Năm C

 
 


Chúa Nhật Phục Sinh 04 - Năm C

Cv 13,14.43-52 / Kh 7,9.14b-17 / Ga 10,27-30

 

An Phong op : Thiên Chúa, Đấng Chăn Chiên

Fr. Jude Siciliano,op : Dẫn Chiên Vào Đồng Cỏ Xanh Tươi

Như Hạ op : Tiếng Gọi Thân Thương

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Người chăn chiên đích thực

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Tinh thần người mục tử

Giuse Nguyễn Phan Tài op : Đức Kitô là Mục tử nhân lành

Lm Đỗ Lực op : Em Biết Tin Ai Bây Giờ ?

Fr. Jude Siciliano, op : Lắng nghe và đáp lại Đức Giêsu Mục Tử

Fr. Jude Siciliano op: Tôi biết chúng và chúng theo Tôi

 

 


An Phong op

Thiên Chúa, Đấng Chăn Chiên
Ga 10,27-30

Chúa nhật thứ tư Phục sinh thường được gọi là "Chúa nhật Đấng chăn chiên nhân lành". Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho thấy Đức Giêsu là Đấng chăm sóc, gìn giữ, hướng dẫn, bảo vệ, ban "sự sống đời đời" cho đàn chiên Giáo hội của Người. Đức Giêsu, người mục tử nhân lành biết rõ đoàn chiên của mình. Người trở thành mẫu gương mục tử cho những linh mục, những ai được Thiên Chúa kêu gọi để phục vụ Tin mừng.

Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Vào dịp này hàng năm, Đức Thánh Cha kêu gọi các kitô hữu cần cầu nguyện hơn nữa để có được các ơn gọi linh mục và tu sĩ , đồng thời Người cũng muốn mọi kitô hữu, nhất là các bậc cha mẹ và những người có trách nhiệm giáo dục đức tin, cần phải có trách nhiệm cổ võ các ơn gọi.

Hình ảnh người chăn chiên đi trước đoàn chiên là hình ảnh quen thuộc của các dân miền Trung Đông. Người chăn chiên không đi sau đoàn chiên để "chăn", nhưng đi trước để chiên "đi theo". Người chăn biết rõ chiên của mình và chiên nghe tiếng, đi theo người chăn. Theo ngôn ngữ Do Thái, động từ "biết" nói lên một mối tương giao thâm sâu, gần gủi (chứ không chỉ biết bằng trí óc), yêu thương như mối tương giao vợ chồng. Nói cách khác, biết ai tức là yêu thương, gắn bó với người ấy. Đức Giêsu yêu thương và gắn bó với đoàn chiên của mình là Giáo hội, tức là toàn Giáo hội và từng thành viên trong Giáo hội.

Như thế, Đức Giêsu đang nói với từng người trong đoàn chiên của Người. Người biết chúng ta còn hơn là chúng ta biết chính mình. Người đang chăm sóc và yêu thương chúng ta. Chúng ta không còn là người đơn độc. Đôi khi chúng ta cảm thấy bị tách biệt, bị hiểu lầm, bị loại trừ, nhưng nơi sâu thẳm tâm hồn mình, chúng ta không bao giờ hoàn toàn đơn độc. Đức tin nói cho chúng ta rằng Đấng chăn chiên nhân lành đang ở với chúng ta. Người đang nói và chúng ta cần lắng nghe cẩn thận. Người đang nói qua tiếng nói của lương tâm, qua Kinh thánh, qua giáo huấn của Giáo hội, qua các anh chị em chung quanh, qua các biến cố mỗi ngày của đời sống. Đấng chăn chiên kêu gọi chúng ta và muốn chúng ta đi theo Người, bắt chước Người. Người gọi chúng ta, Người ban cho chúng ta sự sống sung mãn.

Phải chăng chúng ta nhận ra Đức Giêsu là Đấng chăn chiên nhân lành trong đời sống của mình ?

Phải chăng chúng ta đang lắng nghe và sẵn sàng đáp lại tiếng Người ?

Lạy Chúa là Thiên Chúa,

như một người cha bênh vực con mình,

như một người bạn bảo lãnh cho bạn.

Chúa đứng cạnh bên chúng con để chỉ dẫn

Chúa quan tâm săn sóc chúng con

Không một ai có thể ngăn cản Chúa

Làm Thiên Chúa chúng con.

Chúng con trông cậy Chúa, mong đợi Chúa

Tin tưởng nơi danh thánh Chúa

Chúa là chân lý vượt qua ngôn ngữ con người

Vượt qua không gian và thời gian

đến tận cõi muôn đời.


Fr.Jude Siciliano,op

Dẫn Chiên Vào Đồng Cỏ Xanh Tươi
Ga 10,27-30

Thưa qúi vị.

Có lẽ bài đọc tin mừng hôm nay vẽ lên chân dung tiên khởi của Chúa Giêsu, chân dung Người Mục Tử Nhân Lành. Hội Thánh đã dùng chân dung này ngay trước cả tượng chịu nạn. Lý do, các tín hữu lúc ấy còn cảm thấy quá xấu hổ và cay đắng về cách thức Chúa bị giết. Hình ảnh Chúa Giêsu vác chiên trên vai coi nhẹ nhàng và đẹp đẽ hơn, cho nên có lẽ là hình ảnh cổ nhất nếu không phải là trước nhất Hội Thánh đã dùng làm biểu tượng việc thờ kính của mình. Nó nói lên vai trò mục tử của Chúa Giêsu và thích hợp đến độ gần như lãnh mạn. Nhưng nội dung bài đọc không phải hoàn toàn hiền lành như thế. Còn có những con chó sói dữ tợn lảng vảng đâu đây để cắn xé và làm tan tác đàn chiên. Cần phải luôn luôn cảnh giác, chứ không chỉ hoàn toàn bình an, phó mặc cho hoàn cảnh. Sự sống sự chết vẫn là lời cảnh báo của phần đầu bài đọc .

Điểm đáng lưu ý thứ hai là chủ chăn nói với toàn thể đàn chiên. Ngài luôn dẫn dắt và dạy dỗ đàn chiên đang lắng nghe Ngài. Ngài khuyên nhủ chúng ta tuân theo điều mà sau này công đồng Vatican II phát biểu : “Giáo hội là dân Thiên Chúa và tất cả những ai đón nhận phép thánh tẩy đều tham dự vào chức tư tế chung của các tín hữu. Mọi người đều có vai trò trong Hội Thánh, mọi người đều được nâng đỡ và dẫn dắt bởi tiếng nói của chủ chiên. Mặc dầu không thể trở ngược thời gian, trở lại thời kỳ đầu của Giáo Hội, nhưng chúng ta luôn được nhắc nhớ là chính Ngài đã tuyên bố : Ngài là chủ của đàn chiên và đàn chiên đã nghe tiếng Ngài. Ngày nay, chúng ta đã phần nào làm phai nhạt ý nghĩa mình thuộc về đàn chiên Chúa. Bao nhiêu thế kỷ đã qua đi nên chúng ta xao lãng tiếng gọi của Chúa rằng chúng ta thuộc về toàn thể cộng đồng, về toàn thể đàn chiên. Thay vào đó chúng ta dồn mọi trách nhiệm nghe Lời Chúa, dạy dỗ Lời Chúa cho hàng giáo phẩm, giáo sĩ. Điều đó thật không hợp lý. Toàn thể Giáo Hội phải lắng nghe Lời Chúa, loan truyền Lời chúa, không trừ một ai, bởi lẽ rao giảng Lời Chúa là tiếng lòng của những người đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Cho nên chúng ta không thể từ chối đón nhận và chia sẻ Lời Thiên Chúa.

Vấn đề khó khăn của ngày hôm nay là ngoài Hội Thánh Roma, còn hơn 3500 giáo phái khác rải rác khắp hoàn cầu, cũng thuyết giảng Lời Chúa, cũng lấy tin mừng làm tiêu chuẩn đời sống đức tin và luân lý. Vậy thì chúng ta biết nghe ai ? đâu là lời rao giảng chân thật, đâu là lời bẻ cong ? Trả lời câu hỏi này thật ra không khó. Tiêu chuẩn của chúng ta là Chúa Thánh Thần. “Khi nào Ngài đến, Ngài sẽ đưa chúng con vào sự thật toàn vẹn” (Ga.16,13). Vậy thì ở đâu có CTT hiện diện, ở đấy có sự thật. CTT không bao giờ bẻ cong Lời Chúa Giêsu. Ngài sẽ chỉ bảo mọi linh hồn đường vào chân lý. CTT hằng ở với Giáo hội, hằng hướng dẫn Giáo hội, cho nên Giáo hội không thể nào lìa xa chân lý, có chăng thì từng lúc, từng nơi có những cá nhân bẻ cong Lời Chúa cho hợp với dục vọng, hoặc não trạng của mình.

Lời Chúa luôn luôn dẫn dắt linh hồn đi vào con đường hẹp, đường hy sinh bác ái, đường hợp nhất thánh thiện. Chúng ta không được phép đặt rào cản cho Lời Chúa. Thực ra Lời Chúa không bao giờ chấp nhận rào cản, xiềng xích, các qui tắc chủ quan, các thiên kiến bệnh hoạn đều làm hại Lời Chúa, đem các linh hồn xa sự thật.

Như vậy chúng ta phải tin rằng đàn chiên Chúa luôn luôn được tiếng chủ chăn hướng dẫn, khích lệ để làm tất cả những gì cổ võ bác ái và hiệp nhất với mọi người, mọi giáo phái. Những con chiên đích thực không phải là những con chiên khờ dại, nhát đảm, thụ động và câm nín. Chúng được nuôi dưỡng bảo vệ và khởi động bằng ơn cứu chuộc của chủ chiên. Cho nên tuyệt đối không được khinh thường, trái lại phải tôn trọng đàn chiên Chúa, dẫn họ vào đồng cỏ xanh tươi. Đừng nhiều lời ít ý hoặc ngụy biện dồn họ vào chân tường mà phải khơi dậy lòng tin tưởng, hy vọng vào Lời Chúa.

