Năm C

 
 


Lễ Chúa Thăng Thiên - Năm C

Cv 1,1-11 / Ep 1,17-23 / Lc 24,46-53


An Phong op : Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta Mãi Mãi

G. Nguyễn Cao Luật, op : Nắm Lấy Dịp May

Giuse Đặng Chí San : Hân Hoan Cuộc Rước

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa lên trời

G. Nguyễn Văn Dũng op : Hãy nhân danh Thầy rao giảng cho muôn dân

Fr Thomas Túy, op : Sống Thần Khí Đức Kitô 

Đỗ Lực op : Hôm Nay Trời Nhẹ Lên Cao

Fr. Jude Siciliano, op : Loan báo Tin Mừng bằng lời nói và cả việc làm

Fr. Jude Siciliano, op: Xin dạy con biết tha thứ

 

 


An Phong op :

Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta Mãi Mãi
Lc 24,46-53

Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã hẹn với các ông. Khi thấy Người, các ông sụp lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần, nói với các ông : "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,16).

Chúng ta không tin Chúa một cách lẻ loi, nhưng ta chia sẻ đức tin của cả một cộng đoàn tín hữu ở cùng địa phương và trên toàn mặt đất : niềm tin tập thể ấy bao bọc che chở, hậu thuẫn chúng ta trong cuộc phấn đấu thiêng liêng.

Thiên Chúa không cứu chuộc chúng ta một cách riêng rẻ, Ngài ban Thần Khí của Ngài để thắp sáng và nuôi dưỡng đức tin của chúng ta. Ngài ban đức tin cho Giáo hội là Nhiệm thể Đức Kitô, trong đó mỗi chúng ta là một chi thể liên đới chặt chẽ với những chi thể khác.

Gặp những ngày tâm hồn khô khan mù mịt, phải nương tựa vào đức tin của Hội thánh Chúa, niềm tin tập thể hỗ trợ cho niềm tin cá nhân, khắc phục gian khổ, nhờ được tiếp sinh khí của anh em mà người tín hữu lần lần hồi phục sức mạnh thiêng liêng.

Lạy Chúa Giêsu Kitô,

Chúng con muốn làm chứng nhân và tông đồ của Chúa,

làm chứng nhân cho chân lý, cho tình yêu của Chúa,

Mang sứ điệp cứu độ đến cho thế gian

Như Cha đã sai Chúa, Chúa sai chúng con...

Xin dạy chúng con tìm ơn cứu độ cho mình

bằng cách góp phần vào việc cứu độ kẻ khác.

Cho chúng ơn khôn ngoan cần thiết

để hoạt động hữu ích cho Nước trời.

Cho chúng con vững lòng trông cậy

bất chấp tuyệt vọng

Cho chúng con vốn dĩ bất lực ,

trở nên mạnh mẽ.

Thương người cách không vụ lợi,

kiên nhẫn, tin tưởng và trung hậu.

Không quên những người ruột thịt

và những người thân cận trong việc truyền giáo.

Vì Chúa là đấng Hằng Sống

và ở gần chúng con mọi ngày cho đến tận thế.

Amen.


G. Nguyễn Cao Luật, op

Nắm Lấy Dịp May
Lc 24,46-53

Cái thang mới

Đoạn cuối Tin Mừng Lu-ca mô tả cao điểm của một tiến trình đi lên đã được nói đến trong các phần trước. Sách Công vụ Tông Đồ – cũng do thánh Lu-ca viết – sẽ sử dụng lại yếu tố nối kết này, nhưng với ý hướng thuật lại cuộc trở xuống của các Tông Đồ: về Giê-ru-sa-lem, về Sa-ma-ri, về tất cả những thực tại trần thế của con người. Hoạt động này diễn đi diễn lại nhiều lần, không bao giờ kết thúc và với nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động này nói lên đặc tính của chính lịch sử thế giới. Từ nay, trên cái thang nối kết trời và đất, cuộc trao đổi giữa Thiên Chúa và con người tiếp diễn không ngừng.

Trao đổi về điều gì ? Thánh Lu-ca đã viết cuốn Tin Mừng để trình bày về lòng thương xót của Thiên Chúa: trong Đức Giêsu, nhân loại nhận ra tình yêu vô vị lợi Thiên Chúa dành cho họ. Chính nhờ khám phá này, con người có thể hoàn toàn tự do quay trở về với Thiên Chúa. Rốt cuộc trước tình yêu lớn lao của Thiên Chúa, con người nhận thức về tình trạng khốn đốn của mình là bị tội lỗi đè bẹp. Do đó họ cương quyết vùng dậy chống lại cái bóng đang ám ảnh mình, một cái bóng không ngừng tái sinh.

Khám phá này chấm dứt thời gian con người có ý nghĩ sai lầm về Thiên Chúa: đó là một Thiên Chúa không buông tha và độc tài. Khám phá này cũng phá vỡ ngục tù con người đã dựng nên cho chính mình để bước vào một tương giao mới. Họ nhận ra Thiên Chúa và vẫn quan tâm đến họ, vẫn dành cho họ tấm lòng ưu ái và họ không thể nào cứ giam hãm mình trong những ý tưởng đen tối và sai lầm.

Cái thang nào nối kết trời và đất ? Theo người Do-thái, cái thang đó là Đền Thờ. Nhưng đền thờ chỉ còn là biểu hiệu về những ưu tư và ảo tưởng của con người. Cái thang đích thực chính là thập giá.

Chỉ có thập giá mới bày tỏ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa. Thập giá cho thấy toàn bộ sự thật về tất cả những gì mà dân Thiên Chúa chỉ thoáng thấy trên hành trình dài dẵng của mình. Chính thập giá dẫn đưa con người vào một viễn tượng hoàn toàn mới là tình yêu. Chính nhờ thập giá mà Thánh Thần có thể ngự đến: Người sẽ dẫn đưa con người quay trở về với Chúa Cha, Đấng đang chờ đợi họ.

Một dịp may

Các Tông đồ đã chứng kiến Chúa Giêsu tắt thở trên thập giá. Các ông đã gặp gỡ với Người sau khi Người phục sinh. Như vậy Đức Giêsu trở thành bất tử. Còn các ông vẫn có mặt. Các ông nghĩ rằng đã đến lúc mọi chuyện trở nên tốt đẹp và cứ việc sống trong an bình. Đức Giêsu sẽ dẹp yên bão tố, Người sẽ chữa lành các bệnh nhân và làm cho người chết sống lại, Người sẽ thiết lập vương quốc mới, vương quốc đặt nền tảng trên công chính và hòa bình. Có lẽ vẫn còn những kẻ thù, nhưng Đức Giêsu vẫn luôn là người chiến thắng: Người hoàn toàn mạnh hơn tử thần.

Chính vào lúc ấy, Đức Giêsu lại ra đi. Bản văn cho biết Người được rước lên trời. Cuộc ra đi này là một điều may mắn cho các Tông Đồ. Đó là cánh cửa mở ra để các ông nắm lấy quyền quyết định và lên tiếng nói. Quả thế cho đến lúc này, các ông đã nêu những câu hỏi, đã được nghe các dụ ngôn, đã nhìn thấy các phép lạ. Nếu được hỏi tới, các ông cũng trả lời như các ông đã hiểu, và vẫn mong được giải thích hơn. Dù vậy, phải nhìn nhận rằng, sau ba năm sống với Đức Giêsu, các ông vẫn chưa hiểu, và vẫn chưa có những gì tích cực cho lắm.

Theo tường thuật của thánh Lu-ca, các ông đã nêu lên một câu hỏi ngớ ngẩn: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” (Cv 1,6). Trong giai đoạn đang xảy ra những sự sụp đổ về kinh tế lẫn xã hội, những cuộc tranh giành giữa các phe phái tôn giáo, và trong cảnh đang bị thế lực quân sự ngoại bang thống trị, các ông vẫn còn mơ tưởng đến một vương quốc lý tưởng mà ngay từ bé, các ông đã nghe kể lại. Đó là vương quốc được lý tưởng hóa nhờ hoài niệm, vương quốc do vua Đa-vít thiết lập cách đấy mười thế kỷ. Vua Hê-rô-đê, một ông vua bù nhìn, chỉ là một biếm họa về vua Đa-vít, người sáng tác các thánh vịnh đồng thời cũng là một ngôn sứ.

Các Tông đồ hy vọng Đức Giêsu sắp thiết lập một vương quốc mới và các ông sẽ là những người có chức quyền, và kẻ nghèo, người đói khát, kẻ bệnh tật sẽ được nâng đỡ. Các ông nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ mãi mãi có mặt và các ông sẽ sống yên ổn bên cạnh Người – sự bình yên của đứa trẻ nép mình vào lòng mẹ. Trong suy nghĩ của các ông, không hề có ý tưởng đi đến tận cùng trái đất.

Nhưng Đức Giêsu lại ra đi: những ước mơ huy hoàng của các Tông Đồ bỗng sụp đổ tan tành. Người què vẫn hoàn què, quân Rôma vẫn tiếp tục diễu binh trong thành phố, bánh cứ thiếu và người chết cứ nằm yên trong mồ.

