| |
Chúa Nhật IV Mùa Chay - Năm C
Gs 5,9a.10-12 / 2Cr 5,17-21 / Lc
15,1-3.11-32
Lm Như Hạ
op :
Tự
Do Như Một Định Mệnh
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Hãy thay đổi
Vinh sơn Ngô Đức Duy op : Hãy Trở Về Trong Vòng Tay Cha Yêu Thương
Fr. Jude Siciliano, op :
Chúa Đang Khát Khao Mong Đợi
Fr. Jude Siciliano, op : Sứ Giả Lòng Rộng Lượng và
Ước Muốn Hòa Giải
Đỗ
Lực op :
Bức Tranh Hí Họa
Fr. Jude Siciliano
op: Con ta đã mất và nay lại
tìm thấy
An Phong op
Thiên
Chúa Giàu Lòng Xót Thương
Tin mừng Luca chương 15 là 3 dụ ngôn về
lòng thương xót của Thiên Chúa : dụ ngôn về con chiên lạc trong số một
trăm con chiên (1/100); dụ ngôn về đồng bạc bị đánh mất (1/10) và dụ
ngôn "người con hoang đàng" (1/2). Tin mừng chúa nhật thứ tư mùa Chay
năm C là dụ ngôn thứ ba này. Đây thực là "một tin mừng (nhỏ) trong một
Tin mừng (lớn)". Thực ra, gọi là dụ ngôn "người con hoang đàng" thì
không đúng lắm, có lẽ gọi là "Người Cha Hoang Phí" thì đúng hơn, bởi lẽ
người cha đã hoang phí tình yêu của mình cho các con của ông. Dung mạo
người cha mới là điểm chính yếu. Người cha đã đồng ý chia gia tài cho
người con thứ (đây là điều không hợp luật), vì theo quan niệm Trung Đông,
người con không có quyền đòi chia gia tài khi người cha vẫn còn khỏe
mạnh. Người cha chính là hình ảnh của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa "hoang
phí" tình yêu cho nhân loại, dù Người biết nhân loại vẫn tội lỗi, ích kỷ,
muốn sống độc lập với Người, thậm chí muốn loại trừ Người. Thiên Chúa
vẫn tôn trọng tự do của nhân loại.
Tình yêu của người cha đã đón nhận người
con thứ trở về sau những ngày ăn chơi phung phí. Tình yêu của người cha
đã mời người con trưởng chung vui vì người em trở về. Thiên Chúa cũng
vậy : qua Đức Giêsu, Người vui mừng đón nhận những tội nhân thống hối và
mời gọi tất cả mọi người cùng vui mừng và chia sẻ với Người.
Người con thứ xin Cha chia gia tài để
trẩy đi phương xa. Người Cha sẵn sàng chia gia tài. Cha hắn để cho hắn
tự do, không cấm cản gì. Hắn không vi phạm một điều luật nào hết. Thực
ra, hắn tưởng mình có thể định đoạt tất cả. Hắn ra đi không phải vì ý
muốn sa đọa thúc đẩy đâu, nhưng vì khao khát sống mạnh, sống ngoài vòng
kiểm soát của Cha, vì háo hức khao khát kinh nghiệm, vì muốn biết cái
mới lạ, nhưng lại không có bản lãnh, hung hăng quá trớn, thiếu ý chí.
Khi ra đi là hắn xúc phạm đến cha. Mối giây ràng buộc với cha lớn gấp
nhiều lần mối giây ràng buộc với lề luật.
Sau những ngày ăn chơi phung phá, hắn
trắng tay. Hắn cảm thấy trống vắng, thiếu thốn tất cả. Hắn quyết định
trở vê nhà Cha. Khi quyết định như thế,hắn đã nhận ra chính mình, giới
hạn của mình. Chân lý bắt đầu khi con người nhận ra chính mình. Hắn hạnh
phúc vì đã dám thú nhận : thưa cha, con đã xúc phạm đến trời và đến Cha.
Hắn hạnh phúc vì đã dám tin vào tấm lòng của cha, sự tha thứ của cha.
Hắn hạnh phúc vì đã trở về. Không phải vô lý đâu, khi Đức Giêsu đã có
lần nói : Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước trời trước hết.
Thế nhưng, không thiếu những người tưởng
rằng mình thánh thiện, ngoan đạo, tự cấp cho mình quyền đòi hỏi bất cứ
gì. Và cũng không thiếu những người tự hài lòng với việc chu toàn đầy đủ
lề luật. Đó là hình ảnh của người anh cả. Người anh cả tưởng mình là
người công chính, vì chu toàn hết mọi lề luật. Điều cần có anh đã không
có, đó là tấm lòng thông cảm, chia sẻ, nhất là chia sẻ những tội lỗi,
những giới hạn của người khác. Anh là hình ảnh của những kẻ tự cho mình
quyền xét đoán người khác".
Đức Giêsu chính là người cha đó. Người
không màng chi đến quá khứ của người tội lỗi. Tình cha còn lớn hơn quá
khứ đó, còn lớn hơn sự hối hận, dày vò của người con. Thiên Chúa tha thứ
tất cả.
Chúng ta là người con cả hay người con
thứ trong bài Tin Mừng hôm nay ?
Lạy Chúa,
Con xin dâng Ngài, lời thú tội của đứa con hoang :
Trước mặt Chúa, con đã phạm tội,
con đã hoang phí kho tàng ân sủng Chúa trao cho con,
xin nhận lòng sám hối của con.
Lạy đấng Cứu thế, xin cứu chuộc con.
Như người con bỏ nhà đi hoang, lạy Chúa,
con nay trở về sau khi đã phí phạm đời con, lòng xa cách Chúa.
Lạy Cha, con đã hoang phí của cải Chúa
ban cho con.
Xin nhận lòng sám hối của con và xót thương con.
Con đã thẳng tay phung phí tài sản của Cha, con sống cô đơn, cùng cực
trên mảnh đất của những người trụy lạc.
Lòng con hối hận, con xin trở về với Cha,
lạy Cha nhân ái, xin nghe lời con van nài :
"Thưa Cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha,
con chẳng đáng là gọi là con Cha nữa,
xin coi con như một người làm công cho Cha vậy,
và xin thương xót con".
(Phụng vụ Byzantin)
Giuse Đặng Chí San op
Cả Hai Đều Hoang Đàng Cả
Chúng ta, người thì “ngoan ngoãn”
ở yên trong nhà, kẻ thì ngu muội cứ nghe những tiếng gọi vi vu từ xa
khơi gió lộng, vâng, cả hai chúng ta đều là những đứa con hoang đàng cả.
Đứa con thứ, bỏ cha mẹ làng mạc mà lang thang tiếu ngạo giang hồ, thì đã
rõ hắn là tên mất dạy, là đứa đi hoang. Nhưng anh con cả, đàng hoàng,
đều đặn, tối sớm thứ tự nết na, quanh quẩn bên góc vườn xó bếp, ảnh cứ
tưởng ảnh là trưởng tử ngon lành.
Không đâu ! chất đi hoang không tùy thuộc
việc đàng hoàng đạo mạo trong nhà hay phiêu bạt tơi bời giữa giang hồ
lộng gió. Đi hoang, là dù ở đâu, làm việc gì, mà vẫn không cảm nhận Tình
Cha, và vì thế cũng đánh lạc mất hồn mình, đánh lạc mất bản chất cao quí
của mình. Đi hoang, là không biết rằng Ánh Mắt Cha vô cùng ấm áp. Đi
hoang, là chẳng biết Lòng Cha là một bầu trời mà mình bay mãi lặn mãi
chẳng bao giờ có chỗ tận cùng. Và vì không biết Lòng Cha như thế, nên
cũng quên mình là cậu ấm, là con giống cháu giòng, là tay qúi phái cao
sang. Và càng không biết rằng mình đang được lượn múa giữa cả một Bầu
Trời rất mới, rất êm, rất rộng....
Chao ôi, chất đi hoang nó nằm trong chúng
ta sâu xa đến thế. Hầu hết chúng ta đều là những chàng con cả. Là con cả
mà không sống như người con cả. Chúng ta lụi hụi lúi húi như một kẻ làm
thuê. Chúng ta lấm lét dòm dỏ Cha như thằng ăn trộm. Chúng ta thu vén
nhặt nhạnh tính toán như tên bần tiện bủn xỉn tầm thường. An thân trong
bầu trời Lòng Cha mà sao chẳng thênh thang hạnh phúc.
Đôi thằng, cảm thấy tù túng ngột ngạt vì
lối sống chật chội như thế, bèn bứt phá xông ra. Hắn thèm bầu trời. Hắn
thèm sự sống. Hắn khát tình yêu. Hắn mơ cơn gió. Hắn đợi cơn mưa. Hắn
nhớ những đồi cao lũng thấp. Hắn chờ đợi những buổi bình minh thức dậy
tinh khôi và những chiều vàng hoàng hôn lẫm liệt. Hắn bèn cãi cự với Cha
như đấu tranh với ông trưởng ngục. Hắn dành lấy cái tự do theo kiểu hắn,
thứ tự do mà “Ông Già” lom khom kia đã tước đoạt của hắn tự bao
giờ ! Và hắn lên đường. Áo quần tơi tả, tóc rối tung bay, bước chân chim
nhảy nhót giữa ngàn phương mới lạ. A ha ! Tự do hạnh phúc cứ từng phút
từng giờ mở phơi ra những chân trời viễn mộng đắm say. Thênh thang qúa,
viễn mộng qúa, mới lạ mênh mông quá, đến vập mặt mình xuống máng cám heo
! Ngàn khơi gió lộng qúa, nên cả xác hồn được thổi tung tơi tả ! Những
chập chùng phiêu lãng quá, nên gối mỏi chân rung, xương máu tan tành ! A
ha ! Ta đã sống. Ta đã được sống. Nhưng cái sống ngất ngây này lại khiến
thân tàn ma dại. Và bầu trời tự do quá rộng lại đưa đến nỗi hoang liêu
trống vắng ghê hồn ...
Cuộc sống đúng là tù ngục. Ở yên lơ láo
an thân với nề nếp công việc mỏi mòn cũng là tù ngục. Mà ra đi dấn thân
vào gió bụi giang hồ cũng là mỏi mòn tù ngục. Chất tù ngục nằm ở trong
chính bản thân. Chất vong thân hoang dại đã từ kiếp nào nhiễm nặng vào
máu thịt. Chạy đâu cũng chết. Sống kiểu nào cũng là bế tắc. Và bấy giờ,
chỉ có một con đuờng duy nhất, đó là, dám thấy và dám để cho Cha đón
rước mình như MỘT ĐỨA CON. Và cuộc Ra Đi đích thực nào cũng thế, dù là
con thứ hay con cả, thì mỗi người vẫn cần phải Ra Đi, Ra Đi để Trở Về
với Lòng Cha Nhân Hậu.
Đã từ bao đời mấy kiếp rồi đó nhỉ, chúng
ta, những người Kitô hữu, chúng ta đã chỉ nói, chỉ nghe và chỉ sống như
những người con cả. Chúng ta ràng rịt mình, ràng rịt nhau để lơ láo nép
thân cách chật chội như người con cả. Chúng ta không bao giờ dám bứt phá
ra đi. Nhưng bứt phá ra đi, là bứt phá với tâm thức lề luật, bứt phá với
tâm thức nô lệ, bứt phá khỏi xiềng xích của những khuôn thứơc gíáo điều
chật chội. Chúng ta ở trong Nhà Cha nhưng lại chẳng cảm được sự mênh
mông đích thực của Lòng Cha. E dè. Sợ hãi. Tính toán. Lập công lập phúc.
Lo thưởng sợ phạt... Và cơ cấu, chức quyền, để rồi, ta gùn ghè ganh tị
đo đếm với nhau. Ta đưa đôi mắt con buôn để đo đếm tính toàn từng li
từng tí Tấm Lòng Người Cha Nhân Hậu. Có khi nào chúng ta nghe được những
tiếng gọi xa khơi ? Có khi nào ta thấy trong lòng sự quyến rũ của mưa
nguồn chớp bể ? Và chao ôi ! những tiếng gọi ấy, bầu trời ấy, tiếng vần
vũ mưa nguồn chớp bể ấy, lại ở ngay trong Nhà Cha, trong Hồn Cha, và
cũng là trong chính Lòng Ta, mà ta không biết...
Fr. Jude Siciliano OP
Cuộc trở về an toàn
(Lc 1-3; 1-32)
Thưa quý vị,
Nếu từ “hoang đàng” có nghĩa là
phung phí thái quá, thì chúng ta có thể gọi cả hai cha con trong dụ ngôn
hôm nay là hoang đàng, tuy mỗi người một kiểu. Người cha về tình thương
và người con về tiền bạc vật chất. Theo thói quen chúng ta gọi dụ ngôn
là người con hoang đàng. Nhưng nhiều nhà mô phạm cũng gọi người cha là
hoang đàng nữa. Ông đã phung phí tình cảm trên hai đứa con vô độ, không
có giới hạn nào. Người cha thế gian dù dễ dãi đến đâu cũng phải có chút
hạn chế cho những đứa con của mình. Đàng này trước các lỗi lầm của hai
con ông chỉ biết trông chờ, vui mừng và nài nỉ. Nhiều tác giả đạo đức
đặt lại tiêu đề cho dụ ngôn là : “Người cha và hai đứa con”.
Phụng vụ cho chúng ta nghe lại nhiều lần trong năm dụ ngôn này, đến nỗi
chúng ta có thể kể lại gần như thuộc lòng. Ngày thứ bảy tuần ba vừa rồi
(13/3/04) cũng là bài Phúc Âm này trong thánh lễ sáng.
Chúa Giêsu kể dụ ngôn cho các kinh sư và
nhóm biệt phái nghe. Lý do vì họ kêu trách Chúa năng lui tới với những
người tội lỗi, lại còn chè chén với chúng. Ngay câu mở đầu dụ ngôn đã mô
tả hành động của người con thứ : “Thưa cha, xin cho con phần tài sản
con được hưởng”. Mà cứ theo luật lệ lúc ấy là 1/3. Nếu gia đình giàu
có thì quả là một gia tài khá lớn, thu tích trong nhiều năm. Anh đổi
thành tiền mặt để đi ăn chơi trác táng. Tệ hơn nữa, anh kể người cha như
đã qua đời, bởi khi sắp chết người ta mới chia gia tài, bao lâu còn sống
chẳng ai làm như thế, kẻo phí phạm tài sản; cho nên đa phần cha mẹ trần
gian không thể noi gương ông bố này mà nuôi dạy con cái. Chúng quá hỗn
xược và tệ bạc, nhưng chủ đích của dụ ngôn không phải về vấn đề nuôi dạy
con thơ, mà là tương giao giữa Thiên Chúa nhân lành và loài người phản
nghịch, hư hỏng. Chúng ta đã rõ phần còn lại của câu chuyện.
Điều làm tôi thích thú là diễn biến của
nó với các động từ: Thu quén, ra đi, sống phóng đãng, phung phí tiền bạc,
làm thuê, chăn heo, khao khát đồ heo ăn, tỉnh ngộ, hồi tưởng, đứng dậy,
trở về… chúng mô tả hành động mau chóng và đi thẳng đến mục tiêu câu
chuyện. Cho dù là khởi sự hay kết thúc diễn biến gọn gàng và chính xác.
Khi người con thứ nhận ra lỗi lầm và hoàn cảnh vô vọng, hắn nắm ngay cơ
hội để trở về. Mùa Chay là mùa Giáo Hội thúc giục tín hữu noi gương
người thanh niên hoang đàng, trở về với Thiên Chúa, là Cha mình và với
anh em. Một khi đã giác ngộ về tội lỗi, biết rằng cuộc đời mình là trống
rỗng, không sinh hoa kết trái, không ích lợi gì cho ai, ngay cả linh hồn
mình, bê tha trong các tính mê, nết xấu, chúng ta khao khát trở về với
Thiên Chúa và nắm lấy cơ hội ăn năn thống hối. Chúng ta được Giáo Hội
mời gọi làm quyết định mau chóng, không chần chừ, không để lỡ cơ hội và
không lo sợ sẽ bị Thiên Chúa từ chối. Dụ ngôn khơi dậy trong lòng mỗi
người niềm tin tưởng vào lòng Chúa nhân lành, sẽ tiếp đón mình nhân từ
và hiền hậu : Tôi biết tôi sẽ được cha tôi tha thứ. Chúng ta có thể nói
được như thế nhờ dụ ngôn Chúa Giêsu kể. Người ta có thể đặt tên cho dụ
ngôn là : “Cuộc trở về an toàn”, theo nội dung câu chuyện.
Thánh vịnh đáp ca còn gợi lên trong linh
hồn mỗi người điều ngọt ngào hơn : “Hãy nếm thử và hãy nhìn xem Chúa
tốt lành biết mấy”. Trở về với Thiên Chúa, chúng ta sẽ kinh nghiệm
thánh vịnh này: “Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ
mặt hổ ngươi. Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi
cơn nguy khốn”. Đúng thật, Thiên Chúa là Đấng phung phí lòng xót thương
trên các tội nhân, người ta gọi Ngài là người cha hoang đàng cũng có lý
do. Có lẽ người con thứ đã biết được tính nết của cha mình, cho nên
không sợ sệt mà trở về và cũng không đòi hỏi được đối xử ngoại lệ.
