| |
Chúa Nhật I Mùa Chay - Năm C
Đnl 26,4-10 / Rm 10,8-13
/
Lc 4,1-13
Lm An Phong : Đến Với Con
Người
Lm Như Hạ op : Thời Cơ Đã Đến
!
Fr Jude Siciliano, OP.
2001 : Hoang Địa Có Thể là Nơi Để Nên Thánh
Fr Jude Siciliano, OP.
2004 : Lời Chúa Là Sức Sống
G. Nguyễn Cao Luật op :
Lại Một Cuộc Phiêu Lưu Mới
Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng
op : Cám dỗ
Laurensô Ninh
Tú Toàn op : Ba cơn cám dỗ : tình, tiền và quyền
Lm Đỗ Lực op : Hạnh
Phúc Trong Tầm Tay (Lc 4:1-13)
Fr. Jude Siciliano,
OP:
Thánh Thần Giúp Chúng Ta Vượt Qua Cơn Cám Dỗ
Lm An Phong
Đến
Với Con Người
Lc 4,1-13
Tin mừng hôm nay là trình thuật Đức Giêsu
bị cám dỗ. Đức Giêsu đầy tràn Thánh Thần, rời vùng sông Gio-đan. Hai chi
tiết này cho thấy thánh Luca muốn nối cơn cám dỗ với cuộc thần hiện sau
khi Đức Giêsu lãnh phép rửa của Gio-an tẩy giả. Con người đầy Thánh Thần
này, con người là Con Thiên Chúa "đẹp lòng Ta mọi đàng" này đã đi vào sa
mạc 40 đêm ngày để chịu cám dỗ. Tên cám dỗ đã thách thức quyền uy của
một vị Thiên Chúa "nếu ông là Con
Thiên Chúa". Cơn cám dỗ thứ nhất là về bánh ăn, là một thách thức
cái đói sau 40 ngày chay tịnh. Cơn cám dỗ thứ hai, quyền hành và vinh
quang, là một thách thức thường tình cho tham vọng của con người. Cơn
cám dỗ thứ ba đã thách đố lòng tin tưởng mù quáng, quá đáng dễ khiến con
người không nhận ra được sự thực.
Đức Giêsu đã chiến thắng ba cơn cám dỗ đó.
Cám dỗ là một thực tế của đời người. Cám
dỗ tự bên trong con người. Cám dỗ đến từ bên ngoài. Cám dỗ theo đuỗi con
người bao lâu họ còn ở trần gian... Người ta thường nói đến ba nguyên do
của cám dỗ : ma quỉ, thế gian, xác thịt. Nhưng có lẽ cơn cám dỗ của ngày
hôm nay đó là cám dỗ đánh mất chính mình.
Kẻ đánh mất mình
Không rõ người, không rõ bóng ma
kẻ ấy cứ nhập nhòa
sau lưng người khác
Bao thói quen
đi
đứng
nói năng
tự nhiên biến mất
chỉ còn một khối xám xám
mờ mờ đó
cái con người
đã đánh mất bản thân mình.
(Thanh Quế - Báo Tuổi Trẻ)
Chúng ta là những người con yêu của Thiên
Chúa. Bản thân mỗi người là cơ hội thể hiện tình yêu thương này cho đồng
loại. Người đánh mất bản thân mình sẽ đánh mất luôn tư cách người con
yêu đó. Mối tương giao Thiên Chúa – chúng ta là tương giao cha con.
Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự. Thiên Chúa sáng tạo, quan phòng đời
sống chúng ta. Người có quyền năng cứu độ và thực hiện quyền năng đó
trên đời sống con người. Khi bị cơn cám dỗ đánh mất chính mình đè bẹp,
chúng ta sẽ nhìn nhận quyền năng của Satan, sự bảo lãnh của nó, sự chi
phối của nó trên đời sống chúng ta. Tên cám dỗ - Satan luôn cố tách
chúng ta khỏi tình yêu Thiên Chúa. Nó dùng vinh hoa phú quý như một
quyền lực cám dỗ chúng ta khước từ Thiên Chúa, khước từ sự chăm sóc yêu
thương của Người Cha. Để vượt thắng cơn cám dỗ này, chúng ta phải nhận
ra chính mình, nhận ra mối tương giao của mình, nhận ra ý muốn và tình
yêu của Cha trên đời sống mình.
Chúng ta là những anh em, chị em với nhau
trong Đức Giêsu, Cứu Chúa của ta.
Mối tương giao này phát xuất tự căn bản : chúng ta cùng một Cha
trên trời, tôn thờ cùng một Thiên Chúa, giới luật yêu thương là giới
luật căn bản để sống đời sống kitô hữu. Cơn cám dỗ đè bẹp người khác vì
thiện ích của chính mình vẫn là cơn cám dỗ miên trường của kiếp người.
Cư xử với người khác như là anh chị em mình không phải là dễ dàng gì.
Đức Giêsu kêu gọi chúng ta nhìn nhận thân phận con người của mình để chỉ
tôn thờ Thiên Chúa, đồng thời trân trọng anh chị em mình. Trân trọng con
người nghĩa là nhìn nhận khía cạnh tích cực của họ. Những khía cạnh tích
cực của một người làm nên chính đời sống tích cực của họ.
Như thế, cơn cám dỗ đánh mất chính mình
tức là cơn cám dỗ đánh mất vai trò làm con đối với Cha trên trời, đồng
thời đánh mất tư cách giao hảo anh chị em với nhau. Bởi lẽ, đời sống
công giáo là đời sống trong tình yêu Thiên Chúa và thề hiện tình yêu này
trong tương giao với người đồng loại - "mến Chúa, yêu người".
Lạy Chúa,
Chúng con được thanh tẩy trong Thánh Linh,
và chúng con đã lãnh nhận sức mạnh của Ngài.
Ngài có thể sai chúng con đến tận cùng trái đất.
Xin giúp chúng con đừng cuốn mình trong
sợ hãi hay hững hờ,
và đừng dập tắt lửa thiêng Chúa đã trao cho chúng con.
Xin cho sức mạnh Chúa tung hoành trong chúng con,
và chúng con sẽ mạnh dạn tiến công,
nhận công tác Chúa trao là đổi mới trái đất này.
An Hạ op
THỜI CƠ ĐÃ ĐẾN !
Lc 4,1-13
Cuộc
đời dệt bằng những thách đố liên tục. Không có thách đố, con người không
thể lớn lên. Cám dỗ là một thách đố hay một trở ngại cản bước tiến nhân
loại ? Đức Giêsu sẽ vạch rõ tất cả bộ mặt của tên cám dỗ và sẽ cho thấy
khả năng của lời Chúa trong việc chiến thắng kẻ tử thù lớn lao đó.
CUỘC GIAO TRANH TRỐNG MÁI.
Hoang địa vẫn là hình ảnh lý tưởng cho
dân Do thái gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng hoang địa cũng là nơi đầy thử thách.
Bốn mươi năm lang thang trong hoang địa đã tạo nên cảmột lịch sử Dân
Chúa. Hôm nay sắp thành lập một dân mới, Đức Giêsu cũng “được Thánh
Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ.” (Lc 4:2) Hai hình
ảnh Thánh Thần và quỉ dữ đã nói lên tất cả những gì lý tưởng nhất và thử
thách nhất trong lịch sử dân mới. Đức Giêsu muốn hoàn toàn chia sẻ tất
cả những thách đố trong thân phận làm người. Cám dỗ sẽ là một dịp để con
người lớn lên và xác định rõ nhân cách và địa vị của mình
Cám dỗ trước tiên có liên quan tới sự
sống vật chất. “Suốt bốn mươi ngày, Người không ăn gì cả, và khi hết
thời gian đó, thì Người thấy đói.” (Lc 4:2) Trong cảnh thiếu thốn
cùng cực đó, người ta mới thấy rõ tất cả nhân cách con người. Tên quỉ
vừa mời mọc vừa thách thức : “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền
cho hòn đá này hóa bánh đi !” (Lc 4:3) Còn cơ hội nào lớn hơn cho
Đức Giêsu xác định dứt khoát bản tính cao cả của mình ? ! Nhưng Người
không mắc mưu một cách dễ dàng như vậy, mặc dù thực sự Người là Con
Thiên Chúa và có dư uy quyền để làm chuyện đó. Nhưng lúc này, Người cần
phải lên tiếng xác quyết có những giá trị cao vượt hơn những nhu cầu vật
chất: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.” (Lc 4:4) Kinh khủng
thật ! Giữa lúc bụng cồn cào, gào thét như thế mà miệng vẫn khăng khăng
xác định một giá trị lớn hơn. Giá trị đó chính là “mọi lời miệng
Thiên Chúa phán ra.” (Đnl 8:3; Mt 4:4) Thật vậy, “vũ trụ đã được
hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do
những cái vô hình mà có.” (Dt 11:3) Như vậy, Người suy tôn giá trị
tối thượng của Lời Chúa tức là chính mình.
