![]() | |
LỄ ĐÊM GIÁNG SINH - A,B,C Is 9:1-6; Tt 2:11-14; Lc 2:1-14 Lm Đào Trung op: Sứ Điệp Hòa Bình "Đêm Noel Hạnh Phúc" Lm Giuse Nguyễn Cao Luật, op: Cái Đêm Hôm Ấy... Lm Giuse Nguyễn Cao Luật, op: Đánh Thức Những Tiềm Năng Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op: Thiên Chúa Tình Thương Fr. Jude Siciliano, op: Thiên Chúa Đã Đoái Thương Dân Người Fr Jude Siciliano, op : Ơn cứu độ TC tỏ hiện nơi việc thiện của chúng ta V. Kỳ OP : Giáng Sinh Niềm Vui Cho Mọi Người Lm Đỗ Lực op : Đường Nào Cho Chúa Đến Fr. Jude Siciliano, op: Sống chừng mực, công chính và đạo đức
Sứ Điệp Hòa Bình : (Mời đọc : Bài viết có Phim minh họa) Năm 2005, có một bộ Phim nổi tiếng được thực hiện tại Pháp mang tên "Đêm Noel Hạnh Phúc" (Joyeux Noel) tái hiện lại một đêm Noel Thanh Bình hiếm hoi năm 1914, trong cuộc thế chiến thứ nhất. Hôm ấy, vào lúc gần nửa đêm 24-12-1914. Ngay trong cuộc chiến khốc liệt giữa quân đội Đức và phe đồng minh. Bỗng có tiếng chuông giáo đường từ xa vọng tới, tiếng chuông báo hiệu thánh lễ Nửa Đêm của thánh đường nào đó. Tiếng chuông khiến đôi bên đều tạm ngưng tiếng súng, một sự thinh lặng bao trùm cả không gian. Những người lính cố lắng tai theo dõi tiếng chuông đang ngân nga, và ngước mắt lên trời cầu nguyện. Có lẽ họ đang tưởng nhớ đến khung cảnh ấm cúng của gia đình mình, nghĩ đến bữa "réveillon" với người thân bên lò sưởi, và nhớ đến con gà tây truyền thống. Thế rồi điều kỳ diệu đã xảy ra. Một binh sĩ nào đó bỗng cất lên tiếng hát từ chiến hào. Anh hát lên bản thánh ca "Đêm Thánh Vô Cùng". "Silent night, holy night - All is calm, all is bright. Round upon Virgin, Mother And Child. Holy Infant so tender and mild. Sleep in heavenly peace - Sleep in heavenly peace". Và không ai bảo ai, từ khắp các chiến hào khác những binh sĩ đang là đối thủ của nhau, cùng hòa theo bản thánh ca bất hủ ấy. Họ là những người Anh, Scotland, Pháp và Đức. Một vài sĩ quan của các bên rời chiến hào, tiến về phía trước và bắt tay nhau. Họ thống nhất tất cả sẽ tạm ngưng cuộc chiến. Sau đó đến lượt các chiến binh khác. Tất cả những người lính của các bên đều tạm gác súng, giơ cao bàn tay không vũ khí, họ rời chiến hào tiến ra vành đai trắng. Họ ôm lấy nhau, gửi cho nhau những lời cầu chúc và những món quà giáng sinh. Họ góp nhau phần nhu yếu phẩm của mình để tổ chức chung bữa tiệc nhỏ mừng ngày ra đời của Ngôi Lời giáng thế. Họ chuyền tay nhau điếu xì gà của Anh, uống chung những ly rượu vang của Pháp, và whisky của Anh. Chưa bao giờ những điếu thuốc và ly rượu lại ấm áp tình người đến thế. Đạo diễn của bộ phim, ông Christian Carion kể rằng : "Tôi thực sự xúc động và bất ngờ khi đọc những tài liệu lịch sử viết về cuộc thế chiến thứ nhất, đề cập đến biến cố có thật này. Nhất là khi được đọc một vài đoạn trích từ các lá thư của những người lính có mặt trong cuộc chiến. Họ bị chính phủ cưỡng bách ra chiến trường, vì người ta không cho họ có chọn lựa khác". Trong thư có người viết : "Tôi thấy khuôn mặt của anh ấy cũng giống khuôn mặt của tôi. Chúng tôi tiến đến gần nhau, tay trong tay, mặt đối mặt, và nhận ra chúng tôi là anh em của nhau". Một người lính khác đã kể lại trong lá thư gửi người yêu mình rằng : "Anh đã nhìn thấy những giọt nước mắt trên khuôn mặt đồng đội. Anh nhận ra chính anh trong khuôn mặt của kẻ thù". Khi thực hiện bộ phim, ông Christian Carion nói lên ý muốn của mình, đó là ước muốn cổ động cho hòa bình, cho tình người. Và chia sẻ một chi tiết khá lý thú trong quá trình làm phim. Để bộ phim có giá trị, ông đã mời các diễn viên thuộc các quốc tịch khác nhau tham gia. Khi đóng các đoạn phim cuộc chỉến , các diễn viên ngồi ăn theo quốc tịnh của mình. Người Anh ngồi riêng, người Pháp ngồi riêng, người Đức ngồi riêng. Thế nhưng sau khi diễn cảnh "Đêm Noel Hạnh Phúc" rối, các diễn viên ấy ngồi ăn chung với nhau, và cười đùa với nhau cách vui tươi và thoải mái. Bộ phim được nhiều người khen ngợi vì đã làm sáng lên ước vọng hòa bình ngay giữa cảnh chiến tranh, và đề cao tình người được phát triển giữa những kẻ thù trong các chiến hào. Với niềm tin, chúng ta nhận ra trong biến cố này, sứ mệnh của Con Thiên Chúa, vị Hoàng Tử Bình An. Nó gợi cho chúng ta nhớ đến lời ca của thiên sứ trong ngày giáng sinh "Bình an dưới thế cho người thiệm tâm". Bởi vì sứ mệnh của Ngôi Hai Thiên Chúa chính là hòa giải đất với trời, là nối kết các tâm hồn, và làm cho những kẻ xa lạ trở thành bạn hữu thân quen. Và như thế, chúng ta nhận ra một lời kêu mời trong mùa Noel : Hãy phá đổ những hàng rào ngăn cách giữa con người, những bức tuờng phân cách chúng ta với nhau, hãy đến với nhau trong tình thân ái của những người anh em một nhà, vì tất cả đều là con một Cha trên trời, và tất cả đã được Thiên Chúa yêu thương cứu độ. ĐÊM NHẬP THỂ Đức Giêsu đã đến lần thứ nhất trong khiêm cung, nghèo hèn. Chính. Trong thân phận giới hạn đó, Người lại muốn làm chứng cho mọi người thấy chiều kích vô biên của Thiên Chúa trong giới hạn tầm thường của một phàm nhân. VÔ BIÊN TRONG HỮU HẠN Thiên Chúa không biết đến bất cứ giới hạn nào. Người siêu việt trên tất cả. Bởi vậy thật là kỳ diệu, khó hiểu khi Người chấp nhận giới hạn như bất cứ thụ tạo nào. Khi xuống trần làm người, Thiên Chúa đã mặc lấy tất cả chiều kích thời gian và không gian. Chính thánh sử Luca đã cho thấy chiều kích thời gian :"Thời ấy, hoàng đế Augusto ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên được thực hiện thời ông Quirinô làm tổng trấn xứ Xyria" (Lc 2:1-2). Nghĩa là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, cũng bắt đầu hiện hữu nơi trần gian vào một thời gian nhất định. Thời gian sẽ đóng khung cuộc đời của Người như bất cứ ai. Đấng không hề có khởi điểm lại chấp nhận bị vây hãm trong vòng thời gian chật hẹp như chúng ta. Không một thứ triết học nào có thể hiểu nổi sự kết hiệp kỳ diệu ấy. Chiều kích không gian cũng khắt khe không kém. Đức Giêsu đã được sinh ra trong "thành vua Đavít" (Lc 2:4). Hình ảnh huy hoàng này chỉ gợi nhớ lời hứa Chúa thực hiện cho nhà Đavít. Thực tế thật là bi thảm. Chúa đã sinh ra "trong máng cỏ" (c.7), giữa cảnh bơ vơ, hất hủi, "vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ" (c.7). Một Thiên Chúa làm bá chủ toàn thể vũ trụ, chỉ tìm được một nơi sinh ra kém một người bình thường ! Thật là bất lực, yếu đuối ! Từ Thiên triều tráng lệ, Chúa lao thẳng xuống cảnh nghèo hèn. Cảnh tượng thật trái ngược. Chúa đến qui tụ "những người chăn chiên sống ngoài đồng" (c.8), sống "bên lề xã hội" (Kinh thánh Tân Ước : 1995). Xuất hiện như thế, làm sao Đấng Messia có thể hấp dẫn nổi những tâm hồn vẫn ngưỡng vọng một anh hùng cái thế, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ Rôma ? Nhưng chính trong khung cảnh trần trụi đó, Đức Giêsu đã mạc khải tất cả nguồn ơn cứu độ, vì "sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (2Cr 12:9). Đời sống những người chăn chiên không còn êm ả bình thường nữa, vì "họ kinh khiếp hãi hùng" trước cảnh tượng "sứ thần đứng bên họ và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh" (c.9). Họ không hiểu chuyện gì xảy ra. Tất cả đều ngoài sức tưởng tượng. Như thế là bàn tay Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử nhân loại ư ? Làm sao họ có thể chuẩn bị sẵn sàng ? Giữa lúc họ kinh hoàng, lạc lõng như thế, sứ thần trấn an ngay : "Anh em đừng sơ"(c.10). Chính đời sống đơn sơ nghèo hèn đã chuẩn bị cho anh em xứng đáng đón nhận "tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa" (c.11). Thế mới hiểu được tại sao Chúa nói : "Phúc cho anh em là những kẻ khó nghèo, vì nước Thiên Chúa là của anh em" (Lc 6:20). Sống ngoài luật Do thái, họ không hề biết đến giấc mơ huy hoàng của một Đấng Messia oai hùng. Từ cảnh tượng nghèo hèn, họ cũng chỉ tìm gặp được Chúa trong cảnh nghèo hèn. Sứ thần cho họ một dấu chỉ phi dấu chỉ : "Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng