
khác như ông viết trong lời tựa Phúc Âm: “…để kính tặng ngài, mong ngài
sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc.”(1,1).
Đó cũng là chủ ý của ông cho các tín hữu thuộc muôn thế hệ mai sau, kể
cả chúng ta hôm nay. Dĩ nhiên câu hỏi của Hêrôđê dẫn đến trình thuật hôm
nay về căn cước của Chúa Giêsu sau khi đã nuôi sống ít nhất là năm ngàn
người nơi sa mạc hoang vắng. Chi tiết phép lạ không chắc thoả mãn Hêrôđê
và các não trạng tân thời. Nhưng đối với các kẻ ngay thật thì Luca đã
cho câu giải đáp sâu sắc về căn tính và ý nghĩa ngôi vị Giêsu giữa trần
gian.
Câu truyện khởi sự khi các Tông đồ hoàn
thành sứ vụ rao giảng và chữa lành. Họ trở về báo cáo Chúa những kết quả
thu lượm được. Ngài muốn đưa họ đến Bethsaiđa để lấy lại sức khoẻ và bồi
dưỡng thêm giáo lý, đời sống thiêng liêng. Nhưng kế hoạch của Ngài bị
vỡ, vì đám đông tuôn đến nghe giảng. Thay vì đuổi họ đi để duy trì
chương trình như người ta thường làm xưa nay, thì Chúa Giêsu niềm nở
tiếp đón họ. Ngày hôm ấy, Ngài cắt nghĩa cho họ về nước trời, như thánh
Luca kể: “Đám đông dân chúng biết thế, liền đi theo Ngươi. Người tiếp
đón họ, nói với họ về nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được
chữa.”
Chúng ta có thể tưởng tượng công việc của
Ngài hôm ấy bận rộn thế nào: Đám đông rất lớn, chỉ tính riêng nam giới
đã lên tới năm ngàn. Nếu kể hết thì phải trên mười ngàn, tương đương với
dân số của một xứ đạo cỡ lớn trong các đô thị công nghiệp. Ngài đi lại
giữa họ, tìm kiếm và chữa lành bệnh nhân, đồng thời rao giảng Nước Trời.
Khi công việc ổn định thì Phúc Âm kể: “Ngày đã bắt đầu tàn”. Các môn đệ
đến gần Chúa xin Ngài giải tán đám đông, để họ vào làng mạc, nông trại
quanh đấy tìm kiếm thức ăn và quán trọ! Vì nơi họ đang tụ họp là hoang
địa. Chúng ta dừng lại chút ít để suy nghĩ về sự kiện này.
Chương 9 của Luca mô tả một ngày của Chúa
Giêsu tại Galilêa rất náo nhiệt: Dày đặc những công việc. Sau đó, Ngài
quyết định đi Giêrusalem với các môn đệ. Trong những hoạt động này, bữa
ăn giữ vai trò quan trọng. Thực tế các bữa ăn trong Phúc Âm đều quan
trọng và mang ý nghĩa khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh và khách đồng bàn.
Thí dụ: Ơ nhà ông Giakêu, Chúa được mệnh danh là tay bợm nhậu, ăn uống
với phường tội lỗi. Khi ngồi với khách nghiêm trang tự coi mình là công
chính, thì lại bị hỏi thăm về thẩm quyền và căn tính chính thống. Khi
đồng bàn với các môn đệ thì Ngài nói: Đây là mình thầy, đây là máu thầy
sẽ đổ ra vì anh em. Nhiều lần Ngài còn so sánh nước trời với bữa tiệc
thịnh soạn, thịt thì béo, rượu thì ngon. Bữa ăn nhân bánh hôm nay cũng
mang một ý nghĩa sâu sắc riêng. Ngài nuôi đám đông bẩn thỉu, hổ đốn mà
quan điểm quyền bính tôn giáo cho là “không thanh sạch” vì không rửa tay
trước. Oi não trạng hẹp hòi, ngày nay cũng vậy thôi: Đầy dẫy kỳ thị,
loại trừ, khinh miệt, mặc dù mội miệng rao giảng khác đi: đại đồng đòan
kết, bác ái yêu thương. Cho nên thái độ của Chúa Giêsu là bài học thấm
thía cho nhân loại.
Theo thánh Luca, thái độ ấy liên tục với
tới những cặn bã của xã hội, kẻ bị bỏ rơi, ngoài lề vì nhiều lý do và
Chúa Giêsu đã đón tiếp họ: kẻ đói khát được nuôi ăn uống, bệnh tật được
chữa lành, ly tán được đoàn viên (từng nhóm chừng 50 người). Sau lời tạ
ơn, các môn đệ được Chúa phân công đi chia phần. Ai nấy ăn uống no nê.
Đến đây thì nghi vấn của Hêrôđê được thỏa mãn: Ong này là ai? Là kẻ công
bố vương quốc sự sống bằng lời nói việc làm. Những ai bị triều đình ác
vương từ chối thì đều được mời gọi vào Nước Trời, ở đó họ được đón tiếp
và đối xử tốt. Tuy nhiên, loại người nào được ăn uống với Chúa? Quý vị
chẳng thể tìm ra danh sách các khách mời dự tiệc trong Tin Mừng. Vậy
phải hiểu ngậm là hết những ai có nhu cầu ăn uống và chữa lành. Nghĩa
là bữa tiệc mở ra cho hết mọi linh hồn, không loại trừ. Xin để ý những
lời Chúa nói lúc cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá. Thánh Luca kể “Ngài
ngước mắt lên trời dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để
các ông phân chia cho đám đông”, y hệt những lời Ngài nói trong bữa tiệc
ly. Liệu chúng ta nhận ra sự liên kết giữa 2 tình huống? Phải chăng là
bữa tiệc Thánh Thể? Chưa hết, hai môn đệ đi làng Emmaus cũng đựơc chứng
kiến tình huống tương tự khi ngồi ăn bữa tối với người “khách lạ” (24,
13-35). Liệu chúng ta đủ khả năng nhận biết Chúa Giêsu là ai chưa hay
còn nghi nan như Hêrôđê? Vậy trong thánh lễ hôm nay và trong các buổi
phụng vụ, chúng ta nên thực hành lòng xác tín của mình vào thần tính Đức
Kitô.
Bởi lẽ, Luca không viết Phúc Âm để trả
lời cho Hêrôđê mà giúp đỡ tín hữu mọi nơi, mọi thời hình thành lời đáp
riêng của minh. Liệu Phúc Âm đã đủ sức thuyết phục chúng ta về căn cước
của Chúa chưa? Liệu lời nói việc làm của Ngài mang ý nghĩa thế nào trong
cuộc sống mỗi người? Bởi lẽ, sau đoạn trích hôm nay lại còn một câu hỏi
khác, không do Hêrôđê mà do chính Chúa Giêsu: “Còn anh em, anh em bảo
thầy là ai?” (9, 20). Có lẽ chúng ta trả lời như đám đông: Thầy là Gioan
tẩy giả, Thầy là Elia tái lâm, thầy là một ngôn sứ Cựu Ước nay sống lại.
