Năm C

 
 


Chúa Nhật Phục Sinh 05 - Năm C

Cv 14,21b-27 / Kh 21,1-5a / Ga 13,31-33a. 34-35

 

Lm An Phong op : Thiên Chúa Vinh Quang

G. Nguyễn Cao Luật, op : Vinh Quang Của Tình Yêu

Fr Jude Siciliano, opP : Kìa xem họ yêu mến nhau biết bao

Lm Đặng Chí San op : Luật Tự Do : Đôi Cánh Tình Yêu

Lm Như Hạ op : Con Đường Tình Ta Đi

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Yêu như Chúa

Giuse Nguyễn Văn Tiến op : Anh Em Hãy Yêu Thương Nhau

Lm Đỗ Lực op : Yêu Anh Em Để Trong Lòng

Fr Jude Siciliano, op : Cộng đoàn những người yêu nhau

Fr Jude Siciliano, op: Niềm hy vọng và sự an ủi nơi Thiên Chúa

 

 


Lm An Phong op :

Thiên Chúa Vinh Quang
Ga 13,31-33a. 34-35

Tin mừng Chúa nhật 5 mùa Phục sinh là trình thuật "sau bữa tiệc ly". Trình thuật này gồm 3 chủ đề : Chủ đề thứ nhất là Vinh quang của Con Người và của Con Thiên Chúa – Đức Giêsu Kitô (c. 31-32). Chủ đề thứ hai là báo trước cuộc ra đi của Đức Giêsu – “Thầy chỉ còn ở lại với các con một ít nữa thôi" (c. 33); và chủ đề thứ ba là một mệnh lệnh mới : yêu thương nhau (c. 34-35).

"Anh em hãy yêu thương nhau" là lời mời gọi của Đức Giêsu. Nhưng theo kiểu nào ? "Như Thầy yêu thương anh em". Đức Giêsu đã nói những lời này vào cuối bữa tiệc ly. Trước đó ít phút, Người đã rửa chân cho các môn đệ (hành động, chứ không chỉ cảm tính). Vài giờ sau đó, Người đã hiến mạng sống mình cho họ (hành động chứ không cảm tính). Khi đi rao giảng Tin mừng, có lần Đức Giêsu đã dạy "hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những người bắt bớ anh em" – Mt 5,44 (hành động chứ không cảm tính). Như thế, tình yêu thương theo kiểu Đức Giêsu là "hành động chứ không cảm tính". Yêu thương là phục vụ người khác khi họ cần; yêu thương là giúp đỡ, an ủi, bảo vệ người khác khi có thể; bỏ qua những lỗi lầm của người khác... Nói chung, tình yêu thương phải được hành động, chứ không phải chỉ là cảm xúc nhất thời. Tình yêu thương đó chính là "khi làm – chứ không phải cảm – cái gì đó cho những người bé mọn nhất của anh em, là anh em làm cho chính Tôi" (Mt 25,40).

Những hành động như thế chỉ có thể thực hiện được bởi sự cảm thông sâu sắc. Sự cảm thông này phát xuất từ chính cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương. Nói cách khác, "Thiên Chúa là Tình yêu", Người chăm sóc và yêu thương chúng ta, "ngay cả khi chúng ta còn là tội nhân". Thiên Chúa yêu thương mọi người như chính họ là. Như thế, tình yêu thương theo kiểu Đức Giêsu đề nghị là tình yêu thương người khác vì chính họ. Chúng ta yêu thương người khác không phải vì họ dễ thương, giỏi, hay tử tế... nhưng chỉ vì họ là những người con yêu của Thiên Chúa, được Đức Giêsu cứu chuộc và vì họ là người cần được yêu thương.

Trong một thế giới ích kỷ, tranh giành quyền lực, tiền bạc, một thế giới bóc lột những người thấp cỗ bé họng, một thế giới đầy bất công, người kitô hữu được mời gọi trở nên như tình yêu thương đối với đồng loại, đầy lòng trắc ẩn với những người yếu đuối và bất hạnh, tha thứ cho những người thù địch với mình. Nếu các kitô hữu đều hành động như thế, họ sẽ trở nên môn đệ thực sự của Đức Giêsu, là những chứng nhân cho tình yêu Thiên Chúa đối với con người. Lúc đó, tình yêu ấy sẽ xây dựng một xã hội huynh đệ và công bằng.

Phải chăng tình yêu chúng ta mới chỉ là một cảm tính hơn là một hành động cụ thể ?

Phải chăng chúng ta cảm nhận được tình yêu thương của Thiên Chúa và đem phân phát tình yêu thương đó cho những người chung quanh ?

Lạy Chúa

Ngài là lòng nhân hậu vượt trỗi trên các thứ nhân hậu khác,
Ngài là tình yêu vượt trên mọi tình yêu,
Ngài toàn năng uy quyền trên mọi quyền năng,
Ngài không loại trừ ai cả,
và yêu thương chúng con là sản phẩm tay Ngài làm ra.

Vâng, lạy Chúa,
Con tin vào tình yêu độc nhất của Ngài,
một tình yêu Ngài dành riêng cho mỗi người,
cho con và cho từng người con yêu quí,
tình yêu của Ngài vô biên, thắm nồng,
và con sẽ phó thác với lòng đơn sơ và trọn vẹn,
vào tình thương vô biên của Trái Tim Ngài
dành cho chúng con,
tạo thành của Ngài.

M.T. de Soubinan - Thế kỷ 19


G. Nguyễn Cao Luật, OP

Vinh Quang Của Tình Yêu
Ga 13,31-33a. 34-35

Cái chết không chút danh dự

Thử giả dụ người nào đó bị cả làng đem ra giữa nơi công cộng mà xét xử, chắc hẳn người ấy sẽ buồn lắm, nếu có thể được, sẽ dọn nhà đi nơi khác mà ở, chứ ở đấy thì quê lắm, chẳng dám nhìn mặt ai.

Thế mà Đức Giêsu đã chọn cái chết ô nhục hơn. Người đã chịu đóng đinh giữa phường trộm cướp, đã kết thúc cuộc đời như tên tử tội. Trước mắt người đời, cái chết đó là một sự thất bại, một sự thua cuộc, bởi người đời luôn cần chức tước, danh giá, giỏi giang, và lấy đó làm niềm vinh hạnh. Ngược lại, với Chúa Giêsu, chính khi Người chịu treo trên thập giá lại là lúc TC đang được tôn vinh và chính Người cũng đang được tôn vinh.

Bởi thế khi người môn đệ phản bội là Giu-đa ra khỏi phòng tiệc, Đức Giêsu đã nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh.” Không được hiểu đoạn Tin Mừng này theo hướng là sau khi Giu-đa ra đi, trong phòng còn lại những người trung thành là Đức Giêsu được tôn vinh. Thật ra, Giu-đa ra đi là để thực hiện ý đồ nộp Đức Giêsu, và do đó Người nghĩ đến chuyện Người sẽ bị bắt, bị đóng đinh, và đó là giờ của Người.

Đúng vậy, trong cái chết trên thập giá, Đức Giêsu cho thấy tình yêu của Chúa Cha, cũng như thánh ý của Thiên Chúa là cứu chuộc nhân loại. Chính khi đó, Chúa Cha được tôn vinh. Và cũng trong hành vi ấy, Đức Giêsu thể hiện lòng tuân phục hoàn toàn của mình, tình yêu đối với Chúa Cha, với toàn thể nhân loại. Đó là thứ tình yêu quên mình, tình yêu phục vụ: Trong bữa ăn tối, Đức Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, như để khẳng định điều Người nói trước đây: “Ai muốn làm đầu phải là người phục vụ.” Đức Giêsu sống được chân lý: chết cho người mình yêu.

Vinh quang của tình yêu

Thiên Chúa sẵn sàng làm tất cả, miễn là chứng tỏ được tình yêu tha thiết của Người đối với nhân loại. Thiên Chúa sẵn sàng hủy cả mình đi, hủy trọn vẹn danh dự và vinh quang của mình đi, miễn là con người cảm nhận được lòng nhân hậu bao dung vô cùng.

Thiên Chúa sẵn sàng. Miễn là từng con người cảm thấy mình không bao giờ cô đơn và tuyệt vọng. Miễn là từng người cảm thấy được Thiên Chúa cảm thông và tha thứ. Miễn là từng con người cảm thấy mình được Đấng Sáng Tạo yêu thương, an ủi, phục vụ. Miễn là từng con người, dù bất cứ hoàn cảnh nào, dù yếu đuối và tội lỗi đến đâu, cuối cùng, đều nhận thấy lòng mình tràn ngập hân hoan, đều nhận ra đời mình tràn ngập Bình An, đều nhận thấy bóng đêm đời mình vẫn bừng lên ánh sáng. Chỉ như thế thôi cũng quá đủ để Thiên Chúa làm tất cả, đã quá đủ để Thiên Chúa tự hủy, và cũng quá đủ để Thiên Chúa được tôn vinh, được sáng danh.

Vinh quang đó nhỏ bé quá ! Vinh quang đó mỏng manh quá, yếu ớt quá ! Nhưng đó lại là vinh quang đích thực, vinh quang vững bền. Suốt lịch sử dài của Giáo Hội, vinh quang đó vẫn tồn tại dù con người có như thế nào chăng nữa, bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu vẫn còn đó, lòng trung thành vẫn còn đó.

Cũng vì vậy, có những lúc con người tưởng rằng mình đang tôn vinh Thiên Chúa bằng việc này việc nọ, nhưng nếu không có tình yêu, thì đó chỉ là việc tôn vinh giả tạo, hay là làm tổn thương vinh quang của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu mới tôn vinh Thiên Chúa, chỉ có tình yêu mới là phương thế đưa đến vinh quang.

Vinh quang đích thực

Đức Giêsu truyền cho các môn đệ giới răn mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” Thật ra, giới răn đó vẫn có trong lề luật Do-thái, nhưng hôm nay có được ý nghĩa mới mẻ bởi vì không phải chỉ yêu thương như con người với nhau, nhưng như Đức Giêsu yêu thương: đó là tình yêu sẵn sàng chấp nhận hy sinh, chấp nhận thua thiệt, dù cả mạng sống, miễn là người khác được vui, được hy vọng, được sống. Sứ điệp yêu thương chính là sứ điệp của Kitô giáo. Đức Giêsu đã công bố sứ điệp ấy, và đã thực hiện trọn vẹn qua cái chết đau thương trên thập giá.

Đến thánh Gioan, sau cả một đời, gần một trăm tuổi, khi về già, cũng chỉ nhắc đi nhắc lại mỗi sứ điệp: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau.” (1Ga 4,7). Người ta có thể cho rằng vị tông đồ già lẩm cẩm. Nhưng không, đó là một kinh nghiệm, một kinh nghiệm lớn lao của người môn đệ đã chia sẻ những giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời của Thầy, đó là kinh nghiệm của cả một đời suy tư. Sứ điệp ấy được công bố, được nhắc đi nhắc lại như bí quyết duy nhất cho cả thế giới, như một giải pháp sống động cho mọi vấn đề của con người. Nếu người ta yêu mến nhau, yêu mến cách thành thật, yêu mến như Đức Giêsu, thì chắc chắn thế giới đã tránh được bao xung đột, không còn có những cảnh đoàn đoàn lớp lớp kéo nhau chạy khỏi căn nhà của mình như từng xảy ra trên thế giới. Nếu người ta yêu mến nhau, thì không có cảnh những đứa trẻ bị bỏ đói, gầy trơ xương, giương đôi mắt lờ đờ … Nếu người ta yêu mến nhau, vâng, nếu người ta yêu mến nhau …

Nếu người ta yêu mến nhau, nếu người ta nỗ lực làm cho con người được sống phù hợp với nhân phẩm của mình thì Thiên Chúa được tôn vinh. Thiên Chúa không được tôn vinh bằng việc nào khác ngoài việc con người yêu mến nhau. Bởi đó, khi người ta nghĩ rằng mình tôn vinh Thiên Chúa bằng việc này việc nọ mà không có lòng yêu mến, thì đó không phải là tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ là tôn vinh chính mình, tìm vinh quang cho chính mình.