co" (c.12). Có một cái gì đó quá quen thuộc với cuộc sống hằng ngày của những người chăn chiên, làm sao tạo nổi dấu chỉ ? Nhưng chính sự nghèo khó mới là dấu chỉ lớn lao nhất cho sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa. Nếu sống giữa cảnh xa hoa tráng lệ, chắc chắn những người chăn chiên đó không thể nghe muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng : "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (c.14). Tâm hồn họ tràn ngập niềm vui, vì Đấng đã từng làm vinh danh Thiên Chúa, nay trở thành nguồn bình an cho toàn thể nhân loại, trong đó họ là những người đầu tiên đón nhận vinh dự đó. Nói khác, "cuộc giáng sinh của Đức Giêsu là bảo chứng của ơn bình an ấy." (Kinh thánh Tân Ước 1995) Người sẽ nối kết trời đất trong một hòa điệu tuyệt vời. Nguồn bình an ấy chỉ có thể kiếm thấy nơi một mình Đức Giêsu, vì "Người thật là Đấng cứu độ trần gian" (Ga 4:42). Như thế Đấng Messia Thiên Chúa sai đến còn oai hùng hơn anh hùng cái thế theo quan niệm trần tục của Do thái nhiều, vì Người đến giải phóng toàn thể nhân loại khỏi nô lệ tội lỗi. TIN MỪNG HÔM NAY Tiếp nối công cuộc cứu độ, Hội Thánh hôm nay cũng đang nhập thể vào cuộc sống nhân loại để "biến đổi lịch sử và thế giới" (Kilcourse:1993). Mặc dù sống theo tinh thần khó nghèo, Hội Thánh luôn phấn đấu chống lại nghèo khó. Tinh thần khó nghèo đã không trở thành một khẩu hiệu mị dân. Trái lại vì khó nghèo nên Kitô hữu mới được giải thoát để có thể dễ dàng dấn thân nhập thể như Chúa Kitô. Chẳng hạn biết bao tổ chức bác ái Công giáo đã giải thoát hàng triệu người khỏi cảnh cùng cực khổ đau. Trận lụt miền Trung vừa qua, đồng bào cũng đã đón nhận được những viện trợ tinh thần và vật chất từ những người sống mầu nhiệm Đức Kitô nhập thể. Kitô hữu không bao giờ là khách bàng quan trước những anh em đau khổ. Trái lại, "vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng ho" (GS 1). Kitô hữu đã chia sẻ thực sự đến tận cùng tất cả nỗi khổ đau nhân loại. Đối với nhiều người, đau khổ có thể là "kỳ đã cản mũi". Nhưng đối với Kitô hữu, đau khổ lại là lời mời gọi tìm dung nhan Thiên Chúa. Sở dĩ vì "chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta"(2 Ep 2:10). Nghĩa là trước khi nhập thể cùng với Đức Kitô, "chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa" (c.10), được nhào luyện trong ngọn lửa tình yêu Thánh Linh. Đó là lý do tại sao Hội Thánh không ngừng hoạt động cho hạnh phúc nhân loại trên mọi lãnh vực và cấp độ, dù phải đổ máu. Chẳng hạn, Giáo hội không ngừng tranh đấu cho quyền sống của những trẻ sơ sinh, người nghèo, người bị áp bức, cho hòa bình thế giới. Biết bao nhiêu Kitô hữu đang âm thầm hi sinh cho các người đau khổ trong các trại cùi, cô nhi viện, các xóm nghèo lao động v.v. Cùng nhập thể với Đức Giêsu, Kitô hữu sẽ làm cho cả nhân loại "thấy một ánh sáng huy hoàng" (Is 9:1) là Đức Kitô, để "đem ơn cứu độ đến cho mọi người." (Tt 2:11) "Vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta xuất hiện vinh quang."(c.13) Đúng ra, "những món quà đó phải nhắc nhớ đến Đức Giêsu, món quà Thiên Chúa gởi cho nhân loại." (ĐGH Gioan Phaolô II:CWNews 23/12/2002) Ngày nay hình ảnh Chúa Hài Nhi Giêsu không còn xuất hiện trên những tấm thiệp hay những món quà Giáng Sinh. Nhân vật chính đã biến khỏi sân khấu cuộc đời. Thiên hạ bận rộn và quay cuồng với việc sắm sửa cuối năm. Mấy ai dừng lại để tìm ra ý nghĩa truyền thống Giáng sinh tốt đẹp hôm nay ? Nhưng đây là thời gian "các Kitô hữu nên cầu nguyện gấp đôi, và chuẩn bị cử hành lễ Giáng Sinh với 'sự thinh lặng nội tâm', theo gương Đức Maria và thánh Giuse, và bắt chước các ngài 'sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa" (ĐGH Gioan Phaolô II:CWNews 23/12/2002) như một luồng sáng chiếu soi cuộc đời đầy tăm tối hôm nay. CÁI ÐÊM HÔM ẤY ... Ðêm tối và đứa trẻ Ðêm nay, Ðêm nay, Ðêm nay, Và cũng đêm nay, Cùng lúc ấy, những người chăn chiên đang canh giữ đàn vật tại cánh đồng được nghe lời loan báo : "Hôm nay, Ðấng cứu độ anh em đã ra đời trong thành vua Ða-vít, Người là Ðấng Ki-tô, là Ðức Chúa." Quả thật, "trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ", yếu đuối như bất cứ đứa trẻ nào khác, chính là Con Thiên Chúa làm người. Chính trong đứa trẻ này, "Thiên Chúa đã nhảy ra khỏi tàu" (ÐHY Etchegaray), Người đã từ vĩnh cửu bước vào trong thời gian, đã từ vô cùng đi vào hữu hạn. Thiên Chúa làm người có nghĩa là giữa Thiên Chúa vĩnh cửu và con người hữu hạn đang thành hình một cộng đổng nhân vị, một tương giao thâm sâu vượt trên mọi thứ tương giao khác. Qua trẻ thơ bé nhỏ và yếu đuối này, cộng đổng nhân vị giữa Thiên Chúa và loài người đạt tới tầm mức cao cả nhất của sự hòa hợp : Thiên Chúa đón nhận con người vào trong cuộc sống thần linh, con người được đối diện trực tiếp với Thiên Chúa. Hay nói cách khác, đó là một cộng đổng mà "một trái tim cạnh một trái tim" (K. Rahner). Con người được nghe tiếng thì thầm của Thiên Chúa, lời tình yêu, và Thiên Chúa đón nhận toàn bộ cuộc sống của con người với tất cả những khỗ đau và phiền muộn của thân phận này. Như thế, giữa đêm đông giá lạnh của trần gian, Thiên Chúa đã đến để thắp lên ngọn lửa vĩnh cửu, ngọn lửa đem lại hơi ấm và ánh sáng. Giữa đêm đông của cô đơn và đam mê, giữa đêm đen của chia rẽ và hận thù, Thiên Chúa đã đến để xóa tan mọi hiềm khích và nghi ngờ. Người đã đến để trao tặng bình an và bắt đầu công cuộc quy tụ tất cả thành một. Người đã đến để lập một trật tự mới, trật tự trong quy tụ và bình an. Giữa bóng tối của lầm lạc và tuyệt vọng, Thiên Chúa đã đến để vạch ra một con đường, bởi vì trẻ sơ sinh bé nhỏ ấy là một con người cao cả, Con Người đích thực. Nơi Con Người ấy, nhân loại bắt đầu một đời sống mới, hướng nhìn về tương lai phía trước với hy vọng và mục đích rõ ràng. Nơi Con Người ấy, nhân loại được "làm người", tức là trở thành con người đúng nghĩa, trở thành con Thiên Chúa. Giữa bóng tối của khỗ đau và đợi chờ, Thiên Chúa đã thực hiện toàn bộ những lời hứa trong Cựu Ước. Người can thiệp vào lịch sử nhân loại cách dứt khoát để cứu độ những kẻ là Dân của Người. Qua trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ, Thiên Chúa đã bắt đầu cuộc gặp gỡ chung cuộc với nhân loại : trước hết qua những người chăn chiên, và sau đó, qua những hiền sĩ từ phương Ðông đến. Cái hang đá tầm thường này trở thành điểm gặp gỡ, đổng thời cũng là nơi khởi đầu cho một hành trình rất dài : hành trình của chính đứa trẻ, hành trình của toàn thể nhân loại tiến về với Thiên Chúa là Cha. Ðêm nay, Thiên Chúa, Người vẫn thế Cho đến ngày nay, vẫn còn không ít người lấy làm ngạc nhiên khi đọc lại lời loan báo của sứ thần với những người chăn chiên : ""Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ"". Tại sao Thiên Chúa lại xuất hiện trong khung cảnh tầm thường và khó nghèo như thế ? Quả thực, con người phải luôn cố gắng giữ mình để khỏi choáng váng trước những "cách thế" của Thiên Chúa. Mỗi biến cố do Thiên Chúa đề xuất phải được đón nhận trong lòng tin chứ không phải chỉ bằng lý luận. Con người phải luôn sẵn sàng tìm hiểu điều Thiên Chúa muốn dạy bảo qua từng hoàn cảnh, đôi khi rất khó tưởng tượng. Thiên Chúa vẫn thế, Người thường xuất hiện ở những nơi người ta ít chờ đợi Người nhất. Người thực hiện những kỳ công theo cách thế riêng của Người. Chỉ có Thiên Chúa mới đưa ra những sáng kiến lạ lùng, và chỉ những ai có tinh thần trẻ trơ mới có thể hiểu được. Tuy vậy, không phải Thiên Chúa muốn hù dọa con người hay làm cho họ bị choáng ngợp. Chính Người là Tình Yêu, tình yêu đích thực. Tình yêu ấy luôn thực hiện những điều tốt đẹp cho con người. Và cũng tình yêu ấy luôn có những cách thế phù hợp để tự bày tỏ chính mình, đổng thời bày tỏ những điều lớn lao, vượt trên mọi thứ suy luận phàm trần. Như thế, trong khung cảnh êm đềm của ngày lễ Giáng Sinh, sứ điệp của Thiên Chúa chính