Năm C

 
 


Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm C

Xh 3,1-8a.13-15 / 1Cr 10,1-6.10-12 / Lc 13,1-9


An Phong op : Hãy Sám Hối

Lm Như Hạ op : Giao Ước Mới

Lm Như Hạ op : Một Khám Phá Mới

Fr Jude Siciliano, op : Bác Thợ Làm Vườn Biến Hóa

Fr Jude Siciliano. op : Cơ Hội Sinh Hoa Trái

G. Nguyễn Cao Luật op : Thời Gian Của Người Làm Vườn

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Hãy sám hối

Gioan Phêny Ngân Giang : Mùa chay này dành cho bạn, hãy sám hối và đổi đời

Fr. Jude Siciliano, op. Thành Tâm Sám Hối Và Cải Thiện Đời Sống

Fr. Jude Siciliano, op : Không Phải Thế Đâu

Lm Đỗ Lực op : Cây Vả và Bụi Gai

Fr. Jude Siciliano, op: Cơ hội cuối cùng để hoán cải

 


Lm An Phong op

Hãy Sám Hối
Lc 13,1-9

Tin mừng hôm nay là trình thuật lời kêu gọi sám hối của Đức Giêsu. Trong phần đầu, nhắc lại hai biến cố : một về chính trị, và một về tự nhiên.

1/ Những người Galilê bị Philatô giết là những người thuộc phái quốc gia quá khích. Họ có ý nổi loạn chống lại chính quyền Lamã.

2/ Biến cố tháp Silôê đổ xuống đè chết nhiều người là do Philatô muốn cải thiện hệ thống cấp nước cho thành phố Giêrusalem. Đức Giêsu quả thật đã can đảm khi đối đầu với quan niệm truyền thống về thưởng phạt. Theo truyền thống, bất cứ những gì xảy ra cho một người, dù tốt hay xấu, đều do những công việc cá nhân họ làm. Hình ảnh cây vả không sinh trái, được cho trì hoãn một lần cuối, dưới sự chăm sóc cẩn thận của người làm vườn nho là hình ảnh Israel, Dân Chúa được cho một cơ hội cuối cùng để sám hối và hoán cải, nếu không sẽ bị tiêu hủy.

"Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị hủy diệt". Lời Đức Giêsu đánh động vào tâm hồn những thính giả của Người. Khi nghe thuật lại về việc tàn sát người Galilê của Philatô, Đức Giêsu đã không khiển trách Philatô, thay vào đó, Người muốn hướng dẫn những ai nghe Người lưu tâm đến sức mạnh thù ghét ẩn khuất nơi tâm hồn họ đang hoành hành. Hẳn là những người thuật lại biến cố trên muốn nghe những lời kết án từ Đức Giêsu. Nhưng họ lại nghe được lời cảnh giác về chính tâm hồn mình. Đức Giêsu cũng cảnh giác chúng ta về những thái độ tương tự như thế. Sự thù hận, ghen ghét đôi khi ẩn khuất sâu thẳm nơi tâm hồn chúng ta, khiến chúng ta khó nhận ra chính mình. Chỉ có một thái độ đúng nhất của chúng ta trước Thiên Chúa là khiêm tốn nhìn nhận mình "khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh" (2Cr 12,10).

"Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị hủy diệt". Tháp Silôê đổ xuống đè chết 18 người được coi là hình phạt vì tội lỗi của họ. Những thính giả của Đức Giêsu không thuộc về số các nạn nhân đó, họ nghĩ rằng họ vô tội trước mắt Thiên Chúa. Thiên Chúa đã gìn giữ họ, đã " cứu họ khỏi sự dữ" vì họ công chính. Đây thực là một thái độ Pharisiêu. Chẳng ai là công chính trước mặt Thiên Chúa. Đức Giêsu cảnh giác chúng ta về thái độ này. Thái độ tự cho mình là công chính, thậm chí hãnh diện vì những "việc lành phúc đức" mình làm được. Nhìn nhận chính mình là tội lỗi, cần Thiên Chúa tha thứ và cứu độ là một cơ hội tốt trong những ngày này "Hôm nay khi anh em nghe tiếng Người, anh em đừng cứng lòng nữa" (Tv 95,7-8; Dt 3,7-8).

Ý nghĩa của dụ ngôn cây vả là Thiên Chúa đã cho dân Người lời cảnh báo cuối cùng : nếu Israel loại trừ cơ hội cuối cùng này, một cơ hội được ban cho họ qua việc Đức Giêsu đến và rao giảng Tin mừng, nếu họ từ chối hoán cải và không sinh hoa trái thiêng liêng, họ sẽ bị "phá hủy" như cây vả. Lời cảnh báo này là lời cảnh báo cuối cùng, vì Thiên Chúa không thể làm gì khác hơn là gởi Con của mình đến. Nếu dân Israel từ chối nghe lời Con của Người, thì họ sẽ nghe lời ai ?

Qua dòng lịch sử, Thiên Chúa đã luôn kiên nhẫn với dân Người "nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Người đã nói qua Người Con" (Dt 1,1-2). Thiên Chúa đi tìm kiếm con người.

Thiên Chúa cũng kiên nhẫn với mỗi người chúng ta như thế. Lời kêu gọi hoán cải từng ngày, từng giờ, của Đức Giêsu luôn là một cảnh báo "nếu anh em không ăn năn hối cải, thì tất cả anh em cũng sẽ bị hủy diệt" .

Hơn nữa, dụ ngôn cây vả bị đe dọa chặt đi, không phải vì nó không sinh hoa trái, nhưng còn là vì nó gây tác hại cho các cây chung quanh "để nó choán đất làm gì" (c.7). Như thế, một người kitô hữu chỉ hài lòng với việc "không làm hại người khác" vẫn chưa đủ, mà họ còn phải "làm điều tốt" nữa. Không làm hại người khác mới chỉ là khía cạnh tiêu cực, làm điều tốt mới thực là tích cực. Mỗi người kitô hữu là một cây vả "sinh hoa trái ".

Lạy Chúa,

Chúng con cảm tạ Ngài đã ban cho chúng con hồng ân tuyệt diệu
là được phụng thờ Ngài, Thiên Chúa độc nhất khắp vũ hoàn.
Nhưng chúng con bị tội lỗi xiềng xích,
vì vậy mà chúng con cần một Đấng Cứu Chuộc.

Chúng con cảm tạ Ngài
đã ban cho chúng con một bản tính thiêng liêng.
Xin đừng cho phép một người nào xử tệ với chúng con
đến nỗi chúng con phải thù ghét.
Xin cho chúng con sức mạnh để yêu mến địch thù...
Xin ban cho chúng con được sống bình an,
xin dạy chúng con cùng tiến bước bên nhau,
cầu nguyện với nhau, ca hát với nhau...
(M. Luther King - 1956)


Như Hạ OP

GIAO ƯỚC MỚI

Lời hứa có một ảnh hưởng nào trong cuộc sống ? Hôn ước cũng chỉ là một lời hứa vắn tắt, nhưng ràng buộc con người suốt đời. Thiên Chúa cũng bị lời hứa ràng buộc. Giao ước chính là lời Thiên Chúa hứa cứu độ nhân loại. Nhưng rõ ràng có một sự khác biệt lớn lao giữa Thiên Chúa và con người trong việc giữ lời hứa. Chính nhờ lời hứa, giá trị được xác định. Vì chữ tín càng cao, con người càng được mọi người kính nể. Chúng ta thử xem Thiên Chúa đã giữ lời hứa như thế nào trong khi thiết lập tương giao với nhân loại.

TƯƠNG QUAN HAI CHIỀU

Thiên Chúa đã chứng tỏ tất cả uy quyền khi thiết lập giao ước với loài người. Chính vì yêu thương, Chúa đã hạ cố đến với Môsê. Người đã dẫn ông qua những nẻo đường, đến tận núi Sinai để thiết lập giao ước với dân tộc Do thái. Mười Điều Răn chính là cách diễn tả cụ thể giao ước đó (Faley 1994:244). “10 Điều răn thể hiện quyền bình Thiên Chúa trên chúng ta” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:13). Quyền bính ấy không nhằm đè bẹp, nhưng thăng tiến con người. Con người chỉ thực sự thăng tiến khi biết rõ mình là ai trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Bởi vậy “trước khi ban Mười Điều Răn cho Israel, TC mạc khải Người là ai. Israel khám phá mình là ai khi đáp trả lại lời TC mời gọi bước vào tương quan giao ước, nhờ vậy có một căn tính mới” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:13). Quả thực chính nhờ giao ước, Do thái thực sự được Chúa yêu thương và trở thành người con đầu lòng của Thiên Chúa. Họ rất hãnh diện vì như chiếm được lòng ưu ái của Thiên Chúa, trong khi dân ngoại bơ vơ giữa đủ thứ thần tượng. Nhờ thực thi giao ước, họ sẽ chiếm được niềm hi vọng thiên sai.

Chính vì thế, Đức Giêsu đã sinh ra trong dân tộc Do thái. Người đến để thực hiện tất cả những gì Thiên Chúa đã hứa qua giao ước. Thiên Chúa phải được tôn thờ là vị Thần độc nhất. Đối với Do thái, nhận thêm một vị thần vào bảng phong thần không khó lắm. Nhưng tôn thờ Người là vị thần độc nhất, loại trừ tất cả các thần khác là cả một vấn đề. “Giới răn thứ nhất (cc.3-6) là một cách diễn tả niềm tin độc thần trong thực tế” (Faley 1994:245). Đền thánh là lãnh vực tuyệt đối dành cho một mình Giavê mà thôi. Nếu ai đem thần ngoại bang vào đền thờ, tức là chối bỏ Giavê. Xúc phạm tới đền thánh tức là xúc phạm tới Thiên Chúa. Đền thờ trở nên trung tâm sinh hoạt tôn giáo và chính trị của toàn dân. Đó là biểu tượng của niềm tin và hi vọng. Dân tộc trở thành một cộng đồng qui tụ quanh đền thờ. Cộng đồng đó cần được Thiên Chúa hướng dẫn về Đất hứa.

“Mười Điều Răn đã được Thiên Chúa phác họa để dẫn dân Do thái tới một cuộc sống thánh thiện trong thực tế. Trong Mười Điều Răn đó, họ sẽ nhìn thấy bản tính Thiên Chúa và kế hoạch Người chỉ vẽ cho dân lối sống. Mệnh lệnh và những chỉ dẫn nhằm hướng dẫn cộng đoàn gặp gỡ từng nhu cầu cá nhân một cách đầy thương yêu và có trách nhiệm” (Life Application Study Bible 1991:136). Thực hành Mười Điều Răn là cách duy nhất để cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa đối với dân Người.

Biểu tượng của tình yêu và niềm hi vọng chính là đền thờ. Bởi vậy mỗi khi nhìn đến hay hướng về đền thờ, dân Chúa vô cùng phấn khởi và hăng say giữ tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi qua giao ước. Họ không cảm thấy gò bó hay miễn cưỡng khi giữ luật vì đó là “phương tiện duy nhất chu toàn luật thương yêu của Thiên Chúa” (Life Application Study Bible 1991:136). Ngày sabát là một bằng chứng. Chính vì biến phương tiện thành mục đích, người Do thái đã đánh mất nét tinh hoa cao quí nhất của lề luật. Nói khác, khi không còn là phương tiện đạt mục đích Thiên Chúa đã vạch ra, luật lệ hay đền thờ trở thành những thứ thừa thãi, vô bổ.

Chính vì thế Đức Giêsu mới không ngần ngại nổi nóng với những lạm dụng đền thờ, cản trở việc thờ phượng. Làm sao có thể tưởng tượng nổi một Đấng “hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29) lại có thể “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế ho.” (Ga 2:15). Giữa chốn ồn ào hỗn loạn đó, chắc chắn Người đã phải quát lên : “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16). Công cuộc thanh tẩy Đền Thờ làm Người hầu như quên bản chất hiền lành của mình. Người sẵn sàng vượt lên trên mức thường tình để thanh tẩy Đền Thờ. Người còn muốn cho mọi người thấy mạc khải lớn lao về bản chất đích thực. Người chính là Đền Thờ mới thay thế Đền Thờ cũ vào thời Thiên sai (Ml 3:1-4; Dcr 14:21). Bởi thế, “hành động của Đức Giêsu mang tính cánh chung, thúc đẩy người Do thái thắc mắc về tư cách Thiên sai của Người” (Ga 2:18) (Faley 1994:248).

Thắc mắc đó phải đợi sau cái chết và phục sinh của Người được trả lời thỏa đáng. “Đền Thờ ấy sẽ được một thực tại mới thay thế là Đức Kitô tràn đầy Thần khí” (Faley 1994:248). Chính nơi Người, Thiên Chúa sẽ hiện diện cách sung mãn và sống động nhất. Người sẽ trở nên trung tâm thu hút mọi người về với Thiên Chúa. Quả thế, sau khi phục sinh, Đức Giêsu là nơi nhân loại tìm được dung nhan Thiên Chúa và sự tôn thờ đích thực trong “thần khí và sự thật”(4:23-24). Trước đó, Người đã làm nhiều dấu chỉ chứng tỏ nơi Người, sự thật mới đạt đến độ sâu sa nhất. Vì nhờ thiên tính, Người đã đi sâu vào tận bản tính nhân loại (c.25; 1:47).

ĐỀN THỜ HÔM NAY

Đức Giêsu cũng muốn thanh tẩy Đền Thờ hôm nay là Giáo hội. Nếu Giáo hội không được thanh tẩy, những hoạt động trần tục sẽ che khuất dung nhan Thiên Chúa trước mắt mọi người. Nói khác, chính vì Giáo hội quá nặng nề với lỗi lầm quá khứ, những nghi lễ và luật lệ rườm rà, nhiều người đã không thể đến được với Chúa Kitô. Bởi đấy, ngày 12.3.2000 vừa qua, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm một cử chỉ ngoạn mục trước mắt toàn thể nhân loại. Giáo hội đã tự thanh tẩy. Đúng hơn, Thánh Linh đã thanh tẩy khuôn mặt Giáo hội, không phải để Giáo hội được nổi tiếng, nhưng để mọi người nhận biết Đức Kitô là “sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), có sức giải thoát nhân loại khỏi mọi cảnh khốn cùng hiện tại.

Trong khi rao giảng Đức Kitô, Giáo hội nhìn nhận lịch sử Giáo hội là một chuỗi “các tội đã phạm trong khi phục vụ chân lý, các tội đã làm tổn thương đến sự hiệp nhất Kitô giáo, các tội chống lại dân tộc Israel, các tội chống lại tình yêu, hòa bình và kính trọng đối với các nền văn hóa và các tôn giáo, các tội chống lại phẩm giá của người phụ nữ và sự hiệp nhất của loài người, và các tội phạm đến các quyền cơ bản của con người” (VietCatholic 19/3/2000). Không phải vì những lầm lỗi ấy mà GH phải bị phá hủy, vì bản chất GH vẫn là thánh. Hi vọng sau lời thú tội này, GH sẽ phục vụ TC và con người đắc lực hơn. Mọi người có thể dễ dàng đến với Đức Kitô qua cung cách khiêm nhường của Giáo hội. Nhân loại như bước vào “thời gian hòa giải, thời gian cứu độ cho tất cả mọi người tín hữu và cho tất cả mọi người đang tìm kiếm Thiên Chúa !” (ĐGH Gioan Phaolô II, “Ngày Xin Ơn Tha Thứ”). ĐGH đã tô một nét son thật đậm vào lịch sử GH. Các GH địa phương cũng theo gương sáng đó. Chẳng hạn tại Hoa Kỳ, ĐHY Roger Mahony, TGM Los Angeles, đã xin lỗi cả những người đống tính luyến ái và những tín đồ thuộc các tôn giáo khác. Người cũng xin lỗi cả những gia đình hay cá nhân về những lạm dụng tình dục của một số linh mục. ĐHY Bernard Law tại Boston cũng xin lỗi về nạn nô lệ tại Hoa Kỳ. Các GM Âu châu cũng đã thú nhận người Kitô hữu đã không cố sức để cứu người Do thái trong thời Đệ nhị thế chiến (VietCatholic 19/3/2000).