Đàng khác, theo lời Đức Giêsu, tình yêu thương giữa con người với nhau là dấu hiệu của người môn đệ. Không phải người ta đeo cây thánh giá trước ngực, không phải người ta siêng năng đi lễ, tổ chức các buổi lễ mà người ta trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Chỉ khi nào yêu mến nhau, thì khi ấy, người ta mới thực sự là mộn đệ Đức Giêsu. Người Ki-tô hữu đích thực là người chỉ có một khao khát duy nhất, chỉ có một con đường duy nhất và cũng chỉ có một món nợ duy nhất đó là yêu thương. Đức Giêsu đã đi con đường ấy, đi đến cùng, thì người muốn trở thành môn đệ Đức Giêsu cũng phải đi theo con đường ấy.

Một ngày mai cho con người

Đức Giêsu đã chịu chết trên thập giá để mở ra một viễn tượng mới cho cuộc sống con người. Hành vi yêu thương tận cùng này cho thấy chiều kích thực sự của vinh quang – vinh quang của Thiên Chúa cũng như vinh quang của con người. Vinh quang đích thực là tình yêu: con người yêu mến Thiên Chúa và yêu mến lẫn nhau.

Đồng thời, khi nhìn lên mẫu gương vinh quang của Đức Giêsu, các Ki tô hữu, nhất là bạn trẻ còn được mời gọi “có mặt trong nhóm người tiên phong xây dựng một nền văn minh mới : văn minh sự thật và tình thương” (ĐGH Gio-an Phao-lô II, Sứ điệp gửi giới trẻ 1991). Chỉ có sự thật và tình thương mới là văn minh đích thực, và người Ki-tô hữu xây dựng văn minh bằng sự thật và tình thương.

* * *

Đã đến giờ tôi phải rời xa các bạn hữu,

mối ưu phiền bóp nghẹt hồn tôi …

Đây là cuộc vượt qua,

thời điểm đã cận kề.

…

Đã đến giờ phải chiến đấu trong đêm tối,

sự thinh lặng quá nặng nề.

…

Đã đến giờ sự sống được tái lập,

hạt giống sắp nảy mầm.

Đây là cuộc vượt qua,

thời điểm đã cận kề.

Một thế giới được cứu độ,

thức tỉnh để hướng tới vinh quang vĩnh cửu.

theo Phụng vụ Pháp


Fr Jude Siciliano, OP

Kìa xem họ yêu mến nhau biết bao
Ga 13,31-33a. 34-35

Thưa qúi vị,

Bài đọc 2 trích từ sách Khải Huyền hôm nay đúng là một hạt ngọc, xứng đáng để cộng đoàn suy tư. Thánh Gioan mô tả thành Giêrusalem trên trời mà tiên tri Isaia đã tiên báo. Cùng với thành mới, là một triều đại mới, các tạo vật đã được đổi mới. Thành là thành thánh, nơi cư ngụ của Thiên Chúa và nhân loại. Lời hứa ấm áp này được gởi tới tất cả những ai đang bị đế quốc Roma bách hại và bị giết chết. Không thấy đền thờ trong thành, bởi vì Thiên Chúa đang ngự giữa thành. Ngài ở giữa loài người đến muôn thửơ. Ngài trở nên đấng An ủi và lau khô mọi giọt lệ của chúng ta. Mọi gian nan khốn khổ rồi sẽ qua. Sự chết không con nữa. Trật tự cũ với những khổ đau, hạn chế cám dỗ và lừa đảo của satan sẽ vĩnh viễn qua đi. Sự biến đổi sẽ hoàn toàn trọn vẹn. Mọi sự sẽ được làm mới.

Tình hình ở trong cộng đoàn của Th Gioan xem ra bình thường, không có chi đổi thay. Nhưng thực ra việc Chúa sống lại đã làm cho thế giới cũ không còn nựa, trật tư mới đã khai sinh. Như vậy bài đọc thứ hai của thánh lễ hôm nay đụng chạm đến ước vọng sau thẳm nhất của loài người, ước vọng được xem thấy một xã hội toàn hảo “utopia” mà nhiều triết gia đã từng mơ ước. Loài người đã có quá nhiều chiến tranh, xung đột, nghèo đói, đau khổ không cùng. Trái đất, bầu khí biển khơi đang bị phá hủy và làm ô nhiễm đến độ không chịu đựng nổi. Chúng ta đã qúa mệt mỏi ,chỉ còn hy vọng vào thị kiến khải huyền này mau trở thành hiện thực. Nhưng phải chăng đó chỉ là bánh vẽ ? phải chăng chúng ta phó mặc mọi sự vào tay Chúa để có được một tương lai tươi sáng hơn ?

Đúng là như thế, khi nghe bài đọc hôm nay, tôi thấy có hy vọng nào đó trong thâm tâm. Tôi có một cảm tưởng ấm cúng hay hài lòng về những điều Gioan mô tả trong sách Khải Huyền mặc cho những khó khăn hiện tại, mặc cho nhửng tai ương sắp tới, mọi sự rồi sẽ qua đi !ước vọng bình an se được thực hiện. Khải huyền là lời an ủi chứ không phải lời đe dọa. An ủi đối với tác gỉa,với cộng đoàn của tác gỉa đang xem thấy đền thờ Giêrusalem bị phá hủy và họ phải phân tán khắp nơi, an ủi đối với tất cả mọi tín hữu đang bị bách hại. Cho nên tôi hãy vững lòng trông cậy, hãy tưởng nghĩ đến những gì tốt đẹp, an toàn. Thế giới hiện tại sẽ bị sụp đổ và phá hủy, khải huyền đoan chắc như vậy. Tương lai sẽ tươi sáng cho các tín hữu. Ngày nào đó Chúa se lôi kéo mọi sự đến khải hoàn cuối cùng. Điều đó không phải chỉ là giấc mơ ngày mà là thị kiến của hiện tại, hy vọng trong thời nguy khó, một lịch hành động cho tương lai. Thị kiến về tương lai xác định hiện tại, cho nên bây giờ tôi sống là sống bằng ánh sáng của thành thánh Giêrusalem mới, đang tới. Bây giờ tôi can đảm đối mặt với tử thần trên mọi lãnh vực nó thể hiện, rất có thể tôi không lau sạch nước mắt trên mọi khuôn mặt. Chúa sẽ làm điều đó. Chí ít trong thời gian phục sinh này, hy vọng sẽ thúc đẩy tôi làm một vài điều thiện để an ủi những người cùng khốn. Tôi hãy hành động như một công dân của thành Giêrusalem mới, trên trời.

Bài tin mừng hôm nay làm cho cộng đoàn bối rối chút ít. Câu mở đầu thật đột ngột: “Khi Giuđa đã bỏ đi…” Xem chừng như lạc đề. Bỏ cái gì ? bỏ ai ? bỏ nơi nào ? Mệnh đề bỏ đi gợi lên nhiều ý nghĩa hơn là chỉ bỏ căn phòng, có thể là hắn bỏ nếp sống tông đồ, bỏ thầy của hắn, bỏ tình yêu đối với Chúa Giêsu như chúng ta làm tan vỡ một quan hệ tình cảm vậy, lúc ấy chúng ta bỏ đi. Có thể Giuđa muốn thầy đổi đời sống, tự do hơn, độc lập hơn cho dù phải chấp nhận liều lĩnh giống như cô Kiều ở lầu Ngưng Bích : “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. Giuđa đã bỏ đi ngay sau khi Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ và dậy các ngài “Tôi đã rửa chân cho anh em, anh em cũng phải rửa chân cho nhau !”. Ngài còn hỏi họ : “Anh em có hiểu điều tôi vừa làm cho anh em không ?” để đoan chắc họ thấu hiểu sứ điệp của Ngài, sứ điệp làm đầy tớ cho cộng đoàn. Giuđa cũng bỏ đi sau khi đã nhận miếng bánh Chúa Giêsu trao. Theo tục lệ Do thái miếng bánh đó là dấu chỉ của tình bạn hữu và hòa giải. Vậy thì hắn đã từ chối cơ hội làm hòa với cộng đồng, với Chúa Giêsu. Giuđa đã bước đi, bỏ lại đằng sau hắn cả một kho tàng ân phúc, cả một trời bể tình thương, để chọn lấy ba mươi đồng bạc. Thật là ngu xuẩn và dại dột. Nhưng việc của Giuđa vẫn thường được lặp lại trong cuộc đời các tín hữu, kể cả chúng ta.

Thật là một điều lạ lùng, tin mừng suốt mùa phục sinh lại trích từ bài diễn từ cuối cùng của Chúa Giêsu trong nhà tiệc ly. Nghe như chúng ta đi ngược thời gian, lùi lại trước khi Chúa sống lại, trước cả cái chết của Ngài. Thế thì việc chi đã xẩy ra lúc ấy ? Chúa Giêsu đang ngồi ở bàn ăn với các tông đồ, Giuđa bỏ đi hối thúc diễn từ về sự tôn vinh của Ngài, nghĩa là về cái chết nhục nhã, về sự sống lại vinh hiển và việc Ngài trở về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài báo trước những điều đó trong mấy lời vắn tắt: “Các con thân mến, Thầy chỉ còn ở với các con một ít lâu nữa ! âm hưởng của các lời đó có tính chất yêu thương, giống như giọng điệu của một người cha sắp ra đi vĩnh viễn nói với các con cái mình: “Các con thân yêu, các con hãy ở lại với nhau sau khi cha chết, và tình yêu gia đình sẽ nối kết các con với nhau “.

Như Chúa Giêsu đã yêu thương các tông đồ, các tông đồ cũng phải thương yêu nhau. Bốn tin mừng, nhất là tin mừng theo thánh Gioan nói rất nhiều về tình yêu thương, đặc biệt đối với những ai đang cần giúp đỡ, nhưng ở đây Chúa Giêsu thúc giục, truyền lệnh cho các ngài phải yêu thương nhau. Ngài muốn tình yêu là mối dây liên kết đoàn của Ngài. Cộng đoàn thánh Gioan thực tế đang chịu đựng bất hòa (1 Ga.2,4) và các mối căng thẳng bên ngoài đe dọa sự tan rã của cộng đoàn.

Điều này nghe giống tình trạng của cộng đoàn chúng ta ngày nay. Các buổi tụ họp phụng vụ của chúng ta nhân danh Chúa Kitô và các bí tích của Ngài cũng cần được nhắc nhở luôn tăng cường tình yêu thương, kẻo chúng ta cũng thường có khuynh hướng tan rã thành các nhóm nhỏ chống đối nhau. Linh mục Ronald Rolheiser thực tế hơn khi viết: “Cần phải có sự chia sẻ đích thực trong đời sống chung, nghĩa là chúng ta phải cầu nguyện cùng nhau, cử hành phụng vụ cùng nhau, chia vui sẻ buồn cùng nhau, có trách nhiệm trên đời sống của nhau, cởi mở, thông cảm với nhau trong các cơn thử thách, sửa chữa lỗi lầm trong tình thân ái, cùng nhau lo việc phục vụ giáo xứ, ngay cả chia sẻ với nhau gánh nặng kinh tế của nhà thờ, các chương trình cấp dưỡng, bảo trì, xây cất hàng xứ.

Tất cả những điều này về căn bản, nói lên chúng ta liên kết chặt chẽ trong cuộc sống. Có thể chúng ta còn sống trong nhà riêng, ngân sách riêng nhưng vì sống trong một giáo xứ, chúng ta không còn hoàn toàn bất cần đến nhau. Chúng ta phải gánh chung số phận của giáo xứ, trả lời chung về đời sống của nhau. Tóm lại, chúng ta không còn là những mảnh đời riêng lẻ, loại trừ lẫn nhau”. (Tinh thần Kitô hữu. Trg. 121, NY. 1999).

“Hãy yêu thương nhau”. Có phải đây là một giới răn mới ? Đạo Do thái và các truyền thống tôn giáo khác không nói thế ư ? Mới ở điểm nào ? Khi mà tất cả mọi tôn giáo đều dậy dỗ như vậy? Thực sự Chúa Giêsu muốn nói gì khi Ngài truyền cho các môn đệ thương yêu nhau ? Có lẽ Chúa muốn mở một kỷ nguyên mới trong đời sống các tín hữu ? Có lẽ Ngài muốn bày tỏ cho họ tình yêu thí mạng sống vì người mình yêu làm mẫu mực cho họ ? hay Chúa nghĩ đến một thứ tình yêu khác, tình yêu tha thứ mà Ngài sẽ tỏ cho Giuđa khi chấm miếng bánh trao cho hắn để làm biểu tượng tình bạn đổi mới và tăng cường , bất chấp ý đồ phản bội của hắn ?