Nếu chúng ta tiếp tục hành xử như hiện trạng: nhung lụa, dễ dãi, trốn
tránh hy sinh. Nhưng nếu chúng ta bắt chước Phêrô: “Thày là Đấng Kitô
con Thiên Chúa hằng sống” (9, 20) thì thái độ chúng ta phải khác, tức
dâng hiến toàn thân để công bố căn tính Chúa Giêsu, giống như Phêrô, mặc
dầu có phải hy sinh mạng sống! Viết đến đây tôi liên tưởng đến câu nói
của thánh nữ Marie Eugenie: “Trái đất này là nơi Thiên Chúa được vinh
quang”
Đúng vậy, Phêrô và các Tông đồ khác phải
học biết dần dần căn cước Chúa Giêsu và sứ mệnh thiên sai để có khả năng
dấn thân theo ơn gọi. Bài đọc 2 hôm nay nói rõ cho các Tông đồ biết Chúa
dặn dò các ông làm sao và truyền các ông “làm việc này” để tưởng nhớ tới
Ngài. Các ông phải tưởng nhớ cuộc sống, cái chết, đau khổ, phục sinh,
lên trời để cứu độ nhân loại. Ngài đã từng bị chống đối loại trừ, hành
xích về chân lý Ngài rao giảng. Nếu chúng ta mơ ước tán dương, ca tụng,
ngượi khen, biệt đãi khi thi hành sứ mệnh rao giảng lẽ phải và sự
thật,thì chỉ có thể là ngôn sứ giả, vì tôi tớ chẳng thể hơn ông chủ, học
trò chẳng thông thái hơn thày mình! Chúa Giêsu không những nuôi sống đám
đông phần xác, nhưng Ngài còn ban tặng đời sống siêu nhiên là chính Mình
Máu Thánh Ngài. Vì thế ba bữa ăn nói trên cấu kết với nhau thành một
thực tại trong Thánh Thể. Theo Luca, Chúa Giêsu ứng nghiệm hình ảnh
người chăn chiên nhân lành nuôi dưỡng, chữa lành, săn sóc đàn chiên
trong hoang địa (thử thách) của Cựu Ước. Như vậy, Ngài thách đố các Tông
đồ khi xưa và chúng ta hôm nay trước nhu cầu cứu rỗi của thế giới, nhất
là của kẻ nghèo đói, bệnh tật, tù đày, bơ vơ, lạc lõng vì chiến tranh,
kinh tế. Theo cảm tính, thì trước đám đông khổng lồ, các Tông đồ xin
Chúa giải tán họ, vì nhu cầu quá lớn các ông không thể đáp ứng nổi.
Nhưng Chúa Giêsu không làm theo ý các môn đệ. Mặc dù chính Ngài đã bị
dân riêng tẩy chay, xua đuổi, chống đối và đóng đinh. Ngài truyền cho
các ông: “Anh em hãy cho họ ăn đi”. Oi một gương sáng tuyệt vời về lòng
tha thứ, tử tế, đối xử tốt. Vì vậy, chúng ta phải học nơi Chúa thái độ
đối với những kẻ bất hạnh trên quê hương, trong xã hội hiện nay. Còn
biết bao nhiêu linh hồn không đủ ăn, đủ mặc, thiếu thốn sức khoẻ, thuốc
thang, giáo dục. Nỡ lòng nào chúng ta quay mặt đi, xua đuổi họ chỉ vì họ
nghèo đói, thiếu thốn. Trong khi chúng ta no đủ, cơm dư, gạo thừa, mua
sắm tiện nghi không cần thiết hoặc nói như nhà mô phạm kia: “Nhu cầu giả
tạo”. “Anh em hãy cho họ ăn đi!” Chẳng lẽ là lời nói dư thừa đối với
thính giả tân thời?
Chẳng như vậy được. Nó thức tỉnh những
linh hồn còn lương tâm. Chúng ta quy tụ nhau mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa
là họp nhau để được bàn tay yêu thương của Thiên Chúa đón nhận. Nghĩa là
giống như đám đông khi xưa, tìm kiếm của ăn và thuốc chữa thiêng liêng.
Chúng ta được Lời Chúa nuôi dưỡng và chia phần Mình Máu Chúa. Ngài nuôi
dưỡng năm ngàn người đàn ông là để chỉ bảo nhân loại một bài học về Bí
tích Thánh Thể. Họ cùng ăn một thứ bánh trong bữa tiệc bình đẳng, không
ai hơn, không kẻ kém. Tất cả đều no nê. Ngày nay đa phần xã hội đều có
khá dư thưà khi tham dự phụng vụ, chia sẻ Mình Máu Chúa Kitô, hưởng nhờ
ơn ích sự sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Chúng ta không cử
hành riêng tư mà là công khai và cộng đồng. Chúng ta nên mở rộng tầm
nhìn để trông thấy những nhu cầu của kẻ khác. Chúng ta không tưởng niệm
suông phép lạ nhân bánh ra nhiều, nhưng tưởng niệm cuộc khổ nạn và cái
chết cứu độ của Chúa. Ngài đã dâng mình cho Thiên Chúa Cha, chúng ta nên
thi hành tương tự. Càng giống Chúa Giêsu chúng ta càng tự giải thoát
khỏi quyền lực tử thần để được sống muôn đời và mang ơn phục sinh cho kẻ
khác. Với Chúa, chúng ta nhìn ra nỗi đói khát thiêng liêng của thế giới
và nỗi nhọc nhằn của hàng xóm láng giềng. Hàng ngày Chúa nói với mỗi
người: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi”. Nghĩa là Ngài thúc dục mỗi thành
viên của Hội Thánh, nhất là những ai có trách nhiệm trực tiếp, đồng hoá
mình với Chúa Giêsu và đồng hoá lòng tốt của Chúa với cộng đồng giáo xứ,
khu xóm, tu viện, gia đình. Ngài sẽ lấy tất cả những chi chúng ta dâng,
ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng và ban cho đám đông. Bằng cách ấy,
Ngài nhân bánh lên nhiều cho mọi người no đủ. Hôm qua tôi được nghe lỏm
câu truyện của hai người giáo dân xa quê hương để kiếm sống: Linh mục
Tiền kỳ này thế nào? - Thì “vũ như cẩn”. – Vậy thì hết xài rồi. Tôi ngây
thơ cứ nghĩ cha xứ của họ tên như vậy. Nhưng không phải, đó chỉ là nhãn
hiệu! Hỡi ôi, hạng này bây giờ nhiều lắm, còn đông hơn Pharisêu thời
Chúa Giêsu. Xin cam đoan truyện thật 100%, không dám bịa kẻo mắc tội vu
khống.
Trong ngôn ngữ Dothái, cụm từ “Mình Máu”
không như chúng ta hiểu, gồm hai phần của thân thể. Nó là đường lối diễn
tả cụ thể sự sống của con người. Vậy khi cử hành phụng vụ, nghe nói, này
là Mình ta, này là Máu ta, xin đừng nghĩ đến hai thực tại tách biệt nhau
mà là sự sống của Chúa Kitô, sự sống ấy ban cho đám đông, cho các môn đệ
và cho chúng ta để vươn tới hạnh phúc vĩnh cửu. Ngài tìm kiếm nghỉ ngơi
cùng các môn đệ, nhưng đám đông kéo đến. Ngài không xua đuổi mà ban sự
sống cho họ. Còn chúng ta thì sao? Câu trả lời tuỳ lương tâm mỗi người.