Cơn cám dỗ vật chất vẫn không buông tha
Người, nhưng xuất hiện ở dạng tinh vi hơn. Tên cám dỗ vẽ lên một hình
ảnh tuyệt vời về thế gian với “quyền cai trị và vinh hoa lợi lộc”
(Lc 4:6) Quyền bính vẫn là một cám dỗ đáp lại nhu cầu thống trị của con
người. Tên cám dỗ đầy tưởng tượng khi xác quyết : “Quyền hành ấy đã
được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tùy ý.” (Lc 4:6) Nó tự nhận
mình là Chúa tể muôn loài. Bởi vậy, nó mới lên giọng : “Nếu ông bái
lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông.” (Lc 4:7) Thật là kinh khủng !
Nó muốn đưa Đức Giêsu vào mê hồn trận ! Nhưng cơn đói vẫn không làm lu
mờ trí phán đoán của Người. Người khẳng khái phản đối : “Đã có lời
chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải
thờ phượng một mình Người mà thôi.” (Lc 4:8) Con người đứng trước
hai lựa chọn : Thiên Chúa hay ma quỉ. Bên nào cũng đòi phải vâng phục.
Nhưng hai vâng phục hoàn toàn khác nhau. Vâng phục Thiên Chúa sẽ nâng
cao và giải thoát con người. Trái lại vâng phục ma quỉ chỉ là nô lệ tội
lỗi. Chính vì thế, khi Đức Giêsu chịu cám dỗ, “Thiên Chúa làm cho Đức
Kitô liên đới với loài người tội lỗi (Rm 8:3; Gl 3:13) để loài người
được liên đới với lòng vâng phục và sự công chính của Đức Kitô (Rm
5:19)” (Nhóm Phiên Dịch CGKPV 1995: 722) Trở nên công chính tức là được
cứu độ. Như thế, qua cơn cám đỗ này, Đức Giêsu đã xác định mình chính là
Đấng Cứu thế đem lại niềm hi vọng lớn lao cho toàn thể nhân loại.
Thực vậy, từ nay “mọi kẻ tin vào Người sẽ
không phải thất vọng.” (Rm 10:11) Thực tế, quyền lực và lợi lộc không đủ
bảo đảm hạnh phúc con người. Khi vượt lên trên những cám dỗ vật chất ,
Đức Giêsu đã đem lại hạnh phúc đích thực và đã qui tụ được muôn dân.
Nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra sau khi Người đã vượt qua cơn cám dỗ lớn
nhất chính là cái chết trên thập giá. “Thiên Chúa đã làm cho Người sống
lại từ cõi chết” để từ nay “không có sự khác biệt giữa Do thái và người
Hy lạp, vì tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả
những ai kêu cầu Người.”( Rm 10: 9,12) Kêu cầu với niềm tin tưởng tuyệt
đối, con người “sẽ được cứu độ.” (Rm 10:9)
Sau cơn cám dỗ quyền lực và lợi lộc vinh
hoa, Đức Giêsu bước vào cơn cám dỗ về niềm tin. Địa vị và bản tính Người
bị đặt thành vấn đề trước một thách thức : “Nếu ông là Con Thiên Chúa .
. .” (Lc 4:9) Trong cám dỗ thứ nhất Đức Giêsu đã gặp thách thức đó rồi.
Nhưng ở đây, mức độ cám dỗ mãnh liệt hơn vì xoáy sâu vào tương quan giữa
Người và triều thần Thiên quốc và chính Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu
chứng tỏ tất cả quyền uy và bản tính Người để kết thúc những màn vật lộn
với quỷ thần : “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” (Lc
4:12) Tên quỉ không ngờ đã đụng phải uy quyền tuyệt đối trong một thân
phận mỏng manh như thế.
CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ.
Cơn cám dỗ vẫn còn đó. “Quỷ bỏ đi, chờ
đợi thời cơ,” (Lc 4:13) để cám dỗ huyền nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội.
Quyền bính và lợi lộc vinh hoa vẫn là những cơn cám dỗ muôn đời. Nhưng
Giáo hội vẫn tồn tại vì đã không ngừng “rao giảng (Lời Thiên Chúa) để
khơi dậy niềm tin” (Rm 10:8) trong lòng dân Chúa, hầu đem lại sức mạnh
chiến thắng tên cám dỗ và đạt đến ơn cứu độ nhờ Đức Giêsu Kitô.
Con đường cứu độ duy nhất chính là “phủ
phục trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em)” (Đnl 26:10), vì
“tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát.” (Rm 10:13)
Con người phải tự quyết định vận mệnh của mình. “Ơn cứu độ nơi Đức Kitô
thuộc về cá nhân, sâu xa trong nội tâm,” (Fahey 1994:219) nhưng cũng gắn
liền với nhiệm thể Đức Giêsu là Giáo hội, tức là anh em đang chia sẻ
cùng một niềm tin vào sứ mệnh cứu độ do Đức Giêsu dành cho thế giới hôm
nay và ngày mai.
Lý tưởng là như thế. Nhưng thực tế vẫn
đầy những cám dỗ. Cùng rao giảng Tin Mừng, cùng chia sẻ một niềm tin và
hi vọng, và cùng cầu nguyện với một Chúa, nhưng anh em Kitô hữu hôm nay
vẫn chưa vượt qua được cơn cám dỗ chia rẽ chúng ta. Cuộc giao tranh sống
mái với “cái tôi” cồng kềnh trong mọi định hướng và chương trình vẫn lấn
át cả tiếng Chúa. Cám dỗ không còn là cơ hội xác định mình chỉ là nơi để
Đức Kitô lớn lên. Nếu chỉ nghĩ đến những quyền lợi vật chất, vinh hoa
lợi lộc trước mắt, chắc chắn Đức Kitô đã ngã gục trước mưu kế thâm độc
của Satan. Sở dĩ sau bốn mươi ngày ăn chay, Người vẫn còn đủ sức chống
lại mọi cám dỗ, vì “lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã
sai Thầy và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4:34) Ý muốn đó rhể hiện
rõ ràng trong Lời Chúa. Công trình của Người là cứu độ trần gian, một
công trình còn dở dang trong huyền nhiệm Đức Giêsu Kitô.
Công trình đó không thể hoàn thành, nếu
không bắt đầu từ việc lắng nghe Lời Chúa. “ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho
con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119:105) Nếu không, cơn cám
dỗ sẽ đưa con người vào cơn lầm tưởng mình là Thiên Chúa. Kết quả chỉ là
khổ đau và bất công. Tình trạng cấp bách lắm rồi ! Hơn lúc nào, người
Kitô hữu “trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và đức công chính của
Người.” (Mt 6:33)
Fr Jude Siciliano, OP.
Hoang Địa Có Thể là Nơi
Để Nên Thánh
Lc 4,1-13
Thưa qúi vị. Thế là chúng ta đã
bước vào mùa chay thánh. Mùa thuận lợi để suy gẫm : chúng ta là ai ?
Thiên Chúa là Đấng nào ? Tương quan giữa chúng ta vói Thiên Chúa. Sách
Đệ nhị luật khởi đầu bằng một lời nhắc nhở đến cả hai thực tại đó kẻo
chúng ta lãng quên. Mỗi người tín hữu Do thái, đang khi dâng hoa qủa đầu
mùa của mình đều phải đọc : “Cha tôi là một
người Aram lang thang, lạc lõng…”
Những lời đó nhắc họ nhớ đến nguyên thủy
mình, nguyên thủy khiêm hạ, và Chúa tuyển chọn họ không phải vì sự vĩ
đại của họ, nhưng chỉ vì nhu cầu của họ mà thôi. Họ đã là những nô lệ
khốn khổ ở Ai cập. Họ đã kêu cầu Chúa. Thiên Chúa của tổ tiên họ. Thiên
Chúa đã nghe lời và thấy cảnh cực khổ, lầm than, áp bức họ phải gánh
chịu. Cũng như dân tộc Do thái, chúng ta phải luôn nhớ lại những gì
Thiên Chúa đã làm cho mình. Nhớ như thế sẽ cho chúng ta đủ can đảm và
tin tưởng bước vào mùa chay thánh. Bởi lẽ những điều được nhắc đến trong
bài đọc thứ nhất tức ơn Chúa giải cứu dân Ngài, dân chẳng thể tự giải
thoát khỏi cảnh nô lệ, thì ngày nay Ngài cũng vẫn có thể làm cho Hội
Thánh.
Qua bài đọc này, Giáo hội cũng nhắc nhớ
rằng chúng ta hằng có một Thiên Chúa nhìn thấy những đau đớn, nhọc nhằn
cũa chúng ta và Ngài cũng đến giải cứu. Chúng ta cần được nhắc nhớ như
vậy để chúng ta bước vào mùa chay đúng hướng. Chúng ta nhớ lại tội lỗi
mình. Điều đó rất tốt. Nhưng xin đừng dừng lại ở những sai lầm đó, mà
hãy thống thiết kêu xin Chúa giải cứu. Khi chúng ta dâng lễ vật đầu mùa
chay lên Thiên Chúa, giống như dân Do thái, thì Giáo hội cũng muốn chúng
ta ý thức Thiên Chúa đó là Đấng nào. Vậy chúng ta hãy đặt hy vọng và tin
tưởng vào sự giải cứu của Người. Thánh nhan Ngài luôn luôn chiếu giãi để
dẫn dắt chúng ta về đường chính ,nẻo ngay.
