Năm C

 
 


Lễ Chúa Ba Ngôi

Cn 8,22-31 / Rm 5,1-5 / Ga 16,12-15
 

An Phong, op : Huyền Nhiệm Của Sự Gắn Bó

Fr. Jude Siciliano, op : Ta được vui thú giữa phàm nhân

G. Nguyễn Cao Luật, op : Khám Phá Thiên Chúa

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Lạ lùng thay danh Chúa

Fr. Jude Siciliano, op : Sống hiệp thông cộng đoàn : Hồng ân Chúa Ba Ngôi

Đỗ Lực op : Hiệp Nhất Như Ba Ngôi

Fr. Jude Siciliano, op : Thiên Chúa của Tương quan

Fr. Jude Siciliano, op: Ba Ngôi, ân ban tình yêu cho chúng ta

 


Lm. An Phong, OP

Huyền Nhiệm Của Sự Gắn Bó
Ga 16,12-15

Hôm nay, Hội thánh long trọng tuyên xưng Thiên Chúa là Cha, là Con và là Thánh Thần, một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi. Hơn nữa, nhân danh Thiên Chúa ba Ngôi, Hội thánh có sứ mạng đến với muôn dân, làm cho họ trở nên môn đệ Ðức Giêsu và lãnh nhận bí tích Thanh tẩy.

Chúa Ba Ngôi được biểu thị bằng một vòng tròn, trong đó có một tam giác đều. Biểu tượng này diễn tả sự bằng nhau, sự duy nhất : Ba nhưng là Một, Một mà lại là Ba. Bất cứ điểm nào nơi vòng tròn cũng đều là khởi điểm và là tận điểm của đường tròn. Hình tam giác, được nhìn dưới mọi góc cạnh, vẫn đều y nguyên, không có gì thay đổi hay khác nhau. Cha, Con và Thánh Thần đều bằng nhau, đều duy nhất, gắn bó mật thiết với nhau.

Quả là khả năng của con người rất giới hạn khi muốn hiểu và diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi. Dường như trong ngôn ngữ chúng ta, Cha thì hơn Con; dường như chúng ta không thể tưởng tượng ra thế nào là "một" mà lại "ba". Nhưng dù thế nào đi nữa, điều chính yếu của mầu nhiệm Thiên Chúa ba Ngôi vẫn chỉ là mầu nhiệm Tình yêu.

Trong một Thiên Chúa, Cha - Con - Thánh Thần gắn bó yêu thương (hướng nội). Và Thiên Chúa yêu thương nhân loại, nên đã tạo dựng vũ trụ và con người (hướng ngoại). Ðó là hai chiều kích của tình yêu mà chỉ nơi Thiên Chúa mới có.

Con người chỉ có hành vi hướng ngoại, là yêu thương ai khác mình; còn nếu hướng nội thì lại là ích kỷ (yêu mình). Như thế, Kitô giáo luôn kêu gọi sống và đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng cách yêu thương đồng loại.

Hơn thế nữa, lời mời gọi đến với muôn dân, làm cho họ trở nên môn đệ của Ðức Giêsu, đó là lời mời gọi thực thi tình yêu Kitô giáo nhân danh Chúa Ba Ngôi. Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, nên luôn khát vọng được sống trong tình yêu. Mọi người cần được chìm ngập trong mầu nhệm Tình Yêu, lãnh nhận phép Rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, phép Rửa Tình yêu.

Ngày lễ Chúa ba Ngôi là dịp để chúng ta suy nghĩ lại về phép Rửa Tình yêu đã được lãnh nhận. Phép rửa đó chẳng phải là sức mạnh biến đổi đời sống người kitô hữu trong tình mến Chúa yêu người đó sao ?

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã làm người như chúng con,
để chúng con được làm con Thiên Chúa.

Nhờ Mình Thánh Chúa nuôi dưỡng,
xin cho chúng con biết góp phần xây dựng đời sống
theo hình ảnh cộng đồng yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa.


Fr. Jude Siciliano, OP

Ta được vui thú giữa phàm nhân
Cn 8,22-31

Kính thưa quí vị

Trong những ngày lễ lớn này tôi thường lập ra một kế hoạch rao giảng. Tôi không cho là phương pháp giải thích, cắt nghĩa, hoặc phân tích các mầu nhiệm mà chúng ta cử hành trong ngày lễ hôm đó mang lại nhiều ích lợi. Thường thì các phương pháp đó chỉ dẫn đến giáo điều hoặc lạc đề không ăn nhằm gì với các bài đọc và ý nghĩa của ngày lễ trong cuộc đời thường nhật chúng ta. Thánh Patricio đã dùng cỏ ba lá làm biểu tượng giải nghĩa Chúa Ba Ngôi. Nhưng ngày nay nó còn giúp tín hữu nhìn thấy ơn Chúa của ngày hôm nay nữa không ? Giải nghĩa các đề tài lớn thường nảy sinh nhiều tối tăm hơn là sáng sủa. Vậy thì hãy nghĩ đến các thính giả để khai triển đề tài. Họ sẽ làm gì tuần này ? Lao động ra sao ? Cầy ruộng ? Tìm kiếm việc làm để nuôi sống gia đình ? Chăm sóc con cái ? Coi Tv ? Thi tốt nghiệp ? Nuôi nấng bệnh nhân ? … cũng như mọi khi, tôi lựa chọn đề tài tuần này là suy gẫm mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, qua lăng kính lời Chúa trong bài đọc thứ nhất. Hy vọng nó sẽ soi sáng tâm trí chúng ta về một vài khía cạnh Chúa Ba Ngôi và khơi dậy một vài cảm nghĩ để chúng ta cử hành thánh lễ.

Giả dụ tuần này là tuần tốt đẹp nhất trong năm. Mọi người đi lễ đúng giờ, đông đủ, không có người đến muộn làm chia trí các tín hữu khác. Sau bài ca nhập lễ và lời chào của chủ te, thừa tác viên đọc sách giỏi giang nhất giáo xứ đọc bài thứ nhất. Ông đã quá quen thuộc với bản văn, đọc lưu loát, thông minh, đúng chữ, đúng vần và chậm rãi, to tiếng để chuyển đạt nội dung của sứ điệp. Vậy mà tôi phải thừa nhận cộng đoàn ít ai có thể nắm bắt được ý nghĩa của bài đọc hôm nay.

Những lời trong sách Châm Ngôn quá súc tích, quá tối tăm, đến nỗi chủ tế phải chú ý lắng nghe lắm mới có thể lĩnh hội được vài ý nghĩa, nói chi đến những thính giả đang vội vàng lái xe đi làm, đi học, hoặc còn một đống quần áo phải giặt giũ, một danh sách dài các món hàng phải mua cho tuần tới… ấy là chưa kể các hoạt động khác của những người nghèo, người thuộc thế giới thứ ba ăn bữa trưa lo bữa tối vv… thì làm sao có khả năng và thời gian để suy tư về bài đọc ? những câu mở đầu như “sự Khôn ngoan của Thiên Chúa nói…” tôi được đổ ra, tôi được tuôn ra, tôi đã ở bên cạnh Ngài, tôi chơi giỡn… quả là như những bài toán đố đối với người nghe. Thính giả có khuynh hướng bỏ qua bài đọc để nghĩ đến những chuyện dễ hiểu hơn.

Nhưng trong Kinh Thánh của người Do thái, Khôn ngoan không phải chỉ là một lý thuyết, nhưng là những kiến thức rất cụ thể đời thường. Nó bận tâm đến các vấn đề của cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là về luân thường đạo lý: làm lành, lánh dữ. Trong chương 1 và 2 của sách Châm Ngôn, Khôn ngoan được nhân cách hoá thành một phụ nữ: “bà Khôn Ngoan”. Chương 8, bà Khôn ngoan dùng ngôn ngữ của các tiên tri để kêu gọi loài người lắng nghe lời dạy dỗ của bà: “lời dạy dỗ của tôi là cố vấn và khuyên nhủ. Lời dạy dỗ của tôi là sức mạnh. Tôi thấu hiểu mọi sự, hoa quả của tôi tốt hơn vàng bạc” (8,14-19). Bản văn thánh lễ hôm nay là bản văn danh tiếng nhất của toàn sách Châm Ngôn, Khôn ngoan lặp đi lặp lại rằng bà ta đã tồn tại từ nguyên thủy trước khi có thế giới. Bà ta là nghệ sĩ của bàn tay Thiên Chúa.

Khi suy nghĩ về bài đọc này chúng ta nên để ý là trong nguyên bản bằng tiếng Do thái, các lời dạy bảo của “bà Khôn ngoan” ở hình thức văn vần hay cách ngôn, gồm hai câu song song. Câu thứ nhất giới thiệu đề tài, câu thứ hai lặp lại mở rộng hay tăng cường thêm ý nghĩa bằng các mệnh đề xác định hay phủ định. Các câu cách ngôn này không có ý định giải thích một cách hoàn hảo về Thiên Chúa hay các đường lối của Thiên Chúa, mà chỉ mở một lối vào mầu nhiệm nào đó của Ngài. Mục tiêu là để khơi dậy sự suy tư dẫn đến thán phục các việc làm của Thiên Chúa. khi đọc loại văn chương như thế, chúng ta được tiếp cận với văn hoá phương đông và có một lối khác để ngắm nhìn sự vật cùng các mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Những nhà thông thái cổ xưa có ý thức rõ ràng đời là mơ hồ bí ẩn. Họ cố kiếm tìm những nhận thức mới, đường lối mới để đối phó với cuộc đời. Họ khăng khăng áp dụng Khôn ngoan vào mọi vấn đề đời thường như khuyến khích công bằng, lao động khổ cực, thật thà lường thiện, tự kiềm chế… họ giúp cho chúng ta thấy được ý nghĩa thật nằm dưới bề mặt tầm thường của mọi sự việc thuộc đời sống trần gian. Như vậy thật đáng tiếc khi chúng ta không có thêm những bài đọc từ sách Châm Ngôn. Ngày nay thời buổi kỹ thuật vi tính, đi ngoài không gian, thử nhiệm DNA người ta không còn đánh giá cao những câu đầy Khôn ngoan của sách Châm Ngôn. Nhưng đối với những người sống trong thế giới thứ hai hoặc thứ ba và những người còn trí nhớ ông bà tổ tiên ở “quê hương cũ” thì những câu nói như vậy thật vô giá.