Những thính giả chân thật khi nghe dụ
ngôn này đều cảm thấy lòng tràn đầy tin tưởng. Đôi khi trong quá khứ
chúng ta đã nhiều lần chần chừ vì có nhiều tội lỗi, chúng ta có thể nghi
ngờ về tính ngay thẳng của động lực trở về ; nhưng mỗi lần nghe dụ ngôn,
lại cảm thấy can đảm hơn. Động lực của người con thứ đâu có cao thượng
gì ! Cái bụng lép xẹp, đói khát, ước ao đồ heo ăn và mường tượng những
người làm công ở nhà cha ăn uống ê hề : “Biết bao người làm công cho
cha tôi được cơm dư gạo thừa mà tôi đây lại chết đói”. Cho nên chẳng
cần cân nhắc động lực trở về với Thiên Chúa. Đơn giản dụ ngôn chỉ thúc
bách chúng ta đứng dậy trở về nhà cha. Thiên Chúa đứng đón đợi từ đàng
xa, sẵn sàng tha thứ và ôm hôn thắm thiết. Thực ra trên bình diện siêu
nhiên, ngoài bản năng tự nhiên, thì lòng muốn trở về đã là một ân huệ
như không. Dụ ngôn cũng đồng ý như thế.
Sự rộng rãi của người cha đối với những kẻ làm công đã
thúc đẩy đứa con xem lại tình trạng khốn đốn của mình, mà đứng dậy trở
về với cha. Tôi hết sức nghi ngờ trong sinh hoạt hàng ngày ở Palestine
có thấy một ông chủ đối đãi hậu hĩnh với các người làm công như thế
không ? Thời nay cũng vậy thôi. Cơm dư gạo thừa chẳng xảy ra bao giờ
trong các xí nghiệp, nông trường, bởi lợi nhuận là trên hết. Dụ ngôn
khuyến khích chúng ta mau mắn trở về nhà Thiên Chúa. Khi người cha gặp
con, bầu khí tha thứ và yêu thương làm cho việc xưng thú lỗi lầm được dễ
dàng hơn. Cảnh ngộ này không thiếu trong sinh hoạt thường nhật. Tôi
nghĩ đến câu chuyện gia đình. Khi các bạn lỡ tay làm vỡ chén, tách quý
hiếm của ông bà nội, các bạn muốn xin lỗi thì được ngay lời an ủi của bà
: “Không sao ! con quên nó đi, ông bà có quà
cho con ở đàng kia, con chạy đi lấy mà ăn”.
Câu chuyện có thể kết thúc ở đây, nếu
không có mặt của người con trưởng. Bản văn vừa đến câu : “Và người ta
bắt đầu ăn mừng.” Thì anh ta bắt đầu hiện diện làm cho bầu khí thay
đổi, đang vui trở nên buồn. Chúa Giêsu nói về thái độ của các kinh sư và
Pharisêu đối với các tội nhân, tổng quát, đạo Do Thái với dân ngoại. Họ
nghiệt ngã quá đáng. Trước mặt họ Chúa Giêsu dễ dãi với các người buông
thả, không tuân giữ lề luật và các tập tục của cha ông. Ngài còn tỏ lòng
ưu ái, thậm chí đồng bàn với họ. Một điều chướng tai gai mắt, không tín
đồ Do Thái nhiệt thành nào muốn làm. Lời rao giảng của Chúa mở toang
cánh cửa hối cải cho mọi người. Cho nên Pharisêu và các Ký lục không thể
chịu đựng được Chúa Giêsu, coi Ngài như rối đạo, kẻ thù của thế lực đền
thờ. Họ cực lực phản đối cách sống đạo của Ngài. Thiên Chúa của Môsê
không thể chấp nhận một tên vi phạm lề luật như thế.
Người con cả đứng ngoài cổng. Anh vừa ở
cánh đồng trở về, anh là một người lao động tốt, cần cù và có trách
nhiệm. Bất cứ gia đình nào cũng hãnh diện về một thành viên như thế.
Khác với người em út, anh học thành thạo nếp sống gia đình, cha mẹ chỉ
dạy : Làm việc siêng năng, ăn tiêu chắt bóp, không rượu chè trác táng,
sống đúng với ước mong của mọi người. Nhưng điều anh không học được là
lòng rộng rãi, bao dung, sẵn sàng tha thứ cho đứa em lầm lỗi của người
cha. Anh gọi một gia nhân hỏi xem trong nhà có chuyện gì. Khi đã biết
được câu chuyện, anh nhất định không vào nhà.
Tuy nhiên, người cha chẳng nổi giận hay
thất vọng về anh, ông lại ra khỏi nhà lần nữa và năn nỉ người con cả.
Lại lần nữa ông tìm kiếm người con đi hoang. Anh tuy ngoan ngoãn nhưng
chẳng hiểu hết lòng ông. Anh cũng là kẻ hoang đàng theo ý nghĩa gia
phong đoàn kết. Điều mà cha mẹ nào cũng mong muốn cho gia đình mình dù
đã tan nát. Như thế Chúa Giêsu không hẳn đả kích người Do Thái, nhưng
chỉ nói lên lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, mà hiện thân là Ngài.
Hạnh phúc vững bền của chúng ta là lòng Chúa xót thương. Cũng như tình
yêu của người cha đảm bảo an toàn cho hai đứa con dù ở hoàn cảnh nào !
Người con cả muốn rời xa gia đình khi nghe người em trở về và được người
cha tiếp đón ân cần.
Thực ra, trước mắt bạn bè và hàng xóm
láng giềng, anh rất xấu hổ, thậm chí tủi nhục vì hành động “điên rồ” của
người cha. Phúc Âm cũng nói rõ tâm tình đó: “Cha coi, đã bao nhiều
năm trời con hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lệnh cha, thế mà chưa bao
giờ cha cho con lấy một con dê nhỏ để ăn mừng với bạn bè…”. Ở khúc
này của câu chuyện, chúng ta có thể đặt tiêu đề cho dụ ngôn là : “Ông
bố điên khùng, chẳng chịu ở nhà”. Nghe ngộ nghĩnh nhưng đúng với tâm
lý người cha.
Trên con đường thiêng liêng mùa Chay, cả
hai đứa con trong dụ ngôn đều có mặt trong mỗi người chúng ta. Rất nhiều
lần chúng ta nghe theo cơn cám dỗ của thế gian và xác thịt, thu quén
tiền bạc ra đi phương xa ăn chơi vui vẻ, phóng đãng. Khi gặp gian khổ
chúng ta hối hận quay về xin Chúa thứ lỗi và đã gặp được lòng nhân ái
của Ngài. Nhưng cũng rất nhiều lần chúng ta đóng vai người con cả, tưởng
mình đạo đức hơn người, để rồi tẩy chay các tội nhân khác, coi họ không
là anh em với mình và cắt đứt quan hệ, dù là kinh doanh, làm ăn, lợi
lộc. Chúng ta đóng góp xây dựng nhà xứ, nhà thờ, trường học, bệnh viện,
giữ các lề luật tôn giáo cặn kẽ, không hề bỏ lễ chúa nhật, có mặt trong
các hội từ thiện bác ái… nhưng không chấp nhận ông A say rượu, bà B tham
lam, ngồi chung ghế với mình trong thánh đường, hay chị C ly dị chồng
vào đoàn thể, vào hội hè…. À thì ra, dụ ngôn không ám chỉ ai hết, mà
chính bản thân mỗi tín hữu, trong đó có tôi là chính. Hiểu cho người
khác là oan uổng và vu khống, chúng ta phải đấm ngực ăn năn : Lỗi tại
tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Chúng ta phải cảnh giác chính mình, kẻo
lây nhiễm thái độ của một trong hai người con, thậm chí cả hai.
Tôi chẳng ưa thích chút nào về người con
cả với ý thức trách nhiệm cao, chăm chỉ làm việc, trung thành với gia
đình nhưng lại chẳng học được lòng nhân hậu của cha. Thực ra thì đó
không phải là quan hệ yêu mến của đứa con với cha mẹ. Hãy nghe anh hậm
hực : “Cha coi đã ngần ấy năm con hầu hạ cha…” đó chỉ là tự ái,
kể công mà không phải là lòng yêu mến. Cho nên cả hai người con đều cần
tỉnh ngộ. Hết mọi tín hữu cần xét mình trong mùa Chay thánh thiện này.
Đó là chủ đích của bài Tin Mừng hôm nay. Đừng ai nghĩ mình không cần
thống hối. Tất cả chúng ta đều là tội nhân.
Hãy lợi dụng ý nghĩa của dụ ngôn, ơn Chúa
luôn sẵn sàng cho những ai thành tâm thiện chí. Dụ ngôn thúc giục chúng
ta coi Thiên Chúa như người cha nhân ái, thậm chí phung phí tình yêu
trên các tội nhân. Ngài luôn mong đợi chúng ta trở lại. Người anh lớn từ
chối em là hình bóng chúng ta không chấp nhận anh chị em đồng đạo ăn năn
sám hối. Chúng ta hãy vui mừng vì những cuộc trở lại như thế trong mùa
Chay này. Hơn nữa, phải tích cực dẫn dắt họ quay về với Thiên Chúa qua
các bí tích. Chúng ta sẽ nâng đỡ những thanh thiếu niên sa cơ lỡ bước
rơi vào các tệ nạn xã hội như xì ke, ma tuý, đĩ điếm, trộm cắp, lang
thang, vô gia cư… họ đang vật lộn với hoàn cảnh và bản thân để có được
nếp sống an lành. Chẳng ai muốn mình hư hỏng, nhưng xã hội đầy dẫy những
con người như thế. Cho nên chúng ta có nhiệm vụ phổ biến ý nghĩa của Tin
Mừng hôm nay cho hết mọi cảnh ngộ mình gặp. Lôi kéo họ trở về với Thiên
Chúa yêu thương.
Chúng ta nên nhớ Thiên Chúa đã hoà giải
với thế giới qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại vinh quang của
Chúa Giêsu, chứ không qua sấm sét, đe doạ và án phạt. Chúa Giêsu đã đền
bù thoả đáng phép công thẳng của Ngài bằng cây thập tự. Ngài công chính
hoá toàn thể nhân loại một cách nhưng không. Cho nên chúng ta không thể
kết án ai, nhất là những linh hồn yếu đuối đã lìa bỏ Giáo Hội mà ra đi,
ăn ở trác táng, có thể họ còn chống lại Hội Thánh vì lý do hay thù hận
nào khác. Trong ý nghĩ nào đó, chúng ta có thể thông cảm với người con
cả. Người cha đã hành động quá tốt lành, ngoại lệ thế gian, cử chỉ của
ông không ai đoán trước đựơc, làm lung lay mọi nền tảng giao tiếp xã hội.
Ở đời thường chúng ta chẳng bao giờ gặp một người cha nào như thế, làm
sao hiểu được người cha trong dụ ngôn hôm nay ? Ông sẽ làm gì kế tiếp ?
Không ai biết được, nhưng có một điều chắc chắn là tấm lòng ông bao la.
Cho nên cả hai người con phải đặt hết tin tưởng vào ông. Lòng tha thứ
của ông luôn sẵn sàng, dù lỗi lầm của họ nặng nề đến đâu đi nữa ! Ông
chẳng rầy la họ, nhưng vui mừng đón tiếp, ôm cổ và hôn lấy hôn để. Trước
mắt người đời ông có thể là kẻ “điên khùng”. Nhưng đấy lại là
hình ảnh của Thiên Chúa chúng ta trong mùa Chay này -
Như
Hạ
op
NỤ HÔN NỒNG CHÁY
Nụ hôn là một biểu hiện tình yêu. Nhưng
thực tế có những nụ hôn chiếu lệ, đầy mầu mè hình thức xã giao. Nhưng
cũng có nụ hôn diễn tả tình yêu nồng nàn, chân thực. Chẳng hạn trong dụ
ngôn người cha nhân hậu, người con hoang đàng đã nhận được nụ hôn cháy
môi, vì người cha “ôm cổ anh ta, và hôn lấy hôn để” (Lc 15:20) bù lại
bao tháng ngày xa cách.
TÌNH YÊU KỲ DIỆU.
Dụ ngôn đã phác họa biến cố xảy ra trong một gia đình phú
nông có nhiều người làm công (Lc 15:17). Bắt đầu bằng một sự việc khác
thương. Người con thứ nổi hứng, muốn sống biệt lập. Sau bao ngày đắn đo
suy nghĩ, anh mạnh dạn đến thưa với cha : “Thưa cha, xin cho con phần
tài sản con được hưởng.” (Lc 15:12) Có lẽ anh sẽ được hưởng một phần
ba tài sản (Đnl 21:17) Bình thường con cái chỉ hưởng được gia tài khi
người cha khuất núi hay muốn chia gia tài sớm và không muốn điều hành
sản nghiệp nữa. Đằng này, người con thứ dám nghênh ngang đòi chia gia
tài, bất chấp mọi quyền bính của người cha và anh cả.
Thật là táo bạo ! Ngay đầu câu truyện đã thấy tất cả nét
nhân hậu của người cha khả ái, chứ không phải bất lực hay nhu nhược.
Đúng hơn, hiểu rõ tâm lý và khuynh hướng thích tự do của tuổi trẻ, người
cha đã chiều theo ý muốn của con và muốn tránh những hậu họa cho gia
đình.
Người con thứ thả hồn mơ mộng về một tương lai huy hoàng.
Anh tin tưởng tuyệt đối đồng tiền có khả năng tạo hạnh phúc. “Ít ngày
sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta
sống phóng đãng phung phí tài sản của mình.” (Lc 15:13) Những ngày
tháng đầu diễn ra đúng như anh mơ tưởng. Anh đã rời xa mái ấm. Xa cả về
không gian lẫn tình cảm.Chỉ gần những cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu
đêm.
Nhưng đời sẽ dậy cho anh một bài học. Hoàn cảnh bên ngoài
và điều kiện bên trong không còn dễ dàng. “Khi anh ta đã tiêu hết
sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta
bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong
vùng.” (Lc 15:14-15) Anh đã xuống tới nấc thang cuối cùng trong xã
hội. Trong cảnh cùng cực, tất cả những thực tại bình thường trước kia
lại trở thành giấc mơ đối với anh. Anh bắt đầu vẽ nên cảnh gia đình đầm
ấm và mong gặp lại cha già để hưởng tất cả quyền lợi ngày xưa. Nhưng đó
chỉ là giấc mơ thôi. Thực tế anh mong được chấp nhận trở lại gia đình
như một người làm công (Lc 15:19). Thế là anh quyết định trở về, một
quyết định không vì hối hận, nhưng vì nhu cầu sống còn.
Màn chót trong bi kịch hứa hẹn nhiều pha gây cấn, bất
ngờ. Tất cả như một giấc mơ khi người con thứ trở về. Đó không phải là
một cuộc trở về thành thật. Dù sao người cha cũng chấp nhận. Một lần nữa
lại thấy tất cả nét chu đáo và đầy cảm thông của người cha nhân hậu. Ong
chỉ mong được lại người con với bất cứ giá nào. Anh không thể ngờ tình
cha yêu thương vẫn nguyên vẹn. Có lẽ khi còn ở nhà chưa bao giờ anh được
cha vồn vã “ôm cổ và hôn lấy hôn để” (Lc 15: 20) như thế. Đang
còn hoa mắt vì tấm lòng trời bể đó, anh đã phải bàng hoàng trước thái độ
cao thượng của người cha. Anh được trao “nhẫn là biểu tượng của quyền
bính (St 41:42; Et 3:10;8:2); dép chỉ dành cho người tự do.”
(KTTƯ 1995:334) Anh vẫn là con, chứ không phải là người làm công hay tên
nô lệ. Sau đó, một bữa tiệc thịnh soạn thiết đãi mọi người đến chia sẻ
niềm vui, vì như ông nói “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất
mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:24, 32)
Phải có một tấm lòng đại lượng vô cùng mới có thể nhìn
thấy giá trị nơi những gì đã mất. Không có con mắt bao dung đó, người
anh cả không thể chấp nhận người em vào lại gia đình. Trước mắt anh, cha
đã làm một việc thật phi lý, bất công (Lc 15:29-30). Không ai có thể
hiểu nổi thái độ kỳ cục của cha già ! Có lẽ ông hết sáng suốt, không
nhận định nổi thực tế nữa nên mới có thái độ như vậy. Người đáng thưởng
lại không thưởng. Kẻ đáng phạt lại được nuông chiều. Nhưng “ý thức về
bổn phận quá đã che mờ mắt anh. Anh không thể hiểu nổi sự tha thứ và tấm
lòng quảng đại của cha.” (Fahey 1994: 268) Đã có một khoảng cách lớn
giữa cha và anh. Khoảng cách này kéo theo khoảng cách không bao giờ lấp
nổi giữa anh và em. Người cha không những phục hồi quyền làm con, nhưng
còn muốn lấy lại cả địa vị làm em cho người con thứ. Những lý lẽ biện hộ
cho con thứ hoàn toàn không thể chấp nhận được trước một đầu óc duy lý
như người con cả. Con tim có những lý lẽ riêng của nó !