Điểm lưu ý thứ ba của bài tin mừng hôm nay là về việc cử hành phụng vụ. Chúng ta đang đói, đàn chiên đang đói, tất cả thế giới đang đói, bước gian truân còn dài, thế gian đang cần lương thực trợ lực. Trong buổi cử hành này mọi người tạm rời bỏ lo lắng hằng ngày, đến bàn tiệc thánh, bàn tiệc Lời Chúa để được bổ sức. Chúng ta nghe Lời Chúa và tâm hồn được nuôi dưỡng, chúng ta cần một lời hướng dẫn và lời Ngài dẫn dắt chúng ta kẻo tâm hồn chúng ta nặng trĩu vì tội lỗi, vì thất đảm và lạc xa đàn. Chủ Chiên nói và chúng ta nghe. Những Lời Ngài không phải để đè bẹp, làm chúng ta tan nát, nhưng để tụ họp, lôi cuốn chúng ta lại thành dân riêng Ngài, canh tân một hướng nhìn chung.

Điều sự thực Ngài muốn là như thế. Ngài không muốn chúng ta tản lạc, mỗi người một nẻo, bơ vơ trên khắp thế giới như những tín hữu lẻ loi đầy ích kỷ, kiêu sa. Ngài muốn qua Lời Ngài, là chúng ta họp thành một cộng đoàn, cùng nhau tiến bước trên con đường hạnh phúc, nghèo nàn mà vui tươi theo nhịp kèn ơn Chúa Thánh Thần. Biết bao lần chúng ta bị phân tán bởi những ước vọng tầm thường, trần tục, những cám dỗ của sa tan, tiền bạc, sắc dục, địa vị, tiếng tăm, bè phái …, và lượng định nhau bằng những tiêu chuẩn hoàn toàn chủ quan tàn ác, ma quái. Hôm nay, trước mặt Chủ Chiên đang phán bảo, chúng ta cật vấn lại lương tâm để thấy rõ hơn căn cước của mình như những con chiên theo cùng một Chúa Chiên. Chúng ta nhìn nhau tụ họp quanh bàn tiệc Thánh Thể này bằng con mắt mến thương, thông cảm và chia sẻ, bởi tất cả đều nghe một Chủ Chiên, theo một Chúa Chiên.

Chúng ta đang đói, luơng thực trần gian nuôi sống chúng ta bất quá năm bảy chục năm, rồi sẽ qua đi. Chúng ta cần một thứ lương thực khác mạnh sức hơn, bền bỉ hơn, đảm bảo cho chúng ta một kiếp sống ngàn thu, một tương lai vĩnh viễn, một giấc mơ đẹp đẽ đến muôn đời. Lương thực đó chỉ có thể là Mình Máu Thánh Chúa. Một thứ thực phẩm ăn không hề no, uống không hề chán. Lương thực này có sức phù giúp chúng ta kiên cường đi theo lời Chúa Chiên và tìm ra những phương hướng phục vụ tha nhân đến thí cả mạng sống như chính Ngài đã làm. Lương thực này nối kết muôn người nên một làm thànhh một thân thể kỳ diệu có sức sống muôn đời. Chúa chiên biết đàn chiên của mình, và lương thực nó cần.

Chúng ta họp nhau nơi đây đón chờ tình yêu của Ngài. Chúng ta sẽ hết sức ngạc nhiên khi thấy tình yêu đó tỏ lộ cho chúng ta, cho anh chị em chúng ta, hết thảy mọi người, một tình yêu dịu dàng và nhẫn nại. Chúng ta tụ họp lại bởi vì tiếng Ngài mời gọi. Rồi chúng ta sẽ chia tay, ngỡ ngàng không hiểu mình sẽ phản ảnh tình yêu đó ra sao trên đường đời ? Chúng ta sẽ làm gì để phục vụ tha nhân ? Chúng ta sẽ thí mạng sống mình thế nào ? Việc đó mổi người sẽ trả lời cho chính mình. Hiện tại cộng đoàn này đã được Chúa Giêsu ban quyền năng để yêu thương như Ngài thương yêu .

Còn vài tuần lễ nữa là hết mùa Phục sinh. Chúng ta sẽ trở lại thường niên, con đường mà chúng ta sống hầu hết thời gian một năm. Sau những lễ hội mừng Chúa sống lại, chúng ta trở về công việc đời thường. Nhưng chúng ta luôn cần sự hướng dẫn, cần có ai đó đồng hành, cần lời cảnh báo kẻo satan lôi kéo chúng ta đi lạc. Chân dung Chúa chiên lành trong gia đình, trong linh hồn mỗi người thật cực kỳ thích hợp, ấm áp lạ lùng. Kinh Thánh đầy dẫy những biểu tượng, hình ảnh về Thiên Chúa và về Đức Kitô . Mỗi hình ảnh nói lên thực tại nào đó đối với chúng ta như : Chúa là Đá Tảng, là Đấng giải phóng, là Tạo hóa, là Vua, là Cha, là Mẹ…

Trong tin mừng th.Gioan các hình ảnh đó lại càng bình dân gần gũi hơn : Chúa là con đường, là Sự thật, là Sự sống, là bánh, là nước… Các hình ảnh đó gợi lên mối tương quan mật thiết của Chúa Giêsu với nhân loại, chúng cố gắng miêu tả chiều sâu của các mối liên hệ đó trong đời sống hàng ngày. Chân dung Chúa chiên lành ghi khắc vào tâm trí chúng ta một tình cảm sâu đậm không thể phai mờ : “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta. Cùng một thể thức như Cha biết Ta và Ta biết Cha”. Mối dây liên kết giữa Chúa chiên và con chiên giống hệt một mối liên kết giữa Chúa Kitô và Thiên Chúa Cha ! Tình cảm mật thiết ấy qúa đủ để chúng ta tin tưởng phó thác vào trái tim Chúa Giêsu, mỗi bước trong cuộc lữ hành về quê hương chân thật là quê trời, lúc thuận tiện cũng như lúc gian nan. Còn chi an ủi hơn ? Amen.


Như Hạ op

TIẾNG GỌI THÂN THƯƠNG
Ga 10,27-30

Làm sao tìm được hướng đi giữa trăm ngàn nẻo đường hôm nay ? Tìm đâu ra người mục tử có khả năng giúp quần chúng đi đúng hướng ? Bao nhiêu hiểm nguy đang chờ đón bước chân đoàn chiên. Nhưng đoàn chiên vẫn không sợ. Tại sao ?

GIỮA HAI BÀN TAY.

Đoàn chiên không sợ vì đã đón nhận được tất cả lòng yêu thương trìu mến và bảo đảm vững chắc nhất. Chính Mục tử bảo đảm : “Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.” (Ga 10:28,29) Được hai bàn tay uy quyền đó nâng đỡ, hỏi ai có thể làm chi được đoàn chiên ? Đúng là người tin theo Chúa được “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.” Đó là hai thành trì vững chắc nhất che chở đoàn chiên khỏi những giông tố trần gian. Sở dĩ họ có thể lọt vào khoảng giữa hai bàn tay uy quyền đó, vì Chúa Giêsu quả quyết : “Cha Tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả.” (Ga 10:29) Con chiên thuộc về vị Mục tử vì đã nằm trong kế hoạch vĩnh hằng của Thiên Chúa. Uy quyền Chúa bao trùm cả vũ trụ. Phán quyết của Người tuyệt đối. Bởi vậy, không một nỗi lo sợ nào có thể lọt vào trong trái tim con chiên.

Đoàn chiên thuộc quyền sở hữu của Chủ chiên, là gia tài Chúa Cha trao phó vào tay Chúa Con. Chính con chiên là tặng phẩm quí báu nhất Chúa Cha trao vào tay Chúa Con. Một trong những dấu chỉ cho thấy Chủ chiên hoàn toàn làm chủ và kiểm soát được đoàn chiên, đó là “tôi biết chúng.” (Ga 10:27) Người làm chủ không phải để thống trị, nhưng để bảo vệ, chăm sóc, yêu thương và đùm bọc đoàn chiên. Khác hẳn các mục tử Ítraen, “những người chỉ biết lo cho mình, mà không chăn dắt đàn chiên của Ta,” (Ed 34:9) Đức Giêsu luôn lấy uy quyền toàn năng nâng đỡ đoàn chiên. Vì hiểu biết, nên Chúa sẽ vận dụng tối đa quyền năng để ngăn ngừa đoàn chiên khỏi mọi đau khổ, sự dữ và hiểm nguy đang vây bủa chung quanh.

Nguy hiểm trước tiên cần phải ngăn ngừa đó là những tiếng gầm gừ của thú dữ, hay những lời đầy quyến rũ đang cố lấn át tiếng gọi thân thương của Chúa. Có những tiên tri giả nhái tiếng Chúa y hệt, làm sao con chiên có thể phân biệt được ? Nhưng Đức Giêsu quả quyết : “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi.” (Ga 10:27) Sở dĩ không nghe được tiếng Chúa, vì họ “không thuộc về đoàn chiên của tôi.” (Ga 10:26) Thuộc về đoàn chiên của Chúa nghĩa là tin theo Chúa. Quả thực, không có niềm tin, không thể thấy được như Chúa. Không tin, cũng không thể giải thích được tại sao có nhiều người ăn ngay ở lành suốt đời nhưng vẫn gặp toàn đau khổ, tai họa và nghèo đói. Trên đời không ai “hiền lành và khiêm nhường” như Đức Giêsu. Với con mắt bình thường, người ta cũng thấy không ai đau khổ và xui xẻo như Chúa. Chết oan ức vì những phán quyết bất công trong khi cuộc đời đang lên như gió. Chắc chắn Đức Giêsu phải được Chúa Cha yêu thương đặc biệt hơn mọi người, vì chính Chúa Cha đã xác nhận : “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn.” (Lc 9:35)

Cứ sự thường Người phải được bảo vệ chặt chẽ khỏi mọi đau khổ và hiểm nguy. Thế nhưng, Người đã đón nhận cái chết tất tưởi trên thập giá giữa bao lời chế nhạo, khinh chê và chửi rủa. Cái chết của Người không phải là một bằng chứng bất lực của tình yêu Thiên Chúa. Thực vậy, Thiên Chúa đã chứng tỏ quyền năng vô hạn nơi cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Phục sinh chính là đối tượng của lòng tin chứ không phải của khoa học. Nói khác, chỉ có niềm tin mới thấy được quyền năng Thiên Chúa nơi những nghịch lý cuộc đời hôm nay. Có tin, mới có thể phóng tầm nhìn xa hơn cõi đời này, để thấy việc theo Chúa hôm nay là hợp lý, vì Chúa quả quyết : “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong.” (Ga 10:28) Phục sinh chính là một bảo đảm cho cuộc sống đích thực.