Sách Đệ nhị luật là sách ghi lại lời giáo
huấn thật dài ông Môi-sê khuyên dân Do thái khi họ chuẩn bị vào Đất
Hứa.Ong nói với họ về lễ vật đầu mùa. Đoạn này là về những lễ nghi và
ngôn từ kính mừng ơn lành của Thiên Chúa. Lễ vật họ dâng là chính hoa
mầu ruộng đất họ đã làm ra. Như thế việc thờ phượng và lao động của họ
được nối kết với nhau như một. Điều đó làm cho chúng ta phải suy đi gẫm
lại trong suốt mùa chay này. Làm thế nào để chúng ta có thể giữ được
thống nhất trong cuộc sống ? Tại sao thường ngày chúng ta phải chia năm
sẻ bảy linh hồn ? Tại sao chúng ta phải xây dựng một bên là “thánh” một
bên là “trần tục” ? trong cõi lòng ? Nếu như chúng ta hiệp nhất lao động
với tâm tình thờ phượng Chúa để làm lễ vật dâng lên Ngài, lễ vật Ngài
ban tặng luôn mãi thì có được không ? Nếu như chúng ta coi khó nhọc mỗi
ngày là cơ hội thuận tiện thờ phượng Chúa,có được không ? Nếu như qúa
bận rộn kiếm ăn hay nói thẳng thừng, không úp mở, không thi vị hóa đời
sống thường nhật, chúng ta phải đi “húc”, đi kiếm tiền, vì mỗi ngày là
một đôla khác, thì liệu chúng ta có tìm ra được giây phút hầu việc Chúa
không ?
Câu trả lời nằm ở bài đọc Tin mừng Th.
Luca. Thử thách để biết vàng, thau. Thử thách để biết chân, gỉa . Thử
thách để biết trung thành hay phản loạn, cho nên những cám dỗ, thử thách
của Chúa Giêsu là có thực, chứ không phải gỉa vờ. Chúa đã chịu thử thách
về căn tính “Con Thiên Chúa” của Ngài và về “sứ vụ cứu độ” của Ngài. Tên
của Ngài đã được thiên thần gọi khi truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria.
“Con Đấng Tối Cao” và khi Ngài chịu phép rửa ở sông Giodanô tiếng từ
trời phán: “Này là Con Ta yêu dấu”. Nếu như Ngài đã nhượng bộ các cơn
cám dỗ, tên đó còn có nghĩa gì không ? Nếu như Ngài thất bại trong những
thử thách, thì Ngài còn là con yêu dấu nữa không hay đã trở thành phản
loạn ? Vậy thì người ta đòi hỏ những gì ở một người con của Thiên Chúa ?
Người ta ước vọng những gì ở một người được Thiên Chúa yêu dấu ? Những
đứa con yêu dấu này của Thiên Chúa phải đi qua cuộc đời ra sao ? Những
cám dỗ của Chúa Giêsu là có thật. Chiến thắng của Ngài là có thật. Nhờ
Ngài tất cả chúng ta, dù phản loạn, đã được giao hòa với Thiên Chúa Cha.
Và chúng ta học được từ gương sáng Chúa Giêsu phải sống làm sao để được
làm con yêu dấu của Thiên Chúa, làm vui thỏa lòng Ngài mọi đàng .
Thực ra trình thuật về các thử thách của
Chúa Giêsu là một bản tóm lược sứ vụ của Ngài. Các cơn cám dỗ sẽ tiếp
tục trải dài trong suốt cuộc sống cho đến mãi tận cùng dời Ngài. Nhiều
lần Ngài đã chứng kiến lòng dạ chai đá đến ương ngạnh của giới cầm đầu
tôn giáo thời bấy giờ, nhiều lần Ngài đã chịu đựng tính chao đảo tình
cảm của dân chúng, nhiều lần Ngài đã qưở trách các môn đệ vì yếu lòng
tin, thế thì Ngài có bị cám dỗ thực hiện một phép lạ vĩ đại, một điều
chi cực kỳ ngọan mục để thuyết phục họ về sứ vụ của Ngài không ? chắc
chắn là có,nhưng Ngài đã vượt qua. Đảng “Nhiệt Thành”(Zealot) sẽ yêu mến
Ngài,về phe với Ngài nếu như Ngài nắm quyền chính trị, lật đổ người
Roma, thu tóm mọi vinh quang trong tay. Trước những chống đối ngày càng
tăng các tông đồ muốn Ngài làm một vài dấu lạ đầy uy quyền để đè bẹp đối
phương và để củng co lòng tin non yếu của nhiều môn đệ. Vào thời Chúa
Giêsu có rất nhiều người đói khát, kể cả Ngài. Vậy thì Ngài có bị cám dỗ
hằng ngày biến bánh ra nhiều từ các tảng đá để nuôi sống họ hay không?
Chắc chắn là có, nhưng Ngài đã vượt qua.
Những thử thách của Chúa Giêsu có liên hệ
gì đến chúng ta ? Chúng ta chẳng biết các cơn cám dỗ của Ngài xảy ra ở
đâu, quang cảnh địa lý thế nào, vĩ tuyến nào, kinh tuyến nào ? Nhưng
chúng ta biết rõ những hoàn cảnh của các thử thánh đó. Nó ở trong tâm
trí, trong gia đình, trong xóm làng, trong giáo xứ, trong xã hội…chúng
ta. Nó ở trong những quyết định lành thánh của chúng ta để lung lay
những quyết định đó. Nó ở trong cộng đồng nghề nghiệp, trong chương
trình TV, trong quán rượu đèn mờ, trong những cuộc vui chơi … để lôi kéo
chúng ta trật đường thánh thiện ! Hoang địa có thể là nơi để nên thánh
như hoang địa của Chúa Giêsu, nhưng hoang địa cũng có thể là nơi để qủi
dữ hoành hành như hoang địa của những người bị qủi ám ! Xã hội là nơi
chúng ta nên trọn lành, nhưng xã hội cũng biến chúng ta thành ma qủi.
Những cám dỗ của chúng ta không ngoạn mục
như trong Tin Mừng. Nhưng dần dần mỗi khi một ít…từng giờ, từng ngày,
sức mạnh của nó cũng đủ đè bẹp chúng ta như nó có thể đè bẹp Chúa Giêsu.
Những sai trái mà Chúa Giêsu trông thấy trong các cơn cám dỗ của Ngài là
bánh ăn không khổ công lao động (hãy biến hòn đá này thành bánh mà ăn),
quyền lực không do Chúa an bài (tôi, ma qủi, sẽ cho ông tất cả những
nước đó…) kiêu ngạo, cậy nhờ Chúa vô lý, (gieo mình xuống đi…). Nếu Chúa
Giêsu không đứng vững trong các cơn cám dỗ này, người sẽ chao đảo khỏi
thánh ý Chúa, khỏi những an bài thông thường Chúa muốn cho nhân loại,
chạy trốn khỏi đau thương, không chịu lệ thuộc vào Thiên Chúa, giả tảng
không có sự chết. Ngài sẽ được mọi người tung hô, như thiên hạ tung hô
các ngôi sao điện ảnh, các người hùng bóng đá…Nhưng than ôi chẳng còn ai
theo, khi Ngài đi vào thất bại và sự chết !
Con đường của Chúa Giêsu là con đường
khiêm nhu. Những dấu lạ của Ngài chỉ có thể nhìn thấy bằng đức tin !
Người ta chẳng thể đợi trông Ngài làm cách mạng, lật đổ ách thống trị
ngoại bang. Những kẻ theo Ngài chỉ thấy một “con người” chịu đựng mọi
gian nan, nghèo khổ, đi lẫn trong đám đông vô danh tiểu tốt, bề ngoài
chẳng có vẻ chi là lãnh tụ cao cường. Nhưng lòng thương xót của Ngài
thật vô biên. Ngài đi hết đường đời nhân loại, đi đến tận cùng một kết
thúc đau thương, cay đắng. Ngài mời gọi chúng ta theo Ngài, không phải
để được nổi danh, nhưng để được trở nên một người con của Thiên Chúa sẵn
sàng chấp nhận số phận nhân loại với các hạn chế và thử thách. Một người
con kiên cường tín nhiệm và phó thác vào tay Thiên Chúa, bất chấp mọi
đau thương kể cả cái chết. Khi chúng ta đã theo Ngài như thế, chúng ta
sẽ được một sức mạnh vô song để đối phó với khó khăn của cuộc đời .
Trong Tin mừng Thánh Luca, Gioan Tẩy Gỉa
hứa : “Đấng có quyền năng hơn tôi đang đến”. Chúng ta cần sự trợ
giúp của Đấng có quyền năng như thế. Nhưng lạ lùng thay, quyền năng của
Ngài lại được thể hiện qua yêu thương, tha thứ và cảm thông. Quyền năng
đó chẳng là gì trong mắt satan và những thế lực chống đối Ngài. Thực tế,
họ đã thành công triệt hạ Ngài. Nhưng sự chết lại là khởi đầu sự phục
sinh. Chiến thắng cuối cùng về Đấng đầy thần khí. Ngài đã ban thần khí
đó cho chúng ta để khích lệ chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa. Và trong
mùa chay này cùng với Thần khí chúng ta từng bước đi trọn con đường qua
sa mạc trần gian. Amen.
Fr Jude Siciliano, OP.