Thực ra, các tông đồ phải nghiền ngẫm việc chúa hạ mình rửa chân cho họ, làm đầy tớ họ, để nhìn ra khía cạnh mới của giới răn Ngài truyền. Chỉ khi nào ông chủ trở thành tôi tớ, kẻ thù trở thành bạn hữu thì mới có bình an thực. Chỉ khi nào tình yêu phục vụ ngự trị thì cộng đoàn mới có hạnh phúc thật. Chúa dậy các môn đệ bày tỏ tình yêu đối với nhau không như thói thường thế gian, địa vị, tài năng, tiền bạc, nắm chân bắt tay, liếc mắt đưa tình, qùa cáp … Ngài dạy đường lối yêu thương như Thiên Chúa yêu thương nhân loại- khi nhân loại còn là những con người tội lỗi. Đó là đường lối yêu thương hoàn toàn mới mà Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ thực hiện. Chúng ta hãy đối xử với nhau đầy tình thương mến, ngay cả khi có những bất đồng về ý kiến, về chữ đỏ, về chính trị, về xã hội, gia đình, con cái … Những bất đồng này đầy dẫy trong cộng đoàn tín hữu ngày nay. Dầu thế nào đi nữa, ích lợi chung và tình đoàn kết của cộng đoàn phải vượt lên trên mọi sự, để cho thế gian thấy rằng : “Kìa xem họ yêu mến nhau biết bao”. Ước chi được như vậy. Amen ..


Lm Đặng Chí San
op

Luật Tự Do : Đôi Cánh Tình Yêu
Ga 13, 31-33. 34-35

Tình Yêu thật sự thì đơn giản xiết bao. Đó là thứ Tình Yêu không phân biệt, không điều kiện, không chấp vào những hay dở hơn thua nơi người, và càng không chấp vào những hay dở hơn thua nơi mình, lại càng không cần bám víu lệ thuộc vào những màu mè hoa lá, những long trọng nết na, những khuôn thước giáo điều, những tư cách long trọng. Tình Yêu ấy như cả một bầu trời. Rất thênh thang mà cũng rất thật. Rất sâu sắc mà cũng vô cùng đơn giản.
Thầy Giêsu đã yêu chúng ta bằng một Tình Yêu vô điều kiện, vô phân biệt, hoàn toàn đơn giản và tự do, hoàn toàn thắm thiết thân tình và hết sức chân thành rộng mở. Đó là Tình Yêu của Trái Tim Thiên Chúa. Đó là Tình Yêu bộc lộ Bản Chất Thẳm Sâu Thiên Chúa. Cho nên, khi Thầy vâng theo Thánh Ý Chúa Cha mà đi chịu chết, thì Thầy đuợc tôn vinh, Thiên Chúa cũng được tôn vinh. Hay đúng hơn, Tình Yêu đuợc tôn vinh. Tấm Lòng rộng mở và Bản Chất sâu thẳm nhất của Thiên Chúa đuợc tôn vinh. Để ngày hôm nay, khi Thầy đã sống lại, ta lại càng có quyền tin rằng, tất cả những gì rườm rà của lề luật, tất cả những gì nặng nề của cơ chế, tất cả những gì thuộc về sự yếu kém hèn mạt của con người, thực ra, chỉ là hình tướng bên ngoài, là chuyện nhỏ , vô cùng nhỏ ! Trong Ánh Sáng Phục Sinh của Thầy Giêsu, tất cả trần gian cho đến toàn thể vũ trụ này chỉ còn là một Tình Yêu Bát Ngát. Đó là thứ Tình Yêu mà mỗi người đang được tắm gội, được bơi lội, được thoả thuê êm mát ngọt lành.
Cho nên, với Đạo Mới, với Thành Thánh Giêrusalem Mới, với Trời Mới Đất Mới đã được xây dựng lên bằng Cái Chết và Sống Lại của Thầy, thì chỉ có một Giới Răn Mới và cũng là Giới Răn Duy Nhất : Giới Răn Yêu Thương. Không còn bất cứ một giới răn nào khác nữa. Không còn bất cứ sự phức tạp và khuôn khổ chật chội nào để gò ép con người, và dùng những thứ khuôn khổ ấy để đánh giá, loại trừ nhau khỏi trái tim mình nữa. Dễ chịu và êm ái quá, những Lời của Thầy trăn trối về Giới Răn Mới và Giới Răn Duy Nhất : Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em ! Như thế, mỗi người không còn phải mặc cảm và sợ hãi vì bất cứ điều gì thầm kín khốn khổ riêng tư nữa. Mỗi người đều có toàn quyền tin tưởng rằng, chẳng những mình đang được Thiên Chúa và Đức Giêsu yêu thương, nhưng đồng thời, mình cũng đang hoàn toàn có giá trị, có ý nghĩa, rất được tôn trọng, trong ánh mắt và trong con tim của anh chị em nhân loại của mình, vô điều kiện, bất chấp mình như thế nào !

Giáo Hội Tân Ước hai ngàn năm nay hình như dần dần lại đang BÀY VẼ ra rất nhiều giới luật. Giáo Luật có cả mấy ngàn khoản. Hiến Pháp mỗi Dòng có cả mấy trăm điều, và luôn được xưng tụng là “Qui Luật Thánh” ... Thực ra, ngay cả Mưới Giới Răn của Moise nữa, cũng thuộc về Đạo Cũ rồi. Vậy mà chúng ta cứ phải bày đặt ra lắm điều lắm chuyện quá. Có đúng không ? Có phù hợp với Trái Tim của Thầy không ? Phải chăng, ban đầu, Giáo Luật, Hiến Pháp ... chỉ là những thứ được dùng để trợ đỡ cho Giới Răn Duy Nhất. Nhưng dần dà, người ta đã đánh mất điều cốt lõi là Tình Yêu, là Chúa Giêsu, cho nên, đành phải rất “thượng tôn luật pháp” để đúc mình và đúc nhau vào lề luật khuôn phép ?

Phải chăng, lúc này, chúng ta cần hết lòng TIN và THỂ NHẬP vào quyền năng Phục Sinh của Thầy Giêsu, để có thể sống Giới Luật Bát Ngát Yêu Thương và cũng Tràn Đầy Tự Do, nhờ vậy, mới thực sự xuất hiện những Con Người Mới, Giáo Hội Mới, Nhân Loại Mới.


Lm Như Hạ op

Con Đường Tình Ta Đi
Ga 13,31-33a. 34-35

Mẹ là biểu tượng cao quí nhất của tình yêu. Không thực tại tình yêu nào sống động bằng tìnhMẹ. Mẹ qui tụ tất cả những nét hấp dẫn nhất và quen thuộc nhất cho đời con vươn lên. Hấp dẫn vì đầy tính sáng tạo và mới mẻ. Quen thuộc vì Mẹ đầy ắp tình yêu nồng nàn và thắm thiết nhất, vượt lên trên tất cả những mệt mỏi của thời gian. Nhưng tình mẹ chỉ diễn tả một phần nét sâu sắc tình yêu Đức Giêsu muốn nói đến hôm nay : Tình Yêu Thiên Chúa.

NHỮNG CHIỀU KÍCH TÌNH YÊU.

Tình yêu mầu nhiệm như chính Thiên Chúa. Đức Giêsu đã mạc khải tất cả những nét kỳ diệu trong tình yêu Thiên Chúa. Giữa những giới hạn cuộc đời, tình yêu vẫn tìm được những nét vươn lên tới vô cùng. Đó là điều đã được cảm nghiệm trong thực tế đêm tiệc ly. Giuđa có thể được coi là biểu tượng của lòng hận thù và phản bội. “Khi Giuđa ra khỏi phòng tiệc ly,” (Ga 13:31) tức ra khỏi cộng đồng tình yêu, “Đức Giêsu nói : ‘Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người.’” (Ga 13:31) Một biến cố bất lợi như thế đã nhanh chóng biến thành một cơ hội để Thiên Chúa mạc khải mầu nhiệm tình yêu. Mở đầu và kết thúc Tin Mừng hôm nay là hai cực đối nghịch của tình yêu. Tình huống có thể trở thành một thách đố hay một cơ hội để tình yêu vươn lên tới mức có thể tôn vinh Thiên Chúa.

Tất cả vũ trụ được tạo dựng để tôn vinh Thiên Chúa. Công cuộc tạo dựng phức tạp và khó khăn chừng nào ! Nhưng mục đích cũng chỉ là tôn vinh Thiên Chúa. Tất cả vũ trụ mới đủ sức nói lên vinh quang Thiên Chúa một phần nào. Thế mà hôm nay nhân dịp một môn đệ phản bội rời phòng tiệc để thực hiện mưu đồ đen tối, Đức Giêsu lại biến thành một cơ may cho ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi. Cái nhìn của Người lúc nào cũng thấy ánh sáng dù ngay giữa đêm tối. Thật kỳ diệu ! Chữ “tôn vinh” được nhắc tới năm lần, chứng tỏ vinh quang Thiên Chúa sẽ tỏ rạng gấp ngàn lần qua cái chết của Đức Giêsu. Người chết để chứng tỏ tình yêu tuyệt vời đối với Chúa Cha. Tình yêu này đã đem lại vinh quang vô cùng lớn lao cho Thiên Chúa. Và vinh quang Người nhận được cũng có một giá trị vĩnh cửu và vô cùng vì phát xuất từ Thiên Chúa. Quả thế, “nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.” (Ga 13:32) Tình yêu quả thực là một sức mạnh đem lại vinh quang cho Thiên Chúa hơn cả ngàn vũ trụ này.

Chính vì thế, Đức Giêsu mới cho thấy tất cả nét hấp dẫn cực kỳ của tình yêu khi mạc khải : “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau.” (Ga 13:34) Chỉ tình yêu mới có khả năng canh tân mọi sự. Nhưng điều răn thương yêu không mới như Đức Giêsu nói. Chắc chắn Chúa biết sách Lêvi dã truyền người Do thái phải thương yêu nhau. Ơ đây điều răn cũng hướng về các Kitô hữu khác, theo nghĩa chặt tương tự (Ga 13:34) Vậy tại sao Chúa dám quả quyết đó là một điều răn mới ? Mới vì đó là “lệnh truyền chính yếu của một giao ước mới, một giao ước thiết lập tương quan giữa Thiên Chúa và dân Người xoay quanh quả tim mới (Gr 31:31-34)” (Fahey 1994:342). Mới vì khả năng yêu không nằm trong con tim giới hạn của con người, nhưng là trái tim vô biên của Thiên Chúa. Nói khác, chính Thánh Linh sẽ bảo đảm chắc chắn tình yêu có thể thực hiện được trong tương quan hôm nay từ tầm mức cá nhân tới cộng đoàn. Hơn nữa, tình yêu có một động lực và nền tảng mới là chính Đức Giêsu, đã hiến thân chịu chết cho các môn đệ và những người theo Chúa.

Hơn nữa, tình yêu còn có một chiều kích và nồng độ mới. Từ nay, tình yêu không chỉ đóng khung trong giới hạn chủng tộc hay quốc gia. Tình yêu cũng không giới hạn trong khuôn khổ những người cùng một tín ngưỡng hay chính kiến. Nhưng tình yêu mở tung tới một chiều kích vũ trụ, vượt ra ngoài những biên giới vật chất. Đúng hơn, tình yêu có chiều kích bằng Thiên Chúa, “vì Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8) Thực tế, tình yêu đã hóa thân thành xác phàm nơi Đức Giêsu. Nhìn vào con người và cuộc đời Người, chúng ta có thể thẩm định tất cả chiều kích và mức độ tình yêu. Từ nay tình yêu không chỉ là “yêu thương tha nhân như chính mình”, nhưng là “yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13:34) Thầy yêu thương chúng ta hơn chính mình. Thầy yêu thương một cách vô điều kiện và vô cùng quảng đại trong cái chết cực kỳ dã man trên khổ giá cho mọi người, kể cả những người hành hình.