Không phải đợi tới sau khi chết, cuộc sống đời đời mới xuất hiện. Ngay từ bây giờ, Thiên Chúa “đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác phải chết của anh em được sự sống mới.” (Rm 8:11) Sự sống mới đó chính là sự phục sinh do Đức Giêsu thực hiện nơi những ai đặt trót niềm tin vào Người. Thực vậy, Đức Giêsu chia sẻ một quyền bính với Chúa Cha, khi quả quyết : “Tôi và Chúa Cha là một.” (Ga 10:30) “Lời này hé mở một sự hợp nhất rộng hơn và sâu xa hơn (x.8:29; 10:38; 14:10; 17:11,21,22,23)” (TKTƯ 1995:440) Ở đây Đức Giêsu quả quyết “Người chia sẻ trọn vẹn công việc của Thiên Chúa. Thiên Chúa chia sẻ quyền hành Thiên Chúa với Đức Giêsu trên sự chết, sự sống và phán xét thời cánh chung.” (NIB 1995:677) Nếu Chúa Cha đã có thể dùng Thần Khí phục sinh Chúa Con, chắc chắn Chúa Con cũng có thể phục sinh những người tin vào Chúa bằng chính Thần khí đó. Đó là một bằng chứng “người tín hữu cũng được thông phần vào vinh quang mà Đức Giêsu có do Chúa Cha sau cái chết của Người. Họ cũng trở thành nơi vinh quang của Đức Kitô tỏ hiện.” (TKTƯ 1995:472) Đó là lý do tại sao, các thánh tử đạo vẫn reo vang niềm vui phục sinh giữa rừng gươm giáo gậy gộc.

Tất cả đều bắt nguồn từ mạc khải : “ Chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.” (Ga 17:23) Tình yêu được chia sẻ trọn vẹn và chan hòa đến các tín hữu. Nhưng ai sẽ là tín hữu ? Phải chăng là con cháu Abraham như Thiên Chúa tiền định ? Ông Phaolô đã nói thật với người Do thái, những người vẫn tự hào là con cái Abraham : “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại.” (Cv 13:46) Thế là từ nay, những người cứ tưởng được tiền định lại bị lọt sổ. Còn những người tưởng bị lên án, lại được Thiên Chúa xót thương. Thực ra, tất cả không ra ngoài đường lối quan phòng đầy yêu thương của Chúa. Thánh Phaolô xác tín : “vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này : Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất.” (Cv 13:47) Biên giới Nước Chúa không đóng khung trong dân tộc Do thái, nhưng mở rộng tới khắp tứ phương thiên hạ. Việc truyền giáo cho dân ngoại đã phát triển rất nhanh nhờ người Do thái khước từ Tin Mừng (Rm 11:11tt). Họ “ngược đãi ông Phaolô và ông Banaba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ.” (Cv 13:50) Nhờ rảnh tay với đồng bào, vị Tông Đồ dân ngoại đã dồn hết nỗ lực cho muôn dân. Đúng hơn, “nhờ Thánh Linh hướng dẫn Giáo hội, lệnh truyền của chính Đức Giêsu (Cv 1:8) và sứ mệnh tiền định của Phaolô đã được hoàn thành (9:15)” (Faley 1994:326) Chính vì thế, thay vì buồn tủi vì sự ngược đãi của anh em, “các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần.” (Cv 13:52) Nhờ đó, các ông mới đủ nghị lực và hăng say đến với dân ngoại. Từ nay Dân Chúa “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ.” (Kh 7:9) Dù vậy, Nước Chúa không bị lệ thuộc bất cứ nền văn hóa hay dân tộc nào.

PHỤC VỤ CON NGƯỜI.

Làm sao có thể phục vụ nhân loại trong một chiều kích lớn lao đó ? Mọi người sống trên mặt đất đều là con của đất. Nhưng thử hỏi mẹ đất có được đôi bàn tay như Thiên Chúa nâng đỡ con người không ? Noi gương Thày chí thánh, Giáo hội không ngừng tìm cách làm cho đôi bàn tay Mẹ đất cũng có một vẻ đẹp giống như bàn tay Cha trên trời. Vì con người cũng là hình ảnh của Cha trên trời, là con Thiên Chúa như Đức Giêsu. Bởi thế, con người là một tặng phẩm cao quí đáng được cả bàn tay Thiên Chúa lẫn mẹ đất chăm sóc. Sống giữa trăm ngàn khổ đau, con người cần phải được cứu độ, để những giá trị cao cả không bị vùi lấp đi với thời gian. Muốn thế, một mình Giáo hội không đủ khả năng. Bởi vậy, Giáo hội không ngừng kêu gọi mọi người thiện chí hợp tác để đem lại cho thế giới một nền hòa bình và ấm no thực sự.

Nỗ lực đó đòi nhiều thời gian và phải bắt đầu từ sự kiên trì giáo dục con người. Góp phần đào tạo con người, “nhà trường Công giáo nên là ‘những cộng đồng đức tin và phúc âm hóa năng động.’ Vào thời các bạn trẻ phải đối diện với một tương lai bất định vì sự toàn cầu hóa, văn hóa đảo lộn, chủ thuyết luân lý tương đối, và sự sụp đổ đời sống gia đình, nền giáo dục Công giáo nên cung cấp cho học sinh một cơ hội ‘đạt đến sự trưởng thành về nhân bản, luân lý, và thiêng liêng. Nhờ được trang bị đặc tính kiên cường đó, chính các học sinh có thể trở thành những người tham gia tích cực vào việc tạo nên một thế giới công lý và hòa bình hơn.’” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 30/04/2001)

Không có một cái nhìn trung thực về con người không thể đào tạo con người theo chiều hướng tốt đẹp đó. Thực vậy, nếu bị tha hóa vì những nhu cầu kinh tế và chính trị, làm sao con người có thể thấy được giá trị đích thực nằm sâu trong nhân tính và hoạt động nhân loại ? Ngay từ nhỏ nếu không được đào luyện theo hướng trung thực nhằm phục vụ nhân loại hữu hiệu hơn, làm sao con người có khả năng nhìn thấy nhu cầu lớn lao của người khác ? Nếu được đào luyện trong một văn hóa cứng ngắc và chật hẹp, chắc chắn con người không thể thấy hết những chiều kích đích thực của con người. Do đó, một cái nhìn hạn hẹp có thể giết chết con người và phá hủy xã hội.

Nhưng nếu đẩy con người lên mức toàn cầu hóa mà cũng chỉ giới hạn trong những phát triển kinh tế và kỹ nghệ, con người vẫn không thể phục vụ đúng mức. Chỉ lo tới việc phát triển những giá trị thị trường, tất nhiên chính con người có thể bị quên lãng. Chỉ phục vụ phương tiện, còn cứu cánh là con người lại bị bỏ rơi hay chà đạp. Bởi đấy, “tiến trình toàn cầu hóa phải được ‘kiểm soát’ để kìm hãm những lạm dụng. Việc toàn cầu hóa không thể trở thành một hình thức tân thuộc địa.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 27/04/2001) Nhân loại đã quá đau khổ vì những chính sách thuộc địa đầy tham vọng trong quá khứ. Không thể để bóng ma đó lại đè bẹp tương lai nhân loại. Nói khác, việc toàn cầu hóa có thể loại trừ những nước kém mở mang và dành ưu đãi cho những nước phát triển. Cộng đồng nhân loại cũng như cộng đồng dân Chúa không thể dành ưu đãi cho bất cứ hạng người nào. Mọi người đều bình đẳng vì đều được Thiên Chúa yêu thương.

Muốn đạt được mức tiến bộ thực sự trong việc toàn cầu hóa, mọi người phải lấy con người làm gốc. Muốn thế, “các nhà lãnh đạo phải ‘đặc biệt chú ý tới những hàm ẩn luân lý’ trong tiến trình toàn cầu hóa.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 27/04/2001) Nếu không, tất cả tương quan xã hội đều qui về các yếu tố kinh tế. Nói khác, “thị trường đã áp đặt lối suy nghĩ và hành động của nó, và ghi dấu bậc thang giá trị của nó trên cách cư xử. Những người tùy thuộc vào đó thường thấy thị trường như một nạn lụt phá hoại, đe dọa những qui luật xã hội và văn hóa đã hướng dẫn họ trong cuộc sống”, (ĐGH Gioan Phaolô II, VietCatholic 1/5/2001)

Tuy thế, việc toàn cầu hóa “ngày càng gia tăng việc hủy bỏ những rào cản di dân, chuyển vốn và hàng hóa.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 27/04/2001) Chỉ cần một chút ý thức và kiểm soát, việc toàn cầu hóa có thể trở nên hoàn hảo và ích lợi cho nhân loại. Tự bản chất “việc toàn cầu hóa không tốt không xấu. Nó sẽ trở thành cái gì tùy nhân loại” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 27/04/2001) có biết xây dựng việc toàn cầu hóa trên nguyên tắc tôn trọng con người và những khác biệt văn hóa giữa các dân tộc hay không.

Phải chăng toàn cầu hóa là cơ hội lớn Chúa mở ra cho Giáo hội đến với muôn dân như thánh Phaolô xưa ? Giáo hội cần phải mở tung nhãn giới để lợi dụng cơ hội phục vụ nhân loại ngày càng hữu hiệu hơn. Biết đâu trên bước đường toàn cầu hóa, nhiều con chiên sẽ có cơ hội “nghe tiếng Chúa” và “theo Chúa” để hưởng tất cả những êm dịu của bàn tay Thiên Chúa toàn năng ! Phải chăng đây là lúc Thiên Chúa “sẽ đem chúng ra khỏi các dân, tập hợp chúng lại từ các nước và đưa chúng vào đất của chúng,” (Ed 34:13) để vui hưởng cảnh hòa bình ?!