Lời Chúa Là Sức Sống
(Lc 4,1-13)
Thưa quý vị,
Trong một cuộc trò chuyện gia đình,
tôi được nghe lời bình phẩm về một người phụ nữ. Ngừơi nói dùng thành
ngữ lạ trong tiếng Mỹ “cô ta đi trong lời nói” (she walks the talk).
Thành ngữ này xuất hiện cách đây vài năm và lần đầu tiên tôi được nghe
là ở trong nhà nguyện của một khám đường. Lúc ấy tôi hỏi một tù nhân về
ông bảo vệ rất có ấn tượng. Người tù trả lời: “Lão ta hả ? Hắn đi
trong lời mình!” (That guy walks the talk). Sau đó, trong các phạm
nhân, thành ngữ thường được dùng để mô tả con người lương thiện, lời nói
đi đôi với việc làm. Ngôn ngữ Trung Hoa thì “tri hành hợp nhất”. Nghĩa
là một tù nhân đã cải tạo tốt, biết trách nhiệm về lời mình hứa với ban
giám đốc, không khoa trương để lừa gạt họ. Thành ngữ lan ra đường phố,
xóm làng và cả nước. Tôi ước ao ai đó cũng tặng cho tôi danh từ này, nó
đúng là một lời khen thưởng, dù là giữa đám phạm nhân, người lính gác
hoặc ở ngoài đời tự do, trong Giáo Hội… Chúng ta thường bị bao vây bằng
lời người khác (đúng hơn bằng ý kiến của họ). Thí dụ một phụ nữ bị ung
thư, bà ta sợ chết và sợ luôn cách chữa trị đau đớn, mổ xẻ và cắt bỏ,
hậu quả đè nặng trên toàn thể gia đình. Người chồng phải ủi an: “Đừng
sợ em yêu ạ! Anh sẽ luôn ở bên cạnh em.” Lời hứa của chồng an ủi bà,
làm cho bà phần nào yên tâm. Đứa trẻ ba tuổi sắp lên giường mổ cắt
Amidan (Amygdante). Cha mẹ động viên : “Bé giỏi
ghê, khi tỉnh con sẽ thấy cha mẹ đang mỉm cười nhìn con.”
Nói chung, những lời như vậy làm
chúng ta yên lòng và can đảm dấn bước vào những khó khăn. Chúng ta được
thêm nghị lực đối diện tương lai bất trắc. Chúng ta tin cậy vào những
nhân vật hứa như vậy và hy vọng họ đi trong lời mình. Về đời sống thiêng
liêng cũng vậy, chúng ta tin tưởng vào Lời Chúa vì lúc nào Ngài cũng
“tri hành hợp nhất.” Ngài hứa là Ngài làm, không có sự cách biệt như
loài người. Bởi Ngài quyền năng vô tận. Tương lai nhân loại được bảo đảm
vững chắc trong lời Chúa hứa nơi Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã ban Lời hằng
sống. Ngôi Lời đã nhập thể, làm thành viên của nhân loại, đi lại giữa
chúng ta. Không phải chỉ là hình bóng như các thần linh trong chuyện cổ
dân gian. Ngài thực sự mang thân xác, sống giữa anh em mình. Những lời
Người nói, việc Người làm đều là quyền năng, chân lý và hiện thực. Chẳng
hề lừa dối hay “không tưởng” như thiên hạ gán cho Ngài. Nhân loại cần
một Cứu Chúa thật sự chứ không phải giả nhân, giả thần như một nhân vật
trong phim Star Trek (vết sao đi). Ông ta trông giống người nhưng không
biết đau, không biết vui buồn là gì và cũng chẳng biết thương khóc kẻ
chết. Chúng ta cần một Thiên Chúa làm người, biết cảm thông với nhân
loại trong hết mọi tình huống: Vui, giận, mừng, lo. Vui khi được yêu,
buồn khi bị phản bội, thổn thức khóc thương khi bạn bè qua đời. Ngài
thực sự “bước đi trong ngôn ngữ của mình”.
Các cám dỗ được miêu tả trong chúa
nhật hôm nay khởi sự tiến trình đó, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài,
Ngài mời gọi nhân loại cùng tiến bứơc. Vừa lúc Ngài lãnh nhận phép rửa
của Gioan bên sông Giođan thì đã gặp quỷ cám dỗ. Hắn thách thức Ngài dấn
sâu đến mức độ nào vào các nhọc nhằn hàng ngày của nhân loại. Liệu Ngài
có đủ can đảm chịu đựng các cơn đói mà chúng ta, con cái chúng ta, hàng
xóm láng giềng, gặp phải thường xuyên? Hay dùng quyền năng mà biến đá
thành bánh để thoả mãn dạ dày? Liệu Ngài có chịu đựng nổi những khát
khao vật chất, tiền bạc, giàu sang mà trái tim con người thường bị lôi
cuốn ? Hay dùng phép màu để vượt khó? Liệu Ngài có dùng dấu lạ ngoạn mục
những bữa ăn nhất thời để lôi kéo đám đông theo mình? Hay cương quyết
rao giảng chân lý Đức Chúa Trời, bất chấp mọi thất vọng xác thịt? Ngài
sẽ thất bại nếu Ngài bỏ qua những nỗi đau, phiền muộn, khổ ải của loài
người, bởi nó là định mệnh bất cứ ai cũng gặp lúc này hay lúc khác. Hơn
nữa, nếu đó là kỹ thuật lôi kéo đệ tử thì Ngài chỉ thành công bao lâu
lương thực, thực phẩm còn trong dạ dày họ. Khi đói khổ đến họ sẽ bỏ Ngài,
dại gì mà dấn thân theo Ngài với cái bụng lép, với những gian truân khổ
ải ! Lời Ngài kêu gọi “từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta” sẽ
chẳng được ai lắng nghe. Chúng ta đã biết câu trả lời của Ngài và của
mọi tín hữu trung thành với giáo huấn của Ngài:
“Người ta sống không nguyên chỉ bằng bánh”.
Tiếp theo ma quỷ tung ra một chưởng khác
độc ác hơn. Hắn bày ra trước mặt Ngài vinh quang của các quốc gia trên
thế giới trong nháy mắt, rồi đề nghị Ngài thờ lạy hắn để có được những
thứ đó. Nếu vào trường hợp chúng ta, những kẻ đang đói khát quyền lực,
chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận, bởi lẽ chẳng có chi hấp dẫn hơn ! Đây là
mùa tranh cử ở nước Mỹ, chúng ta hãy bình tĩnh gẫm xem người ta vận động
thế nào, hứa hẹn những gì để được đắc cử ? Người ta sẵn sàng đặt trên
bàn thờ ngẫu tượng, danh dự, tiền tài, dịch vụ, thoả hiệp và ngay cả tôn
giáo để được nhân dân ủng hộ. Họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để được vinh
quang và quyền bính của “các nước trên thế gian”. Nhưng Chúa
Giêsu đã từ chối. Ngài chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi, ngoài
ra mọi thứ đều là rơm rác. Ngài nhất quyết chọn lựa kiếp sống con người
bình thường, chẳng ăn trên ngồi trốc ai. Ngài gánh chịu số phận của dân
làng, hàng xóm láng giềng Ngài đang bị đế quốc Rôma dày xéo. Ngài lầm
lũi bước những bước nặng nề của những kẻ lầm than mất nước. Những ai là
công dân hạng hai, không tên tuổi, không căn cước, sẽ thấy Ngài lựa chọn
sống trọn vẹn con đường nhân loại với Thiên Chúa là Thượng Đế của mình.
Chưởng thứ ba của cơn cám dỗ nguy hiểm hơn: “Nếu ông là con Thiên
Chúa, hãy gieo mình xuống đất, vì có lời chép rằng Thiên Chúa sẽ sai
thiên sứ giữ gìn ông…”. Suốt cuộc đời Chúa Giêsu đã phải chịu đựng
cơn cám dỗ này ngay cả trong vườn cây dầu. Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ
này, Cha nói Cha yêu Con, xin cho Con một cuộc sống dễ dãi, khổ đau như
thế này thật quá sức chịu đựng. Suốt cuộc đời người tín hữu cũng chịu
dằn vặt vì cơn cám dỗ giai dẳng này, kể cả những kẻ đi tu. Tuy đã khấn
hứa từ bỏ thế gian và ma quỷ khi chịu phép rửa tội, nhưng thực tế chúng
ta luôn bị lôi cuốn tìm một đời sống phú quý, giàu sang, đầy đủ tiện
nghi, Tivi, tủ lạnh, xe hơi, nhà lầu và xa tránh những khó khăn của cuộc
sống. Chúng ta muốn Chúa luôn bảo vệ che chở mình, hy vọng một cuộc đời
vắng bóng đau khổ và thất bại. Được như vậy chúng ta gọi là hồng ân.