Chính trong nét tình yêu vĩ đại đó, Đức Giêsu mạc khải tình yêu như một sức mạnh đem lại vinh quang Thiên Chúa. Chẳng phải công trình hay sự nghiệp, chẳng phải lời nói hay giáo thuyết hay ngay cả việc tử đạo nào đem lại vinh quang cho Thiên Chúa. Nhưng chỉ tình yêu mới diễn tả trọn vẹn vinh quang Thiên Chúa dành cho Đức Giêsu và Đức Giêsu mang lại cho Chúa Cha. Vinh quang vượt trên thời gian và bao trùm mọi thời gian, mặc dầu được mạc khải trong thời gian. Làm sao tình yêu có khả năng kéo vĩnh hằng vào thời gian như thế ? Tình cách hiện tại đã được nói đến ngay khi Đức Giêsu mở miệng : “Giờ đây, Con Người được tôn vinh ...” (Ga 13:31) “Quá khứ, hiện tại và tương lai được tái thanh lọc dưới ánh sáng thời gian đang đến. Bởi vậy, trong câu Ga 13:31, Đức Giêsu loan báo trước thời cánh chung đang đến.” (NIB 1995:732) Thời cánh chung sẽ đến với hình ảnh Con Người ngự đến trong vinh quang, Con người từ nơi Chúa Cha xuống thế và lại trở về cùng Chúa Cha. Trong hai nhịp lên xuống đó, tình yêu vẫn là nhịp đập của con tim Giêsu lúc nào cũng lắng nghe và vâng theo Thánh ý Chúa Cha. Thật vậy, “đối với Đức Giêsu, tuân giữ giới răn Thiên Chúa là thể hiện tình yêu của Người đối với Thiên Chúa trong lời nói và việc làm (x.Ga 12:49-50).” (NIB 1995:732) Nói khác, chính tình yêu đã liên kết chặt chẽ Người với Thiên Chúa. Người cũng muốn tình yêu trở thành sức mạnh đưa người tín hữu vào tương quan Thiên Chúa. Thực thế, “nhờ hành động tình yêu, tín hữu được liên kết với Thiên Chúa.” (NIB 1995:732) Tương quan đó bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa và Đức Giêsu. Điểm độc đáo của giới răn mới chính là tình yêu ghi dấu tương quan giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu. Chính vì thế, Người mới cho thấy ngôn ngữ quốc tế trong tiếng nói tình yêu : “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này : là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13:35)

Nhưng từ tương quan con người, làm sao con người có thể nhận ra tương quan Thiên Chúa nơi Đức Giêsu ? Vì tự bản chất tình yêu hướng về và mời gọi tình yêu. Không có dấu chỉ nào rõ hơn về tình yêu Thiên Chúa bằng chính tình yêu nơi những con người tin vào Đức Giêsu. Tiếng nói con tim có thể đạt tới mọi thụ tạo, chứ không riêng con người. Khi đã đạt tới sự hòa hợp mọi thụ tạo và hòa giải xã hội con người hoàn toàn với Thiên Chúa, tình yêu có sức cải biến mọi tương quan con người và mọi cơ chế xã hội trên mọi bình diện. Chỉ trong Nước Chúa mới đạt tới đối tượng của niềm hi vọng lớn lao đó. Nhưng ngay trên trần gian, Giáo hội có thể là nơi phác họa phần nào hình ảnh lý tưởng Nước Thiên Chúa, vì trong Giáo hội “không ai là người ngoại quốc” (ĐGH Gioan Phaolô II, VietCatholic 5/3/2001) Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề cơ chế quân chủ, nhưng Giáo hội đã cải biến guồng máy để có thể trở thành nơi đón tiếp mọi người không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa. Một sức qui tụ lớn lao như thế chắc chắn không phải hoàn toàn do khả năng con người. Nhưng với Thánh Linh, con người có thể thực hiện giấc mơ của Đức Giêsu thổ lộ với Chúa Cha “để họ nên một như chúng ta là một.” (Ga 17:22) Đó là khởi sự “trời mới đất mới” ngay trên trần gian.

ĐỔI MỚI MỌI SỰ.

Đã đến lúc Thiên Chúa “đổi mới mọi sự.” (Kh 21:5a) Nhưng Người sẽ đổi mới mọi sự bằng cách nào, nếu không khỡi sự từ tình yêu ? Tình yêu có khả năng “lau sạch nước mắt” (Kh 21:4), chôn vùi tử thần (x. 1 Cr 15:55), chấm dứt cảnh “tang tóc, kêu than và đau khổ.” (Kh 21:4) Quả thực, Thiên Chúa “đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,” (1 Cr 15:57) hiện thân sức mạnh tình yêu Thiên Chúa đang hoạt động trong Giáo hội, một cộng đoàn do Chúa thiết lập. Cộng đoàn đó là hệ quả tất nhiên của tình yêu Thiên Chúa. Bởi đó, cộng đoàn mới có khả năng trở thành dấu chỉ của tình yêu đó.

Nhưng thực tế, không phải lúc nào cũng lý tưởng như Chúa Giêsu mơ ước. Đã có nhiều phản chứng ngay trong Giáo hội. Trong lịch sử có nhiều hậu duệ “Giuđa ra khỏi phòng tiệc ly.” (Ga 13:31) Giáo hội nào cũng nhân danh Chúa để tỏ những dấu hiệu ngược với “lòng thương yêu thương nhau.” (Ga 13:35) Người ta đã quá tính toán theo cung cách người lớn, chứ không phải là “những người con bé nhỏ của Thầy” (Ga 13:33a) để có thể lắng nghe Thầy và nghe nhau. Mỗi Giáo hội đều cố thêu dệt hình ảnh Đức Giêsu theo lối nhìn của mình, rồi tự hào chỉ có cái nhìn của mình là chính xác nhất. Mỗi Giáo hội đều có những bảng phong thần riêng. Cái gì cũng gọi là thánh. Ngay cả việc chém giết cũng gọi là thánh chiến. Nếu không có cuộc thăm viếng Hy lạp vừa qua của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, có lẽ chúng ta vẫn còn mơ ngủ với những bước oai hùng của những vị “thánh” trong cuộc “thánh chiến” cách đây tám thế kỷ. Quả thực, theo ĐGH Gioan Phaolô II, Giáo hội cần trải qua một cuộc “thanh tẩy ký ức” để có thể thực hiện giới răn mới của Chúa. Quá khứ nặng nề không thể xóa nhòa trong tâm trí những anh em Chính Thống Đông Phương về việc những anh em Kitô hữu Latinh đã tàn phá thê thảm kinh đô Constantinople, thành trì của anh em Kitô Hữu Đông Phương. Những anh em đó đã ra đi giải phóng thánh địa Giêrusalem, bảo đảm tự do cho việc hành hương đất thánh. Nhưng rồi họ quay trở lại tàn sát anh em cùng một niềm tin với mình. Sự kiện đó làm cho những anh em Công giáo đau đớn sâu xa. Đó là những lời thú nhận khiêm tốn chính thức Đức Thánh Cha đã phát biểu khi đến thăm Hi lạp ngày 4/5/2001. Chắc hẳn những anh em Chính Thống không khỏi xúc động trước thái độ can đảm đó của vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo.

Những tâm tình chân thành đó vô cùng cần thiết để đặt nền tảng cho cuộc đại kết giữa những anh em Kitô giáo. Chúa Thánh Linh đang làm việc để xóa bỏ quá khứ đau thương và hàn gắn những rạn nứt từ bao thế kỷ. Trong lịch sử, anh em Chính thống đã vô cùng cay đắng trước những thái độ ngạo mạn và tàn phá của những anh em Công giáo. Cay đắng đến nỗi anh em Chính thống thà sống dưới sự cai trị của Hồi giáo hơn là chung sống với Công giáo ! Có bao giờ chúng ta có thể hiểu thấu những chiều kích đau thương đó từ trong cùng một cộng đoàn những người tin nơi Đức Giêsu ?! Thực tế, “chứng từ Giáo hội trên thế giới luôn bị tổn thương và suy yếu vì sự ghen ghét và thiếu yêu thương trong những tiếp xúc giữa các Kitô hữu với nhau. Nhiều lúc yêu kẻ thù còn dễ hơn, vì có thể không phải tiếp xúc với họ hằng ngày.” ( NIB 1995:734)

Thực tế thật bi đát ! Làm sao có thể chuyển từ nhận định sang hành động để hàn gắn những vết thương đó ? Thực ra chẳng có con đường nào khác ngoài Đức Giêsu Kitô. Người không dừng lại ở lý thuyết. Nhưng ngay cả khi đau khổ nhất vì chính người đệ tử thương mến phản bội, Người vẫn tìm thấy con đường tôn vinh Thiên Chúa. Người ta đã tìm vinh danh mình quá nhiều. Vinh quang con người đã che lấp cả vinh quang Thiên Chúa. Đó là nguyên nhân tại sao có những đổ vỡ giữa các Giáo hội. Trong khi Đức Giêsu xác quyết : “Tôi không tìm vinh quang cho mình. Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả,” (Ga 8:50, 54) thì các môn đệ của Chúa lại loay hoay với những tính toán làm cho vinh quang của mình ngày càng sáng hơn anh em. Hơn lúc nào cần đọc lại kinh Lạy Cha : “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển !” (Mt 6:9) để tìm được sự hiệp nhất vô cùng cần thiết cho chứng từ hôm nay !


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Yêu như Chúa
(Ga 13,31-33a.34-35)

 Tình yêu là một đề tài muôn thuở, nhất là vào thời buổi hiện nay, tình yêu là một mặt hàng đắt khách nhất. Thực vậy, tình yêu xuất hiện trên báo chí và sách vở, trên phim ảnh và mọi ngành nghệ thuật. Những bản tình ca, những tạp chí chuyên đề về tình yêu vẫn thu hút mọi người. Có vẻ như tình yêu hiện diện ở mọi nơi và chi phối đời sống nhân loại.

Thế nhưng sự thật lại khác hẳn. Thế giới chúng ta đang sống lại là một thế giới bị xâu xé bởi hận thù. Người ta tưởng rằng khi cuộc chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Hoa Kỳ kết thúc, thế giới sẽ được sống trong hòa bình. Tuy nhiên, từ đó đến nay, thế giới vẫn không ngừng sôi sục vì chiến tranh và xung đột. Xung đột giữa các quốc gia vốn một thời là anh em với nhau, xung đột giữa các bộ tộc cùng một đất nước, xung đột giữa các tín đồ của những tôn giáo khác nhau, người ta bắn giết nhau không nương tay, nhân loại bị đe dọa bởi chính con người. Vì thế, cách đây mấy năm Liên Hiệp Quốc đã chọn chủ đề và cổ võ cho lòng khoan dung, bởi lẽ chỉ có lòng khoan dung mới cứu được thế giới khỏi thảm họa diệt vong. Và trong những năm gần đây, Đức cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng thường đề cập đến một nền văn minh tình thương.

Thực vậy, con người chỉ được coi là văn minh khi biết bước ra khỏi sự man rợ của thú tính, khi biết sống yêu thương và nhìn nhận kẻ khác cũng là người như mình, bất chấp những khác biệt về chủng tộc, mầu da, tôn giáo hay quan điểm chính trị.

Xây dựng một nền văn minh dựa trên tình thương, đó là bổn phận cấp bách của người Ki-tô hữu hôm nay, và đó cũng là ý muốn của Chúa Giêsu khi Ngài nói với chúng ta : “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau”. Chúa Giêsu đã coi tình yêu thương giữa các Ki-tô hữu là dấu chỉ để mọi người nhận ra họ là môn đệ đích thực của Ngài. Nói cách khác, người môn đệ của Chúa phải là người biết yêu thương.

Nhìn vào dòng lịch sử, chúng ta thấy yêu thương nhau vẫn là một nét tiêu biểu của các tín hữu buổi sơ khai. Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy : họ coi mọi sự như là của chung, họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới đền thờ cầu nguyện và bẻ bánh, cùng nhau chia sẻ của ăn nuôi thân. Trước tình yêu thương như thế, dân ngoại đã phải thốt lên : kìa xem họ yêu nhau biết chừng nào.

Không có tình yêu thương thì chẳng ai nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa Ki-tô, bản chất của người môn đệ Chúa là yêu thương. Tuy nhiên, trong thực tế, các Ki-tô hữu hôm nay vẫn chưa sống nghiêm túc giới răn này. Có biết bao nhiêu tranh chấp đã, đang và sẽ còn xảy ra trên thế giới giữa những anh em Ki-tô hữu. Phải chăng dấu ấn của Chúa Ki-tô chưa thực sự in sâu vào tâm hồn và cuộc sống để chúng ta có thể vượt lên trên những bất đồng và dị biệt ?