Giả sử khi trở vê người em thứ ngay anh cả đứng đầu ngõ,
cái gì sẽ xảy ra ? chắc chắn người em sẽ đón nhận một thái độ khinh bỉ,
kinh tởm, hờ hững. Anh cả sẽ đối chất bằng những lời lẽ nặng nề, lôi tất
cả lề luật, bổn phận để hạch sách. Kết quả có thể là một trận phun nước
miếng hay ẩu đả với em. Thái độ như thế liệu có thể kéo đươc người em
trở về không ? May mắn cho người em đã gặp được bố lúc về nhà ! Tình yêu
luôn đón mời. Chỉ tình yêu mới làm con người hồi tỉnh và phục hồi được
những giá trị đã mất. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta quá
cứng rắn. Người vợ hay chồng thường nêu ra những lý lẽ để bắt chẹt người
bạn của mình. Nhưng chỉ tình yêu mới có sức thuyết phục. Tình yêu mới
nối liền con người, chứ không phải những khô cứng của lề luật.
So sánh hai cuộc đời của hai con người, đứng về mặt luật
pháp và lý trí, anh cả đáng ca tụng vì đã trung thành với bố suốt bao
năm tháng. Người em đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng vì thái độ ngang
tàng bừa bãi của mình. Nhưng thử hỏi, ai đã rời xa cha già, xa mái ấm
gia đình hơn ai ? Anh cả hay em thứ ? Thực tế dù sống ngay bên cạnh cha,
tâm trí con cả lúc nào cũng xoay quanh cái tôi của mình : “Đã bao năm
trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao
giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.” (Lc
15:29) Cái tôi của anh quá lớn đến nỗi đè bẹp luôn người em đang tủi hờn,
cay đắng. Anh lên giọng để cha già thấy tất cả cái phi lý của cách cha
đối xử phân biệt : “Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của
cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thi cha lại giết bê béo ăn mừng !”
(Lc 15:30) Thực tế cả hai người con đều cần phải trở về với cha. Nhưng
cũng như người Pharisê, người con cả khó trở về hơn, vì anh tự mãn quá
mức vì những công việc và lề luật trong gia đình.
Người con thứ đã trở về vì lý do rất thấp kém. Nhưng
không sao ! Khi đụng tới sự thật về lòng vô cùng nhân hậu của cha, người
con mới thấy được lý do đích thực phải trở lại. Nói khác người cha dùng
chính sức mạnh tình yêu để trục xuất lý do thấp hèn khỏi người con thứ.
Chính tình yêu đã phục sinh những giá trị đã mất mát nơi người con thứ.
Phải chăng dụ ngôn hôm nay khuyến khích chúng ta noi gương người con thứ
đi hoang hơn là bắt chước người anh cả ở lại nhà cha ? Thực ra, người
cha đã làm người con cả giật mình khi nói hết sự thật : “Tất cả những gì
của cha đều là của con.” (Lc 15:31) Phải trung thành tới mức nào mới có
thể hưởng lời nói ngọt ngào đó ?! Nếu người con cả cảm nhận được tất cả
sự thật về lòng thương trời bể đó, chắc chắn anh có thể trở về và đi vào
con đường công chính đích thực, chứ không chỉ bên ngoài mà thôi.
CHIỀU KÍCH CON TIM.
Chắc hẳn khi nghe dụ ngôn này, các người Pharisêu và các
kinh sư đều tím gan tím ruột vì Đức Giêsu đã phơi bày tất cả lòng dạ hẹp
hòi, kệch cỡm, lì lợm của họ nơi người con cả. Còn những người thu thuế
và các người tội lỗi xúc động vì cảm nghiệm được lòng thương xót vô biên
của Thiên Chúa nơi người cha và sung sướng thấy hình ảnh mình nơi người
con thứ tràn đầy hạnh phúc. Người cha trong dụ ngôn chỉ phản ánh phần
nào hình ảnh Thiên Chúa. Từ lòng yêu thương vô bờ bến, Thiên Chúa đã có
sáng kiến thật táo bạo khi “nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải
với Người.” (2 Cr 5:18) “Ôii ! Ân tình Cha thật kỳ diệu. Ôi ! Ân phúc
Cha thật khôn lường.” (Công Bố Tin Mừng Phục Sinh) Trái tim Thiên
Chúa không ai dò thấu được (Tv 145:3).
Phải có một con tim như Thiên Chúa mới có thể tha thứ như
Thiên Chúa. “Chính tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với tội nhân
đã khiến Đức Giêsu không ngần ngại tiếp xúc thân mật với họ.” (Fahey
1994:268) Tình yêu Thiên Chúa nơi chúng ta có mạnh đủ để đẩy chúng ta
đến với những người tội lỗi hôm nay không ? Vẫn còn có một khoảng cách
giữa những người tưởng mình là thánh thiện với những người bị coi là tội
lỗi và kém may mắn như những người nghiện hút, đồng tính luyến ái, ly dị,
tù tội, nghèo khổ hay bị bỏ rơi. Sự xa cách bên ngoài đó tố cáo một sự
xa cách bên trong giữa chúng ta và Thiên Chúa.
Đã đến lúc phải lắng nghe lời Thánh Phaolô : “Nhân
danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa.”
(2 Cr 5:20) Có bình an nội tâm, mới hòa giải với người. Có gắn bó với
Thiên Chúa, mới có thể đến gần tha nhân. “Đời sống mới trong Đức Kitô,
không những mang chiều kích cá nhân, nhưng còn đạt tới tầm vóc toàn thể
vũ trụ (Cl 1:10). Đó là do sáng kiến Thiên Chúa, Đấng đã trả lại cho
nhân loại tình bằng hữu trước kia với Người trong và qua Con Người.”
(Fahey 1994: 266-267) Sáng kiến đó đã được thực hiện trong một điều kiện
không thể tưởng tượng được. Quả thực, “Đấng chẳng hề biết tội là gì,
thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để
làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5:21) Chính nhờ
chia sẻ và gần gũi đến độ đồng hóa với tội nhân, Đức Giêsu đã có thể
thực hiện được công trình vĩ đại đó.
Chỉ khi nào cảm nghiệm được tình Cha sâu đậm và bao la
như những người tội lỗi và thu thuế, chúng ta mới có thể thay đổi bộ mặt
trái đất. Những dụ ngôn và các bài học trước đây chỉ đụng tới phần nào
giây tơ lòng mỗi người. Nhưng càng đọc dụ ngôn người cha nhân hậu, càng
không thể cầm được nước mắt vì Chúa Cha quá vĩ đại và bất ngờ khi phục
hồi giá trị con người trong Con Một yêu dấu. Người ta không còn viện cớ
gì để từ chối trở về với Chúa được nữa ! Giá trị con người vẫn còn
nguyên đó dù cho thời gian có phủ lên bao lớp bụi mờ.
Thế nhưng, nhiều giá trị ngày nay đang bị chính con cái
Giáo hội chối bỏ. Giá trị luân lý bị đảo lộn từ phòng thí nghiệm đến
ngoài cuộc sống. Điển hình, cuộc thăm dò mới đây cho biết “giới trẻ Kitô
hữu tại Anh không đồng ý với nhũng giáo huấn luân lý của các giáo hội và
tin rằng tình dục ngoài hôn nhân có thể chấp nhận được. Có một khoảng
cách nghiêm trọng giữa giáo huấn truyền thống của Giáo hội về những vấn
đề luân lý và những niềm tin tưởng của thế hệ trẻ.” (CWNews 14/3/2001)
Làm sao có thể thuyết phục con người trở lại với những giá trị nguyên
thủy, nếu trước tiên chúng ta không trở về với nguyên ủy của mọi giá trị
là chính Thiên Chúa ?
Như Hạ OP
Tự Do Như Một Định Mệnh
Thường ai cũng
thấy tựa đề trên hàm chứa một mâu thuẫn tự bản chất. Tự do và định mênh
không thể nào dung hợp. Nhưng tại sao nhìn tự do như một định mệnh ?
Có nhiều mâu thuẫn
vẫn tồn tại bên nhau như bóng với hình. Tự do tuyệt đôi không thể tìm
được trong hoàn cảnh hiện tại. Nhưng con người vẫn luôn cảm thấy mình có
tự do và vẫn mơ về tự do tuyệt đối đó. Nếu không có tự do, con người
không còn trách nhiệm. Luân lý cũng biến mất. Tự do thực là một cám dỗ
nguy hiểm, nhưng cũng là một cơ hội lớn để con người xác định căn tính
và đánh dấu mức trưởng thành nhân cách. Đúng là một trò chơi đòi hỏi
nhiều thông minh và can đảm.
TRÒ
CHƠI HAY TRỜI CHO
Chúng ta không
được hỏi ý kiến trước khi sinh ra. Do đó sự hiện hữu của mình mới đây
những giới hạn. Tự do gần như một mộng tưởng. Sinh ra đời cũng như nhảy
vào một cuộc chơi, giữa bao lựa chọn. Cuộc đời như một trò chơi. Tất cả
các bàn cờ đã bày sẵn. Dĩ nhiên cuộc chơi rất nhiều và phức tạp. Nhiều
người tưởng mình có thể đứng ngoài
cuộc. Nhưng ngay cả nhũg người sống cô đơn nhất, cũng đang chơi
một trò chơi lớn bằng cả cuộc đời mình. Người ta có quyền lựa chọn và
phải chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Lựa chọn nào cũng phải trả giá.
Hãy xem người con
thứ trong Tin Mững Luca 15:11-32 đã trả giá thế nào. Sống với cha mãi,
anh cũng chán ngán với những tập tục năng nề. Anh không thể sống thoải
mái theo ước vọng tuổi trẻ. Anh mơ một khung trời tự do. Anh sẽ vùng vẫy
thỏa tình. Không bị lệ thuộc bất cứ khuôn sáo nào. Hoàn toàn sống theo
sở thích.
Nhưng thử hỏi lúc
đó anh có hoàn toàn tự do không ? Dĩ nhiên tiền bạc đã đem lại cho anh
những trận cười thâu đêm suốt sáng. Anh tung mình vào cuộc chơi với
những hạng người nào ? Những tương quan ngang dọc trong cuộc chơi đó
chẳng lẽ không chi phối con người anh sao ? Nếu nhà cha anh là một sân
chơi, thì nơi đàng điếm cũng là một sân chơi. Khác nhau ở chỗ, sân nào
giúp anh phát triển tinh thần và thể xác, sân nào tạo ra những tai nạn
nguy hiểm, đưa anh tới một định mệnh tàn khốc.
Sân chơi nào cũng
cần luật lệ. Luật lệ cũng chỉ là một phương tiện đạt tới mục đích. Điều
quan trọng là nhận định cho đúng bản chất, tác dụng và hiệu lực của luật
lệ thôi. Không phải luật lệ nào cũng giết chết tự do. Chẳng hạn người
nhạc sĩ sáng tác giữa một rừng luật. Luật âm nhạc không trói chặt tâm
hồn nghệ sĩ của anh. Trái lại càng giúp anh khám phá muôn vàn kỳ diệu
trong thế giới âm thanh.
Cuộc đời có nhiều
sân chơi khác nhau. Mỗi sân chơi có luật riêng. Thử tưởng tượng không
luật lệ, sân chơi sẽ hỗn loạn và nhàm chán chừng nào. Anh đã lựa chọn
một sân chơi thoát ngoài vòng kiêm tỏa của thân phụ. Anh muốn sống hoàn
toàn đoạn tuyệt với quá khứ. Anh không cần đến tình thương của ông nữa.
Anh tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh đồng tiền. Đồng tiền có thể thay
thế hay đúng hơn tạo nên tình yêu. Nói khác, anh mơ tưởng đến một thiên
đàng hạ giới.
Nhưng thực tế phũ
phàng. Cuộc đời không buông tha anh. Trong cơn đói khát, anh thấy mình
bị tước đoạt tất cả. Anh không còn phải là anh giữa bao cơn gào thét của
bản năng căn bản nhất. Phẩm giá anh xuống thấp nhất, ngang với loài heo.
Anh đang trả giá cho lựa chọn của anh. Hạnh phúc ngày xưa trở thành một
giấc mơ hầu như không thể thực hiện. Anh mơ về thời vàng son khi còn
sống êm ấm dưới mái gia đình. Nhớ ngày xưa còn bé thênh thang những bước
chân chim. Lớn lên anh vui chơi với bạn bè. Bao nhiêu dự phóng tuổi trẻ
đã được thực hiện. Anh không thiếu một trợ lực tinh thần và vật chất nào.
Cha luôn ở bên cạnh. Anh vẫn có tự do mà anh không biết. Tự do không
phải là một thứ cây mọc ở trên mây.
Bước chân phiêu
bạt chỉ dừng lại khi giấc mơ tuổi trẻ trở thành thực tế phũ phàng. Anh
mất tất cả những trợ lực cần thiết cho cuộc sống. Anh muốn và thực sự
quay đầu trở về nhà cha. Bây giờ anh chẳng dám mơ một thứ tự do lãng mạn
nữa. Địa vị làm con cao sang quá, anh không dám mơ tới. Cao lắm anh chỉ
mong đóng vai gia nhân, vì làm gia nhân anh không lo chết đói.
Nhưng thực tế khác
xa với mộng tưởng. Nếu thực tế chua chát của cuộc đời đã dạy anh những
bài học đích đáng, thì thực tế của tình cha bao dung đã kéo anh về với
bầu khí tự do của gia đình. Tình yêu không phải là một trò chơi, nhưng
là một của Trời cho con người. Tự do không thể kiếm thấy ngoài tình yêu.
Lý do không tình yêu, mọi sự xáo trộn. Hoàn cảnh ngặt nghèo khiến anh
không thực hiện nổi giấc mơ nhỏ bé tầm thường nhất. Vì anh không thể
kiếm thấy tình yêu nơi môi trường đàng điếm, một nơi chỉ sống dựa trên
tiền bạc, thủ đoạn.
Bởi thế như mọi thực tại trần gian
khác, tự do cũng có giới hạn. Đúng hơn, cũng như tình yêu, tự do phải
được thực hiện trong một hoàn cảnh nhất định. Không thể có thứ tự do vô
điều kiện. Không hội đủ điều kiện, không thể hưởng được không khí tự do.
Tự do không thể có một chiều kích khác biệt với những thực tại chung
quanh. Thực tế tự do cũng chỉ là một đặc tính của con người. Tự do không
thể có chiều kích tuyệt đối trong một cõi tương đối như trần gian. Mặt
trái của tự do là trách nhiệm. Nếu tự do có nghĩa muốn làm gì thì làm,
chúng ta sẽ lâm vào ngõ bí của một định mệnh khắc nghiệt, không lối
thoát. Chỉ có một lối thoát duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô. Thật vậy,
Thánh Phaolô quả quyết : "Chính vì để chúng ta được tự do mà Chúa
Kitô đã chết vì chúng ta" (Gl 5:1).
LỐI
THOÁT KHỎI ĐỊNH MỆNH
Con người dù mạnh
tới đâu cũng phải dừng lại trước sức mạnh tử thần, vì họ chỉ "giết
được thân xác mà không giết được linh hồn" (Mt 10:28). Ngày xưa vua
Gia Long tưởng quyền hành bao trùm cả cõi âm ty, nên dã lấy sọ Quang
Trung bỏ vào nhà vệ sinh. Lối trả thù ti tiện đó càng làm mọi người phỉ
nhổ, chứ không chứng tỏ chút uy quyền nào. Càng tìm cách biểu dương
quyền lực, nhà vua càng trở thành bất lực. Thiên Chúa rất khác. Để trả
oán cho những người đã không sống đúng với sứ mạng và ơn gọi của mình,
Người "có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục" (Mt
10:28). Thật vô cùng khủng khiếp, quyền uy Thiên Chúa bao trùm cả đời
này lẫn đời sau.
Quyền sinh tử nằm
trong tay Thượng đế. Thực tế ít ai ý thức được quyền bính vô cùng lớn
lao đó. Thiên Chúa ẩn mình và vô cùng kiên nhẫn. Thiên Chúa quan phòng
tất cả vạn vật trong thượng trí và tình thương. Chỉ khi nào gặp biến cố
phi thường, con người mới biết run sợ trước Đấng Hóa Công. Người ít khi
dùng quyền để đe dọa con người. Trái lại, thực tế Người dùng quyền bính
để bảo vệ, xây dựng và cứu giúp hơn là phá đổ.
Thiên Chúa quan tâm đến con người vì
con người là một giá trị siêu việt, một kiệt tác do thượng trí và tình
yêu Người dựng nên. Chính vì yêu thương, Thiên Chúa đã mạc khải tất cả
cho con người nơi Người Con Chí Ai. Lời Mạc khải đó chính là Đức Giêsu
Kitô, Đấng đã đến kêu gọi con người hợp tác trong việc loan báo Tin Mừng
cứu độ cho muôn dân.