Ngược lại lúc gặp gian nan thử thách chúng ta kêu trách Chúa ở đâu ? Nếu
Chúa yêu mến loài người tại sao chúng ta thất bại trong công ăn việc
làm, bị chống đối, khước từ, sa thải …
Nhưng xét xem trong cuộc đời Chúa Cứu Thế,
không có trường hợp nào Ngài được miễn trừ khỏi đau đớn, chống đối, kể
cả cái chết. Ngài sống hoàn toàn kiếp sống nhân loại, luôn vướng mắc vào
những khốn đốn của gian trần. Chẳng khi nào Đức Chúa Trời cho phép Ngài
thoát khỏi những giây phút nguy nan. Cho nên những kẻ theo Ngài cũng
phải chống lại cám dỗ bánh ăn không lao động, quyền bính nhờ bè phái, ô
dù, thờ phượng Mammom thay vì Thiên Chúa, kiêu ngạo tưởng mình thần
tượng kẻ khác phải noi gương. Đức Kitô không bao giờ thu hút người ta
bằng ân huệ thần linh. Ngài đòi hỏi đức tin và đức tin ban ơn lành cho
họ. Ngài cũng chẳng được giải thoát khi thù địch bốn bề vây kín. Thánh
Phêrô đề nghị kêu xin Đức Chúa Trời. Nhưng Ngài từ chối : “Anh tưởng
là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao ? Người sẽ cấp ngay cho Thầy
hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng
nghiệm sao được” (Mt 26,53), và Ngài cũng không còn như chúng ta,
nhân loại yếu đuối nữa. Khi nghe quỷ dữ đề nghị gieo mình xuống từ tháp
cao đền thờ, Ngài đã từ chối để nên giống loài người hoàn toàn. Ngài
cũng vấp ngã, bị trầy da chóc thịt, cũng đói, cũng khát, cũng gặp thất
bại, chống đối, khinh bỉ, chê cười như loài người, chứ không được thiên
thần bảo vệ.
Đúng là Ngài đã “bước đi trong lời
mình nói”, ở với nhân loại, giống như nhân loại. Ngài đã liều lĩnh
đặt sứ điệp vào tay những kẻ tầm thường chứ không phải những người quyền
cao chức trọng của đền thờ. Phêrô, Gioan, Philipphê, Tôma… đâu có học
hành gì, suốt đời thả lưới bắt cá, làm sao đủ khả năng lên lớp đạo đức
cho thiên hạ? Ấy vậy mà Ngài đã tin tưởng họ, đặt tương lai Giáo Hội vào
tay họ, cho họ một cơ hội. Đúng là liều lĩnh, đặt cược với may mắn.
Nhưng Phúc Âm cho chúng ta hay Ngài đã thật sự “đi trong lời nói”.
Chúng ta tưởng tượng tên cám dỗ hỏi Chúa
Giêsu: Ông nói ông đồng hoá với loài người, liệu ông có đi trọn số kiếp
của họ? Không lẩn trốn, không thối lui, không cầu lợi danh, không thành
công sáng chói? Tin Mừng hôm nay trả lời: “Phải, Chúa Giêsu đã làm
đúng như vậy”. Ngược lại, giáo dân thường ngủ vùi trong nếp sống.
Tôi biết một tín hữu nọ tạm tạm là tốt lành. Một hôm ông vào gian nhà
cải huấn, ông trông thấy toàn những con người say sưa, đói rách, tan nát,
ông vội bước ra ngay: “Ta đâu có mạt kiếp như họ !” ông đã để lỡ
mất cơ hội ăn năn. Ông không dám đồng hoá với họ, nết xấu khó bỏ, thói
quen không tốt, uống rượu, rầy la vợ con. Não trạng “biệt phái” không
cho phép ông thay đổi nếp sống. Mùa Chay đã bắt đầu, nó giống như bước
vào căn phòng toàn những con người khuyết điểm, đi lạc khỏi giáo huấn
của Chúa, thất bại trong đời sống luân lý: xì ke ma tuý, cờ bạc rượu chè,
đĩ điếm, những kẻ lừa đảo, những linh hồn giả hình, những tay buôn người,
đâm thuê chém mướn… tất cả đều ở trong phòng mùa Chay này, cầu xin ơn
tha thứ và xót thương.
Ở một mức độ nào đó, chúng ta đều cần
điều chỉnh lại nếp sống, đều cần “bước đi trong lời mình nói”. Cho nên
thật ích lợi khi chúng ta nhìn lại những cám dỗ của Chúa Giêsu, làm cho
chiến thắng của Ngài ứng nghiệm nơi bản thân. Chẳng ai ép buộc chúng ta
bước vào mùa Chay. Chúng ta cần đến nó và chọn lựa cho mình phương thức
khổ chế thích hợp. Chúng ta phải nhủ mình: “Tôi giống như những con
người tội lỗi này. Tôi phải trực diện với chính mình và khát khao sống
tốt lành hơn, nếu tôi muốn là Kitô hữu thực sự, không phải nửa vời, mà
hoàn toàn thành tâm với Chúa Giêsu, với Hội Thánh. Mùa Chay sẽ hướng dẫn
chúng ta tìm ra chính mình như Chúa Giêsu đã làm trong sa mạc. Nhờ việc
từ chối những danh hiệu giả tạo, Ngài đã khẳng định căn cước thật của
mình: Đấng Thiên Sai tiến bước giữa nhân loại, hoàn toàn đồng hoá với
chúng ta mà vẫn trung thành với Thiên Chúa, ngay cả lúc gian nan thất
bại.
Những
điều Chúa Giêsu thực hiện ở Palestine khi xưa, chúng ta có thể làm hôm
nay. Từ chối noi gương Ngài là phản bội Thiên Chúa. Thần Khí đã hướng
dẫn Chúa Giêsu trong hoang địa, thì cũng chính Thần Khí ấy được ban cho
chúng ta hôm nay. Bài đọc Đệ nhị luật nói rõ: Nhờ Ngài chúng ta ý thức
được tình trạng nô lệ tội lỗi của mình tựa như dân Israel rên siết dưới
ách Pharaon. Nhưng Thiên Chúa đã nhìn, đã thương xót nỗi nhọc nhằn của
chúng ta, như Người đã trông thấy nỗi thống khổ của dân Do Thái xưa.
Ngài đã quyết định giải cứu chúng ta trong mùa Chay này. Và cũng chính
Thiên Chúa của Israel mà chúng ta dâng lễ vật, khi dâng của lễ, dân Do
Thái được nhắc nhở Đức Chúa là ai, tương quan của họ với Đức Chúa thế
nào và họ đặt tin tưởng vào sự giải cứu từ Thiên Chúa.
Bài
đọc là một phần của huấn dụ dài mà ông Môsê ban cho dân Do Thái trước
lúc chết. Ông truyền cho họ phải dâng của đầu mùa lên trước tôn Nhan
Thiên Chúa và ôn lại lịch sử đất nước. Của lễ đầu mùa mà họ dâng chính
là “hoa màu ruộng đất và lao công của con người”. Hai lễ vật kết
kiệp nên một. Lao động và thờ phượng không còn là hai thực tế tách biệt
nữa mà hoà lẫn với nhau thành một. Vậy thì tại sao ngày nay chúng ta lại
phải phân chia ? Một bên là “đạo” một bên là “đời ”? một bên kinh nguyện
một bên lao động ? Nếu chúng ta kết hợp cả hai nên một như Môsê đã
truyền cho dân Do Thái, có được không ? Như vậy cả cuộc đời chúng ta là
giờ khắc thờ phượng Thiên Chúa. Đẹp biết mấy. Xin cho chúng ta thực hiện
được trong mùa Chay thánh thiện này. Không còn phải “lúc” kiếm tiền và
khản cổ cầu xin. Amen.
G. Nguyễn Cao Luật op
Lại một cuộc phiêu lưu mới
(Lc 4,1-13)
Chỉ tín thác vào Thiên Chúa
Các tác giả sách Tin Mừng vẫn thường nhấn
mạnh mối tương quan giữa hai sự kiện Đức Giêsu chịu phép rửa và chịu cám
dỗ trong hoang địa: tại sông Giođan, Thần Khí TC đã ngự xuống trên Người,
dưới hình chim bồ câu; và sau đó, cũng Thần Khí đã dẫn Người vào hoang
địa. Tác giả Luca đã nhân cơ hội này để phác họa chân dung hai nhân vật
trong thảm kịch sẽ đạt tới cao điểm vào “thời gian ấn định”, tức là ngày
thứ Sáu Tuần Thánh. Ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã
đối đầu với ma quỉ, tác viên chính trong cuộc Khổ Nạn. Trong trình thuật
cám dỗ này, Đức Giêsu cũng cho thấy bằng cách nào Người minh chứng thân
phận của Đức Kitô, Con Thiên Chúa.
Vậy, theo Luca, Đức Giêsu làm gì để chứng
tỏ Người là Con Thiên Chúa ? Người đã từ chối sử dụng sức mạnh như một
thứ quyền lực có tính ma thuật và hướng đến những mục tiêu ích kỷ. Tiếp
đến, Người so sánh vương quyền của Người với những yêu cầu chính trị của
trần gian: vương quyền của Người chỉ qui phục Thiên Chúa, nhờ đó Người
có tất cả quyền hành. Sau cùng, khi đuợc dẫn lên Giêrusalem, Người đã từ
chối đề nghị thử thách Chúa Cha : quỉ đã đề nghị Người xin Chúa Cha nâng
đỡ cách đặc biệt để tỏ cho mọi người thấy tính cách chính thức của Người.
