Năm C

 
 


Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Cv 2,1-11 / 1Cr 12,3b-7.12-13 / Ga 20,19-23

 

An Phong op : Thánh Thần, Hồng Ân Và Tình Yêu Thiên Chúa

G. Nguyễn Cao Luật, op : Như Cá Sống Trong Nước

Fr. Jude Siciliano, op : Ngày khai sinh Hội Thánh

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Tác động của Chúa Thánh Thần

Giuse Hà Đình Tuấn op : Hãy Nhận Lấy Thánh Thần

Fr. Jude Siciliano, op : Luôn Đón Nhận Thánh Linh Trong Cuộc Sống

Lm Đỗ Lực op : Truyền Thông Và Lửa

Fr. Jude Siciliano, op : Đón nhận sức mạnh của Thánh Thần

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy để Thánh Thần biến đổi

 

 


An Phong op

Thánh Thần, Hồng Ân Và Tình Yêu Thiên Chúa
Ga 20,19-23

Chuẩn bị mừng năm Toàn xá 2000, Hội thánh dành một năm tôn vinh Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba trong cũng một Thiên Chúa. Ấy thế nhưng nhiều người trong chúng ta cảm thấy ít thoải mái khi nói về Thánh Thần. Người huyền nhiệm quá ! Biết trình bày Người như thế nào đây !

* Cơn lốc hình ảnh : Thần Khí khó nắm bắt, bởi vì Người linh lợi và sống động. Đàng khác, danh của Người là hơi thở, gió. Ai có thể giữ được hơi thở hay nắm được gió trong lòng bàn tay. Đức Giêsu từng nói với ông Nicôđêmô : "Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy" (Ga 3,8). Chính vì thế, khó có thể thành hình một ý tưởng về Người, khó đóng khung Người vào những khái niệm. Trăm lần như một, Người vuột rất nhanh ra khỏi cái khung khái niệm, chuyển sang một hình thái khác, ví như những áng mây trên trời được những làn gió thổi trôi đi. Thần Khí ghê tởm sự bất động. Thế nên chỉ còn có những hình ảnh để diễn tả Người thôi. Bởi vì hình ảnh thì uyển chuyển và linh động.

* Gió mạnh mẽ nhưng không thể giữ lại được : Người nào muốn biết Thần Khí là Đấng nào và Người hành động ra sao, thì phải để ý nhận xét gió. Gió thổi, đưa mây đi tứ phương. Gió thổi, tung bụi đường. Gió thổi, tung những hạt bông nhỏ xíu và đưa đến những mảnh đất xa. Gió đó, nhưng nào ai thấy. Gió là người khách không được mời. Ta chỉ biết là gió đã đến thăm, bởi vì gió lay động, và lắm khi mở toang những cánh cửa. Gió làm cho hoa lá trong vườn rung rinh lay động và đôi khi gió làm cho cả cây đa cổ thụ bật tung gốc rễ.

Ấy, Thần Khí cũng như vậy : Người mạnh mẽ, không thể cầm giữ được và huyền diệu như gió. Người ở đây, Người ở kia, nhưng Người lại đi xa ngay tức thì. Bao giờ cũng thật nhanh, thật nhanh. Lạnh buốt như kim châm, nhưng cũng lại nóng sốt như có đem theo lửa. Người chắp cánh cho tất cả để bay bổng, nhẹ tênh. Nhưng Người cũng có thể làm cho tắc nghẽn, chẳng có gì có thể ngăn trở được.

* Huyền diệu mà lại lặng lẽ kiên trì như dòng suối : Thần Khí lại tựa như dòng suối. Còn gì huyền diệu hơn, trung thành với vị trí của mình hơn là dòng suối. Hiếm khi ta biết dòng suối phát nguyên từ đâu. Nó có đó, ngay tức khắc, vọt lên từ giữa hai tảng đá to, hoặc từ dưới một đám rêu phong. Nhưng ta lại cứ thích ngồi lại bên dòng suối và lắng nghe dòng suối. Bởi lẽ dòng suối nào cũng có những tiếng róc rách dễ thương và quyến rũ. Người thời cổ từng cho rằng các cô tiên nữ sống và nhảy múa bên những dòng suối. Họ gọi là suối tiên.

* Nóng cháy và linh lợi như lửa : Thần Khí lại giống như lửa. Người ta bảo "người kia nói có lửa"... để nói đến sức sống nơi người nói lan tràn qua ngôn ngữ. Thần Khí cũng có nhiều điểm chung với lửa. Lửa lôi cuốn mãnh liệt. Ai đã từng tham dự những buổi lửa trại hoặc đã từng ngồi chung quanh lò sưởi, hẳn từng thấy ở đó người ta không nhìn nhau, mà nhìn những ngọn lửa bập bùng hay tí tách. Lửa qui tụ. Tự nhiên người ta ngồi quây quần chung quanh bếp lửa, mà ít cần phải mời mọc hay nhắc nhở. Thần Khí cũng như thế, Thần Khí sưởi ấm, Thần Khí lôi cuốn, Thần Khí qui tụ con người lại.

* Dễ thương như chú chim câu : Đây lại là một hình ảnh nữa. Chúng ta thường nhìn thấy trong các thánh đường : trên tháp nhà thờ chú chim câu như thể muốn tung cánh bay tít lên không trung, ở bục giảng... chim câu là hình ảnh huy hoàng của Thần Khí không phải vì nó biết bay, nhưng vì nét duyên dáng của nó khi bay. Chim câu bay hay không bay, lúc nào nó cũng đẹp. Và chim câu không bay hung bạo như chim én. Chim câu không hạ cánh bất chợt như diều hâu. Chim câu chẳng nhảy nhót như chim sẻ. Chim câu có một kiểu riêng của chim câu.

* Dầu chữa lành và tỏa hương thơm phức : Thần Khí còn ví tựa dầu thơm và dầu xức chữa lành vết thương. Không gì làm cho con người chán bằng đau khổ. Không gì làm cho con người mạnh bằng lời an ủi và sức chữa lành. Người ta trở nên một con người khác hẳn : vui tính - "có tinh thần tích cực" - và mọi thứ đều bình yên, không còn xáo trộn. Thế nên, thời kỳ dưỡng bệnh nào cũng là thời kỳ ân phúc: ta cảm thấy sức sống như đang trở về.

Lạy Chúa Thánh Thần,

Xin đổ tràn hồng ân, tình yêu và sự khôn ngoan của Thiên Chúa trên đời sống chúng con. Xin Ngài đốt nóng ngọn lửa mến Chúa yêu người nơi chúng con. Xin Ngài xua tan bóng tối mây mù của lòng ích kỷ, gian tham, hận thù, ghen ghét nơi tâm hồn chúng con. Xin dọi ánh sáng Thiên Chúa trên bước đường chúng con đi.


G. Nguyễn Cao Luật,O.P

NHƯ CON CÁ SỐNG TRONG NƯỚC
Ga 15,26 - 16,15

Biến cố làm đảo lộn

Vẫn biết rằng trình thuật về Hiện Xuống không chỉ thuật lại thời khởi đầu của Hội Thánh, mà còn kết thúc sách Tin Mừng, trong đó tất cả chân lý về Hội Thánh được bày tỏ. Thế nhưng, cả bốn sách Tin Mừng đều không thuật lại sự kiện này, mà chỉ có sách Công vụ. Tại sao thế ?

Thật ra, không phải là các tác giả sách Tin Mừng không ý thức tầm quan trọng của biến cố này, nhưng các ông thấy không cần phải nhắc lại một sự thật xét như là một thực tại đã được khẳng định trong suốt bộ Tin Mừng. Sách Công vụ chỉ là kể lại biến cố quan trọng này theo một hình thức quen thuộc trong truyền thống Do-thái.

Đối với người Do-thái, lễ Hiện Xuống - theo truyền thống là lễ Ngũ Tuần - là kỷ niệm nhắc lại hồng ân họ đã lãnh nhận, tức lề luật. Chính lề luật do Thiên Chúa ban đã biến một đám đông nô lệ thành một dân liên đới với nhau, bởi vì tất cả đều hướng đến một mục đích và quyết định cùng đi với nhau trên một con đường. Từ xa xưa, một số bản văn Do-thái không phải Thánh Kinh đã sử dụng hình ảnh về lửa, gió, tiếng động, để mô tả tính cách đảo lộn của biến cố tại núi Xi-nai. Thánh Lu-ca cũng mượn lại những hình ảnh này để thuật lại sự kiện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ.

Tuy vậy, các tác giả sách Tin Mừng cảm thấy không cần phải sử dụng một hình thức đặc biệt để diễn tả sự đổi mới từ nền tảng mà các ông đã không ngừng thuật lại trong suốt bản Tin Mừng.

Thánh Gio-an tóm tắt điều cốt yếu này trong một vài dòng ngắn ngủi : các Tông Đồ, và sau các ông, các tín hữu, tất cả đều tham dự vào sự sống, vào sự bình an do Đức Giê-su đem lại. Được Thần Khí Thiên Chúa thấm nhập, họ ra đi khắp thế giới, sống và thể hiện ơn tha thứ và tình thương xót của Thiên Chúa. Sứ mệnh của họ được thu tóm trong một mệnh lệnh đơn giản : ra đi loan báo Tin Mừng hoà giải và ơn tha thứ. Nhờ vậy, nhân loại được tái lập và tái sinh.

Đó chính là lễ Hiện Xuống - từ nay trở đi được bày tỏ cho toàn thế giới. Ngọn lửa và ngọn gió thần linh có mặt ở đó, với những ai biết nhìn và biết nghe.

Lời thì thầm của Thiên Chúa

Con cá có ý thức được nó đang sống trong nước không nhỉ ? Điều này không rõ ! Nhưng chắc chắn rằng thật là khó để ý thức được mình đang sống mầu nhiệm của lễ Hiện Xuống. Nếu có ai đó đề nghị với bạn : hãy nhắm mắt lại và suy nghĩ trong hai giây thôi về câu hỏi : "Mầu nhiệm Hiện Xuống là gì ?" Bạn sẽ trả lời như thế nào ? Có thể bạn sẽ nghĩ đến khung cảnh của ngày lễ, như sách Công vụ Tông Đồ thuật lại : vào một ngày cuối tuần, 50 ngày sau lễ Vượt Qua ; những hình lưỡi lửa xuất hiện trên đầu các Tông Đồ; ông Phê-rô đọc một bài diễn văn và mọi người đều hiểu điều ông nói ...

Lễ Hiện Xuống, đó là điều bạn vừa nghĩ. Thế nhưng lễ Hiện Xuống còn có một điều gì đó quan trọng hơn, để trở thành lễ trọng tương tự như lễ Giáng Sinh và Phục Sinh. Đó là hồng ân Thánh Thần.

Không có lễ Hiện Xuống, Phục Sinh sẽ không đạt được ý nghĩa trọn vẹn ; hay nói cách khác, người ta không hiểu được Phục Sinh là gì : các phụ nữ đến ngôi mộ trống và sợ hãi.

Không có lễ Hiện Xuống, các Ki-tô hữu mãi mãi vẫn là những người lý thuyết : họ cố gắng tìm ra một thứ quy luật sống xuyên qua những tài liệu không đầy đủ về Đức Ki-tô.

Không có lễ Hiện Xuống, Ki-tô giáo chỉ là một thứ ý thức hệ mà mỗi người thừa hưởng không thể đồng ý với nhau : mỗi người đều tự nhận mình đang nắm giữ chân lý và chỉ "phần" mình mới đúng.

Như vậy, từ ngữ phục sinh quá ngắn ngủi. Nếu người Ki-tô hữu chỉ tin rằng Đức Kitô Phục Sinh, thì có thể nói, chừng đó chưa đủ để tin Đức Kitô đã Phục Sinh. Và nếu chỉ tin Đức Kitô là Con TC, hay hơn một chút, như kinh Tin Kính : "Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha ...", thì cũng vẫn kể là chưa đủ để gọi là tin vào cuộc Phục Sinh của Đức Ki-tô.