Tất cả những điều đang xảy ra dường như đi ngược lại lời hứa về một Thần Khí sẽ đến, một Thần Khí mà người ta không biết từ đâu đến và đi đâu …

Tuy nhiên, các Tông Đồ cũng như các tín hữu, sẽ dần dần hiểu ra rằng cuộc ra đi này là dịp may. Thăng Thiên không phải là một lễ hạng hai, nhưng là lễ lớn của con người tự do. Hoạt động của các Tông Đồ sau khi Đức Giêsu về trời minh chứng điều đó. Lịch sử Hội Thánh qua các thế kỷ cũng minh chứng điều đó.

Dĩ nhiên, quả là khó khi phải cắt đứt những mối liên hệ quen thuộc, phải thoát ra khỏi tình trạng lệ thuộc để sống như những người tự do: dám quyết định và dám lãnh trách nhiệm. Nhưng rồi khi Thần Khí đến, luồng gió tự do sẽ ùa vào, và mọi người đều thấm thía lời Đức Giêsu nói: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em” (Ga 16,7).

Không phải là lúc nhìn lên trời

Thăng Thiên không phải là một trình thuật người ta có thể tách riêng ra để trình bày, nhưng chỉ là một mặt nhỏ trong một viên ngọc duy nhất do mầu nhiệm Phục Sinh tạo nên. Giữa hai biến cố Đức Giêsu Phục sinh và Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Thăng Thiên là lễ của giai đoạn chuyển tiếp: Đức Giêsu Phục Sinh không còn hiện diện hữu hình giữa các môn đệ, Người chuyển sang hình thức hiện diện mới và các môn đệ sẽ làm cho sự hiện diện ấy đạt được hiệu quả tối đa.

Thật vậy, trong lần hiện ra cuối cùng, Đức Giêsu đã rời bỏ các môn đệ, nhưng sự hiện diện vô hình của Người lại mãnh liệt hơn. Sự hiện diện này đạt tới mức độ sâu xa và rộng lớn mà sự hiện diện hữu hình không thực hiện được. Nhờ Thần Khí, các môn đệ sẽ nhận ra Đức Giêsu ở đâu và Người muốn dạy bảo các ông điều gì. Đó là lời Chúa, bí tích, người thân cận và nhất là sứ vụ truyền giáo.

Từ nay, không còn là lúc để các ông đứng nhìn lên trời, nhưng là thời gian để các ông làm chứng về Đấng Phục Sinh trên mặt đất, và cộng tác với Người trong việc mở rộng vương quốc.

Đó là trách nhiệm của các Tông Đồ và cũng là trách nhiệm của chúng ta.

Bạn đặt câu hỏi:

“Làm sao hướng tâm hồn lên trời ?”

Các hành động yêu thương sẽ nâng bạn lên.

Thể xác đi lên khi thay đổi nơi chốn,

còn tâm hồn đi lên khi thay đổi ước muốn.

Thánh Âu-tinh


Giuse Đặng Chí San

HÂN HOAN CUỘC RƯỚC
Lc 24,46-53

Lên trời, là “lên” tới đâu ? Đức Kitô được “cất đưa” lên Trời, có nghĩa là xác đất vật hèn nơi bản chất nhân loại của Ngài, nay cũng được tôn vinh đến tận cùng trong Thiên Chúa. Xác đất vật hèn nay “ở trong” Ánh Quang Thiên Chúa, làm một cùng Thiên Chúa, trở nên chính Thiên Chúa. Và nếu Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, thì Đức Kitô “lên trời”, tức là, Ngài đang “thấm sâu” vào lòng đất. Chúng ta ngày hôm nay không thấy Đức Giêsu Kitô, thầy và bạn của chúng ta bằng ánh mắt và bàn tay của chúng ta nữa.

Nhưng chắc chắn rằng, Thầy đang ở trong nắng trong gió, trong bão trong mưa, trong cây trong lá, trong chập chùng núi non sông biển, trong xiết bao những nỗi lênh đênh trôi giạt kiếp người. Hơn nữa, mỗi lần chúng ta nhìn vào đáy lòng mình, lắng nghe từng tiếng đập con tim của mình, ý thức về từng hơi thở vào ra của mình, chắc chắn chúng ta có quyền tin rằng, Thầy Giêsu của chúng ta đang ngự trong đó, bằng trọn vẹn Tình Yêu vừa nồng hậu vừa linh thiêng vô tận của Thầy.

“Đừng mãi ngước mắt nhìn lên trời nữa”. Vì bây giờ, Trời là ở trong người và trong lòng đất. Con người và trái đất đã trở nên huyền diệu chỉ vì đất hèn và xác bẩn của con người nay đã hội nhập cùng Thiên Chúa và trở thành Thiên Chúa. Bất chấp những gai góc gò nổng , bất chấp những tăm tối tội lỗi, trái đất và con người đã trở nên cực thánh cực linh, chỉ vì Con Người-Thiên Chúa là Giêsu Kitô nay đã vượt qua mọi giới hạn, nay đã phá tung mọi vực bờ, để Con Người-Thiên Chúa Giêsu Kitô chứa chan vào tất cả, thẩm thấu vào tất cả, chìm sâu vào tất cả. Những tầm thường, khổ đau, tội lỗi chỉ còn là “hình tướng” bên ngoài. Bản chất sâu xa của con người và trái đất là Giêsu Kitô, là Con Người-Thiên Chúa Giêsu Kitô, là Tình Yêu rất “Người” và rất “Chúa” nơi Giêsu Kitô.

Cho nên, người môn đệ là kẻ được sai đi. Đi trong niềm vui và quyền năng yêu thương của Giêsu Kitô. Đi, là đi vào trong lòng đời, đi vào trong hồn người, không phải để trao cho người một điều gì, nhưng để ĐÁNH THỨC “Giêsu-Tính” đã sẵn đầy đủ trong họ. Để cho nhân loại biết rằng, cuộc sống này biết bao diệu kỳ và tươi đẹp. Trong Giêsu, tội lỗi đã không còn. Nỗi khổ cũng đang qua đi. Sự tầm thường đã từ lâu chấm dứt. Được sống, tức là được tham dự vào Cuộc Rước Lớn. Nhờ sự tôn vinh của Đức Giêsu Kitô, cả trần gian này trở thành một Cuộc Rước Lớn. Tất cả mọi người đang cùng nắm lấy tay nhau, miệng hát ca, lòng hớn hở, lũ lượt đi mãi vào vào trong Tâm, vào trong Hồn, vào trong Nước Trời Huyền Diệu đã ngự sâu trong lòng đất. Cho đến một ngày, bỗng Người Yêu mình xuất hiện, không còn ẩn kín lặng thầm nữa, nhưng hoàn toàn tỏ hiện với tất cả Tình Yêu Rực Rỡ của Đấng là Thiên Chúa nhưng cũng là Con Người đã sống, chết và sống lại cho Tình Yêu.

Từ lâu nay, ta hay tự coi thường mình, và ngấm ngầm bất mãn, buồn bực, thất vọng về trái đất. Cũng từ lâu nay, ta tự khuôn đúc mình trong những vòng vây khuôn khổ nhỏ hẹp để tìm cách tự trấn an ru ngủ giữa bao nhiêu bão nhồi sóng dập cuộc đời. Nhưng Thầy và Bạn của chúng ta, Đức Giêsu, nay đã Phục Sinh. Ngài đã được tôn vinh và tràn đầy quyền năng tuyệt đối của Tình Yêu ! Lẽ ra, ánh mắt chúng ta phải xuyên thấu qua tất cả những hình tướng chật chội của trái đất. Trái Đất này thênh thang bát ngát quá ! Trần Gian này xinh đẹp quá ! Mỗi con người đều huyền nhiệm quá ! Và những khổ đau hèn yếu của con người sao cũng linh thiêng quá ! Vì thế, ta bước đi giữa cuộc đời mà lòng như luôn dạt dào với gió với bão hạnh phúc thênh thang : Ta reo ca lời Tạ Ơn. Ta hân hoan lời Chúc Tụng. Ta chan chứa niềm yêu người yêu đời. Ta chất ngất niềm vui mừng, và ta cứ hoan hỷ mời gọi và loan báo cho mọi người để cùng nhau hân hoan tiến vào Cuộc Rước theo Giêsu và hội ngộ với Giêsu.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chúa lên trời
(Lc 24,46-53)

Chúa Giêsu lên trời là một sự kiện lịch sử và là một tín điều. Sau khi chết và sống lại, Chúa lên trời. Như vậy, Chúa đã về trời cách đây hai ngàn năm, nhưng ý nghĩa sự về trời của Ngài vẫn sống thực cho tất cả nhân loại ngày nào con người còn hiện diện trên địa cầu, cũng như vẫn mãi mãi là một hình ảnh khích lệ cho đời sống trần gian đầy thử thách và gian truân của chúng ta. Chúng ta hãy tìm hiểu : Chúa Giêsu lên trời khi nào, liền sau khi sống lại hay mãi 40 ngày sau ? và ý nghĩa của việc Chúa lên trời là gì ?