Trước bao nhiêu thành kiến đang ngăn cản mọi người đến với Chúa hôm nay, sao chưa thấy Giáo hội Việt Nam có một lời thú tội nào ? Còn đợi đến bao giờ ? ? ?


Như Hạ

MỘT KHÁM PHÁ MỚI

Thế kỷ 20 đã để lại bao nhiêu những thành tích vẻ vang, những khám phá muôn mặt. Nhưng có một khám phá vẫn chưa đạt tới. Một khám phá có ảnh hưởng tới toàn thể cuộc sống cá nhân, văn hóa, xã hội v.v. Đó là khám phá về chính mình, một khám phá bắt đầu từ sám hối.

PHẢN TỈNH.

Truyền thống Do thái cũng như Việt Nam vẫn quan niệm “ác giả ác báo”, “ở hiền gặp lành”. Thấy ai bị tai họa tự nhiên người ta nghĩ “Trời phạt !”. Thấy mình vẫn an toàn, ai cũng tưởng mình vô tội hay ít tội hơn nên không bị phạt. Người giàu có chắc phải tu bao kiếp mới được như vậy. Còn những người khác nghèo khổ chỉ vì vụng tu trong kiếp trước. Đức Giêsu cũng đã đặt vấn đề thiện ác với dân chúng khi “nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết” (Lc 13:1) hoặc “mười tám người kia bị tháp Silôác đổ xuống đè chết.” (Lc 13:4) Số phận hẩm hiu của những người chết đó phải chăng là một dấu chỉ rõ ràng về tình trạng tội lỗi của họ nặng nề hơn mọi người ? Đức Giêsu trả lời dứt khoát : “Không phải thế đâu!” (Lc 13:3, 5). Nếu không phải thế, thì như thế nào ? Đó là một mầu nhiệm thuộc về chương trình quan phòng của Thiên Chúa.

Chỉ có một điều có thể biết được, đó là “nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.” (Lc 13:3, 7). Như vậy sám hối sẽ quyết định số phận và định mệnh con người. Sám hối chỉ có thể thực hiện ngay trên cõi đời này. Sám hối là gì mà quan trọng như vậy ? Sám hối là “một việc thay đổi tiêu chuẩn quyết định dựa trên việc thỏa mãn cái tôi sang việc khám phá và theo đuổi giá trị.” (Fragomeni 1993:234) Tất cả mọi rắc rối đều bắt đầu từ cái tôi. Nếu tiêu chuẩn tối hậu là cái tôi, hỏi còn có gì vô nghĩa hơn ? Càng đề cao cái tôi, con người càng tội lỗi và tha hóa.

Chính vì thế, không sám hối, cuộc đời trở thành vô nghĩa. Bởi vậy, muốn sám hối, con người phải “tránh xa việc tha hóa và tội lỗi” và “trở về với Thiên Chúa hằng sống.” (Fragomeni 1993:231) Như thế sám hối là cuộc khám phá bản thân trong tương quan với Thiên Chúa. Ra khỏi tương quan này, con người sẽ đánh mất chính mình và đi vào cõi tiêu diệt. Bởi vậy, sám hối là một cuộc vùng dậy từ đống tro tàn sau khi cái tôi đã bị đốt cháy trong lửa đam mê. Đó là một hành trình gian khổ nhất và hầu như không thể vượt qua, nếu không có ân sủng Thiên Chúa. Con người chỉ có thể tìm lại chính mình và những giá trị đích thực trong sám hối. Bởi vậy, cần phải có thời gian và nghị lực đi sâu vào nội tâm.

Chỉ dừng lại những tương quan bên ngoài, người ta mới dễ so sánh mình với người khác. Bình thường muốn biết rõ vị trí, chúng ta phải xác định tương quan giữa mình với ngoại cảnh, hay với người khác. Nhưng trong trường hợp sám hối, càng so sánh với người khác, càng không biết chính mình. Vấn đề không phải là ai tội lỗi hơn ai. Muốn biết mình không thể căn cứ vào sự may mắn trong cuộc sống. Sự sống và những bảo đảm cuộc sống đều là hồng ân Thiên Chúa. Hồng ân đó không căn cứ trên công phúc con người, nhưng hoàn toàn do thượng trí quan phòng đầy tình yêu thương của Thiên Chúa.

Tình yêu Thiên Chúa thể hiện rõ nét nhất qua thái độ từ tâm. Chính Đức Giêsu đã mạc khải Chúa Cha như một chủ vườn nho khoan hồng cho cây-vả-không-sinh-hoa-trái. Người làm vườn xin thêm thời gian để “vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái.” (Lc 13:8-9) Lòng khoan hậu đó dân Do thái đã chứng kiến nhiều lần trong sa mạc. Bằng chứng “tất cả cha ông chúng ta đều được ở dưới cột mây, tất cả đều vượt qua Biển Đỏ. Tất cả cùng được chịu phép rửa dưới đám mây và trong lòng biển, để theo ông Môsê,” (1 Cr 10: 1-2) đi về Đất Hứa. Nhưng trong tình yêu ấp ủ như thế “phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã quỵ ngã trong sa mạc.” (1 Cr 10:5) Chính vì tấm gương tầy liếp đó, Đức Giêsu mới kêu gọi sám hối để ngăn ngừa tai họa có thể xảy ra cho chúng ta.

LÒNG THƯƠNG XÓT VÔ BỜ.

Sám hối có sức cứu chúng ta thoát chết, vì có nền tảng tận nơi lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa. Những người Do thái đã chết vì đã “chiều theo những dục vọng xấu xa.” (1 Cr 10:6) Ngày nay cũng có những người đang say mê đầu tư vào việc phát triển văn hóa sự chết. Bằng chứng “việc nghiên cứu khoa học ngày nay với dư thừa phương tiện, tiến vào được nhiều lãnh vực, cũng đôi khi chống lại con người.” Phá thai, đồng tính luyến ái, chạy đua vũ khí v.v đang đẩy con người vào hố diệt vong. Đó là những dục vọng xấu xa thời đại.

“Đối diện với tình huống này chúng ta có thể làm được gì ? Các phương tiện truyền thông, đời sống chứng tá cá nhân, khả năng đối thoại, khả năng lắng nghe và đưa ra đề nghị – là tất cả những phương tiện để truyền bá nền văn hóa sự sống.” (VietCatholic 7/3/ 2001). Muốn làm chứng, đối thoại và lắng nghe, trước tiên phải sám hối. Có sám hối mới thấy rõ TC. “Người không phải là TC của kẻ chết, nhưng là TC của kẻ sống” (Lc 20:38) Chống lại sự sống chính là chống lại TC. Vì TC đã xác quyết “Ta là Đấng Hiện Hữu.” (Xh 3:14) Đó là nền tảng vững chắc nhất cho niềm tin: trở lại với Thiên Chúa là tìm về nguồn sống đích thực và sung mãn. Thực tế, "sự sống sẽ chiến thắng: Đây là niềm hy vọng chắc chắn của chúng ta. Vâng, Sự sống sẽ chiến thắng bởi vì sự thật, điều tốt lành, niềm vui và sự tiến bộ thực sự đứng về phía sự sống. TC, Đấng yêu sự sống và ban phát sự sống cách quảng đại, đứng về phía sự sống." (Gioan Phaolô II, VietCatholic 7/3/2001)

Tóm lại, trong một thế giới bị văn hóa sự chết đầu độc, con đường duy nhất để cứu vãn nhân loại đó là sám hối. Nói khác, sám hối là đường dẫn đến sự sống, sự sống đích thực trong Đức Giêsu Kitô !


Fr Jude Siciliano, OP.

Bác Thợ Làm Vườn Biến Hóa

Thưa Qúi vị.

Bài đọc hôm nay trích từ Tin mừng thánh Luca về cuộc hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem (9,51). Câu chuyện xảy ra vào khoảng giữa cuộc hành trình ấy. Phần mở đầu mô tả Đức Giêsu quay mặt về hướng Giêrusalem. Phần tiếp theo là biến cố xảy ra trên đường vào thành thánh. Trước đó Đức Giêsu loan báo một khủng hoảng lớn sắp xảy ra và Ngài kêu gọi lòng ăn năn sám hối trở về với Thiên Chúa.

Câu chuyện bắt đầu bằng hai sự kiện lạnh xương sống. Sự kiện thứ nhất là việc Philatô sát hại dã man mấy người Galilêa khi họ đang dâng lễ tòan thiêu ở Giêrusalem. Xin hãy mường tượng tới giọng nói đầy khiêu khích của người kể chuyện lại cho Đức Giêsu (Đây có lẽ là một cái bẫy giống như câu hỏi nộp thuế cho Caesar. Họ muốn Đức Giêsu nói điều chi chống lại Pilatô và những quân lính người La mã). Sự kiện thứ hai là tại nạn gây chết chóc. Tháp Silôê vừa tự dưng đổ xuống giết chết 18 người. Những biến cố này gợi lên trong đầu óc người ta những câu hỏi mà hầu hết chúng ta cũng muốn hỏi khi nghe tin ai đó vô tội mà lại phải gánh chịu những tai họa khôn lường : “Tại sao họ phải chịu đau khổ đến thế ? Cái gì đã làm cho họ gặp những tai ương này ?”.

Những tai họa của ngày hôm nay cũng đầy dẫy và chúng cũng gợi lên trong thâm tâm nhậy cảm những câu hỏi tương tự. Động đất ở An Độ giết chết hàng ngàn người, hàng trăm ngàn người khác không còn nhà cửa. Ở Salvador mới đây hàng loạt những đợt động đất mạnh san bằng nhiều thành phố, làng mạc, giết chết cả chục ngàn sinh mạng. Còn lại ngôi trường các trẻ em đang học cũng bị sụp đổ xóa sổ các em khỏi mặt đất. Một tài xế người Palestin tự ý đâm chiếc xe vận tải vào đám đông đang chờ xe buýt, giết chết tại chỗ 8 sinh mạng. Quân lính Israel hạ sát một viên chức Palestin ngay trên đường phố. Khi tôi ngồi viết bài suy gẫm này thì những tại họa vẫn không ngừng xẩy ra trên khắp hành tinh chúng ta.

Cứ theo như quan niệm phổ thông, thì từ xưa đến nay thiên hạ vẫn coi các tai họa loại này là hình phạt Thiên Chúa gởi tới. Nhưng Đức Giêsu không nghĩ thế. Ngài cảnh cáo : “Nếu các ông không sám hối thì tất cả các ông đều chết y như vậy”. Ngài có ý muốn nói gì ?

Thứ nhất : Ngài chống lại thành kiến coi bệnh tật, nghèo đói, qủi ám, câm điếc là kết qủa của tội lỗi người ta đã phạm. Ngay cả ngày nay, tư tưởng như thế vẫn còn. Người nghèo đói, bất hạnh, ăn xin vẫn phải chịu đựng nỗi nhục bị khinh rẻ, sống ngoài lề xã hội, làng mạc, thị thành. Họ vẫn bị gán cho tiếng xấu, lười biếng, ít tham vọng, không cố gắng vươn lên, vượt khó, an phận thủ thường hay hạ đẳng về trí tuệ, màu da… Liên kết với não trạng này là khuynh hướng coi thường kẻ ăn người ở trong nhà. Ngay cả chính vợ con hay những người sống phụ thuộc mình như ông bà, cháu chắt. Nếu tiếp tục suy nghĩ như vậy, thì người nghèo đói, bất hạnh không những phải kéo lê mãi mãi cuộc sống khó khăn mà còn vĩnh viễn chịu cái ô nhục là nạn nhân của số phận “đáng kiếp”.

Thứ hai : sau khi đã phủ nhận sự liện hệ giữa các tai họa và tội lỗi, Ngài đưa ra tính đích thực của tội là không sinh hoa kết qủa như Thiên Chúa hằng trông đợi. Chúa “trồng” chúng ta trên trái đất này, ở trong Hội Thánh này, là chúng ta có trách nhiệm phải mang lại hoa trái. Nếu không là tội của chúng ta. Cây vả là biểu tượng của mỗi người tín hữu hôm nay. Chúa kêu gọi chúng ta làm môn đệ là chúng ta có bổn phận làm việc cho Chúa trong hoàn cảnh gia đình, xã hội mà mình đang sống. Dĩ nhiên, chúng ta không luôn luôn mang lại hoa trái như Chúa muốn. Nhưng nhiều môn đệ chẳng bao giờ sinh hoa kết trái, bởi vì họ hoàn toàn ích kỷ, theo đuổi những mục tiêu riêng của mình. Thế thì đối với tất cả chúng ta mùa chay này được Chúa ban thêm thời gian và cơ hội để làm lại cuộc đời, đổi thay lối sống. Không phải vô tình bài đọc tin mừng Chúa nhật này được nối kết với ơn Chúa kêu gọi Môsê thực thi chương trình Chúa giải phóng dân Israel khỏi kiếp nô lệ Ai cập.

Hội thánh chọn ba bài đọc hôm nay để cho chúng ta hay Chúa luôn luôn có ý định giải phóng loài người khỏi vòng nô lệ tội lỗi và Ngài luôn luôn đi bước trước trong tiến trình đó. Ngài không bao giờ rút tay lại, nhưng luôn giơ tay giúp đỡ chúng ta ở bất cứ thời điểm nào, thế hệ nào. Ngõ hầu chúng ta luôn được tự do mà mang lại hoa trái.

Tiếng của người thợ làm vườn là tiếng của lòng thương xót. Cây vả cần thêm thời gian để có thể sản xuất. Nhưng cây vả không thể tự thân sản xuất. Người làm vườn phải bón thêm phân,tưới thêm nước để cây vả sản xuất hoa màu. Ở điểm này tư tưởng chủ yếu của bài Tin mừng được lộ rõ. Dụ ngôn không phải hướng về quá khứ, nhưng hướng về tương lai. Nếu như mùa chay này chúng ta muốn thay đổi nếp sống cũ, hay muốn phó thác mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn vào bàn tay Chúa dẫn dắt, thì nhất định chúng ta cần đến ơn Chúa trợ giúp. Chúng ta không thể tự làm một mình. Cũng như cây vả không thể tự thân sản xuất. Tính kiêu ngạo của loài người đã từng lập bàn thờ, thờ thần tự do, thần độc lập, không thèm cậy dựa vào ai hết, kể cả Thiên Chúa. Chúng ta tưởng dồn hết mọi nỗ lực nghiến răng, mím lợi trong mùa chay này để đổi thay cuộc đời. Chúng ta bỏ thuốc lá, bỏ TV, bỏ rượu chè, bài bạc là chúng ta sẽ thành công. Không đâu. Chúng ta lầm to. Công việc đầu tiên là của người làm vườn, bước đầu tiên để thay đổi tình thế cũng là của người làm vườn. Chúng ta cần Chúa giúp đỡ mới có thể sinh hoa kết trái. Vây chúng ta đang ở giữa mùa chay, dụ ngôn của Tin mừng nhắc nhớ chúng ta Chúa rất nhân từ, Ngài luôn ở bên cạnh để chúng ta có thể đổi thay thành công.