Do đó, người Ki-tô hữu còn phải tin rằng, Đức Ki-tô Phục Sinh là cho mỗi người. Hôm nay, lúc này, Người vẫn đang sống và yêu thương mỗi người.

Những câu chuyện tình vẫn luôn khó diễn tả. Thánh Lu-ca đã sử dụng thời điểm 50 ngày sau lễ Vượt Qua để trình bày điều này. Còn thánh Gio-an lại muốn diễn tả ngay sau biến cố Phục Sinh. Cũng có thể tác giả Tin Mừng thứ tư đã muốn nói đến điều này khi thuật lại sự kiện Đức Giê-su bị đâm thủng cạnh sườn : máu và nước là bằng chứng cụ thể về mối liên hệ giữa Đức Giê-su và mỗi người.

Tóm lại, lễ Hiện Xuống tựa như một lời thì thầm của Thiên Chúa vào trong cuộc sống của mỗi người, nhất là những người đau khổ, những kẻ bị bỏ rơi. Lễ Hiện Xuống cũng giống như tình yêu, như sự sống, và khó mà diễn tả. Nhờ mầu nhiệm này, mỗi người sống, tựa như con cá sống trong nước ...

Chúng ta có Chúa Thánh Thần

Chúng ta là những người được xức dầu,

được Thiên Chúa đóng ấn,

chúng ta có Chúa Thánh Thần.

Người lấp đầy những vực sâu thăm thẳm

của cuộc đời chúng ta.

Người là sự sống trong chúng ta,

giúp chúng ta vượt qua cái chết.

Người là nguồn hạnh phúc bất tận,

làm ngưng mọi dòng lệ,

cho dù nó vẫn đang tràn ngập cuộc sống chúng ta.

Người là Thiên Chúa sống trong ta,

là sự thánh thiện của tâm hổn,

là niềm vui thầm kín,

là sức mạnh diệu kỳ,

ngay cả khi tâm trí và sức lực của chúng ta đã cạn kiệt.

Người ở trong chúng ta, nâng đỡ lòng tin của chúng ta,

giúp chúng ta hiểu biết về Đức Giê-su.

Người là nguồn hy vọng vực ta chỗi dậy khi ta quỵ ngã,

Người là tình yêu luôn ấp ủ ta và giúp ta biết yêu thương.

Người biến chúng ta thành những người quảng đại và vui vẻ,

mặc dù trái tim chúng ta vẫn khô cứng và muộn phiền.

Người là tuổi trẻ mãi mãi không tàn phai,

cho dù tuổi già vẫn đang đè nặng

trên thời đại và tâm hồn chúng ta.

Người là nụ cười có sức phá vỡ mọi nỗi buồn,

Người là niềm tin tưởng làm cho ta luôn sống động,

là tự do và hạnh phúc

nâng đỡ tâm hồn chúng ta.

Nhờ Thánh Thần,

chúng ta trở thành những con người

hơn là chúng ta tưởng và mong ước.

theo Karl Rahner

 
Fr.Jude Siciliano,OP.

Ngày khai sinh Hội Thánh
Ga 20,19-23

Thưa qúi vị. Trình thuật lễ Hiện Xuống của sách Tông đồ Công vụ tích chứa rất nhiều hình ảnh. Nó khơi dậy ký ức về Kinh Thánh. Nó cũng liên kết chúng ta với nhiều biến cố khác nhau của Thánh Kinh và của cuộc đời riêng mỗi tín hữu. Nói về nguồn gốc thì lễ Năm Mươi là lễ nông nghiệp của người Do thái và được gọi là đại lễ của các Tuần. Nó được cử hành năm mươi ngày hay 7 tuần sau lễ Vượt Qua. Khởi thuỷ nó là lễ Tạ ơn sau mùa gặt, khi phát triển nó mới trở nên mốc ghi nhớ và cử hành các công việc vĩ đại của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ.

Chúng ta cũng cử hành mùa gặt của đức tin và nhớ lại đức tin này đã nuôi dưỡng chúng ta thế nào trong những ngày tháng khốn khó, bằng không chúng ta đã khô héo đi vì gánh nặng tội lỗi. Thế nên hôm nay chúng ta cử hành thánh lễ Tạ ơn là để có dịp chúng ta nhớ lại những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm cho chúng ta trong mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cử hành Hội Thánh chung quanh đây, trong cộng đoàn này, bởi vì chúng ta đã được kinh nghiệm những dấu chỉ lạ lùng của Chúa Thánh Thần ở ngay giữa chúng ta.

Chúng ta được nên kiên cường nhờ những phần tử dấn thân toàn thời gian hay bán thời gian trong công việc phục vụ cộng đoàn. Không một ai có đủ mọi tài năng để phục vụ cộng đoàn hoặc có đủ trí tuệ để thỏa mãn mọi nhu cầu của thế giới chung quanh mình. Nhưng như một cộng đoàn chúng ta đã được chứng kiến ơn Chúa Thánh Thần mưa đổ xuống trên tất cả các tín hữu tụ họp lại một chỗ, như các môn đệ trong ngày lễ Ngũ Tuần hay như chúng ta trong thánh lễ hôm nay.

Có lẽ các môn đệ Chúa Giêsu tụ tập lại vào ngày lễ Ngũ Tuần. Bởi vì nó là ngày hành hương trọng thể thứ hai lên Giêrusalem, sau khi Ngài chịu chết và sống lại. Bài đọc thứ nhất trích từ chương 2 của sách Tông đồ Công vụ mô tả biểu hiện rất mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần. Nếu là một vở kịch, chúng ta có thể đặt tên là “Công vụ của Thần Khí” và nhân vật chính đã nhập cuộc thật oai phong lẫm liệt. Chúng ta luôn ghi khắc cảnh tượng ngọan mục này khi nghe Giáo hội tiên khởi kể chuyện lại các biến cố tiếp theo. Và mặc dù các vai khác vào kịch thế nào đi nữa,thì chúng ta vẫn có ấn tượng sâu sắc về giây phút khởi đầu. Chúa Thánh Linh đã đến trên họ.

Biến cố này gợi lại trong tâm trí chúng ta về sự hiện diện của Thiên Chúa trên núi Sinai. Sấm chớp và mây khói bao phủ cả qủa núi khi Chúa xuất hiện. Như vậy thì lễ Ngũ Tuần tượng trưng Thiên Chúa canh tân giao ước của Ngài với nhân loại. Ơ núi Sinai dân Do thái xác nhận Thiên Chúa là Chúa của mình và họ trở nên tuyển dân của Ngài, thì bây giờ biến cố Ngũ Tuần toàn thể địa cầu được mời gọi ký kết giao ước với Thiên Chúa, nhờ lời giảng dậy của các Tông đồ cho muôn dân đang tụ họp tại Giêrusalem (người Pacthia, Media, Elam…) Tất cả đều được kêu mời trở thành dân thánh của Ngài.

Xin lưu ý, những môn đệ đang dạn dĩ rao giảng Đức Giêsu đây, chính lại là những người đã chạy trốn khi Ngài bị bắt và bị giết chết. Chính nhóm họ đã sợ hãi, ẩn núp sau các cánh cửa đã đóng kín vì sợ quyền bính tôn giáo ! điều gì đã thay đổi họ ? Đó chính là Chúa Thánh Thần, tức Thần Khí của Thiên Chúa ban cho họ nếp sống mới. Nhóm môn đệ này đã tan tác, chẳng còn hy vọng trở thành một cộng đồng, nói chi đến giáo hội. Vậy mà họ đã tụ họp lại với nhau thành lập một dân mới của Thiên Chúa thay cho tuyển dân Israel. Chuyện qúa táo bạo và liều lĩnh, xét theo hoàn cảnh lúc bấy giờ. Trên núi Sinai, Đức Chúa cũng hiện ra với một nhóm cựu nô lệ Ai cập, đang sợ hãi và chạy trốn để khởi sự tụ họp họ thành một dân riêng và ký kết giao ước với họ. Hai sự kiện tương tự nhau.

Và đây còn một biểu tượng nữa của ngày lễ Chúa Thánh Thần. Có khi nào qúi vị coi phim cao bồi tây phương ? Thường thì trong phim chiếu cảnh một đám cháy lớn trên đồng cỏ mênh mông, gió thổi lửa lan rộng khi không thể kiểm soát được. Một đàn súc vật nhốn nháo sợ hãi trước những lưỡi lửa cao ngút trời, mấy cậu cao bồi cố gắng điều khiển đàn vật trong khi lửa vẫn cháy đùng đùng phía sau. Đó là hình ảnh tôi liên tưởng tời trong thánh lễ hôm nay. Tôi không so sánh giáo hội tiên khởi với đàn súc vật bất kham, mà là với đồng cỏ, nó bắt lửa và rồi nhờ gió thổi, lan rộng khắp nơi. Giáo hội tiên khởi cũng bắt lửa Chúa Thánh Linh, rồi nhờ lòng nhiệt thành, lan rộng ra chung quanh, khỏi căn phòng họ đang họp và 5000 người bắt lửa cháy.

Sách Tông đồ Công vụ thuật lại tỉ mỉ, lửa Thánh Linh cháy ra sao. Dân chúng Giêrusalem đã bị đốt cháy thế nào. Trong thư thứ nhất gởi giáo đoàn Corintô, và nhiều nơi khác của công vụ, ơn lưỡi lửa được gán cho Chúa Thánh Linh để ám chỉ sự chuẩn nhận xác thực của Thiên Chúa. Thí dụ như khi Ong Phêrô giảng tại nhà Ong Cornêliô, dân ngoại được Chúa Thánh Thần ngự xuống (Cv.10) Phêrô đã làm phép rửa cho họ và họ được chấp nhận vào Hội Thánh. Cánh cửa ngăn đập đã rộng mở và Hội Thánh tràn ngập dân ngoại như chúng ta thấy ngày nay.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông đồ rao giảng danh thánh Đức Giêsu bằng tiếng mẹ đẻ của mình, tức tiếng Aram, nhưng ai nấy đều hiểu trong ngôn ngữ riêng của từng quốc gia, dân tộc họ đang sống, không cần thông ngôn hoặc phiên dịch. Nghĩa là từ nay nội dung Tin mừng không thể giới hạn vào ngôn ngữ ,phong tục nào. Hiểu được trong ngôn ngữ của mình, tức là Người nói, kẻ nghe đều là một, một quốc tịch, một tiếng nói, không xa lạ, không phân chia. Thiên Chúa đã bãi bỏ mọi rào cản để chúng ta đến được với nhau như anh em, hiểu được nhau, và trở nên một dân, một nước .

Xin trở lại biểu tượng hành động của Chúa Thánh Linh : Lửa và gió thổi mạnh. Đây là những biểu hiện thần linh mạnh mẽ và uy quyền, không dễ gì mà điều khiển được. Những ai được Chúa Thánh Thần ngự trị, cũng có những đặc tính ấy, họ là khí cụ của Chúa Thánh Thần. Chúng ta không làm cho họ yên lặng được, chúng ta không ép buộc họ phải hành động theo khuôn phép thanh lịch của giáo hội hay xã hội được. Họ chẳng để cho chúng ta yên ổn trong những nếp sống truyền thống cố định của các tập tục cổ xưa.