là tình yêu được trao tặng cho nhân loại, đặc biệt cho những thành phần vốn bị xã hội coi thường, những thành phần bị gạt ra bên lề, chẳng hạn như những người chăn chiên đang ngủ đêm tại cánh đổng. Do đó, Con Trẻ Bê-lem trở thành một bài học về những sáng kiến diệu kỳ của Thiên Chúa, Con Trẻ ấy cũng là một mẫu gương cho bất cứa ai muốn gặp gỡ Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn đến với con người trong những cái bình thường, bình thường đến nỗi họ không nhận ra. Nhưng đằng sau cái bình thường ấy, lại là những điều quá lớn lao mà chưa bao giờ họ ngờ tới. Tiếng nói cuối cùng "Thiên Chúa đã đến, Người hiện diện, hoàn toàn khác với những điều chúng ta mong muốn. Trong biến cố này, mọi chuyển động đều hướng về một đích điểm duy nhất, và tận điểm đã được xác định rõ ràng. Chúng ta được kêu mời, cùng với cả trần gian, đến chiêm ngưỡng khuôn mặt của chính Thiên Chúa với tất cả nét huy hoàng rực rỡ. Công bố mầu nhiệm Giáng Sinh chính là bày tỏ cho toàn thế giới biết rằng, qua Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa đã nói lên tiếng nói cuối cùng, tiếng nói thâm sâu và tuyệt vời. Lời ấy đã được gieo vào giữa lòng nhân loại và không thể bị lấy mất được, bởi vì đó là một hành động dứt khoát của Thiên Chúa, và bởi vì chính Thiên Chúa vẫn đang hiện diện giữa thế giới. Lời ấy chính là một lời tâm sự, một lời reo vui có ý nghĩa là : "Ôi trần gian, Ta mến thương ngươi ! Ôi con người, Ta yêu mến ngươi ! ..."" (Theo K.Rahner) Đánh Thức Những Tiềm Năng Một sự kiện có vẻ như bình thường Đọc bản Tin Mừng lễ Giáng Sinh theo thánh Luca, người ta nhận thấy có những hoạt động khác nhau : Câu chuyện xảy ra tại một địa điểm rất bé nhỏ trong toàn bộ một cuộc kiểm tra dân số trên toàn quốc. Con người ta tổ chức những việc lớn lao và rầm rộ, còn Thiên Chúa lại đến giữa loài người một cách khiêm tốn và âm thầm. Trong khi các viên chức đang lo kiểm tra về dân số tại từng địa phương, thì tại máng cỏ Bêlem xảy ra một sự kiện lịch sử : một Con Trẻ ra đời. Và từ sự kiện hầu như quá tầm thường này, lại khởi đầu từ một cuộc sắp xếp lại toàn bộ trật tự thế giới. Việc sắp xếp này vượt ra khỏi mọi quy tắc điều hành và chính trị, với sự chứng kiến của những người bị coi là hèn kém trong xã hội, đó là những mục đồng, những kẻ đang qua đêm ở những cánh đồng. Qua những con người này, tất cả nhân loại được loan báo về Tin Mừng Bình An. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón tiếp (Ga 1,11). Nhân loại vẫn sắp xếp chương trình theo những tính toán của mình. Mọi sự như nằm trong tầm kiểm soát của họ. Thế nhưng, có những sự kiện vượt ra khỏi những toan tính của họ ; Thiên Chúa đến trần gian trong một nơi không ai để ý, vào lúc người ta không ngờ. Thiên hạ vẫn mải mê với những công việc của mình, không có chỗ nào cho Đấng Cứu Thế trong các căn nhà. Nhưng chính sự kiện có vẻ như tầm thường ấy lại có tính cách quyết định, có ảnh hưởng trên toàn lịch sử. Đúng vậy, chính nhờ một con trẻ mà thế giới được khai sinh và tái khởi đầu. Theo nguyên ngữ, trẻ em là người “không nói được”. Chúng không thể ra lệnh, không thể tuyên bố điều gì ; ngược lại, vị hoàng đế “ra chiếu chỉ”. Để ổn định trật tự thế giới, hoàng đế Xêda Âugusto truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Còn Con Trẻ Giêsu đảo lộn thế giới để rồi thiết lập trật tự hòa bình. Thay vì kiểm tra, Người qui tụ nhân loại chung quanh mình. Vương quốc Thiên Chúa không giống các vương quốc trần gian : Thiên Chúa đã thiết lập vương quốc của Người nhờ một Con Trẻ, mà lời nói không phải là mệnh lệnh hay kiểm tra, nhưng sẽ là “tình yêu và bình an”. Một trẻ thơ đã ra đời Khẳng định như thế không có nghĩa nào khác hơn là công bố cho trần gian biết rằng có một con người đã xuất hiện, một con người không như mọi người : đó là Đức Giêsu Kitô. Đó là một con người đã can đảm và kiên trì thuyết phục nhân loại về tính cách thần thiêng của Người cũng như của chính họ. Người đã thành công trong việc giúp con người nhận ra Người là Con Thiên Chúa, và nhờ Người, tất cả nhân loại đều được mời gọi trở thành những người con. Đó là một Con Người, xuyên qua những đau đớn tột cùng, đã có ý tỏ mình ra là Đấng Cứu Thế, Đấng Giải Phóng. Đúng thế, hình ảnh con trẻ được bọc trong khăn, nằm trên máng cỏ gợi lên hình ảnh thân thể của Đấng chịu đóng đinh, được cuốn giải băng và nằm trong mộ. Con trẻ được sinh ra trong đêm Noel cũng chính là Đấng sẽ chịu chết và sẽ sống lại vào ngày Vượt Qua, đem lại chiến thắng trên sự chết. Đứng trước máng cỏ, con người lại hướng về Thánh Thể, về Đấng đã tự nhận là “Bánh Ban Sự Sống”, và thân thể Người chính là lương thực nuôi trần gian. Hôm nay, chính Đấng Phục sinh được sinh ra. Noel đã là dấu chỉ của mầu nhiệm Phục Sinh. Con Trẻ được sinh ra, nhưng đã “có” từ trước muôn đời, trước khi vũ trụ được hình thành : “Người ở giữa thế gian, thế gian nhờ người mà có” (Ga 1,10). Con Trẻ đó cũng là Lời Sáng Tạo, là ánh sáng huy hoàng của Thiên Chúa giữa trần gian, là nguồn mạch sự sống, hôm nay đã mang lấy hình hài “con người” và ở giữa nhân loại. Một trẻ thơ đã ra đời – bình thường như những sinh hoạt khác của con người, bình thường như những đứa trẻ khác – nhưng lại khởi đầu cho những sự mới mẻ, cho một giai đoạn mới, giai đoạn có tính cách quyết định đối với vận mệnh của mỗi người cũng như cả lịch sử nhân loại. Bởi vì, nguồn gốc của đứa trẻ này thật lạ lùng, và những hoạt động sau này cũng thật lạ lùng. Xin một phút thinh lặng Cần phải thinh lặng để chiêm ngắm, để lắng nghe những điều kỳ diệu hàm chứa trong mầu nhiệm này. Đó là sự thinh lặng của người mẹ đang ngắm nhìn đứa con mới sinh ra : đứa con ấy chính bà đã cưu mang và giờ đây đã được sinh ra. Đó là sự thinh lặng của người cha đang vui mừng về một chương trình lớn lao với sự góp phần nhỏ bé của mình : trước mặt xã hội, ông là cha của đứa trẻ, và ông sẽ là người hướng dẫn đứa trẻ bước vào cuộc đời. Thinh lặng Với các mục đồng, và tất cả mọi người. Thinh lặng. Một khởi đầu rất đỗi dịu dàng và âm thầm. Và chính trong sự thinh lặng ấy lại mở ra những điều lớn lao. Chính từ trong đêm đen thinh lặng, đã bùng lên ánh sáng chói lòa, ánh sáng đồng nghĩa với giải thoát, với tự do. Một máng cỏ với con trẻ đã phá vỡ cái tầm thường của cuộc sống, phá vỡ bóng tối của tử thần. Bởi vì trong sự thinh lặng này là sự khởi đầu bao hàm những khả năng kỳ diệu : “Người đã cho chúng ta quyền để trở nên...” Trong Đức Giêsu nhập thể, nhân loại được đánh thức với những khả năng tiền tàng mà lâu nay bị bỏ quên, bị vùi dập trong bóng tối, bị đè nặng dưới ách tội lỗi. Sống là sinh ra, là bắt đầu. Đó là khả năng lớn nhất con người nhận được từ Đức Giêsu Giáng Sinh. Con người phải sinh lại từ Thiên Chúa để sống một đời sống mới trong Đức Giêsu. Họ sẽ tiến bước trong Nguồn Ánh Sáng. Như Đức Kitô, họ sống giữa trần gian, “không phải là do khí huyết, cũng không phải là do ý muốn tự nhiên của con người, hoặc do ý muốn của phái nam”. Trong họ, bắt đầu một cuộc sáng tạo, đó là bình minh đầu tiên của mọi buổi bình minh. Như vậy, trước máng cỏ, chúng ta sẽ phải thinh lặng để nhận định rõ ràng về cơ may Đức Giêsu đem lại cho chúng ta. Đó là một đời sống mới với tất cả vẻ cao quý của nó. Đó là một nhân loại có tính “người” hơn … Rất nhiều tiềm năng trong chúng ta, trong xã hội, đã bị quên lãng, và hôm nay, Đức Giêsu xuất hiện để đánh thức những tiềm năng ấy, tạo điều kiện thuận lợi để chúng phát triển, để vươn lên. Cùng với Đức Giêsu Giáng Sinh, chúng ta bắt đầu cuộc hành trình mới để làm người, và làm con Thiên Chúa trong tin tưởng và hy vọng. Thiên Chúa tình thương Một thiếu phụ theo chồng về quê quán để khai sổ gia đình, và khi về tới nơi thì sinh con đầu lòng, nhưng vì không tìm được nơi trú ngụ, đành phải vào tá túc trong một cái hang, nơi tạm trú của chiên bò. Cái cảnh tượng thảm thương đó, thực ra ở thời