Từ sách Châm ngôn chúng ta nhận ra rằng các hiền nhân cổ xưa không hề rụt rè đặt vấn đề các bí ẩn lớn của cuộc sống, như nguồn gốc nhân loại, ý nghĩa đời người, bản tính Thượng Đế… và từ bài đọc hôm nay chúng ta có được ý niệm về Thiên Chúa đã cẩn trọng tạo dựng vũ trụ. Ngài là một kỹ sư, kiếu trúc sư tài giỏi, vượt bậc đo đạc và kiến tạo thế giới nhất mực khôn ngoan, không sai một ly, không thiếu một phân. Ngài tô vẽ vòm trời với ngàn vạn ngôi sao, đặt nền vững chãi cho trái đất, đặt biên cương cho biển cả. Khôn ngoan là con đầu lòng của Ngài. Bà sống bên cạnh Ngài, làm nghệ nhân cho Ngài. Bà tham dự vào công trình tạo dựng vũ trụ, nhảy múa chơi đùa trước mặt Thiên Chúa. Như vậy Thiên Chúa không dựng nên vũ trụ một cách ngẫu nhiên mà ngay từ ban đầu Ngài đã qui định kỹ lưỡng và vui thích trong công việc Ngài làm.

Sách châm ngôn không dạy luân lý bằng luật điều, giới răn, nhưng chúng ta có thể dễ dàng rút ra các nguyên tắc bảo toàn nếp sống trong lành. Thí dụ vấn đề môi trường các khoa học gia lấy làm ngỡ ngàng khi sách châm ngôn trình bày liên hệ hữu cơ giữa Thiên Chúa và vũ trụ của Ngài. Khôn Ngoan, nghệ sĩ của Thiên Chúa, chơi đùa trước mặt Ngài khi Ngài tạo dựng vũ trụ. Như vậy có ý nói khi Thiên Chúa tạo nên vũ trụ thì tinh thần vui tươi, thoả lòng cũng có mặt. Phá hủy môi trường là phá hủy tính tươi mát của vạn vật. Một ý tưởng “dễ sợ” cho thế giới kỹ nghệ ngày nay. Roland Murphy nói: “thần học của sự Khôn ngoan là thần học của sự tạo dựng”. Thế giới chung quang chúng ta không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả của một chương trình có suy sét và được khai triển dần dần. Mỗi ngày qua đi là một ngày cao rao tính vĩ đại của tạo dựng mỗi ngày sắp tới là một ngày đầy ắp tính tôn giáo. Toàn thế giới là một bí tích nhắc nhớ chúng ta vũ trụ này phải lệ thuộc vào bàn tay Thiên Chúa, kể cả loài người. Sự lệ thuộc đó không phải là máy móc mà là sống còn. Thiên Chúa dựng nên vũ trụ một cách đặc biệt đến nỗi tiếp cận với tạo vật là tiếp cận tới sự thánh thiêng của Ngài.

Những linh hồn đạo đức cao thượng nhìn thấy nơi tạo vật, gió, mây, nước, lửa, sông núi… quyền năng của Thiên Chúa. chúng ta không cần đến một nghi lễ phụng vụ đặc biệt nào để nhắc nhớ về sự thánh thiện đó. Nó được tỏ bày khắp mọi nơi. Câu cuối cùng của bài đọc hôm nay viết : “Ta được vui thú giữa phàm nhân” như vậy chúng ta đang sống không phải dưới lời nguyền rủa, mà là dưới lời chúc phúc, vì chúng ta là sự vui thoả của Thiên Chúa, mặc dầu cuộc sống này đầy dẫy những giây phút khổ cực. Cho nên chẳng lạ gì Thiên Chúa đã vui lòng ban cho chúng ta Người Con Môt của Ngài làm giá cứu chuộc, và Thánh Thần của Ngài để bảo đảm Ngài hiện diện giữa chúng ta luôn mãi.

Chúa Ba Ngôi là căn nguyên và hy vọng của vũ trụ, của loài người. Mỗi giây phút sống là mỗi giây phúc chúng ta tiếp cận với Thiên Chúa qua sự thánh thiêng của Ngài nơi tạo vật. Không có sự thánh thiêng này chẳng hiểu thế giới sẽ ra sao ? Ý nghĩa cuộc sống sẽ ra thế nào ? Hy vọng của vạn vật, nhất là của chúng ta sẽ nằm ở đâu ? Sách châm ngôn đã khẳng định số phận hạnh phúc của vũ trụ hệ tại ở tài khéo, Khôn ngoan của Thiên Chúa, cho nên hy vọng giải thoát của nhân loại và của toàn thế giới nằm ở sự Khôn ngoan của Chúa Ba Ngôi, là Cha và Con và Thánh Thần. Amen.   


G. Nguyễn Cao Luật, op

Khám Phá Thiên Chúa
Ga 16,12-15

Từ một kinh nghiệm sống

Ngày nọ, có người đặt câu hỏi : “Làm sao dạy cho một đứa trẻ hiểu về tín điều Chúa Ba Ngôi ?” Câu trả lời thật đơn giản: “Có lẽ không dạy được.”

Thật vậy, việc khám phá ra Thiên Chúa là Cha, là Con và Thánh Thần không phải là kết luận của lý trí. Đó là một kinh nghiệm lịch sử, một kinh nghiệm tiệm tiến, xuyên qua những biến cố. Từ kinh nghiệm ấy, các Tông Đồ và các Kitô hữu thời đầu đã tìm cách để diễn tả. Đọc lại Kinh Thánh, nhất là Tân Ước, người ta sẽ nhận ra những giai đoạn khác nhau của mặc khải này.

Khởi đầu, tín điều này được công bố để mô tả, xác định và duy trì một kinh nghiệm. Theo dòng thời gian, khía cạnh kinh nghiệm dần dà bị quên lãng, tín điều chẳng còn gì nối kết với thực tại và người ta có cảm tưởng như cầm trong tay một vỏ sò trống rỗng, bởi vì cuộc sống tạo nên vỏ sò ấy đã không còn ở đó nữa.

Dù sao, khám phá này, cách diễn đạt này vẫn là một khám phá, một kinh nghiệm lớn nhất, độc đáo nhất trong mọi thời đại, và mọi thế hệ Kitô hữu lại theo đuổi cuộc tìm kiếm, trở về với kinh nghiệm đó một cách có phương pháp hơn. Xưa kia, người ta đã diễn tả bằng thành ngữ: một TC vượt ra khỏi mọi định nghĩa, vượt lên trên mọi công thức toán học; hay nói cách khác, trí óc của con người và các từ ngữ thật là bé nhỏ khi nói về Thiên Chúa.

Như thế, suy niệm về mầu nhiệm Ba Ngôi tức là đón nhận một thực tại đang bao phủ cuộc đời, nhận ra những mối dây liên hệ đang thống nhất cả cuộc đời, và không chỉ bằng lòng với việc quan sát theo bề ngoài, nhưng là tìm hiểu về chân lý sâu xa, trong đó con người được sống. Với đức tin, người Kitô hữu quả quyết rằng, đằng sau những hiện tượng, có khi rất bi đát của cuộc sống, vẫn có những thực tại lớn lao mà người ta không thể lãng quên, không thể thờ ơ hay lẩn tránh. Nếu biết mở lòng đón nhận, những thực tại ấy sẽ nên như nền tảng cho mọi mối tương giao của con người. Chúng có thể sẽ trở nên con đường, sự thật và sự sống đem lại sự mạch lạc và ý nghĩa cho mọi hiểu biết của con người.

Một Thiên Chúa yêu thương

Nói đến tình yêu Thiên Chúa, tức nói đến một xác tín thâm sâu, vượt lên trên mọi sức mạnh hủy diệt và phân ly. Đó là xác tín làm cho con người được sống, bởi vì con người đã được sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Xác tín này không phải là một công thức, nhưng là một tương giao cá vị và đầy tin tưởng. Đức Giêsu đã thốt lên “Áp-ba – Cha ơi !”, và tất cả cuộc đời của Người qui hướng về đó: Cha và Con là hai ngôi vị khác biệt, nhưng nhờ hiệp nhất trong tình yêu, thì cả hai chỉ là một: “Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy” (Ga 16,15) và “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9).

Đúng vậy, bởi vì Đức Giêsu không chỉ bằng lòng với việc bày tỏ tình yêu như cái gì bên ngoài mình. Người đã nhập thể. Trong Đức Kitô, con người nhìn thấy, nhận ra Thiên Chúa trong ngôn ngữ, trong cách diễn tả của máu thịt. Cũng trong Đức Kitô, con người hiểu được Thiên Chúa đã thể hiện và còn làm gì thêm nữa với tình yêu này. Đức Giêsu diễn tả tình yêu ấy một cách cụ thể và tuyệt vời. Trong cuộc sống làm người và trong cuộc Thương Khó của Đức Kitô, nhân loại không chỉ nhìn thấy một con người gần gũi với Thiên Chúa, nhưng là chính Thiên Chúa tỏ mình, Người đang hoạt động, đón nhận và hòa giải để đưa nhân loại về với chính Người.

Nhưng chưa phải là hết. Trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu cảm thấy mình được tham dự vào một thực tại được chia sẻ, và thực tại này cũng vượt lên trên tất cả những gì nhân loại có thể đem lại hay lấy mất. Bởi vì trong sự hiệp thông đó, người Kitô hữu được sáp nhập vào một sức sống mãnh liệt hoàn toàn vượt lên trên những gì con người có thể trao tặng cho nhau. Và một lần nữa, khi đụng chạm đến một thực tại thâm sâu, con người chỉ có thể gọi lên “Thiên Chúa”.

Như vậy, đây là ba cách thức tương giao đưa người Kitô hữu vào trong thực tại nền tảng nhất và bền vững nhất. Cả ba đều có cùng một bản tính, và nơi mỗi vị, con người đều nhận ra Thiên Chúa. Tuy nhiên, chỉ là một thực tại duy nhất, chứ không phải ba.