Lời mời gọi đó
hoàn toàn tự do. Khi chấp nhận lời mời gọi ấy, con người sẽ nghiệm thấy
Thiên Chúa thực sự dễ thương. Người là Cha nhân ái, luôn chăm sóc đến
từng người. Chúa Giêsu nói rõ : "Hai con chim sẻ chỉ bán được một xu
phải không ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh
em ... Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ"
(Mt 10:29-31) Nếu đối với mọi người, Chúa còn chăm lo đến thế, thì đối
với ai được Chúa sai đi làm chứng và rao giảng Tin Mừng, Người sẽ đối xử
thế nào ? Họ đã dám công bố lời Chúa bất chấp mọi gươm giáo, đã lấy thân
cản lối bạo lực để ánh sáng Tin Mững chiếu soi khắp cõi, thì Đức Kitô
cũng sẽ đem thân che chở họ trước vẻ uy nghiêm vô cùng của Thiên Chúa
trong ngày phán xét.
Nói khác, họ đã
tìm được một lối thoát khỏi định mệnh khắc nghiệt, vì Đức Kitô đã hứa :
"Phàm ai tuyên bố nhận Thày trước mặt thiên hạ, thì Thày cũng sẽ
tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thày, Đấng ngự trên trời" (Mt
10:32). Được Đức Kitô bao che trước nhan Chúa Cha, tức được một bảo đảm,
một chỗ dựa vững chắc nhất. Dù quá khứ có nặng nề tới mấy, nghe lời bảo
đảm ấy, tự nhiên ta thấy an tâm. Dù Cha có là Đấng Chí Công, chúng ta
cũng không lo sợ. Dưới ánh mắt Người,không có gì đẹp bằng dung nhan Con
Chí Ai. Nhìn thấy Người Con duy nhất đó, Chúa Cha sẽ quên hết mọi ưu
phiền do tội lỗi loài người gây nên.
Có người cha nào
dễ thương hơn Thiên Chúa ? Người chăm lo đến mỗi người chúng ta, đến nỗi
"ngay sợi tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi" (Mt 10:30).
Người vạch ra cho ta một lối thoát khỏi định mệnh. Đúng là dáng điệu của
một người cha. Chúa khuyến khich chúng ta can đảm ngẩng đầu lên, cương
quyết không chịu khuất phục trước cường quyền. Bạo lực ép buộc con người
làm những chuyện tồi bại, hèn nhát, phản lương tâm, luân lý. Thực tế họ
chỉ giết được thân xác, hoàn toàn bó tay trước sức mạnh tinh thần. Nhưng
con người đâu phải chỉ là thân xác. Bạo lực không thể khống chế sức mạnh
tinh thần.
Cha chúng ta chỉ
cho chúng ta một lối thoát. Lối thoát đó chính là can trường rao giảng
Tin Mừng và làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Khi thoát khỏi
nanh vuốt tử thần, vào sống trong nhà Chúa, chúng ta sẽ được thừa hưởng
tất cả bầu khí tự do và hân hoan của con cái Chúa, vì "Nước Chúa là
sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần" (Rm 14:17).
Đấng sẽ mạc khải tất cả sự thật (xc Ga 16:13) và "sự thật sẽ giải
thoát anh em" (Ga 8:32).
Bởi đó tự do là
một hồng ân. Nếu hiểu định mệnh là chương trình Thiên Chuá quan phòng
mọi việc trong vũ trụ, thì tự do cũng không thể nằm ngoài định mệnh đó.
Trong chương trình đó, Thiên Chúa đã muốn bản chất con người là tự do.
Không một giá trị nhân bản đích thực nào có thể được tạo lập trong một
môi trường mất tự do. Nhưng tự do chỉ có thể đem lại hạnh phúc thực sự
khi được xây dựng trên nền tảng chân lý. Đó là định luật thiên nhiên.
Chống lại định luật thiên nhiên là đi ngược với thánh ý Thiên Chúa. Hi
vọng những người chủ trương tôn sùng tự do lương tâm tuyệt đối khám phá
được nét hòa hợp tuyệt vời giữa tự do và chân lý để bảo đảm cho hạnh
phúc hiện tại và cuối cùng của nhân loại.
G. Nguyễn Cao Luật op
Tâm Sự Bố Già
Với người con thứ
Con thân mến, Vậy là con đã trở về, niềm
mong đợi của cha đã thành. Con biết đấy, cha mong đợi ngày này từ bao
năm nay. Kể từ ngày con cất bước ra đi, cha vẫn chờ con về. Chiều chiều,
cha vẫn tựa cửa, ngong ngóng tìm bóng người thân quen và chiều nay cha
đã gặp được bóng dáng đó.
Khi con đòi chia gia tài, thực sự cha
không muốn. Giữa cha và con đâu có gì là xung khắc. Nhưng chỉ vì đam mê
của tuổi trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời, con muốn vượt thoát, muốn sống
ngoài vòng kềm tỏa; vì khao khát tự do, háo hức muốn có kinh nghiệm,
muốn biết cái mới lạ, và do chưa có bản lĩnh, do tính hung hăng thích
phiêu lưu mạo hiểm.
Con còn nhớ chứ, cha đã ngăn cản con hết
lời, để con bỏ ý tưởng rồ dại ấy đi, để con hiểu rằng tình thương yêu
của cha đối với con còn lớn hơn, còn quý báu hơn mọi thứ của cải, mọi
thứ kinh nghiệm.
Thế nhưng, trước thái độ khăng khăng
quyết liệt của con, vì con cứ nài nỉ mãi, và vì tôn trọng quyền tự do
của con – điều mà xưa nay cha vẫn thực hiện – cha đã nhượng bộ. Cha đã
làm một điều mà lòng không vui chút nào. Cha đã làm một điều mà cha thấy
trước rằng sẽ không tốt cho con. Biết làm sao được ! Con ao ước được tự
do mà cha lại tôn trọng tự do !
Và thế là con ra đi.
Cha biết rằng với số tiền lớn trong tay,
với tính khí ngang tàng, muốn bay nhảy, muốn tự do, muốn xả láng, con
khó lòng tạo nên một cơ nghiệp. Con sẽ tiêu xài hết số tiền ấy và chẳng
mấy chốc trở thành trắng tay. Nói quá, cha mong cho điều ấy xảy ra, để
con hiểu rằng thế nào là tự do. Người ta phải kìm hãm những đam mê của
mình, và độc lập không hẳn phải là tự mình quyết định mọi việc.
Khỏi cần nói cha cũng biết con đã tiêu
tán số tiền ấy vào những đâu. Con đã qua những đêm thức trắng, rượu bia
đầy bàn ; con đã du lịch khắp đó đây, đã ở những nơi sang trọng nhất.
con đã trải qua những phút hả hê, bạn bè vây quanh, ai cũng nồng nhiệt
đón rước. Và lúc đó con ôm ảo tưởng rằng tiền bạc là tất cả. Có tiền là
mua được bạn bè, có tiền là tạo nên được niềm vui, và có tiền là mình đã
thành đạt. Con đâu nghĩ rằng, ngay cả khi đầy tiền bạc, con người cũng
đâu tạo được thành đạt, vì họ đã đánh mất nguồn gốc của mình, đó là tình
thương.
Và đến một ngày, Con đã trải qua những
thời gian cùng cực, những ngày tủi nhục nhất, con đã chẳng còn chút phẩm
giá nào của một con người, đã phải sống trong khổ sở, nhục nhã. Và may
cho con, chính những lúc đó, con còn nhớ được rằng ở nhà cha, những
người đầy tớ còn sung sướng hơn. Khi còn ở bên cha, con không hiểu được
thế nào là mái nhà, thế nào là tình thương. Khi ở cạnh cha, con tưởng
mình không có gì cả, mặc dù con đang có điều lớn nhất. Nhưng khi bị rơi
xuống tận cùng vực thẳm, con mới hiểu thấm thía thế nào là mái nhà, thế
nào là tình cha. May thay, trong con vẫn còn một chút ý thức !
Hôm nay con trở về. Con về vì chẳng có
chỗ nào đón nhận con, chẳng còn chỗ nào nuôi con nữa, chẳng còn người
bạn nào tiếp đón con. Không sao cả, con trở về là cha mừng. Cha đã đợi
chờ quá lâu.
Con thấy đó, cha không cần lời thú lỗi
của con, cha đã tha thứ cho con rồi. Con hãy nhận lại tư cách là con.
Hãy mặc lấy bộ quần áo mới, sạch sẽ, hãy đi dép vào để thấy rằng mình là
người tự do, hãy xỏ nhẫn vào tay để biết rằng cha vẫn coi con là con của
cha như ngày nào.
Cha mong con không giữ mặc cảm tội lỗi,
con sẽ quên hết quá khứ : Những ngày ấy chỉ có giá trị là cho con hiểu
rằng tình thương của cha dành cho con lớn lao biết chừng nào, và sống
trong tình thương đó, con mới thực sự là người tự do. Cha mong con cảm
thấy hạnh phúc vì được sống trong một mái nhà, có cha ở bên, và tình
thương cha dành cho con không hề suy giảm.
Với người anh cả
Tại sao con lại thắc mắc, thậm chí giận
dữ, khi cha mừng em con trở về ?
Con nào chẳng là con. Cả hai anh em con
từ lòng cha sinh ra. Cả hai anh em con đều được tình thương cha ấp ủ,
nuôi dưỡng.
Con ạ, Hãy tập sống yêu thương và độ
lượng, nhất là đối với đứa em của con. Lẽ nào con yêu mến cha mà lại có
thể không yêu thương em con được ? Nếu con không yêu thương em con, làm
sao con có thể yêu mến cha được ? Em con có lầm lỗi thật, nhưng nó cần
được yêu thương để thay đổi cuộc đời, nó cần được yêu thương vì nó là
con cha, và vì nó dám chọn sống. Cha mong con cũng yêu thương nó, vì nó
là em con.
Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại tấm
lòng. Cha mừng, cha mở tiệc lớn ăn mừng, vì em con đã khám phá ra ý
nghĩa cuộc đời, đã nhận ra rằng tình thương vượt lên trên tất cả, tình
thương xóa bỏ mọi lỗi lầm.
Chẳng lẽ con ganh tị với em con ? Bấy lâu
nay con sống với cha, sử dụng mọi của cải và nhất là có cha ở bên cạnh
mà con vẫn cảm thấy mình bị thua thiệt, bị xua đuổi.
Sao con lại tức giận không vào nhà ? Hóa
ra từ lâu nay con đã xa rời vòng tay của cha, dù trong thực tế con chưa
bước chân ra khỏi nhà. Lẽ ra mọi niềm vui nỗi buồn của cha cũng là của
con. Con không vui khi thấy cha vui sao ? Con chỉ muốn tìm niềm vui theo
cái nhìn của con, theo dự tính, theo góc độ của con, mà chẳng quan tâm
gì đến cha. Như thế là chính con tự mình thoát khỏi vòng tay của cha,
chính con từ chối tình thương cha dành cho con, kể như con tự bước ra
khỏi căn nhà êm ấm này rồi !
Và rồi, Chẳng lẽ bấy lâu nay con làm lụng
vất vả không phải vì cha mà là vì bản thân con ? Con chỉ muốn tìm lợi
ích cho riêng mình. Những việc tốt con làm, phục vụ cha, làm lụng cũng
chỉ là thứ lo tìm công đức cho mình. Thay vì vụ lợi như thế, lẽ ra con
chỉ cần hiểu rằng tình thương mới có giá trị. Làm lụng vất vả mà không
có tình thương thì chẳng đem lại lợi ích nào ! Không lẽ con sống với cha
chỉ để mong được phần gia tài, được ăn sung mặc sướng, tìm lợi ích riêng
cho mình? Phải có gì hơn thế nữa chứ !
Con ạ, Bỏ tính ích kỷ hẹp hòi đi, đừng
ghen tức với em con làm gì. Ghen tương ích kỷ làm cho đời con héo khô,
làm cho lý trí con cùn nhụt. Việc gì mà con lại phải xem người khác đối
xử với cha như thế nào, rồi con theo đấy mà xử sự. Thế thì sao gọi là
thật lòng với cha được !
Hãy bước vào nhà chung vui với cha, với
em con. Cha có thể nói với con rằng, từ nay, em con không những là một
đứa con ngoan, mà còn rất ngoan nữa. Quên quá khứ đi con, nhìn về tương
lai. Hãy sống tin tưởng, bao dung và độ lượng.
Chẳng lẽ Ta lại muốn cho ác nhân phải
chết,
chứ không muốn nó bỏ đường tà mà được
sống sao ?(Ed 18,23)
Ta lấy mạng sống Ta mà thề
Ta đâu có muốn cho kẻ dữ phải diệt vong,
nhưng là muốn nó bỏ đường tà để được sống.
(Ed 33,11)
Chúa là Đấng từ bi nhân hậu
Người chậm giận và giàu tình thương.
Người không cứ tội ta mà xét xử,
không trả báo ta xứng với lỗi lầm. (Tv
102, 8.10)
Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ,
thích được các ngươi nhận biết,
hơn là được của lễ toàn thiêu. (Hs 6,6)
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Hãy thay
đổi
(Lc 15,1-3.11-32)
Dụ ngôn “người con hoang đàng” là một câu
chuyện cảm động, thú vị nhất của Tin Mừng Lu-ca. Qua dụ ngôn này, Chúa
Giêsu muốn nói tới người tội lỗi biết ăn năn sám hối trở về với tình
thương của Thiên Chúa. Chúng ta hãy tìm hiểu hoàn cảnh, thái độ và tâm
lý của người con hoang đàng và ghi nhận bài học hữu ích cho chúng ta.
Người con hoang đàng này là người con thứ
trong một gia đình khá giả, nên cậu được nhiều ưu đãi nuông chiều, cậu
mới lớn, chân trời xa thẳm như chỉ có bình minh, một tương lai trải dài
sáng rực trước mắt đang mời mọc lôi cuốn, từ đó cậu nuôi ý tưởng thoát
ly. Cậu suy tính : ở nhà cha mẹ, dù có tình thương, dù có đầy đủ mấy đi
nữa thì ngôi nhà kia cũng không về tay cậu, vì quyền trưởng nam nằm vào
tay người anh rồi, còn gì nữa mà ở lại. Một con chim khuyên có ở trong
chiếc lồng sơn son thiếp vàng, đủ dư gạo trứng, cũng không sướng bằng
một bầu trời thênh thang tự do bay nhảy, cậu nghĩ ra như thế, ở gia đình
mình sao nho phong tù túng kỷ luật như mất cả nhân vị, còn bao nhiêu
chương trình, bao nhiêu dự định tương lai phải thực hiện, phải tạo dựng
cơ nghiệp cho mình, phải kinh nghiệm sống mới được, mình phải tạo ra
thời cơ, là người của thời cuộc chứ !
Nhưng tuổi trẻ dễ ngông cuồng dại dột,
tuổi trẻ thường nông nổi, làm trước nghĩ sau, hành động trước khi suy
nghĩ, khôn đâu có ở tuổi trẻ, khỏe đâu có ở tuổi già. Thế là cậu nằng
nặc đòi cha chia gia tài, số gia tài được đổi thành tiền để dễ dàng ra
đi. Vừa trẻ lại có tiền, lại được tự do, không bị ai ràng buộc, chỉ còn
có một con đường thẳng tắp nhào tới, đó là hư hỏng. “Làm trai cho đáng
nên trai, xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài tan”, thì ở đây, đông đoài
đã làm tan nát đời cậu, cậu đi phung phí tiền bạc nơi giang đầu, bạn bè
với những hạng đàng điềm, “bắc thang lên hỏi ông trời, những tiền cho
điếm có đòi được chăng ?”. Thế là tiền mất tật mang, hết tiền hết bạc
hết ông tôi, địa vị của cậu suy sụp quá lẹ, lẹ như đồng tiền tiêu hoang,
còn lại cho cậu là thân tàn ma dại, quần áo rách bươm, đầu tóc rối bù,
bàn tay và tấm lòng ô uế, nhơ bẩn, cái bụng đói meo.
Tội nghiệp cho một chàng trai trác táng
phóng đãng. Ai cũng biết cậu mất hết danh dự, mất hết cơ nghiệp, của
thiên trả địa, cậu sa sút, thất bại, đến nỗi phải đi chăn heo để sống
cho qua ngày. Nghề chăn heo lúc ấy là quá mạt rệp, luật Do Thái cấm nuôi
heo và chăn heo, ai ăn thịt heo coi như bỏ đạo Do Thái, họ nói : “Vô
phúc cho kẻ chăn heo, vì đó là vô phúc đê hèn nhất”. Nhưng chàng trai
này đã phải làm như vậy, cậu đói cùng cực đến nỗi dụ ngôn nói “Anh ta ao
ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho”. Đó
là hình ảnh xấu xa đê hèn khinh bỉ của một tội nhân phản bội. Nhưng rất
may, câu chuyện không chấm dứt ở đây. Giữa cảnh đói cùng cực, cậu nghĩ lại gia đình cha mẹ, đó là miếng ván cuối cùng cho kẻ bị đắm tàu. Thử
hỏi : giữa cảnh cùng cực như thế, có ai là ân nhân cho cậu hay chỉ có
cha mẹ ? Đúng thế, lúc nào cũng chỉ có cha mẹ, lúc nào cũng là tình
thương, thế là cậu suy tính lại : “Tôi sẽ về cùng cha tôi, nơi có dư
thừa cơm bánh”. Mặc dù lý do trở về không mấy tốt đẹp, nhưng ít ra cái
bụng, cái dạ dày vẫn là vấn đề phức tạp mà Thiên Chúa quan phòng có thể
dùng đến để lôi kéo tội nhân trở về như đứa con trên đây.