nào mà chẳng có, ở nơi nào mà chẳng xảy ra. Và ở một nơi nào đó trên thế giới, có khi là ngay tại Nữu Ước, một thành phố nổi tiếng là giàu có vào bậc nhất, chứ không cần phải nói tới xứ Ấn Độ vẫn mang tiếng là nghèo và lắm kẻ lang thang. Ở một nơi nào đó, vào ngay giờ này, vẫn có những bà mẹ sinh con ở đầu đường xó chợ, bên cạnh những vũng sình lầy, bên cạnh những đống rác, không có được một cái tã sạch để bọc con, không có một máng cỏ để đặt con nằm, và cũng chẳng có một con bò hay con lừa nào thở hơi ấm cho. Những cảnh tượng như thế vẫn xảy ra hằng ngày, nhưng không mấy ai thèm để ý, nói chi đến chuyện viết thành sách hay đăng trên báo, bởi vì nếu viết thì lấy đâu cho đủ giấy và có viết cũng chẳng ai thèm đọc. Vậy mà biến cố xảy ra ở Bê-lem cách đây hai ngàn năm lại đã được ghi chép vào lịch sử, được nhắc tới không ngừng, và hằng năm, khắp nơi trên hoàn cầu, nhân loại hân hoan nô nức cùng kỷ niệm, có gì đã khiến lịch sử phải ghi lại biến cố đó ? và tại sao nhân loại lại mặc cho biến cố đó một ý nghĩa trọng đại như thế ? Hẳn là vì con trẻ sinh ra đêm ấy tại Bê-lem không giống như các con trẻ khác, và đêm giáng sinh ấy đã mở ra một kỷ nguyên mới cho loài người. Đúng thế, đoạn Tin Mừng hôm nay thánh Lu-ca thuật lại một cách rất đơn sơ biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử loài người, đó là biến cố Thiên Chúa giáng sinh làm người, mà đêm nay, khắp nơi trên mặt đất, đều mừng lễ kỷ niệm, trong muôn tiếng đàn ca vang dội, muôn ánh đèn chiếu sáng tưng bừng. Giữa cảnh náo nhiệt hân hoan bên ngoài mà bất cứ ai cũng cảm thấy, dầu có tín ngưỡng hay không, nhưng đối với người Công giáo cần phải hồi tâm lại trước máng cỏ để suy niệm về mầu nhiệm giáng sinh. Gọi là mầu nhiệm giáng sinh, vì sự kiện Chúa sinh ra tại hang đá Bê-lem không phải chỉ là một sự kiện lịch sử như bất cứ một sự kiện lịch sử nào khác, nhưng là một mầu nhiệm, phải có con mắt đức tin chúng ta mới nhìn thấy hết ý nghĩa của nó. Thánh Gio-an tông đồ đã diễn tả mầu nhiệm nhập thể bằng một câu vắn tắt : “NGÔI LỜI ĐÃ THÀNH XÁC THỊT, LÀM NGƯỜI VÀ Ở GIỮA CHÚNG TÔI”. Mầu nhiệm nhập thể chính là niềm tin một Đấng vừa là người hoàn toàn mà cũng vừa là Thiên Chúa nữa. Con trẻ non nớt yếu hèn nằm khóc trong hang đá Bê-lem kia, đức tin dạy cho chúng ta biết : đó là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Thiên Chúa. Thực sự, đây là một phép lạ của tình thương, và chỉ có tình thương mới làm nổi : Thiên Chúa cao sang vì quá yêu thương loài người, đã chiếu cố hạ mình xuống ngang hàng với thụ tạo, để trở nên một người như chúng ta, chung sống giữa chúng ta. Tình yêu san bằng mọi chênh lệch, phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách, để gần nhau, đồng hóa với nhau. Chúa yêu thương con người nên đã làm người, Ngài đã đến để chung sống với chúng ta, đồng hành với chúng ta, chia sẻ cuộc đời với chúng ta. Ngài là Thiên Chúa nhưng đã trở thành anh em với chúng ta. Chúa yêu thương anh em nhân loại của mình bằng một trái tim nhân loại, nhưng đó không phải là một tình yêu tầm thường, ích kỷ mà là tình yêu phục vụ và dâng hiến, tình yêu cứu sống, và đây cũng là bài học Chúa dạy chúng ta. Có một tác giả đã nói rằng : “Trái tim không phải là một món hàng để mua bán, nhưng là một món quà để trao tặng”. Một trái tim không biết ban tặng là một trái tim chết, sự giàu có hay nghèo nàn chỉ có thể phân biệt con người thành giai cấp, thứ bậc : có người giàu tiền rừng bạc bể, có người nghèo không một đồng xu dính túi, thế nhưng mỗi người chỉ có một trái tim, và người ta không thể cân lường được trái tim. Do đó, quà tặng xuất phát từ trái tim có giá trị không phải là ở nơi món quà nhưng là ở trái tim được gói ghém trong món quà. Một ánh mắt trong sáng, một nụ cười thông cảm, một lời nói ủi an, một bàn tay nâng đỡ…đó là bao nhiêu trái tim mà con người có thể trao tặng cho nhau, và đó cũng có thể là món quà cao quý nhất mà bao nhiêu người xung quanh đang chờ đợi nơi chúng ta. Lạy Chúa, Chúa đã sinh xuống trần gian làm người như chúng con, Chúa cũng có một trái tim như chúng con, trái tim Chúa là một món quà luôn được ban tặng cho mọi người, xin Chúa ban cho chúng con trái tim nồng nàn để biết rung động trước những đau buồn của những người xung quanh, và luôn sẵn sàng mở rộng để trao ban, dù chỉ là một chia sẻ nhỏ mọn, vì tin rằng tất cả những gì chúng con làm cho người khác là làm cho chính Chúa. THIÊN CHÚA ĐÃ ĐOÁI THƯƠNG DÂN NGƯỜI Thưa quí vị, Chuyện kể rằng: Có 2 người uống rượu với nhau. Một người vốn tính lạc quan, người kia bi quan. Khi đã ngà ngà say, người lạc quan chỉ chai rượu nói: “Vui vẻ đi anh, chúng ta còn nửa chai nữa.” Người bi quan buồn rầu đáp: “Vui thế nào được, sắp hết rượu đến nơi rồi.” Chẳng hiểu tôi thuộc về hạng người nào? Lạc quan hay bi quan? Vì chưa chi đã nhìn thấy Giáng sinh đi qua. Sự náo nhiệt của ngày lễ sắp hết. Thế là một mùa đáng nhớ nữa rơi vào kỷ niệm. Đúng vậy, đêm nay những món quà cuối cùng được thuê gói giấy, đóng hộp và gửi đi. Các bữa tiệc mừng tại văn phòng, trường học, công sở đã vãn. Bánh kẹo, thịt khô, rượu mùi, tạp hoá trang hoàng đã được đặt mua xong và sẵn sàng cho lễ hội ngày mai. Gia đình, bạn bè, khách khứa đã lo liệu xong quần áo, giày dép, mũ nón để đi thăm hỏi thân nhân, họ hàng, làng xóm, láng giềng hoặc du ngoại. Sau thánh lễ nửa đêm, ai nấy đều buồn ngủ. Nhưng vẫn cố gắng hoãn đến chiều ngày lễ lúc đó sẽ làm một giấc ngon, còn bây giờ chưa thể bỏ rơi cuộc vui mừng lễ, đón tiếp khách khứa. Tuy nhiên, rồi sẽ đế lúc tan tiệc rã đám. Người ta sẽ thu gom hang đá, cây thông, đồ vật trang hoàng cất đi cho mùa Noel sang năm, phế thải quăng ra đường cho phu quét rác dọn đi. Chừng hai ba ngày nữa chạy ra các cửa tiệm mở sớm để mua hàng hoá đại hạ giá dành cho sang năm. Dĩ nhiên, cũng hai ba ngày nữa các hoá đơn sẽ dồn dập bay tới và chúng ta méo mặt lo liệu tiền bạc trả các công ty, chậm trễ sẽ chịu lãi suất cao hơn. Cuối cùng mọi người mệt nhoài, nhưng hài lòng về một lễ Giáng sinh đã qua. Chúng ta nghỉ ngơi và chờ đợi ngày đi làm như bình thường. Câu chuyện đúng như vậy không, thưa quí vị? Nhưng xin nhớ, những hoạt động đó là của thế gian, những nhà kinh doanh buôn bán, ngân hàng kiếm lời. Còn đối với tín hữu, chúng ta nhìn Giáng sinh bằng thái độ khác, nghiêm chỉnh hơn. Các lễ hội, sinh hoạt phụng vụ đối với tâm hồn tín hữu mang ý nghĩa sâu xa, bền vững hơn. Chúng ta vừa trải qua bốn tuần lễ Mùa Vọng, đón chờ, khao khát Chúa đến thăm. Chẳng lẽ lại có thái độ hời hợt như vậy sao? Không, Giáng sinh không chấm dứt vào chiều 25 hoặc 26/12 nó chỉ là khởi đầu và kéo dài tới 2 tuần lễ nữa, chứ không phải một hoặc hai ngày. Nó giúp chúng ta ý thức và đáp trả lòng tốt của Thiên Chúa, Đấng đã tưới gội ơn lành xuống thế gian. Nó nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng mỗi tín hữu chứ đâu phải lễ hội mua vui chóng qua? Nó khích lệ đôi mắt chúng ta nhìn rõ những biểu hiện khác nhau của vinh quang Thiên Chúa trên trần gian. Do đó, mùa Giáng sinh là thời gian chúng ta ý thức Thiên Chúa bày tỏ quyền năng và ơn lành cho loài người. Chóp đỉnh của nó là lễ Chúa chịu phép rửa mà các tín hữu đông phương mừng như lễ sinh nhật mới. Các bài đọc suốt hai tuần này đồng hành với tâm trí tín hữu, ban khả năng cho họ chìm sâu vào mầu nhiệm Giáng Sinh và Thiên Chúa tỏ mình cho nhân loại. Tháng 7/1969 phi hành gia Neil Armstrong và hai người bạn đổ bộ lên mặt trăng. Cả thế giới nín thở chờ đợi và theo dõi các hoạt động của họ. Khi hoàn thành sứ vụ, trở về trái đất, lập tức họ được tôn vinh anh hùng nhân loại. Người ta tổ chức ăn mừng linh đình, diễu hành phố xá, hình ảnh xuất hiện trên mặt báo chí toàn cầu. Thiên hạ nhảy múa, hò reo. Nhưng chỉ hai tháng sau, chẳng ai còn nhớ tới họ nữa và chuyến đi “nổi tiếng” của họ cũng rơi vào quên lãng. Tuy nhiên, có một trẻ thơ sinh ra trong nghèo đói tối tăm hơn hai ngàn năm trước, thì nay lại được nhớ đến, ca tụng và ăn mừng muôn thủa. Niềm vui ngày em sinh ra tràn ngập mọi tâm hồn. Nơi em chào đời, làng nhỏ Bethlem, đi vào ký ức như một kỷ vật không thể quên. Thử hỏi tại sao ? Câu trả lời chỉ có thể là lợi ích thiêng liêng em mang đến cho trần gian. Armstrong và các bạn bất quá đem được mấy kg bụi đất mặt trăng về. Nhưng quà của Chúa Hài Đồng thật vô giá: Đời sống thần linh. Cho nên nhân loại vui mừng không kể siết, người ta kỷ niệm năm này qua năm khác mà vẫ chưa no thoả, cơ hồ như tồn tại vĩnh hằng. Vậy thì hời hợt thế nào được? Bài đọc một đêm nay, Isaia nói rõ việc này hơn: “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vòng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi… Họ mừng vui như người ta hỷ hoan trong mùa gặt. Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ và ngọn roi của kẻ hà hiếp, đều bị Ngài bẻ gẫy, đập tan.” Chúng ta đã từng ngớ ngẩn cậy dựa vào ánh sáng thế gian và phải thất vọng. Chúng ta đã tin tưởng vào quyền lực, tiền tài, kỹ thuật, văn minh, tưởng chừng như chúng sẽ đem lại hạnh phúc nhưng đã nhầm. Thế giới với nạn khủng bố, kỳ thị, ghen ghét, đố kỵ, thực ra là đúng như lời vị tiên tri: “mảnh đất tối tăm.” Hơn nữa những thứ mà chúng ta coi như tự do hạnh phúc, thì Isaia nói thực tế chỉ là “ách trên vai, gậy trên lưng, roi vào mình…” Bởi vì thế gian chẳng bao giờ lắng nghe tiếng êm dịu của hoà bình. Ngược lại, liên tục gây hấn và chiến tranh hoặc dùng ngôn ngữ của vị tiên tri: “giày lính nện xuống rần rần, áo choàng đẫm máu”. Nghe kỳ lạ không quý vị ? Vậy chúng ta chẳng thể bảo vị tiên tri cổ lỗ, lỗi thời. Ong mô tả điều chúng ta chứng kiến hàng ngày chung quanh mình, cả hai bình diện thế giới và đời sống cá nhân ! Có ai không phải vật lộn ? Có ai không phải đấu tranh ? Thiêng liêng, kinh tế, văn hoá, chính trị? Thực ra Isaia tường thuật những nhiễu nhương của thời ông, trên đất nước ông. Nhưng cũng là của thời chúng ta, trên thế giới hiện nay. Cho nên chúng ta được nhắc nhớ rằng: đừng tự cao tự đại. Người ta chẳng có khả năng tháo gỡ những khó khăn ấy mà phải cậy nhờ vào Hoàng tử hoà bình, Cố vấn kỳ diệu, Thần linh dũng mạnh, người Cha muôn thủa như tuyển dân Dothái ngày xưa vậy. Thiên Chúa đã nhìn thấy những nhọc nhằn, khổ nhục của chúng ta và đã gửi Đấng “quyền bính bao la, hoà bình vô tận” đến cứu giúp. Chẳng vì công nghiệp chúng ta nhưng chỉ vì “yêu thương nồng nhiệt Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện cứu vớt”. Tuy nhiên, không phải bằng đường lối chúng ta chờ đợi mà bằng đường lối riêng của Ngài, theo thượng trí và khôn ngoan vô cùng. Vì vậy nếu không có ánh sáng Chúa soi dẫn, chúng ta chắc chắn không thể đáp trả chính xác tiếng Ngài mời gọi, lại rơi vào bóng tối và thảm cảnh lầm lạc thế gian. Thực tế, các kinh sư, tư tế, ký lục Do thái xưa đã mắc vào con đường ấy. Ngày nay cũng vậy thôi, nếu chúng ta không biết cầu xin và tỉnh thức. Chè chén vui chơi tối ngày thì làm thế nào tranh thủ được ơn Chúa? Xin nhắc lại rằng: Ngài không đến trong đường lối rực rỡ vinh quang với kèn đồng, lửa cháy, sấm sét, binh hùng tướng mạnh mà trái lại, bé nhỏ nghèo hèn. Hôm qua chúng ta gọi là “quy luật Belem”. Thánh Phaolô viết trong bài đọc 2 rằng : “An sủng dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.” Thánh nhân còn thêm: “Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.” Thánh Luca rõ ràng hơn khi mô tả Thiên Chúa xuất hiện giữa nhân loại trong vóc dáng một hài nhi nghèo khổ. Thánh nhân mở mắt cho chúng ta xem thấy và chiêm ngắm Hoàng tử Hoà bình nằm trong máng cỏ : “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.” Thế đấy, Thiên Chúa đến với nhân loại như vậy và sẽ còn đến nữa, đến nữa trong đường lối bé nhỏ, khiêm hạ, nghèo hèn. Chắc chắn chúng ta chẳng gặp Ngài nếu cứ ăn ở huyênh hoang kênh kiệu, đầy kiêu căng tự mãn. Phúc Âm đêm nay có nguy cơ nhàm chán. Câu truyện kể đi thuật lại nhiều lần khiến có người thuộc lòng. Thượng vị La mã ra chiếu chỉ kiểm tra dân số. Thánh Giuse và Đức Mẹ trở về quê cũ Belem. Đức Mẹ đang mang thai. Không có chỗ trong quán trọ. Đức Mẹ sinh con tại hang chiên cừu. Đặt con nằm ở máng cỏ bò lừa… Chuyện quá quen thuộc khiến người ta đọc như cái máy ghi âm mà chẳng hiểu chi. Thực ra Thiên Chúa đã sử dụng thượng vị La mã làm công cụ để thực hiện chương trình của mình. Thượng vị kiêu ngạo truyền biến thần dân của ông thành con số để dễ bề đánh thuế. Ngõ hầu có tiền cung cấp cho các đạo binh to lớn của Đế quốc và ăn chơi thoả thích. Nhưng Thiên Chúa lại có kế hoạch khác. Và dùng Caesar để thực hiện. Phúc Âm tả đúng câu châm ngôn cổ xưa: “Thượng Đế hành động trong những đường lối mầu nhiệm.” Xét trong lịch sử, khi thời thế trở nên tồi tệ, Thiên Chúa giơ tay can thiệp để cứu vớt dân lành. Chẳng thế lực nào ngăn cản hay phá vỡ nổi. Luca thuật lại cuộc kiểm tra nữa của đế quốc Rôma. Thiên Chúa xuống thế làm người và được liệt kê như một con số trong các con số nô lệ của đế quốc. Ngài cư ngụ giữa nhân loại như vậy đó. Còn chúng ta tranh giành nhau địa vị, cấp bậc. Thử hỏi có xứng đáng làm môn đệ Chúa ? Xin nhớ các Thiên sứ không về phe với Roma, những kẻ cầm quyền bằng sức mạnh áp bức. Các vị loan báo Thiên Chúa uy linh đã đến với nhân loại và ngự giữa loài người. Nhưng ở đâu ? Một tỉnh nhỏ nghèo nàn Palestine, một chấm nhỏ trên bản đồ đế quốc mà Caesar giữ trong phòng chiến lược. Cố vấn kỳ diệu của Isaia cư ngụ chỗ nào ? Chiếc ao tù gọi là Bethlem. Ngài sống ở đâu? Miền Galilea mà các lãnh đạo tôn giáo ở Giêrusalem khinh bỉ, coi như nước sôi đỗ, nửa đạo nửa đời, không đáng lưu tâm. Vậy thì Thiên Chúa dũng mãnh làm chi ở đó ? Các chuyên viên Kinh Thánh giải thích rằng, khi nói đến Bethlem người ta gợi nhớ Đavit, ông vua vĩ đại của Israel. Một ông vua mục tử chăn dắt dân riêng của Thiên Chúa trong hoà bình và công lý. Dưới triều đại Đavít kẻ què được nâng đỡ, người nghèo được cho ăn, kẻ ngoài lề được trọng vọng, bà goá, trẻ mồ côi được bênh đỡ. Cho nên khi thiên sứ báo tin, các mục đồng hiểu ngay Thiên Chúa đã đoái thương dân Ngài. Thượng Đế đã để ý đến kẻ vô danh tiểu tốt và thân hành xuống chăn dắt họ bằng ánh sáng huy hoàng bao bọc khắp vùng. Sẽ chẳng còn số phận hẩm hiu trong thế giới được Thiên Chúa cai trị. Chẳng ai ngoài tầm săn sóc của Chúa. Mọi người được tôn trọng, chứ không riêng gì giai cấp được ưu đãi của đền thờ hay cung triều Caesar. Thiên sứ không báo Tin Mừng riêng cho họ nhưng cho mọi kẻ thiện tâm. Vậy thì đêm nay chúng ta không chỉ cử hành trong hân hoan ngày Chúa giáng sinh, nhưng tất cả mọi kẻ sinh lại trong Lời Chúa. Lời đã cưu mang chúng ta theo ý Thiên Chúa và đã hạ sinh chúng ta trên trái đất này. Đó là Tin Mừng chúng ta đã nghe các Thiên sứ loan báo, cũng là niềm vui cho toàn dân. Tất cả chúng ta đã từng sống trong bóng đêm tối tăm, hôm nay được nhìn thấy ánh sáng vĩ đại. Tất cả chúng ta đã từng đi lưu đày trong vùng đất u sầu. Nhưng Thiên Chúa đã trở thành một con người như chúng ta và sống giữa loài người để có thể dẫn dắt mọi linh hồn về cùng Chúa Cha. Cuộc đời Chúa Kitô chính là thể hiện tình yêu của Thiên Chúa cách cụ thể bằng xương thịt, máu huyết nhân loại. Chúng ta đáp trả ra sao ? Liệu chúng ta bằng lòng sống cuộc đời Thiên Chúa bày tỏ đêm nay ? Tức khước từ ích kỷ, tham lam, quyền lực, giàu sang để mặc lấy tâm tình trẻ thơ Giêsu? Chúng ta thờ lạy “Cố vấn kỳ diệu, Thiên Chúa dũng mãnh” nơi Hài nhi mới sinh. Chúng ta noi gương “người Cha muôn thủa” bằng yêu mến và săn sóc kẻ nghèo khó, đơn côi, goá bụa. Chúng ta dấn thân phục vụ “Thủ lãnh Hoà bình” bằng tiêu diệt hận thù dưới bất cứ hình thức nào, lời nói, việc làm. Xin đừng lựa chọn ghi tên vào sổ “kiểm tra” của Caesar, nhưng vào sổ các con cái Thiên Chúa, công dân Nước Trời hầu được hướng dẫn bằng ánh sáng huy hoàng đêm nay. Amen.