Chúng ta suy nghĩ gì về lời phát biểu sau đây của một người Ấn Độ : “Nếu tất cả những người Ki-tô hữu sống đúng như lời Kinh Thánh dạy, nghĩa là biết yêu thương nhau như Chúa đã truyền, thì chỉ trong vòng 5 năm nữa thôi, họ sẽ chinh phục được toàn thể đất  nước Ấn Độ”.

Tình yêu thương thì xưa như trái đất. Khi bắt đầu có con người là có tình yêu thương, và cũng từ đó có lời dạy : hãy yêu thương nhau. Tôn giáo nào cũng dạy tình yêu thương. Văn hóa Á Đông cũng đã từng nêu châm ngôn : “Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể đều là anh em. Để nhắc nhở mọi người yêu thương nhau, đạo lý cha ông chúng ta cũng đã dạy:  “Thương người như thể thương thân”. Ngay trong Cựu Ước cũng nhiều lần dạy : “Hãy yêu đồng loại như chính mình”. Vậy điều răn yêu thương Chúa Giêsu gọi là điều răn mới. Mới ở chỗ nào ?

Trước hết, vì đây là điều răn của giao ước mới, giao ước được ký kết bằng máu của Ngài để chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với Thiên Chúa và tình yêu của Ngài đối với mọi người. Và Chúa còn đưa ra một lý lẽ nữa, đó là kiểu mẫu yêu thương. Luật cũ dạy : “Hãy yêu thương đồng loại như chính mình”, nghĩa là lấy bản thân mỗi người làm tiêu chuẩn : tôi yêu tôi thế nào thì tôi cũng hãy yêu người khác như vậy. Tình yêu đó còn giới hạn và chưa loại trừ được những động lực vị kỷ. Còn Chúa Giêsu, Ngài đến để hoàn tất Cựu Ước, Ngài đưa ra những đòi hỏi mới về tình yêu thương, và Ngài đưa tình yêu thương đó lên tột đỉnh, đó là Ngài dạy : Hãy yêu thương nhau như chính Ngài đã yêu thương chúng ta. Như vậy, tiêu chuẩn và kiểu mẫu cho chúng ta yêu thương nhau chính là tình yêu thương của Ngài đối với chúng ta, và tình yêu thương của Ngài cũng là động lực thúc đẩy chúng ta yêu thương nhau.

Nói về tình yêu thương nhau, chúng ta đã nói hoặc đã nghe nhiều rồi, chúng ta quá biết rồi. Nhưng từ chỗ biết đến chỗ sống, luôn có một khoảng cách : chúng ta vẫn thích lấy lòng mình làm thước đo tình yêu dành cho người khác; chúng ta vẫn muốn giới hạn tình yêu ấy trong một mức độ nào đó để khỏi phải thiệt thòi cho mình. Chúng ta chỉ yêu người nào yêu mình, chúng ta làm gì cho ai khi biết rằng chúng ta sẽ được lại như thế hay hơn thế. Vì vậy, ngay đối với người bên cạnh, có thể là anh em, chị em trong cộng đoàn, có thể là những người thân thiết ruột thịt, chúng ta cũng vẫn chưa thoát ra khỏi cái lý lẽ trần tục : người ta đối xử với tôi thế nào, tôi đối xử lại như thế. Như vậy, còn gì là điều răn mới của Chúa ? còn đâu là dấu chỉ để người ta nhận ra chúng ta là con cái Chúa nữa ? Xin Chúa cho chúng ta sống và thực hành đúng như Chúa dạy để cuộc sống chúng ta luôn được an vui và qua đó mọi người nhận ra chúng ta là môn đệ, là tín hữu của Chúa.


Giuse Nguyễn Văn Tiến op

Anh Em Hãy Yêu Thương Nhau

“Đây là giới răn của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau,
như chính Thầy đã yêu thương anh em”. (Ga 13, 34)

Đã là con người, ai cũng được sinh ra bởi hoa trái tình yêu của cha me, chẳng ai là người được sinh ra không phải bởi tình yêu, vì tình yêu là sức hút và là động lực để cho con người sống cho mình và cho người khác cho nên cuộc sống không gì tẻ nhạt và vô vị cho bằng thiếu tình yêu. Thế nhưng làm thế nào để mỗi người có thể thực hiện được tình yêu của mình với tha nhân cũng như hiểu được giá trị của tình yêu ?

Bài Tin mừng hôm nay cho mỗi người chúng ta lời giải đáp ấy. Thánh Gioan tông đồ cho chúng ta thấy nỗi khát mong lớn nhất của Chúa Giêsu khi sắp giã từ thế gian mà về cùng Thiên Chúa Cha là ban cho nhân loại giới răn mới - giới răn yêu thương: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Đây là diễn từ ly biệt của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi lên Giê-ru-sa-lem chịu khổ hình. Lời nhắn gửi tha thiết và chân tình của Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ: Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Ngài không đòi hỏi các môn đệ phải làm được những công việc lớn lao, nhưng chỉ xin các ông một điều duy nhất là hãy yêu thương nhau. Chúa Giêsu đã chứng tỏ tình yêu cao quý đó bằng sự hiến dâng thân mình trên thập giá. Đối với Ngài, ở thế gian, không có hành động nào có thể diễn tả tình yêu tuyệt vời cho bằng:“tình thương của người hy sinh tính mạng mình vì bạn hữu của mình”(Ga 15, 13). Qua tình yêu thập giá, Thánh Gioan kết luận rằng:“Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3, 16)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúng con đang sống trong một thế giới đói khát tình thương, đói khát những lời thân ái, đói khát niềm vui và hạnh phúc thực sự. Vì không có tình thương, cho nên chúng con dễ đi đến hận thù, giết chóc, khủng bố, chiến tranh, phân biệt chủng tộc, phá thai… Thảm cảnh ấy thực sự là một nghịch cảnh cho phận người chúng con. Chúng con biết mình là những thân phận yếu đuối, hữu hạn, tội lỗi, thế nên chỉ có tình yêu của Chúa mới có thể giải thoát chúng con khỏi những thảm trạng đau thương ấy. Chúa đã đồng hoá nên một với chúng con trong mọi sự để khai mở một nhãn quan mới về bản chất của tình yêu. Tình yêu không chiếm hữu nhưng phải biết cho đi. Tình yêu không lệ thuộc nhưng trao ban tự do. Tình yêu không vị kỷ nhưng phải biết đón nhận, thứ tha. Xin cho chúng con luôn biết mở lòng mình ra đón người khác như chính Chúa đã đón nhận những yếu đuối và bất toàn của chúng con, để chúng con cũng biết quảng đại và yêu thương tha nhân như chính Chúa yêu thương chúng con.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Một trong những thách đố của chúng con hôm nay là lối sống vị kỷ, mất ý thức tương quan lệ thuộc lẫn nhau ngay trong đời sống gia đình, trong xứ đạo, trong cộng đoàn. Chúng con lo sợ phải đón nhận những yếu đuối của nhau như một gánh nặng phải mang vác hơn là một quà tặng để đón nhận và tha thứ cho nhau như chính Chúa đã sống và nêu gương cho chúng con. Xin Chúa giúp mỗi người chúng con ý thức rằng không có yêu thương, tha thứ và đón nhận thì không thể có được cuộc sống bình an, hạnh phúc, vì chính Chúa cũng đã nêu gương đón nhận sự yếu đuối của tông đồ Phêrô, thì chúng con cũng vậy, chúng con phải biết bỏ đi cái tôi của mình để đón nhận người khác. Xin Chúa là suối nguồn tình thương tưới đẫm trái tim khô héo và chai cứng của chúng con để chúng con biết bỏ đi những ích kỷ, những oán giận, những ghen ghét, những bất hoà mà đến cùng tha nhân bằng trái tim yêu thương của Chúa. Amen.

 
Lm Đỗ Lực op

Yêu Anh Em Để Trong Lòng

Năm ngoái bay tới New York, tôi được một người bạn đưa đi thăm mấy bảo tàng viện. Ðến khu trình bày các cổ vật miền Á châu, tôi cảm thấy như đi vào miền đất quen thuộc. Tới khu Việt nam, tôi càng cảm thấy lòng mình như ấm lại. Nhưng càng đi sâu vào nghệ thuật, tôi càng xa lạ với những điều anh bạn thao thao bất tuyệt giải thích. Tôi không có kiến thức về nhân chủng và khảo cổ học. Cái nhìn của tôi chỉ phớt qua trên mặt những cổ vật. Bao nhiêu nền văn minh nấp sau những báu vật đó không tỏa chút ánh sáng nào vào tâm trí tôi. Cổ vật trở thành vô nghĩa, vô hồn và không chút giá trị gì đối với một người “dốt đặc cán mai” như tôi.

ÐIỀU RĂN MỚI

Giới răn tình thương cũng chịu một số phận tương tự. Chúng ta đã nói về đức ái rất hay, nhưng có lẽ vẫn chưa hiểu hết ngọn nguồn sâu xa của đức ái. Có lẽ khi nghe Chúa công bố “điều răn mới,” một vài môn đệ hời hợt có thể có những nhận định tương tự như tôi trước cổ vật. Họ có lý khi thấy chẳng có gì mới nơi điều răn của Thày. Nói khác, họ chẳng thấy có giá trị nào đặc biệt nơi những điều Thày vừa trình bày. Họ đã nghe nhàm tai giới răn thương yêu. Từ Ngũ Kinh đến các ngôn sứ, họ đã thấy nhai đi nhai lại điều răn đó. Vậy thì mới ở chỗ nào ?

Trước hết, giữa giới răn thương yêu và vinh quang Ðức Kitô bên Chúa Cha có một mối liên kết. Tình yêu là phản ảnh Ðức Kitô vinh quang, Ðấng mang đến cho toàn thể vũ trụ một cái nhìn đặc biệt về tình yêu. Người trở thành con đường để con người đi lên với Thiên Chúa và Thiên Chúa xuống với con người. Tất cả sứ mệnh của Người có thể tóm gọn trong lời ngôn sứ Isaia 61:1-2 : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4:18-19) Khi xuống trần gian, Ðức Giêsu nhắm làm vinh danh Thiên Chúa Cha. Vinh quang Thiên Chúa là con người được hạnh phúc. Vinh quang chỉ đến khi con người thực sự trở thành con người. Chính vì thế, Người quyết tâm hồi phục địa vị cao cả của con người trên vũ trụ.

Hơn nữa, tình yêu đưa con người vào cảnh “trời mới đất mới.” Nơi đó Thiên Chúa và dân Người hiệp nhất trong một tình yêu tuyệt vời. Ðây là một thời gian vui tươi và hạnh phúc vô tận. Cảnh tượng này thực sự phản ánh một lối nhìn về sự hoàn thành thời đại cánh chung mới, đã khai trương nơi cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Khi vùng dậy từ cõi chết, Người hoàn toàn thay đổi các mãnh lực của trời đất. Tình yêu thay đổi hoàn toàn vạn vật. Bởi đấy, Người căn dặn môn đệ : “Chúng con hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em.” (Ga 13:34) Ở đây, Người cố ý nói tới agape, một thứ tình yêu đòi hỏi phải hoàn toàn tín thác và trông cậy. Ðó chính là tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, một tình yêu gương mẫu cho chúng ta yêu tha nhân. Khi xét đến những đòi hỏi của tình yêu này, chúng ta mới thấy mức độ cách mạng của giới răn thương yêu như thế nào và nó đòi phải thay đổi thái độ tới mức nào.