Nếu Hêrôđê thực sự muốn thoả mãn tò mò về Chúa Giêsu, ông ta có thể theo
dõi Luca khai triển Phúc Âm. Tiếc thay ông đã bỏ lỡ cơ hội! Và mặc dầu
những đe doạ từ chính quyền Lamã, từ phía thần quyền Gierusalem, Chúa
Giêsu tiếp tục ban sự sống mình cho dân chúng, với tới những kẻ bất hạnh
nhất trong xã hội Dothái, kể cả thượng phẩm, tư tế, ký lục, Pharisêu.
Ngài không ngừng ban mình cho họ, ngay cả trên thập tự. Như vậy lễ mừng
hôm nay quả là một ánh sáng chiếu soi vào ý nghĩa của Phúc Âm và giúp đỡ
chúng ta nhận ra toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu là một tặng phẩm hiến tế.
Chúng ta, những kẻ đói khát sự sống, được hưởng nhờ ân huệ của Ngài cho
tới mức no đủ. Amen.
Phêrô Lê Chí Thời op
Xin Cho Con
Biết Cho Đi Hơn Là Nhận Lãnh
Lc
9,11b-17
Lạy Chúa Giêsu
Thánh Thể,
Thấy dân chúng đói
khát Chúa đã chạnh lòng thương và đã sai các tông đồ : “Chính anh em hãy
cho họ ăn” (Lc 9,13). Làm sao các tông đồ có đủ lương thực cho ngần ấy
người ăn, trong khi các ông chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá, mà đám đông
đã hơn 5000 đàn ông không kể đàn bà và trẻ em.
Trời đã xế chiều
và dân chúng đang đói khát, họ đói những lương thực thường dùng. Hơn thế
nữa, họ còn có những cơn đói khát trong tâm hồn : đói sự thật, khát tình
thương và sự công chính ; họ đói khát thứ lương thực tâm linh. Cho họ ăn
là không để phải chịu cảnh đói khát, khi theo chân Đức Giêsu và các tông
đồ. Thế nhưng, không chỉ là cho ăn để no lòng nhưng quan trọng hơn là
cần phải biết quan tâm đến nhu cầu của người khác, đến sự thiếu thốn và
những khát mong của anh chị em đang hiện diện quanh mình.
Lạy Chúa, tìm đủ
lương thực cho dân chúng là một thách đố quá lớn đối với các tông đồ.
Các ông vốn cũng chỉ là những người nghèo, đã bỏ mọi sự theo Chúa. Chính
các ông, có lúc cũng phải bứt lúa non mà ăn cho qua cơn đói. Đối diện
với cái đói, cái nghèo, các môn đệ Chúa cũng không khỏi lo lắng, ưu tư :
sẽ làm gì cho họ đây, lấy gì cho họ ăn ! Nhiều lúc chúng con nhận ra
những nhu cầu và nỗi khát mong của anh chị em xung quanh, nhưng làm sao
có thể đáp ứng cho trọn vẹn, bởi nhu cầu con người thì quá nhiều, khát
vọng của dân chúng thì vượt quá tầm tay chúng con. Xin Chúa cho chúng
con đừng e dè, đắn đo, suy tính khi chia sẻ với những người đói nghèo,
hoạn nạn đang cần đến chúng con.
Lạy Chúa, Chúa dạy
chúng con hãy cho họ ăn. Vâng! Với 5 chiếc bánh và 2 con cá, các tông đồ
đã cho đám dân chúng ăn. Xin cho chúng con biết chia sẻ vật chất và tinh
thần để giúp đỡ những anh chị em nghèo đói, khó khăn. Xin cho chúng con
biết dành thời giờ của mình để hiện diện, chia sẻ và cảm thông với những
anh chị em đang sống trong cảnh nghèo khổ, neo đơn. Với 5 chiếc bánh và
2 con cá, nhờ bàn tay Chúa, các tông đồ đã cho dân chúng ăn no nê. Chúng
con dâng lên Chúa cuộc đời chúng con, dâng những hy sinh vất vả hằng
ngày, để nhờ bàn tay Chúa, tất cả những hy sinh ấy đem lại tình thương,
niềm vui cho người thân, bạn bè và tất cả anh chị em sống gần chúng con.
Lạy Chúa Giêsu
Thánh Thể,
Các tông đồ chỉ có
thể cho dân chúng thứ lương thực là cá và bánh, làm no cơn đói thể lý.
Còn, Thánh Thể Chúa - Lương Thực Hằng Sống mới giúp cho chúng con được
no thoả cơn đói khát trong tâm hồn. Lạy Chúa, Chúa chính là Bánh Hằng
Sống, chúng con ăn vào sẽ được sống trường sinh với Chúa. Chúa là nước
nguồn mạch sự sống, chúng con uống lấy sẽ không phải khát nữa. Chúa đã
trao ban Thịt và Máu Thánh Chúa làm lương thực nuôi sống chúng con, trao
ban sự sống của Chúa, trao ban tình yêu của Chúa cho chúng con, để khi
lãnh nhận Thánh Thể Chúa, chúng con luôn được sống và sống dồi dào.
Lạy Chúa, Thánh
Thể Chúa không chỉ dành riêng cho chúng con, cho cộng đoàn chúng con,
nhưng là ân ban cho hết mọi người. Xin cho chúng con biết đón nhận Thánh
Thể tình yêu bằng tấm lòng chân thành, khát khao được sống, được kết
hiệp nên một với Chúa. Và, cho chúng con cũng biết sống quảng đại bao
dung với anh chị em, biết cho đi hơn là chỉ biết lãnh nhận, biết trở
thành tấm bánh được bẻ ra cho mọi người. Amen.
Đỗ Lực op
CON
ÐƯỜNG GIẢI THOÁT
(Lc 9:11b-17)
Vấn đề nghèo đói muôn đời vẫn ám ảnh nhân
loại. Hiện nay, tình trạng nghèo khổ còn gắn liền với bất công và bất an
toàn cầu. Bởi vậy, trong cuộc họp Thượng Đỉnh từ ngày 06.đến 08.6.2007
tại Heiligendamm, vùng biển đông của Đức quốc, các nước G-8 (gồm Đức,
Pháp, Anh, Ý, Nhật Bản, Mỹ, Canada và Nga) đã đặt nặng vấn đề phát triển
và tiêu diệt nạn nghèo đói, nhất là tại các nước Phi Châu.
Người nghèo cũng là mối quan tâm hàng đầu
của Chúa Giêsu và các môn đệ. Họ quan trọng đến nỗi Chúa nhấn mạnh :
“Tin Mừng được rao giảng cho người nghèo.” (Mt 11:5) Không giải quyết
được vấn đề nghèo đói, thế giới không thể có hòa bình và tự do đích thực.
Nhưng vấn đề lớn lao đó không thể chỉ giải quyết nhờ các giải pháp chính
trị và kinh tế thuần túy. Cần đến một giải pháp toàn bộ mới mong giải
thoát và nâng con người khỏi nỗi khốn cùng của kiếp nghèo hôm nay. Con
người chỉ thực sự làm người khi vươn tới chiều kích Nước Thiên Chúa.