Ơn cứu độ TC tỏ hiện nơi việc thiện của chúng ta
Trong hoạt cảnh Giáng Sinh luôn có cảnh Thiên Thần ca hát ngoài đồng. Thiếu nhi thuộc lòng lời của Thiên Thần "Anh em đừng sợ...". Sau khi thiên thần bảo những người chăn chiên đừng sợ, rồi thiên thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” Anh chị em có thấy sự thay đổi trong câu hát đó không? Trước kia chúng ta thường hát “… bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Câu này có vẻ nói các mục đồng thuộc về những “người thiện tâm”. Và như vậy có nghĩa là tin mừng đấng cứu chuộc được sinh ra là cho những ai đã sẵn sàng đón nhận; nghĩa là “người thiện tâm” rồi. Nhưng, lúc Chúa Giêsu sinh ra các mục đồng là những người không quan trọng mấy. Mục đồng là những người có đời sống thấp hèn. Dân chúng không ai coi họ là những người đạo đức. Nay họ ở chỗ này, mai ở chỗ khác, và nếu có gì bị mất mát thì họ có thể bị nghi là là kẻ cắp. Vì thế nếu bây giờ chúng ta trình bày cảnh lễ Giáng Sinh, chúng ta nên hãy dùng câu ca hát mới của thiên thần “… Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” Vì câu này mới đem lại đúng ý nghĩa trong phúc âm của thánh Luca. Trong suốt phúc âm thánh Luca, những người bé nhỏ nhất lại là những người nhận được tin mừng. Các mục đồng có thể là những người trước tiên nhận được tin mừng về việc Thiên Chúa đang thực hiện công việc cho loài người. Nhưng lúc họ nghe tin là lúc họ đang “sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn gia súc”. Họ không phải là những người đang cầu nguyện, hay đang đọc Kinh Thánh. Dù vậy thình lình họ trông thấy vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh họ. Trong phúc âm này, những người bị xã hội ruồng bỏ lại nhận được ơn cứu rỗi, khi họ nghe biết được đó là tin vui và họ mừng rở hân hoan đón nhận. Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi sự tốt lành. Ngài yêu thương tất cả chúng ta, như đã nói ở phúc âm trong lễ Giáng Sinh đêm nay. Một lần nữa, Thiên Chúa đến mời gọi tất cả chúng ta. Bài trích sách ngôn sứ Isaia đọc đêm nay là một bài thơ tuyệt vời. Những lời văn đẹp đẽ ấy không che đậy những đau khổ bên trong, mà còn nhấn mạnh những đau khổ ấy là khác. Ngôn sứ đang nói với “đoàn dân lần bước trong tăm tối…” “những kẻ sống trong bóng tối…” vì cái ách đè trên mình “theo” cây gậy của đốc công đập xuống trên vai họ. Lời văn thơ này nhấn mạnh những đau khổ của một dân tộc đang bị tù đày. Nhưng, hoàn cảnh của họ đang thay đổi, họ “đã thấy một ánh sáng huy hoàng”. Thiên Chúa đang đến với họ và “Người đã tặng ban cho họ boa nổi hỷ hoan”. Thật đáng vui mừng khi được sự cứu rỗi của Thiên Chúa! Nếu Thiên Chúa cứu chúng ta khỏi sự đau khổ ngay bây giờ, chúng ta nên nhớ ơn Thiên Chúa để khi nào chúng ta “đi và sống trong tăm tối” chúng ta được an ủi nhờ sự cứu rỗi chúng ta đã được hưởng. Chúng ta đang vui mừng về sự cứu rỗi của Thiên Chúa trong quá khứ, và trong đêm hôm nay. Mọi sự tăm tối âm u đang tản mát, vì ánh sáng cứu độ đã đến. Trẻ hài nhi sinh ra là dấu chỉ Thiên Chúa đang hoạt động cứu rỗi chúng ta. Chúng ta cần phải nhớ điều này, nhất là những lúc tăm tối âm u trở lại, và chúng ta cảm thấy chúng ta không đáng được hưởng ơn cứu rỗi ấy. Điều chúng ta vui mừng đêm nay không phải là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta, hay vì chúng ta là những người thiện tâm, nhưng chính do bởi Thiên Chúa có thiện ý đối với chúng ta trong sự giáng sinh của hài nhi mà ngôn sứ Isaia đã hứa. Những gì là tăm tối âm u đã trở thành hân hoan vui mừng như lời ca trong thánh vịnh “Hãy hát mừng Đức Chúa một bài ca mới”. Những cụm từ “cứu rỗi”, “cứu chuộc”, “Nước Trời”, “ơn cứu độ” là những cụm từ trừu tượng, khó hiểu khó thấy được đối với những người không có đức tin và ngay cả với những Kitô Hữu đạo đức. Cựu Ước là sách nói về ơn cứu độ. Thiên Chúa có thiện ý đưa tay cứu chúng ta ra khỏi cảnh tù đày, và luôn tha thứ người tội lỗi. Nhưng, đêm nay chúng ta lại mừng vui thêm tình thương Thiên Chúa cho chúng ta biết ơn cứu độ ấy sâu đậm chừng nào. Thánh Phaolo viết vắn tắt về ơn cứu đội trong thơ gởi cho Titô “quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ…” Nếu ân sủng cứu độ khó hiểu được thì đây “Chúa Giêsu Kitô” chính là sự hiện diện của ân sủng đó, Một Thiên Chúa vĩ đại, là Đấng cứu độ chúng ta… “Vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta thoát khỏi mọi điều bất chính…” Vậy Chúa Giêsu biểu lộ ơn cứu độ như thế nào? Những người bị ách nặng nề của tội lỗi sẽ được “thanh luyện” khiến chúng ta thành dân riêng của Người, “một dân hăng say làm việc thiện”. Nhờ sự đổi mới đó, chúng ta đã thể hiện là “ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ”. Giáng Sinh Niềm Vui Cho Mọi Người Hàng năm, cứ mỗi độ đông về kèm theo tiết trời se lạnh, mọi người có vẻ như thu mình lại trong những chiếc áo ấm. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người không dấu nổi sự háo hức, mong đợi những cánh thiệp, những món quà hoặc kỳ nghỉ mát đó đây. Giáng sinh mang lại niềm vui cho mọi người. Trong dịp này, trẻ em trông mong nhận được quà từ tay ông già Noel; các thanh niên, thiếu nữ có cơ hội tặng quà cho nhau để thổ lộ tình cảm; con cái bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ; bạn bè, đồng ngiệp trao cho nhau những cánh thiệp kèm lời chúc, mong ước, tình cảm tốt đẹp nhất. Các cửa hàng bày bán đủ thứ : hang đá, cây thông, dây kim tuyến, đèn màu và thiệp noel v.v.. Trên nhiều tuyến đường, các quán ăn hầu như phục vụ khách hàng thâu đêm. Đặc biệt nơi nhà thờ được trang trí hang đá, cờ, ngôi sao, đèn màu rực rỡ. Nhiều tốp thanh niên nam nữ, người già và trẻ em luân phiên chụp ảnh, chiêm ngắm, rảo quanh tận hưởng niềm vui Giáng sinh. Đối với người Kitô hữu, chúng ta được mời gọi đón nhận niềm vui Giáng sinh không chỉ dừng lại ở những phần quà hay kỳ nghỉ mà phải vượt lên mọi điều mắt thấy, tai nghe để đi vào niềm vui của mầu nhiệm Giáng sinh : ngày Hài Nhi Giê-su sinh ra. Giáng Sinh – dấu chỉ của tình yêu Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài Nhi Giêsu là nhịp cầu liên kết tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng và trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể sánh được. Trao ban Đức Kitô là trao ban tất cả. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đi tìm con người. Thiên Chúa đã tìm thấy con người trong những nỗi đau khốn cùng tột độ của họ. Thật lạ lùng ! Thiên Chúa quá yêu thương đến độ hòa mình với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên Chúa đã mặc lấy bản tính nhân loại nên “bóng đêm” nhân loại nhận được “ánh sáng” của Thiên Chúa. Những người khổ đau, yếu đuối, tội lỗi, bị Xã hội bỏ rơi đã nhận được ánh sáng yêu thương của Thiên Chúa qua Hài Nhi Giêsu. Ánh sáng Thiên Chúa đã soi sáng kiếp người tối tăm. Ánh sáng Thiên Chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo. Giáng Sinh – dấu chỉ của niềm tin Giáng sinh chiếu tỏa trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn trong mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn, những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Họ là những người nghèo của Thiên Chúa. Qua thánh sử Luca, chúng ta biết được họ là thánh Giuse, Đức Maria và các mục đồng (x. Lc 2,8-20). Nhờ khiêm nhường nên họ sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa. Nhờ tỉnh thức nên họ nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên Chúa gửi đến. Vì có tâm hồn đơn sơ nên họ nhận được ân sủng : “vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh” (Lc 2,9). Trong khoảnh khắc ngỡ ngàng, sứ thần đã loan báo cho họ : “Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,11). Vì thiện chí nên họ hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu : “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” ( Lc 2, 12) và họ đã tin. Giáng Sinh - dấu chỉ của hy vọng Hài Nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên Chúa âm thầm kiên trì chờ đợi, nhưBa Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Và niềm khao khát đã được đáp ứng. Đó là Hạt mầm Giêsu sẽ trở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Ánh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hòa ánh sáng và niềm vui. Với Hài Nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu : những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng mà Thiên Chúa đã gieo vào thế giới. Ước gì mỗi người chúng ta hãy để cho Mầu Nhiệm Giáng sinh thắp sáng trong tâm hồn. Mầu Nhiệm Giáng sinh ấy không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng của Hài Nhi Giêsu với những người chung quanh, như những mục đồng : “họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này” (Lc 2,17). Như vậy, Giáng sinh mới là niềm vui cho mọi người.
Tâm Hồn Giáng Sinh Đêm Noel rộn rã với những bài hát vui, những cảnh vui. Giữa những ồn ào tấp nập này, tôi cảm nhận một sự thức tỉnh nơi chính mình. Với tâm trạng này, tôi đến với Chúa Giêsu. Tôi gặp Người trong hang đá. Tôi nhìn Người và Người nhìn tôi. Sự gặp gỡ bằng cái nhìn thân thương này khiến tôi cảm được rằng : Chúa Giêsu không buồn vì tôi đến với Người bằng cả con người của tôi. Trái lại Người hòa điệu tâm hồn của tôi trong tâm hồn Người. Nhờ vậy, tôi cảm nghiệm giá trị đích thật của sự chia sẻ. Tôi thấy việc đầu tiên Chúa Giêsu đã thực hiện khi xuống trần gian là chia sẻ với những người đau khổ, nghèo hèn, đói rét. Cả những con người đang chìm đắm trong nỗi cô đơn, hay bị Xã hội loại trừ. Ngài đã chào đời bằng tiếng khóc của một hài nhi bé bỏng yếu đuối. Bước vào đời trong thân phận nghèo : không nhà cửa, không địa vị, không tài sản. Bằng sự chia sẻ đầy khiêm tốn, Đức Giêsu đã làm chứng Người là Con Thiên Chúa từ trời cao giáng trần. - Bằng sự chia sẻ thân phận đầy hy sinh, Đức Giêsu đã cho thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại là thiết thực đến mức nào. - Bằng sự chia sẻ dấn thân quên mình, dám chấp nhận bước vào cõi khổ của kiếp người, Đức Giêsu đã nâng con người lên địa vị làm con Chúa, đưa họ về Thiên Chúa Tình Yêu. - Bằng sự chia sẻ đầy thân thương, Đức Giêsu đã ở giữa dân nghèo, cùng với dân nghèo, phấn đấu cho một cuộc đời tự do hơn, công bình hơn, nhân bản hơn, nhân phẩm hơn, nhân đạo hơn. Từ kinh nghiệm trên đây, tôi cho rằng : Sự chia sẻ nghèo hèn của tôi như là một việc bé nhỏ nhưng mang lại một ý nghĩa. Nếu Chúa Giêsu thực hiện ngay đêm Giáng sinh, thì việc chia sẻ đó cũng cần được chúng ta thực hiện với anh em, khi kỷ niệm Giáng sinh của Người. Người ta thường nói : Hồn đất nước, hồn sông núi, hồn dân tộc, hồn thời đại. Nói Hồn là để chỉ sự sống và những giá trị cao quí nhất làm nên sự sống một nước, một dân, một thời. Hồn sống đạo cũng được hiểu theo hướng đó. Thực vậy, hồn sống đạo chính là chia sẻ sự sống của Chúa Giêsu Kitô với mọi người. Tình yêu thương của Chúa Giêsu là một tình yêu thương được diễn tả bằng chia sẻ những khổ cực của những kẻ bị đọa đày, và bằng sự phục vụ, tha thứ, thăng tiến con người . Hồn Phúc Âm là chân lý của Chúa Giêsu, một chân lý nhân sinh soi cho lương tâm chúng ta thấy : Cội nguồn của ta là Thiên Chúa Tình yêu, đời của ta, dù thế nào đi nữa, vẫn được Chúa yêu thương, đợi chờ, miễn là chúng ta biết đi tìm Chúa và biết chia sẻ Tin Mừng với người khác. Hồn Phúc Âm là tin cậy và thực thi thánh ý Chúa Cha theo gương Đức Giêsu. Nhờ vậy chúng ta dâng cuộc đời phục vụ, chia sẻ, hy sinh của chúng ta trong thánh lễ thờ phượng Thiên Chúa. Hồn Phúc Âm là đi theo hướng dẫn của Thần Linh Đức Kitô, để có những đổi mới và sáng tạo trong việc chia sẻ với đồng bào, đất nước trên mọi chặng đường lịch sử. Nếu Chúa muốn những đổi mới và sáng tạo sẽ được thực hiện theo tinh thần khiêm tốn, khó nghèo và chia sẻ nơi hang đá Belem, thì chúng ta hãy sẵng sàng với tâm hồn tạ ơn ca tụng Chúa.