Giuse Nguyễn Cao Luật op

Người chăn chiên đích thực
Ga 10,27-30

Chúng tôi muốn có vua

Thời xa xưa, khi các thủ lãnh nắm quyền cai trị, dân Israel đã muốn có một ông vua. Họ đã đến xin ông Samuen : “Xin ông lập cho chúng tôi một vua để xét xử chúng tôi, như trong tất cả các dân tộc” (1Sm 8,5). Ông Samuen bực mình vì lời yêu cầu ấy. Ông nghĩ rằng yêu cầu này là một thái độ phản nghịch chống lại Thiên Chúa, vì chỉ một mình Thiên Chúa là Vua cai trị Israel. Ông không chấp nhận lời yêu cầu này : một mặt ông cầu nguyện với Đức Chúa, một mặt ông giải thích cho dân hiểu những tai hại sẽ xảy đến cho họ khi có một vua nắm quyền. Ông đã nghĩ đúng. Phán đoán của ông phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Nhưng dân vẫn không chịu nghe lời giải thích của ngôn sứ Samuen. Họ nói : “phải có một vị vua cai trị chúng tôi ! Cả chúng tôi sẽ giống như mọi dân tộc. Vua chúng tôi sẽ xét xử chúng tôi, sẽ dẫn đầu chúng tôi và sẽ lãnh đạo các cuộc chiến của chúng tôi” (1Sm 8,19-20).

Đức Chúa đã ưng thuận đòi hỏi này. Đức Chúa đã truyền cho vị đại diện của Người đặt cho họ một ông vua. Người muốn dân Israel có kinh nghiệm về chuyện này.

Thế là ông Saun được chọn làm ông vua đầu tiên. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Đức Chúa lại chỉ định một người khác, xuất thân là người chăn chiên, đó là Đavít.

Các ông vua cứ lần lượt kế tiếp nhau cai trị Israel, và thể chế quân chủ cứ suy sụp dần, vì ông vua nào cũng muốn sử dụng quyền bính, coi mình là có quyền như Thiên Chúa. Từ đó dân Israel trải qua một kinh nghiệm đầy cay đắng về ảo tưởng của mình, về những ước mơ thành công khi mà sự thành công ấy dựa trên ý muốn quyền lực của một người, đại diện cho ý muốn của cả cộng đoàn.

Chính Đavít cũng không phải là người tránh được lỗi lầm, tuy nhiên ông đã là người loan báo một dòng dõi mới. Đavít là người chăn chiên báo trước một người chăn chiên mới.

Người chăn chiên mới này không phải là người chăn thuê : những kẻ này chỉ mong thu lợi cho mình, và khi gặp nguy hiểm, họ sẽ là người đầu tiên chạy trốn (x. Ed 34). Người chăn chiên mới này là người chăn chiên đích thực : khi chó sói đến, người ấy can đảm đứng ra và chiến đấu, thà chết chứ không để chiên bị bắt, dù chỉ một con.

Đức Giêsu chính là người chăn chiên đích thực. Khi quân lính đến vây bắt Người tại vườn Cây Dầu, Người đã đứng ra và tự nộp mình : “Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Mc 18,8). Trước đó, trong suốt thời gian rao giảng, Người vẫn đứng ra bênh vực những con người bị áp bức, chống lại mọi quyền lực muốn đè bẹp con người.

Đức Giêsu là người chăn chiên đích thực, là hình ảnh của Thiên Chúa. Hơn thế nữa, nơi Người, chính Thiên Chúa là người chăn chiên, bởi vì Người đã nói : “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30).

Người chăn chiên là ai ?

Tác giả sách Tin Mừng khai triển khá dài dụ ngôn về người chăn chiên ngay trước những biến cố mở màn cuộc kết án tử hình Đức Giêsu vì tội lộng ngôn chống lại Thiên Chúa, trong dịp lễ cung hiến đền thờ Giêrusalem. Tại sao thế ?

Đối với dân Israel, người chăn chiên đích thực chính là Thiên Chúa Cha, Đấng đã dẫn đưa họ về Đất Hứa. Còn theo quan niệm của dân Arameo du mục là tổ tiên của dân Israel, người chăn chiên đích thực vừa là thủ lãnh vừa là bạn đường.

Trước khi là người chăn chiên, Đức Giêsu đã là con chiên. Ông Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Đức Giêsu với các môn đệ của mình qua những lời sau đây : “Đây là Chiên Thiên Chúa”.

Người chăn chiên, theo ngôn ngữ ngày nay là "gourou", người lãnh đạo. Còn trong bản văn này, từ ngữ ấy có nghĩa gì ?

Đó là người biết rõ từng con chiên của mình, đem lại cho con chiên của mình sự sống vĩnh cửu, và hứa với các con chiên là chúng sẽ không bao giờ chết. Người chăn chiên ấy chính là Đức Giêsu, người thợ miền Galilê. Người đã bày tỏ bí mật sâu xa nhất của mình cho những con người lòng chai dạ đá vào lúc họ đang âm mưu giết hại Người. Bí mật ấy là sự hiệp nhất thâm sâu với Thiên Chúa Cha trong tình yêu.

Hiệp nhất, đó là điều người ta vẫn kiếm tìm. Một sự hiệp nhất luôn phải được xây dựng thêm hiện đang nằm trong tay con người, nhưng đồng thời cũng là điều người ta luôn mong đợi.

Vậy mà Đức Giêsu đã sống trong cuộc đời của Người trong mối hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa Cha : kể từ khi nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ, cũng như trong suốt thời gian ba mươi năm sống âm thầm tại làng Nazaret, và trong ba năm nỗ lực loan báo khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, cho đến khi tắt thở trên thập giá, Đức Giêsu đã hoàn toàn hiệp nhất với Chúa Cha. Quả là một điều khó tin, nhưng đó lại là điều có thực.

Chỉ Đức Giêsu mới có thể bày tỏ tình yêu mãnh liệt cũng như mối hiệp thông sâu xa với Chúa Cha. Chính Người là Đấng Mêsia mà dân Israel vẫn trông chờ. Lời loan báo của Người đem lại niềm vui cho người này, nhưng lại làm cớ cho người khác vấp phạm. Họ đã bắt và giết Người, và khi ấy, Người trở thành người chăn chiên hy sinh mạng sống vì các con chiên của mình.

Giờ đây, khi kêu lên “Tôi và Chúa Cha là một”, Đức Giêsu liên kết mọi người vào cuộc trao đổi này : chiên của Đức Giêsu thì ở trong Người, nghe tiếng Người và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Người.

Như thế, cùng với Đức Giêsu, trong vòng tay của Thiên Chúa, mọi người được sống trong bầu khí yêu thương và đầy tin tưởng, mặc dù vẫn còn đó nhữn thử thách, những đau khổ, những xáo trộn.

Đức Giêsu là Người chăn chiên đích thực, bởi vì Người đã hoàn toàn sống với Thiên Chúa, Đấng đã trao ban cho Người tất cả : chia sẻ mọi sự nhưng mỗi bên vẫn là chính mình.

Chiên của Đức Giêsu : những người tự do

Đức Giêsu Phục Sinh là người chăn chiên của chúng ta. Người chăn chiên đích thực và tuyệt vời. Chính Người quy tụ, hướng dẫn và gìn giữ chúng ta. Người sẵn sàng hy sinh mạng sống để cứu chúng ta. Ngày nay, Người vẫn là người chăn chiên như ngày xưa : trước khi về trời, Người đã trao phó sứ mạng ấy cho vị đại diện của Người (x. Mt 16,18 ; Ga 21,15-17). Chính trong Hội Thánh do Đức Giêsu thiết lập mà lời Thiên Chúa không ngừng vang lên, và nhờ vậy, tất cả chúng ta được quy tụ, được hướng dẫn và được gìn giữ.

Đó là hạnh phúc của chúng ta. Có Đức Giêsu hướng dẫn, chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới đích : và đi theo Đức Giêsu, chúng ta không phải là những kẻ bị trói buộc. Người chỉ lôi kéo những người tự do.

Ngày nay, người ta- nhất là giới trẻ - đang đề cao tự do. Có ai muốn để cho Đức Giêsu hướng dẫn, gìn giữ ? Thực ra, thứ tự do mà người ta đề cao đó chỉ là những hình thức khác của tình trạng nô lệ : tùng phục ách thống trị của bản năng và lạc vào những con đường không lối thoát. Một khi Thiên Chúa không phải là con đường, thì chẳng có con đường nào cả. Một khi Thiên Chúa không bảo vệ, thì chẳng có chi an toàn !

Ôi Đức Giêsu Kitô,

nhờ thân thể của Chúa,

Chúa đã chữa lành những vết thương của chúng con.

Chúa là Ađam mới,

là Đấng chiến thắng ác thần.

Nhờ thân thể của Chúa,

Chúa xây dựng Hội Thánh,

qua việc thông ban Thánh thần.

Nhờ thân thể của Chúa,

Chúa mở cho chúng con sự sống,

thiên tính vĩnh cửu được gieo vào thân xác chúng con.

Nhờ thân thể của Chúa,

Chúa là cuộc Vượt Qua của chúng con,

Chúa đang sống trong chúng con.

Ôi Đấng Phục Sinh. (I. Servel)


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Tinh thần người mục tử
(Ga 10,27-30)

Sáng ngày 19-3-1994, tại phòng áo nhà thờ giáo xứ Ca-san-đi Pin-se-pê, gần thành phố Na-pô-li, miền trung nước Ý, cha Giu-se Đai-a-na đã bị sát hại với ba phát súng do bọn bất lương Ca-ma-ra bắn thẳng vào mặt đang lúc cha sửa soạn cử thành thánh lễ kính thánh Giu-se bổn mạng.

Cha Đai-a-na, một linh mục trẻ mới 36 tuổi, tuy bị các băng đảng bất lương luôn luôn đe dọa sát hại, vẫn hăng say với sứ mạng tông đồ của cha. Vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1991, cùng với các cha xứ khác trong vùng, cha đã ký tên vào hội quyết tâm chống lại mọi hình thức tội phạm bất lương, nhất là bọn Ca-ma-ra, những kẻ dã man gây đau thương tang tóc khắp miền đó. Trước cái chết thảm thương của cha, trong bài giảng lễ an táng, đức giám mục giáo phận A-vê-sa đã tóm tắt sứ mệnh tông đồ của cha như sau : “Cuộc đời của cha Đai-a-na là một cuộc đời đau khổ và tin tưởng, chúng ta hãy có hai cái nhìn : một cái nhìn xuống đất, nơi thân thể đẫm máu của cha Đai-a-na an nghỉ, và một cái nhìn lên trời cao, nơi có Đấng đã chết trên thập giá, nhưng đã chiến thắng hận thù và sự chết. Cha Đai-a-na đã cống hiến cả cuộc đời để ngăn chặn những tội ác, tuy cha đã chết, nhưng gương sáng và tinh thần của cha vẫn sống mãi trong lòng mọi người”.