CHIỀU KÍCH NƯỚC THIÊN CHÚA
Trước khi làm phép lạ hóa bánh nuôi đám
đông, Ðức Giêsu đã nuôi họ bằng Lời Chúa : “Người nói với quần chúng về
Nước Thiên Chúa,” (Lc 9:11b) vì “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh,
nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." (Mt 4:4) Lời Chúa xoay
quanh “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)
Ðó là chiều kích của Nước Thiên Chúa. Chiều kích này vượt qua biên giới
trần thế và đi sâu vào nội tâm. Chủ yếu là phải công chính như Cha trên
trời (x. Lc 6:36). Ðó là một chiều kích siêu việt, nhưng không siêu thực.
Chiều kích ấy trở thành một đòi hỏi khẩn thiết cho bất kỳ kế hoạch cứu
đói giảm nghèo nào.
Ðể có thể nhìn thấy chiều kích đó, người
môn đệ Chúa Kitô phải nhận ra trách nhiệm của mình đối với đám đông. Ðó
là lý do tại sao trong phép lạ hóa bánh hôm nay Ðức Giêsu đã truyền các
môn đệ phải đích thân đảm trách việc phục vụ quần chúng : "Chính anh em
hãy cho họ ăn." (Lc 9:13)
Mặc dù đã nghe báo cáo đầy đủ tình hình
quần chúng và khả năng hiện tại của các tông đồ, Đức
Giêsu vẫn tin
tưởng “cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời
chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.” (Lc
9:16) Người nhận thức đó là những ân huệ Thiên Chúa. Ðức Kitô “cầm lấy,”
“ngước mắt lên trời,” “chúc tụng” và “bẻ ra.” Ðó là những dấu chỉ một
lương thực khác Chúa Giêsu sẽ làm trong tối Thứ Năm Tuần Thánh. Mỗi cử
chỉ đều lặp lại trong đêm lập bí tích Thánh Thể. Như thế, trong phép lạ
hóa bánh, Chúa muốn hướng người ta tới một chiều kích siêu việt là chính
Mình và Máu Chúa, lương thực cần thiết cho sự sống vĩnh cửu. Như Ðức
Giêsu cầm lấy bánh, chúng ta cũng có thể đang nắm chắc những thực tại
cuộc sống trong bàn tay. Thế rồi, cùng với linh mục dâng của lễ trên bàn
thờ, chúng ta dâng những thực tại đó lên Thiên Chúa. Khi được Thiên Chúa
đón nhận, tất cả sẽ mang chiều kích toàn vẹn theo hướng của Người.
THÁNH THỂ : TÌNH YÊU GIẢI THOÁT
Tấm bánh từ cuộc đời chúng ta chỉ trở nên
thân mình Chúa Kitô, khi được trao cho anh em. Chúng ta hãy dành chút
thời giờ nhìn Ðức Kitô đang bẻ bánh – Mình Chúa – và ban cho ta. Tấm
bánh – Mình Chúa – truyền từ tay này sang tay kia. Tấm bánh được phân
phát, chia sẻ, nhân lên gấp bội. Thiên Chúa như bị tổn thương khi được
trao vào tay con người.
Chúa Giêsu dấn thân. Người chấp nhận chết
đi cho anh em mình được sống : chết vì tình yêu … vì tình yêu giải thoát
... Người đã hiến mình. Từ đó, mọi người có thể nhận được sự sống nơi
Người. Ðó là trung tâm của mầu nhiệm vượt qua. Khi đón nhận Mình Chúa
Kitô, chúng ta trở nên một với Người. Con người đang hiện diện trong tấm
bánh trên bàn thờ cùng với Ðức Kitô. Ðó là động lực thúc đẩy ta dấn
thân. Cũng như Chúa, cuộc sống chúng ta chỉ đạt tới chiều kích viên mãn,
nếu chấp nhận cho tha nhân chiếm hữu hay làm một “tấm bánh bẻ ra cho mọi
người.”
Làm sao có thể hy sinh như thế, nếu không
kết hiệp thực sự với Chúa Giêsu Thánh Thể ? ÐGH Gioan Phaolô II tâm sự :
“Thời gian ở lại với Chúa thật là vui thú, được nghiêng mình vào lòng
Người như môn đệ yêu dấu (x. Ga 13 :25) và cảm nhận tình yêu vô hạn
trong trái tim Người. Nếu trong thời đại này, điểm nổi bật nhất của Kitô
hữu là ‘nghệ thuật cầu nguyện,’ từ tình yêu chân thành làm sao chúng ta
không cảm thấy một nhu cầu canh tân để ở lại lâu giờ với Chúa Kitô đang
hiện diện trong Bí Tích Cực Thánh này ? Anh chị em quý yêu, tôi rất
thường có kinh nghiệm nầy và tôi đã múc lấy từ đó sức mạnh, niềm an ủi
và sự nâng đỡ.” (1) Nơi Thánh Thể, Ðức Giêsu đích thực ngự giữa chúng
ta, như xưa Người hiện diện giữa các môn đệ tiên khởi. Người hiện diện
vì yêu chúng ta và muốn chúng ta hiệp nhất với Người trong tình yêu, để
tha thứ tội lỗi chúng ta và để cuộc sống mới của chúng ta thăng tiến
trong Người. “Bởi đấy, Giáo hội liên lỉ hướng về Chúa đang hiện hiện
trong Bí Tích trên Bàn thờ, nơi Giáo hội thấy Người tỏ bày trọn vẹn tình
yêu vô biên,” (2) để “Giáo hội múc lấy sự sống từ Chúa Kitô Thánh Thể.
Giáo hội được Chúa nuôi dưỡng và soi sáng.” (3) Phải, trong Thánh Thể,
mỗi người chúng ta được cải biến nên hình ảnh Ðức Kitô rõ nét hơn, để
trong gia đình, xóm giềng, công sở và cộng đoàn, chúng ta có thể chiếu
tỏa Chân Lý và Tin Mừng Sự Sống, Tình Yêu và Hy Vọng cho mọi người. Qua
chúng ta, chắc chắn Chúa Kitô đến cứu chữa và tác thánh, hiệp nhất và
kiện cường tất cả những ai đang sống sát chúng ta. Trong Thánh Thể,
chúng ta càng trở nên Thân Thể Ðức Kitô tức Giáo Hội Người, một Giáo hội
được sai đi làm Ánh sáng muôn dân, Cột trụ chống đỡ Chân lý và Ánh sáng
chiếu soi niềm Hy vọng cho trần gian.
Trên đường trần thế, nếu không tham dự
bữa tiệc của Chúa, làm sao người Kitô hữu có thể nuôi dưỡng đức tin,
chữa lành thương tích, và trung tín đến cùng ? Chỉ có Mình Máu Chúa mới
đẩy con người tới mức công chính như Thiên Chúa. Nếu không có lương thực
thiên thần, chúng ta sẽ không thể tồn tại và tiến bước trên trần gian.
Thực tế, ngày nay có nhiều người khinh
thường trước lời mời tham dự bàn tiệc thánh của Chúa. Giáo hội lo ngại
trước tình trạng giáo dân không tham dự thánh lễ nữa, nhất là tại Âu
châu. Thực ra, mỗi lần dâng thánh lễ, chúng ta hiểu biết kỳ công Ðức
Giêsu thực hiện “cho chúng ta và đám đông” được cứu độ. Ngày lễ Mình Máu
Thánh Chúa kêu gọi chúng ta canh tân đức tin. Càng nỗ lực canh tân,
chúng ta càng có khả năng đem Tin Mừng đến cho người nghèo. Ðó không
phải chỉ là nỗ lực cá nhân nhưng cả cộng đoàn.