Giống như các tông đồ, họ can đảm mạnh dạn đứng trước các đám đông công bố những điều mà Thiên Chúa đã truyền cho họ nói. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa phán bảo và hành động ở bất cứ nơi đâu Ngài chọn. Không ai được phép quản lý Ngài, tuyệt đối không một xã hội nào, tổ chức tôn giáo nào có quyền đòi hỏi Thiên Chúa về phe với mình. Thế nhưng cứ theo trình thuật hôm nay, Thần Khí Chúa hiện xuống nơi đâu người ta “tụ họp với nhau”. Cơ may có thần khí trở nên rõ ràng nếu chúng ta họp nhau lại như trong thánh lễ hôm nay. Là môn đệ nhiệt thành của Chúa Giêsu, chúng ta luôn luôn ước ao được phục vụ Ngài, nhưng cũng luôn luôn cảm thấy mình yếu đuối, đầy tính mê nết xấu, tâm thân lung lạc, trí lòng phân tán, nguội lạnh, rã rời, lóa mắt trước những cám dỗ của thế gian. Nhưng mỗi chúa nhật lại họp nhau với đức tin đổi mới để nghe Lời Chúa, cử hành thánh lễ và Thiên Chúa lại ban thần khí của Ngài trên cộng đoàn giáo xứ.

Các biểu hiện, có lẽ không ngoạn mục như trong sách Tông đồ Công vụ, nhưng chắc chắn là có, bởi đây cũng là một phần của vở kịch “Công vụ của Thần khí”. Vai chính trong vở kịch đã nhập cuộc, đã đốt lửa đức tin, đức cậy, đức mến của cộng đoàn này, đã khơi dậy ngọn gió nhiệt thành để chúng ta mang đi chia sẻ với đồng bào còn đang đứng ở” ngoài cửa” chờ đợi . Amen.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Tác động của Chúa Thánh Thần
(Ga 20,19-23)

 Trong bữa tiệc ly, Chúa Giê-su đã hứa với các môn đệ : khi Ngài về cùng Chúa Cha, Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần xuống. Vì thế, sau khi sống lại, vào chính buổi chiều ngày phục sinh, Ngài đã hiện ra thổi hơi vào các môn đệ và tuyên bố : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. Như vậy, Chúa Giê-su đã ban Chúa Thánh Thần và các môn đệ đã nhận được Chúa Thánh Thần ngay chiều ngày phục sinh, nhưng không có một sự thay đổi nào nơi các môn đệ và cũng không có một dấu lạ nào.

Năm mươi ngày sau, kể từ ngày Chúa Giê-su sống lại, và mười ngày, kể từ khi Chúa lên trời, ơn phúc và quyền hành đó được kiện toàn, được bổ túc, hay đùng hơn, được triển nở hoàn toàn đầy đủ, bằng việc Chúa Thánh Thần hiện xuống, với những dấu hiệu bề ngoài và những sự thay đồi rõ ràng nơi các tông đồ, những dấu hiệu bề ngoài đó là gió và lưỡi lửa. Thực vậy, Chúa Thánh Thần đã đến như một ngọn gió lớn ùa vào trong căn phòng các môn đệ đang cầu nguyện. Cơn gió tượng trưng cho sức sống, khi nhẹ nhàng, khi mãnh liệt, được truyền vào trong lòng các tông đồ. Cụ thể hơn nữa, Chúa Thánh Thần đã đến dưới hình lưỡi lửa : lửa để chỉ sự hăng say, lưỡi để nói. Đó là dấu hiệu rõ ràng các tông đồ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, và các ông sẽ hăng say dùng miệng lưỡi để rao giảng Tin Mừng.

Còn những thay đổi bề ngoài, chúng ta thấy các tông đồ đã thay đổi hoàn toàn, từ một Phê-rô yếu đuối và nhát sợ khi xưa trở thành một Phê-rô chứng nhân sáng suốt và can đảm, đến nỗi những người đã biết Phê-rô khi trước không còn nhận ra ông nữa, Tất cả các tông đồ khác cũng vậy, từ những người nhát sợ, yếu đuối, chậm hiểu, hám danh, tham lợi, trở thành những người mạnh mẽ, can đảm, hiểu biết, coi thường danh lợi và sẵn sàng làm chứng cho Chúa. Đó là công việc của Chúa Thánh Thần.

Từ đó cho đến nay, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục tác động như thế trong cả Giáo hội và nơi mỗi người chúng ta, ơn Chúa Thánh Thần hoạt động trong chúng ta, sẽ đổi mới tâm hồn và cuộc sống chúng ta, sẽ hướng dẫn chúng ta biết làm thế nào cho phù hợp với Tin Mừng nhất.

Ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống hôm nay, chúng ta không được hân hạnh thấy các dấu lạ như các tông đồ xưa kia : không thấy gió thổi, không thấy lưỡi lửa, và cũng không có ai nói tiếng lạ... Nhưng thực sự Chúa Thánh Thần vẫn xuống trên Giáo hội, vẫn hoạt động mãnh liệt trong Giáo hội và trong cuộc sống mỗi người chúng ta. Thực vậy, đọc sách Công Vụ Tông Đồ cũng như các thư của thánh Phao-lô, chúng ta thấy trong buổi đầu của Giáo hội, các tín hữu được những ơn rất lạ lùng của Chúa Thánh Thần, như nói các thứ tiếng, nói tiên tri, chữa lành bệnh tật, can đảm xưng mình là Ki-tô hữu, sống yêu thương đùm bọc lẫn nhau, không sợ gian khổ, sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho Chúa. Ngày nay, một số ơn không còn thường xuyên nữa, có lẽ một phần vì tập quán đạo giáo ngày nay đã thay đổi, một phần vì lúc đặt nền móng của Giáo hội cần có những ơn ấy hơn bây giờ. Nhưng ngày nay, hầu hết các ơn của Chúa Thánh Thần có vẻ “thông thường” hơn, đến nỗi chúng ta gặp được khắp nơi.

Chẳng hạn, không một sức mạnh nào của khoa học kỹ thuật, của quyền lực thế gian, làm mềm được trái tim con người đã thành sắt đá, hay chuyển đổi lòng dạ con người từ cõi âm u của lạnh nhạt, ghen ghét, hận thù qua miền ánh sáng của tình nghĩa, của yêu thương. Chỉ “quyền năng của Thánh Thần”, chỉ sức mạnh của lòng tin bằng hạt cải ngày hôm qua cũng như ngày hôm nay có thể đẩy một cha Côn-bê bước lên mấy bước để tình nguyện chết thay cho một bạn tù còn trách nhiệm với một vợ và bảy con. Hoặc là có thể đưa một bà cụ trên 80 tuổi như mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta tiếp tục đi hết nước này đến nước khác để phục vụ những con người khốn khổ.

Cũng vậy, chính sức mạnh của Thánh Thần giúp cho lòng chung thủy thầm kín của vợ chồng với nhau; giúp cho các bà mẹ gia đình chu toàn bổn phận trong âm thầm; tăng nghị lực, can đảm cho người bạn trẻ chống lại các cám dỗ; giúp cho người tín hữu ham thích cầu nguyện trong thinh lặng, kiên nhẫn trong lúc đau khổ và vui mừng vì có lương tâm ngay thẳng... Từ đó cho đến nay, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục tác động như thế trong cả Giáo hội và nơi mỗi người chúng ta. Tóm lại, Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng ta biết làm thế nào cho phù hợp với Tin Mừng nhất. Vì thế, chúng ta hãy sống theo sự soi sáng và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để mọi người thấy Chúa Thánh Thần hiện diện nơi chúng ta và đang hoạt động qua chúng ta.


Giuse Hà Đình Tuấn op

HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN
(Ga 14,15-16.23b-26)

Kính thưa cộng đoàn,

Sau khi phục sinh, các môn đệ của Đức Giêsu vẫn không thể nào hiểu hết và thấu cảm hết những lời dạy và những hành động yêu thương mà Thầy đã làm cho các ông trong những năm ra đi loan giảng Tin mừng Bình an của Thiên Chúa. Một mặt các ông còn u mê và khó tin ; Một mặt các ông còn quá sợ hãi những nhà lãnh đạo Do Thái lúc bấy giờ ; Mặt khác, nếu chỉ lấy sức phàm trần mà hiểu về Thiên Ý thì e rằng cũng không thể… Đứng trước nỗi lòng ấy, Đức Giêsu Phục Sinh đã hứa ban Thánh Thần đến và ở với các môn đệ để dạy dỗ, hướng dẫn, soi sáng và thêm sức mạnh cho các ông sống xứng đáng với ơn gọi của mình là môn đệ Đức Giêsu.

Lễ Chúa Thánh Thần hôm nay có ý nghĩa rất lớn đối với Mẹ Giáo hội, là ngày khai sinh Mẹ Hội thánh. Nhìn vào bản thân mình, mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng đã nhận được ơn của Chúa Thánh Thần ban xuống ngày chúng ta nhận lãnh Bí tích Thêm Sức. Xin cho mỗi người chúng ta, trong giờ chầu Thánh Thể này, được ơn ý thức sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời của mỗi chúng ta, để cuộc đời chúng ta được biến đổi và trở nên mạnh mẽ hơn trong việc giữ đạo, yêu mến Chúa và yêu thương anh chị em của mình.

"Hãy nhận lấy Thánh Thần" là lời ngỏ của Chúa Phục sinh dành cho các tông đồ hèn nhát của mình. Đó là Thần khí mà Chúa Phục sinh luôn ấp ủ trong hành trình loan giảng Tin Mừng Cứu Độ. Hôm nay, Chúa Kitô Phục sinh thổi hơi Thần Khí cho các môn đệ và tất cả những ai tin vào Ngài đều được mang lấy tâm tư, tình cảm, ước muốn, hy vọng, chọn lựa, ứng xử như Ngài vậy. Muốn trở thành con người mới, mỗi người phải đón nhận Thần khí của Chúa Phục Sinh thổi vào linh hồn mình, thổi vào con tim và thổi vào trong cuộc đời mình. Mầu nhiệm tự hủy nơi Chúa Kitô Giêsu là biến cố Thiên Chúa hủy mình ra không để Chúa Thánh Thần được tràn đầy và sống động nơi Đức Giêsu. Đức Kitô Giêsu đã chiến thắng tử thần, thân thể bằng xương bằng thịt của Ngài hôm nay đã được “Thần Khí Hoá”. Từ đây, Người sống hoàn toàn bởi Thần Khí, vì chỉ Thần Khí mới làm cho sống còn xác thịt thì có ích gì (Ga 6,36).

Qua mầu nhiệm Phục Sinh, vị trí của Chúa Thánh Thần trong giáo hội ngày càng nổi bật. Chúng ta thường tuyên xưng trong kinh Tin Kính rằng ; Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Ơn ban sự sống này, chính Đức Giêsu là người trước tiên nhận được. Đức Kitô Phục Sinh biết rằng không thể thiếu vắng vai trò của Chúa Thánh Thần, chính vì thế, việc Chúa Phục sinh làm đầu tiên sau khi về Trời, là gửi Thánh Thần đến hướng dẫn, thánh hoá, dạy bảo và ở lại với các môn đệ yếu đuối, nghi nan. Thánh Thần còn làm thay đổi hoàn toàn nơi những con người quê mùa, dốt nát, và nhút nhát trước đó, nay biến thành những con người thông thái, hiểu biết, mạnh dạn, can đảm và có khả năng thuyết phục mọi người.

"Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em... Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20, 21–22). Lời chúc bình an, lời sai đi, và việc lãnh nhận Thánh Thần đi chung với nhau. Như vậy, việc lãnh nhận Thần khí Phục sinh là để thực hiện sứ mạng mà Đức Giêsu ủy thác. Chúa Thánh Thần làm cho tâm hồn các tông đồ bình an, giúp các ông có đủ can đảm để công khai làm chứng cho Đức Giêsu. Làm chứng cho Đức Kitô Phục sinh là giới thiệu cho thế giới một con người sống động. Loan báo Tin mừng Cứu độ là tiếp nối những hành động yêu thương cụ thể của Đấng Cứu Thế cho anh chị em đồng loại bằng một trái tim biết yêu thương và cuộc sống dấn thân phục vụ.