Tinh thần hăng say và lòng quả cảm của cha Đai-a-na đã cống hiến cho giới trẻ một lý tưởng cao thượng. Trong cuộc sống, cha đã trở nên bạn hữu của tất cả mọi người, cha đã gieo niềm vui và hy vọng trong tâm hồn các bệnh nhân, cha đã chinh phục thiện cảm của giới trẻ bằng nụ cười dễ mến, cha cũng có tài hướng dẫn tinh thần, làm thay đổi các tâm hồn tận thâm sâu. Với tinh thần và tấm lòng của người mục tử, cha Đai-a-na đã trung thành với lý tưởng đời linh mục và trả giá bằng chính mạng sống mình vì những giá trị của Tin Mừng và vì tình yêu Chúa Ki-tô.

Với cái chết thảm thương của cha Đai-a-na, bạo lực đã chạm tới bàn thánh. Bàn thờ của người tín hữu được dựng nên để tưởng nhớ một cái chết, cái chết của Chúa Ki-tô, Đấng đã chấp nhận chết vì tình yêu nhân loại. Cái chết tương tự của một linh mục cũng là cái chết vì tình yêu. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói về cái chết của cha Đai-a-na như sau : “Cha Đai-a-na đã chết như một người công chính bị ngã gục, như một tiếng kêu hùng hồn tố cáo tội ác đã bị im bặt và như một ngọn đèn sáng đã tắt lịm đi”.

Thế nhưng cái chết của cha Đai-a-na cũng là hạt giống mục nát trong lòng đất để đem lại một mùa gặt phong phú hơn, mùa gặt của công lý, an bình và tình thương. Sau đây là một bằng chứng : Mấy ngày trước khi bị sát hại, có một thanh niên đến gặp cha, bày tỏ nguyện vọng theo ơn gọi linh mục, cha đã nói với anh : “Nếu thực sự anh muốn trở thành linh mục, anh phải luôn nhớ rằng anh sẽ phải trả giá rất đắt, nếu không, anh nên gạt bỏ ước nguyện đó đi”. Rồi khi đứng trước thi hài cha Đai-a-na, người thanh niên ấy đã thành thật nói : “Nếu trước đây tôi còn do dự, thì giờ đây sự việc đã xảy ra, và cái chết của cha Đai-a-na đã cho tôi một niềm xác tín mới : “Tôi muốn trở thành linh mục”.

Chúa nhật IV mùa Phục Sinh được gọi là Chúa nhật Chúa chiên lành, chúng ta tôn vinh Chúa Giê-su là mục tử nhân lành, là Chúa chiên lành, Ngài đã yêu thương chúng ta, Ngài dẫn dắt chúng ta tời đồng cỏ non xanh, tới giòng suối mát trong lành, tức là lời của Ngài và Thánh Thể Ngài nuôi sống chúng ta và sống dồi dào. Qua đó, cũng nhắc nhở chúng ta cầu nguyện cho các mục tử của Giáo hội hôm nay, biết noi theo Thầy chí thánh, trở thành những mục tử nhân lành, khôn ngoan, thánh thiện, cần mẫn và sẵn sàng hy sinh, phục vụ cho đoàn chiên là chính chúng ta.

Đàng khác, hôm nay cũng là ngày Giáo hội toàn cầu dành riêng để cầu nguyện cho ơn thiên triệu. Chính Chúa đã dạy : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”. Nếu muốn có nhiều người xung phong vào cánh đồng phì nhiêu, thì trước hết phải cầu nguyện, nghĩa là chúng ta phải luôn cầu xin Chúa gửi tới cho chúng ta nhiều thợ gặt, và nhiều thợ gặt lành nghề, nghĩa là cầu xin Chúa ban ơn soi sáng cho giới trẻ biết nghe tiếng Chúa và các linh hồn kêu gọi họ dấn thân tận hiến cuộc đời cho sứ mạng cứu thế. Những lời cầu xin của chúng ta sẽ bay lên trước tôn nhan Chúa, Chúa sẽ nhận lời cầu xin của chúng ta, như Chúa đã nói : “Ai xin, sẽ được”, quê hương nào xin, nơi ấy được.

Đối với bản thân chúng ta, ngày lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta nên tự vấn chính mình : tôi phải làm sao để có thể sống Tin Mừng một cách nghiêm chỉnh hơn ? Tôi phải làm sao để bắt chước đời sống phục vụ của Chúa Giê-su một cách thiết thực hơn ? Tôi phải làm sao để trở thành Ki-tô hữu đích thực hơn trong chính gia đình và trong môi trường làm việc của mình ?

Dĩ nhiên không ai có thể trả lời giùm chúng ta, vì đây là những câu hỏi chúng ta phải tự trả lời, nghĩa là mỗi người phải trả lời những câu hỏi ấy theo cách thức của mình. Tuy nhiên, đừng bao giờ vịn cớ rằng : tôi không thể làm như cha Đai-a-na hay các linh mục khác, để rồi chẳng làm gì cả, vì nếu chúng ta không thể làm được một điều thật can đảm, thật anh hùng, thì điều đó không có nghĩa là chúng ta không còn có thể làm được bất cứ việc gì khác.

Tất cả chúng ta đều có thể làm một điều gì đó, dù rất nhỏ bé và xem ra vô nghĩa, khởi đầu là cho chính những người thân trong gia đình mình, rồi từ đó chúng ta sẽ có những may mắn mở rộng việc phục vụ ra môi trường xa hơn. Còn nếu chúng ta không khởi sự ngay từ gia đình mình thì chúng ta cũng sẽ không bao giờ khởi sự được ở bất cứ nơi nào khác, bởi vì “tu thân, tề gia, rồi mới trị quốc và bình thiên hạ”.


Giuse Nguyễn Phan Tài op

Đức Kitô là Mục tử nhân lành
(Ga 10, 27-30)

Tự trong sâu thẳm của cõi lòng, đã là người, ai cũng có nhu cầu, khát vọng tâm linh nhằm hướng đến, đạt được sự bình an đích thực, đạt được hạnh phúc viên mãn, hưởng cuộc sống tròn đầy. Nhưng nếu chỉ cậy dựa vào ý chí, lý trí hay sức mạnh của bản thân, con người khó có thể đạt được điều đó, thế nên chúng ta luôn có nhu cầu có một ai đó để dạy dỗ, chỉ bảo và dẫn dắt ta đến khát vọng sâu xa đó. Và như vậy, tất cả chúng ta đều là con chiên và cần có mục tử để dẫn dắt, để chăm lo cho đời sống tâm linh của chúng ta. Vấn đề là làm sao để phân định và chọn lựa mục tử chính danh cho mình mà thôi.

Thật vậy, trước một thế giới đa tôn giáo, một thế giới phát triển vượt bậc về nhiều lãnh vực khác nhau, một thế giới mà đồng tiền trở thành thước đo giá trị cho mọi thứ, từ vật chất, tình cảm, thậm chí đến cả tâm linh, hẳn nhiên sẽ xuất hiện rất nhiều những bầy sói dữ chực chờ xé xác ăn thịt ta, và cũng xuất hiện không ít những mục tử giả hiệu, những con người này tìm đủ thủ đoạn, mọi mánh khoé để quyến rũ, mời mọc, mồi chài chúng ta theo họ cùng với lời hứa sẽ mang lại cho ta cuộc sống viên mãn, tròn đầy. Nhưng vì là mục tử giả hiệu, nên lời hứa của họ chỉ mang đến sự phá huỷ, chết chóc và vong thân. Nơi họ dẫn ta dến là những cánh đồng hoang, những khu rừng rậm đầy thú dữ. Đó chính là cuộc sống buông thả, trụy lạc, những ý thức hệ lệch lạc, những cách sống thời thượng, hưởng thụ, … làm tiêu hao, tàn phá sức sống, nhân phẩm của ta. Họ chính là những tên trộm cướp làm hại con chiên.

Mục tử thật, mục tử chính danh là vị mục tử phải dẫn đàn chiên tới nơi có suối nước mát trong, có bóng mát, có cỏ non nuôi dưỡng cuộc sống của đàn chiên. Mục tử đó cũng phải vất vả, cực nhọc tìm dẫn về những con chiên vì ham vui, nhẹ dạ đã đi theo tiếng gọi của đêm đen nên đã lạc đường. Mục tử đó cũng còn phải can đảm, chấp nhận gian lao chiến đấu và dám hy sinh cả mạng sống mình để bảo vệ đàn chiên trước những bầy sói hung dữ và những kẻ cướp tàn bạo. Có thể làm được điều đó, không ai khác ngoài Đức Giêsu, người đã yêu thương chăm sóc, chiến đấu, hy sinh vì đàn chiên. Như vậy, Người chính là vị mục tử chính danh, vị mục tử đầy nhân lành. Đây cũng là điều mà Vua Đavít đã cảm nhận và xác quyết về Thiên Chúa trong Thánh vịnh 23 :

“Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.”

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Ngài chính là Mục tử nhân lành, Ngài luôn quan tâm, chăm sóc và biết rõ từng người từng người chúng con với cá tính riêng, hoàn cảnh riêng, chỗ mạnh chỗ yếu riêng : “Ta biết chiên Ta và chiên ta biết Ta, như Chúa Cha biết Ta và Ta biết Chúa Cha”. Ngài không đẩy chúng con đi trước, nhưng Ngài luôn đi tiên phong, chiến đấu bảo vệ và đã tự huỷ mình đi để trở nên Máu Thịt làm thần lương nuôi dưỡng xác hồn chúng con. Vậy mà chúng con đã không ít lần nghe theo những tiếng gọi, những lời mời mọc bất chính của bóng đêm, để ngoảnh mặt, lìa xa và trốn chạy trước sự quan tâm, yêu thương của Ngài. Xin cho chúng con luôn cảm nhận và xác quyết rằng Ngài mới chính là người có thể bảo vệ và dẫn dắt chúng con đến nguồn sống bất tận, nguồn hạnh phúc đích thực.

Lạy Chúa Giêsu, Mục tử nhân lành, một cách nào đấy chúng con cũng là những mục tử của gia đình, của khu xóm, của xã hội và của Giáo Hội, xin cho chúng con luôn gắn kết chặt chẽ trong Ngài, để luôn biết sống yêu thương, biết quan tâm chăm sóc đến người khác, đặc biệt là những con người đang mất niềm tin, niềm hy vọng vào cuộc sống, những con người bị bỏ rơi, bị gạt ra bên lề xã hội. Amen.