Mùa chay là ân huệ của thời gian, của ý thức cao độ về thân phận loài người. Mùa Hội Thánh kêu mời chúng ta chăm lo đời sống thiêng liêng. Thảm họa của những người Galilêa bất hạnh và những nạn nhân của tháp Silôê nhắc nhớ chúng ta lưu ý đến tính đột xuất của cái chết mỗi người. Chúng ta tỏ lòng thương xót mỗi khi nghe bạn bè, thân thích rơi vào những thảm họa tương tự hay vào bệnh tật, tai nạn bất thường. Chúng ta phải luôn cảnh giác cho chính cuộc đời mình và bày tỏ lòng cảm tạ Thiên Chúa về sự bình an Ngài ban. Hoặc nếu chúng ta lại là người gánh chịu những tai họa đó, chúng ta sẽ đưa ra muôn vàn chữ “nếu”… Vì vậy câu chuyện tin mừng hôm nay thức tỉnh lương tâm mỗi người phải biết làm điều gì đó hữu dụng khi chúng ta còn thời gian.

Xin đừng áp dụng dụ ngôn này một cách bừa bãi, kẻo làm hại thanh danh ai đó. Nhưng nên lưu ý, cây vả chẳng thể tự mình sinh hoa trái. Nó cần đến người làm vườn. Trong thánh lễ hôm nay, có rất nhiều anh chị em chúng ta cùng dâng lễ, chúng ta không cô độc. Chúng ta làm thành một cộng đoàn đức tin, nâng đỡ khích lệ nhau trong phụng vụ và trong lời cầu nguyện. Bác thợ làm vườn biến hóa trong nhiều hình dạng. Lời của bác hướng dẫn và ban sức mạnh cho chúng ta. Thiên Chúa luôn luôn về phe với chúng ta. Ngài luôn luôn ban ơn trợ giúp và khuyến khích mọi người đổi mới cuộc đời. Ngõ hầu trong mùa chay này đời sống thiêng liêng mỗi người thêm phong phú và sinh hoa kết trái thực sự trước mặt Giáo hội và thế gian. Amen.


Fr Jude Siciliano.OP

CƠ HỘI SINH HOA TRÁI

Thưa quí vị,

Phải chăng chúng ta đang đứng trên một mảnh đất không chân ? Những người sống trong các thành phố ở miền tây nước Mỹ thường đặt câu hỏi như thế. Bởi họ luôn sợ xảy ra động đất. Họ đã phải chịu đựng nhiều trận đất rung khốc liệt, thiệt mạng hàng chục ngàn người, thiệt hại hàng nhiều tỉ đôla. Cho nên chính quyền tiểu bang và các thành phố đã ban hành nhiều quy định nghiêm ngặt về xây cất, ngõ hầu bảo vệ công dân của mình và hạn chế tối đa các thiệt hại. Bản vẽ nhà cửa, cầu đường, dinh thự, văn phòng phải được trình lên hội đồng thành phố xét duyệt trước khi thi công. Các lâu đài cổ, kiến trúc lịch sư’, phải được gia cố vững vàng để có thể chịu đựng những cơn động đất lớn. Chẳng ai muốn mình là con cờ thí của các công trình kém chất lượng.

Bài đọc 2 chúa nhật hôm nay cũng cảnh cáo tín hữu về hoàn cảnh tương tự, về đời sống siêu nhiên. Thánh Phaolô viết : “Những sự việc này xảy ra cho họ để làm bài học, và đã được chép lại để răn dạy chúng ta, là những kẻ đang sống trong thời sau hết này. Bởi vậy ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã”. Chắc chắn Ngài không phải là người kiểm tra nhà cửa ở California để đưa ra lời cảnh cáo, vấn đề Ngài quan tâm sâu xa hơn nhiều. Ngài khuyên nhủ các tín hữu coi lại nền tảng đời sống mình, nói cách khác, sức khoẻ tinh thần của một cuộc sống mỗi người. Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, như thuở xưa dân Israel khỏi kiếp lầm than ở Ai Cập. Tuy nhiên, tước vị làm con cái Thiên Chúa không có nghĩa chúng ta đã vững chắc về phần thiêng liêng tức sống trong ân nghĩa với Ngài. Chúng ta còn nhiều nguy hiểm, mà thánh Phaolô gọi là sống bên bờ vực thẳm trần gian. Chúng ta coi chừng kẻo ngã. Chẳng ai có thể tự phụ về con người mỏng giòn của mình. Như công dân tiểu bang California bên Hoa Kỳ, xét về phần thiêng liêng, đều đứng trên mảnh đất không có nền tảng.

Cho nên, thánh Phaolô nêu gương dân tộc Do Thái được Thiên Chúa bảo vệ trên con đường sa mạc trở về đất hứa. Họ đã được nâng niu như gà mẹ săn sóc đàn con, vậy mà nhiều lần họ đã vấp ngã, nổi loạn chống Môsê, chống Thiên Chúa. Chúng ta ngày nay cũng được những ân huệ tương tự, liệu chúng ta có tránh khỏi vết xe của họ,mà luôn trung thành với Thiên Chúa ? Để làm cho vấn đề sáng tỏ hơn, thánh Phaolô đưa ra một so sánh rõ ràng: Trong hoang địa dân Do Thái được nuôi dưỡng bằng thịt chim cút, bánh manna. Ngày nay chúng ta có Thánh Thể, lương thực còn bền vững, cao quý hơn manna gấp nhiều lần. Tuyển dân được kết hiệp với Môsê làm thành dân riêng Chúa chọn dưới sự hướng dẫn của Môsê (nguyên văn: Tất cả cùng được chịu phép rửa dưới đám mây, và trong lòng biển, để đi theo ông Môsê).

Qua bí tích rửa tội, chúng ta cũng được tháp nhập vào thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô. Tuyển dân được uống nước thoả thuê từ tảng đá. Chúng ta cũng được no thoả từ Máu Thánh Chúa, nguồn phát sinh nước hằng sống trên hành trình trần gian. Thánh nhân còn cho biết thêm những lời cằn nhằn của tuyển dân và các hình phạt nặng nề của Thiên Chúa là lời cảnh báo chúng ta phải lắng nghe. Bởi lẽ chúng ta cũng thường có khuynh hướng như vậy: Tự mãn, tự phụ, tưởng mình vững chắc trước tôn nhan Thiên Chúa, đứng trên đá tảng muôn đời thánh thiện là Đức Giêsu Kitô. Thực tế,không phải vậy, tính mỏng giòn của thân phận làm người chẳng bảo đảm cho ai như thế cả.

Chính thánh Phaolô đã nhiều lần muốn trở nên kẻ canh chừng cho chúng ta, Ngài muốn thức tỉnh chúng ta khỏi thói xấu tự mãn trong đức tin, xa tránh những thái độ khoa trương, đạo đức vô lối và giả tạo. Đức Phaolô VI ngày 4/7/1965 đã nói với các thiếu nữ trong phong trào công giáo tiến hành địa phận Fiesole như sau: “Thế giới bây giờ đầy rẫy lòng tự phụ… họ muốn thoát khỏi mọi hạn chế, trách nhiệm, vâng phục để sống đời tự do vô trách nhiệm, ích kỷ, tham lam, buông thả và nông nổi. Chúng con phải hành động ngược lại, dấn thân trung thành, an vui, hy sinh, hoàn thành mọi nhiệm vụ bằng tình yêu và sức mạnh trong ơn Chúa Thánh Thần”. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để chúng ta suy gẫm và thực hiện sứ điệp của các vị, chúng ta cần trở lại với ơn Thiên Chúa, chấp nhận tính mỏng giòn của mình và khiêm nhường xin Chúa tha thứ, cảnh giác các sai phạm tương lai. Khi biết hồi tỉnh chúng ta sẽ nhận ra thực sự là trên dương gian , chẳng có chỗ đứng nào vững chắc ngoài lòng ký thác vào tình Chúa thương yêu. Đức Kitô là gương mẫu để chúng ta rập khuôn sống kết hiệp với Ngài.

Những biến cố gần đây: Thiên tai, dịch hoạ, chiến tranh, khủng bố, nhất là những thảm hoạ giết chết hàng trăm, hàng ngàn sinh mạng, làm cho nhiều tín hữu ngỡ ngàng, bối rối và thất vọng. Tại sao người vô tội lại phải quằn quại trong những chế độ độc tài tàn bạo? Tại sao hàng ngàn trẻ em phải thiệt mạng trong những trận xô sát tôn giáo, chủng tộc? Tại sao các dân làng vô tội đang sống yên lành hai bên biên giới Irắc, Iran lại phải hy sinh tính mạng vì những quả bom trên các toa xe lửa chạy qua? Hàng trăm vấn nạn khác tương tự làm chúng ta phải kêu lên: “Họ đã làm gì nên tội?”

Thời Chúa Giêsu, dân chúng đã có những quan niệm khác với Chúa về những thảm hoạ xảy ra cho họ. Những quan niệm phổ thông này là nền tảng cho câu chuyện Phúc Âm hôm nay. Hai biến cố tàn khốc vừa xảy ra tại Giêrusalem và người ta đã báo cho Chúa Giêsu biết. Biến cố thứ nhất, toàn quyền Philatô giết mấy người Galilêa làm cho máu họ hoà lẫn với của lễ họ đang hiến dâng. Biến cố thứ hai, tháp Siloê cao ngất ngưởng bỗng dưng đổ xuống giết hại 18 người. Trong biến cố thứ nhất, rõ ràng cấp lãnh đạo Do Thái uất ức, tức tối vì hành động bạo tàn của quân cướp nước đối với đồng bào mình. Họ cảm thông nỗi đau buồn mất mát với nạn nhân và gia đình nạn nhân. Nhưng họ cũng tin rằng những nạn nhân đó đã phạm tội gì ghê gớm, khiến Thiên Chúa nổi giận mà trừng phạt. Nói chung não trạng lúc ấy khi thấy việc bất hạnh xảy ra cho ai, thiên hạ thường nghĩ xấu về đương sự. Giống như chúng ta ngày nay, khi không gặp hoạn nạn, chúng ta cho mình là người ngay chính, được Thiên Chúa chúc phúc, và khi được may mắn chúng ta cho là Thiên Chúa mỉm cười với mình và cảm thấy an toàn.

Đức Kitô thấy rõ lối suy nghĩ bết bát này của những thính giả mau miệng báo cho Ngài hay sự kiện. Ngài lập tức lay họ dậy khỏi cơn mê ngủ tự mãn: “Các ông tưởng mấy người Galilêa này chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilêa khác sao? Tôi nói cho các ông biết không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết như vậy”. Thì ra, tai hoạ chưa chắc đã là hình phạt riêng cho nạn nhân, nó mang ý nghĩa sâu hơn, hình phạt cho loài người phản loạn. Ngài còn thêm: “Cũng như 18 người kia bị tháp Silôê đổ xuống mà đè chết, các ông tưởng họ là những kẻ mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy”. Cho nên hình phạt nặng nề, kể cả cái chết, là số phận chung của nhân loại, không trừ một ai.

Những điển tích Chúa nêu ra là lời cảnh báo cho mọi người, nhất là những não trạng Pharisêu. Tai hoạ có thể xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ cho ai, bất cứ lúc nào, vì hết thảy đều là tội nhân, xứng đáng lãnh nhận những khung hình phạt đó. Chúa muốn chúng ta sử dụng những bất hạnh để cảnh tỉnh, xét lại nếp sống của mình. Thật là lời giáo huấn tuyệt vời cho mọi linh hồn vào Mùa Chay hồng phúc này. Một đời sống giàu có đầy đủ mọi sự, chưa hẳn đã là đời sống tốt, được Thiên Chúa chúc lành. Nó có thể chỉ là no đầy giả tạo, bên dưới là căn bản rỗng tuếch, một vị trí vững chắc, quyền cao chức trọng có thể là đang đứng trên cái bàn mục chân. Cho nên công thức ngày thứ tư Lễ Tro nhắc chúng ta: “Con hãy nhớ con chỉ là tro bụi, con sẽ trở về với bụi tro”. Cuộc đời, dù thừơng hằng thế nào, cũng có nhiều bất trắc. Cho nên Lời Chúa nói với những thính giả hôm nay đúng là cảnh báo cực kỳ nghiêm khắc cho các tín hữu mọi nơi, mọi thời. Họ phải luôn chuẩn bị cho các tình huống xấu xảy đến cho mình, xa tránh tội lỗi, ăn năn hối cải và đừng để bị bất chợt khi Thiên Chúa viếng thăm.

Dụ ngôn thứ hai trong Phúc Âm hôm nay có cùng nội dung như bài trích thư thánh Phaolô gởi tín hữu Côrintô. Chủ vườn đã thêm cho cây vả một năm. Cứ theo lệ thường thì cây vả trồng ba năm phải sinh hoa kết trái cho ông chủ. Ba năm không sinh hoa lợi thì phải bị chặt đi và nhường chỗ cho cây khác. Để vậy chỉ tốn không gian, tốn đất và làm mất mục tiêu của chủ vườn. Trồng trọt là mong thu hoa lợi. Trong dụ ngôn rõ ràng là cây vả vô tích sư, nhưng người làm công xin chủ cho nó một năm ngoại lệ. Đây là một ân huệ, một lòng thương xót bất thường, làm ngạc nhiên các môn đệ Chúa Giêsu. Tuy nhiên cây vả vẫn phải đơm hoa kết trái theo kỳ hạn. Xin lưu ý, tự mình cây vả không thể tiến triển, phải cần đến sự chăm sóc của người làm công. Ông sẽ bón thêm phân, tưới thêm nước, mới mong cây vả mang hoa trái.

Mùa Chay đối với linh hồn tín hữu cũng giống như một năm ngoại lệ cho cây vả. Đổi thay, hối cải vẫn là điều cần thiết cho mỗi chúng ta, thời gian vẫn có kỳ hạn, không thể kéo dài mãi mãi. Chẳng có ông chủ vườn nào ngây ngô đến nỗi nuôi dưỡng mãi mãi cây vả vô tích sự. Ông chỉ nhân nhượng cho nó một vài cơ hội mà thôi. Thiên Chúa cũng thương ban cho chúng ta những kỳ những hạn, cùng với sự săn sóc của các sứ giả Ngài. Ngài ban ơn để chúng ta ăn năn hối cải, thay đổi nếp sống, thực hiện những công việc bác ái đích thực, đẹp lòng Ngài. Theo tinh thần của bài Phúc Âm, mùa này không phải là mùa nuôi dưỡng mà là mùa gặt hái, gặt hái những hoa trái của lòng ăn năn thống hối. Thiên Chúa đã thêm cho chúng ta một dịp ngoại lệ, một cơ hội thay đổi cuộc sống. Chúng ta có trách nhiệm đáp trả và Ngài sẽ thương giải phóng.