Trong bốn tác giả sách Tin Mừng, chỉ có hai vị nói về việc Chúa Giêsu lên trời là thánh Mác-cô và Lu-ca. Thánh Mác-cô nói rất vắn tắt, sau khi kể lại việc Chúa sai các tông đồ đi rao giảng khắp nơi và ban quyền cho các ông, ngài chỉ nói Chúa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa, chứ không nói rõ Chúa lên trời ở đâu và sau khi sống lại bao lâu. Còn thánh Lu-ca, đọc Tin Mừng của ngài, chúng ta được biết Chúa lên trời ngay ngày phục sinh. Nhưng theo sách Công Vụ Tông Đồ, cũng của thánh Lu-ca, chúng ta lại thấy nói Chúa lên trời sau khi sống lại được 40 ngày. Vậy chúng ta phải hiểu thế nào ?

Theo lịch sử, ngay từ đầu Giáo hội sơ khai đã mừng lễ Chúa lên trời liền sát lễ Phục Sinh, đó là vì căn cứ vào hai lý do sau : Thứ nhất là chính lời Chúa Giêsu nói với cô Mác-đa-la ngay ngày Chúa sống lại : “Hãy đi báo cho các anh em Thầy và bảo họ rằng Thầy về cùng Cha Thầy”. Thứ hai, cũng chính ngày đó, tức ngày phục sinh, Chúa Giêsu ban Chúa Thánh Thần cho các tông đồ, chứng tỏ Ngài đã về cùng Chúa Cha. Như vậy chúng ta có thể khẳng định : sau khi sống lại, Chúa Giêsu lên trời ngay. Còn việc Chúa hiện ra nhiều lần với các môn đệ sau phục sinh, và theo sách Công Vụ Tông Đồ, thì Chúa về trời sau phục sinh được 40 ngày, chúng ta có thể nói như sau : Chúa lên trời ngay ngày phục sinh, và sau đó Chúa trở lại thăm các môn đệ nhiều lần để giảng dạy và củng cố lòng tin của họ trong khoảng thời gian 40 ngày : Ngài giảng giải về nước trời, trao quyền tha tội, sai đi rao giảng. Những lần Ngài hiện đến và biến đi giúp cho các môn đệ làm quen với sự hiện diện thiêng liêng của Ngài trong Giáo hội, sau 40 ngày, Ngài cho các môn đệ biết Ngài chấm dứt hiện ra bằng sự kiện công khai lên trời.

Ý nghĩa của việc Chúa Giêsu lên trời là gì ? Chúng ta có thể nêu ra hai ý nghĩa : Thứ nhất, trong chương trình cứu chuộc : Chúa lên trời là một sự kiện tất yếu của quá trình nhập thể và nhập thế của Ngài, như chu trình phát triển của một hạt lúa : phải tự mục nát trong đất mới đâm mầm và tăng trưởng dần cho tới thời kỳ trổ bông, sinh hạt. Chúa Giêsu, sau thời gian đi gieo lời hằng sống, thiết lập và xây dựng một nền móng đạo đức đặt căn bản trên tình thương, công bằng trong xã hội Do Thái thời đó, mảnh đất thí điểm và khởi điểm, Ngài đã chịu chết mới sống lại và vinh hiển về trời. Nói rõ hơn, Chúa về trời là một sự kiện lạc quan sau sự kiện sống lại. Đó là một trả lời dứt khoát, một bảo đảm chắc chắn nhất cho quá trình nhập thể và nhập thế của Ngài. Hay nói khác đi, là một minh chứng hùng hồn nhất cho chân lý Ngài đã rao giảng : Con Thiên Chúa đã phục vụ, cống hiến, ngay cả mạng sống của chính Ngài trước, mới đi vào vinh quang. Như thế, việc Chúa lên trời là một tác động giúp các tông đồ ngày xưa và tất cả chúng ta ngày nay phấn khởi và vững mạnh đức tin hơn.

Thứ hai, ý nghĩa Chúa lên trời đối với giá trị con người : chúng ta đã được nhận là con cái Thiên Chúa, là em và bạn hữu của Chúa Giêsu, thì hẳn nhiên chúng ta cũng sẽ được thừa hưởng kết quả sự sống, sự chết, sống lại và lên trời của Chúa, cũng được theo một tiến trình hoàn thiện như Ngài, vì chính Ngài đã hứa : “Thầy ở đâu thì những người yêu mến Thầy cũng ở đó”. Thực vậy, việc Chúa lên trời đã nâng cao giá trị con người, đã thần hóa thân xác của chúng ta, đã mặc cho cuộc đời mỗi người một ý nghĩa, một giá trị vĩnh cửu. Bởi vì nếu không có đời sau viên mãn thì thực là phi lý cho những đau khổ, những khốn cùng mà xác thịt và thế gian luôn đặt nặng trên vai mỗi người. Hay nếu không chấp nhận tin tưởng vào một sự thăng hóa con người sau khi chôn vùi trong lòng đất, thì chúng ta sẽ chỉ sống và nhìn đời rất bi quan và có thể thực sự chìm ngập trong trạng thái chán nản.

Vì thế, việc Chúa Giêsu lên trời là một sức mạnh nâng đỡ đức cậy và niềm hy vọng của chúng ta : chúng ta cũng sẽ về trời với Chúa. Đó là cứu cánh và mục đích của chúng ta, nếu chúng ta sống hết ngày này qua ngày khác : phấn đấu, lam lũ, vất vả, cực nhọc… chỉ để sống vậy thôi chứ không biết mình sống để làm gì, thì đời này thật là vô nghĩa và phi lý. Nhưng chúng ta sống ở đời này để đạt được nước trời mai sau, cuộc sống đời này là một quãng đường đi vào đời sau. Đời này và đời sau là một, chúng ta không thể bước vào nước trời khi mà đời sống chúng ta đầy tội lỗi, gieo gió gặp bão, gieo thứ gì gặt thứ ấy. Cho nên, chúng ta hãy nhớ : nếu chúng ta không xây dựng cho thật tốt nước trời trong hiện tại, thì chúng ta khó lòng vào được nước trời mai sau.

Chúa Giêsu lên trời không phải Chúa từ bỏ chúng ta, nhưng Ngài chuyển qua sự hiện diện mới với chúng ta trong Chúa Thánh Thần. Ngài ở cùng chúng ta luôn mãi cho đến tận thế và Ngài muốn chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Thánh Thần của Ngài để làm chứng cho Ngài trong môi trường chúng ta sinh sống. Chúng ta cầu xin Chúa gìn giữ chúng ta trong tình thương của Ngài, giúp chúng ta vững mạnh trong đức tin để chúng ta có thể làm chứng cho Chúa mọi nơi mọi lúc.


Giuse Nguyễn Văn Dũng op

 “Hãy nhân danh Thầy mà rao giảng cho muôn dân”
 (Lc 24,46-53)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã cho các tông đồ được xem thấy Chúa lần cuối. Các ông đã không buồn sầu, nhưng trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, bởi vì, Chúa đã không đi vào cõi chết mãi mãi. Chúa đã Phục Sinh và được đưa lên trời, đến cùng Chúa Cha. Chúa đã hoàn thành trọn vẹn sứ mạng cứu thế và rồi từ nay đến lượt các tông đồ tiếp tục sứ mạng ấy, làm chứng tá cho Chúa đến tận cùng trái đất.

 Trước khi rời các tông đồ để được đưa lên trời, Chúa loan báo cho các ông biết rằng, các ông sẽ nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống, quyền năng mà Chúa Cha đã hứa, để hoàn thành sứ mạng vượt quá sức riêng của các ông như lời Chúa đã nói : “Thầy đi thì có lợi cho anh em” (Ga 16, 7).

 Chính anh em là chứng nhân về những điều này. Các tông đồ đã là chứng nhân cho cái chết của Chúa trên Thập Giá và các ông cũng là chứng nhân đã gặp gỡ và trò chuyện với Chúa sau khi Chúa Phục Sinh. Nhưng chính vào lúc ấy Chúa lại rời các ông. Thật là khó cho các tông đồ khi phải cắt đứt những mối dây liên hệ quen thuộc, phải thoát ra khỏi tình trạng lệ thuộc để sống như những người tự do, dám quyết định và dám lãnh trách nhiệm. Tuy nhiên, cuộc ra đi này là một dịp may cho các ông. Đó là cánh cửa mở ra để các ông nắm lấy quyền quyết định và lên tiếng nói. Bởi vì, chính các ông đã nghe những lời giảng dạy, cũng như tận mắt chứng kiến nhiều phép lạ mà Chúa đã làm, và giờ đây các ông cần phải can đảm làm chứng nhân cho sự thật dù có phải chết.

 Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúng con tin rằng Chúa vẫn ở với mỗi người chúng con. Chúa đã Thăng Thiên nhưng Chúa vẫn luôn hiện diện trên trần gian này. Thật vậy, Chúa đã trở về với Chúa Cha, điều đó không có nghĩa là Chúa từ bỏ loài người chúng con, nhưng chỉ muốn đổi cách thức hiện diện với chúng con, hằng ngày chúng con vẫn được tiếp xúc với Chúa qua lời Chúa chúng con nghe mỗi ngày, qua bí tích thánh thể chúng con rước lấy làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn chúng con. Với việc Thăng Thiên Chúa đã bỏ cách hiện diện hữu hình, để từ nay Chúa ở với chúng con luôn mãi.