Như vậy, ý hướng của tác giả là muốn cho
mọi Kitô hữu thấy Đức Giêsu là gương mẫu cho họ, bởi vì thử thách là
điều vẫn xảy đến cho họ mỗi ngày.
Trình thuật Tin Mừng cuộc thử thách tại
hoang địa là bản tóm lược về cuộc đời và con người Đức Giêsu. Bởi vì thử
thách không phải là điều chỉ xảy ra một lần và trong khoảnh khắc: thử
thách còn trở lại. Trong câu cuối cùng, bản văn ghi lại: “ma quỉ bỏ
Người mà đi, chờ đợi thời cơ”. Thời cơ đó chính là cuộc Khổ Nạn.
Như thế, trình thuật Tin Mừng hôm nay
thực là một hình ảnh sống động về toàn bộ cuộc đời của Đức Kitô. Câu nói
“cứu lấy mình đi” của đám lính khi Đức Giêsu chịu treo trên thập giá chỉ
là lặp lại lời thách thức hôm nay: “ Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng
dậy mà gieo mình xuống đi!”
Cuộc thử thách hôm nay cũng là việc lặp
lại, theo chiều đối nghịch, lịch sử đầy thất bại của đoàn dân tuyển chọn.
Bốn muơi ngày trong hoang địa… Bốn muơi năm. Vẫn luôn là cơn cám dỗ đó,
vẫn luôn là ý định bắt Thiên Chúa phải phục vụ mình, vẫn luôn là quyến
rũ đạt được thành công do ngẫu tượng, các quyền lực trần gian.
Thế nhưng, Đức Giêsu, theo cái nhìn chung,
vẫn là Con Người. Tác giả Luca đã nhấn mạnh điều này khi nói đến sự liên
tục từ nguyên tổ A-đam đến Đức Kitô. Với Đức Giêsu, nhân loại lại lên
đường để thể hiện ơn gọi của mình.
Cuối cùng, những cám dỗ trong cuộc thử
thách của Đức Giêsu là hình ảnh về những vấn đề cơ bản vẫn được đặt ra
trong suốt cuộc hành trình của nhân loại. Liệu con người có nghe được
lời Thiên Chúa và chấp thuận cuộc sống tư cách làm con Thiên Chúa, như
Đức Giêsu đã sống ?
Những thử thách muôn thuở
Vào cuối bản văn Tin Mừng, tác giả ghi
lại: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ…” như là quỉ không còn nghĩ ra
được điều gì nữa để thử Đức Giêsu. Tại sao thế ? Chẳng lẽ chỉ có ba cám
dỗ, quỉ hết cách ! Hay là ba cám dỗ này đã đủ để nói lên tất cả ? Nên
nhìn lại một chút để thấy rõ hơn:
- Cám dỗ thứ nhất: biến đá thành bánh. Quả là một
thử thách lớn lao khi người ta bị rơi vào cảnh đói khát. Và cũng quả là
một thử thách lớn khi muốn giải quyết những nhu cầu căn bản bằng chiếc
đũa thần kỳ diệu, khi muốn chuyển sang CÓ trước khi LÀ. Đâu là cuộc sống
đích thực của con người ? Phải chăng chỉ nhờ cơm bánh hay những của cải
thu được mà không phải làm gì ? Đức Giêsu cho thấy rằng:
“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh !”
- Cám dỗ thứ hai : quyền lực và
vinh quang. Điều này mọi người đều biết : ai lại không khao khát mình
đứng trên, có quyền trên người khác ? Khi một người bị kẻ khác đàn áp,
trong công việc hay trong những điều khác, lập tức người ấy thường tìm
cách thể hiện quyền của mình, có khi trên một con vật, một đứa trẻ hay
trên những kẻ yếu thế hơn … Đây chỉ là một ví dụ.
- Cám dỗ thứ ba : uy quyền
của Thiên Chúa trên chính mình. Đây là một cám dỗ ghê gớm, nó vẫn thường
xuất hiện tại những khúc quanh trên hành trình đức tin. Người ta thường
kêu lên : “Nếu Ngài là Thiên Chúa, hãy thực
hiện điều này … hãy làm điều kia !”
Nếu Ngài không thực hiện, thì Ngài cũng
chẳng phải là Thiên Chúa, vì Ngài tuân phục loài người. Biết bao nhiêu
lần, đàng sau những lời cầu nguyện, trong những ngõ ngách của tâm hồn,
lại vẫn không ẩn giấu tham vọng muốn Thiên Chúa làm theo ý mình đó sao ?
Đó là ba cám dỗ quỉ đã đưa ra để thử Đức
Giêsu, và nó đã thất bại. Quỉ đã đưa ra những cám dỗ này như những
“tuyệt chiêu” nhằm hạ thủ Đức Giêsu, nhưng Người đã dùng lời Thiên Chúa
mà chế ngự. Rút cuộc quỉ đã phải tháo lui. Những người môn đệ của Đức
Kitô có nghĩ rằng đây là những cám dỗ mạnh nhất mà họ phải đương đầu
không ? Họ có nghĩ rằng những cám dỗ ấy thu tóm tất cả khát vọng của con
người về sự sở hữu và quyền lực không ? Điều này tùy thuộc vào nhận thức
và kinh nghiệm của mỗi người.
Ngược lại, chính tình yêu đem lại giá trị
siêu việt, tình yêu thách thức với quyền lực, tình yêu là sự trông chờ
Thiên Chúa. Khi sống với tình yêu, con người sẽ thoát khỏi mọi cám dỗ,
và sẵn sàng để gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu.
Tiến bước trong niềm vui
Toàn bộ cuộc sống Kitô hữu chúng ta tại
trần gian này vẫn thường gặp những cám dỗ như thế: tôn thờ tiền bạc; phô
trương quyền lực khi sử dụng nó làm phương hại đến người khác; lệ thuộc
vào tôn giáo, coi tôn giáo như một phương tiện để thỏa mãn tham vọng cá
nhân. Có biết bao thứ mặt nạ mà quỉ vẫn dùng để làm cho con người nghi
ngờ về cuộc sống của mình. Có biết bao người cảm thấy khó khăn khi phải
nói lên lời “không” trước những cám dỗ như thế. Họ nghĩ rằng thu tích
của cải thì tốt hơn là chia sẻ, củng cố quyền hành thì tốt hơn là phục
vụ, và sẵn sàng sử dụng những điều tốt lành thiêng liêng vào những mục
đích phàm trần.
Khi thu tóm nơi mình những cám dỗ của dân
Ít-ra-en và của toàn thể nhân loại, ngay trước khi thi hành sứ vụ rao
giảng Tin Mừng, Đức Giêsu cho chúng ta thấy Người hoàn toàn tín thác
trong tay Chúa Cha, hoàn toàn tin tưởng vàolời Thiên Chúa.
Như vậy, thái độ cần phải có trong mùa
Chay này là lòng tín thác vào Thiên Chúa. Sự tín thác này không giảm bớt
tầm quan trọng trong những cuộc chiến và những sức mạnh đang đe dọa
chúng ta. Chúng ta không thể chiến thắng được sự dữ nếu không tin tưởng
vào Thiên Chúa. Chúng ta sẽ gục ngã trước sức mạnh của sự dữ nếu chúng
ta chỉ dựa vào sức lực riêng của mình.
Ở đây chúng ta nhớ đến lời Đức Kitô nhắn
nhủ các môn đệ : “Giống quỉ ấy chỉ trừ được bằng lời cầu nguyện thôi”
(Mc 9,29). Cầu nguyện để duy trì cuộc tiếp xúc thường xuyên với
Thiên Chúa, cầu nguyện để khổ chế.
Tiếp đến, noi gương Đức Giêsu, chúng ta
sống đời chay tịnh để chia sẻ cho những người đang đói, để thanh luyện
chính mình, nhất là để sám hối và tiến bước trong niềm tin… Như thế, một
cuộc phiêu lưu mới lại bắt đầu !
Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Cám dỗ (Lc 4,1-13)
Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng công
khai, Chúa Giêsu đã vào hoang địa để ăn chay, cầu nguyện 40 ngày, sau đó
ma quỷ đến cám dỗ Chúa. Thánh Lu-ca cho biết Chúa bị cám dỗ ba đợt, từ
những quyến rũ thấp nhất đến những quyến rũ cao nhất, đó là miếng ăn,
danh vọng và kiêu ngạo.
Ma quỷ rất tinh khôn, biết Chúa trong 40
ngày chay tịnh, không ăn uống gì, chắc phải đói lắm, nó liền lợi dụng
cái đói tự nhiên này để cám dỗ Chúa, nó đem đến một hòn đá và bảo Chúa :
“Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi”. Phải
chăng ma quỷ muốn cám dỗ Chúa về sự mê ăn uống ? Vô lý, nếu ma quỷ muốn
vậy thì tại sao nó không kiếm ra bánh trước rồi đem đến cám dỗ có phải
dễ dàng thành công hơn không ? Nhưng ở đây ma quỷ lại nói Chúa làm phép
lạ từ đá ra bánh, cho thấy ma quỷ cám dỗ khá tinh khôn, nó muốn Chúa sử
dụng sai lạc uy quyền Thiên Chúa, thay vì dùng vào việc cứu độ thì dùng
vào việc tư lợi ích kỷ cho riêng mình, nó muốn Chúa dùng quyền phép mình
mà đề cao mình, phô trương mình, nên nó lợi dụng ngay cái đói tự nhiên
để làm Chúa mất lòng tin nơi Thiên Chúa Cha quan phòng. Vì tại sao bao
nhiêu đêm ngày không đói mà nay tới ngày 40 lại đói ? như vậy ma quỷ
muốn Chúa Giêsu dùng sai uy quyền của Ngài. Thế nghĩa là ma quỷ muốn
đánh mạnh vào nhược điểm chung của nhân loại là tính mê ăn uống, là tính
hay lo đến phần xác quá đáng mà mất tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng.
Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào ? Chúa không chê cơm bánh, cũng không làm
phép lạ, nhưng Chúa nói : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng
còn bằng những lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Nghĩa là con người sống
không phải chỉ có khía cạnh thể lý, nhưng còn phần khác siêu việt cao
quý hơn, đó là phần hồn, phần thiêng liêng, những nhu cầu thể xác chỉ là
phụ khi đem so sánh với nhu cầu thiêng liêng.
Thế là thất bại, ma quỷ bày keo khác, nó
đem Chúa lên một nơi cao và chỉ cho Chúa thấy khắp bàn dân thiên hạ,
thấy mọi vinh quang phú quý uy quyền, nó hứa biếu Chúa tất cả nếu bằng
lòng uốn gối thờ lạy nó. Thờ lạy tức là vâng phục, là đầu hàng. Chúng ta
thấy lời dụ dỗ của ma quỷ rất hấp dẫn, vì dân Do Thái lúc bấy giờ đang
trông mong một Đấng Mê-si-a trần thế, một anh hùng, một vị cứu tinh để
giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc, vì thế ma quỷ xúi
Chúa thờ lạy nó đi là được ngồi ngay vào ghế đó, cờ đến tay rồi, còn chờ
gì nữa không cầm mà phất lên, nhưng Chúa Giêsu đã từ chối bằng câu Kinh
Thánh : “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải
thờ phượng một mình Người mà thôi”. Xưa kia ma quỷ đã thành công trong
việc cám dỗ A-dong E-và, nhưng với Chúa, nó đã thất bại, nhưng đây vẫn
là cái bả hấp dẫn mà ma quỷ vẫn hằng sử dụng để cám dỗ mọi người của mọi
thời đại, bằng cách ban cho tiền tài, danh vọng, lạc thú ngoài đời sống
hôn nhân chính đáng, nhưng ma quỷ không bao giờ cho đi mà không đòi lại,
chúng ta hãy nhớ kỹ điều đó.
Ma quỷ lại bày thêm một keo khác, nó đưa
Chúa lên cao hơn nữa, lên nóc đền thờ Giê-ru-sa-lem, cao hơn mặt đất 40
mét, ở dưới có đông người. Ma quỷ xúi bẩy Chúa : “Nếu ông là Con Thiên
Chúa thì hãy gieo mình xuống đi”. Nếu Chúa nhảy xuống thì thật là một
hành động ngoạn mục, giả như bị chết hay bị thương thì càng tốt, còn nếu
không hề hấn gì như lời kinh Thánh : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ
đỡ nâng, thì Chúa sẽ được mọi người ở dưới vỗ tay hoan hô ca tụng, đề
cao và được biết đến như một người Thiên Chúa sai đến. Thực vậy, khi xúi
giục Chúa gieo mình xuống đất là ma quỷ đã khích động lòng kiêu ngạo vốn
thường có trong mỗi người. Tính kiêu ngạo ẩn núp dưới hai hình thức, là
tôn trọng mình cách vô lối và muốn mọi người khác phải đề cao mình. Ma
quỷ là cha thần kiêu ngạo, nó đem kiêu ngạo vào mọi lãnh vực, đó là điểm
rắc rối của cuộc đời. Biết bao người đã là nạn nhân của lòng tự ái, lòng
háo danh, tự hào tự phụ về tài năng, sắc đẹp, và cả nhân đức nữa. Nhưng
một lần nữa, Chúa Giêsu lại chiến thắng ma quỷ và bảo cho nó biết qua
lời Kinh Thánh : “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”,
nghĩa là đừng đòi hỏi Thiên Chúa làm phép lạ vô ích, rồi Chúa theo cấp
thang từng bậc đi xuống dưới.
Ma quỷ đã cám dỗ Chúa và Chúa đã chiến
thắng tất cả, còn đối với chúng ta ngày nay thì sao ? Ma quỷ vẫn tiếp
tục bày ra cho chúng ta những chước cám dỗ đó, vì ba chước cám dỗ ấy đều
xoay quanh cuộc sống con người. Có những người bị cám dỗ thờ cái bụng
của mình, biết bao người đã ngã gục vì nhậu nhẹt say sưa, có những người
sẵn sàng chịu nhục để được ăn. Rồi có những người bị cám dỗ lấy một cái
gì trước mắt hay lấy mạng sống trần gian này làm tất cả mà quên mất mục
đích đời đời của mình. Rồi có những người bị cám dỗ tìm đường ngang lối
tắt, tìm con đường dễ dàng, muốn ăn gian với lương tâm và với Thiên Chúa.
Rồi có những người bị cám dỗ lấy của cải, danh vọng làm ông thần mà thờ,
sẵn sàng đem tất cả làm của lễ mà tế ông thầy ấy và đi theo con đường
của ông thần ấy… Nói tóm lại, cám dỗ là một sự kiện hiển nhiên, phổ
thông cho hết mọi người, lịch sử nhân loại từ đầu đã làm chứng điều này,
cuộc đời mỗi người cũng kinh nghiệm điều này, cám dỗ không chừa ai, lớn
bé già trẻ giàu nghèo đều có những cám dỗ, như thánh Gio-an Kim Khẩu đã
quả quyết : “Trên đời này không ai mà không bị cám dỗ”.
Vì thế, chúng ta phải luôn đề cao cảnh
giác vơi những cám dỗ và cố gắng vượt qua những cám dỗ ấy, dĩ nhiên Chúa
sẽ trợ giúp chúng ta, nhưng chính chúng ta phải cố gắng bằng cầu nguyện
và hết lòng tin tưởng vào Chúa.
Laurensô Ninh Tú Toàn op
Ba cơn cám dỗ : tình,
tiền và quyền
(Lc 4,1-13)
Mùa chay là thời kỳ đi bộ, phải vất vả
nhọc nhằn, phải hy sinh chịu khó thanh tẩy để tham dự vào chặng đường
khổ nạn của Chúa Kitô. Những hy sinh khổ hạnh trong mùa chay được diễn
tả trong hai bài đọc và trong bài Phúc âm của thánh lễ Chúa nhật I Mùa
chay hôm nay. Cuộc đi bộ, cuộc hành trình trong 40 ngày của mùa chay
được ví như là cuộc hành trình gian lao đau khổ của dân Do thái trong
những năm bị nô lệ bên Ai Cập, bị dân bản xứ hành hạ mạt sát tàn nhẫn.
Hành trình ấy cũng được thánh Tin Mừng
Luca diễn tả rõ ràng : được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu từ sông
Giocđan trở về, sau đó Chúa Thánh Thần đưa ngài đến hoang địa, tại đây
Chúa bị cám dỗ trong vòng 40 ngày, nghĩa là Chúa bị ma quỉ quấy phá sau
khi đã chịu phép rửa của thánh Gioan, tức là sau khi Chúa Giêsu đã được
Chúa Cha long trọng tuyên bố : “Đây là con ta yêu dấu”.
Satan biết rằng Chúa Giêsu có quyền năng
có thể thực thi những dấu chỉ lớn lao, do đó Satan đến cám dỗ Chúa hãy
hành động theo uy quyền của một vị cứu thế theo nghĩa trần gian oai
phong lẫm liệt. Hai lần Satan xúi giục Chúa theo danh nghĩa : “ Nếu ông
là con Thiên Chúa…” Các loại cám dỗ ỷ vào uy thế Thiên Chúa này còn
theo mãi cho đến ngày Chúa chịu tử nạn. Chúa đã bị treo trên thập giá
rồi mà ma quỉ vẫn còn dùng miệng dân chúng để thử thách Chúa một lần sau
cùng : “ nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy tự cứu mình đi”
Ma quỉ cám dỗ Chúa đi ra ngoài chương
trình của Thiên Chúa Cha đã tiền định. Nó xúi giục Ngài là một vị cứu
thế theo quan điểm của một người trần gian được người ta hoan hô, chứ
không theo ý định của Thiên Chúa. Do đó mà Chúa Giêsu đã trả lời cho ma
quỷ khi ngài nhắc đến lời kinh thánh có chép rằng, hãy minh chứng cho
thế giới và tòan thể nhân loại biết sở dĩ Chúa xuống trần gian là để
thực thi thánh ý của thiên Chúa Cha, và sau đó ngài đã chiến thắng ma
quỷ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Ngày nay, chúng con đang bị bao quanh bởi
rất nhiều tiếng ồn : tiến ồn của thèm muốn và đam mê, của sợ hãi và lo
âu, của buồn chán và thất vọng, của tình, tiền, tiếng tăm,thành công…những
tiếng ốn ấy làm cho chúng con chẳng khi nào yên, ngay cả lúc ngủ. Những
tiếng ốn ấy làm cho chúng con chẳng còn là mình, và không còn nhận biết
sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống nữa.