CHIỀU KÍCH XÃ HỘI TRONG THÁNH THỂ
Như thế, ngoài chiều kích thiêng liêng,
Thánh Thể còn có tầm ảnh hưởng xã hội. Thực vậy, “trong mỗi Thánh lễ,
Chúa mời gọi chúng ta hãy theo sát lý tưởng hiệp thông mà Công vụ Tông
Ðồ mô tả như mô hình Giáo hội trong mọi thời đại. Ðó là Giáo hội quy tụ
xung quanh các Tông đồ, được Lời Thiên Chúa mời gọi, có thể chia sẻ cả
của cải thiêng liêng lẫn vật chất (x. Cv 2:42-47).” (4) Hơn nữa, “không
những Thánh Thể là một hình thức diễn tả đời sống hiệp thông trong Giáo
hội, nhưng còn là một kế hoạch xây dựng tình liên đới cho toàn thể nhân
loại. Trong khi cử hành Thánh Lễ, Giáo hội không ngừng canh tân ý thức
mình không những là một “dấu chỉ và khí cụ” giúp cho sự hiệp thông thân
mật với Thiên Chúa, mà còn cho sự hiệp nhất toàn thể nhân loại. Khi tham
dự thánh lễ, Kitô hữu tìm cách trở nên người cổ động tình hiệp thông,
hòa bình và mối liên đới trong mỗi hoàn cảnh. Hơn bao giờ, thế giới đầy
nhiễu nhương hôm nay, bắt đầu kỷ nguyên mới với bóng ma khủng bố và
chiến tranh bi thương, đang đòi hỏi Kitô hữu học hỏi về hòa bình từ một
ngôi trường vĩ đại là mầu nhiệm Thánh Thể. Dù đang nắm trách nhiệm gì
trong đời sống xã hội, văn hóa và chính trị, họ đều được đào tạo nên
những người cổ động công cuộc đối thoại và hiệp thông từ ngôi trường đó.”
(5)
Qui tụ và hiệp nhất Giáo hội vẫn còn là
bổn phận căn bản và hàng đầu của các môn đệ Chúa Kitô, hôm nay cũng như
hôm qua. Chú ý tới những người yếu đuối và nghèo khổ nhất phải là ưu
tiên số một. Những người này phải nằm ở trung tâm cộng đoàn, chứ không
bị những người khỏe mạnh đẩy ra ngoài lề Giáo hội. Làm sao một cộng đoàn
có thể là Giáo hội Chúa Kitô, khi những phần tử chỉ biết tiêu xài và
sống cho mình, mà không quan tâm đến những người nghèo của Thiên Chúa ?
Người nghèo gồm đủ mọi thành phần hỗn tạp,
lạc lõng, rải rác, và vô định hướng. Ðức Giêsu muốn biến họ thành những
khách được mời tham dự một đại hội. Từ một “đoàn chiên không có người
chăn dắt,” Người muốn làm thành một cộng đoàn tương tự dân Chúa trong sa
mạc sống với manna. Người còn muốn qui tụ họ thành một Giáo hội phục vụ
và loan báo Tin Mừng, một cuộc hiệp thông vào tiệc cưới Con Chiên thời
cánh chung, khi nhân loại vui vẻ quây quần trong bàn tiệc Nước Thiên
Chúa.
Giáo hội không phải là một tập thể vô tổ
chức. Khi muốn nuôi sống muôn dân, Chúa qui tụ các môn đệ và truyền cho
họ làm việc có tổ chức : “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng
năm mươi người một.” (Lc 9 :14) Chúa sai các ông phân phát lương thực
cho dân chúng. Các môn đệ đúng là những đầy tớ phục vụ dân Chúa. Khi làm
bánh hóa nhiều, Chúa như sai từng tín hữu đi phục vụ, chứ không phải tìm
cách hưởng thụ. Ðôi khi họ bị thử thách vì thiếu phương tiện chu toàn
những trách nhiệm nặng nề. Nhưng, càng có tổ chức, càng dễ vượt qua
những khó khăn trong công cuộc phục vụ.
Làm việc bác ái cũng thế. Nếu không có tổ
chức, không thể đi xa được. Không phải bất cứ ai thiếu thốn về vật chất
đều có thể gộp thành một nhóm với nhãn hiệu “người nghèo” để được trợ
cấp như nhau. Nói khác, không nên phát chẩn hoàn toàn cho hết mọi người.
Làm thế, công cuộc bác ái sẽ phí phạm rất nhiều. Nên nhớ, khi bữa ăn sắp
kết thúc, Chúa truyền các môn đệ đi lượm những vụn bánh vung vãi khắp
nơi (x. Lc 9 :17). Kết quả được mười hai thúng đầy, để có thể để bắt đầu
một công cuộc khác. Việc bác ái cũng tương tự. Cần thu vén khéo léo, mới
có thể cứu nhiều người.
Như các tông đồ tổ chức quần chúng theo
lệnh Chúa, chúng ta cần phân hạng người nghèo. Có những người nghèo cần
được giúp đỡ hoàn toàn. Nhưng cũng có những người nghèo vẫn còn khả năng
sản xuất. Chỉ cần được cấp vốn, họ có thể tự nuôi mình và giúp đỡ người
khác. Thực tế, người nghèo có thể nâng đỡ người nghèo. Cần khuyến khích
họ dùng “số vốn” đã nhận đầu tư vào việc mưu ích cho mình và tha nhân.
Ðể có thể vực dậy cả một dân tộc đang
chìm đắm trong cảnh túng cực về mọi mặt, cần thành lập một quỹ tín dụng
bác ái cho người nghèo. Ðây là công cuộc bác ái thực sự, vì làm cho con
người lớn lên trong sự tự tin và tin tưởng lẫn nhau. Từ đó, tinh thần
trách nhiệm liên đới nảy sinh. Công cuộc bác ái phải nhằm nâng cao cả
thể chất lẫn tinh thần mới thực sự là bác ái. Thực thế, sau mỗi lần Chúa
chữa bệnh hay làm phép lạ hóa bánh hay hóa cá, dân chúng đều tôn vinh
Thiên Chúa và nhận ra quyền năng lớn lao nơi Ðức Giêsu. Họ vang lời ca
tụng Chúa, vì không phải chỉ được thỏa mãn nhu cầu vật chất, nhưng còn
được hoàn toàn giải thoát về tinh thần nữa. Chỉ có bác ái toàn vẹn mới
làm thay đổi cuộc sống và hướng con người lên tới Chúa.
Ngày xưa, khi làm phép lạ hóa bánh, không
những Chúa nhằm nuôi dân chúng, nhưng còn đón tiếp, chữa lành và nói cho
họ về Nước Trời nữa. Quỹ tín dụng cũng thế, không những giúp dân chúng
có kế sinh nhai, mà còn làm cho họ có cơ hội thực tập đức công bình, bác
ái, thành thật, trách nhiệm, tương trợ v.v. cần thiết cho công cuộc xây
dựng quê hương phồn thịnh và dân tộc hạnh phúc.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con tìm
thấy con đường giải thoát trong Bí tích Thánh Thể. Xin Thánh Thể Chúa
trở nên nguồn sống, tình yêu và sức mạnh cho chúng con trong cuộc sống
hôm nay. Amen.