 Lạy Chúa Giêsu Thánh thể, nhiều lúc chúng con chưa ý thức đầy đủ về mình là người môn đệ của Chúa, chúng con sống giữa dòng đời mà chưa vẽ được dung mạo của Chúa ngay trên cuộc sống của chúng con, chúng con chưa làm cho người khác cảm nhận được sự hiện diện của Chúa ngay trong môi trường chúng con đang sống, chưa diễn tả được hạnh phúc khi có Chúa ở cùng cho mọi người chung quanh qua lời nói, việc làm và cung cách ứng xử của chúng con.

 Lạy Chúa, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 400 năm khi người truyền giáo dòng Đa minh là cha Gaspar da Santa Cruz lần đầu tiên đặt chân lên đất Hà tiên năm 1550, để nối tiếp lời mời gọi của Chúa : “Anh em hãy là chứng nhân của thầy cho đến tận cùng trái đất”. Các Cha anh chúng con đã can đảm làm chứng cho Đức tin. Giáo hội công giáo Việt Nam chúng con có hơn 130.000 tín hữu đã chết để minh chứng cho niềm tin của mình. Năm 1988 Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị tử đạo lên bậc hiển thánh, các ngài đã không bị khuất phục trước cái chết, nhưng đã lấy cái chết để minh chứng cho niềm tin của mình.

 Xin Chúa cho chúng con biết noi gương các bậc cha luôn có đức tin vững mạnh, can đảm làm chứng cho Chúa. Xin cho chúng con ý thức đầy đủ mình là người môn đệ của Chúa là những chứng nhân trong cuộc sống hằng ngày, biết sống khiêm nhường, và biết hành xử với nhau trong tình yêu thương và bác ái, để chúng con có thể làm chứng cho Chúa ngay trong môi trường chúng con đang sống. Amen


Fr Thomas Túy,OP

CHÚA LÊN TRỜI
(Lc 24,46-52)

Một tín hữu đi ngang qua một quán rượu, anh nghe trong quán có tiếng cười nói ầm ĩ. Anh dừng lại lắng nghe, thì ra nhóm đàn ông vừa uống rượu vừa chế giễu tôn giáo và những kẻ có đạo. Anh nói với họ rằng: “Đúng đó, tôi chẳng hiểu các màu nhiệm trong đạo, nhất là kẻ chết có thể sống lại. Nhưng tôi biết rõ một điều ở trong thành phố này, Thiên Chúa đã cúi xuống một nắm đất sét hôi hám, bẩn thỉu vô cùng, Ngài thổi hơi vào nó. Nó liền biến đổi từ gã đâm thuê, chém mướn, sike, trộm cướp, cờ bạc, rượu chè, thành một thanh niên kiến tạo hòa bình, thương yêu giúp đỡ láng giềng. Người đó chính là tôi, đang đứng trước qúi vị đây”. Cả đám đông ồ lên một tiếng. Thì ra họ đã nghe đồn về “anh trưởng” của một mái ấm thành phố mà báo chí thường nhắc đến.

Nếu suy nghĩ một chút, quí vị ngộ ra lời người thanh niên còn đi xa hơn sự thật về anh rất nhiều. Thiên Chúa đã thổi Thần Khí vào nắm đất trong vườn Eđen và nhân lọai thành hình. Ngài lại rợp bóng trên nhân lọai và nhân lọai ấy trở thành Con của Ngài trong lòng trinh nữ Maria. Nhân lọai mới này chịu khổ nạn trên thập giá để đền bù tội lỗi, nhưng ngày thứ ba sống lại. Hôm nay được đón về trời ngồi tòa vinh hiển, có các thiên thần hầu cận.

Lên trời có ý nghĩa thế nào đối với đức Kitô, thì cũng vậy đối với mỗi tín hữu, thí dụ người thanh niên hư hỏng vừa nói ở trên. Vậy lên trời đối với Chúa Giêsu ra sao ? Và chúng ta thế nào? Có được quyền lên trời không ? Phải sống ra sao để theo Chúa ? Trước hết, lên trời đối với Chúa Giêsu là sự nghiệp và đau khổ của một con người đã chấm dứt. Ngài lên cùng Thiên Chúa Cha với thân xác và linh hồn mà Ngài đảm nhận ở dương gian. Ngài và Thiên Chúa Cha kết hợp mật thiết trong tình yêu chân thật là Chúa Thánh Thần. Đấng sẽ đổ ơn lành xuống cho nhân lọai, khởi sự từ biến cố lễ 50. như vậy sự hiện diện của Thiên Chúa trên Giáo Hội không khi nào chấm dứt, đúng như lời Chúa Giêsu tuyên bố: “Thày sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20). Điều Thiên Chúa bắt đầu ở vườn Eden, nay hòan tất nơi đức Kitô, bất chấp tội lỗi. Chương trình của Thiên Chúa không bao giờ thất bại. Chúa Giêsu là con của lòai người, nay là con của Thiên Chúa xét theo nhân tính. Ngài là tạo vật mới vượt qua không gian, thời gian, đau khổ và cái chết. Như vậy nhân tính đã được dự phần vào thiên tính thực thụ và có chứng cớ rõ ràng. Đúng là hy vọng lớn lao cho lòai người ? Chúng ta không được phép thất vọng vì bất cứ lý do nào. Đức Giêsu đã tòan thắng sự dữ và tội lỗi, chúng ta cũng có hy vọng tương tự.

Con đường lên thiên đàng đã được họach định cho nhân lọai. Nhân tính Đức Giêsu vui hưởng hạnh phúc, mà tai chưa hề được nghe, mắt chưa hề được xem, trí tuệ chưa hề tưởng tượng. Ngài uống tận nguồn nước vĩnh cửu của đời sống Ba Ngôi Ngài cử hành muôn thuở chiến thắng thế gian, satan, xác thịt cùng với Đức Mẹ, các thánh và các thiên thần trong vinh quanh. Nhưng xin nhớ trên dương gian Ngài không hề ích kỷ, trên thiên đàng càng xả kỷ hơn nữa. Trên dương gian Ngài chữa lành bệnh tật, cho kẻ què đi được, kẻ điếc được nghe, câm nói được, chết sống lại thì bây giờ chẳng lẽ Ngài không làm được nữa sao ? Ngài đã thí mạng sống vì chúng ta, chẳng lẽ Ngài thôi thực hiện? Vì thế thơ Do Thái viết: “Ngài hằng đứng trước tòa Thiên Chúa để cầu bầu cho nhân lọai”. Nếu bà thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trước khi qua đời hứa mưa hoa hồng ân phúc xuống chị em trong dòng, chẳng lẽ Đức Giêsu không làm được cho chúng ta ?

Cho nên chúng ta phải tin rằng Ngài đang hiện diện trong Hội thánh, tưới gội ơn cứu rỗi cho nhân lọai. Các bí tích là một bảo đảm. Ngài ở với lòai người trong bí tích Thánh Thể y như ở trên trời vinh hiển, yêu thương , quyền năng. Xin đừng đùa cợt với các bí tích đó là công việc Thiên Chúa tiếp tục nơi dương gian. Ngài hòan tòan là con người mới với thân thể thiêng liêng, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Ngài hiện diện cho những ai có đôi mắt đức tin, như các tông đồ xưa, nhất là nơi nhà tạm với ngọn đèn leo lét.

Chúng ta phải làm chi lúc này ? Đừng đứng đó mà ngó lên trời, như hai thiên thần cảnh cáo các môn đệ ? Sự thật một số tín hữu tiên khởi đã lầm tưởng Chúa sắp xuất hiện, nên cứ ngồi đó mà chờ đợi, đến nỗi Thánh Phaolô phải nói thẳng thừng: “Ai không chịu làm thì đừng ăn.” Tín hữu không phải là kẻ mộng du, nhưng là người thức tỉnh, chia sẻ cuộc sống của Ngài, chúng ta phải lao động và làm việc như Chúa. Các người làng Nazareth ngày xưa đã ngạc nhiên: “Anh ta không phải là bác thợ mộc, con bà Maria sao?” Câu nói này chẳng là trò đùa, mà là sự thật. Suy ra, Chúa lao động với đôi tay và khối óc suốt 30 năm. Còn ngài đi đây đó rao giảng sứ mệnh thì quá hiển nhiên. Bốn phúc âm đều thuật lại, không cần biện minh. Vậy mà, hỡi ôi, các tu sĩ linh mục ngày nay cư sử ra sao trong cuộc sống? Họ dùng thời gian, tài sức ra sao cũng hiển nhiên không kém! Chia sẻ cuộc sống với Chúa là điều kiện cần thiết để nên giống Ngài và đọat giải cứu rỗi. Các môn đệ tiên khởi đã nêu gương cho chúng ta hôm nay! Bao lâu nữa Ngài sẽ trở lại? Chẳng ai được biết. Nhưng mọi người đều biết rằng, trừ thân xác, còn linh hồn mỗi người trở về cùng Thiên Chúa thì không phải đợi. Cho nên lao động để nâng đỡ gia đình, con cái, xã hội là cần thiết và như vậy chúng ta tích cực chuẩn bị cho ngày Ngài trở lại.