Người con hoang đàng này đã có một điều
rất đáng biểu dương, là dám trở về mái nhà xưa, là nơi chàng đã bỏ ra đi.
Khi đi kiêu hãnh, đắc thắng, tự mãn, giàu có bao nhiêu, thì nay trở về
khúm núm, túng thiếu, ăn năn thành thật bấy nhiêu. Chàng quay gót 180 độ,
rón rén từng bước, mắt ngó về nhà, tấm lòng hồi hộp, miệng nhẩm đi nhẩm
lại một câu thống hối. Nhưng từ đàng xa, người cha đã nhìn thấy bóng
con, ông lật đật chạy ra đón và ôm choàng lấy con, ông quên đi bao nỗi
đắng cay, đổ dồn hết tình thương sang cho con. Quả thực, không có gì có
thể thay đổi được lòng người cha thương con chân thực, người cha mãi mãi
vẫn là cha, chứ người con thì không hẳn như thế. Ông không bỏ đứa con,
càng không lên án nó, ông chỉ biết có một điều, đó là con ông, không
những ông tha thứ mà còn phục quyền làm con cho chàng, và mở tiệc mời
bạn bè chung vui để mừng con ông trở về. Rồi họ bắt đầu ăn mừng. Họ là
ai ? là hai cha con và mọi người trong nhà, nhưng còn thiếu người con cả,
anh đang ở ngoài đồng. Về thái độ của người con cả này cũng là một bài
học rất đáng suy nghĩ : thái độ hẹp hòi, ích kỷ, xua đuổi, lên án người
em. Đây cũng là thái độ người ta thường có đối với những người tội lỗi.
Như vậy, chúng ta đã hiểu chủ đích của
Chúa Giêsu khi dạy dụ ngôn này. Người cha là hình ảnh lòng nhân lành
của Thiên Chúa, và người con hoang đàng chính là thân phận bi đát của
con người tội lỗi, cần phải sám hối trở về với Chúa. Hình ảnh người con
hoang đàng cho chúng ta thấy bản chất xấu xa của tội lỗi, hậu quả bi đát
của tội lỗi, và thái độ cần phải có để có thể thoát ra khỏi tình trạng
tội lỗi là sám hối. Sám hối là nhận mình là kẻ tội lỗi, quyết tâm ra
khỏi tội lỗi để quay về với Chúa và sống làm con người mới như đứa con
hoang đàng đã làm.
Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay làm cho
chúng ta thật phấn khởi, khích lệ chúng ta hãy thi hành việc sám hối,
trở về cùng Chúa, đặc biệt trong Mùa Chay này. Mỗi người chúng ta đều có
thể nhận ra mình trong hình ảnh người con hoang đàng. Vậy thì Chúa cũng
mời gọi chúng ta hãy cùng với đứa con hoang đàng chỗi dậy, đi về nhà
Cha, Cha đang chờ đợi, dù chúng ta tội lỗi đến đâu và nặng nề xấu xa thế
nào, chúng ta đừng lo buồn, sợ hãi, chán nản, hãy nhìn vào lòng thương
xót của Chúa hơn là nhìn vào tội lỗi của mình. Chúng ta hãy nhớ : tội
lỗi của chúng ta có thể lớn, nhưng lòng khoan dung của Thiên Chúa chắc
chắn lớn hơn.
Vinh sơn Ngô Đức Duy op
Hãy Trở Về Trong Vòng Tay
Cha Yêu Thương
THIÊN CHÚA LÀ CHA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT
Sau khi xin được cha số tài sản của mình,
người con út rời khỏi gia đình và trẩy đi phương xa. Anh đã phung phí
hết tiền của vào lối sống phóng đãng mà không hề nghĩ đến những nỗi vất
vả của cha đã làm để kiếm tiền. Khi trong vùng lại xảy ra nạn đói khủng
khiếp, anh đã gặp khó khăn. Anh phải đi ở đợ, làm lụng vất vả vẫn không
đủ cái ăn. Cuối cùng, khi không còn ai quan tâm, giúp đỡ, khi nếm rất
nhiều đau khổ của cuộc đời, anh quyết tâm trở về nhà để xin lòng thương
xót của cha.
Ở nhà, người cha hằng trông ngóng và chờ
mong ngày trở về của người con. Khi trông thấy nó đằng xa, ông đã chạnh
lòng thương, chạy ra, ôm cổ và hôn lấy hôn để. Ông đã sai đầy tớ mang
quần áo, nhẫn xỏ vào cho cậu và giết bê đã vỗ béo để làm tiệc ăn mừng vì
“con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc
15, 24).
Thay vì trách mắng, chửi rủa đứa con bất
hiếu, ích kỷ, làm mất danh dự của gia đình thì người cha lại dùng những
cử chỉ tha thứ đầy yêu thương để đối xử với người con bội bạc. Trái tim
đầy ắp yêu thương của người cha đã tha thứ tất cả những lỗi lầm trước
đây anh mắc phạm. Bây giờ, trước mắt ông không phải là thằng con bất
hiếu mà là một cậu chủ với thân hình tiều tụy, quần áo rách rưới và đã
chịu biết bao nhiêu khổ cực khi rời xa gia đình, rời xa vòng tay yêu
thương của người cha. Ông muốn nâng đỡ người con để anh có cơ hội làm
lại cuộc đời.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Qua dụ ngôn trên, chúng con nhận thấy
mình đôi khi cũng giống như người con hoang đàng. Mặc dù chúng con không
đi hoang trong đời sống nhưng chắc chắn đã hơn một lần chúng con đã đi
hoang trong tâm hồn. Lối suy nghĩ và hành động của chúng con khác hẳn
với đường lối của Chúa. Chúa đã dạy chúng con kính mến Thiên Chúa trên
hết mọi sự và yêu thương tha nhân như chính mình. Thế nhưng, trong đời
sống cộng đoàn, trong tương quan với tha nhân, chúng con lại không muốn
chấp nhận ai chỉ vì thói ích kỷ bản thân, sợ người khác hơn mình, sợ
người khác đụng chạm đến quyền lợi của mình, sợ người khác lợi dụng mình….
Và trong đời sống cầu nguyện cũng thế, miệng chúng con luyên thuyên đọc
hết kinh này đến kinh khác nhưng lòng trí chúng con lại để ở nơi khác,
giống như một cái xác không hồn. Hoặc chúng con đi lễ Chủ nhật chỉ vì
luật giáo hội bắt buộc chứ chưa phải vì lòng yêu mến Chúa. Đôi khi chúng
con rước Mình Thánh Chúa vào lòng không phải với lòng ao ước để Chúa
biến đổi con người tội lỗi nơi chúng con, nhưng với một thói quen thường
làm. Và điều đáng chê trách nhất là đôi khi chúng con mất cảm thức về
tội và không cảm thấy cần thiết phải đi xưng tội.
Lạy Chúa, qua dụ ngôn này, Chúa còn cho
chúng con cảm nghiệm được tình Chúa vô biên trước những tội lỗi chúng
con đã phạm. Vì thế, chúng con nhận thấy mình an tâm trở về thú lỗi với
Chúa. Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót sẽ tha thứ tất cả nếu chúng
con thật lòng quay đầu trở về, gieo mình vào vòng tay yêu thương của
Ngài. Hơn nữa chúng con tin rằng, Thiên Chúa là cha yêu thương trước khi
chúng con yêu thương Ngài, Ngài luôn đi tìm chúng con trước khi chúng
con tìm Ngài và Ngài luôn mở rộng đôi tay chờ đón chúng con quay trở lại
với Ngài.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Mùa chay là mùa sám hối, sám hối là đổi
mới tâm hồn. Xin cho mỗi người chúng con trong Mùa chay này biết dám
nhìn lại con người thật của mình, để chúng con thấy được những yếu đuối
nơi bản thân mà biết nương tựa vào Chúa. Xin cho chúng con can đảm trở
về với Chúa vì tin rằng tình Chúa lớn hơn tội con gấp bội. Ước gì sau
mỗi lần được Chúa thứ tha, chúng con lại thấy mình hiền hòa hơn với tha
nhân để chúng con luôn được ở trong vòng tay yêu thương của Chúa. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP.
CHÚA ĐANG KHÁT KHAO MONG ĐỢI …
(Lc 15, 1 -32)
Thưa quý vị, Có ý kiến cho rằng bài dụ ngôn người con
hoang đàng của Phúc Âm hôm nay, hỏng bét về mặt pháp lý. Chúng ta phải
sửa lưng tác giả mới được. Nếu cứ theo ông khuyên bảo mà mở cửa đón tiếp
kẻ giết người, trộm cướp, hoang đàng thì thế giới này sẽ ra sao ? Xã hội
này còn thể thức nào nữa không ? Ngày nào người ta cũng chứng kiến tội
phạm ghê gớm vậy mà cứ để cho họ xổng chuồng thì ai còn có thể sống nổi
? Xã hội toàn những kẻ đòi quyền lợi mà không hề lãnh trách nhiệm, thì
chắc chắn nhân loại rơi vào hỗn loạn. Vậy dụ ngôn này mang giọng điệu
quá nhu nhược, làm thế nào chấp nhận ?
Chúng ta hãy nghe người con cả lý giải: Cha tôi đối xử
với thằng con ông ấy như vậy, chẳng khác nào tát mạnh vào mặt tôi. Nó
hoang đàng bỏ đi, tiêu phí hết tài sản với bọn đĩ điếm, rồi trở về ngon
lành, không có hình phạt nào cân xứng, thử hỏi gia phong còn giá trị gì
nữa không? Nếu ông nhận nó lại như con ăn, đầy tớ, sau khi nó xin lỗi
thì còn có lý và chịu đựng được. Tôi sẽ sai nó đi làm những công việc hạ
tiện, bẩn thỉu, nặng nhọc, rồi dần dà cho nó chút của cải, địa vị và như
vậy tôi mới hài lòng cho phép nó ở lại nhà. Không nên không phải tôi sẽ
tống cổ nó ra khỏi cửa, nó đâu có quyền lợi gì nữa? Đàng này cha tôi lại
hồ hởi đón tiếp nó, không một lời trách móc, hạch tội. Lại còn mở tiệc
vui mừng, bê béo, rượu ngon, quần áo đẹp, nhẫn xỏ tay, giày mới xỏ chân.
Ong hành xử cuồng loạn trước mặt nó ! Liệu ông có mất trí khôn rồi không?
Liệu ông có điên khùng không đấy ?
Hơn nữa qúy vị tưởng tượng hạnh kiểm của người con lớn.
Anh ta không rơì khỏi nhà, không hề trái lệnh cha, trung thành và chăm
chỉ, lao động sớm tối ngoài cánh đồng, không những công việc của mình,
mà còn của thằng em vắng mặt. Làm việc cực nhọc năm này qua năm khác mà
cha anh không công nhận, không biểu dương, hay chí ít được một lời an ủi:
“Tốt quá con à”. Hoặc một chiếc vỗ nhẹ vào lưng, tỏ lòng ưu ái cho thoả
tình. Nhưng ông vắng mặt, vắng mặt để làm gì ? Để ngày ngày chạy lên đồi
cao trứơc ngõ, ngóng trông thằng út hư hỏng ? Trời đất, còn bất công nào
hơn ? Qúy vị tưởng tượng ở trong hoàn cảnh của người con lớn, quý vị sẽ
nghĩ sao ? Quý vị có cảm thấy bất công và thương hại cho anh ta ? Hắn
trung thành mà bị coi rẻ. Chắc chắn phản ứng của quý vị sẽ nổi giận bất
bình: Như thế là không được, hoàn toàn vô lý, chẳng ai chịu đựng nổi.
Nhiều người có quan điểm như vậy, nhất là trong giới trẻ
chưa có nhiều kinh nghiệm về trường đời. Họ muốn trắng là trắng, đen là
đen trong vận hành công lý. Cũng không thiếu những nhân vật trưởng thành
suy nghĩ như thế. Nhất là trong giới bảo thủ, cứng nhắc về lập trừơng
luân lý, tôn giáo. Thí dụ các Pharisêu, thượng tế, luật sĩ và cả chúng
ta nữa. Mặc dù đã được Chúa dạy bảo, đọc và nghe Lời Chúa hằng ngày.
Thực ra nếu theo sát hoàn cảnh của dụ ngôn thì người con cả ám chỉ các
lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ. Chúng ta cũng có vài nét Pharisêu trong
nếp sống hằng ngày. Cũng như Pharisêu, luật sĩ, kinh sư, thượng tế,
chúng ta chi ly tuân giữ lề luật Thiên Chúa, nhưng chỉ bề ngoài, không
có tình yêu thúc đẩy bên trong.
Nhưng xin nhớ, đây là dụ ngôn Chúa trả lời các người Do
Thái chỉ trích Ngài là ăn nhậu và đón tiếp phường tội lỗi: “Các người
thu thuế và các người tội lỗi, đều lui tới Đức Giêsu để nghe Người giảng.
Thấy vậy những người pharisêu và các kinh sư đều thì thầm với nhau: Ong
này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Đức Giêsu mới kể cho
họ nghe dụ ngôn: Người cha có hai người con trai. Như vậy mục tiêu của
Chúa không phải là công lý mà là tình thương và ơn tha thứ. Thể hiện nơi
hoàn cảnh của ngừơi con thứ. Liệu hắn có còn được hạnh phúc khi tình thế
trở nên tồi tệ? Tiền hết, bơ vơ nơi đất lạ. Bất cứ chuyện chi xảy ra hắn
đều gánh chịu hết: rét mướt, đói khát, lầm than, khinh bỉ. Công nhận là
hắn đã phạm tội, ích kỷ, vô ơn và vô trách nhiệm. Nhưng hiện tại hắn
phải trả giá đắt cho những lầm lỡ đó. Chăn heo là công việc bẩn thỉu
nhất đối với người Do thái, bị người ta bóc lột đến tận xương tuỷ, mà
không được kêu than. Nhưng hắn phải làm nếu còn muốn sống.
Không phải là hắn không biết đến một kiểu sống khác.
Chính miệng hắn đã thốt ra điều ấy: “Biết bao người làm công cho cha tôi
được cơm dư gạo thừa, mà tôi đây thì lại bị chết đói”. Hắn ngộ ra mình
đã làm điều lầm lỗi ghê gớm đối với gia đình, nhất là đối với người cha
thân yêu, mà hắn biết rõ tấm lòng của ông. An hận, xấu hổ, tội lỗi nổi
đậy trong lương tâm hắn. Hắn quyết định thoát ra khỏi cảnh hiện tại và
trở về xin lỗi cha. Tuy nhiên việc trở về đâu phải dễ dàng gì, nó đòi
hỏi lòng can đảm và khiêm tốn hết cỡ. Người ta đã nghi ngờ, nói gì, đồn
thổi thế nào về hắn, hắn biết rõ. Chẳng phải chỉ đơn giản trở về nhà,
hắn còn phải hứng chịu biết bao nhục nhã, cười chê. Nhưng có một phẩm
chất lạ lùng trong lòng ăn năn hối hận của hắn. Hắn nhận ra mình đã phạm
tội, không chỉ chống lại cha mà còn chống lại Đấng thiêng liêng: “Thưa
cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng gọi là con cha
nữa, xin coi con như một đầy tớ của cha vậy”. Hắn hài lòng về vị trí đó.
Nhưng ăn năn thống hối suông chưa đủ. Ơn thánh chẳng thể
mua bán với tình trạng như vậy. Đúng ra chẳng bao giờ ơn thánh có thể
được đưa ra trả giá, bán buôn nơi loài người. Vì thế người cha phải bước
tới và từ nét mặt của ông, người con thứ nhận ra tình yêu của cha mình.
Hắn biết rằng hắn đã hành động đúng khi quyết định trở về nhà. Và mọi sự
đều được thoả đáng. Đối với người cha không cần trách móc, hạch tội. Để
mà làm chi, một khi đã là ơn huệ ? Điều đáng coi trọng là người con đã
chết mà nay sống lại, đã mất nay tìm thấy ?