-----
(1)
Ecclesia de Eucharistia, số 25.
(2) ibid, số 1.
(3) ibid., số 6.
(4) Mane Nobiscum, số 22.
(5) ibid., số 27.
Lm. Jude Siciliano, OP (Anh
Em HV Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ)
Yến
tiệc thỏa cơn đói con người
Lc 9: 11b-17
Chúng ta thường liệt kê ai là những người
quan trọng đối với một gia đình nào đó. Và điều mà ai cũng phải làm là cân
nhắc về những người được mời đến dự tiệc sinh nhật, lễ tết. Thế nên,
những gương mặt hiện diện quanh bàn tiệc tỏ dấu hiệu cho biết, ai là
những nhân vật thế giá đối với gia chủ, đối với những người chiêu đãi
bữa tiệc đó. Thỉnh thoảng, có một số người được mời vì những mối quan hệ
kinh doanh, hoặc được làm khách cho có bạn có bè, tuy nhiên, đối với
phần đông chúng ta, khi chúng ta muốn tổ chức tiệc mừng ai, hoặc một dịp
đặc biệt nào đó, chúng ta sẽ hết sức đắn đo về những người mà chúng ta
mời dự tiệc với mình. Ngoài chuyện chẳng đặng đừng, thì hầu hết chúng ta
đều không muốn mời người mà chúng ta chẳng ưa, bởi lẽ, việc mời những
người ấy có thể phá hỏng bữa tiệc của chúng ta và làm cho buổi liên hoan
mất vui.
Dân chúng vào thời Đức Giêsu thậm chí còn
giữ nhiều lề thói nặng nề hơn khi có tiệc tùng. Nếu ở bên Đông Phương
(Do-thái), thì khách dự tiệc mà qúy ông bà anh chị em mời đến đồng bàn
với mình hẳn là những người đã có mối tương quan tốt đẹp, những người mà
quý ông bà anh chị em cảm thấy an tâm và tin tưởng. Nếu quý ông bà anh
chị em mời một người có thù hằn hoặc đã cắt đứt quan hệ với mình hay gia
đình mình, thì việc dùng bữa với nhau thực sự là một hành động tỏ ý giao
hòa. Sau bữa tiệc, mọi người sẽ không còn phải là thù địch của nhau nữa;
việc chia sẻ với nhau trong bữa tiệc sẽ dỡ bỏ rào cản trong quá khứ.
Một người giữ đạo nghiêm nhặt sẽ chẳng
bao giờ dùng bữa với những người tội lỗi hoặc những ai về mặt nghi thức,
bị cho là không thanh sạch, vì sợ rằng tình trạng nhiễm uế của những
người ấy có thể lây sang những người đồng bàn với họ. Vào thời ấy, việc
Đức Giêsu đã bị chỉ trích về chuyện đồng bàn với những kẻ tội lỗi và
những người bị xã hội ruồng bỏ cũng chẳng có gì lạ. Và do đó, việc Đức
Giêsu mời người ta đến dự tiệc với Người lại là một hành động khoan dung
tha thứ và hơn thế nữa, đấy là một hành động khai mở một sự hiệp thông
sâu xa hơn với Thiên Chúa qua Đức Giêsu.
Trình thuật hóa bánh ra nhiều trong bài
Tin Mừng hôm nay hướng về lời mời gọi “từng người một, tất cả hãy đến dự tiệc.” Người
đang đói và không có khả năng tự chu cấp thực phẩm cho mình giữa một nơi
hoang vắng là điều kiện cần để người ấy được nhận của ăn. Đề tài Đức
Giêsu dự tiệc trải dài xuyên suốt trong Tin Mừng Lu-ca, Người không chỉ
dùng bữa với các môn đệ nhưng còn với những đối tượng bị khinh miệt.
Chẳng hạn ở các bữa tiệc như, trước khi người chịu chết (vd. 5,27-32;
7,36-50); đêm bị trao nộp (22,14-38); và sau khi Người phục sinh
(24,13-35; 24,36-43). Đức Giêsu cũng đã kể những dụ ngôn về các bữa tiệc
(vd. 12,25-48; 14,15-24; 15,11-32). Lời mời dự tiệc của Người là một dấu
chỉ loan báo rằng, bất kể ai, người đạo đức chính trực và phường vô đạo;
người Do-thái cùng Dân ngoại; người thịnh đạt hay kẻ cơ hàn; nữ cũng như
nam, tất cả đều được chào đón vào nơi Người đã khai mở là vương quốc
Thiên Chúa.
Chúng ta đang cử hành “yến tiệc mình và
máu thánh”, yến tiệc dưỡng nuôi chúng ta ở bất kỳ chốn hiu quạnh nào mà
chúng ta tham dự. Trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc
nhớ điều mà Người đã “truyền lại” cho họ – chia sẻ bữa ăn mà Đức Giêsu
đã trao ban là dấu chỉ về cái chết của Người và giao ước mới mà Người đã
thiết lập với chúng ta. Thánh Phao-lô quả quyết rằng, Đức Giêsu được
hiến trao cho chúng ta nơi Bí Tích Thánh Thể, Người hiện diện thực sự
với chúng ta “cho đến khi Người đến.” Thế nên, một cách nào đó bàn tiệc
Thánh Thể cử hành cuộc biệt ly của Đức Chúa, đồng thời bàn tiệc ấy cũng
dọn sẵn cho chúng ta một ân ban mai hậu, ấy là sự hiện diện tín trung và
hằng cửu của Đức Giêsu.
Việc cùng nhau chia sẻ bữa ăn của đám
đông, bữa tiệc khoản đãi mọi người được thuật lại trong bài Tin Mừng hôm
nay (“mọi người đều ăn và ai nấy được no nê”) là dấu chỉ nói lên rằng,
Đức Giêsu là lương thực dọn sẵn cho tất cả những ai đang đói khát. Những
ai đã đến và dùng tiệc, thì tìm thấy nơi Đức Giêsu thứ lương thực làm
cho những kẻ vốn là thù nghịch trở nên nghĩa thiết với Thiên Chúa.
Sau khi thuyết giảng tại các giáo xứ trong
suốt mùa Chay và những tuần sau lễ Phục sinh, tôi đã để ý thấy một lòng
sùng kính thánh thể không ngơi, điều này làm tôi nhớ lại những ngày thơ
ấu của mình. Trong giáo xứ tôi sống thuở thiếu thời tại Brooklyn, cũng
vào ngày lễ Mình Và Máu Thánh Chúa Kitô (“Corpus Christi”) như hôm nay,
chúng tôi đã tham dự một cuộc rước kiệu với Thánh Thể được đặt trong mặt
nhật bằng vàng, rước quanh nhà thờ, rồi sau đó được đặt lên bàn thờ, nơi
ấy người ta lặng lẽ sùng kính suy tôn Thánh Thể, và kết thúc với phép
lành Thánh Thể cùng các bài thánh ca bằng tiếng La-tin. Một số giáo xứ
tôi đã đến thăm trong những tháng gần đây vẫn còn dành một số giờ xuyên
suốt trong tuần để giữ việc sùng kính Thánh Thể trong thinh lặng tương
tự như vậy.