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm nay, điều mỗi người chúng ta mong ước không phải là những hiện tượng lạ như gió thổi ào ào, lưỡi lửa trên đầu hay được nói những thứ tiếng lạ, nhưng chúng ta mong chờ được biến đôi sâu xa và toàn diện trong tâm hồn. Chúng ta được mời gọi hãy nhớ lại rằng mình đã từng nhận lãnh Thánh Thần : một sứ mạng đã được trao ban khi chịu Phép Rửa để thánh hiến cho Thiên Chúa, và trong Bí tích Thêm Sức, khi được đặt tay để trao ban Thánh Thần. Sứ mạng ấy lâu nay như hạt giống còn đang nằm ẩn chìm trong tâm hồn và con người mỗi chúng ta, chờ ngày phát sinh, đơm hoa kết trái. Cần phải nhớ lại và cầu xin cho mình có được sức mạnh từ Chúa Thánh Thần, để có thể mở tung cánh cửa tâm hồn ra với mọi người ; để can đảm làm chứng cho sự thật, làm chứng cho Tin Mừng như các Tông đồ ngày xưa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Sự bình an của niềm vui Phục sinh mà Ngài ban tặng sẽ lấy đi tất cả những gì là giả tạo, gian dối đang ẩn sâu trong từng phận người chúng con. Sự bình an của Chúa Thánh Thần đã thêm sức cho các tông đồ năm xưa, cũng ban cho những người tin hôm nay lòng can đảm, dám vượt ra khỏi sự nhàm chán của thế tục, đưa vào cuộc chiến đấu mới với con người mới, làm cho từng người chúng con can đảm hóa thân vào đau khổ để biết trao ban bình an. Sự bình an đích thực chúng con nhận được từ Thánh Thể Ngài mỗi ngày và giây phút này đây là sự tươi mát và dịu êm của Thần khí Sự sống. Như vậy, ai đến với Thánh Thể Ngài đều nhận được Chúa Thánh Thần mời đổi mới tâm hồn, chia sẻ bình an, trao tặng tình yêu để nhân loại được sống và sống dồi dào.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Nhận được Chúa Thánh Thần mà Ngài ban tặng, mỗi người Kitô hữu chúng con đều thấy mình có bổn phận đi đến với anh chị em để nói lời bình an, trao tặng tình thương và kiến tạo hòa bình đích thực. Mỗi ngày sống trôi qua, nhân loại còn đó biết bao người đang đau khổ, đang cô đơn, đang ê chề trong cuộc sống và trong hành trình đức tin. Biết bao người đang phải đối diện với bệnh tật, sự băng hoại, xem thường những giá trị đạo đức, coi nhẹ tình bác ái huynh đệ… Xin ban cho chúng con Thánh Thần và bình an đích thực từ Thánh Thể Chúa, để cuộc sống chúng con được bình an, gia đình chúng con được yên vui, cộng đoàn chúng con được hạnh phúc. Để trong mỗi biến cố, hoàn cảnh của cuộc đời, chúng con đều lắng nghe được lời mời từ Chúa Phục Sinh “Bình an cho con, con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần”.


Fr. Jude Siciliano, op

Luôn Đón Nhận Thánh Linh Trong Cuộc Sống
Ga 20,19-23

Thưa quý vị,

Trước khi vào nội dung ngày lễ, chúng ta nhìn lại lai lịch của tên gọi lễ Năm Mươi (pentecost). Lễ Năm mươi không khởi đầu khi “lưỡi lửa” xuất hiện với tiếng động và gió mạnh, rồi tản ra đậu trên các môn đệ Chúa Giêsu. Nó có nguồn gốc từ xa xưa trong truyền thống Dothái. Nó là lễ Nông Nghiệp, cử hành 50 ngày sau lễ Vượt Qua, gọi là lễ của các tuần hoặc lễ bánh không men. Người ta ăn mừng mùa gặt mới, đồng thời nhớ lại biến cố Thiên Chúa ban hành lề luật qua Môsê trên núi Sinai. Y nghĩa này nói lên tuyển dân là dân giao ước, Thiên Chúa đã chọn và gọi giữa các dân tộc và trong thử thách sa mạc Sin.

Dĩ nhiên trên đây không phải là lịch sử chi tiết của ngày lễ, nhưng để chúng ta có chút khái niệm về nguồn gốc và ngộ ra nội dung súc tích của lễ này đối với tín hữu tiên khởi. Như vậy lễ Năm Mươi có liên hệ trực tiếp với lễ Vượt Qua, kỷ niệm khổ nạn, cái chết, phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu. Nó cũng mừng mùa gặt mới. Bởi lẽ các môn đệ tụ họp nhau ở gian phòng trên lầu, nơi Chúa Giêsu ăn bữa tiệc ly cùng các môn đệ, để lãnh nhận “Thánh Thần”, nghĩa là mùa gặt mà Chúa Giêsu đã gieo trồng bằng cuộc đời, khổ nạn, cái chết, phục sinh và lên trời của Ngài. Chắc chắn mùa gặt này đầy nước mắt và đau khổ. Xin để ý đến miêu tả của Luca trong công vụ: “Khi đến ngày lễ ngũ tuần… Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào nhà… Và ai nấy đều được tràn đầy Thánh Thần, họ bắt đầu nói thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho…” Ngoài ra thánh sử còn cho biết đám đông người mà các môn đệ lôi kéo đến nghe lời Thiên Chúa, là từ “khắp các dân thiên hạ dưới gầm trời”. Nghe gọn gàng như “mùa gặt” thiêng liêng do công nghiệp của Chúa Giêsu. Vậy thì lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống không mất đi nguồn gốc “Năm Mươi”, lễ mừng mùa gặt mới. Cựu Ước nói đến tuyển dân lang thang trong sa mạc tụ tập lại ở chân núi Sinai đón nhận lề luật và nghe Thiên Chúa giáo huấn qua Môsê. Các tiên tri tiếp tục truyền thống đó: “Ngài sẽ thiết đãi họ trên núi này một bữa tiệc, thịt thì béo, rượu thì ngon.” Hôm nay Luca cũng mô tả cảnh tương tự; các người Dothái đạo đức từ khắp các nơi quy tụ về Gierusalem: Từ Pacthia, Mêđia, Pontô, Elam… để nghe các tông đồ rao giảng và chứng kiến các điềm thiêng dấu lạ.

Cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi này, sau khi nhận được ơn Chúa Thánh Thần thì đã mở rộng lòng đón tiếp các dân tộc: “Chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa.” Nhân loại đã xây tháp Babel để biểu lộ kiêu căng và thờ ngẫu tượng của mình, hậu quả là không hiểu nhau nữa, phải phân tán khắp nơi, tiếng nói trở nên hỗn loạn. (St 11, 1-9). Vậy thì Babel là dấu hiệu của chia rẽ.

Hôm nay, Chúa Thánh Linh là dấu hiệu của sự hợp nhất. Trật tự cũ đã qua đi và kỷ nguyên mới hợp nhất đã khởi đầu. Thánh Thần là nguyên lý của hiệp nhất đó. Cho nên Luca nhiều lần nhắc đến sự hiện diện thần khí trong Giáo Hội tiên khởi. Thí dụ, Đức Maria rợp bóng Thánh Linh khi thụ thai Chúa Giêsu, Elizabeth, Dacaria, Simeon, Anna đều được Thánh Thần thúc đẩy, họ đầy niềm vui mà dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Thánh Thần luôn có mặt trong sứ vụ của Đức Giêsu. Sứ vụ khởi sự bằng Thánh Thần ở bờ sông Giođan. Hôm nay các môn đệ cũng chịu phép rửa trong Thánh Thần để bắt đầu công việc loan báo Tin Mừng cho thế giới. Đúng vậy, Công Vụ khởi đầu bằng việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên Hội Thánh non trẻ, chẳng mấy chốc sẽ “hành động” một cách rất tích cực, nhờ Thánh Linh, mà loan truyền danh Đức Kitô cho đến tận cùng hành tinh, bất chấp vất vả, khó khăn, bách hại và cái chết. Suy nghĩ đến đây tôi lại thấy xót xa cho những nhà truyền giáo trong nhung lụa, tiện nghi, biện minh rằng để “tiện lợi” cho việc tông đồ. Người ta quen đặt tên cho Công vụ là Phúc Âm của Thánh Linh. Điều đó không hề sai, nếu chúng ta nghiền ngẫm hoạt động của Ngài trong Hội Thánh tiên khởi. Luca kể tiếp: Các môn đệ nói nhiều thứ tiếng mới lạ và mỗi thính giả đều nghe và hiểu như tiếng mẹ đẻ. Dĩ nhiên các môn đệ không hề học tiếng nước ngoài, họ chỉ nói bằng tiếng Aram mà thôi. Nhưng tại sao mọi người đều hiểu được? Vậy thì phải có một ngôn ngữ chung, tiếng nói đó chẳng chi khác là chính Thánh Thần của tình yêu. Yêu thương là ngôn ngữ chung mà mọi người đều hiểu được, bất kỳ là Dothái, Hylạp, Rôma, Tiểu Á, Ả Rập…Công Vụ gọi là tiếng “mẹ đẻ”. Y nghĩa thật sâu sắc! Chúng ta ngày nay rao giảng bằng ngôn ngữ gì? Có lẽ tiền bạc, chức quyền, khoái lạc, hứa hẹn? Toàn là mị dân, thảo nào, chẳng ai hiểu được! Xin ăn năn và trở về với “lưỡi lửa” của tình yêu. Lưỡi lửa của yêu mến, nhiệt thành, hy sinh, khổ chế thì muôn dân mới hiểu được. Nếu không, thì họ vẫn nghe như tiếng nước ngoài, không phải tiếng mẹ đẻ. Xin lưu ý một chút, nếu đọc Công Vụ kỹ hơn người ta sẽ khám phá ra: Luca không kể nhiều về việc các tín hữu tiên khởi làm chi, nhưng là về những người đã lãnh nhận Thánh Linh có thể làm gì bằng “lưỡi lửa”. Họ bắt đầu gặt, gặt bội thu mùa màng Chúa Giêsu đã gieo trồng, với giá máu của mình. Vậy thì lễn Năm Mươi vẫn chính xác là lễ “mùa gặt mới”. Chúng ta góp công thế nào vào mùa gặt thiêng liêng này? Câu trả lời tuỳ mỗi người.

Trong khi thuật chuyện về các hoạt động của Thiên Chúa cho nhân loại, Tin Mừng cũng nhấn mạnh khía cạnh quan trọng “đợi chờ”. Sự thực, những linh hồn Kinh Thánh trung tín hằng luôn biết đợi chờ. Họ “chờ đợi” hàng nhiều thế kỷ, từ lớp người này đế thế hệ khác, đợi chờ không mệt mỏi như Simêon, Anna. Họ khao khát ngày Đấng Thiên sai ngự đến. Bây giờ Giáo Hội vẫn sử dụng lời cầu xin của họ: “Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hỡi mau mưa Đấng Cứu Tinh!” Cảm động biết bao trước tấm lòng kiên nhẫn của các tổ phụ chúng ta trong đức tin! Sau khi Chúa phục sinh và lên trời, các môn đệ lại được truyền lệnh chờ đợi! Họ hy vọng Thiên Chúa sẽ làm tròn lời hứa ban Thần Khí lấp đầy khoảng trống do việc Chúa lên trời tạo ra. Ngày hôm nay là ngày ứng nghiêm lời hứa đó. Và chúng ta nhận biết ý nghĩa của nó to lớn biết mấy cho Hội Thánh, cho mỗi linh hồn từng thế hệ! Nhưng chúng ta vẫn còn chờ đợi, khát khao Chúa trở lại trần gian lần thứ hai trong vinh quang. Tuần trước chúng ta đã suy niệm về hy vọng này: Maranatha – Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến.