Sau cùng, đức ái phải luôn đi kèm với công lý. Dù hết sức tìm cách giải cứu người phụ nữ ngoại tình, Ðức Giêsu không bao giờ bao che tội lỗi cho cô. Nếu hôm đó, Chúa chỉ nghĩ đến việc thực thi đức ái hay tỏ lòng từ bi mà thôi, chắc chắn công lý đã bị coi thường. Cô sẽ trở về tiếp tục cuộc sống ô nhục. Phẩm giá không được phục hồi. May mắn thay Chúa đã nghiêm chỉnh đòi hỏi công lý nơi chính cô khi nói : “Cô hãy về và đừng phạm tội nữa.” Nhờ đó, Chúa đã tạo được sự quân bình và nền tảng cho đức ái. Nói khác, Chúa đòi hỏi cô phải giữ nhân đức “công bình xã hội.” Ðây là một nhân đức cá nhân, chứ không phải là đặc tính của những hệ thống xã hội, như người Do thái hay hầu hết mọi người vẫn tưởng. Người Do thái gào thét đòi ném đá cô để thực thi công bình xã hội như luật Môsê đòi hỏi. Họ xử dụng “công bình xã hội” như một nguyên tắc quy định trật tự xã hội. Họ chú trọng tới quyền lực, chứ không phải nhân đức.[i]

Không có công lý, đức ái dễ khiến con người mù quáng. Rõ ràng tình yêu phải đi kèm với công lý. Nếu không, bác ái có thể tiếp tay với chế độ trù dập con người. Chính công lý đã vực cô dậy. Ðức ái phải đi kèm công lý mới trả lại phẩm giá cho con người. Khác hẳn Chúa, đa số ngày nay Kitô hữu chỉ lo làm việc bác ái, bất kể công lý. Không có điều kiện công lý đi kèm, hoạt động bác ái chỉ lấp đầy bao tử, bất chấp tiếng gào thét của lương tâm. Ðó là lý do tại sao con người vẫn không ngóc đầu lên làm người được ! Con người có gì khác con vật ?!

Nhưng địa vị con người cao cả hơn vũ trụ. Theo thánh Phaolô, con người là Ðền Thờ Thiên Chúa. Khi vào Ðền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu đã đánh đuổi con buôn như biểu lộ sự quyết liệt tranh đấu chống lại bất công đối với Ðền thờ Thiên Chúa hay con người. Ðó là một việc làm vô cùng ý nghĩa không phải chỉ cho thân xác Người, nhưng cho cả phẩm giá con người nữa . Sự giận dữ của Người cũng bắt nguồn từ một loại tình yêu – tình yêu đối với Chúa Cha và với Nhà Cha. Khi sự thánh thiện và uy nghi của Chúa Cha hay Nhà Cha bị đe dọa hay coi thường, chắc chắn Ðức Giêsu phản ứng mãnh liệt. Thái độ nhiệt tình đối với Ðền Thờ Thiên Chúa đã làm hao mòn thân xác Người. Sở dĩ phải tỏ thái độ quyết liệt, vì Người muốn tranh đấu để tái lập sự công bình và phục hồi giá trị đích thực cho Ðền Thờ. Chúng ta có thể thấy tất cả nỗ lực giành lại công lý cho Thiên Chúa và con người nơi Ðức Giêsu ở đây.

NƯỚC THIÊN CHÚA

Kitô hữu được kêu gọi xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian. Sứ mệnh cao cả không thể hoàn thành, nếu họ không biết Nước Thiên Chúa là gì. Thánh Phaolô xác định rất rõ : “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) Trong thực tế, chúng ta làm ngược lại. Những việc bác ái, đóng góp từ xưa tới nay xoay quanh vấn đề gì ? Từ trong nước đến hải ngoại, chúng ta thi đua nhau đóng góp cho chuyện ăn chuyện uống chuyện xây nhà thờ, xây tòa giám mục v.v., chứ không hề băn khoăn về “sự công chính” một chút nào cả. Có những tòa giám mục sang trọng như ốc đảo trù phú xa hoa giữa một đại dương nghèo đói, tràn ngập các nạn nhân của chế độ bất công.

Thay vì trở thành những trung tâm rao giảng Tin Mừng, nhiều nhà thờ và cơ sở giáo hội hôm nay đang phát ra những phản chứng. Làm sao những giá trị Tin Mừng có thể xâm nhập vào văn hóa và xã hội từ những phản chứng đó ?! Lỗi đó tại ai ? Kitô hữu có thể phủi tay trước tình trạng tha hóa đó của dân tộc không ? Không phải chỉ có những việc xấu xa đã gây nên nông nỗi. Nhưng nếu không kèm theo công lý, ngay cả việc tốt, như công cuộc bác ái, cũng có thể gây những hậu quả xấu khôn lường.

Từ nay, bác ái phải có điều kiện. Ðiều kiện đây là “công bình xã hội.” Chắc chắn có người phản hồi : bác ái có điều kiện không còn phải là bác ái nữa. Thực ra, điều kiện kèm theo đó không đánh mất bản chất công cuộc bác ái, vì nhằm đem lại lợi ích cho chính những người nghèo. Không có điều kiện đó, việc bác ái trở thành vô ích và không thể nâng người nghèo trỗi dậy.

Trước hết, cần phải hiểu đúng nhân đức “công bình xã hội.” “Công bình xã hội cần phải chiếm địa vị ưu tiên trong sự quan tâm của mọi người. “Nếu hiểu đúng nghĩa, “công bình xã hội” là một nhân đức đặc biệt có tính “xã hội” theo hai chiều hướng. Thứ nhất, “công bình xã hội” đòi phải có tài đưa ra sáng kiến, hợp tác và quy tụ người khác thành tổ chức để hoàn thành tác vụ công bình. Hoạt động này đòi phải được thực hiện với người khác. Ðó là lý do tại sao nó được gọi là một loại đặc biệt của đức công bình. Thứ hai, “công bình xã hội” luôn nhắm tới công ích, chứ không nhắm lợi ích của một tác nhân mà thôi. Nhân đức công bình có tính “xã hội”, vì mục tiêu đầu tiên nhằm giúp đỡ tha nhân.” [ii]

Bất cứ một sự trợ giúp nào cũng phải nhằm xây dựng một xã hội công bình. Một xã hội đầy dẫy bất công làm sao tạo nên sự công chính cần thiết cho việc xây dựng Nước Trời ? Chúng ta vẫn kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ chỉ giao thương với Việt nam nếu chấm dứt cảnh đàn áp bất công và vi phạm nhân quyền. Nhưng chính chúng ta lại tiếp tục gởi tiền về giúp đỡ Việt nam một cách vô tội vạ, không cần biết đồng tiền đi tới đâu và làm những gì. Có thể nhiều người nhân danh sự nghèo đói và người nghèo để khai thác bất chính. Nhiều khi chúng ta “giao trứng cho ác” mà không hay biết.

Ðã có những trường hợp bị lừa đảo. Sau khi đi một vòng khắp các cộng đoàn Việt nam ở Hoa kỳ xin tiền trợ giúp đồng bào nghèo hay xây nhà thờ, có những linh mục và cả giám mục sắm những xe hơi hạng sang như Mercedes, Lexus v.v. hay những biệt thự lộng lẫy. Tuy vậy, không nên vì những cá nhân lạm dụng đó mà chúng ta dẹp bỏ việc bác ái đối với đồng bào.

Từ trước tới nay, chúng ta làm việc bác ái một cách vô tổ chức. Tất cả đều tùy thuộc vào tình cảm hay niềm tin vào một người hay một tổ chức bác ái v.v. Ðã đến lúc chúng ta cần sát cánh để tạo một sức mạnh thực sự giải phóng dân tộc khỏi ách lầm than, nghèo đói. Không những cần tổ chức quy mô để tránh lạm dụng, lãng phí, mà còn giúp ích cho nhiều người một cách hữu hiệu hơn. Hơn nữa, còn phải có một tầm nhìn để khám phá những nhu cầu thực sự của những người nghèo.

Từ nay, thay vì giao tiền cho một người trợ giúp người nghèo, chúng ta hãy cố gắng mở ra những quỹ tín dụng giúp vốn và kỹ thuật cho người nghèo tự nuôi thân. Nói khác, giúp cho họ có cần câu và kỹ thuật câu còn quan trọng và cần thiết hơn cung cấp những con cá qua bữa. Mỗi giáo xứ hay mỗi nhà dòng ở Việt nam có thể trở thành những nơi cung cấp vốn cho những người nghèo, bất phân lương giáo. Quỹ tín dụng được xây dựng trên niềm tin. Còn chỗ nào đáng tin bằng Nhà Chúa ? Nhà Chúa không đồng nghĩa với nhà xứ hay nhà dòng. Nhà Chúa phải theo đúng tiêu chuẩn Tin Mừng và chiều hướng Giáo Hội. Bởi thế, cần có những cơ quan giám sát để kiểm tra con người và cơ sở trước khi giao phó công cuộc tín dụng đó. Ngay cả trong khi hoạt động vẫn cần đến sự kiểm soát này. Về vấn đề này, các chuyên viên ngân hàng nên tình nguyện tham gia giúp đỡ cộng đồng trong công cuộc bác ái theo chiều hướng mới.

Nhưng trên hết vẫn là việc nâng cao ý thức giáo dân về công lý. Cho tới nay, hầu như người Công giáo không hay biết gì về học thuyết xã hội của Giáo hội. Ðó là một thiếu sót rất lớn. Kitô giáo là một Ðạo nhập thể. Theo Ðức Kitô, không thể không dấn thân. Nếu chỉ thỏa mãn với những giáo lý về bí tích, phụng vụ và những tổ chức đình đám trong khuôn viên nhà thờ, chắc chắn Kitô hữu vẫn còn “nhốt” Chúa ở trên trời. Sống đạo như thế là sống nửa vời. Không thể yên lương tâm với lối sống đạo như thế.

Khi thấy được bản chất Nước Thiên Chúa, người Công giáo không thể ngồi yên nhìn cảnh bất công đang xảy ra dầy dẫy chung quanh. Không có công bình cũng chẳng có bác ái thực sự. Ý thức về công bình sẽ mở rộng tầm nhìn của Kitô hữu về trách nhiệm và quyền lợi của một người công dân trong nước trần gian và Nước Chúa. Ðó là điều kiện căn bản để bảo đảm công ích. Trước tiên, muốn “nhìn nhận và tôn trọng nhân phẩm phải bênh vực và cổ động nhân quyền cơ bản và bất khả nhượng.” [iii] Nhân quyền không chỉ có ngoài xã hội. Ngay cả trong Giáo hội, nhân quyền cũng phải được quyền bính tôn trọng. Nếu không, xã hội cũng như Giáo hội không thể đạt tới công ích. Ðừng tưởng kế hoạch ngũ niên hay những phương tiện sản xuất sẽ quyết định sự thành công. Yếu tố chính vẫn là con người.

Ðúng như Chúa nói : “Con người sinh ra không phải vì lề luật,” cơ chế, hay tổ chức. Nhưng tất cả đều phải phục vụ con người. Bởi thế, công bình xã hội cũng phải lấy con người làm gốc. Không gì có thể thay thế con người. Thực tế, “ngoài đời chủ trương công bình xã hội không đòi những con người nhân đức, chỉ cần có những chương trình hoàn hảo. Theo Giáo hội, công bình xã hội là nhân đức cá nhân; ngoài đời cho rằng công bình xã hội là một thành quả chính trị. Giáo hội tin con người lương thiện sẽ làm cho chương trình xã hội tốt đẹp; ngoài đời tin rằng những chương trình xã hội tốt đẹp sẽ làm cho con người lương thiện. Giáo hội và ngoài đời có rất ít điểm giống nhau về công bình xã hội.”[iv] Nếu cứ tiếp tục chà đạp nhân phẩm hay không tôn trọng nhân quyền, tất cả mọi guồng máy, tổ chức, cơ chế sẽ nếm mùi thất bại thê thảm.

Bởi vậy, không những phải nhìn nhận quyền làm người, nhưng còn phải lo đào luyện cho con người có nhân đức. Nhân đức đó trước tiên là công bình xã hội. Thật vậy, “công bình xã hội là một nhân đức, một thuộc tính của các cá nhân. Nếu không, đó chỉ là một sự dối trá. Nếu Tocqueville có lý khi nói ‘nguyên tắc liên đới là luật lệ đầu tiên của nền dân chủ,’ thì công bình xã hội là đức tính đầu tiên của dân chủ, vì người ta thường thực hành nguyên tắc liên kết như thế trong cuộc sống hằng ngày.”[v] Chính vì thiếu đức tính căn bản đó, nên xã hội Việt nam đầy dẫy những con người thiếu khả năng xây dựng dân chủ. Cuối cùng, con người mất hạnh phúc. Tự do chỉ còn là cái bánh vẽ. Nhân quyền trở thành ảo mộng.