Có một giáo xứ đã “đặt Mình Thánh để chầu
liên tục” trong một nhà nguyện tạm mở cửa suốt 24 giờ cho công chúng.
Những người đến tôn thờ Thánh Thể đã chầu luân phiên suốt ngày đêm.
Thiện ích mà việc chầu thánh thể nơi đây đem lại cho những người thuộc
các giáo xứ đô thành chộn rộn là cơ hội giúp người tín hữu lánh khỏi
cảnh xô bồ hối hả của cuộc sống thường nhật để dừng chân viếng chầu
Thánh Thể, cũng như dành ra một số thời khắc thinh lặng trước nhan Chúa.
Lần trở về lịch sử, lòng sùng mộ Thánh thể theo lối đó vốn đã phổ biến
kể từ thời tôi còn thơ bé ngược về thời điểm hơn một thế kỷ trước. Thời
ấy, việc chầu Thánh Thể được dấy lên mạnh mẽ, đặc biệt với việc quy
hướng vào sự hiện diện của Đức Kitô nơi Bí tích Thánh thể.
Từ công đồng Vaticanô II trở đi, chúng ta
đã hướng đến việc nhấn mạnh sự hiện diện thật sự của Đức Kitô nơi cộng
đoàn họp nhau lại. (Gần đây, trong một bữa tối tại giáo xứ nọ, cha sở đã
nói rằng, ngài nghĩ người ta khó lòng mà chấp nhận việc Đức Kitô hiện
diện trong phép rửa, dưới hình bánh trong mặt nhật hoặc trên đĩa bánh và
chén rượu trên bàn thờ).
Ngày lễ hôm nay không quay lại theo lối
xưa, không còn chỉ là thinh lặng kính thờ và bái quỳ trước Mình Thánh.
Nhưng hơn thế nữa, thánh lễ hôm nay mời gọi chúng ta mở rộng nhãn giới
đức tin ý thức sâu xa hơn về chức tư tế phổ quát của chúng ta, đặc biệt
là trong các tác vụ khác nhau vốn được chứa đựng và khởi nguồn từ việc
cử hành Bí tích Thánh thể của chúng ta, đó là các tác vụ như: công bố
Lời Chúa; thực hiện vai trò của thừa tác viên Thánh Thể và trao Mình
Thánh Chúa cho bệnh nhân; hát thánh ca và thánh thi… Ngày hôm nay, người
giáo dân cũng đóng một vai trò lớn trong các phân nhiệm phụng vụ của
chúng ta. Cùng lúc chúng ta muốn về nguồn với cảm thức sùng kính và suy
niệm trong thinh lặng trước Thánh Thể mang hình bánh, thì chúng ta cũng
được đón nhận ân sủng qua những công việc thực tế mỗi ngày, đó chính là
việc cử hành sự hiện diện của Đức Kitô trong cộng đoàn “phụng vụ” và
“thừa tác” của chúng ta.
Ngày hôm nay, chúng ta cũng tưởng nhớ sự hiện
diện của Đức Kitô giữa lòng thế giới, một sự hiện diện khởi đi với xác
phàm nhân loại, với thịt thật và máu thật như chúng ta. Người cũng vốn
mang lấy những cảm xúc hỉ hoan, mến yêu, khao khát và đau đớn như chính
chúng ta. Thế nên, chúng ta cũng ngợi ca chính xác phàm nhân loại của
chúng ta, vì từ khi chịu phép rửa, thân xác chúng ta đã trở thành nơi
Chúa hiện diện giữa lòng thế giới. Nhờ Đức Giêsu, sự hiện diện thể lý
của chúng ta ở thế gian này cũng là dấu chỉ cho thấy tình yêu và quyền
năng quan phòng gìn giữ của Thiên Chúa thông qua chúng ta, tức những
người đang được dưỡng nuôi bởi Mình và Máu Đức Kitô. Thân xác chúng ta
phản ánh tình thương Thiên Chúa cho người khác và phản chiếu lòng trắc
ẩn của Thiên Chúa đối với những ai đang chịu đau khổ, bị lạm dụng, quẫn
bách… về cả đàng linh hồn lẫn thể xác.
Ngày hôm nay, vị chủ tế sẽ nguyện xin
Chúa Thánh Thần và đọc trên bánh, “Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em…,”
và trên rượu, “Đây là chén Máu Thầy…” Những lời này cũng được đọc trên
chúng ta nữa, vì chúng ta là thân thể với mình và máu của Đức Kitô được
trao nộp và hiến dâng cho thế gian. Đức Giêsu đã trao nộp trọn vẹn sự
sống của Người là thịt và máu cho chúng ta và, sự hiệp thông của chúng
ta với Người cho phép chúng ta trao nộp đời sống của mình trong hiến lễ
tình yêu cho thế gian như Người đã thực hiện. Như Đức Kitô, cuộc sống
chúng ta được Thiên Chúa trao ban để trở thành “khí cụ” để giao hòa, yêu
thương và công chính cho thế gian.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu
biết đám đông vây quanh người đang đói. Người bảo các môn đệ, “Chính anh
em hãy cho họ ăn.” Các môn đệ nói rõ số lương thực chẳng thấm vào đâu
của họ để trả lời cho thách đố mà Người trao. “Chúng con chỉ có vỏn vẹn
năm cái bánh và hai con cá…” Họ nói đúng, với những gì chúng ta có trong
tay, thì trên thế giới này, quả là có quá nhiều những người lâm cảnh đói
khát mà chúng ta cần phải trợ giúp. Tuy nhiên chúng ta không trợ giúp
bằng những gì chúng ta có. Phép lạ hóa bánh ra nhiều biểu trưng cho điều
chúng ta cử hành nơi Bí Tích Thánh Thể: Đức Giêsu đã trao hiến chính
mình Người làm của ăn cho những kẻ đói khát ở trần thế này. Hôm nay,
chúng ta cử hành việc Đức Giêsu trao nộp chính Người cho chúng ta, đồng
thời, việc cử hành này cũng mời gọi chúng ta noi theo tình thương của
Người bất kể khi nào chúng ta bắt gặp đám đông đang đói khát xuang quanh
chúng ta. “Chính anh em hãy cho họ ăn.” Giờ đây, trong bánh rượu là Mình
và Máu Đức Kitô, chúng ta được nhắc nhở một cách cụ thể, chúng ta có thể
dưỡng nuôi những người đói khát trên thế giới này, bởi lẽ chúng ta đã
được Chúa dưỡng nuôi bất kể ở “nơi hoang vắng” nào mà chúng ta đã gặp
phải.
Lm.
Jude Siciliano, OP. (Anh em Học viện Đaminh chuyển ngữ)
Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy
St
14,18-20; 1Cr 11,23-26; Lc 9,11b-17
Kính thưa quí vị,
Có một thời người Công Giáo hiếm khi được
rước lễ. Chính vì thế mà việc tạ ơn và chầu Thánh Thể trở nên phổ biến.
Người ta đã thay việc lãnh nhận bánh rượu bằng việc chiêm ngắm và dâng
lời cầu nguyện trước Thánh Thể trong mặt nhật trên bàn thờ. Nhằm nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc hiệp lễ, Giáo hội đưa ra luật buộc mỗi
người phải hiệp lễ một năm ít là một lần.