Bài đọc 1 cho chúng ta hay Chúa khởi sự công việc cứu chữa tuyển dân khỏi kiếp nô lệ Ai Cập bằng ơn gọi Mosê. Ngài cũng sẽ cứu chữa chúng ta bằng tiến trình khổ nạn của Chúa Giêsu trong mùa Chay này. Thật cảm động khi nhìn lại cuộc giải thoát nhân loại khỏi vòng tội khiên của Chúa Giêsu. Nó đau xót hơn cuộc vượt qua của Môsê nhiều lần. Cho nên trong mùa Chay này, hãy nhìn vào bí tích Thánh Thể, để chiêm ngắm sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc giải phóng mỗi linh hồn khỏi vòng tội luỵ, và nhận ra rằng chính Ngài mới có quyền năng giúp đỡ chúng ta đứng vững trong ơn thánh của Ngài, tại nơi đây, giáo xứ thân yêu. Xin Chúa cho mỗi giáo dân tràn đầy ơn thống hối ăn năn, xây dựng giáo xư, ngày một tốt đẹp hơn trong tình thương yêu bác ái, hoa quả của nếp sống thánh thiện. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op

Thời Gian Của Người Làm Vườn

Mọi người đều là tội nhân

Đối với Đức Giêsu, cái chết thảm khốc không phải là một sự trừng phạt của Thiên Chúa. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu sử dụng hai biến cố bi thảm xảy ra vào thời gian ấy để cho biết rằng tất cả mọi người đều là tội nhân, và những người lâm nạn trong các biến cố này không hẳn là những người tội lỗi hơn những người khác. Tất cả mọi người đều là tội nhân, nên tất cả cùng được kêu mời sám hối. Đó là câu kết luận Đức Giêsu muốn nêu lên với đám thính giả khi đưa ra lời đe doạ : họ sẽ bị tiêu diệt nếu họ không sám hối. Các tai nạn : những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết chết, những người bị tháp Silôa đè, chính là những lời Thiên Chúa cảnh cáo. Ai đang mắc nợ mà không thực thi lời kêu mời này, sẽ không được Vị Thẩm Phán đoái thương.

Lời đe dọa trên còn được nhắc lại trong dụ ngôn cây vả không sinh trái. Tuy nhiên, ở phần cuối bài Tin Mừng, tác giả cho biết Thiên Chúa nhân từ vẫn muốn kéo dài thời gian, cho dù cây vả dường như vẫn không sinh trái. Người ta còn có thể chờ đợi gì nơi một cây đã lâu lắm rồi không đơm bông kết trái? Đức Giêsu chính là người làm vườn làm liên tưởng đến Chúa Cha.

Như vậy, đoạn Tin Mừng hôm nay gồm ba ý tưởng nối kết với nhau : tất cả mọi người đều là tội nhân ; tình trạng tội lỗi gợi lên một lời đe dọa, đồng thời một lời kêu gọi hãy mau sám hối ; Thiên Chúa còn muốn kéo dài thời gian. Do đó, mỗi người đều được kêu mời hãy sám hối, tức là sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Điều chắc chắn nhất

Nhân loại dường như vẫn bị bao vây bởi những điều phi lý. Vẫn có những cái chết ''lãng xẹt'', những tai nạn ''vô duyên''. Tuy nhiên, vào thời Đức Giêsu cũng như các thời khác, các biến cố thời sự vẫn là những cửa ngõ dẫn đến đức tin. Liệu rằng người ta có thể khám phá ra điều này trong các biến cố ?

Tổng trấn Philatô sát hại những người Galilê đang khi họ tiến dâng của lễ. Đáng lý ra, họ phải được Thiên Chúa che chở ?

Tháp Silôa bỗng dưng sập xuống và đè chết nhiều người. Thật là một tai nạn vô duyên đối với những người tình cờ đi ngang qua đó. Họ chết mà chẳng có lý do rõ ràng!

Vậy, cái chết dường như chẳng có lý do. Và không ai có thể thoát khỏi điều vô lý ấy. Về phần mình, Đức Giêsu không tìm cách giải thích sự kiện, cũng không muốn biện minh cho Thiên Chúa : ''Nếu chúng tôi có mặt ở đó, sự việc đã không xảy ra ...''

Người chỉ nói : ''Nếu các ông không sám hối, các ông cũng sẽ chết như vậy”. Thế ra cái chết vẫn có thể đến bất thình lình, và chẳng bao giờ đến cùng một cách. Câu nói của Đức Giêsu quả là khác thường, bởi vì biết bao người sau khi sám hối, biết bao vị thánh, đã chết cách ''thê thảm'' như bao người khác. Nhìn bề ngoài, sự phi lý trong trần gian là một thất bại nào đó, nhưng phải chăng tự nó cuộc sống lại không có ý nghĩa rồi sao ?

Nhìn một cách nào đó, con người cũng không khác những thụ tạo khác (thú vật, cây cối). Tuy nhiên, họ khác một điều : họ biết sắp xếp và sử dụng thời giờ của mình. Thiên Chúa cho họ có thời gian để tự xây dựng, để sinh hoa kết trái. Thời gian ngắn hay dài ? Điều đó họ không biết, cho nên họ phải bắt tay vào việc ngay tức thì.

Trong một thế giới đầy những phi lý, chỉ có lời mời gọi của Đức Ki-tô cũng như lời đáp trả của con người mới là những điều quan trọng nhất và chắc chắn nhất.

Đừng lạm dụng lòng kiên nhẫn

Cây vả đã lâu năm không sinh trái. Ông chủ có lý do để nói với người làm vườn : chặt nó đi. Nhưng Hội Thánh (người làm vườn) hiểu rõ Thiên Chúa (ông chủ vườn), nên Hội Thánh năn nỉ : ''Xin cứ để lại ... may ra nó có trái.'' Điều ''may ra'' này làm Thiên Chúa do dự. Hội Thánh hiểu rõ Thiên Chúa và lòng kiên nhẫn của Người.

Đó là vị Thiên Chúa chấp nhận cuộc mặc cả của tổ phụ Ápraham để cứu thành Xơđom và Gomôra : ''Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa !'' (St 18, 27). Và Thiên Chúa đã ưng thuận ...

Trong một đoạn Kinh Thánh khác, cũng vị Thiên Chúa đó muốn hủy diệt thành Ninivê. Nhưng ông Giona lại không mau mắn đi thông báo tai họa ấy. Ông nại cớ : Đức Chúa là ''Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, thường bỏ ý định giáng phạt'' (Gn 4,2).

Đó là vị Thiên Chúa bằng lòng kéo dài thêm thời gian cho người đầy tớ đang phủ phục dưới chân, lại còn tha cho anh không phải trả nợ, một món nợ kếch sù (Mt 18,26-27).

Hội Thánh luôn giữ vững niềm hy vọng vượt trên mọi hy vọng. Chính vì thế, vào đầu thế kỷ thứ III, ông Ôrigiênê, vị giáo sư lừng danh người Ai-cập đã dạy rằng : Không được coi bất cứ một sa ngã nào là chung cuộc. Cuối cùng, cả thần dữ cũng trở về với Thiên Chúa ? (tại sao lại không nhỉ ?)

Cũng chính vì thế, thánh nữ Mônica đã kiên nhẫn đợi chờ Thiên Chúa xoay chuyển tâm hồn người con tội lỗi của mình là Âu Tinh. ''Thời của Hôi Thánh'', đó là thời gian gia hạn, đó là thời ''tôi sẽ vun xới chung quanh và bón phân cho nó ...''

Cộng đoàn Kitô giáo chính là cộng đoàn của những người làm vườn. Làm gì cho thời đại khó khăn này : ''tưới thêm một chút''. Làm gì cho những người không muốn tin : ''nhặt bớt đi một cục đá''. Làm gì cho những kẻ tưởng rằng mình đã tin : ''bón thêm chút phân''. Và một lúc nào đó, bất thình lình : một bông hoa, một kết quả không ngờ.

Tuy nhiên, cần phải biết nhanh lên, lòng kiên nhẫn không thể chờ đợi thêm nữa. Hãy nhìn tất cả những tai họa đang xảy ra chung quanh bạn. Tất cả những người ấy không tội lỗi nhiều hơn hay ít hơn bạn. Bạn đã có thể ở vào vị trí của họ. Đừng chậm trễ sinh những quả tốt. Hãy hướng về Thiên Chúa nhân lành, Đấng cho bạn còn có thời giờ để sám hối ...

Nhanh chân lên

Mỗi người chúng ta giống như cây vả đã bao năm không sinh trái, đã tỏ ra nhiều bằng chứng về sự cằn cỗi của mình. Còn Thiên Chúa tựa như người làm vườn, vẫn kiên nhẫn đợi chờ và muốn cho cây vả có thêm thời giờ.

Năm hồng ân. Đó là sứ mạng của Đức Giêsu khi đến trần gian. Đó là thời của Hội Thánh trước khi Chúa trở lại. Đó là thời của chúng ta được nhấn mạnh với Mùa Chay.

Lòng kiên nhẫn lạ lùng của Thiên Chúa được biểu lộ qua Đức Giêsu, lòng kiên nhẫn vượt quá mọi lý lẽ : điều ấy thôi thúc chúng ta phải nhanh chân lên. Thời gian để sám hối vẫn còn, chưa phải là trễ Chúng ta có thể bắt đầu ngay hôm nay ?

* * *

Ôi tình thương vĩnh cửu,
tình thương phủ lấp mọi lỗi lầm của thụ tạo,
tình thương phát xuất từ thần tính là Cha Vĩnh Cửu.

Chúa dùng quyền năng mà điều khiển vũ trụ :
chúng con đã được dựng nên nhờ tình thương của Chúa
và chúng con được tái tạo cũng nhờ tình thương.

Tình thương Chúa gìn giữ chúng con,
tình thương Chúa là sự sống,
tình thương Chúa trao ban ánh sáng
giúp chúng con nhận ra
lòng nhân từ Chúa dành cho mọi thụ tạo,
cho cả người công chính lẫn tội nhân.

(theo thánh Catarina Sienna)


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Hãy sám hối
(Lc 13,1-9)

Chúng ta đang sống trong Mùa Chay là mùa nhắc nhở, kêu gọi ăn năn sám hối và sửa đổi đời sống, vì thế, bài Tin Mừng hôm nay cũng nằm trong ý hướng đó, gồm hai câu chuyện thời sự và một dụ ngôn. Chúa Giê-su đã dùng hai mẩu thời sự này để dạy bài học phải khẩn trương sám hối, rồi Chúa kể dụ ngôn cây vả để củng cố bài học đó.

Hai câu chuyện thời sự : người ta kể cho Chúa câu chuyện mới xảy ra tại Giê-ru-sa-lem : một nhóm người xứ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem tế lễ đã bị tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh tàn sát ngay lúc họ đang dâng của lễ. Có lẽ đây là một nhóm người quá khích tranh đấu cho một nước Do Thái độc lập, thoát ách ngoại bang Rô-ma bằng phong trào “cứu thế” chống đế quốc ngay tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Vì tổng trấn có trách nhiệm với Rô-ma nên đã thẳng tay tiêu diệt nhóm nổi loạn, ông ra lệnh sát hại họ và lấy máu của họ hòa trộn với máu các con vật được dùng làm của lễ rồi đem tế thần.

Khi nghe câu chuyện này, Chúa Giê-su hiểu ý của người Do Thái muốn nói gì với Chúa, họ muốn Chúa đồng tình với họ để phản đối Phi-la-tô và chính quyền đế quốc. Nhưng Chúa không làm như vậy, Ngài đã dựa vào quan điểm thông thường của dân chúng để đưa ra suy nghĩ của Ngài về biến cố này. Thông thường người ta cho rằng : những người bị chết thảm thương như thế là những người có tội nặng bị Thiên Chúa trừng phạt. Chúa mời gọi người ta thay đổi lối nhìn đó : đừng nghĩ họ là những người tội lỗi nhất, đừng làm khách bàng quan mà bình luận về biến cố ấy, nhưng hãy nghĩ về bản thân mình, vì mình cũng là những người tội lỗi, vậy hãy lo mà ăn năn sám hối.

Rồi nhân câu chuyện này, Chúa nhắc tới một câu chuyện thời sự khác mà chắc là những người nghe Ngài đều đã biết, đó là vụ 18 người bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết. Chúa bảo những người đó không phải là những người tội lỗi nhất trong thành Giê-ru-sa-lem, rồi Chúa bảo những người đang nghe Ngài : nếu các ông không ăn năn sám hối thì các ông cũng sẽ chết y như vậy. Chúng ta thấy câu chuyện này cũng được trình bày theo cùng một sơ đồ như câu chuyện trước, và cũng kết luận giống y như nhau. Quan niệm của Do Thái cho rằng : có tội là có hình phạt, Thiên Chúa phạt người có tội để ngăn ngừa kẻ lành. Chúa Giê-su đã sửa sai quan niệm này, tất nhiên Chúa không chối có thể có một tương quan giữa tội lỗi và hình phạt, có thể Thiên Chúa phạt kẻ dữ ngay ở đời này, nhưng không phải luôn luôn như thế, bởi vì những điều dữ xảy đến không nhất thiết là hình phạt mà còn có thể là phần thưởng, một thử thách có lợi, một dịp để tinh luyện nết xấu và tăng cường nhân đức. Tóm lại, Chúa Giê-su đã dùng hai mẩu thời sự này để mời gọi mọi người hãy lo sám hối.

Sau đó, Chúa kể dụ ngôn cây vả. Chúng ta biết cây vả là một loại cây ăn trái rất phổ thông tại thánh địa như cây chuối ở nước ta. Cây vả dễ trồng và mau có trái, người ta trồng nó ở bất cứ một góc đất trống nào, nhất là trong vườn nho; trái vả tương tự trái sung, nhưng to hơn và ngon hơn, ăn ngọt và dùng làm bánh ga-tô. Kinh Thánh thường dùng cây vả để ám chỉ về dân Do Thái. Trong dụ ngôn này Chúa Giê-su dùng hình ảnh cây vả để khích lệ người Do Thái ăn năn hối cải. Họ được ví như cây vả lâu ngày không sinh trái, nên Thiên Chúa định chặt đi, nhưng người làm vườn là Chúa Giê-su xin khất một hạn kỳ, nhưng họ vẫn cứng lòng, cuối cùng Thiên Chúa đã ra tay. 40 năm sau lời Chúa Giê-su nói dụ ngôn này, thủ đô Giê-ru-sa-lem bị thất thủ và bị tàn phá tan hoang, còn dân Do Thái phải bị lưu đầy khắp nơi.

Đọc dụ ngôn này chúng ta thấy hai đặc tính của Thiên Chúa như trái ngược nhau : Thiên Chúa từ bi thương xót nhưng cũng công bình chính trực : Thiên Chúa công bình vì bản tính của Ngài là chân thật, Ngài không chấp nhận một điều gì sai trái, phản nghịch với bản tính của Ngài, Ngài không thể dung túng tội lỗi, Ngài không thể im lặng cho tội lỗi gia tăng, như Chúa nói : “Cây nào Cha Ta không trồng, phải chặt phứt đi”, “Cây nào không sinh hoa trái tốt lành, sẽ bị chặt quăng vào lửa”. Nhưng đồng thời Thiên Chúa từ bi hay thương xót đối với các tội nhân, Ngài kiên trì chờ đợi tội nhân đến phút chót, Ngài thông cảm tha thứ cho những yếu đuối của con người.

Qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta điều gì ? Trước hết, Chúa dạy chúng ta phải có một thái độ đúng đắn, một cái nhìn đức tin qua mọi biến cố, như tai nạn, tai họa, chiến tranh, đói kém, bệnh tật thất bại… trước những sự kiện đó, chúng ta phải hết lòng khiêm nhường tôn kính ý định của thiên Chúa, chúng ta phải vâng phục thánh ý của Ngài. Thay vì phán đoán phiếm diện vội vã rồi lên án, kết án hoặc kêu trách, phẫn nộ thì chúng ta hãy cầu xin cho chúng ta biết mở con mắt đức tin mà đọc ra bài học Chúa muốn dạy, chúng ta phải tin chắc rằng Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, Ngài không bắt chúng ta phải chịu sự khó quá đáng, Ngài không bắt chúng ta phải chịu một tai họa như thế nếu không trông được nhiều lợi ích thiêng liêng.