Hiện thời trên dương gian Tin mừng của Chúa Kitô là Tin mừng thánh giá. Qua tin mừng ấy, nhất là qua những thương tích, Ngài tưới gội sức sống và ơn thánh xuống cho thế giới. Màu nhiệm cứu độ của Ngài còn tiếp tục qua con đường đó, chứ không phải an nhàn, thư thái. Ngài mời gọi chúng ta cộng tác: “Ai muốn theo Tôi, hãy để kẻ ấy vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Vậy mà một tu sĩ trẻ vừa nói với tôi: “Đi tu chỉ mong được có thế !” Ý ông là được ăn sung, mặc sướng, tận hưởng các tiện nghi thế gian. Chẳng hiểu thần khí nào thúc đẩy ông như vậy. Chắc chắn không phải Thần Khí Đức Kitô. Vì hôm nay Ngài về trời để lại cho chúng ta con đường thập giá để noi theo mà tiến bước về trời. Chẳng còn con đường nào khác. Amen. Alleluia.


Đỗ Lực op

Hôm Nay Trời Nhẹ Lên Cao
(Lc 24:46-53)

Cuộc bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ năm 2004 vừa qua đã làm nổi bật lập trường chống phá thai của đảng Cộng Hòa. Cuộc chiến thắng của Cộng Hòa phản ánh thực trạng đa số dân chúng Hoa Kỳ vẫn còn tôn trọng các giá trị luân lý. Trong khi đó, đảng Dân chủ vẫn chủ trương phá thai và tài trợ cho các nước nghèo tham gia chương trình phá thai. Ðiển hình nhất là Hillary Clinton, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ năm 2008. Năm 1995 tại Bắc Kinh, bà đọc bài diễn văn kêu gọi thế giới chấp nhận phá thai là quyền căn bản, tức nhân quyền. Bà quyết liệt hỗ trợ việc phá thai theo nhu cầu, dù thai nhi đang ở bất cứ giai đoạn nào trong chín tháng.

Tất cả những hoạt động chủ trương phá thai đó bắt nguồn từ quan điểm duy vật thực tiễn. Họ khinh thường mạng sống con người. Con người bị trấn áp và tiêu diệt từ trứng nước. Con người đã mất quyền làm người ngay từ trong bụng mẹ. Cần có những giây phút nhìn vào tận nội tâm để tìm hiểu ý nghĩa và giá trị lớn lao của con người.

Nếu con người chẳng có giá trị gì, chắc chắn Con Chúa đã không đến làm người. Việc Người Thăng Thiên càng làm sáng tỏ địa vị và giá trị tối cao của con người khi được hiệp thông với Thiên Chúa. Ðúng như Chúa Giêsu quả quyết : “Khi nào được nâng lên cao, tôi sẽ kéo mọi sự lên với tôi.”

MẦU NHIỆM ÐỨC TIN

Còn hình ảnh nào thơ mộng hơn cảnh Chúa bay về trời giữa đoàn môn đệ ?! Chúa rời xa trái đất để đi vào một thế giới huyền bí, nhưng không phải huyền thoại. Quả thực, tuy là một thực tại, Chúa Thăng Thiên vẫn là một đối tượng đức tin, nằm ở trung tâm mầu nhiệm. Bản tính nhân loại của Ðức Kitô Phục sinh đã được đưa vào thiên giới với Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Linh trong quyền lực và vinh quang. Từ nay, trong chính mầu nhiệm Ba Ngôi xuất hiện bản tính nhân loại. Phải chăng như thế, bản tính nhân loại đã được nâng lên tới cấp độ Thiên Chúa ? Trong khi kiếp người đọa đầy với bao khốn cùng, phải chăng Giáo hội đã đi quá xa thực tế khi tuyên xưng Chúa Thăng Thiên ?

Dưới cái nhìn đức tin, Thăng Thiên là một Biến Cố Cứu Ðộ. Biến cố này phải có một ý nghĩa lớn lao đối với cứu cánh nhân loại. Tất cả bản tính con người trở thành một nơi để Con Chúa hoàn thành tất cả những lời Chúa hứa. Con người có khả năng hành động như Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu Kitô. “Ðức Kitô là Thiên Chúa trong cung cách con người và là con người trong cung cách Thiên Chúa.” (1)Thế nên, các hành động con người nơi Ðức Giêsu trở thành sức mạnh cứu độ nhân loại. Theo thánh Phaolô, Chúa Thăng Thiên đem lại giá trị cứu độ cho con người. Người chính là Ađam mới (Rm 5:18). Bởi đó, mỗi biến cố trong cuộc đời Ðức Giêsu đều thay đổi sự sống con người tận nơi sâu thẳm nhất. Ðức Kitô Thăng Thiên chính là con người thăng thiên, hiệp nhất với thiên tính và thực sự đạt đến cứu cánh muôn đời (x. Ep 2:4-6).

Nhưng cuộc Thăng Thiên không đưa Ðức Giêsu xa rời vĩnh viễn các môn đệ. Trái lại, Người lên cao để hiện diện một cách mới mẻ và sâu thẳm trong lòng mỗi Kitô hữu. Sự hiện diện này sẽ đem lại kết quả tốt đẹp và phong phú hơn, vì cả Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần bây giờ sống trong tâm hồn họ. Chúa Giêsu về trời để hiện diện bằng thân xác với Chúa Cha và hiện diện trong thần tính với các tín hữu. Như thế theo thánh Thomas, chúng ta tiêp xúc với Ðức Kitô trong vinh quang ngay từ bây giờ, chứ không phải mãi sau này mà thôi. Cuộc tiếp cận đó là nền tảng diệu kỳ cho niềm hy vọng của chúng ta. (2)Thánh Augustinô so sánh việc Ðức Kitô hiện diện với chúng ta sau khi Người Thăng Thiên giống như Người hiện diện với Chúa Cha sau khi Người Nhập Thể. Ðức Thánh GH Lêô nói khi Ðức Kitô hiện diện với tư cách con người ít hơn, chính là lúc Người hiện diện với tư cách Thiên Chúa trọn vẹn hơn. (3)

“Hiển nhiên, mầu nhiệm Thăng Thiên cho thấy giờ đây toàn thể bản tính nhân loại được tôn vinh với Ðức Kitô. Kết quả con người được nhận làm con Chúa và thân xác được cứu chuộc trong Ðức Kitô. Nhờ Ðức Kitô Thăng Thiên, mỗi Kitô hữu sẽ lớn lên tới tầm mức sung mãn của vị Nguyên Thủ là Ðức Kitô. Nhờ ân huệ Thánh Linh, họ đạt tới độ sung mãn nhân cách của mình và của cả vũ trụ trong Ðức Kitô, nhờ đồng loạt vận hành cả ba đức tin, cậy, mến.” (4)

GIAO ƯỚC MỚI

Chúa về trời để thiết lập một giao ước mới giữa trời và đất. Giao ước nối kết trời đất sẽ đem niềm vui cho muôn loài. Nhờ giao ước này, Chúa hoàn thành tất cả những gì Chúa Cha đã hứa cho nhân loại. Nhưng để giao ước thành hiện thực, cần phải có Thánh Linh do Chúa sai đến. Nhờ Thánh Linh, Chúa Giêsu hoàn thành lời hứa ở với chúng ta luôn mãi. Giáo hội trở thành hiện thân đích thực của Người nơi trần thế. Thân thể Người vẫn sống bằng tình yêu của Người.

Không khám phá thấy Người đang hiện hiện trong bản thân, chúng ta không thể hưởng được niềm vui ngày lễ Thăng Thiên. Trong những giây phút u buồn, Người là sự bình an của chúng ta. “Ðức Kitô chịu khổ hình.” (Lc 24:46) Vì thế, Người hiểu rõ những thử thách chúng ta đang trải qua, như Người vừa nói với các môn đệ. Người ban bình an vào tận tâm hồn sâu thẳm của ta. Dần dần ân sủng của Người làm cho chúng ta trỗi dậy, thở hít làn gió mới. Ðó là kinh nghiệm phục sinh !

Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Chúng ta còn muốn sống viễn miên. Khi Phục Sinh, Chúa cứu chúng ta. Khi Thăng Thiên, Chúa hoàn thành công trình cứu chuộc. Sau khi chấp nhận thân phận con người, Chúa đã lên ngự bên hữu Chúa Cha trên trời. Người đã làm cho sự sống chúng ta gắn chặt vào tình yêu Chúa Cha. Từ nay chúng ta sống hạnh phúc vì tìm thấy trung tâm và sự quân bình của cuộc sống. Chúng ta sống sự sống Thiên Chúa.

Lên Trời, phải chăng Chúa phủi tay với công cuộc cứu độ ở trần gian ? Thực ra, sau khi đã ban niềm vui và hạnh phúc cho chúng ta, Chúa muốn chúng ta chia sẻ hạnh phúc đó cho tha nhân. Chính vì thế, Chúa trông đợi chúng ta trở thành những “chứng nhân” cho Người, và “phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24:47) Thăng Thiên cũng là lúc Chúa phú thác cho những ai đã được trỗi dậy đem ơn cứu độ cho thế gian. Chúa không muốn biến chúng ta thành những con nợ dưới mắt Người, không những vì Người đã giải thoát, nhưng còn biến chúng ta thành những người giải thoát anh em cùng với Người. Tất cả đều tùy thuộc sức mạnh của chứng từ. Nhưng làm sao có thể làm chứng, nếu không có Thánh Linh ? Chính Thánh Linh “thánh hóa hoàn toàn” từ tận cùng trái đất đến mút cùng chân trời.