Nhưng chẳng tìm đâu trong Tin Mừng thấy nói hãy gạt sang bên công việc và ngồi đấy đợi chờ: “Hỡi những người Galilêa sao còn đứng đó, ngó lên trời làm chi!” chúng ta phải trở về với thực tại của thế giới cụ thể hàng ngày. Người tín hữu không phải là kẻ mộng du, sống trên mây, trên gió rồi lý thuyết xuông, hay hồ đồ tưởng tượng. Chúa Kitô đã gởi Chúa Thánh Thần xuống và chúng ta đã lãnh nhận. Hãy bắt trước các tông đồ, ra đi khắp thế gian rao giảng Đấng phục sinh cho muôn dân, dạy dỗ họ hy vọng lớn lao: thân xác dầu phải chết, cũng sẽ sống lại. Còn sứ vụ nào cao quý và chân thật hơn? Đấu tranh giai cấp, thần học giải phóng, hiện sinh, tiến hoá, Freud, Jung, Karl không thể so sánh bằng. Đốt cháy cả bản thân bằng lửa nhiệt thành truyền giáo vẫn chẳng nhằm nhò gì! Quý vị có cảm nhận như vậy chưa? An hưởng sung sướng, tiện nghi không mang ích lợi cho sứ vụ Chúa trao trong thời gian “đợi chờ” này. Chúng ta là một cộng đồng “chờ đợi” với các môn đệ tiên khởi của Chúa Giêsu, hoặc xa hơn nữa với các tổ phụ Dothái trong đức tin chân chính. Bằng bất cứ giá nào, chúng ta phải hợp lời với họ, than van cầu xin: Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hỡi mau mưa vị cứu tinh, Maranatha, lạy Chúa Giêsu xin mau ngự đến.

Vì thế giới này chưa phải là thiên đàng để vui hưởng khoái lạc. Một cái nhìn nhang chóng vào tình hình địa cầu ắt sẽ hiểu rõ ràng như vậy: Nghèo khó, chiến tranh, chém giết, Iraq, Dafur, Afghanistan, di dân khỏi quê hương, lánh nạn chính trị. Các chuyên gia liên hiệp quốc tính toán đến nay là 15 triệu người. Có chuyên gia nói 18 triệu. Chưa hết, chia rẽ giáo xứ, tu viện, đoàn thể, ly khai khỏi Giáo Hội hoàn vũ vẫn là vấn đề nhức nhối triền miên của các môn đệ Chúa Kitô. Đáng lý, những sự kiện này phải là nhắc nhớ sống động cho chúng ta, chứ không phải nhởn nhơ với những Tivi, radio, thư giãn, dã ngoại, đình đám, kỷ niệm. Than ôi, người ta vô tâm quá với khắc khoải “ut unum sint”(xin cho chúng nên một) của Chúa Cứu Thế. Chúng ta vẫn còn là cộng đồng chờ đợi. Chúng ta than khóc và van xin cho các đau khổ của thế giới chấm dứt, cho đổ vỡ của Giáo Hội được hàn gắn, cho gia đình và thiên nhiên khỏi bị phá hoại, cho ước mong của Chúa Giêsu mau trở thành hiện thực.

Vậy lễ Hiện Xuống phải nên như biến cố nhắc nhở môn đệ thực sự của Chúa Kitô: Thiên Chúa không hề bỏ rơi Hội Thánh. Chúa Giêsu tuy không còn hiện diện hữu hình nữa, nhưng như Ngài đã hứa không để tín hữu mồ côi, Ngài sẽ sai Thánh Linh xuống dạy dỗ, an ủi, thánh hoá họ. Hôm nay, lời hứa đó đã được thực hiện và Giáo Hội đã ra đời, một cuộc khai sinh đầy hứa hẹn. Các môn đệ quy tụ ở phòng tiệc ly đã trở nên một cộng đồng, có đầy đủ thân xác và linh hồn. Thân hình này khởi sự một sức sống mới, thở hơi thở của Thần khí vĩnh cửu và toàn năng. Dùng hình ảnh khác, nói năng bằng ngôn ngữ mới “lưỡi lửa”, ngõ hầu hiệp nhất mọi sinh linh phân tán vì hận thù, ghen ghét, bóc lột, áp bức, độc taì, nghèo đói, kỳ thị… Liệu đúng là một dịch vụ vĩ đại chăng? Và môn đệ Chúa phát ngôn bằng tiếng mới lạ chăng? Các dân trên toàn cõi đĩa cầu nghe Tin Mừng và thấu hiểu chăng? Vì các môn đệ nói bằng tiếng “mẹ đẻ” chứ không nói bằng thứ ngoại ngữ khó hiểu. “Ngoại ngữ” thuộc về dĩ vãng và là tiếng của ma quỷ lừa dối. Liệu chúng ta có đúng là nam châm thu hút thiên hạ về với Chúa Kitô hay chỉ là kẻ làm trò?

Người ta rao giảng nhiều về hiệp nhất và tình yêu, nhưng chỉ là mông lung tưởng tượng chứ thực chất không hiểu chi về ý nghĩa của lưỡi lửa. Nó cụ thể, hữu hình và đốt cháy. Các môn đệ tiên khởi đã cảm nghiệm đúng thực tại ấy, các kẻ theo Chúa ngày nay thì sao? Nếu như họ được lưỡi lửa thiêu đốt thực thì không còn như hiện trạng, nguội lạnh và ươn lười. Thiên Chúa luôn sẵn sàng gửi Thánh Linh của Ngài xuống, để giúp đỡ họ giao lưu thân thiện với Đức Kitô, bất chấp những sự ác hiện tại: chiến tranh khốc liệt, nghèo đói cùng cực, khai thác tài nguyên cạn kiệt, bạo lực không phân biệt.

Liệu quý vị có nghĩ rằng biến cố hiện xuống mà Luca mô tả trong Công Vụ tông đồ đã chấm dứt? Chúa Thánh Linh hiện xuống trên các môn đệ rồi rời bỏ họ ngay? Hay ở lại luôn? Đọc hết Công Vụ không thấy Luca nói như vậy. Ngược lại, hoạt động của Phaolô, Phêrô, Barnaba, Philipphê, Marcô, Luca và Giáo Hội tiên khởi cho thấy họ ý thức rất rõ sự hiện diện của Thánh Linh trong đời sống Giáo Hội. Cho nên, chúng ta phải thú nhận rằng, Thánh Linh còn đang ở với chúng ta. Và các tín hữu vui mừng cử hành lễ Hiện Xuống là đúng lý và có cơ sở.

Cho nên đừng môi miệng suông, rao giảng những điều mình chẳng hiểu vì chưa cảm nghiệm được Thánh Linh. Xin hãy phá vỡ mọi ngăn cách cản trở con đường của Thánh Linh bằng những kiêu căng, kỳ thị, phe phái, loại trừ mà bắt đầu hành động như các tín hữu tiên khởi, mở rộng lòng đón nhận tất cả dưới “lưỡi lửa” của tình yêu. Không còn chia rẽ, phân tán, thất vọng, bất đồng ý kiến, thương yêu giả hiệu, lừa dối trục lợi. Nhưng hiệp nhất trong mối dây tình yêu chân thành. Bởi vì hôm nay, chúng ta nhận được Thần Khí Đức Kitô để sống như Ngài đã sống. Quyền năng của Ngài bây giờ là quyền năng của chúng ta. Đúng vậy không thưa quý vị? Vậy thì hôm nay, ngày mai, mãi mãi chúng ta được phép cử hành trọng thể lễ Hiện Xuống và ước vọng hiệp nhất của Chúa kitô đã nên trọn, mong lắm thay. Amen, Alleluia.

 
Đỗ Lực op

Truyền Thông Và Lửa
(Ga 20:19-23; Cv 2:1-11)

Giữa cảnh rừng khuya, ngọn lửa bập bùng. Những hình ảnh huyền thoại lũ lượt kéo về vùng tâm tư hoang lạnh. Lòng người bừng lên nguồn hứng khởi vô biên. Hiện tại và quá khứ như quyện vào nhau theo ánh lửa ngày càng dâng cao. Ngọn lửa đã làm bùng dậy mạch sống con tim. Ngọn lửa nối liền lòng người. Niềm vui trào lên trong lòng tuổi trẻ. Màn đêm như ngừng trôi. Tất cả bắt đầu một nhịp sống mới, dù ngày đã tàn lụi ...

Sau cảnh biệt ly trên núi Olivê tiễn Thày về trời là đêm trường thương nhớ trong lòng các môn đệ. Niềm vui không xóa nổi nỗi nhớ. Bỗng nhiên, ngọn lửa Thánh Linh thắp lên. Tất cả đã thay đổi. Một thế giới mới bắt đầu.

SỨC MẠNH THẦN KHÍ

Thế giới mới bắt đầu ngay lúc Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Quang cảnh vô cùng ngoạn mục : “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.” (Cv 2:1-4) Nhiều hình ảnh cho ta cảm tưởng ngọn lửa Thánh Linh chỉ đậu trên đầu Mười Hai Tông đồ. Thực tế, mọi người hiện diện đều đón nhận ngọn lửa Thánh Thần. Cả một biển lửa bùng lên.

Không phải vô tình Thánh Linh lấy hình ngọn lửa để công bố một thế giới mới. Bất cứ vật gì chạm tới lửa đều phải thay đổi. Thánh Linh muốn biến mọi tín hữu thành những ngọn lửa thiêu đốt trần gian. Miệng lưỡi các tín hữu tiên khởi đã thành những ngọn lửa biến đổi môi trường. Mọi người kinh ngạc không phải vì tài thông thạo ngoại ngữ lạ lùng của các tín hữu, nhưng vì ngôn ngữ và văn hóa của mình vẫn được tôn trọng nguyên vẹn khi đón nhận đức tin. Mọi khác biệt đều tìm được hiệp nhất trong Thần Khí.

Chính ngọn lửa Thánh Linh khiến tiếng nói các tín hữu soi thấu tâm hồn và mở mắt cho các dân tộc nhận biết những kỳ công của Thiên Chúa. Kỳ công của Thiên Chúa không phải là những công việc bên ngoài, nhưng là chính sự hiệp nhất trong chân lý đức tin nơi Chúa Kitô. Ðó là công trình của Thần Chân Lý. Chính Thần Chân Lý đã mở mắt muôn dân nhìn ra sự thật về Thiên Chúa và con người. Từ đó, họ mới thấy con đường trở về với Thiên Chúa tình yêu và chấp nhận nhau như anh em.

Chính nhờ sự thật, Thần Khí thánh hóa và làm cho cá nhân cũng như dân Chúa nên thánh. Chúa Thánh Linh đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Từ cuộc tạo dựng đến ngày thế mạt, Thánh Linh luôn là quyền năng Thiên Chúa làm nên lịch sử. Thần Khí thay đổi vạn vật. Thân xác tơi tả của Chúa chịu đóng đinh trở thành thân thể vinh quang của Chúa Phục Sinh. Lời loài người “chuyên chở” lời Thiên Chúa. Bánh trở thành Mình Thánh Chúa Kitô. Giáo Hội thành điềm báo Nước Trời …

LỬA TRUYỀN THÔNG

Ðức tin không hủy diệt, nhưng nâng cao văn hóa dân tộc. Hơn nữa, đức tin tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Thực thế, “Thiên Chúa muốn được tôn vinh và chúc tụng bằng mọi thứ ngôn ngữ, mọi nền văn hóa. Như thế mới hiển thị rõ nét sự đa dạng đa năng giữa các chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô (1 Cr 12:12-13), cũng như được hiển thị rõ nét công trình của Chúa Giêsu và Thần Khí của Người là quy tụ về một mối những con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi (Ga 11:52).” (1) Tất cả đều do ngọn lửa Thánh Linh tác động trực tiếp đến công cuộc truyền thông của các tín hữu tiên khởi.