VÀO ÐỜI

Vậy những ai đang mất quyền làm người hôm nay ? Trước hết, đó là những người nghèo khổ, người tù vì lương tâm, vì tranh đấu cho nhân quyền, tự do tôn giáo, các người thiểu số, những trẻ em không được cắp sách đến trường, những người bệnh tật, già nua, những người bị cướp đất, những công nhân và nông dân bị ức hiếp, những cô gái phải bán mình v.v. Tất cả đều là con đẻ của chế độ bất công, không biết tôn trọng nhân quyền. Chính vì sự chênh lệch ấy, nhiều người đã mất cơ hội để phục vụ đất nước và Giáo hội. Trật tự xã hội bị xáo trộn vì thứ tự các giá trị bị đảo lộn.

Trước tình thế đó, đáng lẽ các Kitô hữu phải tích cực tố cáo những tệ trạng và can đảm đứng lên đòi hỏi quyền làm người. Nhưng giáo dân quá thụ động, hoàn toàn lệ thuộc vào hàng giáo phẩm, trong khi họ có quyền tham gia và sinh hoạt chính trị. Nếu cứ thụ động như thế, họ sẽ thất vọng.

Trong cuộc tiếp kiến các Đức Giám Mục Venezuela viếng thăm Tòa Thánh vào hôm thứ Sáu 27/4, Đức Thánh Cha đã bày tỏ quan ngại sâu xa của ngài về tình trạng nhân quyền tại Venezuela và những dấu hiệu cụ thể về hiện tượng lạm dụng quyền lực tại quốc gia này. Đức Thánh Cha nói Giáo Hội không thể không bảo vệ phẩm giá con người, và do đó cần có tự do để trình bày công khai ý kiến của mình trước công chúng. Đức Tổng Giám Mục Roberto Luckert, phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Venezuela cho biết: “Trong suốt buổi tiếp kiến chúng tôi đã trình bày cho ngài về những vấn đề chúng tôi đang gặp phải trong việc giáo dục giới trẻ, tình trạng thiếu an ninh, và sự chà đạp nhân quyền trong nước.[vi]

Lạy Chúa, xin nhìn đến quê hương yêu dấu của chúng con ! Xin cho GHVN luôn đồng hành với dân tộc đau khổ. Xin đừng để tinh thần hèn nhát mãi thống trị tâm hồn chúng con. Nhưng xin Chúa sai Thánh Linh ban ơn can đảm và mạnh bạo cho chúng con. Amen.

 

[i] x. Novak, Michael “Defining Social Justice.” First Things 108 (December 2000): 11-13.

[ii] Sđd.

[iii] Yếu Lược Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, số 388.

[iv] DeMarco, Donald. "The Virtue of Social Justice." Lay Witness.

[v] Sđd.

[vi] VietCatholicNews 01/05/2007, không rõ VietCatholic lấy từ nguồn nào.


Lm. Jude Siciliano, OP
(
Anh em nhà  học Đaminh chuyển ngữ)

CỘNG ĐOÀN CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU NHAU
Ga: 13: 31-33, 34-35

Các bạn  đã bao giờ xem bộ phim “Nếu hôm nay là thứ ba, đây ắt hẳn là nước Bỉ” chưa? Đó là phim về một nhóm du khách người Mỹ, thực hiện một chuyến du lịch qua bảy thành phố Châu Âu trong 18 ngày, chỉ dừng chân tại mỗi thành phố 2 ngày. Dù vội vàng nhưng mỗi thành phố họ gắng tham quan cho được một nhà thờ, bảo tàng hay kỳ quan liên quan đến khảo cổ học. Có lẽ vài người trong chúng ta cũng đã từng tham gia vào một chuyến du lịch như thế và kỳ nghỉ hè được mong đợi này khiến chúng ta kiệt sức, mong muốn được quay trở lại làm việc ngay! 

Bài đọc một trong sách Tông đồ Công vụ hôm nay nhắc tôi nhớ lại bộ phim đó và những lời tường thuật của mấy người bạn về những chuyến đi xuyên quốc gia tương tự. Chúng ta dõi theo những hành trình giảng đạo của Phao-lô và Ba-na-ba, bắt đầu tại thành phố Đéc-bê, sau đó quay trở lại Lýt-ra (một điểm dừng chân khá là táo bạo của Phao-lô vì lần trước ông đã từng bị một nhóm người ném đá gần chết!); Các ông đi đến I-cô-ni-a, An-ti-ô-khi-a, Pi-xi-đi-a, Pam-pi-li-a, Péc-ghê và sau đó trở lại An-ti-ô-khi-a. 

Dĩ nhiên  Phao-lô và Ba-na-ba không đi theo một “Quyển sách hướng dẫn của Michel về các thành phố lớn trong vùng tiển Á”. Các ông xác tín vào một sự hướng dẫn hoàn toàn khác. Vì khi trở lại An-ti-ô-khi-a và tường thuật về những thành công do sự nỗ lực trong sứ vụ của hai ông, chúng ta được kể lại rằng, “Hai ông tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông”. Đó cũng chính là một chủ đề xuyên suốt sách Công vụ - Thánh Thần cùng hoạt động và gia tăng sức mạnh cho các nhà giảng thuyết tiên khởi khi họ nỗ lực rao giảng Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô. Phao-lô và Ba-na-ba cũng nói cho các môn đệ tụ họp trong các hội thánh hai ông thăm viếng biết về cái giá phải trả của những nỗ lực bản thân: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa”. Các tông đồ đang nói từ chính kinh nghiệm của các ngài. 

Vậy thì, các cuộc lữ hành của chúng ta sẽ dẫn chúng ta tới đâu, vì chính chúng ta cũng được trao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho thế giới? Có thể chúng ta sẽ không bước vào một hành trình sứ vụ loan báo Tin Mừng đầy sóng gió như hai vị tông đồ điển hình này. Dù vậy, Bí tích Rửa tội đã xức dầu chúng ta trở thành những ngôn sứ trong chính môi trường sống của mình. Không được trốn tránh trách nhiệm đó! 

Chúng ta hãy cùng nhau liệt kê “lĩnh vực sứ vụ” của chúng ta: ở bữa ăn sáng, nơi làm việc, giữa những người bạn trong các buổi gặp mặt, trên mạng hay trong siêu thị… Tôi không đề nghị chúng ta đứng ở tiệm xà bông và thuyết giảng; dù cho có xấu hổ ít đi một chút vì đức tin cũng chẳng hề gì. Nhưng những sinh hoạt hằng ngày, lối sống, các giá trị, việc đánh giá của chúng ta phải khơi gợi nên sự tò mò cho những người chung quanh. Ai biết được, biết đâu họ lại tò mò tự đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng: “Điều gì làm cho bạn khác biệt như thế nhỉ?” “Với tất cả những vấn đề đó, làm sao anh có đủ sức mạnh để vượt qua nhỉ?” “Làm sao anh vẫn tràn trề hy vọng như vậy nhỉ?” Khi đó, chúng ta sẽ có cơ hội thực hiện điều mà chính hai vị tông đồ đã làm – “Công bố Tin Mừng”. 

Chúng ta có  thể cảm thấy mình không được huấn luyện đủ về mặt thần học, nhưng chúng ta nên nói từ chính hiểu biết, từ trái tim và từ chính cảm nghiệm đức tin của mình. Giống như Phao-lô và Ba-na-ba, chúng ta không đơn độc trên hành trình, vì Thánh Thần sẽ là “người hướng dẫn hành trình” cho chúng ta. Đó cũng chính là điều mà sách Công vụ Tông đồ thực sự nói tới: Thánh Thần hoạt động nơi những con người bình thường giúp họ công bố Tin Mừng và như sách Công Vụ kể, nhận “khá nhiều người làm môn đệ”. Hãy thử xem! 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu công bố nhiệm vụ  trung tâm của các môn đệ, cho dù chúng ta đang ở trên đường hay ở trong nhà mình. “Anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy: là anh em có lòng yêu mến nhau.” 

Tình yêu khắc dấu cuộc đời Đức Giêsu. Người đã trao tặng toàn bộ cái tôi của Người vì yêu chúng ta. Con người đã cảm nghiệm tình yêu này bằng nhiều cách. Người bày tỏ tình yêu bạn bè cho những ai gần gũi với Người nhất. Với lòng trắc ẩn, Người chữa lành những ai tìm đến Người với những đau khổ về tinh thần và thể xác. Người diễn tả tình yêu qua việc đón nhận những người tìm kiếm sự công nhận của một xã hội luôn bỏ lơ họ, làm bạn đồng hành và cho cùng ngồi ăn uống với Người. Người nói những lời yêu thương thứ tha cho các tội nhân và thậm chí còn ăn uống với họ nữa. Sau cùng, Người sẽ chẳng bao giờ rút lại thông điệp về tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta dù nó dẫn Người đến cây thập giá. 

Bài tin mừng hôm nay nằm trong phần mở đầu diễn từ từ  biệt của Đức Giêsu đối với các môn đệ (13, 31 - 17, 26) trong bữa Tiệc Ly. Trình thuật bắt đầu bằng việc Giu-đa ra đi để phản bội Đức Giêsu và Đức Giêsu nói những người đồng bàn rằng: giờ báo oán và tôn vinh của Thiên Chúa đã bắt đầu. Điều Đức Giêsu sắp chịu sẽ tôn vinh Thiên Chúa vì nó mang lại lợi ích cho toàn thể nhân loại. Thời điểm đen tối bắt đầu và thế nhưng một thời của ánh sáng mới cũng sắp được khởi sự vì hành động yêu thương của Đức Giêsu sẽ giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi.  

Trong bài Tin Mừng hôm nay, thập giá không phải là một dấu hiệu thất bại đối với Đức Giêsu. Ngược lại, nó biểu lộ sự chiến thắng của Thiên Chúa đối với tội lỗi và bóng tối. Chiến thắng đó đã được khởi sự nhưng dưới con mắt của những người quan sát bất cẩn, những gì đang xảy ra cho Đức Giêsu lại có vẻ là sự thất bại. “Giờ đây Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người”. Trong Tin Mừng Gio-an, Thiên Chúa luôn được đặt tại vị trí trung tâm, là Nhân Vật chính trong vở kịch. Vì thế, điều sắp xảy đến cho Đức Giêsu sẽ là một mặc khải trọn vẹn về tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế giới.  

Dầu vậy, những biến cố sẽ xảy đến vẫn cứ là nguyên nhân gây đau khổ và phá vỡ mọi niềm hy vọng của các môn đệ. Đức Giêsu sẽ bị tách ra khỏi họ. Chỉ dẫn của Người trước lúc ra đi là họ phải yêu thương nhau như chính Người đã yêu thương họ; tình yêu thương của họ sẽ là dấu hiệu cho mọi người biết họ là môn đệ của Đức Giêsu. 

Những lời  trăng trối của các bậc vĩ nhân không bao giờ nhắm những chuyện nhỏ nhặt, vặt rãnh. Đúng hơn, chúng thường là những giáo huấn cốt lõi tóm lược toàn bộ cuộc đời của những vĩ nhân đó. Vì vậy, những lời từ biệt của Đức Giêsu cũng là những lời trọng tâm – đó là điều Người muốn các môn đệ nhớ về Người và tiếp tục thực hiện trong danh Người. Người nói với các môn đệ rằng, cái chết của Người sẽ tỏ lộ cho mọi người biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Khi đó, chúng ta phải phản ánh tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta và bằng việc yêu thương nhau, tất cả mọi người sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ Đức Giêsu.

Dân It-ra-en đã được lệnh là phải yêu thương nhau; nhưng họ không bị yêu cầu phải yêu thương kẻ thù. Tình yêu của Đức Giêsu đã vượt qua mọi ranh giới quốc gia và văn hoá. Người dạy chúng ta phải yêu thương dù là ta thấy người khác đáng yêu hay không. Người dạy về một tình yêu hiến tế mang lại hoà bình cho nhân loại và lôi kéo mọi người đến với nhau thành một cộng đoàn yêu thương. Sau đó, trong bữa ăn Người sẽ minh chứng một cách thức của tình yêu qua việc rửa chân cho các môn đệ. Người làm chủ phải trở nên người phục vụ kẻ khác. 