Ba mối tương giao. Tất cả đều diễn tả một thực tại là Tình Yêu. Tình yêu cứu độ, tình yêu bền vững.

Ba mối tương giao. Tất cả đều đưa con người tới một thực tại là Thiên Chúa. Ở đó là sức sống, là sự thật.

Đi vào dòng sống

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi làm cho người nhận thức rõ hơn về bản tính nhân loại của mình. Ở sâu trong những phân rẽ, những khác biệt, vẫn có một thực tại lớn lao, siêu việt. Bên kia những yếu đưối, những đổ vỡ của con người, vẫn có một tình yêu bền vững, mãnh liệt. Con người luôn thấy ở phía trước một tương lai, một mối hiệp thông mà họ phải đi vào, càng lúc càng sâu hơn. Nhất là con người cảm thấy cần được hướng dẫn tới sự thật toàn vẹn, một sự thật chỉ thực hiện nhờ tình yêu tuyệt đối.

Bài Tin Mừng hôm nay hướng chúng ta về tương lai này. “Khi nào Thần Khí sự thật đến … tất cả những gì Người đã nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết … Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,13.14).

Tuyên xưng mầu nhiệm Ba Ngôi cũng cho thấy sự thiếu sót lẫn cái nhìn hạn hẹp của con người. Tuyên xưng cũng chính là sống. Sống mầu nhiệm Ba Ngôi qua dấu Thánh Giá, qua lời chúc tụng Vinh danh Chúa Cha, Chúa con cùng Thánh Thần Thiên Chúa, và qua tinh thần của những người con.

Chúng ta đang ở trên đường. Mầu nhiệm Ba Ngôi mở ra cho chúng ta lịch sử, lịch sử của tình yêu. Và như thế, “chúng ta còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa” (Rm 5,2).

Đức Giêsu đã cho chúng ta biết

Thiên Chúa là như thế nào.

Thiên Chúa là một,

nhưng sự viên mãn của Người

luôn là một sự trao đổi.

Người là Duy Nhất, là Tuyệt Đối

nhưng không phải là một hữu thể đơn độc,

Người là duy nhất và cũng là tất cả.

Người là Sự Hòa Hợp toàn vẹn và Vĩnh Cửu,

Người chờ đợi chúng ta

điều chỉnh cho phù hợp với Người.

theo Abbé F.X. Amherdt


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Lạ lùng thay danh Chúa
(Ga 16,12-15)

Lễ Chúa Ba Ngôi có tính cách tổng kết và tổng hợp. Tổng kết, vì tất cả những gì Giáo hội đã đề cập liên quan tới Chúa Cha trong Mùa Vọng, tới Chúa Con trong Mùa Giáng Sinh và Phục Sinh, và tới Chúa Thánh Thần trong tuần lễ Hiện Xuống, thì đều được nhắc lại một cách tổng quát trong lễ Chúa Ba Ngôi. Tổng hợp, vì tất cả những mầu nhiệm của từng ngôi đều bao hàm trong mầu nhiệm vĩ đại nhất, mầu nhiệm một Thiên Chúa ba ngôi. Vì là một mầu nhiệm vĩ đại và quan trọng nhất, cho nên bất cứ công việc quan trọng nào Giáo hội cũng bắt đầu và kết thúc nhân danh Thiên Chúa ba ngôi.

Chẳng hạn, nhân danh ba ngôi, Giáo hội bắt đầu (dấu Thánh giá) và kết thúc (phép lành) thánh lễ. Tất cả các thánh vịnh, ca vịnh và lời nguyện trọng thể đều kết thúc bằng công thức ba ngôi hay kinh Sáng Danh. Công thức một phần lớn các bí tích đều được đọc nhân danh Thiên Chúa Ba ngôi, bắt đầu là công thức bí tích Rửa tội mà chính Chúa Ki-tô đã truyền dạy các tông đồ và môn đệ trước khi lên trời.

Khi đưa công thức ba ngôi vào các bí tích, phụng vụ, các việc đạo đức, không những Giáo hội muốn chúng ta tuyên xưng đức tin công nhận có một Thiên Chúa ba ngôi mà còn dạy chúng ta tuyên xưng chính bản chất của mầu nhiệm ấy, tức là đời sống sâu xa giữa ba ngôi, và liên lạc giữa ba ngôi với loài người chúng ta.

- Đối nội : Chúa Cha là Đấng tự hữu, tự biết mình. Chúa Con là Đấng thượng trí, là hình ảnh Chúa Cha. Chúa Thánh Thần là tình yêu hiện thân của Chúa Cha và Chúa Con.

- Đối ngoại : Chúa Cha là Đấng tác thành và bảo tồn hay quan phòng. Chúa Con là Đấng chuộc tội cứu thế, Đấng giải thoát loài người. Chúa Thánh Thần là Đấng ban ơn, an ủi, soi sáng, ban sức mạnh...

Nói rõ hơn, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta sự sống thâm sâu của Ngài, tức là mầu nhiệm Chúa ba ngôi, để làm gì nếu không phải để mời gọi chúng ta cùng chia sẻ sự sống yêu thương ? Do đó, cách ý nghĩa nhất để đáp lại tình yêu thương của ba ngôi Thiên Chúa là chúng ta hãy làm cho đời sống chúng ta thấm nhuần sự sống yêu thương.

Đối với Chúa Cha, chúng ta đã hiểu rằng : Ngài rất yêu thương chúng ta là con cái Ngài, Ngài từng có một giấc mơ yêu thương chúng ta khi chúng ta chào đời, Ngài sắp đặt cho mỗi người con một cuộc đời độc đáo và tha thiết mong muốn cho nó được thành tựu cách tốt đẹp, Ngài rộng lượng tha thứ khi người con sai lỗi, và muốn đón nhận mọi người vào gia đình của Ngài. Phần chúng ta, biết mình là con cái, chúng ta sống thân mật và một niềm kính trọng cha. Biết mình được cha yêu thương, mặc dù đã nhiều lúc sa ngã, chúng ta tin tưởng vì biết chắc những điều gì tốt lành cho chúng ta đều sẽ được cha ban cho tất cả. Là người con có hiếu, chúng ta quan tâm đến danh dự và quyền lợi cha mình, chỉ muốn làm theo ý cha, trìu mến biết ơn khi đón nhận những lời cha khuyên bảo để trở nên một phần tử xứng đáng của gia đình.

Đối với Chúa Con, đôi khi chúng ta xưng tụng bằng danh thánh “Ngôi Lời”, nghĩa là ý tưởng, kế hoạch, lời phán, vì nhờ Ngài và trong Ngài mà ý tưởng và kế hoạch của Thiên Chúa được nhân loại nhận biết. Chúng ta nhìn thấy nơi Ngài một mẫu mực tuyệt vời và cụ thể, vì Ngài đã làm người như chúng ta và trở nên anh cả của chúng ta. Cuộc sống của Ngài thật gần gũi với chúng ta để chúng ta noi theo, Ngài đã chết cho chúng ta để chúng ta được cứu chuộc trong máu Ngài. Chúng ta cương quyết sống như một đứa em bắt chước anh cả, như một môn đệ bắt chước thầy mình.

Đối với Chúa Thánh Thần, chúng ta tỏ ra ngoan ngoãn để Ngài tạo chúng ta thành một con người mới, giống như một nhà điêu khắc, Chúa Thánh Thần nhào nặn, chạm trổ, gọt dũa cho chúng ta thành con cái Thiên Chúa. Chúng ta lắng nghe sự thúc giục của Ngài, luôn luôn điều chỉnh lại tần số cho mình quen thở cùng một nhịp với Ngài, để khi gặp những giây phút cần quyết định, xác nhận quan điểm, lập trường, dấn thân, nhập cuộc vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ nhạy cảm nghe theo sự hướng dẫn của Ngài.

Như vậy, ngày lễ mừng kính Thiên Chúa ba ngôi hôm nay nhắc nhở chúng ta những hiểu biết và những tâm tình quý giá đối với Thiên Chúa, đồng thời thúc giục chúng ta sống mầu nhiệm ba ngôi trong cuộc sống hằng ngày và trong mối tương giao với tha nhân, hãy bắt chước tình yêu ba ngôi : tình yêu hiệp nhất, tình yêu liên lỉ và tình yêu sáng tạo, nghĩa là yêu thương nối kết mọi người, yêu thương không ngơi nghỉ, và yêu thương tạo nên hạnh phúc cho tha nhân. Đó là sống mầu nhiệm ba ngôi cụ thể nhất. Cũng thế, chúng ta sẽ vì tình yêu của Thiên Chúa ba ngôi mà hiến dâng mạng sống, chúng ta sẽ nhân danh ba ngôi Thiên Chúa mà để cho thập giá phủ bóng lên đời chúng ta, từ trong tư tưởng, lời nói, việc làm, vì thập giá chính là đường dẫn chúng ta vào sự sống của ba ngôi Thiên Chúa. Chúng ta sẽ nhớ rằng : khi chúng ta dám quên mình vì tình yêu thương là chúng ta đang ghi dấu thánh giá trên con người và cuộc đời của chúng ta mà nói : “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.


Fr. Jude Siciliano, op.

Sống Hiệp Thông Cộng Đoàn : Hồng Ân Chúa Ba Ngôi
Ga 16, 12 – 15

Thưa quý vị,

Mỗi lần mừng lễ Chúa Ba Ngôi, tôi lại liên tưởng đến câu truyện quen thuộc, Năm thày bói mù đi xem voi. Sau khi rờ voi xong, các ông họp nhau lại bàn tán xem voi ra làm sao. Các ông bất đồng ý kiến và ẩu đả nghiêm trọng. Giả dụ các ông nhất trí góp ý với nhau đi nữa, thì quan niệm của các ông về con vật khổng lồ vẫn còn quá xa sự thật. Voi đâu có như cái cột, chiếc quạt, con đỉa vĩ đại, tấm phản nằm? Quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa Ba Ngôi cũng vậy, mãi mãi là một màu nhiệm khôn dò, khôn thấu. Cho nên mọi cố gắng của trí tuệ loài người, thăn dò, tìm hiểu, khám phá, giải nghĩa đều rất xa sự thật. Mặc dù hôm nay là ngày lễ cổ xưa nhất, trọng đại nhất của Giáo Hội. Tôi nghĩ tốt hơn, chúng ta suy gẫm về tương quan đối với Ngài: Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, cứu chuộc, thánh hoá nhân loại đã từng đối xử như thế nào với chúng ta? Với mỗi linh hồn?