Thật ra có nhiều linh hồn được cứu rỗi nhờ những cái mà chúng ta cho là hình phạt, bao nhiêu người đã trở về với Chúa qua những gian nan thử thách. Chúng ta phải nắm chắc tư tưởng này là Thiên Chúa cầm cân nảy mực tất cả, một sợi tóc trên đầu rụng đi còn được Thiên Chúa biết đến, nghĩa là Thiên Chúa lo lắng cho từng chi tiết của đời chúng ta, vấn đề là chúng ta có bằng lòng để Thiên Chúa can thiệp vào từng chi tiết đời sống chúng ta hay không ? Thiên Chúa rất có thể che chở chúng ta khỏi một tai họa trong khi những người khác mắc phải, và ngược lại, có những trường hợp chỉ có một mình chúng ta gánh chịu trong khi mọi người an bình. Cho nên, điều chúng ta cần có là trao phó tất cả cho Thiên Chúa, phần chúng ta xin được chịu đựng cho nên, xin được sống đẹp lòng Chúa trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Đàng khác, mỗi người tín hữu là một cây vả Chúa trồng ở trần gian, trong một không gian, thời gian và hoàn cảnh khác nhau. Từ khi được tái sinh trong phép rửa tội cho đến khi nhắm mắt thở hơi cuối cùng, chúng ta đã nhận dược biết bao ơn lộc của Chúa, chúng ta đã lãnh nhận nhưng không thì phải cho nhưng không. Cho đi không những bằng ước muốn, bằng lời nói, mà còn bằng việc làm. Việc làm chứng minh cho tấm lòng, việc làm tốt chứng minh cho một tấm lòng tốt. Nhìn quả biết cây, cây tốt sinh trái tốt, trái cây tốt thì không bao giờ đủ cho người dùng. Cũng thế, không bao giờ Thiên Chúa lại cho rằng Ngài đã ban đủ cho chúng ta, và không bao giờ chúng ta làm đủ cho Ngài. Tình yêu không bao giờ có thể nói là đủ được. Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta làm hết mức, làm tối đa cho Ngài, ít nhất phải có tối thiểu, đó là một đời sống trong sạch, chứ đừng như cây vả không có trái, và giả như chúng ta đang trong tình trạng này thì chúng ta hãy nghe lời Chúa dạy hôm nay mà ăn năn sám hối, Thiên Chúa luôn luôn gia hạn cho chúng ta, Ngài luôn luôn chờ đợi chúng ta trở về với Ngài.

Vì thế, chúng ta hãy nhớ : chúng ta yếu đuối, nhưng Thiên Chúa không yếu đuối; chúng ta yếu đuối, nhưng tội lỗi không phải là một định mệnh, chúng ta có đủ tự do và nghị lực để thắng sự xấu nếu chúng ta biết quyết tâm phấn đấu. Đàng khác, mỗi người chúng ta đều có thể phải đối diện với Đấng phán xét bất cứ lúc nào, bởi vậy, ngày nào, giờ nào cũng mang tính khẩn trương, vì thế, chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.


Gioan Phê Ny Ngân Giang

Mùa Chay Này Dành Cho Bạn :
Hãy Sám Hối Và Đổi Đời
(Lc 13, 1-9)

“Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15). Nhận lãnh sứ mạng từ Thầy Chí Thánh, Hội thánh vẫn tiếp tục lời kêu gọi ấy với toàn thể nhân loại qua mọi thời đại. Là những Kitô hữu, lời kêu gọi ấy một cách đặc biệt dành cho chúng ta trong mùa chay này như cơ hội để sám hối và thay đổi cách sống theo tinh thần Tin Mừng.

“Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy” (Lc 13, 5). Một thực tế không mấy vui đó là ít người trong chúng ta nhận ra rằng chúng ta đều là những tội nhân. Vì thế, chúng ta cũng không thấy cần thiết phải ăn năn sám hối hay xét mình một cách nghiêm túc để mau chóng lãnh nhận bí tích Hòa giải. Thông thường, đa phần chúng ta lấy làm đắc ý và cho rằng “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”. Thế nên nếu gia đình, vợ chồng, con cái, công việc làm ăn của chúng ta được như ý, “thuận buồm xuôi gió” thì đó là do những việc tốt chúng ta đã làm, do sự “ăn ngay ở lành” của chúng ta và chúng ta đáng được hưởng như thế. Trái lại, nếu người nào gặp phải “tai bay vạ gió”, gia đình xáo trộn, con cái hư hỏng, làm ăn thua lỗ… thì chắc là họ đã sống không đẹp lòng Chúa hay đã “ăn ở thất đức” nên đáng bị trừng phạt như vậy. Nhưng liệu rằng Thiên Chúa có suy nghĩ thế chăng? Chẳng phải Người là Đấng thấu suốt mọi sự và không nhìn theo cách nhìn của con người sao? Chúng ta đừng nghĩ một ai đó không gặp rủi ro hay tai nạn nào là bởi họ vô tội và kẻ gặp nhiều bất hạnh nhất trong cuộc đời là kẻ chồng chất tội lỗi đâu! Nhưng mọi người chúng ta nếu không biết sám hối thì đều bị xét xử vì không ai là kẻ vô tội trước mặt Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh thể,

Điều Chúa cần nơi chúng con không phải là việc xét đoán người khác xem tội họ nặng nhẹ như thế nào, họ có siêng năng đi lễ không, có tích cực tham dự các giờ chầu không, có thường làm những “việc lành phúc đức” nào không… Chúa không cần chúng con là vị thẩm phán xét đoán anh em thay Chúa vì kẻ nào xét đoán thì sẽ bị xét đoán. Nhưng Chúa cần mỗi người chúng con phải tự xét lỗi và nhận ra lỗi của mình để xem chính chúng con có biết siêng năng đến với Chúa qua Thánh lễ mỗi ngày không; chúng con có sống bác ái với nhau không hay chỉ biết thờ Chúa bằng môi miệng còn hằng ngày chúng con vẫn sống bất công với người khác, vẫn đối xử với nhau một cách sòng phẳng thiếu tình người “mắt đền mắt, răng đền răng”, vẫn an tâm với những việc làm gian lận, mờ ám vì nghĩ rằng “Không có ai biết đâu mà phải sợ!” hay “Cứ làm đi rồi xưng tội thì tất cả sẽ được tha hết!”...

Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra lỗi lầm đã phạm !

Xin cho mỗi người chúng con biết nhìn rõ mình để đánh tan đi sự tự hảo giả dối của kẻ ngay lành thánh thiện trong mỗi người chúng con. Khi chúng con cho rằng mình ngoan đạo và giữ đạo Chúa thì rất có thể cũng chính lúc ấy chúng con đang sống trong sự tự mãn đầy ích kỷ mà không biết. Lạy Chúa, có lẽ đây mới là sự nguy hiểm và tinh vi vô cùng của tội lỗi đang thống trị nơi mỗi người chúng con. Nhiều khi chúng con cảm thấy rằng mình “vô tội” vì chúng con đã không phạm một tội ác nào, trong khi đó chúng con vẫn thản nhiên sống ích kỷ, chỉ lo gom góp những lợi lộc cho cá nhân, cho gia đình mình mà không màng đến lợi ích chung hay những người hàng xóm nghèo khổ, túng bấn sống quanh chúng con. Thánh Phaolô tông đồ đã từng nhắc nhở các cộng đoàn tiên khởi: “Khi người ta nói: Bình an biết bao, yên ổn biết bao! Thì lúc ấy tai họa sẽ thình lình ập xuống và sẽ chẳng có ai trốn thoát được” (1Tx 5, 3). Vì thế, điều Chúa cần nơi chúng con là sự khiêm hạ, biết kiểm điểm bản thân thường xuyên để ý thức tình trạng yếu đuối hay vấp ngã của chúng con. Chỉ có như vậy, chúng con mới thấy được chúng con cần Chúa dường nào và cảm thông biết bao trước những lỗi lầm và vấp phạm của người khác.

Lạy Chúa Giêsu Thánh thể,

Xin giúp chúng con biết dùng thời gian này để suy nghĩ về chính mình và đáp lại lời Chúa mời gọi chúng con: “Hãy sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối” (Lc 3, 8). Xin cho chúng con biết rằng sám hối không chỉ là việc quyết tâm từ bỏ điều xấu nhưng còn phải đi đôi với việc thực hành những điều tốt lành nữa. Chúa luôn cho chúng con cơ hội để khởi sự lại từ đầu “Xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó” (Lc 13, 8). Phần mình, chúng con có dám hứa với Chúa điều ấy không? Xin Chúa giúp chúng con đừng trở nên chai lì trong tội. Xin cho chúng con đừng lạm dụng lòng kiên nhẫn của Chúa mà không mau hoán cải nhưng xin giúp chúng con thức tỉnh và nhận ra rằng mùa chay này dành cho chúng con để sám hối và thay đổi cuộc đời.


Fr. Jude Siciliano, op.

THÀNH TÂM SÁM HỐI VÀ CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG,
SẼ ĐƯỢC CHÚA XÓT THƯƠNG

Lc 13, 1-9

Thưa quý vị,

Nếu như vào thời Chúa Giêsu mà có phương tiện truyền thông tiên tiến như hiện nay, hẳn khi nghe về các biến cố được thuật lại trong Tin Mừng, người ta sẽ nhanh chóng phổ biến thành tin quan trọng đầu ngày. Tin thứ nhất, người ta sẽ ầm lên cho bạn bè thân quen: “Có nghe thấy chi vừa xảy ra không?” Tin thứ 2 sẽ truyền qua điện tử, internet, thư thoại: “Trời đất ơi, ghê gớm quá, lạy Chúa!” Số là 18 người bị tháp Silôê đổ xuống đè chết một lúc. Philatô giết hại những người Galilêa lên Giêrusalem dâng lễ, làm máu họ hoà lẫn với máu những con vật tế sinh! Cứ như văn bản Phúc Âm thì thính giả của Chúa Giêsu đã biết rõ những tin này, thành thử thời cổ cũng như thời nay, tin dữ luôn luôn loan truyền rất nhanh chóng. Về những người Galilêa bị giết có lẽ là thường tình, cho nên người ta dễ dàng tưởng tượng ra các chi tiết độc ác của Philatô. Cũng như hiện nay , dưới các chế độ độc tài, dân chúng Giêrusalem không phản ứng mạnh mà cắn răng chịu đựng. Họ căm phẫn vì đồng bào bị giết hại. Nhưng để trong lòng, không dám tỏ lộ ra bên ngoài. Họ đến kể cho Chúa Giêsu nghe xem phản ứng của Ngài ra sao.

Về tin thứ 2, tháp Silôê đổ xuống đè chết một lúc 18 người, càng gây ngạc nhiên hơn. Họ là thường dân, có tội tình chi đâu mà phải tức tưởi thiệt mạng? Ơ biến cố thứ nhất chúng ta có thể hiểu được vì sự tàn bạo của con người. Còn biến cố thứ 2, lỗi về phần ai? Câu trả lời theo suy nghĩ phổ thông lúc ấy thì Thiên Chúa trừng phạt những kẻ có tội. Tương tự như ngày nay, mỗi khi gặp hoạn nạn chúng ta thường kêu lên: “Tôi đã làm chi nên tội mà Thiên Chúa trừng phạt tôi đến như vậy?”

Thái độ của Chúa Giêsu làm thính giả ngạc nhiên và thất vọng. Ngài chẳng đổ lỗi cho ai cả: “Các ông tưởng mấy người Galilêa này phaỉ chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilêa khác sao? Tôi nói cho các ông biết không phải thế đâu.” Y kiến của Chúa Giêsu về 18 người chết ở chân tháp Silôê cũng vậy. Ngài từ chối liên kết tội lỗi với những cái chết thương tâm. Các tai hoạ xảy ra không nguyên vì hình phạt tội riêng của cá nhân gây nên. Kẻo người ta có quan niệm sai lầm là mình thoát nạn bởi vì mình thánh thiện. Những người giàu có, phát tài, danh tiếng sẽ tưởng rằng mình được Thiên Chúa chúc phúc, rồi kiêu căng khinh bỉ những kẻ xấu số. Thực ra, việc cảm nhận ơn Chúa và tạ ơn Ngài là chính đáng. Tuy nhiên, Phúc Âm hôm nay cảnh cáo về lòng tự phụ, kiêu căng. Tốt đẹp chưa chắc ăn nhằm gì với các nhân đức hoặc với thưởng phạt do công nghiệp của đương sự. Chúa Giêsu gạt qua một bên cái quan niệm sai lầm này. Ngài thách đố các thính giả của mình coi lại nếp sống và thay đổi nó nếu cần thiết: “Tôi nói cho các ông biết không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.” Lạ lùng quá. Vậy thì quan điểm của Chúa Giêsu ra sao? Y nghĩa lời này là sự dữ luôn xảy ra trên thế giới nhưng không phải vì thế mà chúng ta có quyền trì hoãn hối cải. Chúng ta chẳng biết thời gian và cơ hội xảy ra lúc nào để làm cuộc trở lại như hy vọng. Cuộc đời luôn là bất định, không ai dám đoán trước được. Vậy đừng vì tính thường hằng mà ngủ vùi trong tự mãn, ươn lười trong hành động. Đời có nhiều chuyện tình cờ hơn là người ta tưởng tượng.

Để hiểu rõ quan điểm của Chúa Giêsu hơn, chúng ta nên nhớ lại lúc Ngài khởi sự công vụ. Ngài lớn tiếng hô: “Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1, 15). Suốt thời gian rao giảng, đề tài sám hối là nội dung quan trọng của Ngài. Ngài không những kêu gọi các tội nhân nổi tiếng như Giakêu, Maria Macđala, ông Publicanô vô danh, kẻ trộm lành, Mathêu thu thuế, mà ngay cả những thường dân tốt lành cũng phải ăn năn. Ngạc nhiên hơn nữa, Ngài còn nhắm đến những nhân vật tự coi mình là thánh thiện như Pharisêu, thượng tế, kinh sư, luật sĩ, kêu gọi họ ăn năn hối cải. Ngài không loại trừ một ai: “Tôi nói cho các ông biết không phải thế đâu, nếu các ông không sám hối thì các ông cũng chết hết như vậy.” Tuy nhiên, có lẽ quý vị sẽ hỏi: Tại sao những người tốt lành lại cần sám hối ăn năn?

Câu truyện sau đây sẽ phần nào trả lời quý vị: Ong Tôm là người sưu tập gậy đi đường. Một hôm ông mua được một cây đặc biệt. Số là mùa đông năm ấy, thời tiết rất khắc nghiệt. Nửa đêm giá buốt có tiếng gõ nhẹ ở cửa. Ong đi ra ngoài và hé mở cánh cửa, trong bụng không chút phiền hà vì ông thường gặp cảnh ngộ thế này. Luồng gió mạnh hất cái then cửa khỏi tay ông. Ngoài trời quá lạnh lẽo. Một cụ già đứng im chìa tay xin bánh. Ong biết tên cụ là Joe, vì cụ thường đến. Chẳng khi nào cụ nói một lời dù là cám ơn. Cụ chỉ đơn giản đón nhận của bố thí rồi đi. Đêm nay, cụ Joe hơi say rượu, cái mùi rượu rẻ tiền giữ cho thân thể ấm áp. Đôi mắt cụ long lanh đẫm lệ vì cuộc đời cụ qúa khổ. Tôm đưa cho cụ ổ bánh mì và mấy xu lẻ rồi khép nhanh cửa lại, trở về giường ngủ. Nhưng trong trí khôn nhớ lại cụ chỉ có một gói đồ, đựng mọi thứ cần thiết cho cuộc sống, treo ở đầu cây gậy. Cụ Joe đầu trần lầm lũi bước vào bóng đêm giá buốt.