“Tự bản chất, truyền thông là truyền giáo.” (2) Thực vậy, các dân tộc phải thú nhận: “Chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa.” (Cv 2:11) Các tín hữu tiên khởi là khuôn mẫu cho những ai đang làm truyền thông hôm nay. Họ không có những phương tiện hiện đại, nhưng nắm rất vững các nguyên tắc truyền thông như sau :

Nội dung : những kỳ công của Thiên Chúa nơi cái chết và sự phục sinh của Ðức Giêsu Kitô. Chúa Kitô đã chết vì loan báo Tin Mừng cứu độ. Người là nhà truyền thông lý tưởng vì chỉ biết làm chứng và truyền thông sự thật. Tất cả cuộc đời Người là một kỳ công tuyệt vời của tình yêu Thiên Chúa. Các tông đồ và các Kitô hữu đã tìm mọi dịp để loan báo cho muôn dân biết Ðức Giêsu là “con đường, sự thật và sự sống.” (Ga 14:6) Họ đã lấy máu đào để minh chứng Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống đến trần gian để cứu độ nhân loại.

Phương tiện : ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc. Các tông đồ và tín hữu tiên khởi đã xử dụng phương tiện truyền thông đơn giản nhất là ngôn ngữ của mình. Nhưng khi nghe họ giảng, các dân tộc “đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.” (Cv 2:6) Ðiều lạ lùng ấy chứng tỏ Thánh Linh muốn tách biệt Giáo Hội khỏi Do thái giáo. Muốn theo Do thái giáo, người tân tòng bắt buộc phải từ bỏ ngôn ngữ và văn hóa của mình. Ngược lại, Thánh Linh muốn phá tung mọi biên giới để Giáo Hội nhập thể vào văn hóa của các dân tộc. Bởi thế, ngay phương tiện truyền thông cũng đã cho thấy công giáo tính của Giáo Hội.

Mục đích : hiệp nhất muôn dân trong Ðức Giêsu Kitô. Truyền thông cũng như truyền giáo phải nêu cao mục đích hiệp nhất muôn dân như Chúa đã vạch ra. Ðây là sứ mệnh cao cả nhất Chúa đã trao phó cho Giáo Hội, nhất là cho những nhà truyền thông. Tất cả những gì gây chia rẽ Giáo Hội đều nằm ngoài mục đích này. Khi đã đánh mất mục đích, truyền thông còn có ý nghĩa và giá trị gì không ? Sự khác biệt không làm cho chúng ta phải xa cách và đối kháng nhau. Cần phải có một tinh thần cởi mở như Chúa Giêsu mới có đủ sáng suốt và kiên nhẫn tìm ra con đường đối thoại để hòa hợp và hiệp nhất.

Ðối tượng : muôn dân. “Không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Kitô.” (Gl 3:28) Không có ai bị gạt ra ngoài lề. Truyền thông Lời Chúa cho mọi người, dù họ là ai, ở trong tình trạng hay trình độ nào. Không có một thứ Lời Chúa dành riêng cho một đấng bậc nào. Tất cả đều bình đẳng trong việc đón nhận Lời Chúa. Toàn thể nhân loại phải là đối tượng của truyền thông Công giáo.

Nguyên tắc : phục vụ chân lý. Người truyền thông tiên khởi của Giáo Hội đã bước theo Ðức Kitô. Như Ðức Kitô, họ cũng là con đường để mọi người đi qua gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân. Họ là con đường dẫn mọi người đến sự sống và sự thật là Ðức Kitô. Tương tự Ðức Kitô, họ được kêu gọi và có sứ mệnh “làm chứng cho sự thật.” (Ga 18:37) Ðây là nguyên tắc quan trọng nhất. Giáo Hội luôn kêu gọi mọi giới truyền thông phục vụ chân lý. Các tin tức sai lạc và một chiều đã làm cho thế giới hôm nay nhiều rối loạn và làm con người mất hạnh phúc và tự do. Chỉ có chân lý mới giải thoát và đem lại sư hiệp nhất cần thiết cho Giáo Hội và xã hội. Chỉ có chân lý mới làm cho gia đình hạnh phúc và mở ra một tương lai tươi sáng. Bởi thế, nếu chỉ nhắm thỏa mãn tham vọng hay trục lợi, truyền thông không còn tuân thủ nguyên tắc tối cao và tối cần của mình nữa. Bao cuộc chiến tranh thiêu sống hàng triệu sinh linh cũng chỉ vì những thông tin sai lạc. Bao người đành phải sống kiếp trâu ngựa vì sự thật bị bưng bít hay xuyên tạc.

Ðộng lực : Thánh Linh. Trước khi muốn đốt sáng trần gian và biến đổi nhân loại, người làm truyền thông phải có ngọn lửa Thánh Linh trong lòng. “Thần Khí nói trong tâm hồn mỗi tín hữu, nơi Người cư ngụ, bằng cách làm cho họ nghe được ‘tiếng’ của Người. Đôi khi Người bảo họ tha thứ, phục vụ, cho đi, yêu thương. Người dạy họ đâu là sự thiện, đâu là sự ác. Người nhắc nhớ và làm cho họ thực hành Lời sống, Lời mà Tin mừng gieo nơi chúng ta. Kitô hữu phải bước đi dưới sức thúc đẩy của Thần Khí, ngõ hầu Người có thể tác động trong lòng họ với sức mạnh sáng tạo của Người, để đưa họ đến sự thánh thiện, đến chỗ được thần hoá cùng sống lại. Chúng tôi thường cho rằng cách thế tốt nhất để mến yêu Chúa Thánh Thần, tôn vinh Người, giữ Người hiện diện trong lòng chúng ta, chính là lắng nghe tiếng Người, tiếng có thể soi sáng chúng ta trong mọi giây phút của cuộc sống...” (3) Chính vì không được Thánh Linh thúc đẩy và bị ác thần hướng dẫn, nhiều người cố tình xuyên tạc sự thật, nhằm nô lệ hóa con người hay chia rẽ cộng đồng nhân loại và Giáo Hội.

SỨ MỆNH TRUYỀN THÔNG

Ngọn lửa Thánh Linh cũng đang tạo nên những sản phẩm khác nhau trong Giáo Hội và thế giới. Nhưng nếu mỗi người cứ thu tích sức nóng Thần Khí cho riêng mình, cộng đoàn sẽ không tạo được một chứng từ giá trị nào trong công cuộc truyền thông sứ điệp của Chúa cho muôn dân.

Khi phục vụ, phải biết xóa bỏ chính mình, người làm truyền thông mới có thể hoàn thành sứ mệnh phục vụ chân lý. Nếu họ còn cố bám lấy cái tôi, Chúa Kitô sẽ phải nhường bước. “Truyền thông không đơn thuần là diễn đạt ý tưởng và biểu lộ tình cảm. Nhưng khi đạt tới mức độ sâu thẳm nhất, truyền thông là tận hiến chính mình vì tình yêu.” (4) Ngành truyền thông Công giáo Việt nam hôm nay đang phục vụ ai ? Tại sao có tình trạng “bát nháo” như hiện nay ? Truyền thông đó còn đóng nổi vai trò và hoàn thành sứ mệnh không ? Có hướng dẫn dư luận hay bị dư luận hướng dẫn ? Có theo nguyên tắc bác ái và phục vụ chân lý nữa không ?

Chưa bao giờ dân Chúa hoang mang như ngày nay. Muốn đem lại bình an cho dân Chúa và hiệp nhất Giáo Hội, nên nhớ mỗi người làm truyền thông là một nhà truyền giáo. Nhà truyền giáo không thể rao giảng bằng những lời thóa mạ, kết án hay đe loi. Những thái độ và tiếng nói tiêu cực không bao giờ trình bày được sự thật cần thiết cho sự hiệp nhất. Ðã xưa quá rồi lối truyền đạo bằng những kiểu trịch thượng như vậy. “Giáo hội coi các phương tiện truyền thông là ‘những tặng phẩm của Thiên Chúa' quan phòng dùng để hiệp nhất mọi người trong tình huynh đệ và bởi thế giúp họ cộng tác vào chương trình cứu độ của Người.” (5)

Khi góp ý với các vị lãnh đạo, chúng ta cần cầu xin Thánh Linh ban ơn khôn ngoan. Người là Thần Chân Lý. Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu hứa ban Thánh Linh không những để ở với chúng ta suốt đời, nhưng còn dạy chúng ta mọi điều. Thánh Linh hiện diện để hiệp nhất chúng ta. Thánh Linh dẫn chúng ta vào đường ngay nẻo chính. Không phải lúc nào cũng dễ dàng đón nghe sự thật. Làm chứng cho sự thật càng không dễ chút nào. Chân lý không thể giải thoát và biến đổi con người, nếu không có ơn dũng cảm từ ngọn lửa Thần Khí. Vì Thánh Linh là Ðấng Bảo Trợ, tại sao chúng ta không theo lẽ phải mà tranh đấu cho công lý ?

Cần gấp rút nhìn sâu vào thực tế để cùng tìm hiểu sức mạnh và tầm mức đại chúng của các phương tiện truyền thông trong công cuộc giáo dục và truyền giáo cho muôn dân hôm nay. “Dù được trình bày cho các cá nhân, các phương tiện truyền thông xã hội, cũng đụng chạm và ảnh hưởng tới toàn thể xã hội. Các phương tiện đó giúp đại chúng nhanh chóng biết những gì đang xảy ra trên thế giới và những quan điểm đương thời. Bởi thế, để giúp xã hội hiện đại hoạt động nhịp nhàng với những nhu cầu phức tạp và luôn biến đổi, và luôn có những thảo luận liên khắn khít trong xã hội, chúng ta không thể bỏ qua những phương tiện truyền thông này. Ðiều này rất phù hợp quan niệm Kitô giáo về cách thức con người sống chung với nhau. Các tiến bộ kỹ thuật này có mục đích cao cả là đưa con người lại gần nhau. Khi cho nhau biết về những nỗi sợ và niềm hy vọng chung, con người giúp nhau giải quyết vấn đề. Và dựa trên tiêu chuẩn này, Kitô hữu đánh giá các phương tiện truyền thông có góp phần vào hạnh phúc nhân loại hay không.” (6)

Hơn nữa, “các thách đố giáo dục trong thế giới hiện nay thường liên hệ tới ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, đang cạnh tranh với trường học, Giáo Hội, và ngay cả với gia đình nữa. Trong bối cảnh này, việc đào tạo để sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông thật là quan trọng: cha mẹ, các giáo viên và cộng đoàn Giáo Hội được kêu gọi để hợp tác trong việc giáo dục các thiếu nhi và thanh niên biết chọn lựa và trưởng thành trong việc phê bình, biết đánh giá cái gì thực sự là đẹp đẽ và phù hợp với luân lý. Đàng khác, các phương tiện truyền thông cũng cần phải góp phần của mình trong công cuộc giáo dục, bằng cách cổ võ phẩm giá của con người, của hôn nhân và gia đình, những thành tựu của nền văn minh. Không thể nào chấp nhận được những chương trình nào gieo rắc bạo lực và những thái độ phản xã hội, hoặc hạ giá phái tính, nhất là khi trình diễn cho các vị thành niên. Vì thế tôi xin lặp lại lời kêu gọi những nhà hữu trách trong kỹ nghệ sản xuất phim ảnh, những người hoạt động trong ngành truyền thông, xin họ hãy bảo vệ ích lợi chung, tôn trọng chân lý và che chở phẩm giá của con người và của gia đình.” (7)

Cần phải chú ý tới những vấn đề lớn lao như thế trong truyền thông, thay vì tốn bao thời giờ cãi vã nhau về những vấn đề quá xưa và không thiết thực. Có người quá khích đến nỗi moi móc đời tư của các linh mục. Những xâm phạm như thế không phù hợp với những nguyên tắc tối thiểu trong ngành truyền thông. Cần hướng về tương lai để bắt kịp đà tiến của Giáo Hội và xã hội.