Lm đỗ lực OP

EM BIẾT TIN AI BÂY GIỜ ?!
(Ga 10:27-30)

Sau khi thoát khỏi chiến tranh lạnh kéo dài hàng bao thập niên, nhân loại tưởng sẽ bước vào một thế kỷ mới đầy hạnh phúc. Nhưng rõ ràng thế giới không bao giờ hòa bình. Cuộc xung đột ý thức hệ chưa chấm dứt, thì cuộc đối đầu về tôn giáo diễn ra ác liệt. Tình hình thế giới hôm nay khó tìm một giải đáp. Con người tự hào về sự hiểu biết quá nhiều và một chiều về tôn giáo của mình. Niềm tin quá mạnh đến độ cuồng tín đã đẩy cả xã hội và con người vào lò lửa chiến tranh như tại Trung Ðông hiện nay.

Ðang khác, nhân loại đang trải qua cuộc khủng hoảng về gia đình, xã hội, luân lý, đạo đức v.v. Con người đang mất hướng chỉ vì quá chú tâm vào những phương tiện sống hơn là chính sự sống. Nguyên do vì càng ngày con người càng ít biết về tôn giáo, nguồn cung cấp lẽ sống. Theo thống kê, ngay tại nước nổi tiếng Công giáo một thời như Ái Nhĩ Lan, có tới 95 phần trăm người lớn không hề biết về Ðiều Răn Thứ Nhất trong Mười Ðiều Răn. (1) Kiến thức một chiều hay không có kiến thức về tôn giáo đều dẫn nhân loại đến chỗ chết. Nhiều người như bị lạc hướng hay bị xé rách giữa những giằng co của bao chủ thuyết và niềm tin.

“Em biết tin ai bây giờ ?”

Giữa cảnh hoang mang đó, Ðức Giêsu lên tiếng mạnh mẽ : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10:11) Thực tế, Chúa có xứng đáng với danh hiệu đó không ? Người có đủ khả năng dẫn con người ra khỏi vòng luẩn quẩn của kiếp người không ?

Ngoài Ðức Kitô, con người không thể kiếm được con đường cứu thoát nào khác. Thực vậy, muốn đạt đến ơn cứu độ, con người cần phải biết Thiên Chúa và Thánh ý Người như đã mạc khải trong thánh sử. Bởi đấy, trước hết, Chúa Giêsu phải bày tỏ cụ thể thánh ý Thiên Chúa, tức những huấn chỉ và lời hứa, cho con người (x. Ga 17:3; Dt 1:1-5). Chỉ mình Người mới có thể biết và làm cho người khác biết thánh ý huyền nhiệm của Thiên Chúa Cha vĩnh hằng (x. Mt 1:27). Ðức Kitô đầy quyền năng trong lời giảng dạy. Người cho nhân loại biết muốn được cứu rỗi, cần phải tin và nhận biết Người là Ngôi Lời Thiên Chúa.

Ngôi Lời đến trần gian để rao giảng Nước Thiên Chúa và kêu gọi mọi người sám hối. Không sám hối, không thể nhận biết Người là vua. Người sinh xuống trần gian để đem sức mạnh sự thật giải thoát nhân loại (x. Ga 18:37). Như thế, Người xứng đáng là một Mục Tử đầy uy quyền, khôn ngoan và quả cảm. Bởi thế, trước cuộc đời đầy thách đố và hiểm nguy, Người không tìm an nhàn thư thái hay yên ổn cho bản thân. Người cũng không hy sinh đoàn chiên để đạt mục tiêu riêng. Trái lại, Người sẵn sàng liều mạng để cứu sống đoàn chiên. Người không thể ngồi yên khoanh tay nhìn sói dữ cắn xé đoàn chiên. Sự hy sinh bất vụ lợi đó là tiêu chuẩn đánh giá người mục tử đích thực. Người không thể sống theo nước đôi. Vừa muốn danh dự và uy quyền của một mục tử vừa muốn toàn mạng, chứ không phải đối đầu với đàn sói, làm sao có thể có một thứ mục tử dễ dàng đến thế ! Không ! Người dứt khoát đem tất cả sức mạnh bảo vệ đoàn chiên, dù phải trả bất cứ giá nào ! Chính vì thế, Người trở thành trung tâm thu hút và sức mạnh quy tụ đoàn chiên. Tình yêu đã khiến Người hy sinh tất cả cho hạnh phúc và sự sống đoàn chiên.

Sở dĩ dám hy sinh tất cả cho đoàn chiên, vì Người ý thức rất rõ về trọng trách Chúa Cha giao phó đoàn chiên cho mình. Nếu con người chẳng có một giá trị nào, tại sao Chúa Cha lại giao phó cho Chúa Con ? Tại sao Chúa Con lại đón nhận như một tặng phẩm quý giá hay như một bửu bối ? Người hiểu biết rất rõ về giá trị của từng con chiên và của cả đoàn chiên : “Tôi biết chúng.” (Ga 10:27)

Sự hiểu biết đó không phải là một kiến thức khô cứng hay một lý thuyết vô hồn. Trái lại, đó là sự hiểu biết toàn vẹn bao hàm tình yêu và đưa đến sự hy sinh hoàn toàn.

Chỉ có Mục Tử như thế mới làm cho đoàn chiên cảm phục và quây quần chung quanh để lắng nghe và đi theo (x. Ga 10:27) mà thôi. Không sống chết với đoàn chiên, dĩ nhiên không thể được mến chuộng đến như thế. Mục tử không biết hy sinh đến quên mình, đoàn chiên không thể gắn bó. Bởi đấy, khi không can đảm bảo vệ đoàn chiên, mục tử sẽ mở đường cho chó sói cắn xé và phân tán đoàn chiên. Vị Mục Tử tối cao luôn đi sát đoàn chiên để hướng dẫn và chỉ bảo đoàn chiên giữa những ồn ào và nanh vuốt của bầy sói. Ðó là lý do tại sao Chúa dám cả quyết: “Không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.” (Ga 10:28)

Làm cách nào Chúa có thể bảo đảm như thế ? Chúa đã dùng phương thế gì? Chúa đã bảo vệ đoàn chiên “bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa, (và) lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ.” (2 Cr 6:7) Như thế, nếu Chúa cứ im lặng, đoàn chiên sẽ lắng nghe cái gì và làm sao đi theo Người ? Trước những bất công là vũ khí của loài sói dữ, chỉ có Lời Chúa và sự công chính mới đương đầu nổi. Thánh Linh chính là sức mạnh Thiên Chúa giúp Người chiến đấu chống lại kẻ thù. Nhờ chiến đấu can trường, không những Người có thể cứu đoàn chiên, mà còn làm cho “sự sống đời đời” (Ga 10:28) như mạch suối chảy dào dạt trong con chiên nữa.

Càng chiến đấu chống lang sói để bảo vệ đoàn chiên, Người càng mạc khải rõ căn tính và sứ mệnh của mình. Không phải vô tình Người đứng ra lấy thân cản trở sói lang để cứu đoàn chiên. Nếu không được Chúa Cha ủy thác và sai phái, Người không bao giờ đảm lãnh trách vụ đó. Có thể nói Chúa Cha đang ôm trọn đoàn chiên trong vòng tay của Người là Ðức Giêsu. Còn thành trì nào vững chắc hơn ?

Trong vòng tay đầy yêu thương đó, Chúa Cha quy tụ muôn tín hữu “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ.” (Kh 7:9) Chỉ đức tin mới có sức mạnh vượt qua mọi giới hạn tự nhiên mà thôi. “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Ðức Kitô.” (Rm 10:17) Chính vì thế, lời Chúa có sức mạnh quy tụ muôn dân và lôi cuốn họ theo Người . Nếu không có Lời, Chúa sẽ trở thành xa lạ đối với đoàn chiên và đoàn chiên cũng không biết nhau nữa. Nói khác, chính Lời khiến đoàn chiên thuộc về Chúa và thuộc lẫn nhau. Theo thánh Augustinô, “tâm hồn thuộc về Chúa Giêsu Kitô, thì nghe tiếng Chúa, hiểu Lời Chúa : người lạ không nghe thấy gì cả.”(2) Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần nghe tiếng Chúa để biết cách hành xử kịp thời và thích hợp.

Vậy đứng trước nhiều sự kiện của GHVN hôm nay, chúng ta nên có thái độ nào ? Gần đây, mọi người đều thấy nhiều vị lãnh đạo GHVN không còn giữ im lặng trước một vài trách nhiệm tế nhị của mình nữa; Tuy nhiên, có vị lại cho biết phải đợi tới tháng 10.2007 mới có thể biết ý kiến của HÐGMVN...

Trước vụ thảm sát tại đại học Virgina Tech vừa qua, HÐGM Nam Hàn đã không phải đợi đến kỳ họp thường niên...! Không, ngay lập tức, ÐHY Nicholas Cheong Jin-suk, TGM thủ đô Seoul Nam Hàn, đã lên tiếng và phân ưu với các gia đình nạn nhân. Cả Hội Ðồng Liên Tôn Nam Hàn cũng có một thái độ tương tự.

Trong mọi trường hợp, nhất là khi đã có những tranh luận khác biệt trong cộng đoàn, ý kiến của người lãnh đạo luôn là cần thiết và tối quan trọng, ý kiến đó cần phải rõ ràng minh bạch. Sự im lặng của lãnh đạo (hoặc lập trường nước đôi), có thể sẽ là một thảm kịch cho đoàn chiên!

(...)

“Đừng hiểu chính trị theo nghĩa hẹp ! Giáo Hội có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng, mà trong Tin Mừng có con người, tức là có nhân quyền, nhân phẩm, tự do và lương tâm cùng tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những cái đó có một giá trị chính trị thì tôi làm chính trị, vì tôi bênh vực con người.” (3) ÐGH Gioan Phaolô II đã phải lấy cả cuộc đời để chứng minh nhận định sâu sắc đó. Nhân loại cần phải biết ơn và không bao giờ có thể quên tấm gương cao cả và dũng đảm của vị giáo hoàng khả kính này!