Tôi đã từng làm như vậy trong nhiều năm qua, lần này xin phân tích bài đọc 2, thơ thánh Phaolô gửi tín hữu thành phố Rôma. Thánh nhân nói đến màu nhiệm Ba Ngôi bằng ngôn ngữ rất cụ thể và sống động. Đây cũng là một thách đố khó khăn cho quý vị rao giảng Lời Chúa. Liệu chúng ta có rõ ràng và khúc triết như ông? Ngõ hầu thính giả thêm phần sốt mến mà mừng lễ? Y tưởng đầu tiên ông nói đến là bình an: “Thưa anh em, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” Chính Thiên Chúa tuôn đổ “bình an” này vào lòng các kẻ tin, bất chấp đang sống giữa thử thách gian truân. Bởi lẽ Ngài ban Con Một cho chúng ta là bảo chứng tình yêu của Ngài. Tình yêu này nuôi dưỡng hy vọng sẽ được chia sẻ nguồn sung mãn đời đời nơi Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta được yên lòng sống giữa thế giới thù nghịch. Chúa Giêsu mang bình an đến cho mọi linh hồn tin kính. Đúng hơn, chính Đức Kitô là bình an của Thiên Chúa. Trong Ngài chúng ta đựơc bảo đảm mọi ân huệ và không sợ hãi một đe doạ nào, mặc dù phần xác có thể bị hành hạ, hiểu lầm, thù ghét. Thánh Phaolô nói thêm: “Vì chúng ta tin, nên Đức Kitô đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa”. An sủng này là ai? Thánh nhân trả lời: “Nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Vậy Thánh Thần tức tình yêu Thiên Chúa ban cho chúng ta khả năng sống bình an giữa các xáo trộn của thế giới.

Điểm thứ hai trong bài đọc hôm nay là đức tin. Chính ra trong nguyên bản, thay vì “thưa anh em” như phụng vụ thì là chữ “vậy” : “Vậy, một khi đã được nên công chính…” Tại sao lại vậy? Từ này ám chỉ kết luận. Đúng thế, thánh Phaolô kết luận một lý thuyết dài mà ông viết cho tín hữu Rôma về việc công chính hoá nhờ đức tin vào Chúa Kitô. Học thuyết này nối kết không những Dothái giáo với các tín hữu, nhưng thực tế, toàn thể nhân loại: “Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ, bất cứ ai có lòng tin, trước là người Dothái, sau là người Hylạp. Vì trong Tin Mừng sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép: Người công chính, nhờ đức tin sẽ được sống.”(1, 16-17). Cho nên, giáo lý trung tâm của thánh Phaolô là lòng tin Thiên Chúa qua Đức Kitô, lúc này đã sẵn sàng cho hết mọi người, dù dân ngoại hay Dothái. Thánh nhân tiếp tục khai triển đề tài này và nói rõ đức tin vào tình yêu Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô sẽ làm chúng ta nên thánh thiện và là nền tảng để chúng ta hy vọng vào tương lai, mặc cho những đau khổ hiện tại phải gánh chịu.

Hiệu quả đầu tiên khi được công chính hoá là bình an, không phải do công nghiệp chúng ta đã lập được, nhưng do Thiên Chúa xót thương trong Đức Kitô. Nhờ đó chúng ta tin tưởng đã được Thiên Chúa thứ tha những xúc phạm và phục hồi tình con thảo với Ngài. Điều này không chỉ xảy ra một lần, nhưng vẫn tiếp tục trong suốt cuộc sống nếu chúng ta trung thành với ơn Chúa. Khốn nạn thay, chúng ta thường phản bội, dù chỉ do những lôi cuốn nhỏ của thế gian. Thánh Phaolô giúp đỡ tín hữu cử hành trọng thể lễ hôm nay bằng những lời khích lệ đầy nhiệt huyết: “Chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng ai gặp gian truân thì quen chịu đựng, ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên, ai trung kiên thì có quyền trông cậy.” Đó là bầu khí của một ngày lễ hội, vì đầy vẻ lạc quan. Dĩ nhiên không phải mọi người đều được lạc quan, nhưng cố gắng ăn ở công chính, cuối cùng cũng đạt tới mức độ ấy, vì đức tin vào Chúa Kitô.

Thánh Phaolô bảo đảm Thánh Thần sẽ hướng dẫn tín hữu vào hưởng nếm ưu ái của tình yêu Thiên Chúa, cảm nghiệm sống động Ngài hiện diện trong các sinh hoạt thường nhật, nhất là khi chúng ta thực hiện đức ái: “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, tiết độ”(Gl 5, 22). Giống như chúng ta bước vào một lâu đài, thay vì bị đối xử như người lạ, thì lập tức được dẫn tới tôn nhan Thiên Chúa như hoàng tử yêu dấu: “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Nghĩa là chúng ta “đứng vững” trong ơn thánh. Chúng ta được một vị trí mới trong nhà Đức Chúa Trời, bất chấp quá khứ tội lỗi, phản bội, không xứng đáng. Sở dĩ được như vậy là nhờ đức tin vào Chúa Kitô.

Đức tin ấy khiến tín hữu vững vàng trong ơn thánh trước tôn nhan Thiên Chúa và như vậy nắm chắc phần vinh quang. Bởi vì họ được phục hồi địa vị đã bị tước đoạt vì tội lỗi nguyên tổ. Họ sẽ trở lại hình ảnh thủa ban đầu: hoạ ảnh giống như Thiên Chúa. Nhiều lúc chúng ta không cảm nghiệm được chân lý này, vì các vật lộn hàng ngày và phần nào bị bầm dập bởi các tấn công của dục vọng, satan và thế gian. Nhưng chính vì lý do đó mà đức tin can thiệp. Đức tin bảo đảm Chúa sẽ thứ tha và giúp đỡ để hy vọng của chúng ta được đứng vững và đạt tới đỉnh cao của nó, là vinh quang của chiến thắng cuối cùng. Phải chăng đó chỉ là bánh vẽ, là mộng mị thuộc thế giới khác? Thánh Phaolô không nghĩ như vậy. Ong ý thức rõ ràng những vật lộn người tín hữu còn phải gánh chịu ở dương gian này: “Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, khốn khó, vì biết rằng ai gặp gian truân thì quen chịu đựng.” Tuy nhiên, ông nhìn vấn đề theo chiều hướng khác, chiều hướng lạc quan chứ không bi quan thất vọng. Xem như giọng điệu của một nhà mô phạm, lên lớp đạo đức? Nhưng thực tế, chỉ qua những gian nan mà nếp sống người tín hữu mới tỏ ra vững vàng. Thiên hạ đã từng chẳng nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Ngày nay, người ta có khuynh hướng dung dưỡng xác thịt, làm dịu bớt tính gay gắt của kỷ luật, giới răn. Hậu quả là chẳng thành công gì, chỉ gặt hái cay đắng và thất vọng. Lửa thử vàng, gian nan thử đức, no cross, no crown. Là những sự thật ngàn đời. Dơ chân đạp mũi nhọn không thể thành công. Sống tháo thứ chẳng phải là giải pháp tốt.

Xin suy nghĩ kỹ lý luận của thánh Phaolô: Gian truân thì quen chịu đựng, quen chịu đựng thì trung kiên, trung kiên thì có quyền hy vọng, hy vọng thì có quyền tự hào. Ngược lại, nếu muốn sống dễ dãi, tìm kiếm đủ mọi khoái lạc, tiện nghi, thì làm thế nào nói được tự hào, tình nguyện từ bỏ? Thành thử người ta dối trá Thiên Chúa mà thôi. Đàng này thánh Phaolô khuyên tín hữu chịu đựng những khó khăn của cuộc sống (chưa nói đến tự nguyện), để có khả năng thắng lướt các thử thách mà giữ vững đức tin. Lúc ấy họ mới có quyền tự hào vì Thiên Chúa luôn giơ tay trợ giúp, biến các gian nan thành cơ hội tốt cho đời sống thiêng liêng. Chỉ Thiên Chúa mới làm được chuyện này, và chỉ mình ơn thánh mới ban khả năng cho chúng ta đứng vững trong đức tin. Tâm lý trị liệu không hiệu quả, chỉ làm cho linh hồn thêm hoang mang, bối rối, cuối cùng buông xuôi. Nhưng xin nhớ, thánh Phaolô viết rằng ơn thánh và đức tin định hình nếp sống tín hữu để có thể chịu đựng những thử thách, chứ không phải kiêu căng. Thời gian hiện tại này rất nhiều khó khăn và cám dỗ chờ đợi các tín hữu, cho nên có lẽ ơn thánh Chúa phải tăng cường gấp đôi để trợ giúp chúng ta vượt qua những yếu đuối, thèm khát của bản thân mà lớn lên trong tin cậy mến, ngõ hầu trung thành với ơn gọi làm môn đệ Chúa: “Vác thánh giá hàng ngaỳ mà theo Ngài.” Sống dễ dãi, nhung lụa chẳng giúp ích gì!