Chưa bao giờ Thiên Chúa trao vào tay Giáo Hội một phương tiện rao truyền Lời Chúa lớn mạnh như ngày nay. Muốn xử dụng chính xác truyền thông dưới mọi hình thức hiện đại, theo gương các tín hữu tiên khởi, “người thông tin Công giáo trước tiên phải là người có lòng tin chân thành và đầy hứng khởi, người đã gặp Thiên Chúa và cộng tác với Giáo Hội trong việc loan báo sứ điệp. Trong đời sống hằng ngày, họ phải trung thành với sứ điệp và sáng tạo trong những hình thức để loan truyền sứ điệp này, luôn luôn với viễn tượng của chân lý, ích lợi chung và tự do.” (8)

Lạy Chúa, xin sai Thánh Linh đến hướng dẫn và hun nóng các nhà truyền thông để họ ngày càng phục vụ dân Chúa tốt đẹp và hữu hiệu hơn. Xin Chúa trả công bội hậu cho những ai đang dấn thân tích cực vào ngành truyền thông. Xin cho GHVN có đủ cơ hội và những phương tiện truyền thông hiện đại để rao truyền Danh Chúa khắp nơi. Amen.

đỗ lực - 27.05.2007

1. Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:529.

2. ÐGM Foley, Zenit 21.05.2007.

3. Chiara Lubich, trích lại từ Lm. Fabio Ciardi & Gabriella Fallacara, trong Lời sống Tháng Sáu 2007.

4. ÐGH Phaolô VI, “Communio et Progressio,” 23.05.1971.

5. Ibid.

6. Ibid.

7. ÐGH Bênêđictô XVI, “Các thiếu nhi và phương tiện truyền thông: một thách đố cho cuộc giáo dục.”

8. ÐGM Foley, Zenit 21.05.2007.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Anh Em HV Đaminh chuyển ngữ)

ĐÓN NHẬN SỨC MẠNH CỦA THÁNH THẦN
Ga 20: 19-23

Tôi thực sự thắc mắc không hiểu nổi lần đầu tiên các môn đệ lãnh nhận Thánh Thần thì như thế nào? Và những bài đọc Sách thánh hôm nay dường như cũng không thể giải quyết cho thắc mắc này của tôi. Không biết có giống như thánh Luca mô tả trong sách Công vụ Tông đồ, khi các môn đệ “tề tựu ở một nơi” thì có tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào trong nhà và có hình giống như lưỡi lửa đậu xuống trên mỗi người? Hay việc đó xảy ra như thánh Gioan mô tả, đức Giêsu vào trong nhà dù các cửa đều đóng kín, và nói với các ông : “Bình an cho anh em,” nói rồi Người thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông? Tại sao một biến cố quan trọng như việc trao ban sự sống, ân huệ đức tin nền tảng của Thánh Thần lại được mô tả khác nhau vậy? 

Việc Thánh Thần ngự xuống thì chẳng gây ngạc nhiên gì cho những ai đã quen với văn phong Kinh thánh. Từ “thần khí” trong tiếng Hippri là “ruah,” nghĩa là gió, hơi thở hay sự chuyển động của không khí, xuất hiện hơn 90 lần trong bản văn Kinh thánh bằng tiếng Hippri. Đó là nguyên lý của sự sống và sức mạnh và qua Thánh Thần, Thiên Chúa biểu lộ sức mạnh và ý chí của Ngài. Ngay phần đầu của sách Sáng thế, nhờ “Thần Khí của Chúa,” bao phủ trên cái hỗn mang và trên mặt nước, mà Thiên Chúa bắt đầu công cuộc sáng tạo. 

Trong bản văn bằng tiếng Hippri, Thần Khí chỉ được ban cho trong một giai đoạn (Kn 15,16). Những ai được ban cho Thần Khí thì cũng được phú cho một ân huệ đặc biệt để hoàn thành những mục đích của Thiên Chúa. Chẳng hạn như, Salomôn được ban cho Thần Khí đức khôn ngoan (Kn7,7). Những nhà lãnh đạo Israen được Thần Khí của Thiên Chúa làm cho nên mạnh mẽ, và các ngôn sứ, được tràn đầy Thần Khí để nói nhân danh Thiên Chúa (Is 61,1 và Lc 4,18)

Tân Ước chỉ ra một sự liên tục của một Thần Khí đã hiển lộ trước đây. Từ Hylạp để chỉ Thần Khí là “pneuma” và có cùng nghĩa với từ “ruah” trong tiếng Hippri. Tin mừng Luca và Sách Công vụ Tông đồ chú trọng đến công việc của Thần Khí. Thần Khí là sợi chỉ dệt nên hai công trình của Ngài. Ở cuối Tin mừng, Đức Giêsu ra lệnh cho các Tông đồ và họ phải ở lại Giêrusalem cho đến khi nhận được “điều Cha đã hứa” (Lc 24,49). 

Thánh Luca xác định rõ Lễ Hiện Xuống là ngày Thánh Thần được ban. Lúc ban đầu, đó là ngày lễ tạ ơn, rồi sau đó nó được liên hệ tới việc ban tặng lề luật tại núi Sinai (Đnl 16,9-21). Vào ngày Lễ Hiện Xuống, cộng đoàn sa mạc ở Qumran đón nhận thêm những thành viên mới, những người tuyên xưng lòng khao khát được trở thành một dân trong giao ước với Thiên Chúa. Thánh Luca đặt ân huệ của Thánh Thần vào ngày lễ tạ ơn truyền thống, hình thức luân lý, một sự dấn thân và hiến dâng mới mẻ.

Thánh Thần của Thiên Chúa đã ở với dân Israen khi họ vượt qua sa mạc và chiến đấu chống lại dân ngoại để tiến về đất hứa. Khởi đầu với phép rửa của Người, Thánh Thần đã ban sức mạnh và gìn giữ đức Giêsu qua cơn cám dỗ trong hoang địa, trong sứ vụ, sự khổ nạn, chết và phục sinh. Cũng chính Thánh Thần đó giờ đây được ban cho cộng đoàn. Hôm nay, chúng ta chứng kiến hoa trái đầu tiên của Thánh Thần khi các môn đệ bước ra khỏi nơi ẩn trốn để rao giảng cho đám đông với các thứ tiếng khác nhau. Sách Tông đồ Công Vụ sẽ cho thấy làm thế nào mà Giáo hội tiên khởi đã chuyển từ một cộng đoàn nhỏ những môn đệ người Do Thái đi theo Đức Giêsu trở thành một cộng đoàn Kitô hữu diễn tả tình yêu, bình an, tha thứ và chữa lành của Người cho thế giới.

Vì thế, nếu như tôi dẹp những khuynh hướng của mình qua một bên để sắp xếp và dành thời gian cho lễ Hiện Xuống này, lắng nghe những gì thánh Luca dạy bảo, thì tôi lắng nghe và học được những điều sau. Đức tin của chúng ta không giống như những kho tàng đem cất giấu và xem như một vật gia truyền dễ vỡ. Ngược lại, chúng ta có cuộc sống sinh động, tràn trề phấn khởi và bùng cháy của Thiên Chúa khi chúng ta họp nhau cầu nguyện và ý thức làm thế nào chúng ta là giáo hội trong thế giới này.

Chúng ta đối điện với một thế giới không niềm tin, yếm thế, mộng tưởng, và suy yếu đạo đức. Chúng ta vẫn bình thản và “giữ đức tin”, hoặc chúng ta có thể làm như những gì thánh Luca mô tả trong cộng đoàn tiên khởi: tự tin bước ra thế giới bên ngoài và nói với đám đông đang hoang mang mà chúng ta bắt gặp. Chúng ta biết những hạn chế của mình và có thể đoán xem, như chúng ta nghĩ, làm sao mà chúng ta có thế thất bại trong việc làm chứng cho niềm tin mà Thánh Thần mời gọi chúng ta. Chúng ta không biết chắc mình sẽ được sai đến nơi đâu, nhưng kết quả gặt hái này cho chúng ta xác tín rằng có sự sáng tạo và ân sủng tuôn trào của Thiên Chúa ở với chúng ta. Thánh Luca mô tả đó như là cơn gió mạnh và như ngọn lửa. Nếu chúng ta có thể tin tưởng thánh Luca, thì điều đó khiến chúng ta can đảm khi chúng ta bị chất vấn về niềm tin của mình, hay khi chúng ta được mời gọi để diễn tả lòng tin ra bên ngoài bằng hành động cụ thể.

Nếu chúng ta không thể gim chặt hay đóng hộp Thánh Thần được, thì làm sao chúng ta có thể mong có được sự mô tả ngắn gọn và thích hợp về ơn Thánh Thần mà đức Giêsu dành cho các môn đệ của Người. Giờ đây chúng ta nói đến sự biểu tỏ liên tục của ân sủng Chúa Thánh Thần.

Tin mừng Gioan bắt đầu với mạc khải cho Gioan Tẩy Giả về một đấng, “trên người ấy ngươi sẽ thấy Thánh Thần ngự xuống và ở lại…” (1,33). Đến cuối Tin mừng, vào đêm Phục Sinh, thánh Gioan nói cho chúng ta làm thế nào Đức Kitô phục sinh thổi hơi trên các môn đệ và ban cho họ Thần Khí. Những câu chuyện liên quan trong Tin mừng Gioan cũng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa về Thánh Thần. Ví dụ, trong câu chuyện Đức Giêsu gặp gỡ người đàn bà Samaria, đức Giêsu mô tả Thánh Thần như “nước hằng sống” làm vọt lên trong mỗi người ân sủng của đời sống vĩnh cửu. Sau đó, trong suốt bữa Tiệc Ly, đức Giêsu hứa ban Thần Khí đến 4 lần. Người dùng từ Hylạp “parakletos” để mô tả Thần Khí, từ này mang nghĩa là an ủi và bào chữa.

Thánh Gioan nối kết sự đau khổ, cái chết và sự phục sinh của đức Giêsu trong một khoảnh khắc mà ngài gọi là “Giờ.” Vì thế, khi đức Giêsu thổi Thần Khí sáng tạo của Người trên các môn đệ vào chiều ngày Phục Sinh và chỉ thị họ đi giải tội cho tội nhân, biến cố này không bị tách khỏi “giờ”; vinh quang đi liền với đau khổ. Thông điệp tha thứ mãi mãi của cộng đoàn, được Thần Khí của chúa Giêsu hỗ trợ không phải là mất giá trong cộng đoàn – hy sinh cá nhân chỉ có thể đến vì một sự đối nghịch của một thế giới không thứ tha.

Khi ngừng thở là chúng ta chết. Thần Khí của đức Giêsu ở với cộng đoàn cùa Người như hơi thở của cộng đoàn. Người sẽ không hủy bỏ quà tặng của hơi thở trao ban sự sống của Người. Giống như Thiên Chúa đã thổi hơi vào Ađam để làm cho ông “sinh động”, vào Lễ Hiện Xuống cũng chính Thần Khí đó sinh ra một cộng đoàn sinh động và tha thứ. Giờ đây, nguồn mạch sự sống mới của Thần Khí giúp chúng ta tiếp tục sứ vụ yêu thương và tha thứ của đức Giêsu.

Nhiều năm sau khi Tin mừng này được viết, Giáo hội sử dụng bản văn này như một nguồn liệu nói về Bí tích Hòa giải. Nhưng những Kitô hữu tiên khởi có lẽ đã dùng đoạn văn này cho Bí tích Rửa tội: những người dự tòng chấp nhận thì được rửa tội. Những ai không đón nhận Tin mừng thì không được nhận phép Rửa tội.