Thăng Thiên là mầu nhiệm hoàn thành niềm hy vọng. Chúa đến tận đáy vực thẳm cuộc đời để cứu chúng ta. Người làm cho chúng ta trỗi dậy trong sự sống của Chúa Cha. Nhờ đó chúng ta vĩnh viễn hưởng trọn niềm vui của Chúa. Thánh Phaolô nói: “ Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, Người đã cho chúng ta được cùng sống với Ðức Kitô [...] Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Ðức Kitô Giêsu trên cõi trời.” (Ep 2:4-6) Chúng ta cùng “ngự” bên hữu Thiên Chúa với Ðức Kitô. Sau chặng đường dài đầy tăm tối và thử thách, chúng ta có thể “ngồi” nghỉ ngơi bên Chúa Cha. Từ đây, niềm hy vọng tròn đầy. Thế nhưng, niềm hy vọng chúng ta chỉ thực sự thành tựu khi mọi người sẽ gia nhập Vương Quốc Thiên Chúa. Xin Thánh Linh biến chúng ta thành chứng nhân cho niềm vui Thiên Chúa tới tận cùng trái đất !

NIỀM VUI CHO QUÊ HƯƠNG

Niềm tin nơi Ðức Giêsu không chấm dứt với cảnh Thày trò phân ly. Trái lại, Thày Thăng Thiên để nâng con người lên. Niềm vui tràn ngập khi Thày sai Thánh Linh tiếp tục công cuộc cứu độ nơi trần gian. Phạm vi hoạt động của Thần Khí không đóng khung trong lãnh địa Do thái nữa. Nhưng mục đích vẫn là xây dựng Nước Thiên Chúa dưới trần gian. Giáo hội là phương tiện để Thánh Linh đem công lý và tình thương đến cho muôn dân. Ðúng thế, “Giáo Hội là người bênh vực cho công lý và cho người nghèo.” (5) Khi không thi hành sứ mệnh cao cả đó, Giáo hội phản bội Chúa Kitô và gây hoang mang cho mọi người. Không còn phản chứng nào lớn hơn !

Bởi thế, “những người giáo dân Công giáo phải ý thức trách nhiệm của mình trong đời sống công cộng; họ phải hiện diện trong việc hình thành tiếng nói chung cần thiết và chống lại bất công.” (6) Nhưng làm sao giáo dân có thể ý thức và hành động chống bất công, nếu những vị chủ chăn không hướng dẫn ? Dù ngày nay đã trưởng thành, giáo dân vẫn muốn nghe tiếng nói chủ chăn. Chính vì trưởng thành, nên họ không thể chịu đựng nổi trước những gương mù nơi các vị lãnh đạo nhu nhược. Những người gây chia rẽ Giáo hội không phải là những người dám phê bình xây dựng các nhà lãnh đạo. Chính những người lãnh đạo không lên tiếng đã tạo nên cảnh hoang mang và chia rẽ trong dân Chúa. Khi không khiêm tốn lãnh phần trách nhiệm của mình, chúng ta không thể tạo được sự hiệp nhất cần thiết cho công cuộc rao giảng Tin Mừng.

Trong bài giảng sáng 13/5 vừa qua tại Rôma, giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch HÐGMVN, đã kêu gọi cộng đồng Công Giáo Việt Nam trong và ngoài nước gia tăng đoàn kết với nhau. Trong công cuộc tranh đấu hôm nay, “Giáo Hội là người bênh vực cho công lý và cho người nghèo, vì Giáo hội không đồng hoá với các chính trị gia cũng không đứng vào các lợi ích của đảng phái. Chỉ bằng cách đứng độc lập mà Giáo Hội có thể dạy bảo những tiêu chuẩn cao quý và những giá trị bền vững, hướng dẫn lương tâm và trình bày một lập trường chọn lựa sự sống vượt trên bầu khí chính trị. Huấn luyện lương tâm, là trạng sư của công lý và sự thật, giáo dục cá nhân và các đức tính chính trị: đó là ơn gọi nền tảng của Giáo Hội trong những lãnh vực này.” (7)

Nếu xác tín Ðức Giêsu Thăng Thiên đang hiện diện sâu thẳm trong tâm hồn và cộng đoàn bằng tất cả sức mạnh Thần Khí, chúng ta đã có thể làm chứng cho mọi người biết rằng “sự hiện diện của Thiên Chúa, tình bằng hữu với Con Thiên Chúa nhập thể, ánh sáng của Lời Chúa luôn là những điều kiện nền tảng cho sự có mặt và tính hữu hiệu của công lí và tình yêu trong các xã hội của chúng ta.” (8) Nếu không đủ xác tín như thế, chúng ta không thể làm cho Thiên Chúa hiện diện thực sự trong môi trường xã hội. “Một xã hội mà vắng bóng Thiên Chúa không thể tìm được một tiếng nói chung về các giá trị luân lí hoặc sức mạnh để sống phù hợp với mẫu mực của các giá trị này, dù cả khi họ gặp xung đột với nhau giữa các lợi ích riêng tư.” (9) Trách nhiệm về ai ?

Nhìn vào gương can đảm của ÐGH Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI, chúng ta sẽ thấy rõ lập trường Giáo hội. Trong cuộc viếng thăm Ba tây vừa qua, ÐGH Bênêđictô XVI đã mạnh mẽ tố cáo : “Cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa Mác-xít đều hứa vạch ra con đường tạo lập những cơ cấu công bình. Họ tuyên bố, một khi được thiết lập, các cơ cấu này sẽ tự hoạt động. Họ cho thấy không cần đặt ưu tiên đạo đức cá nhân, chỉ cần phát huy đạo đức tập thể. Thực tế ai cũng thấy lời hứa do ý thức hệ này cố ý lừa đảo. Thực tế hiển nhiên chứng minh điều đó.’

Lạy Chúa, xin Chúa luôn hiện diện trong cộng đoàn CGVN, để chúng con có thể làm cho cả dân tộc trỗi dậy và vươn lên tới Chúa là nguồn vui đích thực. Amen.

-------

1. New Catholic Encyclopedia, 2nd, (1) 2003, tr. 771.

2. Summa theologiae 3a, 57.6 và ad 2; x. 2Cr 5:16-18.

3. Sđd., tr. 772.

4. sđd, tr. 772.

5. ÐGH Bênêđictô XVI, Libreria Editrice Vaticana 14.05.2007.

6. Sđd.

7. VietCatholicNews 15/05/2007.

8. ÐGH Bênêđictô XVI, Libreria Editrice Vaticana 14.05.2007.

9. Ibid.


Lm. Jude Siciliano, OP
(Anh Em HV Đaminh chuyển ngữ)

Hãy loan báo Tin Mừng bằng lời nói và cả việc làm
Ga:
17: 20-26

Vào đại lễ Thăng Thiên chúng ta đã cử hành việc Đức Giêsu trở về với Cha. Thánh Luca đã thuật lại cho chúng ta khoảnh khắc đó trong bài đọc một, trích từ sách Công vụ Tông đồ (1,1-11). Khi Đức Giêsu được cất lên khuất khỏi tầm mắt của các môn đệ thì xuất hiện “hai người đàn ông mặc áo trắng” đứng bên cạnh họ. Rồi hai người đó hỏi các môn đệ tại sao vẫn đứng đó mà ngước nhìn về trời. Họ đã quả quyết với các ông rằng Đức Giêsu sẽ ngự đến “y như các ông đã thấy người lên trời.” Hai ông đã gợi lại những gì Đức đã hứa với các môn đệ: Thánh Thần sẽ đến để hoàn tất những gì Đức Giêsu đã khởi sự, bằng việc tăng sức cho họ để họ tiếp tục sứ vụ của Người cho đến khi Người trở lại. Họ cũng nói về sự trở lại của Đức Giêsu vào thời sau hết, khi Người đến để đưa mọi sự tới thành toàn.

Thông điệp mà hai người đàn ông đã nói với các môn đệ cũng là nói với chúng ta. Chúng ta sẽ không bị bỏ mặc một mình để hoàn tất một danh mục “những việc phải làm và không được làm” mà Đức Giêsu để lại. Không có loại danh mục như thế. Những gì Người hứa là gửi Thánh Thần để trợ giúp. Nếu Thánh Thần không đến thì các môn đệ và cả chúng ta chỉ có nước đóng cửa tiệm mà về nhà và quên đi việc cố gắng trở thành Kitô hữu trong một thế giới thờ ơ lạnh nhạt này! Nếu không có Thánh Thần, chúng ta có thể bị bỏ mặc với những cố gắng công thức hóa các lời dạy của Đức Giêsu thành một mớ những lối hành xử. Như thế thì thật là tẻ nhạt, quan liêu và trống rỗng làm sao!