Như vậy, theo Lời Chúa mà thánh Phaolô bày tỏ hôm nay, thì đức tin là nền tảng đời sống tín hữu. Ngay từ đoạn 1 câu 16, đoạn 3 câu 24 Phaolô đã nói rõ: “Tin là chấp nhận quyền năng Thiên Chúa trong cuộc sống mình.” Và hậu quả là chúng ta có nếp sống hoàn toàn mới, không lệ thuộc vào dục vọng và thói quen cũ. Người tín hữu được sống thân tình với Thiên Chúa qua Đức Kitô. Đặt nền tảng trên đức tin, chúng ta sống vâng lời Thiên Chúa. Đức tin khởi đầu bằng việc Thiên Chúa với tới nhân loại trong ơn tương giao mật thiết cùng Ngài. Và chúng ta đáp trả bằng cuộc sống tốt lành dù có phải chịu đựng gian nan thử thách. Sống buông thả với những tiện nghi không phải là đáp trả nhưng từ chối. Tuy nhiên, sự đáp trả này chỉ có thể thực hiện tốt trong một cộng đồng gọi là Hội Thánh. Vì chỉ trong cộng đồng đức tin mới có cơ hội phát triển và lan toả. Rộng hơn nữa là cộng đồng nhân loại. Trong cộng đồng các thành viên giúp đỡ lẫn nhau, tương trợ tăng trưởng trong nếp sống háng ngày. Bằng không nó chết ngúm giống như ngọn lửa trong gió bão. Vì thế Chúa Kitô tuyên bố, ở đâu có hai ba người tụ họp để cầu nguyện thì có Ngài hiện diện ở đó. Ngài ngự giữa hướng dẫn, chủ sự và ràng buộc trong đức ái. Cho nên nếp sống cộng đoàn phải là thánh thiện và hiệp nhất. Ngaỳ nay, người ta lơ là nếp sống chung thì quả thật tai hại.

Sống cộng đoàn cầu nguyện, người tín hữu kế thừa thói quen và đức tin của cha ông ngay từ nguyên thuỷ Giáo Hội. Tông đồ Công Vụ nói rõ rằng: các tín hữu tiên khởi chuyên chăm cầu nguyện, lắng nghe các tông đồ giảng dạy và dự lễ bẻ bánh (Cv 2, 42), làm khác đi là lạc tập quán của Giáo Hội. Cộng đồng là dấu chỉ ơn Thiên Chúa hiện diện, phát triển tình yêu và hy vọng. Nó cũng là bảo đảm Thiên Chúa không hề bỏ rơi chúng ta. Chủ nghĩa cá nhân là một dấu hiệu của chia rẽ. Những áp đặt ý kiến bản thân lên cộng đồng là một tội ác, vì tước đoạt trí khôn và tự do người khác. Hãy để Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Thánh Phaolô đã từng khuyên: “Đừng dập tắt Thánh Linh.” Vậy mà độc đoán, độc tài, phe phái nhởn nhơ khắp đó đây trong Giáo Hội, giáo phận, giáo xứ, tu viện. Thảo nào ít có tiến bộ về đàng thiêng liêng.

Ơ đâu mà chẳng có thử thách, khó khăn? Nhưng chỉ cộng đồng đạo đức mới đủ khả năng nâng đỡ nhau. Người ta kể chuyện: một ông bố bất hạnh kia, đi xem triển lãm hội tranh, ông rất xúc động trước bức tranh gia đình trong đó bố mẹ, con cái, chó mèo vui đùa bên một lò sưởi đang rực cháy. Nét mặt mọi người đều rạng rỡ hạnh phúc. Ong quyết tâm tìm đến người hoạ sĩ để tìm hiểu thêm bức tranh và hoạ sĩ lấy nguồn cảm hứng nào mà mô tả hạnh phúc sống động, cụ thể đến như vậy? Hoạ sĩ trả lời: đó là gia đình công giáo hàng xóm của tôi, tôi quan sát họ mỗi ngày và vẽ lên bức tranh ấy. Chúa Ba Ngôi không phải là lý thuyết để người ta mổ xẻ, khám phá, tranh luận, mà thực tại để người tín hữu sống và cầu nguyện. Liệu chúng ta ý thức được chân lý ấy chưa, nhất là trong các tu viện, tu xá, gia đình, giáo xứ? Nếu không, người ta chỉ sống giả hình, lừa dối lẫn nhau. Amen.


Đỗ Lực op

HIỆP NHẤT NHƯ BA NGÔI
(Ga 16:12-15)

Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ để lại trong lòng người Việt nhiều hoang mang về nguồn gốc thiêng liêng của mình. Tại sao ngay từ đầu đã có cảnh năm mươi con theo mẹ lên núi, năm mươi con theo bố xuống biển ? Tại sao không có một hình ảnh đẹp hơn về giai đoạn khôi nguyên đó của dân tộc ? Có nhiều người bực bội đến nỗi muốn cầm bút viết lại lịch sử Việt nam theo hướng đoàn tụ chứ không ly tán như thế.

Nhưng lịch sử là lịch sử. Dù là dã sử cũng không thể bôi xóa được. Nỗ lực đi tới không phải là xóa bỏ lịch sử, nhưng tìm một ý nghĩa và hướng đi mới cho dân tộc. Hướng đi đó có thể tìm được trong mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi hôm nay.

MẦU NHIỆM BA NGÔI

Khác hẳn cảnh ly biệt trong dã sử Việt nam, mạc khải Kitô giáo trình bày một cuộc đoàn tụ chưa từng thấy trong lịch sử. Thiên Chúa vẫn là một, nhưng lại có Ba Ngôi. Ba Ngôi khác nhau hoàn toàn, nhưng chỉ có một bản tính duy nhất. Ðây là huyền nhiệm nằm ngay tại trung tâm niềm tin Kitô. Nhưng không vì thế mà Ba Ngôi trở thành một ý niệm trừu tượng và không dính líu tới thực tế.

Nếu không được Chúa Giêsu mạc khải, chúng ta không thể nào biết Một Thiên Chúa có Ba Ngôi. Dầu thế, chúng ta không thể nào quán triệt bản chất nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta chỉ biết tin Thiên Chúa là Chúa Cha, Ðấng đã sai Chúa Con là Ðức Giêsu Kitô đến với chúng ta, và Chúa Thánh Linh đến dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta. Nghĩa là, chúng ta chỉ biết về Chúa Ba Ngôi qua những việc Người đã làm. Nhờ đó chúng ta biết các ngài là ai và có tương quan gì với chúng ta.

Thiên Chúa đích thân đến với chúng ta theo ba cách khác nhau. Ba “vai trò” của Thiên Chúa rõ ràng được mô tả trong Kinh thánh Do thái và Kitô. Ba bài đọc hôm nay minh nhiên làm chứng điều đó.

Chúng ta nhìn nhận Thiên Chúa là Cha và là Mẹ, là khởi nguyên và sáng tạo mọi sinh linh và hữu thể. Ngôi Cha vừa là nguồn gốc và cùng đích, là Anpha và Omega của mọi loài. Ngôi Cha là nguồn phát sinh mọi Chân Lý và Tình Yêu. Ngôi Cha đầy lòng Thương xót và Cảm thông, là nguồn mạch mọi ơn Khôn ngoan.

Nhờ Ngôi Con là Ðức Giêsu Kitô, chúng ta biết Thiên Chúa yêu thương ta tới mức nào. Thiên Chúa là Ngôi Con trong Ðức Giêsu. Người mạc khải và tỏ bày tình yêu và lòng cảm thông của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại qua những biểu hiện và hành động con người. Tình yêu Người lên tới tột độ khi Ðức Giêsu chịu đau khổ, cái chết và phục sinh. Ôi những biến cố phi thường !

Nhờ Ðức Giêsu, chúng ta có thể hiểu biết phần nào về bản chất đích thực, siêu việt và không thể hiểu thấu của Thiên Chúa. Ðức Giêsu bắc nhịp cầu nối nhân loại với Thiên Chúa. Tứ đó, tình yêu Thiên Chúa mang bộ mặt nhân loại và hữu hình, có thể hiểu biết và dễ dàng theo đuổi cũng như noi gương. Vì khi Ðức Giêsu đạt tới nhân tính siêu việt nhất là lúc chúng ta tiếp cận gần nhất với Thiên tính nơi Người.

Sau cùng, nhờ Ngôi Ba là Chúa Thánh Linh, chúng ta được huấn luyện, dạy dỗ, hoạt động, an ủi và mạnh sức. Nhờ Thánh Linh hành động trong và qua chúng ta cũng như tha nhân, chúng ta thấy Thiên Chúa . Người luôn sáng tạo và tái tạo, đổi mới vạn vật. Ðôi khi Thánh Linh được gọi là “linh hồn của Giáo hội.” Không có “linh hồn” đó, Giáo hội chỉ là một cơ chế nhân loại. “Linh hồn” đó đã khiến Giáo hội thành nhiệm thể Ðức Kitô và làm cho Giáo hội nên tảng đá vững chắc trước sức tấn công vũ bão của Satan. Không có “linh hồn” đó, làm sao Giáo hội có thể hiệp nhất và được dạy dỗ chân lý toàn vẹn về Thiên Chúa và con người ?

GIA ÐÌNH TÌNH YÊU

Thiên Chúa là một gia đình tình yêu gương mẫu cho gia đình nhân loại. Cần đi sâu vào mối liên hệ với Ba Ngôi mới có thể được Thiên Chúa mạc khải về bản chất gia đình Ba Ngôi. Nhưng ai sẽ giúp ta tìm mối liên hệ đó ? Chính Thánh Linh sẽ là đầu dây mối nhợ đưa ta vào sinh hoạt của gia đình Ba Ngôi. Người mở lòng khai trí chúng ta khám phá mầu nhiệm Ba Ngôi. Người giúp ta thăm dò và thưởng thức hương vị của huyền nhiệm sự sống nơi Ba Ngôi. Người rên siết tận đáy lòng ta và mạc khải cho ta biết Thiên Chúa Cha (Gl 4:6). Người củng cố đức tin và tỏ bày cho chúng ta dung nhan của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta (1 Cr 12:3) Tóm lại, “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” (Rm 5:5) Qua con đường tình yêu, chúng ta sẽ khám phá được Thiên Chúa và tìm được con đường giải thoát cho gia đình nhân loại hôm nay.

Tình yêu làm nên tất cả sự sống. Tự bản chất, sự sống Thiên Chúa là chia sẻ. Ba Ngôi liên hệ trao đổi sự sống cho nhau. Từ đó, có thể nói chúng ta được kêu gọi để sống chia sẻ với Ba Ngôi Thiên Chúa, với tha nhân và toàn thể môi trường thiên nhiên. Chúng ta được kêu gọi để tìm sự hiệp nhất và hòa hợp giữa những đa dạng biến đổi không ngừng. Muốn thế, chúng ta phải quay về với gia đình gương mẫu là cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa, một cộng đoàn lý tưởng luôn biết chia sẻ và sống bình đẳng. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Người và được kêu gọi trở nên giống hình ảnh ấy không ngừng. Ðó là lời kêu gọi tạo lập một thế giới hòa thuận, hòa bình và tràn đầy niềm vui.