ÐƯỜNG NÀO CHO CHÚA ÐẾN “Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời . . .” Tiếng hát vang vọng vào tận cõi lòng tôi. Chúa sinh vào nửa đêm, lúc tối tăm nhất một ngày hăm bốn tiếng. Ðêm huyền nhiệm. Ðêm kinh hoàng. Ðêm tưng bừng. Ðêm thanh bình. Con Thiên Chúa được Trinh Nữ Maria rất thánh sinh ra nửa đêm tại Bêlem, giữa tiết đông băng giá. Chúa đến trần gian trong một thời khắc kinh dị nhất đêm trường . Nếu như thế chưa đủ gây kinh hoàng , thì hai yếu tố sau đây cũng làm tăng sợ hãi trong lòng người. Người sinh ra trong một miền đất xa lạ và trong giá buốt. Ðây là lúc chúng ta mừng ngày Ngôi Lời vĩnh hằng sinh vào lịch sử nhân loại. Một thời gian đầy bóng tối (NỬA ÐÊM), bất an (BÊLEM ... một miền đất xa lạ) và khó chịu (GIÁ BUỐT). Ðó là thời gian nhân loại khao khát ánh sáng, sự an toàn và ấm cúng, Chân lý, Công chính và Bình an. Tóm lại, thời gian toàn dân mong đợi ƠN CỨU ÐỘ. Bất cứ thời điểm đen tối nhất nào trong cuộc đời cũng chính là thời điểm nhớ Thiên Chúa đi vào trần gian lúc đen tối nhất trong ngày. Dù khó phóng tầm nhìn vượt trên sự tăm tối tới đâu, vẫn cần phải nhớ Thiên Chúa đã sinh vào cuộc đời chúng ta. Tham dự thánh lễ nửa đêm, chúng ta chào mừng ánh sáng vĩnh hằng đến phá tan bóng tối. Trong phụng vụ, chúng ta ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa đã sai Ðức Giêsu Kitô đến cứu độ nhân loại. Khi dâng Thánh Lễ Nửa Ðêm, chúng ta có thể can đảm chào mừng CÔNG LÝ đến dẹp tan bóng tối trong đời ta. Có thể được an ủi trong sự BÌNH AN vì Thiên Chúa hiện diện vào những thời kỳ chúng ta đau khổ nhất. Chúng ta có thể được an vui vì CHÂN LÝ trao ban cho chúng ta vào những giai đoạn lung lay nhất trên hành trình về nhà Cha . . . Chúng ta nhớ . . . Emmanuel . . .Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta ! Thánh Augustinô khuyên cộng đoàn hành động để đền ơn Chúa Kitô đã phá vỡ đêm đen thế gian : “Vì Chúa Kitô là chân lý, bình an và công lý, hãy cưu mang Người trong đức tin, sinh Người trong hành động, để điều gì cung lòng Mẹ Maria đã làm cho thân thể Chúa Kitô, tâm hồn bạn có thể làm cho luật Chúa Kitô.”[i] Như thế, chúng ta có thể trở thành khuôn đúc Chúa Kitô cho mọi người. Làm sao khi nhìn vào chúng ta, mọi người có thể thấy khuôn vàng thước ngọc của Chúa Kitô trong cuộc sống đầy xáo trộn và khủng hoảng hôm nay ? Mới sinh ra, Chúa đã mạc khải một khuôn mẫu đặc biệt kéo dài suốt cuộc đời và sứ vụ của Người. Những điều nhìn thấy nơi Hài Nhi Giêsu, cũng sẽ thấy nơi Con Người Giêsu sau này. Người đã đi vào những khung cảnh tăm tối và những nẻo đường gồ ghề, bụi bặm với những hạng người vô học, nghèo đói, tội lỗi, bệnh tật v.v. Ngay cả khi sống lại, Người cũng không xuất hiện nơi Ðền Thờ Giêrusalem với những người học thức, quyền thế đạo đời. Trái lại Người đến với dân quê, những phụ nữ đang than khóc, những người đàn ông nhát như cáy đang co mình trong phòng kín, những người không có vị thế trong đạo, không có ảnh hưởng chính trị, không được giáo dục nhiều. Ðêm Giáng Sinh khai mở một thời đại mới, thời đại mạc khải về tình yêu quảng đại và nhân hậu của Thiên Chúa. Ðức Kitô sinh trong căn nhà của những người tội lỗi, những căn nhà dẫn tới những hầm mộ tăm tối. Người đã phá tung ngục tử thần để đem lại sự sống và phục sinh cho những bộ xương khô là chúng ta. “Ngôi Lời đã trở thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.”[ii] Người đã hiện hữu trong thân phận đầy giới hạn của kiếp người. Người hiện diện để mọi người thấy Thiên Chúa rất quan tâm và ưu ái đối với con người. Ưu ái đến nỗi Người muốn họ hiệp thông sâu xa với mình. Nhập Thể là đường lối tuyệt diệu nhất để nối kết con người với Thiên Chúa. Tới một khoảnh khắc nào đó, Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhận lấy xác phàm để cứu độ chúng ta, mặc dù Người đã hiện hữu từ muôn đời. Bây giờ, Người trở thành người phàm để hiện hữu một cách cụ thể và sống động bên chúng ta. Nhờ đó, Người có thể gần gũi mạc khải và đối thoại với mọi người một cách thân mật nhất. Nơi Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa đạt tới tột đỉnh mạc khải về tình yêu. Từ nay, lịch sử nhân loại được bẻ lái sang hẳn một hướng khác. Thay vì bị tiêu diệt, số phận nhân loại sẽ được quyết định bằng cuộc chiến thắng của lịch sự cứu độ.[iii] Nhân phẩm sẽ đạt tới tột đỉnh và bản tính nhân loại sẽ được khai mở tuyệt đối vào cuộc hiệp thông tình yêu với Thiên Chúa. Trong Ðức Kitô, tình yêu Thiên Chúa và tha nhân sẽ đạt đến mức hiệp thông cao nhất nơi một ngôi vị Thiên nhân và tình yêu tha nhân đạt tới phẩm vị tối thượng.[iv] Tất cả chỉ vì Thiên Chúa đã hiện hữu như con người và hiện diện giữa những khổ đau của kiếp người hôm nay. Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người cho thấy việc làm người là một vinh dự, sự sống của cong người đáng quý, và những vi phạm với sự sống là đáng nguyền rủa. Theo một thống kê trên VN Express : Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1 triệu 4 trăm ngàn thai nhi bị giết, trong đó 500 ngàn trẻ có mẹ là vị thành niên [v]. Chúng ta đoán trong số này có bao nhiêu người mẹ Công Giáo, đã đồng lõa giết con, giết đứa trẻ vô tội khiến chúng không được nhìn thấy mặt trời. Đó là một tội ác. Chớ gì trong năm ”sống đạo” này, họ biết lắng nghe lời nhắn nhủ của HĐGMVN trong thư mục vụ 2006, số 10 : “Trong tư cách Kitô hữu sống đạo, anh chị em hãy cương quyết không để cho “văn hóa sự chết” lôi cuốn mình, không chấp nhận những hình thức xúc phạm đến sự sống và phẩm giá con người, nhất là can đảm nói “không” với tệ nạn phá thai và li dị vốn là những tệ nạn luôn luôn để lại hậu quả bi thảm cho gia đình cũng như cho xã hội và Giáo Hội”. Khi hát mừng mầu nhiệm Giáng Sinh, chúng ta được mời gọi chung nhịp vận hành Nhập Thể sâu xa với Chúa Cứu thế, để khám phá thấy tất cả những gì Ngôi Lời đã làm cho chúng ta . Nhờ đó, chúng ta có thể đem lại hoa trái đích thực là sự sống và tình yêu cho mọi người. Chúng ta cần mở lòng đón nhận Ðấng đang ngự đến như ÐứcTrinh Nữ Maria. Với tất cả tấm lòng đơn sơ, Mẹ đã xướng lên kinh Magnificat. Làm sao chúng ta có thể cùng với Mẹ hát lên bài ca và làm chứng cho mọi người biết về lòng thương xót của Thiên Chúa qua biến cố Nhập Thể hôm nay ? Ngôi Lời làm người để chúng ta khám phá ra khuôn mặt anh em giữa chúng ta. Giữa chúng ta không còn ai xa lạ, nhưng tất cả đều thấm đượm tình thân và sống chết có nhau . . . Lạy Chúa, xin cho chúng con dám sống như con người, nhất là với những đồng bào cùng khổ nhất, để Chúa Kitô Nhập thể vào dân tộc và trở thành sức mạnh giải thoát quê hương chúng con. Amen. Jude Siciliano, O.P.