Ai có thể mô tả được nỗi vui của người con thứ trong bữa
tiệc mừng hôm ấy? Chúng ta thường phí uổng nhiều thời gian vào việc hối
hận. Chúng ta thường ưa làm nô lệ cho tình cảm tội lỗi. Chỉ có một điều
thực sự ý nghĩa khi chúng ta trót dại phạm tội, đó là chạy về với Thiên
Chúa từ bi nhân hậu, đang chờ đón con mình để ban ơn. Thật dễ dàng cho
chúng ta nhất là những kẻ tự phong thánh thiện, đồng hoá mình với người
con cả. Xin cứ cho là như vậy đi, kẻo nhiều người tự ái? Nhưng cũng xin
nhớ rằng có thể xảy ra là chúng ta tuân giữ mọi giới răn, lề luật nhưng
vẫn xa cách Thiên Chúa, Đấng giàu lòng yêu thương. Mặt khác, ai có thể
khoe mình không phạm tội? Chẳng hề bẻ gãy giới răn Thiên Chúa? Có bao
giờ chúng ta bất trung? Có bao giờ hoang phí ơn lành của Chúa? Có bao
giờ đáp trả trọn vẹn ơn gọi của Ngài? Cho nên dụ ngôn chỉ dẫn chúng ta
con đường trở về nhà Cha. Nó dạy bảo chúng ta phải làm chi “Tôi sẽ chỗi
dậy và trở về cùng cha tôi, nói với Ngài rằng thưa cha con thật đắc tội
với Trời và với cha”.
Và một khi đã nghiệm ra ơn tha thứ và xót thương của
Thiên Chúa, chúng ta thay đổi trái tim và nếp sống như bài đọc 1 tuyên
bố: “Hôm nay Ta cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Aicập”. Chúng ta
dùng của ăn thức uống mới trong đất hứa Canaan. Chúng ta lắng nghe thánh
Phaolô khuyên nhủ trong bài đọc 2: “Thưa anh em, phàm ai ở trong đức
Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi, mọi sự
đều do bởi Ngài, và Ngài trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải”. Có đúng
là trong dụ ngôn cả hai anh em đều nhận được đề nghị hoà giải của người
cha? Người cha đã thân hành ra xin người con cả bước vào nhà ăn tiệc
mừng: Mọi sự của cha đều là của con. Như vậy cả hai anh em đều được biến
đổi. Người em không trở lại đường cũ nữa, và người anh cả vui vẻ bước
vào dự tiệc. Hai anh em làm hoà với nhau qua trung gian và sự thúc đẩy
của người cha.
Dưới ánh sáng của dụ ngôn này, thánh Phaolô nhắc nhở các
tín hữu, Thiên Chúa khởi sự hoà giải với nhân loại qua Đức Kitô. Chúng
ta được đón nhận vào nhà Cha. Phúc Am không nói hai người con phản ứng
ra sao trước tấm lòng của cha họ. Nhưng chúng ta biết phải làm chi trước
tình yêu của Thiên Chúa. Trong bí tích rửa tội, chúng ta được giao hoà
với Thiên Chúa và có đời sống mới, đời sống hoà giải. Không ai chối cải
được chân lý ấy. Và thánh Phaolô truyền chúng ta phải là đại sứ của
Thiên Chúa về hoà giải cho thế gian này: “Thật vậy, trong đức Kitô,
Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với mình. Ngài không chấp tội
nhân loại nữa và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải”. Cho nên lời
ấy phải là sứ điệp hoà giải của Thiên Chúa trong mỗi người tín hữu, nhất
là linh mục, tu sĩ, hàng giáo phẩm. Chúng ta phải phản ánh thông điệp ấy
cho thế gian trong tình hình cực kỳ khó khăn cay đắng như hiện nay.
Những gì chúng ta làm, gương sáng chúng ta sống phải tỏ ra cho người
khác điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta? Trong đức Kitô, cuộc sống của
chúng ta phải phản ánh căn tính của mình là sứ giả của Đức Kitô. Đây là
nhiệm vụ rất nặng nề. Ít khi chúng ta hoàn thành nếu không trung thành
với Thiên Chúa. Giám mục Helder Camara thường nói: “Tôi luôn cầu nguyện
cho người con cả trở lại”. Tai hại thay phẩm chất cứng đầu cứng cổ nơi
chúng ta tồn tại mãi. Nó giết hại nhiều linh hồn kiêu căng, tự phong
mình là hoàn hảo, thánh thiện, không cần hối cải, khinh khi kẻ khác,
nhất là các tội nhân.
Đại sứ hay sứ giả nói và làm thay cho quốc gia mình. Họ
được trao phó nhiệm vụ đại diện cho tổ quốc, các cấp lãnh đạo xứ mình
nơi nước khác và chính phủ của họ. Như vậy chúng ta rất cần nhiều sứ giả
đại diện cho Chúa Kitô trong tình hình thế giới hiện nay. Chúng ta cần
được Thiên Chúa sai đi để hoà giải thế gian với Thiên Chúa và với nhau,
chẳng phải về đàng thiêng liêng là đủ, cả về tình người và các nhu cầu
khác của thế giới. Thánh Phaolô khuyên nhủ mọi tín hữu phải là nhân
chứng hoà giải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Mùa chay này, các
giáo xứ đều tổ chức nhiều buổi sám hối gồm cả bí tích hoà giải. Trong
ánh sáng Phúc Am hôm nay, chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hành. Ơ ý
nghĩa nào đó, chúng ta đều là người con hoang đàng. Tính chất hoang đàng
luôn cố hữu trong mỗi cá nhân, cách này hay cách khác. Xin đừng kiêu
căng phủ nhận. Cho nên mọi người đều cần đến ăn năn. Naaman cố chấp nói:
Các con sông của Syria không tốt hơn sao? Nhưng chỉ có dòng nước của
sông Jordan mới tẩy cho ông sạch bệnh phong cùi và trả lại da thịt ông
tươi đẹp như đứa trẻ con. Ơn thánh của toà cáo giải còn mạnh mẽ hơn.
Chúng ta hãy năng tắm gội trong dòng nước ấy để đựơc tha thứ và bình an.
Chúa Giêsu nói với Phêrô: Nếu thầy không rửa chân cho anh, anh chẳng
được dự phần với thầy. Bí tích rửa tội cho phép chúng ta dự phần vào sự
sống của Đức Kitô. Chúng ta phải năng xưng tội để tẩy sạch linh hồn, ngõ
hầu nhận lãnh sự sống của Chúa đầy đủ hơn qua Mình và Máu Thánh Ngài.
Đức Giáo Hoàng Piô XII thường ca tụng bí tích hòa giải.
Ngài nói : Nó mang lại khiêm tốn, tự biết mình, lướt thắng thói xấu, tẩy
sạch lương tâm, ban ơn thánh và lớn lên trong đàng thiêng liêng. Đức
thánh cha quên mất một điều: Phát triển tình yêu, lòng tha thứ và ơn hoà
giải với mọi người. Lời tha thứ của bí tích hoà giải không phải là cầu
xin mà là “Vậy tôi tha tội cho anh, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
Một lời tuyên bố thẳng thắn, cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa.
Cộng đồng chấp nhận và thực hành. Do đó cộng đồng trở thành sứ giả của
Thiên Chúa về vấn đề này. Cộng đồng nhân danh Thiên Chúa nói tha thứ,
hoà giải với hết mọi người, mọi dân tộc, quốc gia. Dụ ngôn hôm nay còn
bỏ ngỏ, chưa có kết thúc, chưa rõ sự đáp trả của hai người con. Cho nên
chúng ta phải hoàn thành nó bằng câu chuyện đời mình: Làm hoà với Thiên
Chúa, với anh em và trở nên sứ giả về lòng Chúa xót thương. Lúc ấy mùa
chay của chúng ta mới có ý nghĩa. Amen.
đỗ lực op
Bức
Tranh Hí Họa
(Lc
15:1-3.11-32)
Tự do là giá trị cao cả nhất và vinh dự nhất cho sinh vật có lý trí trên
mặt đất này. Ðó là nền tảng xác định con người cao hơn vạn vật Ðó cũng
là nguyên nhân sinh ra niềm vui lớn lao nhất cho con người. Nhưng cũng
chính vì tự do, con người phải trả giá mắc nhất. Những gì đã và đang xảy
ra tại Việt Nam chứng minh hùng hồn nhất.
Ngày xưa, các thánh tử đạo Việt Nam đã lấy mạng sống để chứng minh cho
mọi người thấy tự do tôn giáo là một giá trị cao cả nhất và linh thiêng
nhất của quyền làm người. Ngày nay, con cháu các ngài lại phải trải qua
một kinh nghiệm gần giống cha ông, nhưng ở một chiều kích tinh vi hơn.
Tự do trở thành một thứ chiêu bài và công cụ cho đủ mọi thứ thao túng.
Việc đập phá tượng Pieta và trù dập phong trào dân chủ vừa qua là một
điển hình !
Nhiều người sống bên Mỹ cũng không có cái nhìn khá hơn về tự do. Họ tung
hoành trong mọi ngành nghề. Doanh nhân tự do trốn thuế. Người già tự do
lợi dụng Medicare, Medicade, An sinh xã hội v.v. Giới trẻ tự do sống
buông thả tình dục, nghiện hút, băng đảng v.v.
Ðây là một dịp tìm hiểu ý nghĩa tự do đích thực.
Biểu tượng nổi nhất của tự do buông thả là người con thứ trong dụ ngôn
hôm nay. Sau bao năm thơ ấu sống êm ả trong gia đình, cậu sống khá ngoan
ngoãn. Chẳng ai thấy cậu có vấn đề gì. Bỗng một hôm, cậu thẳng thắn xin
cha chia gia tài (x. Lc 15:12). Ai ngờ cậu đã ấp ủ trong lòng một giấc
mơ “tự do” từ bao giờ ! Cậu nhắm đến một chân trời xa thật xa. Xa như
giấc mộng dài cậu đang thêu dệt. phương tiện ăn chơi là gia tài kếch sù
cậu vừa đón nhận. Khả năng là tuổi trẻ đầy sinh lực. Còn gì tự do hơn !
Nhưng “đời lắm lúc không bằng mộng” ! Vừa lúc anh cháy túi, một nạn đói
khủng khiếp ập tới. Họa vô đơn chí ! Giấc mộng còn dài và tuổi trẻ còn
sung cũng đành chào thua thời cuộc. Hoàn cảnh quá bức bách. Anh không
còn phương tiện để sống còn. Chân anh không đứng vững trên mặt đất nữa !
Tất cả vũ trụ quay cuồng và đảo ngược. Tất cả đều bế tắc. Anh bị dồn vào
chân tường. Chỉ còn một lối thoát duy nhất là đổi danh dự lấy mạng sống.
Trước kia, anh là người chỉ tay năm ngón. Bây giờ, anh phải cúi đầu
trước lệnh truyền ra đồng chăn heo. Giấc mơ bây giờ xuống thấp đến nỗi
anh không bằng con heo nữa. Anh sống mà như chết. Tất cả nhân phẩm đã
tiêu tan !
Chính tự do đã dẫn anh vào cõi chết ! Người cha cũng đã khẳng định như
thế : (x. Lc 15:24, 32). Ðó không phải là tự do đích thực. Anh tưởng tự
do là muốn làm gì thì làm. Không phải trả giá cho tự do. Thực tế, anh đã
phải trả giá quá đắt cho một chọn lựa sai lầm. Khi bị dồn vào đường cùng,
anh mới nhận ra đâu là nơi để anh thực hiện tất cả giấc mộng tuổi trẻ.
Ðâu mới là tự do đích thực.
Dĩ nhiên, không phải chỉ những người hư hỏng, mà cả những người con
ngoan cũng chưa chắc hiểu tự do là gì. Khung cảnh và hình thức không đủ
bảo đảm cho con người có nhận thức đích thực về tự do. Ngay ở trong nhà,
người con cả có biết tự do là gì đâu. Anh đã phục vụ với một mục đích
hoàn toàn tầm thường vật chất. Anh tự nhốt trong chính mình. Dù được
chia gia tài như người em, nhưng anh cũng chẳng biết làm gì với vốn
liếng đó. Có lẽ sau khi được chia gia tài, anh đã đem trả lại hết cho
cha, hầu được tiếng là con ngoan. Anh vẫn tỏ ra mình “ngon” hơn cậu em.
Tới khi thấy cách thân phụ đối xử ngon lành với người em mạt rệp ấy, anh
mới thấy lòng khoan dung không đúng với sự công bình ngoài thực tế. Lúc
đó, anh mới nói hết sự thật cho bõ ghét ! Anh chưa từng nhỏ rãi trước
mùi cám heo như cậu em. Thế nên, anh vẫn thấy những ưu đãi vật chất
trong gia đình là chuyện đương nhiên.
Thà một lần đi hoang để biết thế nào là giá trị của tự do, còn hơn “cù
lần” như người anh cả tự nhốt mình trong tháp ngà ! Nhưng nếu có một tấm
lòng như thân phụ, anh cũng có thể cảm nhận tất cả chiều kích và đường
nét tươi đẹp của tự do. Tiếc thay những lời khuyên của thân phụ không đủ
sức thuyết phục bằng thực tế ngoài đời dạy cho người con thứ. Tâm hồn
anh cả đã khép lại ! Dù cố gắng dùng cả lý lẽ lẫn tình cảm, người cha
cũng phải đầu hàng. Anh không thể hiểu và hưởng được niềm vui của tự do
đích thực !
Ðúng thế ! Tự do đích thực bao giờ cũng đem lại niềm vui và chân trời
rộng mở. Chắc chắn những gì nói với con cả, người cha cũng bộc lộ cho
con thứ : “Tất cả những gì của cha đều là của con.” (Lc 15:31) Trong khi
người con cả thờ ơ, thì người con thứ như uống từng lời cha vào tận đáy
lòng. Lời đó như một tia nắng ấm chiếu sâu vào tận đêm trường giá lạnh
của lòng anh. Anh sung sướng vô cùng. Từ nay anh mới thực sự là con
người tự do. Có bao giờ anh nghe ai có những lời nói và cử chỉ thân
thương như thế trong suốt hành trình xa nhà ? Nhất là khi anh bị vùi dập
ngoài chuồng heo, anh đã cảm nghiệm tất cả nỗi nhục nhã và đau khổ của
kiếp nô lệ như thế nào ! Anh không được đối xử bằng con vật. Phải xuống
tận bùn đen như thế, anh mới thấy quý những gì mình đã tìm lại được nơi
nhà cha. Tất cả đều do tình yêu hải hà của người cha nhân ái. Thế mà,
trước đây anh đã cắt đứt. Chỉ vì tự do tuổi trẻ, anh đành coi cha như đã
chết, để đòi chia gia tài cho bằng được !
Dưới mắt người con cả, cha đã phung phí tình yêu một cách dại dột. Làm
sao cha biết người em thứ sẽ không bỏ nhà ra đi một lần nữa ? Ngựa quen
đường cũ, cha không biết hay sao ?! Cha đã quá thương nên không lường
trước tương lai. Cha đã mất khôn khi không còn xét xử theo những nguyên
tắc công bình con người như thấy trong lề luật nữa. Cái nhìn của những
người Pharisêu về Thiên Chúa y hệt như vậy ! Nhưng công lý của Thiên
Chúa có bộ mặt hoàn toàn khác. Công lý Thiên Chúa xây dựng trên một tình
yêu vô điều kiện và khôn lường.
Dụ ngôn cho thấy tất cả chiều kích vô biên đó của tình yêu ấy, khi người
con thứ trở về. Tình yêu ấy đã có sức phục sinh người con thứ và đem lại
niềm vui thực sự cho anh. Từ nay anh sẽ sống nhờ tình yêu ấy hơn bất cứ
thứ nào khác. Không có tình yêu ấy, anh sẽ biến mất khỏi mái ấm và sẽ ra
đi vào một miền vô định. Giả sử anh trở về quá trễ, lúc cha anh không
còn, số phận anh sẽ ra sao ? Rất may, anh trở về lúc còn cha trong nhà.
Tình yêu người cha đã sáp nhập anh vào một cuộc sống gia đình cách tự
nhiên. Cũng tình yêu đó đã không thể cảm hóa người con cả để anh chấp
nhận cuộc hiệp thông lớn lao do cha đề nghị. Có tin yêu, người cha mới
hết lòng mời mọc như vậy. Nhưng người con cả đã thẳng thừng từ chối. Anh
mới là tên nô lệ cho chính mình.
Bức tranh hí họa đã trình bày hình ảnh độc đáo về tình yêu người cha
giữa hai người con. Bức thứ nhất diễn tả về Thiên Chúa nhân lành đến nỗi
bị lợi dụng như thể Người mắc nợ chúng ta, còn chúng ta chẳng mắc nợ gì
Người, ngay cả việc nhận biết Người. Trái với quan niệm thường tình về
Thiên Chúa như một nhà độc tài không hề biết nhượng bộ, dụ ngôn đã mô tả
hình ảnh cực kỳ tốt đẹp về người cha hạnh phúc khi thấy con trở về với
mình. Phải, đó là Tin mừng trong Chúa nhật này. Hãy đón nhận niềm vui
tha thứ, niềm vui giao ước được canh tân trong bí tích Thánh Thể, niềm
vui tín thác, niềm vui thông hiệp. Tất cả niềm vui này đều phát xuất từ
Chúa Cha, nhờ Con Chí Ái Người là Ðức Giêsu. Từ đó chúng ta hướng về
niềm vui Phục Sinh.