Sở dĩ có thể làm khuôn mẫu cho các gia đình, vì Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu (1 Ga 4:8). Tình yêu không khép kín. Tình yêu đòi phải hướng về tha nhân. Tha nhân đây chính là Giáo hội, một thực tại huyền nhiệm đang quy tụ các con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về với mình. Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban chính mình cho Giáo hội và Giáo hội hiến mình cho Thiên Chúa trong lòng cảm tạ và chúc tụng. Ba Ngôi và Giáo hội liên kết trong tình yêu. Bởi đó, có thể nói về Giáo hội như thánh Gioan nói về Thiên Chúa : Giáo hội là tình yêu và tình yêu là Giáo hội. Thiên Chúa phân biệt chứ không tách biệt khỏi Giáo hội. Giáo hội cùng hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi đặt trọn vẹn tình yêu của mình trong Giáo Hội. Là con cái Giáo hội, chúng ta được kêu gọi để sống tình yêu Ba Ngôi ngày càng mãnh liệt hơn. Vì chính khi tăng cường tình yêu Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong ta, chúng ta càng góp phần làm cho Giáo hội Chúa Kitô triển nở và tràn đầy niềm hy vọng.

Hơn nữa, một nhà thần học Chính thống từng nói : “Học thuyết xã hội ngày nay, chính là Ba Ngôi.” Nghĩa là, chỉ bắt đầu từ Thiên Chúa, nhờ Người và trong Người, chúng ta mới có thể tìm thấy và hơn nữa nhận được toàn thể giải đáp cho toàn bộ vấn đề lớn lao của cuộc sống. Làm sao có thể coi mình là anh em, nếu không cùng nhìn nhận một Cha ? Làm sao nói mình là con Thiên Chúa nếu không tham dự sự sống của Người Con duy nhất của Chúa ? Làm sao sống với nhau như bạn hữu, nếu không khám phá thấy cùng một Thần Khí đang sống và hít thở trong ta ?

Thiên Chúa là gì mà người ta có thể hy sinh tất cả vì Người ? Có phải vì Người giá trị hơn tất cả không ? Có thể phú dâng Thiên Chúa mọi sự cho tới chết vì Người là Thiên Chúa của sự sống vĩnh hằng và tình yêu không ? Ðó là Thiên Chúa của chúng ta. Người đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Người sẽ không phải chết, nhưng được sống vĩnh cửu trong Thánh Linh. Người là Ðấng tạo dựng trời đất, cứu chuộc loài người, thánh hóa cuộc sống chúng ta. Người là Một, đồng thời là Ba.

Nhưng làm cách nào và tại sao Thiên Chúa phải là Ba trong khi Người là Một ? Sao Người là Một trong khi là Ba ? Phải hiểu tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi phát xuất từ tín điều về tình yêu. Quả thật, nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa, Người là tình yêu. Trong mức độ trọn lành, toàn vẹn, sung mãn của mình, tình yêu cho đi và nhận lãnh hoàn toàn. Bởi thế, tình yêu không đơn độc, cô lập, co mình lại. Một Thiên Chúa như thế sẽ buồn biết chừng nào ! Nhưng nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa, Người cũng là và nhất thiết là duy nhất. Trong Thiên Chúa, tình yêu vận hành, đối thoại và thông hiệp, chia sẻ và quy tụ. Tình yêu tỏa rạng và tập trung. Tóm lại, tình yêu vui sống. Vì Thiên Chúa phải là tình yêu và phải duy nhất, nên thật là chính đáng, hợp tình hợp lý khi chúng ta tuyên xưng Một Chúa duy nhất và đồng thời có Ba Ngôi.

Thực tế, duy nhất không phải là “khối đơn độc,” nhưng là một sự hiệp thông các thực tại khác nhau. Trái lại, không có những đa dạng phong phú và tốt đẹp nếu không được quy tụ trong sự duy nhất chắc chắn. Các đa dạng tốt đẹp đều chấp nhận nhau vì bổ sung cho nhau. Như công đồng Toledo (675) nói : “Chúa Con không phải là Chúa Cha. Chúa Cha không phải là Chúa Con. Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha và Chúa Con.” Nhưng trong tất cả Ba Ngôi, chỉ có một Thiên Chúa độc nhất. “Chúa độc nhất trong Ba Ngôi và duy nhất trong bản tính.” (Kinh Tiền Tụng)

Bây giờ chúng ta phải làm gì, là gì và sống ra sao để yêu thương trong chân lý ? Trước hết, mỗi người phải là chính mình. Ðể yêu thương tha nhân, phải có một nhân cách thực sự, cá biệt, trưởng thành, cởi mở. Nhưng càng yêu, người ta càng trở nên một. Khi đó sẽ khám phá nghịch lý này : càng trở nên một, con người càng phong phú về nhân cách. Càng duy nhất bao nhiêu, nhân cách càng vững chắc bấy nhiêu. Trên đỉnh cao tình yêu, chúng ta thấy gì ? Thiên Chúa ! Vì toàn hảo, Thiên Chúa hoàn toàn là Ba và là Một cách lạ lùng. Người như thể ba ngọn lửa hiệp nhất nên một. Công đồng Florence (1442) nói : “Chúa Cha trọn vẹn nơi Chúa Con, trọn vẹn nơi Thánh Linh. Chúa Con trọn vẹn nơi Chúa Cha, trọn vẹn nơi Thánh Linh. Thánh Linh trọn vẹn nơi Chúa Cha, trọn vẹn nơi Chúa Con.”

Kinh Thánh quả quyết, Thiên Chúa chúng ta không thấy bao giờ, nhưng chính Người đã cho chúng ta biết. Thực vậy, Thiên Chúa Ngôi Cha là tình yêu nguyên thủy, trao ban. Chúa Cha và tôi là một. Thiên Chúa Ngôi Con là tình yêu lãnh nhận cho đi. Không ai biết Chúa Con ngoài Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha ngoài Chúa Con và những ai Chúa Con muốn mạc khải cho. Thiên Chúa Thánh Linh là tình yêu được chia sẻ, tràn đầy, hoan hỉ, hoàn hảo. Công đồng Constantinople (381) nói, có “một Thiên Chúa là Cha phát sinh mọi sự, một Chúa Giêsu Kitô làm chỗ dựa cho mọi loài, một Thánh Linh bao trùm vạn vật.” Ðó là tình yêu Thiên Chúa với nhiều danh hiệu khác nhau của một Thiên Chúa duy nhất.

CON ÐƯỜNG HIỆP NHẤT

Chúng ta đã được thanh tẩy nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta đang sống hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Nếu hiệp thông với Thiên Chúa, chúng ta phải hiệp thông với anh em để tạo sự hiệp nhất vô cùng cần thiết cho mọi công cuộc xây dựng Giáo hội và xã hội. Sống trong một thế giới đa dạng, nếu không để ý và tôn trọng sự khác biệt của tha nhân, không thể nào tạo sự hiệp nhất. Chính vì không sẵn sàng chấp nhận sự khác biệt của tha nhân, nhiều người không thể quy tụ và vận động được sức mạnh quần chúng. Họ bắt mọi người phải đồng ý hoàn toàn với chương trình của mình. Ai nói khác đều bị kết tội chống đối hay phản động.

Vì được rửa tội nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa, Kitô hữu có sứ mệnh tạo sự hiệp nhất theo mô hình Ba Ngôi. Ngay trong gia đình Ba Ngôi, vẫn có khác biệt. Ngôi Cha không bắt Ngôi Con và Thánh Thần giống mình hoàn toàn. Gia đình Ba Ngôi đúng là mô hình hiệp nhất trong đa dạng. Giáo hội đã học hỏi nhiều từ mẫu gương Ba Ngôi. Ðể có thể hiệp nhất như Ba Ngôi, Giáo hội phải tuân thủ hai nguyên tắc : nguyên tắc trách nhiệm chung và nguyên tắc bổ trợ.

Nguyên tắc thứ nhất đòi họ phải chia sẻ trách nhiệm chung để tạo sự hiệp thông cần thiết cho Giáo Hội. Nếu tự bản chất Giáo Hội là hiệp thông, là đoàn thể, mọi thành phần trong Giáo Hội, giám mục cũng như linh mục, giáo sĩ cũng như giáo dân đều có trách nhiệm chung. (1) Trách nhiệm đó không chỉ nằm gọn trong đức vâng phục, nhưng còn phải góp phần vào quá trình quyết định. Không những thế, họ còn phải đóng vai ngôn sứ lay tỉnh Giáo hội trước những bức thiết của thời đại. Trong sứ mệnh chung của Giáo Hội, “Chúa trao phó một phần trách nhiệm lớn cho giáo dân chu toàn, trong niềm hiệp thông với hết thảy các thành phần khác của Dân Thiên Chúa.” (2) Như thế, giáo dân không phải là những người chỉ nhận chỉ thị của hàng giáo phẩm. Họ phải biết tự quyết định trong những gì thuộc phạm vi trách nhiệm của mình. Trách nhiệm của họ là xây dựng những cộng đoàn giáo hội trưởng thành. (3) Nếu chỉ biết vâng lời tối mặt, giáo dân không phải là những người xây dựng thực sự. Giáo hội bao giờ cũng cần những giáo dân đầy sáng kiến và nhiệt thành.