Sống chừng mực, công chính và đạo đức Is 9,1-6; Tv 96; Tt 2,11-14; Lc 2,1-14 Xin chúc Mừng Giáng Sinh đến quý vị! Kính thưa quý vị, Trình thuật của thánh Luca về sự sinh hạ của Đức Giêsu có màu sắc ảm đạm, và trình thuật này hầu như tách rời phần mở đầu. Để cho chúng ta sẵn sàng với những gì sắp xảy ra thì các thiên thần, những bậc khôn ngoan và ngôi sao lấp lánh ở đâu cả rồi? Ngay chính sự kiện sinh hạ cũng vắn gọn: Có một cuộc kiểm tra dân số, dân chúng lũ lượt tập trung về thành phố đến nỗi không còn phòng trọ, vì thế trẻ sơ sinh được đặt trong máng cỏ. Dường như thánh Luca là một phóng viên thời báo đang kể lại những sự kiện đã chứng kiến, như thể thánh nhân không phải là một tác giả phúc âm đang công bố những quang cảnh dẫn đến ơn cứu độ của chúng ta vậy. Những lời giới thiệu về địa điểm và những nhân vật lịch sử có thể là một yếu tố nhỏ cho sự sao lãng, những yếu tố đó dường như chẳng có gì phức tạp. Nhưng thánh Luca đã lồng những khuynh hướng Kitô giáo vào trong đó. Một trẻ thơ được sinh ra trong “thành của vua Đavít,” như Kinh Thánh đã tiên báo (Is 1,3; Gr 14,8). Có những nhân vật đầy quyền lực cai trị thế giới lúc Đức Giêsu sinh ra đời, như Hoàng đế Rôma; lúc đó luật lệ thuộc hoàng đế Caesar Augustô và tổng trấn Quiriniô. Vì biết quá rõ ràng, nên thánh Luca chỉ cho thấy Thiên Chúa cũng có thể sử dụng ngay chính những thủ lãnh hùng mạnh để hoàn thành những kế hoạch của Người. Với cái nhìn thường tình thì dường như đế quốc Rôma thống trị cả sự sống của người dân. Tất nhiên, cách này hay cách khác, điều đó là đúng. Những thủ lãnh có thể di chuyển một lượng dân chúng nhằm mục đích kê khai dân số. Nhưng với cái nhìn đức tin, chúng ta có thể thấy bàn tay của Thiên Chúa liên quan đến việc này. Người sử dụng những kẻ quyền lực để hoàn thành những gì Người đã dự định cho chúng ta. Ví dụ, hãy nhớ lại việc thánh Phaolô bị bắt giữ và điệu đến Rôma, chính nơi này ngài lại rao giảng Tin Mừng. Vào đầu trình thuật với một cách thức như thể không có dụng ý gì, bấy giờ thánh Luca chuyển sang (c.8-14) một cuộc công bố về đức tin rõ ràng hơn. Chẳng có thiên thần nào nơi chuồng chiên, nhưng các chú mục đồng lại loan báo tin vui mà họ nghe được từ ca đoàn thiên sứ. Có người nghĩ rằng: giống như một thiên sứ trong ngày Lễ Truyền Tin, vị khách từ trời cũng xuống làm đại diện để an ủi và làm cho bà Maria vững tin trước, đang khi và sau khi sinh hạ con trẻ. Tôi thích các nhà chú giải Kinh Thánh diễn tả theo lối này (x. "Preaching Through the Christian Year: Year A: Philadelphia, Trinity International Press, 1992). Ở trong một chuồng chiên và sinh hạ con trẻ, bà Maria rời xa gia đình tựa như “một thiên thần đến vội vã, rồi ra đi để cho bà suy đi nghĩ lại trong lòng những gì vừa xảy ra” (tr.34). Ai lại không mơ ước được làm chứng khi trải qua những lúc khó khăn? Phải chăng tôi đang làm điều đúng đắn? Nếu đúng, thì tại sao lại gặp khó khăn như vậy? Tại sao tôi không nhận được lời động viên và ủng hộ nhiều hơn nữa từ phía người khác? Thế Thiên Chúa ở đâu trong hoàn cảnh này? Điều đó xảy ra như thế nào? Những điều bà Maria suy đi nghĩ lại trong lòng có đúng như bà đã thấy nơi con và chồng mình, cũng như những gì xảy ra xung quanh không? Trước đó, bà Maria được sứ thần báo cho biết là bà “đẹp lòng Thiên Chúa” (Lc 1,30). Những gì sứ thần nói cho bà Maria cũng là nói cho mỗi người chúng ta. Đức Giêsu là dấu chỉ ân huệ của Thiên Chúa dành cho chúng ta; đặc biệt là khi chúng ta chứng kiến đây đó những khó khăn và vấn nạn đang phát sinh. Nhưng tiếc rằng, không phải lúc nào chúng ta cũng nhận được sự an ủi trong lời cầu nguyện hoặc trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, Tin Mừng hôm nay khẳng định với chúng ta rằng: Thiên Chúa đã đến trần gian trong tối tăm và cũng chẳng có thiên thần nào hầu cận. Có một sự tranh luận vẫn còn tiếp diễn xung quanh vấn đề nhập cư trong đất nước [Mỹ] chúng ta. Sáng nay tôi cũng nghe tin tức nói rằng, trên 12.000 trẻ em đã chết trong cuộc nội chiến ở Syria. Hiện tại có 4 triệu người không nhà cửa ở đất nước này, 2 triệu người chạy trốn bạo loạn và dựng lều sống tạm bợ trong các thành phố thuộc các nước láng giềng. Thêm vào bản tin đó còn có cảnh khốn khổ của những thường dân ở Sudan và Cộng Hòa Trung Phi. Sự di tản và cảnh nghèo khổ đã làm vấy bẩn bản đồ thế giới. Chốn phiêu bạt đánh dấu sự chào đời của Đức Giêsu. Cha mẹ Người không thể tìm được một chỗ trong quán trọ cho Người, vì thế Người được sinh ra trong một chuồng chiên giữa những con vật. Quả thật, Thiên Chúa đến trần gian này như một người bị trục xuất với gia đình không có gì là thế giá, và nằm dưới luật lệ của những kẻ quyền lực kiêu căng. Lịch sử cho chúng ta biết nhiều về Hêrôđê đại đế, kẻ đã sát hại người vợ và ba con trai của mình, đồng thời ông đã dùng nanh vuốt mà thể hiện quyền lực. Thánh Mátthêu cũng miêu tả một sự kiện được biết đến như vụ “Thảm sát những trẻ thơ vô tội,” khi những bậc khôn ngoan đi tìm “Vua Do Thái,” và vua Hêrôđê đã tìm cách loại trừ bất cứ mối đe dọa nào đối với quyền lực của mình. Thật là khó chịu làm sao khi có sự tương phản với những tiếng chuông ngân, các buổi tiệc tùng ở cơ quan, và quà cáp phung phí của một số người thực dụng nhân cơ hội sinh nhật của Đức Giêsu. Người ra đời trong một dân tộc bị thống trị bởi một thế lực quân sự. Tu sĩ Gustavo Gutierrez, O.P. (Dòng Đa Minh) nói rằng chúng ta nhớ đến những thực tại này không bằng việc nhớ đến Đức Kitô vào trần gian đã trở thành một trừu tượng. Vì đến với thế giới bị thống trị và đầy quyền lực, nên Đấng cứu độ chúng ta được sinh ra trong sự khiêm hạ, không phải như người cai trị, nhưng với tư cách là người phục vụ. Hôm nay thánh Phaolô đã tóm tắt Mầu Nhiệm Nhập Thể và những thử thách đối với chúng ta. “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này…” Thư gởi ông Titô chỉ xuất hiện vào ngày Lễ Giáng Sinh và được làm nổi bật bởi tường thuật của thánh Luca về thời thơ ấu của Đức Giêsu. Thư này nói về trẻ sơ sinh, các thiên thần, và những chủ nhà tuyệt vời trong bầu trời đêm. Mặc dù đây là đêm Giáng Sinh, nhưng bài đọc nói về thư gởi ông Titô lại không đề cập đến việc sinh hạ. Thêm vào đó, thánh Phaolô như muốn phá hỏng bầu khí Giáng Sinh qua những cảnh báo u sầu về việc từ bỏ “lối sống vô luân và những đam mê trần tục.” Vậy, chúng ta chớ mời ngài đến dự tiệc ở cơ quan! Thánh Phaolô không đưa ra những hướng dẫn rõ ràng về việc mừng sinh nhật của Đức Kitô, thay vào đó, ngài lại loan báo sự “biểu lộ” ân sủng của Thiên Chúa đối với việc quang lâm đầu tiên của Đức Kitô. Vì thế, thánh nhân lại nhắc nhở chúng ta về việc tiếp tục “biểu lộ” ân sủng của Thiên Chúa khi Đức Kitô đến trong lần thứ hai. Thánh Phaolô gọi việc quang lâm lần thứ hai của Đức Kitô là “niềm hy vọng hồng phúc” mà chúng ta vẫn hằng mong đợi. Đây là hình ảnh gợi lại một tầm quan trọng và nghi lễ phụng vụ cho ngày hôm nay. Vị chủ sự của chúng ta sẽ kết thúc lời cầu nguyện sau Kinh Lạy Cha rằng “…như chúng con mong đợi ngày hồng phúc và ngày Đức Giêsu Kitô Đấng cứu độ chúng con ngự đến.” Mùa Vọng không đơn thuần là mong đợi việc hạ sinh của Đấng Mêsia; mà Mùa Vọng còn làm tươi mới sự chờ đợi đầy hứa hẹn của chúng ta về việc quang lâm lần thứ hai của Đức Kitô. Ngày nay chúng ta có thể tổ chức mừng sinh nhật của Đức Kitô, nhưng cùng với sự kiện này, khi Đức Kitô đến lần thứ hai mới là niềm hy vọng quan trọng trong tương lai của chúng ta. Tuần rồi ông Giuse được báo mộng rằng con trẻ thụ thai trong lòng Đức Maria sẽ “cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Hôm nay chúng ta nghe một sự công bố thậm chí còn rộng rãi hơn thế. Đó là, thiên thần bảo các mục đồng rằng, tin mừng về sự ra đời của Đấng cứu độ “sẽ là niềm vui cho toàn dân.” Thánh Phaolô cũng loan báo thông điệp này rằng: “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người…” Ân sủng của Thiên Chúa được biểu lộ khi Đức Kitô ngự đến, và ân sủng đó đến với tất cả mọi người. Cuộc sống của chúng ta phải được phản chiếu ân sủng đó khi chúng ta nhận lãnh trong sự quang lâm của Đức Kitô. Trong khi ân sủng được ban phát cho tất cả mọi người, liệu chúng ta có biết đón nhận ơn đó hay không? Cuộc đời chúng ta sẽ trả lời cho câu hỏi này; vì ân sủng sẽ dẫn đường chỉ lối cho cuộc đời chúng ta. Thế nên, thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy “từ bỏ những lối sống vô luân.” Chúng ta có thể biếu một món quà Giáng Sinh bằng ổ bánh mì kẹp trứng treo trên cây lấp lánh ánh đèn, nhưng ổ bánh mì thực mà chúng ta biếu cho ngày sinh nhật của Đức Giêsu là phải thực hiện những sự thay đổi trong cuộc đời của mình; đó là một sự diễn tả hữu hình về “niềm hy vọng hồng phúc” trong Đấng mà rồi đây sẽ xuất hiện lần thứ hai. Những Kitô hữu đã nghe được thông điệp phổ quát này, thì không nên lùi bước trong việc đem lại tầm ảnh hưởng về ơn cứu độ của Đức Kitô cho thế giới mang tính chính trị, kinh tế và xã hội của mình. Chúng ta sống trong niềm hy vọng giữa hai lần quang lâm của Đức Kitô. Thánh Phaolô nói rằng chính Đức Kitô đã “cứu chúng ta khỏi tình trạng vô kỷ luật,” và “Người đã tự hiến để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.” Vì thế, việc chờ đợi qua sự nỗ lực sống trong tình trạng vô tội cho đến khi “xuất hiện vinh quang của Thiên Chúa vĩ đại chúng ta” vẫn chưa đủ. Dân tộc mà Đức Kitô đến để cứu độ lại được sống sót trên thế giới này nhờ cuộc đời đầy ân sủng của họ; họ sống sót trong những nhà máy, nơi nông trại, trong lớp học hoặc ngay ở nhà. Bất cứ nơi đâu, chính chúng ta nhận ra rằng mình phải sống “chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.” Và chúng ta phải biết “hăng say làm việc thiện.” Khi trải qua những kỳ nghỉ, chúng ta lại ném đi cả núi thức ăn. Những thùng rác bên lề đường sẽ quá tải, chính nơi đây, những kẻ đói khổ trên thế giới lại tìm thấy cho mình một bữa tiệc ngon lành. Sự đói khổ nằm ngay bên cạnh: chẳng hạn, một đứa trẻ lên năm trong đất nước chúng ta đang đói. Chúng ta là những người “hăng say làm việc thiện” thì cần biết cách sử dụng của cải vật chất và khả năng của mình. Nhờ đó, tất cả mọi người đều có một vị trí trong bàn phần thưởng của chúng ta, đặc biệt ngày hôm nay khi thánh Phaolô bảo chúng ta rằng: “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người…” Các Kitô hữu là những người có mơ ước: chúng ta mơ ước về sự quang lâm lần thứ hai của Đức Kitô. Còn thánh Phaolô lại nhắc nhở rằng: chúng ta là những người thực thi điều mơ ước đó, vì “hăng say làm việc thiện.”
[i] Sermon 192:2. [ii] Ga 1:14. [iii] x. Karl Rahner, Encyclopedia of Theology, The Concise Sacramentum Mundi, ed. by Rahner, K., New York : 1975, tr. 691.
| |