Ong Tôm hối hận, đáng lý phải mời cụ Joe vào nhà, cho cụ ngủ nhờ ở phòng gần gian bếp, sạch sẽ, ấm cúng, đầy đủ tiện nghi. Nhưng Tôm lại sợ cụ Joe làm bẩn căn phòng. Cụ ăn vận lôi thôi, hôi hám, bẩn thỉu, rách rưới. Vì vậy Tôm đóng cửa lại như muốn đuổi cụ đi và không dám nghĩ đêm nay cụ ngủ ở đâu. Hai ngày sau một nhân viên chôn cất đến bán cho Tôm cây gậy cũ bằng gỗ sồi, tự đẽo lấy. Giá cả xong, người đô tuỳ kể chuyện về cây gậy. Anh ta vừa chôn cất một cụ già ăn xin, cụ chẳng để lại chi đáng giá ngoài cây gậy này nên anh bán cho Tôm để lấy chút tiền còm làm công. Nó không phải là của bệnh nhân nào hay bất cứ ai mà là của một cụ già ăn xin lạnh cóng đến chết. Câu chuyện hết ở đây và ông Tôm cảm thấy xấu hổ ân hận. Cây gậy là của cụ Joe mà Tôm vừa đuổi ra khỏi nhà mấy bữa trước. Tôm không muốn câu truyện làm phiền ai nhưng chỉ muốn nói rằng Thiên Chúa tha thứ những sự dữ mà chúng ta đã làm, nhưng điều tốt chúng ta từ chối hay bỏ qua sẽ tồn tại mãi mãi, đè nặng lương tâm không nguôi. Tôm không làm chi xấu cả nhưng ông đã bỏ qua bổn phận bác ái của thân phận làm người.

Tôi tin chắc rằng nội dung chính yếu mà Chúa Giêsu muốn nói trong dụ ngôn cây vả tiếp theo là ở chính điểm này. Chúng ta không sinh hoa kết trái tốt như lòng Chúa mong muốn khi Ngài đặt chúng ta vào thế gian này. Người chủ vườn muốn đốn cây đi vì nó làm ông thất vọng. Nó không sinh hoa trái mà còn làm hại đất. Nó bị phán xét không phải vì điều dữ mà vì thiếu sót bổn phận sinh hoa kết trái. Tôm ân hận không phải vì đã phạm tội nhưng vì bỏ qua bác ái đối với đồng loại, điều mà Chúa đòi hỏi nơi chúng ta. Người tín hữu cũng vậy, mặc dù ngày nào cũng đọc trong thánh lễ “và những điều thiếu sót”, nhưng chúng ta lướt nhanh mà không suy nghĩ gì cả. Chúa Giêsu kêu gọi sám hối không chỉ vì đã phạm tội mà còn vì không sinh hoa kết trái trong cuộc sống. Do đó, lời kêu gọi sám hối của Chúa liên quan đến hết mọi người, không trừ một ai. Xin đừng ra khỏi toà giải tội vô tâm với những thiếu xót hằng ngày của mình.

Viết đến đây, tôi lại nhớ câu truyện một bộ hành đường xa. Ong ta bị một viên sỏi nhỏ lọt vào giày. Ong dừng lại tháo giày, dốc nó ra rồi đi tiếp không suy nghĩ chi hết. Đáng lý ông phải lợi dụng cơ hội để nghĩ lại xem mình đi đúng hướng hay lạc mục tiêu? Chúng ta cũng cư xử kiểu đó, vì sợ bị Chúa quấy rầy. Tương tự như người bị quỷ ám trong Phúc Âm : “Xin Ngài để chúng tôi yên, tại sao Ngài đến quấy rầy chúng tôi?” Chúng ta chẳng muốn ai, kể cả Chúa Giêsu, làm xáo trộn cuộc đời êm ả mình đang an hưởng. Thiên hạ hãy để chúng ta yên với những lo toan suy tính đầy ích kỷ của lòng mình. Các linh mục, tu sĩ nam nữ thật quá quắt chẳng để ai yên trong mùa chay này. Giáo Hội càng quá quắt hơn nữa, bày đặt ra những thống hối ăn năn. Người ta sinh ra trên đời này là như thế đấy: Tự hội tụ về mình, chẳng muốn ai kêu gọi mình chú ý đến kẻ khác, đến Thiên Chúa. Chúng ta chẳng hề muốn biết, muốn làm chi về khía cạnh này của bản tính con người.

Nhưng xin nhớ lời Chúa Giêsu, ân huệ thực sự của Thiên Chúa không phải là của cải, chức quyền hay đời sống dễ dãi, mà là lòng thương xót và thời gian để ăn năn hối cải, thay đổi nếp sống. Phúc Âm hôm nay nói rõ như vậy. Cho nên chúng ta cần ăn năn thống hối, tỉnh ngộ khỏi cơn mê tự mãn, khỏi vỏ ốc cứng nhắc của cái tôi. Người tốt đến đâu cũng có khả năng chìm sâu vào lối sống ích kỷ, vô cảm, bần tiện. Chèo thuyền ngược dòng không tiến thì lùi. Cuộc đời theo Chúa không thánh thiện hơn mỗi ngày, thì trở thành thoái hoá. Dòng chảy của cuộc đời luôn lôi kéo người tín hữu ra khỏi các giá trị Phúc Âm.

Cây vả trong Kinh Thánh thường ám chỉ dân Israel (Gr 24, 1-10). Nó cần được thường xuyên chăm sóc, giống như dân tộc Dothái cần sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Mỗi cây vả cần tới ba năm đầu tư tiền bạc, thời gian, kiên nhẫn để đơm bông kết trái. Nhưng hết ba năm, cây vả làm ông chủ vườn thất bại. Chúng ta cũng thường khiến Thiên Chúa thất vọng vì không đạt yêu cầu trong nếp sống, mặc dầu Ngài đã đầu tư không biết bao nhiêu ơn lành, công sức. Đáng lý chúng ta phải bị đốn đi để nhường chỗ cho các linh hồn khác biết làm vừa lòng Thiên Chúa hơn. Tuy nhiên người làm vườn xin thêm một năm cho cây vả đơm bông kết trái. Chúa Giêsu cũng cầu xin Chúa Cha cho chúng ta thêm một thời hạn. Việc này hoàn toàn do lòng thương xót của Chúa. Chúng ta không có quyền vì đã hết thời hạn rồi. Tuy nhiên, xin lưu ý cây vả chỉ được thêm một năm nữa chứ không phải vô thời hạn. Chúng ta cũng vậy thôi, xin đừng kiêu ngạo mà trì hoãn việc ăn năn sám hối, cải tổ nếp sống.

Đúng là ơn lành của Thiên Chúa, chúng ta được thêm thời gian để lớn lên, trưởng thành và chỉnh đốn lại não trạng, nếp sinh hoạt để phục vụ Chúa cho xứng đáng. Chúng ta phải lợi dụng thời gian Chúa ban thêm để loại trừ những cản trở lớn nhỏ giữa chúng ta và Thiên Chúa cũng như với tha nhân. Đây không phải là chuyện đùa, nhưng là lời nghiêm chỉnh. Vì chúng ta chỉ có thêm một năm nữa. Hạn định đã rõ ràng. Chúng ta nên mở mắt linh hồn, mở tai thiêng liêng, mở trí u tối để nhận ra ơn Chúa. Ngài với tới chúng ta qua các biến cố hàng ngày, qua cụ Joe, qua bạn bè thân hữu, qua những lúc nghỉ tay công việc, qua kinh hạt thờ lễ. Và lòng kiên nhẫn của Ngài thật vô biên. Xin nhìn xem bàn tay loài người đã làm chi với Chúa Giêsu, con yêu dấu của Ngài? Vậy mà Ngài không thất vọng về chúng ta. Ngài vẫn ban cho chúng ta thêm thời gian.

Mùa chay chưa phải là phán xét chung cục, mà là mùa hồng ân, mùa thuận tiện để chúng ta trở lại. Thật vô ơn nếu chúng ta để nó trôi qua lãng phí. Tâm tình thống hối không phải là buồn sầu mà là niềm vui, là tin mừng. Nó kêu gọi chúng ta thoát khỏi kiếp nô lệ ích kỷ, tội lỗi, tiến đến cuộc sống tự do và ơn thánh. Nó kêu gọi mọi người chấm dứt sự cằn cỗi của thờ ơ lãnh đạm mà tiến đến cuộc đời phong phú hiệu quả. Chúng ta hãy hạ quyết tâm bước vào vương quốc của niềm vui này, không phải một lần mà mãi mãi về sau. Bởi vì nếu chúng ta thất bại trong việc này, mọi dự tính tốt lành chẳng qua chỉ là giấc mộng ban ngày. Amen.


Fr. Jude Siciliano, OP (Anh em HV Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ)

KHÔNG PHẢI THẾ ĐÂU
Lc 13: 1-9

Dù chúng ta tự coi mình là những người hiện đại, đôi khi chúng ta có thể vẫn có những ý tưởng lạc hậu. Có thể chúng ta không dám đi dưới cầu thang hay chỗ con mèo mun vừa chạy qua vì sợ xui xẻo. Có thể chúng ta bắt chéo ngón tay, cầu mong chuyện rủi ro của người khác không xảy đến với mình. Chúng ta có thể không có những hành động mê tín như thế, vậy những hành động dưới đây thì sao? Khi thấy ai đó làm điều sai trái, chúng ta liền cảnh cáo: “Coi chừng Chúa phạt !” Đôi khi nhiều bậc cha mẹ cũng dùng lời này để đe doạ, sửa sai cho con mình (việc dạy bảo con cái là một công việc khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng hy sinh cả đời. Nhiều bậc cha mẹ cảm thấy có càng nhiều sự trợ giúp trong việc này càng tốt, họ thậm chí nại tới danh Thiên Chúa như một đồng minh để răn dạy con).

Có những người tôi ước gì Chúa sẽ phạt họ ngay lập tức. Tôi có sẵn một danh sách các nhà độc tài, những kẻ hà hiếp bóc lột người nghèo, những nhà tài phiệt ăn cắp tiền tiết kiệm của dân…Nhưng trong thực tế, Thiên Chúa đã không hành động theo cách đó. Nhiều người trong chúng ta vẫn còn bám vào niềm tin bình dân ngày xưa: điều rủi ro là hình phạt của Thiên Chúa vì một tội nào đó. Một bà quả phụ đã từng nói với tôi rằng: “Tôi không biết mình đã làm gì sai trái mà Thiên Chúa lại phạt tôi và cất đi người chồng của tôi?”

Chúng ta có thể cảm nhận hơi hướm của niềm tin kiểu này trong bài Tin Mừng hôm nay, các tai hoạ xảy ra chính là hình phạt của Thiên Chúa vì người ta làm điều sai trái. Rõ ràng tháp Si-lô-ac đã đổ và mười tám người đã bị đè chết (một sự kiện nhỏ làm nhiều người liên tưởng tới đại hoạ ở Haiti vừa qua) và Phi-la-tô đã ra lệnh xử tử vài người Ga-li-lê. Những người đương thời với Đức Giêsu kết luận ra sao? Họ nói rằng những nạn nhân tội nghiệp này đã bị phạt vì tội của họ. Hiển nhiên, Chúa Giêsu đã phải đặt lại vấn đề. Ngài hỏi, phải chăng những người Ga-li-lê bị giết chết đó, hay những người bị tháp Si-lô-ác đè chết, là những kẻ “tội lỗi hơn những người khác”…? Nói cách khác, phải chăng họ bị phạt vì tội của họ? Nếu ai đó muốn đặt tựa đề cho bài Tin Mừng hôm nay và treo trước cửa nhà thờ, thì đó phải là câu trả lời của Chúa Giêsu, “Không phải thế đâu!”.

Điều Chúa Giêsu đòi hỏi thính giả của Ngài, những người tường thuật cho Ngài những thảm kịch mới xảy ra, là phải thay đổi lối nhìn. Thay vì vội vã kết luận những nạn nhân kia đã phạm tội, họ cần phải nhìn vào chính mình và hậu quả họ phải chịu vì tội của bản thân.

Có vẻ như nhiều người đã trải qua cuộc đời giàu có sung sướng này mà không phải chịu bất kỳ hậu quả xấu do việc gian ác họ làm. Nhưng, tội vẫn để lại những hậu quả thực sự, không chỉ ở đời sau, mà ngay trong chính cuộc đời hiện tại.

Mỗi người có thể tự liệt kê một loạt những hậu quả của tội trong cuộc đời mình, nhưng tôi cũng xin gợi nên một vài trong số đó: nếu chúng ta thờ ơ trước những đau khổ của người nghèo thì làm sao con tim trai đá của ta có thể dệt nên mối tương quan yêu thương, nồng ấm? Nếu chúng ta nói dối hay bơm phồng sự thật vì lợi bản thân, hỏi rằng còn ai dám tin tưởng mà chia sẻ cuộc đời của họ với chúng ta? Nếu chúng ta gian dối trong công việc để trục lợi hay để tiến thân, thì hỏi rằng liệu chúng ta còn cơ hội tìm thấy sự tín nhiệm của các bạn đồng nghiệp không? Nếu chúng ta giải quyết những tình huống khó khăn bằng những lời nói thô bạo, những hành động bạo lực, hỏi rằng liệu có ai dám dành thơi gian và sức lực để thăng tiến tình bạn hay kết hôn với ta – và đâu là những hậu quả mà hành động này sẽ để lại gì nơi con cái chúng ta khi chúng cũng gặp phải những khó khăn trong các mối tương quan? Nếu các nhà lãnh đạo trong Giáo Hội bao che những hành vi lạm dụng của hàng giáo sĩ và việc sử dụng các nguồn quỹ không đúng mục đích, thì hỏi làm sao chúng ta có thể xây dựng một cộng đoàn tín hữu vững mạnh được? Nếu chính phủ đổ dồn nhiều tiền của vào vũ khí hơn là vào việc giáo dục, các dịch vụ săn sóc sức khoẻ và nhu cầu của các công dân nghèo, thì hỏi rằng liệu những người bị lãng quên này có sẵn sàng trở thành những công dân đóng góp tích cực trong tương lai cho đất nước không?

Phải chăng những người bất hạnh đang phải chịu hình phạt vì tội của họ? “Không phải thế đâu!” Sự bất hạnh không phải là bằng chứng về tội của một người hay một quốc gia. Haiti xảy ra trận động đất kinh hoàng không phải do, như Pat. Robertson nói, “họ thoả thuận với sự dữ.” Dầu vậy, như chúng ta vẫn cảm nghiệm trong cuộc sống của mình, tội lỗi có thể có những hậu quả thật tàn khốc hoặc thi thoảng ngay trong hiện tại, hoặc trong tương lai không quá xa.

Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta xét lại đời sống mình và sám hối vì những tội mình đã phạm. Nếu dám bỏ ra ít phút để suy gẫm, chúng ta dễ thấy được những hệ quả xấu do tội của chúng ta gây ra. Điều gì đang đổ vỡ trong cuộc đời chúng ta? Điều gì gây đau lòng? Chúng ta đang bị mắc kẹt ở đâu trong hành trình tâm linh của mình?