Ngoài nguyên tắc “trách nhiệm chung,” khi sinh hoạt trong Giáo hội, giáo sỹ cũng như giáo dân còn phải dựa trên nguyên tắc bổ trợ. Theo nguyên tắc bổ trợ, một tập thể lớn không có quyền lấn át sáng kiến và trách nhiệm của các cá nhân và các tổ chức nhỏ. (4) Một vị lãnh tài đức không trù dập sáng kiến của người dưới. Chính vì không theo nguyên tắc này, nhiều cộng đoàn tràn ngập cảnh bất mãn và vô trật tự. Hoạt động mất hiệu năng. Ðức Gioan Phaolô II căn dặn : Cần phải bảo toàn nguyên tắc bổ trợ: một tổ chức cấp trên không được can thiệp vào nội vụ của một tổ chức cấp dưới, làm cho cấp dưới mất đi chức năng riêng của mình, trái lại có bổn phận ủng hộ nếu cần và giúp phối hợp hoạt động của cấp dưới với hoạt động của toàn bộ cộng đoàn xã hội, nhằm xây dựng công ích. (5) Nguyên tắc bổ trợ là nền tảng của Giáo lý Công giáo về xã hội.

Hai nguyên tắc “trách nhiệm chung” và “bổ trợ”nói trên đã được tuân thủ tới đâu trong cộng đoàn chúng ta ? Thực tế, khi chưa nắm quyền, chúng ta thường sống ỷ lại và chẳng màng gì tới trách nhiệm chung. Ðến khi nắm quyền trong tay, nói chung người mình không biết chia sẻ và phân nhiệm. Hầu như không có ai biết đối thoại thực sự, vì lòng người khép kín và cái nhìn quá ngắn . . .

Lạy Chúa Ba Ngôi, Xin cho chúng con biết noi gương Ba Ngôi hiệp nhất với nhau. Xin cho chúng con biết tôn trọng nhau và đối thoại với nhau để xây dựng một cộng đoàn hiệp nhất trong đa dạng như Ba Ngôi. Amen.
 

------

1. x. Thượng hội đồng giám mục thế giới, năm 1985

2. Tông huấn Kitô hữu giáo dân, số 32.

3. ibid., số 34.

4. x. Giáo lý Công giáo, số 1894.

5. x. Thông điệp Centesimus annus, 1991, số 48.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Anh Em HV Đaminh chuyển ngữ)

THIÊN CHÚA BA NGÔI 
THIÊN CHÚA CỦA TƯƠNG QUAN

Ga 16: 12-15

Thoạt đầu học thuyết về Chúa Ba Ngôi ra đời là để chống lại các lạc thuyết trong thế kỷ thứ IV và V. Ngày nay, nhìn bề ngoài có vẻ như chúng ta cũng đang cử hành một tín điều đức tin. Nhưng chúng ta không đến nhà thờ để cử hành những tín điều đức tin. Hôm nay chúng ta đến đây là để cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và ngẫm xem Ba Ngôi đã ảnh hưởng và vẫn mãi ảnh hưởng tới đời sống của chúng ta thế nào. Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá, Đấng Cứu Chuộc và Đấng Thánh Hoá – chúng ta vẫn gọi là Cha, Con và Thánh Thần. Và mỗi người chúng ta được mời gọi bước vào mầu nhiệm này của Thiên Chúa trong việc tôn thờ và cầu nguyện của chúng ta. 

Thiên Chúa siêu vượt mọi khả năng nhận biết của con người. Dẫu vậy, trước khi chúng ta có thể vươn lên tới Ngài, Thiên Chúa đã quyết định cứu chuộc thế giới rồi. Thiên Chúa đã đi bước trước, trao tặng chúng ta ân sủng trong Đức Giêsu Kitô và qua Thánh Thần trợ giúp chúng ta bước vào tương quan với Ngài. 

Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã bước vào lịch sử nhân loại; Ngài đã cùng đồng hành chia sẻ niềm vui, nỗi buồn và nên một với chúng ta trong mọi sự, trừ tội lỗi. Nơi Đức Giêsu có trọn vẹn sự sung mãn bản tính Thiên Chúa, nhưng Ngài đã chia sẻ cái chết của chúng ta và mặc khải cho chúng ta về sự chiến thắng của Thiên Chúa đối với tội và sự chết – Quyền năng của Thiên Chúa chữa lành những gì tan vỡ và hiệp nhất những gì bị phân rẽ. Đức Giêsu đã quay về với Đấng Ngài gọi là “Cha”, nhưng vẫn không để chúng ta mồ côi; Ngài trao cho chúng ta sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa trong Thánh Thần tình yêu và sự sống. Chính qua Thánh Thần chúng ta nhận ra sự hiện diện sinh động của Đức Kitô Phục Sinh. Trong Thánh Thần, chúng ta có được sự sống mới mà Đức Giêsu đã hứa và hiện thực hoá bằng đời sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Niềm khao khát và lòng mong muốn lôi kéo chúng ta đến thờ lạy hôm nay đã được chính Thiên Chúa cấy vào trong lòng chúng ta, Ngài là Đấng những mong chúng ta ngày càng lớn lên trong sự nhận thức và tình yêu của Ngài. Thiên Chúa của chúng ta là một vị Thiên Chúa của tương quan. 

Không gì, thậm chí ngay cả Thiên Chúa, có thể tồn tại một mình và tách biệt. Tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa gợi cho chúng ta biết rằng chúng ta chỉ có thể nhận biết Thiên Chúa qua tương quan của chúng ta – không chỉ trong tương quan Thiên Chúa với chúng ta, mà trong tương quan với toàn thể thế giới thụ tạo. Thiên Chúa Ba Ngôi chính là nguồn mạch và là nền tảng cho toàn bộ tương quan ngôi vị của chúng ta. Một cách hiểu việc chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Ngài là chúng ta cũng được tạo ra trong tương – tương quan với Thiên Chúa, với nhau và với thế giới thụ tạo chúng ta đang sống.

Trong bài đọc một, Đức Khôn Ngoan được nhân hoá là tác phẩm đầu tay của Thiên Chúa, là người tham dự vào việc tạo dựng muôn loài. Hãy chú ý đến khía cạnh vui đùa của Đức Khôn Ngoan, không chỉ gợi nên hình ảnh một vị Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng mà còn gợi nên hình ảnh một vị Thiên Chúa đang vui cười với những thành quả của công trình do tay Người tạo dựng. “Ngày ngày”, Đức Khôn Ngoan vui thích với những gì Thiên Chúa làm nên, đặc biệt với “loài người”.

Sự dấn thân của Thiên Chúa với tạo vật đã không chấm dứt sau hành vi tạo dựng thuở ban đầu, mà vẫn tiếp diễn theo dòng lịch sử. Đặc biệt, chúng ta đọc thấy trong Cựu Ước dòng lịch sử của việc làm thế nào mà Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng, lại liên tục hiện diện với loài người Ngài đã dựng nên: giải thoát họ, tập hợp họ làm thành một dân tộc; và sau đó củng cố, khuyến khích, thử thách, quở trách rồi lại tha thứ cho họ.

Việc để ý đến bài Tin Mừng hôm nay sẽ giúp chúng ta đào sâu nhận thức về Một Chúa Ba Ngôi của chúng ta. Sách Châm Ngôn nhắc chúng ta về năng lực sáng tạo “thực hành” của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa “định vị bầu trời phía trên…cố định nền cho trái đất…đặt ranh giới cho biển cả…” Ngày nay, nếu chúng ta muốn đáp trả Đấng Tạo Dựng, như được gợi hứng từ bài đọc một, chúng ta phải cầu xin cho có được một đôi mắt rộng mở để có thể thấy công trình sáng tạo khéo léo của Thiên Chúa nơi vẻ đẹp của thế giới tự nhiên. Vì tạo vật sẽ giúp ta mở lòng trước mầu nhiệm Thiên Chúa chung quanh ta, chúng ta đáp trả những thúc giục trong Thánh Kinh bằng việc tôn trọng và quan tâm đến môi trường sống của chúng ta. Trong Chúa Nhật lễ Chúa Ba Ngôi này, một thái độ đáp trả thích hợp đối với Thiên Chúa Đấng Tạo Dựng là tôn trọng và quan tâm tới các tác phẩm tự nhiên do Ngài tạo nên.

Đức Giêsu đã hứa gửi “Thánh Thần Chân Lý” đến với chúng ta. Thánh Thân Chân Lý sẽ giúp chúng ta gạt bỏ những điều giả trá và những vị thần giả tạo thế giới này tôn thờ: thần quyền lực và thống trị, thần ưu tiên và loại trừ, thần tiền tài và phồn thịnh, thần khoa học kỹ nghệ…

Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đến ở giữa chúng ta và  qua lời nói cũng như hành động của Người, công bố sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa cho thế giới này. Chúng ta học theo đời sống của Giêsu, lắng nghe lời Người, để cho hành động và thái độ của Người dẫn dắt, chia sẻ cái chết của Người và rồi cảm nghiệm sự sống mới trong sự phục sinh của Người. Qua Người chúng ta tin tưởng rằng Thiên Chúa đang ở với chúng ta ngay lúc này đây và Ngài sẽ còn ở với chúng ta luôn mãi tới thời cùng tận.

Thánh Thần là sự sống thần linh của Thiên Chúa hiện diện nơi mỗi người chúng ta, giúp chúng ta chia sẻ tình yêu mật thiết giữa Cha và Con. Quà tặng tình yêu đó của Thánh Thần giúp ta thoát khỏi nô lệ cho những luật lệ và khuôn phép tôn giáo, ngõ hầu có thể đáp trả sự sống Thiên Chúa nơi chúng ta bằng một thực hành đức tin sáng tạo, tự do và tự nguyện, thực hành bằng việc biết yêu bản thân, yêu tha nhân và yêu thế giới thụ tạo quanh ta.

Vì thế, khi chúng ta cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta không chỉ cử hành một tương quan riêng tư giữa các Ngôi vị Thiên Chúa. Chúng ta không phải là những khán giả chỉ biết nhìn vào một mầu nhiệm siêu việt nào đó trên trời mà mình tuyên xưng, mà không thực sự nhận ra mối liên hệ hàng ngày của nó với đời sống chúng ta. Nếu bỏ đi học thuyết về Chúa Ba Ngôi, liệu điều đó có tạo ra khác biệt gì trong việc thực hành đức tin, việc giáo dục tôn giáo, các bài giảng…? Dĩ nhiên là có! Thiên Chúa Ba Ngôi không chỉ là mầu nhiệm chúng ta hướng đến mỗi ngày Chủ nhật, khi chúng ta tuyên xưng đức tin trong kinh Tin Kính. Ngược lại, mầu nhiệm này tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa liên hệ thế nào với chúng ta và chúng ta liên hệ thế nào với Thiên Chúa, với bản thân và với thế giới xung quanh. 