Nhìn chung, tự do đã trở thành điểm ranh giữa hai người con. Ban đầu
người con thứ đi tìm một thứ tự do vô trách nhiệm. Nhưng thực tế đã dạy
cho anh một bài học “để đời.” Nhờ thế, anh mới thấu hiểu phải trả giá
rất mắc cho một giá trị lớn lao và cao cả nhất của con người, đó là tự
do. Còn người anh cả chỉ biết bổn phận mà không biết đến tự do. Tình yêu
luôn có khả năng giải thoát. Không có tình yêu, không thể có tự do và
hiệp thông. Người anh cả “vẫn đi bên cạnh cuộc đời,” mà không hiểu được
niềm vui của tình yêu chia sẻ. Bởi vậy, anh mới có quan niệm quá khắt
khe về lỗi lầm của người em. Anh đã xây dựng một nền công lý trên lề
luật, chứ không trên tình yêu. Không bao giờ có một sự bình an cho những
con người như anh. Hòa bình không thể xuất hiện khi con người không biết
tha thứ. Ơn cứu độ cũng vắng bóng khi con người không biết nhìn nhận
Thiên Chúa là Cha và tha nhân là anh em.
Phải đợi tới khi nào Ðức Giêsu Kitô xuất hiện, con người mới thấy tất cả
tương quan lớn lao trong trời đất. Từng bị hạ xuống bùn đen, nên Người
có thể hiểu biết và đánh giá được tất cả ý nghĩa của tự do hơn ai hết.
Hơn nữa, “chính để chúng ta được tự do, mà Ðức Kitô đã giải thoát chúng
ta.” (Gl 5:1) Ðức Kitô cũng là người Anh Cả giữa đoàn em đông đúc (Rm
8:29) là chúng ta. Nhưng hoàn toàn khác với người anh cả trong dụ ngôn
hôm nay, không những Ðức Kitô không ghen tương, mà mời gọi chúng ta đi
vào cuộc hiệp thông với Cha Người. Hơn nữa, Người còn lấy chính Mình Máu
Người để làm tiệc thết đãi chúng ta. Vì Người đầy lòng yêu thương, quảng
đại, tha thứ. Khác với người con thứ, Người không cần phải mất một thời
gian đi hoang, Người mới có thể đánh giá đúng mức giá trị của tự do.
Người cũng không cần phải đợi Cha nhắc nhở mới biết mình được tự do
hưởng mọi quyền lợi trong Nhà Cha. Thật vậy, chính Người quả quyết :
“Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thày.” (Ga 16:1 5) Khác hẳn với hai người
con trong dụ ngôn đầy khuyết điểm, Ðức Giêsu thật là Con Chí Ái, hoàn
toàn làm hài lòng Chúa Cha (x. Mt 3:17; Mc 1:11). Bởi thế, Chúa Cha mới
căn dặn chúng ta: “Hãy vâng nghe lời Người !” (Lc 9:35) Ðức Mẹ cũng phụ
họa : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” (Ga 2:5)
Tại sao phải nghe lời và làm theo Ðức Giêsu ? Nếu không muốn trả giá quá
mắc vì lầm lạc theo những đam mê như người con thứ hay tấm lòng chật hẹp
như người con cả, chúng ta cần vâng nghe Con Chí Ái của Chúa Cha. Chỉ có
Người mới mở cho chúng ta bầu trời tự do đích thực, tự do làm con cái
Chúa. Khác với tự do đi hoang đã hạ giá người con thứ xuống dưới hàng
con vật, tự do của Chúa nâng chúng ta cao hơn địa vị con người, để trở
thành con cái Chúa. Thật là một giá trị tuyệt vời !
Bức tranh hí họa cuối cùng không diễn tả cảnh trái ngược giữa hai người
con trong dụ ngôn, nhưng giữa họ và Người Con Chí Ái của Chúa Cha. Con
thứ hiểu lầm về tự do, nhưng lại là cơ hội cho thấy tình yêu Thiên Chúa
đầy bao dung. Con cả ngộ nhận về công lý. Từ đó, mới thấy công lý đích
thực phải đặt nền tảng trên tình yêu. Cả hai người con ấy đều không thể
phản ánh hình ảnh người cha nhân hậu. Trái lại, Ðức Giêsu là “hình ảnh
Thiên Chúa vô hình,” (Cl 1:15) một hình ảnh cực tả Thiên Chúa là Cha.
Tin tưởng vào mãnh lực tình yêu Thiên Chúa, bao chứng nhân đã lên đường
tranh đấu cho công lý và hòa bình. Chẳng hạn, năm 2002 tại Nam Hàn, Nữ
tu Cho Seong-ae đã được Quốc Hội Nam Hàn trao tặng Huân Chương Cao Quý
Quốc Gia Nam Hàn. Quyết định trao tặng huân chương của Quốc Hội Nam Hàn
nhìn nhận rằng "Người nữ tu này đã góp phần biến nhà tù không còn là nơi
trừng phạt nhưng là môi trường thuận lợi cho việc cải hóa và quay về với
những điều lương hảo." Hội Đồng Giám Mục Nam Hàn cho biết trong 25 năm
phục vụ trong các khám đường, nữ tu Cho Seong-ae đã dẫn dắt 760 phạm
nhân tiếp nhận đức tin Công Giáo, chưa kể số thân nhân của họ. Con số
này rất đáng kể, vì ngoài việc giúp đỡ về phần thiêng liêng, nữ tu Cho
Seong-ae còn giúp đỡ rất nhiều cho gia đình các phạm nhân trong thời
gian họ chịu giam cầm trong lao lý. Nữ tu Cho Seong-ae luôn cố gắng tìm
kiếm công ăn việc làm cho các gia đình để các phạm nhân yên tâm cải huấn.
[1]
Tiếp tục truyền thống tranh đấu cho công bình xã hội, ngày 07/03/2007
vừa qua, khoảng 300 nữ tu Công Giáo Nam Hàn tham gia cuộc biểu tình
khổng lồ, ước lượng khoảng 74,000 người, tại Hán Thành nhằm chống lại
cuộc thảo luận về mậu dịch tự do giữa Nam Hàn và Hoa Kỳ. Các nữ tu cho
biết họ quan ngại cho số phận những nông gia Nam Hàn và đời sống công
nhân các xí nghiệp trong nhiều ngành kỹ nghệ tại quốc gia này. [2]
Rõ ràng các Nữ tu không còn phải là những người chỉ biết đọc kinh dâng
lễ trong nhà thờ. Tình yêu Chúa thôi thúc họ xuống đường tranh đấu cho
cuộc sống con người. Họ đi tìm một nền công lý xây dựng trên tình thương.
Biết bao người đã tìm được con đường về Nhà Cha nhờ những chứng từ lớn
lao này !
Còn các Nữ tu Việt Nam đang quan tâm tới cái gì và đang làm gì ?!
Lạy Chúa, xin cho con cảm nhận tình thương bao la của
Chúa, để con có thể thông cảm với tha nhân và cùng mọi người xây dựng
một nền công lý trên sức mạnh tình yêu, chứ không trên bạo lực. Amen.
--------
[1]
Fides 22.07.2002
[2]
VietCatholicNews 11/03/2007
Lm. Jude Siciliano, OP (HV
Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ)
Trở
Nên Sứ Giả Về Lòng Rộng Lượng
Và Ước Muốn Hòa Giải Của Thiên Chúa
Lc 15: 1-3, 11-32
Nơi vùng lân cận
Brooklyn, tức sinh quán của tôi, thân phụ mẫu tôi đã cấm tôi chơi môn
“bi-da lỗ” tại những quán bi-da trong vùng. “Bi-da lỗ” là tên gọi cũ
trước khi nó được lăng-xê thành môn chơi cho người sành điệu và được cải
tên thành “bi-da nghệ thuật.” Thân phụ tôi đã cắt nghĩa cho tôi, “Con
không nên lang thang lêu lổng với đám trẻ trong quán Bi-da, mang tai
mang tiếng lắm. Con nên nhớ, gần mực thì đen gần đèn thì sáng.” Vốn tính
lòng lành, Thân phụ tôi đã cho tôi lời khuyên tốt lành ấy làm vốn sống.
Không biết Thánh
Giu-se có từng khuyên Đức Giêsu như thế này không: “Con coi chừng đám
dân chúng mà con đang lân la với họ, con không muốn mang tiếng xấu chứ?”
Chẳng có chỗ nào trong Tin Mừng thuật lại cho chúng ta việc Thánh Giu-se
hay Đức Mẹ khuyên bảo Đức Giêsu như vậy. Thánh Giu-se và Đức Mẹ được mô
tả như những người mộ đạo, nghĩa là những người vẫn đều đặn lên
Giê-ru-sa-lem vào những ngày lễ thánh, nên có lẽ các ngài cũng đã dạy dỗ
con mình kỹ lưỡng và chắc hẳn các ngài cũng đã khuyên bảo Đức Giêsu về
chuyện nên kết bạn với ai. Nhưng giả như các ngài có làm như vậy, thì
khi thành niên, ra như Đức Giêsu vẫn có những quyết định của chính
Người. Điều đó, hẳn đã rõ ngay từ dòng đầu tiên của bài Tin Mừng hôm
nay, “Tất cả các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức
Giêsu để nghe Người giảng.” Chẳng có ai còn nói rằng, Người đã xua họ đi
để bảo vệ thanh danh của Người, giữa đám dân chúng ái mộ Người, đặc biệt
là các lãnh đạo tôn giáo. “Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư liền
xầm xì…”
Họ đã nhiều lần than
phiền trong suốt quãng thời gian Đức Giêsu thi hành sứ vụ, vì đây không
phải là lần duy nhất Người giao thiệp với những người bị loại trừ và
mang tiếng xấu. Việc Đức Giêsu thậm chí còn dùng bữa với những người tội
lỗi đã làm cho tình hình xấu hơn và đã thực sự hạ thấp thanh danh của
Người trong mắt những người nhiệt thành giữ đạo. Chẳng phải là Người đã
ít nhiều có được sự kính trọng nhờ vào tình cảm của những người đồng đạo
đó sao? Tôi tự hỏi, chẳng biết có bao nhiêu người ngoan đạo đã cố gắng
kéo Người ra một chỗ, rồi khuyên Người “rũ bỏ các việc ấy đi”! và đừng
dây mình vào những kẻ lắm tai tiếng ấy!
Thực vậy,
có vẻ như Đức Giêsu đã “xé rào” để liên đới với các tội nhân. Chắc hẳn
có rất nhiều “người công chính” đã muốn góp ý về chuyện ấy! Sự bất bình
của họ trải dài trong suốt các Tin Mừng. Đức Giêsu vẫn thường sử dụng
các dụ ngôn để trả lời cho những lời chất vấn về các giáo huấn của
Người, đặc biệt trong khi đối đáp với những ai chỉ trích Người. Cũng như
chúng ta được chứng kiến trong ngày hôm nay, các giới chức trong đạo đã
nghĩ mình hiểu biết về Thiên Chúa và ý định của Người hơn cả chính Thiên
Chúa nữa! Hôm nay, câu trả lời của Đức Giêsu về lời chỉ trích mang hình
thái dụ ngôn Người Cha Độ Lượng (Đứa Con Hoang Đàng).
Gần đây, tôi cùng với
một nhóm giáo dân ngẫm nghĩ lại dụ ngôn này. Số giáo dân hiện diện
khoảng 30 người và nhiều bậc cha mẹ đã không bằng lòng về dụ ngôn này.
Họ nghĩ đó là một mẫu gương xấu trong việc nuôi dạy con cái và người cha
đó sao mà ngờ nghệch đến độ giao tài sản của mình vào tay các con. Một
số người đã đề nghị, nếu đó là việc chẳng đặng đừng, thì ông chỉ nên
trao tài sản ấy cho đứa con có trách nhiệm kia. Ít ra, anh ta vẫn là
người siêng năng cần cù và không muốn lãng phí gia sản trong kiểu sống
phóng đãng. Có một bà đã nghĩ rằng, người cha nên tham khảo ý kiến vợ
ông, “bà ấy sẽ là người khôn ngoan hơn ông chồng ngớ ngẩn này!” Dĩ nhiên
họ có quyền nghĩ như vậy. Có nhiều cách thức tốt hơn để nuôi dạy con
cái. Chắc hẳn người cha không nên trao một phần gia sản của gia đình cho
đứa con vô trách nhiệm như người con thứ.
Tuy nhiên, một dụ ngôn
không phải là một bài giảng luân lý và dụ ngôn này không phải là dụ ngôn
mà Đức Giêsu ra công dạy dỗ các bậc cha mẹ cách thức phải nuôi dạy con
cái thế nào. Mặc dù đây là dụ ngôn về người cha và những đứa con, thế
nhưng Người Cha ấy lại hết sức đặc biệt.
Chúng ta hãy đọc
dụ ngôn của bài tin mừng hôm nay trong ý hướng của Thư Thánh Phaolô gởi
tín hữu Cô-rin-tô. Chúng ta phải nắm bắt được sự hồ hởi trong sứ điệp
của Thánh Phaolô, “phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ
đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” Có lẽ Thánh Phaolô cũng chỉ lập lại
dụ ngôn hôm nay một cách rõ ràng hơn, để rồi qua kiểu nói của ngài, ngài
cũng cho biết Thiên Chúa là Người Cha Độ Lượng, là Đấng đã làm cho những
ai bị tội lỗi làm cho trở nên thù nghịch và kém cỏi, nay trở thành thọ
tạo mới. Cũng như người con thứ, chúng ta rời xa Thiên Chúa và muốn sống
buông thả theo cách của chúng ta. Kết cục sẽ là tai ương bất hạnh cho
chính bản thân chúng ta và những người xung quanh. Cũng như khi Thiên
Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh và giống như Người ở thuở ban đầu,
thì giờ đây, Thiên Chúa sẽ tái tạo chúng ta thành con người mới, theo
hình ảnh và giống như Đức Kitô.
Thánh Phaolô nói chúng
ta được giao hòa với Thiên Chúa, tương quan của chúng ta với Người được
khôi phục, không phải do công kia việc nọ chúng ta làm, nhưng là nhờ
sáng kiến của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Không chỉ có cái chết hy hiến của
Đức Giêsu, mà cả đời sống hy hiến của Người đã hoàn trọn sự giao hòa của
chúng ta với Chúa. Suốt hành trình tại thế, Người đã trao ban chính mình
cho chúng ta trong tình yêu. Đây là hành động của Thiên Chúa, nếu chúng
ta đón nhận trong niềm tín thác, chúng ta sẽ được giao hòa với Người.
Đức Giêsu vẫn là hiện
thân khả thị khả giác của lòng trắc ẩn và khoan dung tha thứ của Thiên
Chúa. Các giới chức tôn giáo đã cảm thấy khó chịu về Người. Coi bộ Người
giao hảo với Thiên Chúa quá dễ dàng. Họ cho điều này là bất xứng, vì
Thiên Chúa là Đấng hết sức cao vời đối với con người. Họ đã phàn nàn,
“Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Những lần phản
kháng và chống đối của họ là cớ để Đức Giêsu kể dụ ngôn này; phong thái
tường thuật về dụ ngôn mà Người thực hiện cũng là cách cư xử của Người,
bởi lẽ nó cho thấy Thiên Chúa hành động như thế nào. Thiên Chúa là Đấng
rất mực yêu thương chúng ta! Người là Cha giàu lòng thương xót hằng mở
lòng đón tiếp chúng ta!
Mùa Chay, chúng ta xin
Chúa thứ lỗi cho chúng ta. Tôi thiết nghĩ, chúng ta cũng rơi vào trường
hợp như người con thứ, rời bỏ mái nhà của mình, lang thang phiêu bạt,
rồi quyết định trở về và được cha hào sảng chào đón trong vòng tay yêu
thương. Tuy vậy, ngoài trường hợp là những người tội lỗi biết hoán cải,
chúng ta còn là những người thế nào nữa đây? Chúng ta là những người đi
đạo hằng cố gắng tín trung với Thiên Chúa và đường lối của Người. Bằng
nhiều cách, chúng ta vẫn giữ được điều ấy. Để rồi, chẳng phải là chúng
ta lại xem mình như người con đã ở lại nhà, tức là người siêng năng và
biết quán xuyến? Dụ ngôn này cũng không chừa chúng ta ra, nếu chúng ta
xét đoán một ai đó không xứng đáng với lòng nhân từ của Thiên Chúa; hoặc
là việc làm của họ không đủ để đón hưởng lòng khoan dung của Người.
Chuyện cứ như thể lòng nhân từ của Thiên Chúa chỉ có một số lượng giới
hạn nằm rải rác đó đây, và nếu ai đó ít xứng đáng hơn chúng ta đoạt lấy
được, thì sẽ làm cho lòng nhân từ của Chúa dành cho chúng ta vơi đi.