Hội Ðồng Giám Mục Á Châu minh định: “Trước hết chính trị phải trở thành một hoạt động chung, toàn thể dân Chúa được mời gọi dấn thân vào hoạt động chính trị ấy, vì Phúc Âm đòi hỏi Kitô hữu đưa Phúc Âm và những giá trị Nước Trời- là tình thương và công bình- xâm nhập vào những lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, và xã hội của Châu Á. Ai tuyệt đối khước từ đòi hỏi thay đổi chính trị ở Châu Á, ắt là một cách nào đó, cũng phủ nhận căn tính Kitô của mình.” (4) 

Vì nhiều hoàn cảnh khó khăn, không được hiểu biết nhiều về giáo lý và giáo luật, cũng không được tiếp cận đầy đủ thông tin, người giáo dân tại Việt nam không thể dễ dàng trở thành những công dân có ảnh hưởng và hoạt động hữu hiệu cho chính quê hương và giáo hội của mình. Sự thiếu hiểu biết về giáo lý nguy hiểm hơn các hình thức vô tri khác, vì tôn giáo có một vai trò quan trọng trong văn hóa và như là một sức mạnh trên thế giới. (5) Nhưng mấy ai dám nhận mình thiếu hiểu biết như thế ? !

Phản ứng theo sự thiếu hiểu biết... lại càng thiệt thòi hơn cho Giáo hội.

Lạy Chúa, xin thương đến quê hương và GHVN chúng con ! Xin cho tất cả chúng con, dù là giáo dân hay giáo sĩ, đều có thể trở thành những mục tử can đảm bênh vực và hướng dẫn đoàn chiên mà Chúa đã trao phó cho từng người... theo đúng Thánh Ý Chúa. Amen.

 


[1] Traité sur saint Jean, XLV, 7.

[1] Zenit 23.04.2007.

[2] Radio Free Asia 20.04.2007.

[3] Nhật báo La Stampa, Ý, tháng 0 3.1991.

[4] FABC 4, 3.1.2, Tokyo, 16-25 tháng 09.1986.

[5] Prothero, Zenit 23.04.2007.



Lm. Jude Siciliano, OP (Anh Em HV Đaminh chuyển ngữ)

LẮng Nghe và Đáp LẠi LỜi ĐỨc Giêsu MỤc TỬ
Ga:
10: 27-30

Bài Tin mừng hôm nay là một trong những mâu thuẫn giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo tôn giáo. Đoạn Tin Mừng trước, Người tự nhận mình là Mục Tử Tốt (10,11-14). Người nói Người có thể hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Nhiều người nghe Đức Giêsu nói thế đã cho rằng Người bị “quỷ ám và điên khùng rồi” (Ga 10,20). Nhưng những người khác lại bảo “người bị quỷ ám đâu có nói được như vậy ! Chẳng lẽ quỷ có thể mở mắt cho người mù được sao?” (10,21).

Đôi khi người ta nói rằng “nếu tôi sống vào thời Đức Giêsu, xem và nghe thấy Người nói thì lòng tin của tôi đã vững mạnh hơn bây giờ nhiều.” Nhưng lòng tin có vẻ như không phải là thái độ đáp trả tự động đối với những người đã thấy và đã nghe Đức Giêsu giảng. Thực ra, đối với  nhiều người nghe Đức Giêsu, thì lời và hành động của Người lại gây lên sự chống đối.

Trong bối cảnh của nhiều cuộc xung đột khác, Đức Giêsu mạnh mẽ và can đảm nhận mình là Mục Tử Tốt. Nhưng những kẻ chống đối không nhận ra nơi Người sự mạc khải của Thiên Chúa. Tuy nhiên, một số đã nhận ra, và bài Tin Mừng hôm nay đã cho thấy rõ họ đã tin như thế nào – Thiên Chúa đã chọn họ và dẫn họ đến với Đức Giêsu (“Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi…”). Đây là một sứ điệp mạnh mẽ về hành động của ân sủng. Chính Thiên Chúa chọn chúng ta chứ chúng  ta đã không chọn Ngài. Nhưng những ai được chọn thì có trách nhiệm, như chiên của người Mục Tử, lắng nghe và đáp lại những gì chúng ta nghe được nơi Người.

Bài Tin Mừng hôm nay trích từ chương 10, nói đến những việc xảy ra vào dịp lễ cung hiến Đền thờ, vào mùa đông. Đây là thời điểm khá gần với đại lễ của người Do Thái, cơ hội cho những người có lòng tin ăn mừng biến cố Macabê chiến thắng quân Syri vào khoảng năm 160 trước Chúa Giáng sinh. Dân Syri đã xúc phạm Đền Thờ nên Macabê đã nổi dậy giành lại và thánh hiến Đền Thờ. Vì thế, đại lễ này khơi dậy lòng yêu nước cũng như niềm hy vọng sẽ một lần nữa được tự do; lần này là thoát khỏi bàn tay cai trị hà khắc của người Rôma. Vào dịp lễ Cung Hiến Đền Thờ thì tinh thần của dân lại được khơi dậy một niềm hy vọng về Đấng Mêssia mà Thiên Chúa hứa gởi đến cho dân.

Trong Cựu  Ước và Tân Ước, chúng ta có thể thấy nhiều lần đề cập đến chiên và mục tử. Chiên có giá trị kinh tế ở xứ Palestin, vì thế cả dân ở thôn quê lẫn thành thị đều có thể nuôi chiên, ít là như một nghề phụ. Mục đồng thường sống khá khổ cực và thường xuyên phải đi xa nhà để chăn dẫn đàn chiên. Họ cũng phải đối mặt với khó khăn nguy hiểm do thú dữ và cả những tên trộm. Mục đồng phải giữ đàn chiên ở chung với nhau, vì chúng thường dễ đi lạc, và còn phải dẫn chúng đến nguồn nước cho chúng uống và đến đồng cỏ cho chúng ăn. 

Vì thế  chúng ta thấy được tầm quan trọng của sứ điệp Đức Giêsu đã nói cho thính giả của Người trước đó, khi Người nói mình là Mục Tử Tốt. Trong bối cảnh Lễ Cung Hiến Đền Thờ, Đức Giêsu vẽ lên hình ảnh của người mục tử để mô tả Người như Đấng có thể dẫn dắt , bảo vệ và nuôi dưỡng dân của Người – những con chiên biết lắng nghe và đi theo tiếng gọi của Người. Trong Cựu Ước, Đức Chúa được mô tả như là Mục Tử (xc. Êdêkien 34 và Thánh vịnh 23) có thể chăm sóc đàn chiên, vì mục tử được chọn đã sa ngã trầm trọng. Vì thế, khi tự xưng mình là Mục Tử Tốt thì Đức Giêsu cũng đã tự xác nhận căn tính Thiên Chúa của Người, khi Người nói: “Tôi và Chúa Cha là một.”

 Những ai đón nhận Đức Giêsu và lời của Người thì  cũng nhận được những gì Thiên Chúa ban qua Người (“Tôi sẽ ban cho chúng sự sống đời đời và  muôn đời chúng sẽ không phải diệt vong.”). Những kẻ chống đối Đức Giêsu hiểu rất rõ những gì Người muốn nói, vì trong đoạn tiếp theo, sau bài Tin Mừng hôm nay, có nói rằng: “Họ lấy đá để ném Đức Giêsu.” (câu 31) 

Đức Giêsu khiến dân chúng ngạc nhiên, Người không phải là đấng Mêssia  như họ mong muốn. Người đã không tập hợp quân đội để lật đổ quân La Mã. Người cũng đã chẳng sống theo kiểu một người công chính mà những người chống lại Người đòi hỏi nơi một người được Thiên Chúa sai đến. Vậy thì điều gì chứng minh được những lời Người đã nói: “Tôi và Chúa Cha là một”? Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu đã không thực hiện dấu lạ chỉ để thuyết phục những kẻ thách thức uy quyền của Người. Dân chúng phải đặt niềm tin tưởng nơi Người và đón nhận sứ điệp của Người. Điều này thật khó thực hiện đối với những người đương thời của Người, những người mong chờ một đấng Mêssia  kiểu khác.

Tin là  một chủ đề quan trọng trong Tin Mừng Gioan, và  đó không phải những gì người ta có thể  bị lôi kéo bởi những chứng cứ hùng hồn hay dấu lạ vĩ đại. Đó là món quà Thiên Chúa phú bẩm trong chúng ta để có thể khơi lên một thái độ tin tưởng vào Đức Giêsu và khiến chúng ta rập khuôn cuộc đời mình theo những lời dạy của Người – dù lúc thuận lợi hay không thuận lợi. Chiên của Đức Giêsu thì nghe tiếng Người và đi theo Người dẫu chúng ta có phải bước đi trong “thung lũng âm u” (Tv 23, 4). 

Vấn đề thời gian không thể khiến niềm tin vào Đức Giêsu dễ dàng hơn chút nào. Niềm tin của chúng ta chịu thử thách khi mọi thứ trở nên tồi tệ - trong cuộc sống riêng của chúng ta, trên thế giới, nhất là trong Hội thánh của chúng ta ngày nay. Như những người đương thời với Đức Giêsu, chúng ta cũng cần một dấu để tin. Đôi khi chúng ta không nhận được bất kỳ dấu chỉ nào, không một lời đáp trả cho những điều khấn xin, không một lối thoát nào khỏi một tình cảnh khó khăn. Nhưng chúng ta luôn được đòi hỏi phải tin tưởng vào lời Đức Giêsu – để chúng ta được an toàn trong “tay Chúa Cha”.

Vì vẫn còn là mùa Phục sinh nên chúng ta vẫn mong sứ điệp Tin Mừng của những Chúa Nhật này có cảm giác vui tươi. Thế mà suốt mùa Phục sinh này Đức Giêsu lại nói với chúng ta giữa những mâu thuẫn và chống đối. Chúng ta sẽ nhìn lại những biến cố trong cuộc đời Đức Giêsu, và trong ánh sáng của niềm tin phục sinh của chúng ta, chúng ta đang thể hiện ý nghĩa lời của Người trong cuộc sống của chúng ta – cuộc sống mà vẫn còn đầy những mâu thuẫn và chống đối. Hôm nay, chúng ta nghe Người mời gọi chúng ta tin tưởng nơi Người, Mục Tử, ngay cả khi người khác hay những biến cố của cuộc sống đe dọa đức tin của chúng ta.

Có thể  xem như bài Tin Mừng hôm nay đã được chọn trong mùa phục sinh này vì có nói đến sự sống đời đời. Đức Kitô Phục sinh ban cho chúng ta sự sống của Người (“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”). Thời Đức Giêsu, không phải tất cả mọi người Do Thái đều tin vào sự sống đời sau. Nhóm Sađốc không tin, còn nhóm Pharisêu, những người tin vào sự bất tử của linh hồn, thì lại tin (Cv 23,6-9). 