Đức Giêsu đặt quy định đầu tiên cho cộng đoàn của Người, là phải yêu thương và phục vụ. Cộng đoàn phải là nơi phản ánh và là khuôn mẫu của tình yêu mà Đức Giêsu đã sống và dạy các môn đệ Người. Còn dấu hiệu nào hùng hồn hơn một cộng đoàn yêu thương trong thế giới này! Một cộng đoàn với những dấu hiệu phân biệt: Tha thứ lẫn nhau; săn sóc, thậm chí quan tâm đặc biệt, các thành viên nhỏ nhất; chia sẻ đồ dùng; sẵn sàng phục vụ nhau…Một cộng đoàn yêu thương như thế sẽ từng ngày thu hút người khác đế gia nhập với chúng ta. Tình yêu này sẽ lôi kéo người khác vì, liệu ai có thể chống cưỡng lại được một nhóm người yêu thương nhau như thế trong ‘cái thế giới chẳng còn mấy ai biết yêu thương’ này? 

Dẫu sao, chúng ta còn phải cố gắng rất nhiều để có thể trở thành những cộng đoàn phản ánh tình yêu Đức Giêsu cho thế giới! Không những vậy, ngày càng có nhiều người rời bỏ các cộng đoàn Kitô hữu vì, như họ nói, họ không cảm nghiệm được tình yêu đó trong các giáo hội của họ do tình trạng bè phái, chia rẽ giữa các thành viên. Thay vì một tinh thần hăng say lên đường, nhập cuộc như chúng ta đọc trong sách Công vụ hôm nay, họ lại chỉ cảm thấy sự cô lập và não trạng co cụm, phòng thủ. Chẳng phải mấy năm gần đây nhiều người đã rút lui khỏi các cộng đoàn Công Giáo vì những cớ gây vấp phạm của chúng ta sao? Chẳng phải họ bỏ đi vì thế gian lôi kéo họ mạnh hơn chúng ta sao? Chẳng phải đó là do họ chưa thấy giáo xứ của chúng ta thực sự là một cộng đoàn cởi mở, yêu thương, đón nhận sự đa dạng của mọi thành viên sao?

Cho dù  là lý do gì đi nữa thì chúng ta vẫn có  nhiều việc phải làm nếu chúng ta muốn nỗ lực hàn gắn những chia rẽ, tha thứ những xúc phạm, săn sóc người nghèo khổ và chào đón những người mới vào sống trong cộng đoàn của chúng ta. Ước gì công việc này của chúng ta sẽ luôn được nâng đỡ nhờ lời nguyện mà chúng ta đọc trong thánh lễ này: “Lạy Chúa Kitô đầy lòng lân tuất, xin hãy biến chúng con thành một cộng đoàn phản ánh tình yêu của Ngài ngõ hầu chúng con trở thành dấu hiệu cho sự hiện diện phục sinh của Ngài trong thế giới hôm nay.” 

Lm. Jude Siciliano, OP. (Anh em học viện Đaminh chuyển ngữ)

 

Niềm hy vọng và sự an ủi từ nơi Thiên Chúa

Cv 14,21b-27; Kh 21,1-5a; Ga 13,31-33a.34-35

 

Kính thưa quí vị,

Trong các bài đọc Chúa nhật  mùa Phục sinh này, sách Khải huyền xuất hiện 6 lần. Sau này sách Khải huyền sẽ không xuất hiện lại nữa trong hai năm cho đến khi quay lại chu kì năm C, vào năm 2016. Vì hiếm khi chúng ta có cơ hội nghe sách Khải huyền, nên tôi đã suy tư về các bài đọc này, ít là một phần trong những tuần qua.

Tôi thắc mắc không biết có bao nhiêu người trong chúng ta đọc sách Khải huyền để suy niệm riêng? Tôi thì hiếm khi. Nhưng tôi nhớ có vài người thường hay đọc. Họ là những bạn tù ở nhà giam San Quentin gần San Francisco. Tôi ngạc nhiên khi lần đầu tiên khám phá ra điều này. Nhưng nó củng cố cho lý do rằng họ tìm kiếm nguồn an ủi trong cuốn sách về các thị kiến bí ẩn này. Chúng ta có thể thấy ngôn ngữ toán học kỳ dị, khó hiểu và thậm chí còn kỳ quặc. Nhưng, những người bạn tù mà tôi biết ở East Block, nơi có sự bảo vệ chặt chẽ nhất, đã nhận ra rằng sách Khải huyền rất thích hợp với họ. Những hình ảnh chúng ta có thể thấy là kỳ cục, hay siêu phàm, cách nào đó lại nói về niềm hy vọng và sự nhẫn nại cho những con người đang bị giam trong bốn bức tường 23 giờ một ngày.

Thị kiến về thời cánh chung của sách Khải huyền đã giúp cho những tù nhân tập trung vào thời điểm tự do trong tương lai. Họ hy vọng sẽ xảy ra trong cuộc đời của họ, dù một số không có ngày ra, vì thế những thị kiến về “một trời mới và đất mới” như Gioan hứa với họ, mang đến cho họ niềm an ủi và hy vọng rằng sau cùng họ cũng được giải thoát cuộc đời lao lý.

Tôi không muốn quí vị ngạc nhiên với việc San Quentin có 5.000 độc giả Kinh thánh. Trái lại, như tôi đã nói “một vài tù nhân” có sách Kinh thánh và tìm thấy nguồn an ủi nơi Lời Chúa, đặc biệt nơi sách Khải huyền. Đây cũng là trường hợp dành cho các tín hữu sơ khai khi lần đầu tiên nghe sách này. Họ là con số nhỏ trung thành với niềm tin của mình cũng như phấn đấu để cùng nhau sống cộng đoàn dù bị bao quanh bởi thế giới thù địch. Thậm chí, tác giả sách này cũng chịu áp bức, khi ông nói: “Tôi là Gioan, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giêsu. Khi ấy tôi đang ở đảo gọi là Patsmo vì lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giêsu” (1,9). Như vậy, tác giả đang sống trong  lưu đày, chịu đau khổ trong tù, vì “làm chứng cho Đức Giêsu”.

Chúng ta không cần phải bị giam cầm hay lưu đày mới trở thành những độc giả của sách Khải huyền, để lắng nghe và được Lời Chúa thôi thúc – và để chịu thử thách sống đức tin cách kiên vững mà chúng ta tuyên xưng trong thánh đường mỗi Chúa nhật.

Nếu trước đây chúng ta đã không để ý, thì bài đọc hôm nay cho thấy rõ rằng sách Khải huyền nhằm an ủi những ai đang trải qua thử thách đức tin. Xuyên suốt sách Khải huyền là một bảo đảm rằng, dù cho những tội ác có vẻ rõ ràng chiến thắng trên thế giới, nhưng Thiên Chúa tối cao và công minh cuối cùng sẽ chiến thắng sự ác và ban tặng sự công chính cho những ai kiên tâm bền chí và sống đời tín thác. Sách Khải huyền nói với những ai đang nhìn lên Thiên Chúa để xin nguồn an ủi; hẳn sự an ủi chỉ có ở nơi Thiên Chúa. Cách nào đó, đây là sách mang tính ngôn sứ, thôi thúc chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa và sống kiên trung với giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với chúng ta trong Đức Kitô.

Chúng ta sẽ được nghe sách Khải huyền cho đến Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Bài đọc hôm nay nằm ở cuối sách, một trong những thị kiến thường được trích dẫn, khơi lên niềm hy vọng và sự mong chờ nơi những thính giả đầu tiên xưa kia – và chúng ta bây giờ. Thị kiến về thành Giêrusalem mới là thị kiến thứ bảy cũng là cuối trong loạt những thị kiến về những sự sau hết. Đoạn văn trước (20, 11-15) mô tả sự tận cùng của cuộc sáng tạo cũ: Thiên Chúa đang lại bắt đầu với “trời mới đất mới”. Chúng ta sẽ không nhìn vào không trung để tìm thế giới mới này, nhưng nó sẽ xuất hiện tại đây, ngay cạnh chúng ta.

Sứ điệp mà chúng ta nghe công bố là chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa nhân lành. Hãy tưởng tượng xem khi các tín hữu được nâng lên sau những đau khổ; được ủi an khi nghe biết rằng họ sẽ không bị bỏ rơi. Thiên Chúa luôn nhớ đến họ và ở với họ. Hơn thế nữa: Thiên Chúa luôn ở trong họ. Quyền lực nào có thể tách họ ra khỏi Thiên Chúa?

Vì sự bách hại của Domitian (81-96) những người Dothái và những tín hữu Dothái đang trốn chạy khỏi Châu Á. Họ sẽ bị phân tán, bị tấn công và hoảng sợ. Những Kitô hữu bày tỏ niềm tin vào Đức Giêsu là Đấng Mêsia, không còn được liên kết với các anh chị em Dothái ban đầu. Họ dần trở thành một cộng đoàn tín hữu tách biệt, nhỏ bé và dễ bị tổn thương. Các tông đồ đã chết và trong thế giới mới cùng với thực tế khắc nghiệt của cuộc sống hẳn các Kitô hữu này đã cảm thấy rất cô đơn.

Gioan cho họ biết rằng những gì mà họ có là một Giêrusalem mới. Thiên Chúa, Đấng Tạo hoá, bằng cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, đã tái tạo lại chúng ta. Những điều cũ, đau khổ và tội lỗi không còn thống trị trên chúng ta nữa. Tại sao “biển không còn nữa”? Vì biển đại diện cho sự hỗn độn và nguồn tội lỗi mà con quái vật đi lên để đuổi bắt con người. Vì thế, tất cả những gì là tội ác và dìm con người xuống, nay sẽ không còn. Đối với một cộng đoàn hay cá nhân chịu đau khổ lâu dài, bài đọc hôm nay không chỉ là một bài thơ đáng yêu, nhưng còn khẳng định: cuối cùng Thiên Chúa sẽ chiến thắng sự dữ. Như Gioan viết: “Này đây Ta làm mới mọi sự”. Người sẽ thực thi lời hứa rằng nỗi đau sẽ chấm dứt, đau khổ sẽ không còn nữa và một thời mới sẽ bắt đầu. Sẽ không còn nước mắt, “không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ, vì những điều cũ đã qua đi”. Những gì đã bị tội lỗi cướp mất sẽ được Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta làm mới lại.

Đền thờ ở Giêrusalem là trung tâm của việc phụng tự Dothái. Đền thờ nguy nga rộng lớn là biểu tượng của giao ước bền vững của Thiên Chúa với dân. Thánh điện bên trong, nơi cực thánh, là nơi vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện trên mặt đất. Quí vị có thấy rằng Đền thờ, trung tâm của Giêrusalem cũ, không được đề cập ở Giêrusalem mới đang từ trời xuống phải không? Sau đó, Gioan nói: “Tôi không thấy có Đền thờ trong thành, vì Đức Chúa, Thiên Chúa toàn năng và Con chiên là Đền thờ của thành” (21,22). Thay cho nơi phụng tự cũ trong Đền thờ, Thiên Chúa sẽ ngự giữa chúng ta. Các ngôn sứ đã hứa điều này (Gr 31,33; Ed 37,27-28). Thiên Chúa sẽ chiến thắng sự ác và sẽ hiện diện vĩnh cửu mà không tội ác, khổ đau và quyền lực nào có thể lấy đi được.

Thánh Phaolô đã cho chúng ta biết Giêrusalem mới là Hội thánh (Gl 4,26). Thiên Chúa không là thứ quyền lực xa vời trên cao, nhưng Người ở với chúng ta luôn mãi. Chính sự hiện diện thâm sâu của Thiên Chúa với chúng ta lúc này an ủi và lau sạch những giọt nước mắt cô đơn hay cảm giác bị bỏ rơi. Sự chết không còn thống trị chúng ta vì Đức Kitô phục sinh đã tước khỏi nó quyền lực đe doạ chúng ta.

Chúng ta có thể tin vào điều Gioan nói vì tác giả không nói về bản thân mình, lời của ông mang uy quyền của Thiên Chúa để giúp họ đứng lên. Ông đã nhận lãnh sứ điệp này từ chính Đức Kitô (1,11) và nhờ vào tiếng nói phát ra từ trời (14,13). Ông khẳng định sứ điệp của mình là thật vì bắt nguồn từ chính Thiên Chúa.