Điều này đã thay đổi. Ngày nay hầu hết
chúng ta đều lên rước bánh rượu Thánh Thể. Chính những hành vi này nhắc
nhớ về sự hiện diện của Đức Kitô và cuộc sống của Người trao ban cho
chúng ta. Như trong trình thuật Tin mừng hôm nay, một lần nữa Đức Kitô
chúc tụng, bẻ bánh và trao chính mình cho chúng ta. Chén sự sống của
Người đổ ra cho chúng ta. Với bánh và rượu chúng ta trao dâng chính mình
trên bàn thờ hôm nay. Khi nhận lại những của lễ đã được biến đổi chúng
ta được nhắc nhớ rằng chính mình cũng đang được biến đổi. Cùng với Đức
Kitô chúng ta được chúc tụng, bẻ và đổ ra với tình yêu dành cho người
thân cận. Ở bàn tiệc Thánh Thể hôm nay chúng ta được sẻ chia đời sống
của Đức Kitô hầu có thể chia sẻ với thế giới.
Phép lạ hóa bánh xuất hiện trong cả bốn
Tin mừng, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phép lạ. Nhưng, mỗi tác giả
lại diễn tả theo cách của mình, với mục đích riêng. Cũng như các trình
thuật khác, Luca đã gói gọn trong một vài câu khi thuật lại phép lạ về
những chiếc bánh và cá. Độc giả Kinh thánh lưu ý sẽ phát hiện ra ngay
rằng tác giả đang quay trở lại lịch sử Israel và đang dẫn chúng ta tới
những biểu tượng và lễ hội.
Đây là chút ít cơ sở cho việc đó. Những
người đến gặp Đức Giêsu để nói với Người về nhu cầu của con người thì
không được gọi là môn đệ hay tông đồ. Họ là “Nhóm Mười Hai”, ám chỉ đến
12 chi tộc Israel. Một Israel mới ở trong “nơi hoang địa” và phải tin
tưởng vào Thiên Chúa ban “manna” mới mỗi ngày. Nhớ rằng, nếu thiếu sự
hướng dẫn của Thiên Chúa, những người Israel trong sa mạc đã bị lạc lối.
Thiếu sự nuôi dưỡng của Thiên Chúa, dân sẽ bị chết đói và Israel sẽ
không còn tồn tại. Dân Israel mới đến với Đức Giêsu để được lương thực
hằng ngày và là đường dẫn qua sa mạc hiện đại. Thiếu sự dưỡng nuôi chúng
ta cử hành trong bữa tiệc này, chúng ta cũng sẽ lạc đường và tinh thần
của ta sẽ đói khát khi chúng ta bánh hằng ngày không đúng chỗ.
Những con số trong câu chuyện cũng mang
tính biểu tượng. Năm chiếc bánh và hai con cá tổng cộng là số Bảy, nhắc
ta nhớ đến bảy ngày tạo dựng. Một cái gì đó mới đang được tạo dựng nơi
sa mạc này. 5000 người ngồi thành 50 nhóm; có lẽ đó là kích cỡ về những
cộng đoàn giáo hội sơ khai. Nhưng con số 50 là con số Năm thánh, người
ta đề nghị một sự nghỉ ngơi không làm việc và một thời gian để bắt đầu
tất cả lại. 50 cũng mang âm hưởng lễ Ngũ tuần, một mùa thu hoạch diễn ra
50 ngày sau lễ Vượt qua. Luca chuẩn bị cho chúng ta việc Thánh Thần đến
vào lễ Ngũ tuần, mà ông sẽ kể cho chúng ta trong sách Công vụ tông đồ.
Lễ Ngũ Tuần tượng trưng cho việc trao Lề
Luật cho ông Môsê. Một mùa gặt bội thu báo trước những phúc lành và bữa
đại tiệc mà dân chúng đã hy vọng sẽ chia sẻ vào thời sau hết. Trong khi
Đức Giêsu cung cấp cho dân những nhu cầu hiện tại, bữa ăn cũng ám chỉ
đến lời hứa về yến tiệc trên trời khi họ được dùng ê hề đủ món. Điều này
đúng với bữa tiệc Thánh Thể hôm nay: đây là “bánh hằng sống” nếu muốn,
chúng ta phải theo con đường của Đức Kitô, nhưng đó cũng chỉ đến bữa ăn
cánh chung chúng ta chờ đợi trong hy vọng.
Việc thờ phượng của chúng ta hôm nay nhắm
đến Mình và Máu Chúa Kitô và những hàm ý về những ai được gọi là “môn đệ”.
Bánh được bẻ ra; Chúa Kitô chia sẻ cuộc sống của Người với chúng ta hầu
chúng ta được bẻ ra cho tha nhân nhân danh Người. Chén được đổ ra cho
chúng ta, đến lượt mình, chúng ta sẽ đổ chính mình ra khi tha thứ cho
những ai xúc phạm đến mình; cho kẻ đói ăn và trở nên sự hướng dẫn cho
những ai đang ở “những nơi bị bỏ rơi”.
Trong một số truyền thống Phúc âm có một
“lời mời gọi đến bàn thờ”. Sau khi nghe giảng dân chúng được mời đến
trao dâng cuộc sống của mình cho Chúa Kitô. Những gì chúng ta làm hôm
nay có đôi chút tương tự. Trước hết, chúng ta nghe Lời Chúa và được nhắc
nhớ về những gì Thiên Chúa đã thực hiện và đang thực hiện cho chúng ta;
tiếp đến, chúng ta dâng “Lời nguyện Thánh Thể”, kinh nguyện tạ ơn và
chúc tụng. Sau đó, chúng ta có được “lời mời gọi đến bàn thờ”, đến lãnh
nhận cuộc sống mà Chúa Kitô ban cho ta và canh tân lời cam kết để thực
hiện tương tự như thế - vác thánh giá và sống theo gương Chúa Kitô. Hay,
như Phaolô nhắc tín hữu Côrintô: sau khi Chúa cầm lấy bánh, dâng lời tạ
ơn và bẻ ra Người nói, “hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Mệnh lệnh này
làm thành khuôn mẫu cho cuộc sống chúng ta.
Tin mừng thuật lại bài giảng tương tự từ
Đức Kitô. Đức Giêsu nhận ra rằng những kẻ ở với Người trong hoang địa
đang đói. Người bảo các môn đệ hãy cho họ ăn. Người muốn chúng ta chia
sẻ lương thực ta có và, như các môn đệ, đến với “đám đông” và phân phát
cho kẻ đói. “ Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Khi chúng ta làm thế,
Đức Giêsu sẽ cầm những gì chúng ta trao dâng, chúc tụng và bẻ ra hầu nó
sẽ dư đầy.
Chúng ta cử hành sự tôn kính Mình Chúa
Kitô hôm nay, khi làm như vậy là đào sâu sự kính trọng của chúng ta đối
với cộng đoàn Kitô hữu – Thân Thể Chúa Kitô - ở với chúng ta, cùng thờ
phượng, được dưỡng nuôi và cũng được mời gọi cho kẻ đói ăn. “Hãy làm
việc này để tưởng nhớ đến Thầy”.
|