Không phải mãi tuần tới mới là lễ Hiện Xuống, song ngay hôm nay chúng ta đang ở giữa thời điểm mà Đức Giêsu đã nói: mong đợi “lời hứa của Cha,” Thánh Thần đến vào ngày lễ Hiện xuống. Dĩ nhiên, Thánh Thần đang ở với chúng ta; Đức Giêsu đã hoàn thành lời của Người, và gửi cho chúng ta Đấng Được Hứa. Cũng thế, Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta một cơ hội để đụng chạm đến những gì mang lại cảm giác giống như đang sống trong thời kỳ đợi trông và chưa hoàn tất. Dù có quà tặng của Thần Khí, chúng ta vẫn đang ở khoảng giữa của thời điểm đức Giêsu Thăng thiên và ngày Người trở lại vào giờ tận thế. Quá nhiều việc còn bỏ dở dang trong đời sống của mỗi chúng ta, trong giáo xứ và trong thế giới. Chúng ta vẫn còn nghe vang vọng lời khuyến dụ của bài đọc Khải huyền, “Ai nghe hãy nói ‘Xin Ngài ngự đến.” Ai khát hãy đến; ai muốn, hãy đến lãnh nước trường sinh.”

 Chúng ta là một dân đang chờ đợi. Tuần này, Chúng ta được nhắc nhớ điều đó khi chúng ta cử hành ngày lễ vọng để đón Thần Khí đến cuộc sống chúng ta một lần nữa vào ngày lễ Hiện xuống. Trong lúc chờ đợi, chúng ta biểu tỏ qua lời Kinh Lạy Cha: “Nước Cha trị đến…” Chúng ta muốn được là khí cụ mang đến sự hoàn tất của vương quốc tình yêu, hiệp nhất và công bình mà Đức Giêsu đã loan báo. Trong sự chờ đợi, chúng ta cũng cầu nguyện bằng câu cuối cùng trong Tân Ước, được trích trong sách Khải huyền rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.” 

Bài Tin mừng của ngày hôm nay trích lại diễn từ từ biệt của Đức Giêsu và lời cầu nguyện của Người trong đêm trước ngày chịu nạn. Người sẽ nhìn vượt khỏi những người đang cùng bàn và hướng đến tương lai, để thấy chúng ta những người sẽ tin vào Người nhờ những lời rao giảng của họ. Sách Công vụ Tông đồ bắt đầu các tường thuật về những gì các môn đệ đầu tiên đã thực hiện nhờ tác động của Thánh Thần. Họ không còn sợ hãi và đi rao giảng khắp mọi nơi. Chúng ta đã đón nhận và chấp nhận những lời của các môn đệ, và cùng với các ngài, chúng ta đã cảm nghiệm được sự sống của Thánh Thần. Thánh Thần đó làm cho chúng ta có thể sống một đời sống của tình yêu hy hiến mà Đức Giêsu đã dạy. 

Chẳng hạn, trong bài đọc Công vụ hôm nay, chúng ta chứng kiến cái chết của vị tử đạo đầu tiên là Têphanô. Chúng ta đừng bỏ qua điểm tương đồng trong cái chết của Têphanô, cũng có lời cầu nguyện cho những kẻ hành hình, với cái chết của Đức Giêsu? Sẽ đến ngày chúng ta được thông ban Thần Khí của Đức Giêsu, chúng ta cũng sẽ cầu nguyện như Têphanô “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy linh hồn con.”

 Ngày đó có thể vẫn còn xa. Chúng ta đang trong thời điểm lưng chừng, đang mong đợi sự hoàn tất mọi sự trong Đức Giêsu. Chúng ta nghe thấy câu mà hai người đàn ông đã hỏi lúc Chúa Thăng Thiên, “Sao các ông còn đứng đó mà nhìn lên trời?” Trong lúc chờ đợi sự trở lại của Đức Giêsu, chúng ta có việc phải làm. Chúng ta phải sống đời sống thường nhật của mình với sự hướng dẫn của những lời cuối cùng mà Đức Giêsu nó với các môn đệ - chúng ta hành động vì hiệp nhất; hoa trái của sự hiện diện đầy yêu thương của chúng ta trong thế giới. Chúng ta được hứa ban cho Thần Khí và vì vậy chúng ta mở lòng ra với sự nhân ái và yêu thương đối với tất cả mọi người thuộc mọi tôn giáo và truyền thống. 

Trong khi đợi chờ Đức Giêsu trở lại và mọi sự được hoàn tất trong Người, chúng ta tin rằng lời hứa của Đức Giêsu đã được hoàn trọn. Chúng ta đã được Thần Khí làm cho mạnh mẽ và vì thế có thể gạt đi những hận thù và trao tặng sự tha thứ. Nhờ Thần Khí của Người, đời sống của chúng ta được ghi dấu cũng bằng chính tình yêu của Đức Giêsu. Qua Thần Khí, chúng ta học được sự tín thác mỗi ngày và phó thác đời mình hơn nữa trong bàn tay của Thiên Chúa. Chúng ta sống mỗi ngày trong khoảnh khắc hiện tại khi chúng ta phục vụ và yêu thương những người thân cận. Trong tất cả lời nói, hành động, suy nghĩ, yêu thương và trao tặng, chúng ta nguyện rằng Đức Giêsu sẽ nối kết chúng ta lại trong một mái nhà, một công việc và trong tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống, để giúp chúng ta làm việc thiện trong danh của Người. Chúng ta cầu xin “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.” Vì chúng ta cầnThánh Thần của Người để giữ vững niềm hy vọng và nỗ lực như môn đệ của Người trong một thế giới không ngừng chối bỏ và chống đối này.

Sứ vụ mà Đức Giêsu nhận từ Chúa Cha là bộc lộ qua đời sống của Người tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Giờ đây, lời cầu nguyện của Đức Giêsu cho thấy ước mong của Người rằng: Người và Cha sẽ cư ngụ trong cộng đoàn những người tin và tình yêu của cộng đoàn sẽ phản chiếu sự hiện diện yêu thương của Cha và Con. Nếu chúng ta làm chứng cho tình yêu linh thánh giữa chúng ta, thì tình yêu đó sẽ lôi kéo người khác đến với chúng ta (“… để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa”). Sứ vụ của Giáo hội là phản ánh tình yêu mà chúng ta đã biết nơi Đức Kitô.

Đức Giêsu muốn rằng chúng ta cũng sẽ phản ánh sự hiệp nhất giữa Người và Chúa Cha. Đó là một lệnh truyền cho chúng ta – cả trong Hội thánh cũng như giữa các Giáo hội. Nếu chúng ta chưa phản ánh hoàn toàn sự hiệp nhất như Đức Giêsu với Cha, chúng ta được khuyên hãy nghe Người nói, “Con đã cho họ biết danh Cha và sẽ còn cho họ biết nữa”. Đức Giêsu muốn mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta. Để nhận biết Thiên Chúa của chúng ta là công việc tiệm tiến; Đức Giêsu tiếp tục mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta và bày tỏ ước muốn của Thiên Chúa vì sự hiệp nhất của chúng ta,

Hôm nay, khi lên hiệp lễ, chúng ta sẽ hiểu được sự hiệp nhất đã có trong chúng ta: chúng ta sẽ nhận cùng một Mình và Máu của Chúa. Nhưng chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ việc thiếu sự hiệp nhất giữa chúng ta. Thực ra, dường như ngày nay sự khác biệt ngay trong Hội thánh của chúng ta lớn hơn gấp nhiều lần sự khác biệt giữa các giáo hội. Khi hiệp lễ sẽ cho ta một cơ hội để cầu xin Đức Giêsu rằng sự hiệp nhất Người với Cha được phản ánh một cách hoàn hảo hơn nữa trong chính giáo hội của chúng ta và giữa tất cả người tin. 

Một thuyết minh viên trên truyền hình cách đây vài ngày đã cho rằng vụ bê bối về lạm dụng hiện nay trong Giáo hội của chúng ta là khủng hoảng tồi tệ nhất của chúng ta trong 200 năm qua. Thần Khí mà Đức Giêsu đã hứa cần đến để làm mới lại một lần nữa, như Người đã làm trong ngày lễ Hiện Xuống, với luồng gió và hình lưỡi lửa. Bởi vì chúng ta đang trong tuyệt vọng và cần hơi thở chữa lành và khôn ngoan của Thần Khí. Chúng ta cần Thần khí để nhóm lên một ngọn lửa mới trong chúng ta để chúng ta có thể chú tâm trọn vẹn cho sứ vụ Đức Giêsu đã trao cho chúng ta khi Người ra đi là: Hãy loan báo Tin Mừng bằng lời nói và cả việc làm. 


Lm. Jude Siciliano, OP. (Học viện Đaminh chuyển ngữ)
 

Xin hãy giúp con biết tha thứ

Cv 7, 55-60; Kh 22,12-14, 16-17; Ga 17,20-26

 

Kính thư quý vị,

Những ngày Chúa Nhật sau Phục Sinh, các bài đọc I được trích từ sách Công vụ Tông đồ, và bài đọc II lấy từ sách Khải Huyền. Chúng ta không mấy khi nghe giảng về những cuốn sách này (thú thực tôi hiếm khi giảng về sách này), vì thế, những tuần qua tôi có dịp suy ngẫm về sách Khải Huyền. Hơn nữa, đây là Chúa nhật cuối cùng chúng ta nghe sách Công vụ Tông đồ, tôi nghĩ đây là thời rất thích hợp để tập trung về quyển sách này. Vì vậy, tôi quyết định sẽ giảng về sách Công vụ Tông đồ vào ngày Chúa Nhật này và cũng khuyến khích những vị khác cũng giảng như thế.