Nhưng trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu không chỉ ban sự sống đời đời cho một số người nào đó trong tương lai, nhưng cho những ai, như Người nói, “ai nghe lời Tôi” (5,24) – và sự sống ấy có ngay lúc này. Như Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samaria ở giếng nước rằng thứ nước Người ban sẽ mang đến sự sống đời đời (4,14). Người cũng nói: ai ăn bánh sự sống của Người cũng sẽ “có sự sống đời đời” (6,40.47). Sự sống Đức Giêsu ban thì đang hoạt động trong những người tin. Đó là sự sống mà Thiên Chúa muốn cho chúng ta (12,50). Vì thế, Đức Giêsu ban cho chúng ta thật “dồi dào” (10,10). 

Ngày nay, chúng ta cũng được mời gọi khám phá sự sống mà chúng ta đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội để tái sinh và dưỡng nuôi sự sống ấy trong chúng ta. Khi chúng ta tiếp tục lắng nghe Đức Giêsu và lời của Người, cũng như đón nhận Người trong Bí tích Thánh Thể, thì sự sống của Người lớn mạnh trong chúng ta. Cuộc sống của chúng ta trong “thế gian” (trong Tin Mừng Gioan “thế gian” là một phần thế giới chống lại đức Kitô) có thể làm chúng ta kiệt lực. Chúng ta không chống nổi những chọn lựa đe dọa đến sự sống của Đức Kitô trong chúng ta, nhưng Đức Giêsu ban cho những ai đón nhận lời của Người một sự sống mà thế gian không thể hủy diệt. Hỏi rằng ai hay sức mạnh nào có thể ban cho chúng ta sự sống như thế? Chúng ta đã chẳng đặt cược đời mình vào những lời hứa hão huyền và những thứ nhất thời để chỉ có thể khám phá ra rằng, tất cả sự sống chúng ta có được từ những thứ đó chỉ là quá tạm bợ đó sao? 

Như Đức Giêsu đã hứa và chính việc cử hành Thánh Thể này nhắc nhớ chúng ta, chúng ta hiện đang chia sẻ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con – Chúng ta có  sự sống đời đời.

Lm. Jude Siciliano, OP. (Anh em Học viện Đaminh chuyển ngữ) 

“Tôi biết chúng,  và chúng theo Tôi”

Cv 13,14.43-52; Kh 7,9.14b-17; Ga 10,27-30

 

Kính thưa quý vị,

Trong đời, ai mà không từng có những lần dao động lòng tin? Ai không từng băn khoăn những lúc trầm cảm và phân vân về lòng tin của mình? Khi người thân yêu của ta qua đời sau một thời gian dài chịu đau khổ, nhiều người sẽ tự hỏi: “Sao Chúa lại để cho bà ấy chịu đau khổ lâu thế? Sao Người không cất bà đi sớm hơn? Tất cả những đau khổ ấy thì có ích gì kia chứ?” Đôi lúc gặp phải những vấn đề như thế, người ta đâm ra thất vọng về Thiên Chúa. Dù họ có thể không từ bỏ niềm tin hoặc những việc thực hành đạo đức nhưng có lẽ giờ đây việc cầu nguyện và thờ phượng đối với họ chỉ như như công việc thường ngày, đơn giản chỉ làm vì thói quen.

Những Kitô hữu mà sách Khải huyền và Tin mừng Gioan hôm nay nhắc đến đã phải trải qua nhiều gian truân trong đức tin. Họ bị rúng động bởi việc bắt bớ và sự phản đạo. Kết quả là, trong những lúc khó khăn như thế người ta đã bỏ việc thực hành đức tin của mình. Đức Giêsu ở đâu và tại sao Người không trở lại như đã hứa? Bên cạnh những áp lực bên ngoài, thì cám dỗ nghi ngờ Thiên Chúa còn đến từ rất nhiều những vấn đề như được nhắc đến ở trên. Cũng như chúng ta, họ đã tự hỏi Thiên Chúa ở đâu khi mà những thảm cảnh ấy xảy ra cho gia đình, hoặc chính bản thân họ.

Trong những lúc gian truân, người tín hữu có thể sẽ cảm thấy rất bất an hoặc không còn muốn bám víu vào Thiên Chúa. Quý vị có thể thấy hậu cảnh của những đau khổ mà các tín hữu thời Giáo hội thời sơ khai phải trải qua như được nhắc lại trong sách Khải huyền và Tin mừng Gioan. Nhưng điều mà tác giả sách thánh muốn nói với chúng ta hôm nay là ngay cả khi chúng ta cảm thấy mình đang rơi tự do thì Thiên Chúa không bao giờ buông tay chúng ta.

Đôi tay vững chắc là tài sản quan trọng và cần thiết đối với các vận động viên. Nhưng thậm chí một cầu thủ bóng chày xuất sắc nhất cũng có thể đánh một cú pop-up và khiến cho đội kia ghi điểm dành chiến thắng trước đội chủ nhà. Nhưng Đức Giêsu, vị Mục Tử, sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. “Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Chúng ta, những người tín hữu, cần những đôi tay vững chắc như thế khi cuộc sống đang cố hạ gục chúng ta.

Những Tông đồ đầu tiên là Phaolô và Banaba có thể đã bị cám dỗ nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi họ. Trong sách Công vụ Tông đồ, chúng ta nghe về phương pháp rao giảng của các ông. Khi đến một thành mới, thì trước tiên hai ông đến hội đường và rao giảng vào ngày Sabbát. Nhưng, lời giảng của hai ông ở Antiôkhia gặp phải sự chống đối của một số người, “họ sinh lòng gen tức và phản đối những lời ông Phaolô nói”.

Thay vì bỏ cuộc thì hai ông lại tiến lên. Hai ông nhận ra rằng sứ điệp cứu độ không chỉ dành cho những người Dothái mà còn dành cho cả thế giới. Đức Kitô đã không bỏ rơi các ông. Sau những thất bại ban đầu thì đôi tay chắc chắn của Vị Mục Tử Nhân Lành đã mở ra một cách thức mới để toàn thể nhân loại được nghe Tin mừng.

Sách Khải huyền mô tả hàng loạt những thị kiến liên quan đến các tín hữu đã trải qua thử thách. Một số người xem sách Khải huyền như là cẩm nang dự đoán về ngày tận thế. Đây thực ra không phải là sách viết về những phỏng đoán tương lai, nhưng là lăng kính giúp giải thích hiện tại cũng như giúp chúng ta biết đặt niềm hy vọng nơi Vị Mục Tử đang nói với chúng ta hôm nay trong Tin mừng Gioan.

Trong đoạn trích sách Khải huyền hôm nay, “đoàn người đông đảo” mặc áo trắng, “tay cầm nhành lá thiên tuế” – là dấu hiệu của sự chiến thắng. Cuối cùng! Họ đã chiến thắng sau khi “đã trải qua cơn thử thách lớn lao…!” Những người kiên nhẫn chịu đau khổ này đã được Con Chiên dẫn dắt. Thật là sự nối kết tài tình giữa các hình ảnh! Đấng là Mục Tử cũng là Con Chiên, dẫn dắt chúng ta qua đau khổ và cái chết. Đấng đã từng đi qua hành trình gian khổ ấy không bỏ mặc chúng ta, nhưng Người sẽ đi trước, dẫn đường và đưa chúng ta đến sự sống bất diệt.

Khi nghe được lời hứa này ngay trong đời thì không một khó khăn và thử thách nào có thể kéo chúng ta xa rời con đường mà Đấng Mục Tử đã đảm bảo, “…không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”.

Ngày nay chúng ta có Internet, lò vi sóng và phi cơ, nhưng chúng ta sống như những người tín hữu thuở đầu, trong một thế giới đầy cám dỗ và đau khổ. Ngoài ra, Giáo hội của chúng ta cũng bị phân chia thành nhiều phần vì phụng vụ, quyền lực, hình thức mục vụ, và những tranh cãi về giáo thuyết,… giống như Giáo hội của họ. Giữa những Giáo hội Kitô giáo còn một khoảng cách rất lớn. Vì thế, chúng ta ngồi xích lại cạnh bên những người còn ngăn cách với chúng ta trong niềm tin, những người lần đầu nghe sách Khải huyền.

Với họ, chúng ta nghe được lời hứa về cuộc quy tụ cuối cùng của tất cả mọi người trước nhan Thiên Chúa. Khi việc ấy xảy đến, chúng ta tín thác vào lời hứa này rằng “Đấng ngự trên ngai sẽ căng lều của Người cho họ trú ẩn”. Tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa sẽ ôm ấp tất cả chúng ta, dù ta có xuất thân từ đâu, thuộc tầng lớp nào, nói thứ ngôn ngữ gì. Chúng ta sẽ trở thành những thọ tạo mới quây quần quanh bàn ăn dư đầy: “sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa”.

Tác giả sách Khải huyền có lẽ sẽ tiếp tục bằng câu: “Trong khi đó…” Vì bài đọc không chỉ nói đến cái nhìn về tương lai. Nhưng đó là việc chúng ta sống ra sao ngay ở đây và lúc này. Chúng ta tin tưởng vào bàn tay dẫn dắt và tiếng nói của vị Mục Tử, Đấng đã hứa cho chúng ta một nơi an toàn “không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Sách Khải huyền cho biết về một tương lai mà chúng ta không tự mình đạt được. Trong một thế giới cạnh tranh và chia rẽ chúng ta mới cảm thấy cần nhau. Chúng ta phụ thuộc lẫn nhau; tương lai và hiện tại đan xen vào nhau. Chúng ta không thể sống dửng dưng và cô lập nếu muốn đến trước “Đấng ngự trên ngai” để được chung bàn và cùng nhau dự tiệc.

Thị kiến mà sách Khải huyền cho chúng ta biết hôm nay đã xảy ra: ngay tại yến tiệc Thánh Thể này chúng ta có một tương lai dọn sẵn mà chúng ta mong muốn chia sẻ cho những người khác. Với hiện tại, chúng ta có thể thấy điều mà một ngày nào đó, sẽ hoàn toàn xảy ra. Chính Thiên Chúa quy tụ chúng ta lại cùng nhau và nhờ đó giờ đây chúng ta sống và cùng nhau cộng tác với viễn cảnh đó cũng như lời hứa về sự hiệp nhất.