Thiên Chúa của Mô-sê trong bài đọc một đã khẳng định cho mình một danh tính. Vị Thiên Chúa mà Mô-sê đã nghe tiếng Người trong bụi gai cháy cũng chính là vị Thiên Chúa đã gọi tổ tiên dân It-ra-en ra khỏi ách nô lệ để đến với một tương lai mới, tươi sáng hơn, một nơi trao ban sức sống mới. Thiên Chúa hứa với Mô-sê sẽ giải phóng dân khỏi ách nô lệ Ai Cập và dẫn đưa họ đến một vùng đất mênh mông, xanh tươi, “một vùng đất chảy sữa và mật” Đó chẳng phải là một hình ảnh ám chỉ khá hay về việc tha tội hay sao? “Một vùng đất rộng rãi chảy sữa và mật.” Thiên Chúa giải thoát chúng ta ra khỏi vùng đất chật hẹp và tù túng của tội lỗi và những hậu quả của nó, rồi dẫn chúng ta vào vùng đất của sự thứ tha - một đời sống mới, mát mẻ và tự do.

Để làm mới cuộc xuất hành mới Thiên Chúa đang trao ban cho chúng ta, Chúa Giêsu đã dùng một dụ ngôn. Chúng ta đừng vội tìm xem dụ ngôn này muốn ngụ ý điều gì, theo kiểu Thiên Chúa là ông chủ vườn, là người muốn chặt bỏ những kẻ tội lỗi – những cây không có trái. Hãy lắng nghe toàn bộ dụ ngôn và hãy cảm nhận hiệu quả của nó. Cho đến nay, cây vả vẫn chẳng có giá trị gì. Một cây ăn trái mà lại chẳng có trái thì liệu có ích gì không? Nó đã được cho rất nhiều thời gian để sinh trái; ông chủ vườn nói rằng ông đã đến tìm trái cây vả đến ba năm rồi. Ông ta thật kiên nhẫn.

Nhưng chính lúc chúng ta hết kiên nhẫn, thì các tình tiết của câu truyện lại khiến chúng ta ngạc nhiên. Cuối cùng, trình thuật này là một dụ ngôn, chứ không phải là một trình thuật về một người nông dân bình thường với một cây ăn trái không giá trị. Cây vả đã được cho thêm thời gian và sự săn sóc. Liệu điều đó có khiến đầu óc thực tế và tằn tiện của chúng ta sao kinh ngạc hay không? Tại sao lại phải mạo hiểm tốn kém thời gian, sức lực và tiền của vào điều mà tới nay vẫn là một thất bại? Điều đó chẳng ý nghĩa gì! Nhưng đối với các bậc làm cha mẹ thì nó thật sự mang nhiều ý nghĩa nếu họ không mất hy vọng vào những đứa con bướng bỉnh, ưa chống đối; nếu họ tiếp tục bỏ công sức ra để cứu một đứa con mà những người khác nói họ đừng hy vọng gì ở nó nữa. Các bậc cha mẹ và những người yêu nhau “hiểu” dụ ngôn này.

Và chúng ta cũng vậy, nếu trong suốt mùa chay này chúng ta lại đối diện với tội của mình và cảm thấy lưỡng lự hoặc thấy mình không thể thay đổi. Dụ ngôn chính là một cái huých nhẹ của ân sủng. Đó là một giọng nói lôi kéo, như giọng nói Mô-sê đã nghe thấy, mời gọi chúng ta ra khỏi nơi bị tội lỗi kiềm chế để bước vào một “vùng đất rộng rãi, thoáng mát và tự do”. Thế nào là sự tha thứ tội lỗi? Đó như một vùng đất hứa, một “vùng đất chảy sữa và mật ong.”

Thiên Chúa của chúng ta đầy lòng thương xót, qua Đức Giêsu, đã tỏ lộ cho chúng ta sự kiên nhẫn của Người và cho chúng ta thêm thời gian. Có lẽ chúng ta đã hết kiên nhẫn với một số người và tự hỏi, “Tại sao Thiên Chúa lại không phạt kẻ xấu xa đó?” Áp dụng vào chính mình chúng ta thậm chí có thể nói rằng, “Tôi không thể tin được Thiên Chúa lại tha tội cho tôi vì tôi đã phạm đi phạm lại một tội cũ.” Nhưng dụ ngôn mà chúng ta nghe hôm nay lại là một dụ ngôn về lòng thương xót vô biên và luôn có cơ hội thứ hai – tới một giới hạn. Có lẽ hạn định, “xin cứ để nó lại năm nay nữa,” không hẳn là một lời răn đe cho bằng đó là một ân huệ.

Tôi không biết các bạn thế nào, chứ còn tôi thì chắc chắn tôi sẽ làm việc hết sức khi tôi biết hạn chót của mình. Các trường học cũng vậy: các bài thi cũng phải được hoàn thành vào một ngày ấn định. Nếu bạn không nộp bài vào ngày đó, điểm số của bạn sẽ bị trừ bớt một số phần trăm theo quy định. Dụ ngôn có một kết thúc đáng ngại. Người làm vườn xin thêm một năm nữa để anh có thể chăm sóc, vun trồng và bón phân cho cây. Khi đó, hạn định được đặt ra. Nếu cây ra trái, nó sẽ có một tương lai. Hãy nghe tiếng của người làm vườn, “nếu không thì ông sẽ chặt nó đi.” Điều đó có lẽ đã mồi lên một đống lửa bên dưới chúng ta! Có thể đó là một ân huệ, một ngọn lửa khiến chúng ta phải chuyển động, phải thay đổi.

Chúng ta không hành động đơn độc một mình. Sau cùng, đó là một dụ ngôn tin mừng và là Tin Mừng về ân sủng. Chúng ta sẽ được giúp, nếu chúng ta muốn thay đổi. Chúng ta được “săn sóc” ân cần bởi một người làm vườn đầy tình thương, là người sẽ giúp chúng ta trổ sinh hoa trái của sự hoán cải và sống đúng với cương vị người môn đệ. Thời khắc thay đổi chính là lúc này đây. Chúng ta không biết mình còn được bao nhiều thời gian. Như những người trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, thời khắc kết thúc cuộc đời họ đến thật nhanh và không hề được báo trước – như một toà tháp bất ngờ ập xuống.

Đó cũng không nói về cái chết. Chúng ta cần quan tâm đến những dấu hiệu cảnh báo trong tương quan của chúng ta và những ưu tiên. Chúng ta đang dồn hết sức lực của mình vào đâu? Điều đó sẽ trổ sinh hoa trái hay chúng ta lại trở thành một cây cằn cỗi, không hoa không trái? Chúng ta sẽ gặp một kết cục nào: một cuộc hôn nhân thất bại, một đứa trẻ bướng bỉnh, một tình bạn bị đánh mất. Hay liệu có kịp giúp một người thiếu thốn mà trước đây chúng ta vẫn thờ ờ làm ngơ không? 


Lm Đỗ Lực op

Cây Vả và Bụi Gai

Ngày 2/3/07 vừa qua, hãng Tin Tức Công Giáo Thế Giới (CWN) đã loan tin ông Fred Nassiri, một nhà tỷ phú tại Hoa Kỳ, dâng hiến tất cả tài sản mình cho người nghèo và sẽ trở thành tu sĩ Phanxicô. Một Phanxicô thời đại đã xuất hiện ! Ông là người Mỹ gốc Iran. Từ Hồi Giáo, ông đã trở lại Công Giáo. Ngày 1/3 vừa qua, khi đến Vatican gặp Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Tarcisio Bertone, ông nói : “Tôi muốn mang đến Vatican một chứng từ đức tin và lòng khâm phục lý tưởng dòng Phanxicô. Tất cả tài sản của tôi sẽ dành cho người nghèo để tôi trở thành tu sĩ Phanxicô. ” Giải thích về sự chuyển hướng cuộc đời, ông Nassiri phát biểu : “Càng nhiều tiền của, càng có nhiều nghĩa vụ đối với người chung quanh mình.” [1]

Tại sao ông Nassiri có thể thực hiện một cuộc từ bỏ lớn lao đó ? Ông không tính toán như Giakêu. Chẳng biết ngày xưa, sau khi chia nửa gia tài cho người nghèo và đền bù gấp bốn cho những nạn nhân, ông Giakêu còn lại bao nhiêu ? Nassari chắc chắn hơn ông rồi. Cuộc từ bỏ nào cũng bắt đầu từ sự sám hối. Năm xưa, thời còn trong sa mạc, thế nào ông Môsê chẳng có lúc sám hối vì hành động giết người Ai cập để bênh vực cho đồng bào ? Ðành rằng đó là một hành vi anh hùng, nhưng trước nhan Chúa, lương tâm ông không để ông yên. Từ đó, ông đã sám hối. Thiên Chúa đã dủ lòng thương kêu gọi ông lãnh sứ mệnh giải thoát dân tộc, từ bụi gai bốc lửa mà không bốc cháy (x. Xh 3:2). Thiên Chúa đã biến bụi gai vô dụng thành “đất thánh,” (Xh 3:5) nơi Môsê đã được Thiên Chúa Giao Ước (Xh 3:6) mạc khải là “Ðấng Hiện Hữu.” (Xh 3:14) Bụi gai đã góp phần làm nên lịch sử dân Chúa.

Trước đây, giống như bụi gai, ông Môsê cảm thấy mình bất lực trước kiếp nô lệ tang thương của đồng bào. Thời gian gậm nhấm tâm hồn. Niềm đau đưa ông gần tới Chúa. Như bụi gai, ông đã được Chúa dùng để mạc khải cho dân Do thái biết tất cả tấm lòng cảm thông sâu xa và sức mạnh của Chúa muốn ra tay giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai cập. Vì luôn hiện diện trong dân, nên Người thấu hiểu và quan tâm tới mọi nỗi khốn cùng của họ. Không những thế, Người còn hứa dẫn họ tới “một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật.” (Xh 3:8a) Dù là bụi gai giữa sa mạc, nếu được Chúa đoái tới, cũng trở thành nơi tràn đầy sự sống và thánh thiện. Nhưng nếu không được chăm sóc, ngay cây vả tại góc vườn nho cũng vô dụng, dù đầy dẫy thợ làm vườn.

Bình thường, cây vả có dáng đẹp, đem lại bóng mát và chất bổ dưỡng cho gia đình (1 V 4:25), nên được nhiều người ưa thích. Nhưng trong dụ ngôn hôm nay, không biết tại sao cây vả lại không sinh hoa trái ? Sau ba năm liên tục ra thăm, chủ vườn không tìm được một trái nào nơi cây vả. Nếu cứ để cây vả tiếp tục sống, lợi nhuận gia đình sẽ bị ảnh hưởng. Sự hiện hữu của nó trở thành thừa thãi và nguy hại cho đất đai và môi trường chung quanh. Ông mất kiên nhẫn và muốn chặt nó đi. Nhưng nhờ người làm vườn nài xin, ông chủ cho nó sống thêm một năm nữa. Sau một năm, cây vả có sinh hoa trái nào không ? Không thấy dụ ngôn nói tới.

Thực tế, chỉ cần sau một năm ngắn ngủi, tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Cây vả đã được vun xới cẩn thận. Những người làm vườn cũ đã bị thay thế. Người Làm Vườn mới là chính Con Thiên Chúa. Là Chủ vườn nho, Chúa Cha đã sai Chúa Con đến chăm sóc vườn nho và cây vả. Người đã lấy chính Thân Thể chăm bón và Bửu Huyết vun tưới cây cối. Nói khác, Người canh tác bằng chính tình yêu của mình, tình yêu không bao giờ cạn kiệt hay tắt ngúm. Người đã trả giá bằng chính mạng sống để đem lại mùa màng tươi tốt cho Chúa Cha và toàn thể nhân loại. Chỉ cần một thời gian rất ngắn, Chủ vườn có thể bội thu. Người làm việc cực nhọc để có một Vương quốc Công Bình với những hoa trái bao dung và cảm thông.

Không có kinh nghiệm sâu xa về lòng thương yêu và nhân ái vô cùng lớn lao của Chúa, không thể làm Vườn Nho Chúa. Nếu thực sự có lòng bao dung đó, Giáo hội không thể không sám hối. Từ đó mới có thể xây dựng một Vương quốc Công Bình. Ðược ủy thác chăm sóc cả vườn nho lẫn cây vả, chúng ta đã hành động ra sao ?

Trong Kinh Thánh, cây nho và trái vả thường biểu tượng cho hòa bình và thịnh vượng.[2] Khi thay Chúa chăm sóc vườn nho và cây vả, Giáo hội phục vụ cho nền hòa bình và hạnh phúc nhân loại. Thực vậy, cũng như Ðức Giêsu, Giáo hội phải hy sinh BỎ mạng sống mới có thể hoàn thành sứ mạng cao cả ấy. Nhìn vào tình trạng bạo động và mất tự do trên thế giới hôm nay, chúng ta thấy Giáo hội còn phải nỗ lực nhiều lắm.

Nguyên nhân chính khiến Giáo hội chưa hoàn thành sứ mệnh, vì chúng ta chưa sám hối. Chỉ khi nào sám hối, Giáo hội mới có thể quy tụ muôn dân vào làm vườn nho Chúa. Nếu không, Giáo hội sẽ phải phân tán như dân Do thái sau khi Ðền Thờ Giêrusalem bị tiêu hủy.

Chúa không muốn Dân Chúa hôm nay lâm vào cảnh tan tác như thế, nên mới lên tiếng cảnh cáo : “Nếu anh em không chịu sám hối, thì anh em sẽ chết hết.” (Lc 13:5) Ngược lại, nếu sám hối, không những được sống, mà chúng ta còn thực hiện được sứ mệnh hòa bình và đem lại cuộc sống giàu mạnh cho mọi người. Nếu sám hối, dù là bụi gai, chúng ta cũng được Chúa dùng làm nơi phát ra lời mạc khải và cứu độ. Dù có là cây vả vô sinh, chúng ta cũng sẽ được chuyển hóa để sản xuất hoa quả tốt tươi cho Chúa. Tất cả đều phải bắt đầu từ sám hối.

Ngay khi mới mở lời rao giảng Nước Trời, Chúa đã kêu gọi sám hối. Việc sám hối luôn là chủ đề chính trong mọi lời giảng của Chúa. Bởi thế, khi tường thuật tin tức về những người đồng hương bị Philatô sát hại, Chúa lợi dụng cơ hội để kêu gọi con người sám hối. Chắc hẳn lúc đó những người Do thái muốn Chúa bày tỏ một thái độ chính trị đối với đế quốc. Nếu bình luận về tin tức thời sự nóng bỏng đó theo hướng chính trị, chắc chắn đã đến tai Philatô. Lời kêu gọi sám hối có thể Philatô đã nghe báo cáo. Nếu đúng thế, ông cũng phải suy nghĩ về những hành động của mình. Ông không thể dựa vào thế mạnh của chính trị mà đàn áp hay tiêu diệt con người, bất chấp Thiên Chúa. Lương tâm, tiếng nói Thiên Chúa, còn mạnh hơn lệnh của hoàng đế Roma. Ông sẽ phải đối diện trực tiếp với Tạo Hóa của ông. Ông cần sám hối !

Ngày nay vẫn có những con người chưa nhận ra sự thật đó. Vụ đập phá tượng Pieta tại Phát Diệm sáng ngày 30.01.2007 là một thí dụ điển hình. Biến cố xảy ra chỉ 4 ngày sau khi Thủ tướng nước Việt Nam hội kiến với Đức Giáo Hoàng và Quốc Vụ Khanh Toà Thánh tại Rôma. Xung quanh bức tượng, giáo dân đặt các vòng hoa kính viếng Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Trên các vòng hoa có các dòng chữ phân ưu như: “Giáo họ Đông Thịnh vô cùng đau thương khi Mẹ chịu thương đau,” “Cộng đoàn Giáo họ Phong Châu vô cùng thương tiếc khi Mẹ đau thương,” “Hội Mân Côi xứ Ngọc Cao kính viếng sự đau thương Mẹ”. Tại chân tượng bị đập phá hãy còn tấm bảng ghi dòng chữ: “Tạ ơn Đức Mẹ 'Pieta'. Người đã trở nên hình ảnh Hội Thánh tại GP Phát Diệm.” Ðọc những hàng chữ đó, tôi có cảm tưởng như mình đang tham dự đám tang của Chúa và Ðức Mẹ. Tôi đã thất vọng khi không tìm thấy vòng hoa nào ghi những câu như : “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34) hay “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em,”(Mt 5:44; Lc 6:35) Nếu có, chắc chắn Chúa sẽ vui hơn và phù hợp với Tin Mừng hơn !