Trong bài đọc sách Công vụ Tông đồ hôm nay, có hai nhân vật nổi bật là ông Stêphanô – vị tử đạo tiên khởi và “một thanh niên tên là Saolô”. Quả là rất ngạc nhiên khi chúng ta nhận thấy rằng vị tông đồ vĩ đại Phaolô lại đồng lõa trong cái chết của Stêphanô. Giữa đám đông, ông Saolô không chỉ đồng tình ném đá Stêphanô, mà các chứng nhân còn “trải áo mình dưới chân” ông. Thánh Luca tiếp tục nói với chúng ta về ông Saolô như một kẻ bách hại những Kitô hữu, “Ông Saolô vẫn còn hằm hằm đe dọa giết các môn đệ Chúa” (x. Cv 9,1-2).

Dường như thánh Luca, tác giả sách Công vụ Tông đồ, đang chuẩn bị một tình huống cho sự hoán cải đặc biệt của ông Saolô bằng cách nhấn mạnh sự thay đổi đó quan trọng như thế nào, đó là từ việc rất mực đồng tình lên án ông Stêphanô, rồi sau đó lại trở thành một người bảo hộ sáng giá và là người khởi xướng đức tin cho dân ngoại. Thật là một sự diễu cợt đầy mỉa mai trong lời tường thuật ngắn gọn về ông Saolô. Bởi vì, những đọc giả Kitô hữu rất đỗi ngạc nhiên về ân sủng mà ông Saolô nhận được. Chính ân sủng đó đã đưa ông Saolô tới một đức tin mãnh liệt đến nỗi sẵn sàng chết cho niềm tin ấy, và ân sủng đó thể hiện rõ nét nhất nơi ông Stêphanô, bởi lẽ ông là một vị anh hùng tử đạo đầu tiên trong số những vị tử đạo.

Luôn có đó một ân sủng làm biến đổi như thế dành cho mỗi chúng ta. Dù chúng ta đang ở đâu, ân sủng ấy cũng giải phóng và làm đổi hướng cuộc đời của ta, như chính Phaolô đã trải qua. Thánh Luca cho thấy ân sủng mãnh liệt của Thiên Chúa không loại trừ bất kỳ ai; không người nào cứ bị mắc kẹt hoài trong lỗi lầm như thế, hoặc tự hủy hoại chính lối sống của mình, mà ân sủng lại không vực họ dậy và đặt họ trên lối đi vững chắc của đời sống mới trong Đức Kitô.

Bài Tin Mừng của chúng ta ngày hôm nay tiếp tục với diễn từ ly biệt của Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly. Thánh Gioan diễn tả một trình thuật được xây dựng cẩn thận và thấu đáo về những lời sau cùng của Đức Giêsu. Trong Công vụ Tông đồ, chúng ta cũng có một loạt về “diễn từ sau cùng”, đó là khi chúng ta nghe lời cầu nguyện của Stêphanô lúc ngài hấp hối: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con”. Theo cách thức Thầy của mình, vị Thầy mà từ trên thập giá đã cầu xin cho những người hành hình mình, ông Stêphanô đã cầu xin cho những người ném đá mình: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” – sau đó ông tắt thở. Hoặc có thể nói là, “ông an nghỉ”, nghĩa là ông Stêphanô không chết vĩnh viễn mà sẽ chỗi dậy, như những chứng nhân trung thành làm chứng cho Chúa.

Điều gì đã khiến ông Stêphanô phải nhận một kết cục chết người như thế? Sách Công vụ Tông đồ cho ta biết về cuộc đời gương mẫu của thánh Stêphanô. Stêphanô là “một người được đầy ân sủng, quyền năng và đầy Thánh Thần” (x.Cv 6,5.8), ông là một người can đảm rao giảng Tin Mừng. Hơn nữa, khi đứng trước các nhà cầm quyền, ông không hề nín lặng. Thậm chí họ còn lôi ông ra trước Thượng Hội Đồng Dothái, nhưng ông vẫn không ngừng nói về Chúa Kitô. Khi phát biểu trước hội đồng, ông Stêphanô tóm lược lịch sử của Israel và cáo buộc họ vì đã từ chối các sứ giả của Thiên Chúa. Ông kết luận rằng, từ đây trở đi, những người thờ phượng đích thực sẽ lắng nghe sứ giả của Thiên Chúa bên ngoài Đền thờ.

Làm sao Thượng Hội Đồng Dothái không tức điên trước lời chỉ trích của ông Stêphanô nhằm vào đức tin của họ, và việc ông không nhận Đền thờ như một trung tâm thờ phượng duy nhất? Họ buộc ông tội nói phạm thượng và kết án ném đá ông cho đến chết. Sự kiện đó nằm trong câu chuyện của bài đọc hôm nay, trích từ trình thuật trong sách Công vụ Tông đồ. Nếu chúng ta ở cạnh bên thánh Stêphanô sắp bị xử tử, cũng như Chúa Giêsu bị xét xử ở ngoài thành. Những gì Đức Giêsu đã cảnh về các môn đệ của Người sẽ bị phân tán vì đã làm chứng cho Người và sẽ bị bách hại cũng như bị giết chết vì đức tin của mình, nay đã được ứng nghiệm nơi lòng trung tín của ông Stêphanô. Qua Đức Giêsu, ông Stêphanô và Phaolô, chúng ta có được một lời chứng hùng hồn cho Giáo hội, một Giáo hội đã khởi sự và phát triển như ngày nay nhờ máu của các thánh tử đạo.

Lời tuyên tín của ông Stêphanô vào Chúa Giêsu vẫn còn tiếp diễn vì ông đã làm chứng về thị kiến thấy Đức Giêsu được tôn vinh là Chúa và Người ngự bên hữu Thiên Chúa. Nói cách khác, ông muốn nói rằng hãy vâng phục Chúa Giêsu như vâng phục Thiên Chúa Cha vậy. Khi thực hiện điều đó trước Thượng Hội Đồng Dothái, ông Stêphanô một lần nữa lại tuyên bố việc tuân theo luật Môisê đã qua rồi, đồng thời xác quyết rằng Chúa Giêsu đã ban cho ta một giao ước mới và giao ước đó trường tồn. Những điều đó đã khiến cho người nghe không thể chấp nhận được và vì thế đã ném đá ông cho đến chết.

Trong khi kể cho chúng ta về cái chết và những lời trăng trối của ông Stêphanô, thánh Luca cũng muốn biến chúng ta thành những nhân chứng. Thánh sử không chỉ trình bày cho chúng ta về mẫu gương của vị tử đạo tiên khởi, mà còn cho đưa ra một thách đố nữa. Liệu Chúng ta có phải là một trong những nhân chứng đang bịt tai, che mắt trước những điều ông Stêphanô đang nói và đang làm không? Hay là chúng ta sẽ nói những lời dễ nghe và bắt chước tinh thần tha thứ của ông Stêphanô? Ông Stêphanô thực hiện cách cụ thể và rõ ràng lời dạy quan trọng của Chúa Giêsu về sự tha thứ, trong những hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc đời.

Vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu và noi theo tấm gương của vị tử đạo tiên khởi, liệu chúng ta có sửa mình để thực sự tha thứ trong những việc lớn nhỏ hằng ngày không? Chúng ta liệu có cầu nguyện cho chính người đã làm tổn thương ta hay không? Hay chúng ta tiếp tục cố chấp và tiếp tục hận thù, oán giận và bực bội? Chúng ta không chỉ thực thi lòng tha thứ ở mức độ cá nhân, nhưng cả Giáo hội và mọi Kitô hữu đều phải làm như thế, chẳng hạn như: thực hành tha thứ giữa những tín hữu của các giáo hội Kitô anh em, mà chúng ta còn phải hướng đến những người Hồi Giáo, Dothái giáo, Ấn giáo, v.v…

Sức mạnh của việc tha thứ đích thực nằm ngoài khả năng của chúng ta, nhưng tất nhiên không hoàn toàn có thể với Chúa Kitô, Đấng ban cho chúng ta ân sủng như một món quà của việc tha thứ cách vô điều kiện, vì ông Stêphanô đã làm chứng cho chúng ta. Hôm nay, chúng ta cùng dâng lên lời cầu nguyện của thánh Gioan trong lời kết của sách Khải Huyền. Thánh sử kết thúc sách thị kiến của mình bằng lời hứa và lời cầu nguyện. Đức Giêsu hứa: “Chẳng bao lâu nữa ta sẽ đến” và ông Gioan bày tỏ lời cầu nguyện sau cùng của chúng ta: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến, xin hãy thay đổi trái tim con và làm cho trái tim con đầy sức mạnh của sự tha thứ. Xin hãy giúp con thực hành điều tha thứ đó trong việc lớn nhỏ hằng ngày - ở nhà, nơi làm việc, lúc nghỉ ngơi – cũng như trong tình cảm và suy nghĩ. Xin hãy giúp con tha thứ vô điều kiện như Ngài đã tha thứ cho con. Những gì con không thể làm được thì xin Ngài hãy làm cho con. Lạy Chúa Giêsu, xin Ngài ngự đến!”