Lm. Jude Siciliano, OP

 

BA NGÔI: ÂN BAN TÌNH YÊU CHO CHÚNG TA

 Châm ngôn 8: 22-31; T.vịnh 8: 5-9; Rôma 5: 1-5;

Gioan 16: 12-15

“Thiên Chúa yêu chúng ta”. Đó có thể là một lời tuyên bố sâu sắc và có sức biến đổi cuộc sống, hoặc chỉ là lời nói qua loa hầu xoa dịu nỗi đau của chúng ta hay khích lệ những người đang bị ức hế tinh thần. Đâu là điều làm nên sự khác biệt ấy?

Đó sẽ là lời nói qua loa nếu nó chỉ diễn tả niềm tin vào một Thiên Chúa xa vời đâu đó trên không trung. Nhưng điều làm cho lời này có khả năng biến đổi cuộc đời chính là niềm tin rằng tình yêu của Thiên Chúa không “ở đâu xa”, kiểu như một cảm giác ấm áp đến từ hành một tinh xa xôi, nhưng tình yêu ấy đã đặt chân xuống mặt đất và bày tỏ trong những cách thức hết sức rõ ràng, cụ thể. Thánh Gioan đã nói với chúng ta rằng Thiên Chúa “quá yêu thế gian” (3-6) đến nỗi Người đã ban cho ta chính Con Một của Người. Tình yêu của Thiên Chúa, theo kiểu nói trước đây, thì “rất gần và rất riêng tư”. Tình yêu của Thiên Chúa đã hạ mình xuống đất với ta, làm bạn với ta, cùng ăn cùng uống với con người. Thiên Chúa đã thương mến chọn lấy thân xác của chúng ta, cả máu xương này và cho chúng ta được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa.

Đó là nói về hai Ngôi Vị trong Ba Ngôi. Thế còn Chúa Thánh Thần ở đâu? Thánh Thần chính là tình yêu giữa Cha và Con và chính là ân ban tình yêu dành cho chúng ta. Chúng ta không chỉ tán thành một giáo lý như thế, nhưng còn phải đi đến chỗ nhận biết, cách cụ thể và riêng tư nhất, về tình yêu này vì chúng ta được mời gọi bước vào trong tình yêu ấy bằng chính ân sủng của Thánh Thần. Tình yêu của Thiên Chúa không phải là điều trừu tượng; chúng ta được cảm nghiệm trực tiếp tình yêu ấy nhờ Thánh Thần – Thiên Chúa luôn hiện diện ngay đây vào lúc này.

Tin mừng Gioan hôm nay nhắc lại điều chúng ta tin về Chúa Ba Ngôi và điều đó cũng tiếp tục được mô tả trong cả hai Giao Ước: Thiên Chúa không bao giờ xa rời cuộc sống của chúng ta nhưng can dự với ta cách mật thiết.

Sự can dự đó bộc lộ qua hàng loạt những từ mang nghĩa hoạt động trong bản văn hôm nay. Đức Giêsu nói rằng Người còn nhiều điều cần phải nói cho các Tông đồ và rồi hứa ban Thánh Thần cho các ông. Món quà mà các ông sắp nhận là chính Thánh Thần rất năng động và luôn hiện diện, Đấng sẽ: đến, hướng dẫn, nói, loan báo, tôn vinh và “lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em”. Tất cả những hành động đó là gì? Đó chính là Thánh Thần đưa dẫn chúng ta vào trong tình yêu của Thiên Chúa và, qua sự gặp gỡ đó, giúp chúng ta sống điều răn của Đức Giêsu: yêu mến Thiên Chúa và yên thương tha nhân dù là bạn tốt hay kẻ thù; cùng màu da hay khác biệt nòi giống; hàng xóm cũ hay người mới tới; phạm pháp hay sống mẫu mực,…

Hôm nay, chúng ta không cử hành một Tín điều của Giáo hội, nhưng cử hành một mầu nhiệm sâu thẳm là chính Thiên Chúa, Đấng đã chọn cắm lều giữa chúng ta, “là người thật và cũng là Thiên Chúa thật”, đã không để chúng ta mồ côi, nhưng cho chúng ta được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa nhờ ân sủng của Thánh Thần. Chính Thánh Thần không ngừng nối kết ta với Thiên Chúa và với tha nhân trong tình yêu.

Chính niềm tin về mối tương quan này sẽ mở  mắt và giúp ta ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa, như một nhà thần bí nói rằng: “Sát với chúng ta hơn cả chính chúng ta”. Giáo lý về Chúa Ba Ngôi nói đến chính tình yêu Thiên Chúa không ngừng đổ tràn trên thế giới này. Đây không phải là ngày để các vị giảng thuyết tìm kiếm những “giải thích hay ví dụ” về Ba Ngôi. Hôm nay không phải để nói về từ ngữ hay cấu trúc, nhưng là cử hành sự hiện diện sống động của Thiên Chúa, Đấng đang cư ngụ giữa chúng ta. Hôm nay, chúng ta ca tụng. Nếu muốn biết thêm về những mâu thuẫn liên quan đến Ba Ngôi vào thời đầu của Giáo hội và giáo lý này tiến triển ra sao, thì ngày mai chúng ta có thể tìm trong sách vở.

Tôi đang đọc quyển sách về vị thống đốc hiện tại của chúng ta. Trong những bản tiểu sử như  thế chúng ta biết về những khoảnh khắc chính yếu của cuộc đời một con người. Cũng vậy, Thiên Chúa cũng có một loạt những tiểu sử. Khi suy niệm Sách Thách chúng ta khám phá ra điều gì đó về tiểu sử của Thiên Chúa, những giây phút liên quan đến ta như là tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. Chúng ta hiểu ra rằng Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta: dựng nên chúng ta và cả thế giới; cứu chữa chúng ta khi ta chọn làm theo cách của riêng mình và lac lối; và rồi ở cùng ta, kéo chúng ta đến cùng Thiên Chúa và tha nhân trong yêu thương. Hôm nay, chúng ta cũng diễn tả điều đó trong Kinh Tin Kính – không chỉ đơn thuần là một tuyên bố của chân lý thần học, nhưng chính là niềm tin nơi chính Thiên Chúa mà chúng ta có và những gì Thiên Chúa đã thực hiện và sẽ còn thực hiện cho chúng ta.

Chúng ta cố gắng mô tả hoặc giải thích Thiên Chúa cho người khác và thường ta không thể  diễn tả nổi. Thiên Chúa quá vĩ đại, vượt trên tất cả mọi ngôn từ và do đó không thể đóng khung trong một vài câu chữ. Những gì chúng ta có thể làm là chia sẻ kinh nghiệm của chúng ta về Thiên Chúa cho người khác: khi Thiên Chúa hiện diện cùng ta trong lúc buồn, vui, chờ mong, yêu mến, hà những thay đổi trong cuộc sống… Nhờ vào lăng kính của Kinh thánh, chúng ta cố gắng để gọi tên những gì mình cảm nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời.

Những cảm nghiệm này không giống nhau và Sách Thánh nhắc nhở rằng chúng ta cần mở rộng ý niệm về Thiên Chúa khi nói hay mô tả về Thiên Chúa. Kinh Tin Kính nói với ta Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Nhưng sách thánh cũng giúp ta gọi tên Thiên Chúa bằng những ẩn dụ khác: Khi chúng ta đi lạc và được tìm thấy thì ta gọi Thiên Chúa là “Mục tử”; khi tinh thần ta khô kiệt vì đợi chờ mỏi mòn thì Thiên Chúa là “Nước Hằng Sống”; khi ta sợ hãi, Thiên Chúa như “Gà Mẹ” ấp ủ con thơ; khi ta cô đơn, Thiên Chúa là “Người Bạn”; khi ta phải thực hiện một việc lớn lao thì Thiên Chúa là “Người Cộng Tác”,… Thiên Chúa là Một và là Ba, và Thiên Chúa không ngừng sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa chúng ta.

Trong thư Rôma (ch.1-3) thánh Phaolô đã trình bày tình trạng con người sống trong tội lụy của chính mình. Ngài cũng cho thấy Thiên Chúa đã can thiệp vào như thế nào qua cuộc đời của Đức Giêsu (3,21-31). Trong bài đọc hôm nay, thánh Phaolô bắt đầu trình bày những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta. Chúng ta có lý do để kiêu hãnh, nhưng không phải vì công trạng của mình, nhưng vì Thiên Chúa. “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta”.

Thánh Phaolô còn cho biết, chúng ta đã có được  “bình an với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô”. Phần trước của lá thư ngài cho biết chúng ta đã chống lại Thiên Chúa nên bị mắc lại trong chính tội lỗi của chính mình. Nay, chúng ta được bình an là nhờ sáng kiến của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn đi bước trước. Chúng ta hy vọng rằng, trong Thiên Chúa, chúng ta không thất vọng, vì những việc không ngừng được thực hiện cho chúng ta. Hy vọng đó chắc chắn vì chúng ta được kết hợp với Thiên Chúa ngay lúc này, mặc cho những “khốn khổ” của ta. Tình yêu của Chúa không bao giờ làm khô kiệt hay bỏ rơi chúng ta.

Đối với thánh Phaolô, bằng chứng về tình yêu của Thiên Chúa và kết quả bình an mà chúng ta được lãnh nhận là nhờ Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu Kitô đến. Nếu chúng ta chia sẻ bình an, tình yêu với người khác thì không phải là điều ta tự mình thực hiện được nhưng là hành động của Thiên Chúa trong Đức Giêsu. Chúa Kitô chỉ cho ta thấy con đường đến với Thiên Chúa và Thiên Chúa ban cho ta Thánh Thần. Thánh Thần sẽ đồng hành cùng ta trên đường đến với Thiên Chúa khi đổ tràn tình yêu của Thiên Chúa vào lòng chúng ta. Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần cùng hoạt động để nâng đỡ chúng ta hầu chúng ta có thể được hưởng nếm sự kết hiệp chung cục với Thiên Chúa.

Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Vò Vấp