Như chúng ta trân trọng đặc quyền của thánh Luca tường thuật biến cố Hiện Xuống trong Tin mừng của ngài và thông điệp mà ngài muốn chuyển cho giáo hội của ngài, chúng ta cũng để cho thánh Gioan kể lại câu chuyện này với cách của riêng ngài cho những nhu cầu cụ thể của cộng đoàn của ngài. Đức Giêsu không còn hiện diện thể lý với chúng ta, nhưng Người cũng không rút lên một ngọn núi xa xôi nào đó trong vũ trụ này để chờ ngày trở lại với chúng ta. Cả hai trình thuật nói với chúng ta rằng hôm nay đức Giêsu vẫn hiện diện với chúng ta cách tròn đầy vì Thần Khí của Người đang ở giữa chúng ta – như những cá nhân hay cộng đoàn Hội thánh.

Trong suốt những lần khủng hoảng trầm trọng đối với Giáo hội của chúng ta, chúng ta tin tưởng và hy vọng Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta trong sự thật và dạy chúng ta ý nghĩa của Giáo hội Chúa Kitô. Hôm nay, chúng ta xin Thánh Thần ban cho chúng ta ơn sủng của lòng tha thứ - không phải cho những người khác nhưng là cho chúng ta, cho Giáo hội và những nhà lãnh đạo của chúng ta.

Lễ Hiện Xuống này, chúng ta xin đức Giêsu thởi Thánh Thần của sự tha thứ trên chúng ta. Chúng ta nài xin Thánh Thần chữa lành cho những người vô tội đã bị xúc phạm. Chúng ta nài xin Thiên Chúa thực hiện những gì Ngài đã làm thuở ban đầu – tạo nên chúng ta từ đất sét dễ vỡ thành con người mới và sống động, hội thánh của Chúa Giêsu Kitô, thở bằng sức mạnh của Thần Khí của Người và, bằng chính hành động tha thứ của chúng ta, trao ban cũng một Thần Khí tha thứ đó trên những ai cần.

Chúng ta phải tin tưởng rằng trong ngày Lễ Ngũ Tuần đức Giêsu sẽ thổi trên chúng ta một sự đổi mới, vì những ngày này chúng ta giống như những vận động viên chạy đường dài đang thở hổn hển. Ai biết được chúng ta còn phải chạy bao xa nữa? Chúng ta cần Thần Khí để hoàn tất hành trình của mình. 

Lm. Jude Siciliano, OP

Hãy để cho Thánh Thần biến đổi

CVTĐ 1-11; Tv. 104; Roma 8: 8-17; Gioan 20: 19-23

 

Với lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta đã kết thúc 50 ngày mùa Phục sinh. Từ giây phút này trở đi, chúng ta sẽ làm chứng, như  trong các bản văn Tân Ước, về đời sống mà  Chúa Thánh Thần mang lại cho Giáo hội. Chúng ta gọi hôm nay là “sinh nhật của Giáo hội”. Rõ ràng từ chính thái độ mâu thuẫn của các tông đồ trong suốt hành trình sứ vụ của Đức Giêsu và sự phân tán khi Người bị bắt và bị giết chết, cho thấy rằng nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa, thì đã không có một Giáo hội đi loan báo Tin mừng của Đức Giêsu Kitô – đó là tầm quan trọng và sự cần thiết của Lễ Hiện Xuống.

Sau khi Đức Giêsu phục sinh và hiện ra nhiều lần với các tông đồ, Người biết rằng họ  cần một sự biến đổi tinh thần để có  thể trở thành nhân chứng cho Người. Vì thế, cuối Tin mừng Luca (24,47) và đầu sách Công vụ  tông đồ (Cv 1,8), Đức Giêsu chỉ thị cho các tông đồ phải chờ đợi sức mạnh từ trên ban xuống cho các ông qua việc Thánh Thần hiện xuống.

Thánh Luca gắn khởi đầu của Giáo hội với Đại lễ Ngũ Tuần của người Dothái và cho biến cố này xảy ra ở Giêrusalem. Đó là năm mươi ngày (tiếng Hylạp - Pentecoste) sau biến cố Xuất hành và là cuối mùa thu hoạch lúa mì. Một số người cử hành lễ này như là thời gian nhớ lại việc Chúa ban Lề Luật trên núi Sinai. Vì thế, lễ này được xem như thời khắc để hoàn thành và cũng để khởi đầu một sự canh tân trong lịch sử Israel.

Với chuyện xảy ra vào Lễ Ngũ  Tuần tại Giêrusalem, thánh Luca cho thấy sự liên tục của lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã khởi sự từ dân Dothái. Isaia (Is 2,2-4) đã hứa  rằng tất cả các dân nước sẽ đến Giêrusalem nơi Đức Chúa sẽ thiết lập vương triều của Người trên trần gian. Vì thế, danh sách các dân nước được liệt kê trong bài đọc hôm nay (Cv 2,9-11). Giống như trong văn chương Kinh thánh, danh sách này mang ý nghĩa biểu tượng nói đến dân từ Đông sang Tây và khắp cả Rôma. Vào lễ Ngũ tuần tại Giêrusalem, là thời điểm và nơi chốn thích hợp để Thiên Chúa khởi sự một triều đại mới trải dài đến “tận cùng trái đất” – mà Rôma là biểu trưng. Như ngôn sứ đã hứa, triều đại này khởi sự với việc ban tặng Thánh Thần.

Lễ Hiện Xuống diễn ra hằng năm vào thời điểm này và tại một số giáo xứ, lễ được tổ chức với việc đọc sách thánh và hát thánh ca bằng những thứ ngôn ngữ khác nhau. Một vài giáo xứ thậm chí còn tổ chức lễ hội ẩm thực của dân bản địa, nhất là đối với những người mới nhập cư vào xứ này. Đây là những cử hành tuyệt vời về sự đa dạng của Giáo hội và cũng là sự nhắc nhở cụ thể về điều mà những người được nghe các Tông đồ tràn đầy Thánh Thần đang nói với họ: “Những người đang nói đó không phải là người Galilê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?”

Chúng ta mới được nhắc nhở về  một Giáo hội đa dạng thì mạnh mẽ thế nào. Trong những ngày tĩnh tâm giáo xứ gần đây, một người mới được rửa tội cho tôi biết về lý do mà anh cảm thấy mình được mời gọi gia nhập vào Giáo hội. Anh đã thăm giáo xứ vào một Thánh lễ Chúa Nhật. Một người Mỹ gốc Phi ngồi bên phải và một người di dân Việt Nam ngồi bên trái anh. Anh cho biết: “tôi quyết định gia nhập Giáo hội vì tôi đã thấy sự đa dạng của các thành phần trong Giáo hội, và cảm thấy Giáo hội cũng mở ra cho tôi một cơ hội nữa. Vì thế, tôi đã ghi danh vào lớp Khai Tâm Kitô giáo và đã được lãnh nhận Phép rửa cách đây hai năm”.

Trong một số môi trường như ở sở làm, trường học, chính trường, những khác biệt như thế có thể dựng nên những bức tường ngăn cách, chia rẽ người ta, đặc biệt là nhóm thiểu số. Nói thực lòng, những chia rẽ và định kiến như thế cũng đang tồn tại ngay trong các giáo xứ của chúng ta: những người cũ thường nắm khư khư thói quen, lịch trình và chống lại tất cả những gì mà những người tới sau đóng góp dựa trên quan điểm và lối thực hành niềm tin của họ. Chúng ta được nhắc nhở rằng lễ Hiện Xuống không chỉ là một sự bùng nổ của âm thanh và quang cảnh cách đây rất lâu; nhưng là không ngừng đòi chúng ta phải nhìn lại chính mình như Giáo hội và cách mà chúng ta cùng nhau thực hành niềm tin ấy.

Trong khi những cử hành lễ Hiện Xuống của giáo xứ đang cố gắng diễn tả  sự đa dạng tuyệt vời mà Thánh Thần mang lại cho cộng đoàn, thì chính những kiểu cử hành ấy có thể cũng đã bị biến thành yếu tố  địa phương và nhàm chán. Để rồi ai đó sẽ  ngán ngẩm thốt lên “Lễ Hiện Xuống nào mà  chẳng cử hành như thế”. Nhưng ngược lại, Thánh Thần không mang lại những gì đã định sẵn và  thành ra thường lệ, nhưng Người đến trong hình lưỡi lửa và cơn gió. Nhiều người không muốn đối diện với những gì bất ngờ và hoang mang trong đời sống đức tin của mình. Họ phản kháng: “đời tôi đã quá đủ những báp bênh rồi. Tôi muốn đời sống đạo của mình nhẹ nhàng và dễ chịu – xin đừng có thêm lửa hay gió máy gì nữa!” Các cơ quan tổ chức thì có xu hướng chống lại những thay đổi và sự thích nghi. Thế giới thấy khó chịu với những người mộng mị hay những kẻ hoang tưởng. Chúng ta dễ xua đuổi họ hoặc kê toa thuốc để họ “bình tĩnh lại”.

Lễ Hiện Xuống nhắc nhở rằng không bao giờ ta có thể biết Thánh Thần sẽ  hoạt động ra sao và nơi người nào. Đại Lễ nhắc ta phải mở to đôi mắt mở rộng đôi tai, nếu không chúng ta có thể đánh mất sức sống mới mà Thánh Thần thổi vào cuộc đời ta. Có thể Thánh Thần có điều muốn nói với ta qua: một thành viên hội đồng giáo xứ có ý kiến ngược với đa số; một người vô gia cư phàn nàn về cách anh bị đối xử trong nhà ăn giáo xứ; một bạn trẻ phàn nàn về thánh lễ Chúa Nhật dành cho giới trẻ thì chán ngắt; linh mục về hưu, tham dự ngày Chúa Nhật và không ngừng nhắc nhở “tinh thần của Vatican II”; một ca trưởng thúc giục ca đoàn phải chia bè ra mà hát; một mục sư Tin Lành mời chúng ta cùng nhau cộng tác trong việc tạo thêm chỗ ở cho những người không nhà; nhóm bảo vệ quyền sống muốn thúc đẩy để ngăn chặn nạn phá thai hay án tử…

Thánh Thần không chỉ đến với những người có quyền lực hay sức mạnh vì, “mọi người đang tề tựu ở một nơi”. Thánh Thần là một sự cân bằng, vì đó mà lối cân  đong cũ nay không còn giá trị nữa; quý vị không thể biết được ai là người đang mang Thánh Thần hay nói thay Thánh Thần. Chúng ta thường cho rằng những người có học nhất sẽ đưa ra lời quyết định, vì dù sao họ cũng là “những người thông thái”. Mặc dù hôm nay chúng ta có thể đang cử hành lễ trọng này trong giáo xứ, để chứng tỏ sự phong phú của hội thánh, song Lễ Hiện Xuống vẫn đánh động chúng ta. Đó là việc chúng ta để cho làn gió phi thường tràn ngập con thuyền tâm linh của mình và để cho ngọn lửa thiêu rụi những chống đối dai dẳng trong ta.

Khi đi xem một trận bóng chày và đám đông xung quanh đang hò reo cổ vũ cho đội nhà, thì niềm phấn khởi đó có tính lây lan và  chúng ta sẽ thấy mình chẳng mấy chốc đã tham gia vào đám đông đó. Đó là lý do tại sao chúng ta vui mừng cử hành lễ Hiện Xuống. Thánh Thần của Thiên Chúa được biểu lộ qua lòng thành kính và nhiệt tâm của những người xung quanh ta, có thể cũng lây lan. Thiên Chúa không ngừng thổi chính mình vào trong cộng đoàn đang quy tụ, truyền hứng khởi cho chúng ta, như Phêrô và các đồng bạn của ông khi họ nhận được Thánh Thần lần đầu tiên tại Giêrusalem.

Các ông không say rượu, như đám đông ngày ấy nghĩ về họ, nhưng các ông say ngất Thánh Thần. Chẳng lẽ không có gì ngạc nhiên khi một niềm tin mãnh liệt như thế đã lây lan ra toàn Giêrusalem và lôi kéo nhiều người vào trong cộng đoàn được Thánh Thần hình thành hay sao?