Trong vụ đập phá ảnh tượng đó, chính quyền đã chứng tỏ tất cả sức mạnh vô địch (!) của chủ nghĩa Mác Lê bách chiến bách thắng. Nên nhớ, Chúa Giêsu và Mẹ Maria là những thần tượng tuyệt vời của Kitô hữu. Chính quyền đã đập nát được “tượng.” Liệu có phá nát nổi “thần” trong lòng người hay không ? Nên biết : “Ceasar không phải là tất cả. Có một vương quyền khác, mà nguồn gốc và bản chất không thuộc về thế gian này.” [3] Chỉ khi thành tâm sám hối, mới thấy rõ Vương quyền đó. Theo thánh Clêmentê, tự bản chất, Giáo hội là một cơ cấu có tổ chức, nơi mỗi thành viên đảm trách sứ mệnh theo ơn gọi của mình. Người nhấn mạnh, sứ mệnh của Giáo hội có tính cách bí tích hơn chính trị, và khuyến khích tín hữu đáp ứng lời Thiên Chúa mời gọi bước vào “một tiến trình sám hối một cách quảng đại và can đảm.” [4]

Là người đang phục vụ Vương Quốc Thiên Chúa, tôi đã sám hối để phục vụ một cách hữu hiệu hơn chưa ? Nếu chưa, tôi cũng chỉ là bụi gai hay cây vả vô sinh mà thôi. Nhưng nếu sám hối, tôi có thể “thay đổi cho phù hợp với kinh nghiệm về Thiên Chúa tuyệt vời đang hiện diện để ban ân sủng và tự mạc khải” [5] cho tôi. Nếu không có kinh nghiệm về tình yêu đầy khoan dung và tha thứ của Thiên Chúa, tôi không thể sám hối. Tình yêu Thiên Chúa vô cùng mãnh liệt đến nỗi tôi có thể thay đổi thái độ và ý chí để lựa chọn những gì thực sự giá trị hơn là tìm thỏa mãn những tham vọng tự nhiên.

ÐGH Bênêđictô XVI đã diễn tả thật chính xác : “Hoán cải là chấp nhận một cách tự do và với tình yêu tự lệ thuộc tất cả vào Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo đích thực của chúng ta, tự lệ thuộc vào tình yêu. Do đó tự hoán cải có nghĩa là không tìm kiếm sự thành công cá nhân - điều sẽ trôi qua – nhưng là từ bỏ mọi thâm tín con người, đi theo Thiên Chúa với sự đơn giản và niềm tin tưởng để Đức Giêsu trở thành cho mỗi người, “tất cả trong mọi sự” như á thánh Têrêsa thành Calcutta thích lập lại. Ai để cho Người chiếm hữu thì không sợ mất sự sống của mình, bởi vì trên Thập Giá, Người đã thương yêu và tự hiến mình cho chúng ta. Chính vì thế khi mất sự sống bởi tình thương, chúng ta tìm lại được nó.” [6]

Lạy Chúa, con là cây vả nhiều năm không sinh hoa trái gì cho Chúa và anh em. Cám ơn Chúa đã sai Con Chúa đến cứu con. Xin cho con cảm nghiệm sâu xa về tình yêu vô cùng mãnh liệt của Chúa để con có thể hoán cải và trở thành người làm vườn nho đắc lực của Chúa. Amen.

Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em nhà học Đaminh chuyển ngữ)

 

Cơ hội cuối cùng để hoán cải

Xh 3,1-8a.13-15; Cr 10,1-6.10-12; Lc 13,1-9

 

 

Kínhnh thưa quý vị,

Trong khóa học nói trước công chúng, các học viên thường được hướng dẫn để khởi đầu bài nói chuyện của mình bằng một câu chuyện thú vị gây chú ý. Một khi gây được sự chú ý của người nghe, họ có thể đề cập đến những điểm nhấn trong bài nói chuyện của mình. Tương tự như thế, người giảng thuyết nên biết một trong những cách thức khởi đầu bài giảng là đề cập đến một tình huống mà người nghe có thể nhận ra ngay tình huống của mình, hoặc là họ biết người nào đó đang gặp tình trạng như thế. Mục đích của việc dẫn nhập này là để thu hút người nghe và chuẩn bị cho họ lắng nghe Lời Chúa nói với cuộc sống của họ. Trong trình thuật Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu, một nhà giảng thuyết, đã khéo léo đề cập đến kiến thức của người nghe về những sự kiện hiện tại và liền sau đó Ngài nói cho họ biết một thông điệp quan trọng.

Đức Giêsu nói về một số người bị Philatô giết chết trong khi họ đang dâng tế vật trong Đền thờ. Quý vị có thể tưởng tượng ra cảnh người ta bị giết đang cầu nguyện! Chắc chắn những người nghe chuyện tàn sát này đã bị sốc. Mặc dù không có các phương tiện truyền thông hiện đại, nhưng tin tức về sự kiện này có vẻ như đã được lan truyền bởi vì Đức Giêsu đã nhắc đến sự kiện này để giảng dạy lời của Ngài cho những người tụ tập chung quanh.

Một tin buồn khác dường như cũng được nhiều người biết đến, vì thế Đức Giêsu đã đề cập đến sự kiện này để minh họa cho điều Ngài muốn nói. Ở Silôác hình như cũng có một tòa tháp đã bị sụp đổ và khiến cho 18 người bị thiệt mạng. Người ta đã bàn tán nhiều về những sự kiện bi thảm này, một tin tức gây xôn xao. Tuy xảy ra ở những thời điểm khác nhau, nhưng hai sự kiện này lại có vẻ như mới xảy ra ngày hôm qua: một bạo chúa giết chết các công dân của chính quốc gia mình; một công trình xây dựng không đúng quy cách khiến bức tường sụp đổ đè chết những người đang đi lại ở bên dưới. 

Hai sự kiện nghe giống nhau và các thắc mắc họ nêu lên cũng vậy. Tại sao những điều này lại xảy ra với những người ấy? Những người đương thời với Đức Giêsu và một số người thời nay có thể đưa ra kết luận rằng Thiên Chúa đã trừng phạt những kẻ tội lỗi. Khi một ai đó gặp bi kịch thì dễ có khuynh hướng đặt câu hỏi: “Tôi đã làm gì mà Thiên Chúa lại trừng phạt tôi như thế?”

Những người nghe Đức Giêsu giảng đều đã nghe về sự tàn bạo của Philatô và sự sụp đổ của tòa tháp. Đức Giêsu, một người giảng thuyết tuyệt vời, đã dùng những sự kiện này như những ví dụ để giảng dạy cho họ. Những sự kiện kịch tính này nhắc nhở mọi người rằng cuộc sống chẳng có gì là chắc chắn cả; chẳng có gì đảm bảo rằng sẽ không có bất kỳ điều xấu nào xảy đến với mình cách bất ngờ. “này, quý vị sẽ chẳng bao giờ biết đâu”. Bởi chưng, cuộc sống quá mong manh, Đức Giêsu giúp mọi người duyệt xét lại đời sống cũng như thực hiện những thay đổi thích đáng. Đức Giêsu nói rằng tất cả chúng ta đều là những tội nhân hay có những hành vi không xứng hợp cần phải thay đổi “ngay bây giờ” – không được “chậm trễ”. 

Cái chết là một cách khiến chúng ta phải lưu ý. Chúng ta đã thấy những người mắc bệnh hiểm nghèo, hoặc những người đã chết và đã dùng những giây phút cuối cùng quý báu để sửa chữa những sai lầm: một phụ nữ liên lạc và làm hòa với người anh trai của mình sau nhiều năm tuyệt giao; một thương gia thay đổi ý định của mình để hoàn trả lại mọi người những gì ông ta đã lừa dối họ; một số người đã bỏ nhà thờ trong một thời gian dài, nay lại xin cha ban Bí tích Hòa giải và sau đó là Xức dầu; một người cha lạnh nhạt và khắt khe với hai người con trai của mình nay lại gọi chúng lại để ngỏ lời xin lỗi và bày tỏ niềm tự hào về chúng. Đôi khi, cũng giống như trường hợp tai nạn ở Silôác, cái chết bất ngờ xảy đến. Nhưng, Đức Giêsu nói, nếu còn có thời gian, chúng ta tận dụng ân huệ này để hàn gắn những rạn nứt và xin được tha thứ. Mùa chay là một lời nhắc nhở sửa đổi và hôm nay Đức Giêsu nói với chúng ta ngay bây giờ là thời gian để làm điều đó.

Đức Giêsu đưa ra ví dụ về cây vả không có trái. Tính từ khi trồng thì cây vả mất khoảng ba năm sẽ cho trái. Thế rồi, nếu cây vả không có trái thì một người làm vườn khôn ngoan và thực dụng sẽ chặt nó đi và thay bằng cây khác. Lẽ thường, người làm vườn là những người kiên nhẫn vì họ chờ cho cây trồng của họ đến mùa thu hoạch. Tuy nhiên, lòng kiên nhẫn của người làm vườn cũng có giới hạn, như chúng ta có thể nghe thấy giọng nói của người làm vườn: “Đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái … chặt nó đi.”

Cây vả là một biểu tượng của Israel (Mk 4,4) và những người nghe Đức Giêsu nói cũng hiểu được sự liên tưởng này. Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban phát rộng rãi tình yêu và dưỡng nuôi Israel, dù trải qua một lịch sử dài đằng đẵng dân này vẫn luôn khước từ hay thờ ơ. Rõ ràng từ thời các ngôn sứ, Thiên Chúa đã muốn cho Israel trở nên một dấu chỉ của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa giữa muôn dân tộc. Nói cách khác, Thiên Chúa đã mong đợi tìm thấy trái trên cây vả.

Xin đừng chỉ giới hạn kỳ vọng này vào dân Israel. Thiên Chúa mong muốn mỗi chúng ta và Hội thánh phải trổ sinh hoa trái trong việc phục vụ Chúa: đem lại những thành quả của sự phục vụ trong yêu thương, trao hiến chính bản thân mình để xoa dịu nỗi đau của ta nhân và làm vơi đi gánh nặng của họ. Cây mà đã được Đức Giêsu trồng đòi buộc phải sinh hoa kết trái như Đức Giêsu đã biểu lộ trong đời sống của Ngài qua lời nói và hành động.

Mùa chay là thời điểm thích hợp để suy xét xem liệu chúng ta có chậm trễ đưa ra những thay đổi quan trọng trong đời sống của mình hay không. Dụ ngôn cây vả không sinh trái gợi lên một dấu chỉ của niềm hy vọng. Cây vả được cho một năm hồng ân nữa; thêm một cơ hội, với sự chăm sóc chu đáo và tận tình hơn hầu có thể đơm bông kết trái. Tuy nhiên, vẫn còn đó một lời cảnh báo khắc nghiệt là nếu không sinh hoa trái thì nó sẽ bị chặt đi. Mùa Chay nhắc nhở về lòng nhân hậu của Thiên Chúa luôn dành cho chúng ta và ta có đủ thời gian để đón nhận lòng nhân hậu ấy, và tiếp đó phải thực hiện những đổi mới quan trọng để sắp xếp lại cuộc đời của chúng ta. Tuy vậy, nếu chúng ta không hành động trong thời hạn được trao này thì sẽ phải lãnh một hậu quả bi thảm. Ngày cuối cùng sẽ ập đến bất ngờ với bất kỳ ai trong chúng ta.  

Nhưng chúng ta không chỉ dựa vào sức mình để nỗ lực thực hiện những thay đổi này. Cây vả nhận được lòng thương xót, thời gian và sự chăm sóc đầy tình yêu thương. Thiên Chúa chăm chút cho chúng ta để ta trổ sinh được nhiều hoa trái. Đức Giêsu mời gọi mọi người đón nhận sức mạnh ân sủng từ Thiên Chúa. Đó là một ân huệ nhưng không; chúng ta chẳng có thể làm gì để có được ơn ấy. Hãy nhớ lại tình trạng của cây vả; nó đã không có trái. Điều đòi hỏi chúng ta là đón nhận ân sủng được ban tặng và tiếp đó là sinh sôi hoa lợi đúng như mong đợi.

Nguyên nhân gây nên nỗi đau thương cho những người hành hương Giêrusalem hay các nạn nhân tại Silôác không phải là do tội của họ. Những người Kitô hữu cần lên tiếng và hành động chống lại các bạo chúa bất công, hoặc dùng quyền lực chính trị để chống lại các công dân của họ. Tương tự như thế, “các tai nạn” như các tòa nhà và cầu trên xa lộ bị sụp đổ đôi khi là hậu quả của việc đốt cháy giai đoạn trong quy trình xây dựng. Các Kitô hữu làm việc trong các ngành công nghiệp xây dựng, giao thông vận tải, y tế, sản xuất, thực phẩm.v.v… cần phải tận tâm trong công việc ngõ hầu bảo vệ người tiêu dùng và khách du lịch khỏi “tai nạn”. Kitô giáo là một tôn giáo hằng ngày, mọi người hành đạo trong khung cảnh sống bình dị qua việc lao động nghiêm túc và công minh.

Tuy tập trung vào bài đọc Tin mừng, nhưng chúng ta cũng không bỏ qua Bài đọc I: một đoạn văn trích từ Kinh Thánh Hípri. Đó là một lời tuyên bố quan trọng về Thiên Chúa và những gì Người thực hiện cho chúng ta.

Bài đọc I khởi đầu, cũng giống như “các đoạn văn nói về lời mời gọi”, với việc Thiên Chúa đi bước trước. Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu và thánh thiện đã kêu gọi ông Môsê. Ngôn ngữ biểu tượng đã truyền đạt thật hay: một bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây ấy lại không bị thiêu rụi; có tiếng gọi ông Môsê và truyền cho ông cởi dép ra, “vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh”. Thiên Chúa mời gọi Môsê phải có lòng tôn kính và khiêm nhường; một lời nhắc nhở về tính siêu việt của Thiên Chúa. Sau đó, Thiên Chúa đã làm, như những gì Thiên Chúa vẫn luôn thực hiện trong Kinh Thánh, để biểu lộ sự quan tâm của Người đối với những ai đang chịu áp bức. “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập...”

Bài đọc này dẫn chúng ta đến trình thuật Tin Mừng. Như Thiên Chúa đã tỏ lòng từ bi với những người khổ cực và Đức Giêsu đã hiện thực hóa lòng trắc ẩn ấy qua đời sống của Người thế nào, thì chúng ta, cũng như cây vả, được mong đợi phải sinh hoa kết trái bằng lòng từ bi và công bình trong chính cuộc sống của chúng ta như vậy.   

 


[1] CWN 02/03/2007.

[2] Harper’s Bible Dictionary 1985:308.

[3] Thánh Clêmentê, CWNews 07.03.2007.

[4] Ibid.

[5] Encyclopedia of Catholicism 1995:366.

[6] ÐGH Bênêđictô XVI, Zenit 21/02/2007.