Điều đó ra như không công bằng đối với những mẫu người hăng hái chỉn chu
như chúng ta, tức những người được xếp vào hạng không chỉ cùng với người
con cả ưa phẫn nộ, mà còn với cả các Pha-ri-sêu và kinh sư hay xầm xì.
Hầu hết chúng ta được
những bậc cha mẹ cần lao nuôi dạy và các ngài đã dạy bảo chúng ta cũng
lao động cần cù như vậy. Những lời khuyên răn của các vị đã giúp chúng
trở nên người tốt khi chúng ta một lòng trung thành cố gắng làm tròn
trách nhiệm của mình. Tuy nhiên các dụ ngôn không màng đến “thứ đạo đức
lao động” của chúng ta, mà có ý ám chỉ “đạo đức lao động” của Thiên
Chúa. Các dụ ngôn mời chúng ta bước vào một thế giới hoàn toàn khác, là
nơi mà đường lối của Thiên Chúa điều khiển xuyên suốt, còn những khuôn
tắc của chúng ta ở thế gian này sẽ bị vất ra cửa sổ!
Người cha không chỉ
giơ tay đón lấy đứa con hoang đàng mà cả đứa con tận trung nữa. Mặc
dù người con cả ở trong gia đình về đàng thể lý, nhưng rồi anh cũng bị
lưu lạc. Anh không nhận thức được những điều anh đã làm với tư cách một
thành viên trong gia đình, thay vào đó, anh nói, đã bao nhiêu năm trời
anh “hầu hạ”. Một người cha muốn đứa con trong gia đình cảm thấy như là
một nô lệ là điều không phải đạo. “Con ơi, lúc nào con cũng ở với cha,
tất cả những gì của cha đều là của con.” Chúng ta không biết người con
cả có đón nhận thâm ý của người cha hay không.
Thánh Phaolô nhắc
nhở chúng ta rằng, chúng ta đã được giao hòa với Thiên Chúa nhờ Đức
Kitô. Trong khi chỉ có một người được tha thứ, thì những hai người được
giao hòa. Người con thứ đã trở lại nhà và đã đón nhận vòng tay tha thứ
của cha mình. Người con cả đã cần phải chấp nhận lời mời của cha mình và
vào dự tiệc, “nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ.” Giao hòa là ân
ban của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúng ta phải đáp trả dưới hai
chiều kích: đón nhận ân ban ấy và theo như Thánh Phaolô giải thích, là
trở nên “một thọ tạo mới trong Đức Kitô.” Thế rồi, Thánh Phaolô còn nhắc
nhở chúng ta là phải đáp trả thêm nữa, bằng việc làm “sứ giả thay mặt
Đức Kitô.” Thiên Chúa đã thực hiện công trình hòa giải của Người trong
vị thế là người đại diện cho chúng ta và giờ đây Người trao phó sứ điệp
hòa giải cho chúng ta là những sứ giả của Người.
Một sứ giả đến một
quốc gia khác trong tư cách là người đại diện cho bản quốc và chính
quyền của ông ta. Công việc của ông là thiết lập và gìn giữ những mối
giao hảo giữa hai quốc gia. Khi sự bất hòa nảy sinh, thì sứ giả cố gắng
làm sáng tỏ những vấn đề và thúc đẩy việc hòa giải. Phải mất nhiều công
phu đào luyện mới có thể trở thành một sứ giả lành nghề.
Chúng ta là những
sứ giả, những người đã được đào tạo bằng cách lắng nghe và đón nhận
sứ điệp tình thương của Thiên Chúa qua Đức Kitô. Giờ đây, chúng ta hãy
thực hiện những gì tốt nhất để tìm thấy chính mình trong bất cứ “xứ sở”
nào như: công ăn việc làm, trong các môi trường xã hội, trường học, hay
thậm chí ngay trong gia đình của chúng ta. Vì là những sứ giả lành nghề,
nên trong khi phát ngôn và hành động, chúng ta nói về lòng rộng lượng
thứ tha và ước muốn hòa giải của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người.
Một lần nữa, trước khi chúng ta bắt đầu lên đường trong nhiệm vụ là
những sứ giả, chúng ta cùng nhau quây quần tại bàn tiệc mà Thiên Chúa
hằng nuôi dưỡng chúng ta bằng mình và máu của Người Con trung tín. Người
là lương thực của “quê nhà” chúng ta, Đấng đã tái tạo nơi chúng ta hình
ảnh của Thiên Chúa, tức là điều chúng ta sẽ phản ánh cho tất cả những ai
chúng ta gặp gỡ, vì chúng ta là những sứ giả của Đức Kitô.
Lm.
Jude Siciliano, OP. ( Anh em học viện Đaminh chuyển ngữ)
Con ta đã mất và
nay lại tìm thấy
Gs
5,9a.10-12; 2Cr 5,17-21; Lc 15,1-3.11-32
Kính thưa quí vị,
Ngay cả người không biết nhiều về Kinh
thánh cũng biết dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng. Thuật ngữ “đứa con hoang
đàng” là lối nói thông thường. Một lần kia khi tôi dự bữa tiệc của
trường và về nhà trễ, thì thấy mẹ tôi đang đứng đợi. Khi tôi khoá cửa
thì bà đứng phía sau tôi nói: “Đứa con hoang đàng đã về”. Quý vị có hiểu
ý tôi muốn nói là gì không? Dĩ nhiên, lối hiểu những câu chuyện kinh
thánh như thế không phải luôn có lợi vì sự hiểu biết này có thể chỉ gợi
lại cùng một câu trả lời mà chúng ta đã thực hiện khi lần trước chúng ta
tiếp cận bản văn. “Có gì mới mẻ đâu?” đó là câu hỏi mà nhà giảng thuyết
phải vật lộn với ngày Chúa nhật này khi chúng ta suy tư về dụ ngôn Đứa
Con Hoang Đàng. Nếu Lời Chúa luôn là ổ bánh mì mới ra lò, thì mọi thứ sẽ
mới.
Trước khi chúng ta nói tiếp về bánh mì,
xin hãy cùng tìm hiểu bài đọc thứ nhất. Chúng ta tạm dừng lại ở hình
thức của bánh mì và bắt đầu bằng hình thức khác. Trong sách Giôsuê chúng
ta thấy dân Israel đang hoàn thành một hành trình gian khổ và lâu dài
dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa; họ ra khỏi Aicập và mất 40 năm trên hành
trình sa mạc. Cuối cùng họ đã vượt qua sông Giođan và vào đất miền Đất
Hứa. Họ đã rời khỏi vùng đất Aicập và có thể định cư ở vùng đất Canaan.
Trong vùng đất mới này, họ đã ăn “Sản phẩm của đất”. Thức ăn sẽ không
còn hiếm như khi họ ở trong sa mạc phải nhờ vào Manna Thiên Chúa ban
hàng ngày. Lúc này, đất sẽ sản sinh ra nhiều hơn số lương thực thừa sức
họ cần.
Như thế cũng guy hiểm phải không? Trong
những lúc khó khăn họ đã phải học để tín thác rằng Thiên Chúa luôn gìn
giữ và bao bọc họ. Đây là hành động của niềm tin hàng ngày vì mỗi ngày
manna lại rơi xuống. Giờ đây, nơi miền đất Hứa, họ có thể tự lo được –
hay gần như thế - trồng trọt, thu hoạch và chăn nuôi. Đây cũng là một
mối đe doạ cho cả chúng ta nữa. Chẳng ai muốn rơi vào những thời điểm
khó khăn, nhưng đối với người tin mà biết dựa vào Thiên Chúa mỗi ngày,
thì những thời điểm khó khăn có thể dạy chúng ta tin. Trong những thời
điểm yên bình, chúng ta có nguy cơ quên Thiên Chúa.
Cho dù dân có phạm bao lỗi lầm trong sa
mạc, nhất là sự bất trung đối với Thiên Chúa và cám dỗ chạy đến với các
thần linh khác, thì họ cũng sẽ được tha thứ. Như thánh vịnh nói: “Hãy
nếm thử và hãy nhìn xem cho biết Chúa thiện hảo dường bao”. Manna có thể
ngừng rơi, nhưng Thiên Chúa vẫn đang cung cấp bánh tha thứ hàng ngày.
Dân Israel, như người con thứ trong dụ
ngôn, lang thang trong sa mạc và lạc đường. Thiên Chúa đưa họ trở lại
sau khi họ đã bất trung và Người phán: “Hôm nay, Ta đã cất khỏi các
ngươi nỗi ô nhục của người Aicập”. Cũng thế, trong dụ ngôn, chính người
cha đã cứu con trai mình ra khỏi những lầm lạc của quá khứ. “Con ta đã
mất và nay lại tìm thấy”. Dân Israel dùng tiệc sau khi được Thiên Chúa
thanh tẩy; Đứa Con Hoang Đàng vào dùng tiệc sau khi được cha ôm lấy vòng
tay ấm áp cùng với những lời khích lệ yêu thương. Tiệc Thánh Thể hôm nay
chúng ta được chào đón trở lại từ những lầm lạc và vào tham dự yến tiệc.
Bối cảnh dụ ngôn có thể giúp chúng ta
hiểu được ý nghĩa của nó. Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng là một trong những
lời đáp mà Đức Giêsu đưa ra cho những người phê bình. Những nhà thông
luật và Pharisêu đã phàn nàn về việc Người giao du với phường tội lỗi.
Vì vậy, Người trả lời bằng ba dụ ngôn về những thứ bị mất và tìm thấy.
Tuy nhiên, chúng không lặp lại: hai dụ ngôn đầu diễn tả những thứ bị
mất, khi tìm thấy, thì mang lại niềm vui to lớn – chiên lạc (15,1-7) và
đồng bạc bị mất (8-10). Cả hai dụ ngôn này nối kết việc tìm thấy với sự
hối cải: “Cũng thế, tôi bảo các ông, giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy
cũng vui mừng vì một người tội lỗi hối cải” (15,10).
Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng đưa chúng ta
vào một gia đình dưới một áp lực. Đây là một gia đình khá giả và có “vấn
đề”. Hiếm có gia đình nào trong cộng đoàn tuần này không liên hệ một cái
tên cụ thể cho một thành viên trong nhà, hay một người trong gia đình
của bạn, với cái tên của một đứa con ương ngạnh trong dụ ngôn.
Ai cũng đã không từng nghe về một người
cha giúp đỡ tài chính cho đứa con bướng bỉnh hoặc đang thiếu tốn, gây ra
sự bất hoà giữa anh em với nhau, chúng đã thốt lên: “cha đang phung phí
tài sản vào đứa con không tốt đó!” Cha mẹ sẽ quả quyết yêu thương con
cái, nhưng nếu quí vị phải hỏi: “Cha thương đứa nào nhất” – câu trả lời
nghe như là một phiên bản của dụ ngôn hôm nay, “Đứa con cần cha nhất”.
Bầu khí trong dụ ngôn phức tạp ngay từ
đầu, khi đứa con thứ xin phần tài sản. Một sự táo tợn! cứ như thể cậu ta
không thể đợi cha mình chết hầu có thể được chia tài sản. Những ai nghe
dụ ngôn này đều muốn ngắt lời để nói với người cha: “đừng ngốc thế! Chớ
phí tài sản tay mình làm ra vào đứa con vô tích sự!”
Nhưng người cha này không chịu dừng lại,
ông vẫn tiếp tục và chấp nhận rủi ro để cho tài sản và danh tiếng mình
nơi đứa con vô trách nhiệm này. Thử hình dung xem những mối tương quan
của người cha, gia đình và dân làng sẽ nói gì về lòng quảng đại liều
lĩnh của ông. Điều gì sẽ xảy ra cho chỗ đứng của ông trong cộng đồng?
Người cha đã chấp nhận sự rủi ro hơn cả số tiền cho đứa con.
Thiên Chúa có thể bị kết tội về sự liều
lĩnh ngờ nghệch tương tự. Thiên Chúa quảng đại ban cho chúng ta một cơ
hội lớn lao: niềm tin, tài năng, tha nhân và thế giới của chúng ta.
Chúng ta có khuynh hướng bo bo cho mình, đến một “vùng xa xôi”, bỏ quên
việc tương quan với Thiên Chúa; tập trung nhiều hơn vào những gì chúng
ta được trao ban và ít tỏ lòng biết ơn với Đấng trao ban; sử dụng và
phung phí như thể tất cả những gì chúng ta nhận được là chỉ dành duy
mình ta sử dụng.
“Trong suy tính của mình”, đứa con quỷ
quyệt tìm cách đổ đầy bụng nó và vì thế, một lần nữa, nó đến xin cha nó
giúp đỡ. Quên đi mọi khái niệm chúng ta có thể biết về cách thức người
cha nên dạy cho đứa con một hay hai bài học về hành vi liều lĩnh của nó
trước khi cho nó trở về. Người cha gạt qua một bên tư cách là chủ gia
đình của mình, để chạy ra đón đứa con về. Ông ngắt lời con mình trước
khi nó nói xong những lời ăn năn được chuẩn bị trước.
Trong khi chúng ta có thể muốn nói với
người cha một vài lời khuyên khôn ngoan về việc nuôi dạy con sao cho nên
người, nhưng đây không phải là một bài học về việc nuôi dạy con cái. Đây
là một dụ ngôn về kiểu tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Hai dụ
ngôn đầu tiên trong ba dụ ngôn này là về sự sám hối, nhưng điểm nhấn
trong dụ ngôn này thì không nhắm nhiều đến sự sám hối của người con.
Không thể nói rằng đứa con hối tiếc vì đón nhận ích lợi của người cha,
đúng hơn cậu ta “suy tính” – một sự mô tả hàm hồ.
Đây là một câu chuyện về ân sủng. Sự tha
thứ không dựa trên hành động thống hối và sửa đổi của người con. Cậu ta
cũng không phải xưng ra sự thống hối và những dự tính của mình cho sửa
đổi bằng lời lẽ đúng đắn. Việc chào đón người con trở về với gia đình (được
biểu tượng hoá bằng chiếc áo choàng tốt nhất… bằng chiếc nhẫn đeo trên
tay và bằng đôi giày dưới chân”) là vòng tay ấm áp và những lời của
người cha. Ai được chào đón hay chào đón trở lại trong vương quốc Thiên
Chúa? Việc quyết định theo những động lực của dụ ngôn này là ai cũng có
quyền chạy đến và hy vọng được đón nhận.
Người anh cả không xuất hiện như một “con
chiên lạc hay đồng bạc bị mất” – người em cũng không theo cách đó. Tuy
nhiên, người anh cả cũng như người em thứ là một đứa con bị lạc. Anh ta
lập luận như chúng ta: anh ta đã làm việc, không phá phách và ở nhà
trong khi thằng em thì đi hoang. Anh ta giống như nhiều người trong
chúng ta là người tốt. Thế nhưng, trong khi anh ta làm mọi việc được
giao, thì anh ta lại không bao giờ hiểu rõ được sự độc đáo của cha mình.
Anh ta hiểu sai thế giới anh đang sống: Anh ta đã làm việc, nhưng lại bỏ
lỡ ân huệ dành cho mình là được sống trong nhà cha anh. “Con à, lúc nào
con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con”.
Những gì chúng ta có thể nói về người con
cả là cách anh ta: gọi cách cha anh đón thằng em của mình về là xuẩn
ngốc và sỉ nhục. Anh ta biết thằng em đã chẳng làm được gì cả, ngay cả
lời xin lỗi cũng không có, vậy mà nó lại nhận được sự chào đón long
trọng. Những gì người cha đối đãi với người con thứ, lúc này ông cũng
trao cho cho người con cả uất ức trong cách thức khác biệt nhẹ nhàng.
Ông cũng không loại bỏ anh ta vì sự bất kính, nhưng tái khẳng định mối
tương quan bằng việc gọi anh ta “con à”, nhắc nhớ rằng anh ta là thành
viên của gia đình – “tất cả những gì của cha đều là của con”.
Chúng ta cứ cho là người con thứ có cơ
hội để trở về giữa gia đình mình. Chúng ta không biết cách người con này
đáp lại chuyện ấy ra sao. Liệu nó sẽ lại “suy tính” và trở về nhà một
lần nữa để dự tiệc và ăn mừng những ân huệ của đời nó? Chúng ta có như
thế không?
Dụ ngôn này thích hợp nhất cho mùa Chay.
Một số người chúng ta đã thực hiện “cuộc hành trình lớn” rời khỏi sự yêu
thương bao bọc của Thiên Chúa. Một số khác thì cần mẫn và chú tâm những
công việc của mình, nhưng có lẽ không xem trọng những gì chúng ta đang
có. Nhưng dù sao đi nữa, cánh cửa luôn được mở ra cho chúng ta vào dự
tiệc với Thiên Chúa. Chúng ta bước vào Thánh lễ để cử hành tình yêu ngờ
ngệch và kỳ lạ của Thiên Chúa dành cho chúng ta – tất cả chúng ta – dù
là lúc này chúng ta đang trở lại, hay chúng ta đang hiện diện ở đây,
nhưng miễn là chúng ta ở trong “ngôi nhà của sự biết ơn” (Câu thơ của
Mary Oliver ám chỉ điều này: “chốn ta muốn về”). |