Lạy Chúa, Khi bị bao vây bởi muôn tiếng
ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng. Khi bị rã rời vì
trăm công nghìn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ
trước nhan Chúa. Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con
biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe lời ngài. Khi bị kéo ghì bời
đam mê dục vọng, xin cho con thóat được lên cao nhở mang đôi cánh thần
kỳ của sự cầu nguyện. Ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời
con. Nhờ cầu ngiuyện xin cho con gặp được con người thật của con và gặp
được gương mặt thật của Chúa. Amen
Đỗ Lực op :
HẠNH
PHÚC TRONG TẦM TAY
(Lc 4:1-13)
Cuộc khủng hoảng về căn tính đang bùng nổ
dữ dội trên khắp thế giới. Khi con người đánh mất chính mình, mọi tương
quan đều tan biến. Ðó là nguyên nhân chính gây nên nỗi bất hạnh lớn lao
cho nhân loại. Hình ảnh người ôm bom tự sát có thể dùng làm biểu tượng
cho cuộc khủng hoảng đó. Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ niềm tin. Con
người như bị xé rách thành trăm mảnh khi niềm tin châm ngòi cho những
cuộc xung đột, căm thù và bạo động giữa các dân tộc. Khi niềm tin biến
thành động lực phá hoại, tôn giáo còn đủ lý do chính đáng
để tồn tại hay không ? Tôn giáo đã đánh mất tương quan siêu việt. Con
người bị đẩy vào những tranh chấp bạo lực ngông cuồng. Tôn giáo đã bị
tục hóa và hạ giá quá thấp.
Muốn thăng tiến và phát triển toàn vẹn,
con người không thể cắt đứt tương quan với quyền bính siêu việt. Phong
trào tục hóa đang nỗ lực tách lìa con người khỏi Thiên Chúa và xóa nhòa
tương quan siêu việt trong các sinh hoạt nhân loại. Nếu loại bỏ chiều
hướng tới siêu việt ra khỏi cuộc sống, không thể hiểu được con người.
Thiếu chiều kích siêu việt, chỉ còn những hình ảnh què cụt về con người.
Không hiện hữu toàn vẹn, làm sao con người hạnh phúc. Làm cách nào tìm
lại hình ảnh toàn vẹn của con người bây giờ ?
Cuộc phấn đấu trong hoang địa hôm nay của
Chúa Giêsu nhằm phục hồi hình ảnh toàn vẹn của con người. Càng theo dõi
sát ba cơn cám dỗ và cuộc chiến thắng lớn lao của Chúa, càng thấy ý
nghĩa và hạnh phúc cuộc đời nằm trong tầm tay.
Ba cơn cám dỗ xoay quanh lòng ham mê
khoái lạc, của cải và quyền bính. Cả ba đều do Chúa dựng nên và rất cần
thiết cho cuộc sống. Vậy tại sao Chúa từ chối ? Từ chối không phải tự
bản chất những điều đó xấu xa tệ hại. Nhưng những thứ đó đã bị tên “quỷ
cám dỗ” bóp méo nhằm phục vụ và thỏa mãn cái tôi nhất thời. Bởi thế,
Chúa không thể nào chấp nhận được ! Người không bao giờ rời xa mục tiêu
là Thiên Chúa. Mục tiêu cao cả đó lôi con người ra khỏi chính mình. Chúa
không muốn sống cho mình. Người càng không muốn loại hạnh phúc nào vắng
bóng Thiên Chúa.
Sau khi nhịn đói bốn mươi ngày, chắc hẳn
Chúa Giêsu có đủ lý do chính đáng để biến đá thành bánh để đáp ứng nhu
cầu sinh tồn. Tự bản chất, việc biến đá thành bánh chẳng có gì xấu xa.
Nhưng giải quyết vấn đề phải hợp thời và hợp lý. Nếu không, Người sẽ phá
hỏng chương trình Thiên Chúa. Giải quyết vấn đề quá cấp bách để thỏa mãn
nhu cầu trước mắt, có thể đánh mất mục tiêu lâu dài. Hơn nữa, nhu cầu
vật chất đó không phải là tất cả khát vọng của con người.
Con người toàn vẹn không thể thiếu niềm
tin nơi Chúa. Khi niềm tin vươn lên, con người sẽ tìm được lối thoát cho
mình. Lối thoát đó nằm ngay trong việc vâng phục Thiên Chúa. Ðối với con
người Ðức Giêsu, sự vâng phục đó cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cứu độ
muôn dân. Con người toàn vẹn phải bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần.
Chúa cho thấy một bức họa toàn bích về con người : “Người ta sống không
chỉ nhờ cơm bánh, (Lc 4:4) nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán
ra.” (Mt 4:4; Ðnl 8:3) Cơm bánh đáp ứng nhu cầu vật chất. Lời Chúa nuôi
sống niềm tin.
Rất may Ðức Giêsu không thi thố quyền
phép để biến đá thành bánh. Người cũng không chịu khuất phục hay thỏa
hiệp với quỷ dữ để thống trị trần gian. Ðó không phải là con đường cứu
độ. Trong lịch sử, rất nhiều lần Giáo hội đã thỏa hiệp để cầu an. Có khi
Giáo hội hy sinh cả chân lý hay công lý để tìm một chút lợi lộc hay thỏa
mãn chế độ “xin cho.” Nhưng rõ ràng con đường thỏa hiệp đã làm cho công
cuộc truyền giáo thất bại. Thỏa hiệp là con đường ngắn nhất dẫn đến suy
vong.Bài học lịch sử còn đó. Không ai có thể chối cãi được ! Càng thỏa
hiệp với quyền lực, càng làm cho muôn người xa lánh Giáo hội. Thỏa hiệp
với đối phương là phản bội Thiên Chúa. Bổn phận duy nhất của Giáo hội là
thờ phượng Thiên Chúa mà thôi (x. Lc 4:8).
Trong hoang địa, Chúa đã dứt khoát phục
vụ một mình Thiên Chúa là nguồn sống đích thực. Niềm tín thác vào tình
yêu Thiên Chúa Cha đã cho Ðức Giêsu một cái nhìn toàn diện về con người.
Bởi đấy, Người không hy sinh bất cứ phần nào trong toàn bộ cuộc sống để
đổi lấy quyền lợi cho riêng mình.
Trong cả hai cơn cám dỗ đầu, Ðức Giêsu đã
trích dẫn lời Chúa trong sách Ðệ Nhị Luật (8:30 và 6:13). Người dùng
Luật để xác quyết sự sống con người quý trọng hơn phương tiện vật chất.
Cả hai cám dỗ đó vẫn chưa chạm đến bản chất con người Ðức Giêsu. Sau này,
khi “buồn rầu đến nỗi chết” trong Vườn Giệtsimani, Chúa như rơi vào tình
trạng rối loạn tình cảm. Cơ hội đã tới. Quỷ tưởng bở. Nhưng, hắn không
ngờ phải nếm mùi thảm bại ! Không có cách nào phá tan tương quan giữa
Người với Chúa Cha. Tương quan tình yêu nổi bật và bền vững qua lời xin
vâng thánh ý Thiên Chúa.
Cám dỗ thứ ba trong hoang địa mới làm cho
kẻ yếu tin choáng váng. Choáng váng không phải vì cuộc thử thách diễn ra
từ chóp đỉnh đền thờ, nhưng vì đụng tới phần cao cả nhất trong con người
Ðức Giêsu. Người bị thử thách về chính địa vị làm Con Thiên Chúa. Quỷ dữ
đã đánh mạnh vào tương quan tình yêu thâm sâu nhất giữa Chúa Cha và Chúa
Con : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi !”
(Lc 4:9) Một thử thách tương tự đã đến với Chúa vào lúc cuối đời : “Nếu
mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” (Mt 27:40)
Trong cả hai trường hợp, nếu nhảy xuống, Ðức Giêsu đã không vâng lời
Chúa Cha. Không còn thử thách nào lớn hơn ! Thử thách đụng tới yếu điểm
nhưng không phải là điểm yếu của Chúa !
Người không hề bị lay chuyển. Trái lại,
tên cám dỗ đã vô cùng choáng váng như lãnh búa tạ khi nghe Chúa tỏ tất
cả uy quyền : “Ngươi chớ thử thách Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”
(Ðnl 6:13) Chúa không gieo mình xuống đất theo lời xu nịnh của quỷ dữ.
Nhưng Người sẽ gieo mình vào bàn tay nhân hiền của Chúa Cha từ cây Thánh
Giá : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Tv 30) Phó
thác như một người con thơ hay tín thác như một người đầy tớ (Is 50:10),
dù phải bước đi trong đêm tối.
Cuộc thắng bại đã phân minh !
Chính trong lời vâng phục, con người có
khả năng gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu trong thực tại toàn vẹn của mình.
Con người có khả năng yêu như Thiên Chúa. Trong tình yêu Thiên Chúa, con
người sẽ tìm được bình an và sự toàn vẹn. Nhờ vâng phục hoàn toàn thánh
ý Chúa Cha, Ðức Giêsu đã dùng “Thánh Giá mạc khải trọn vẹn tình yêu
Thiên Chúa. Sự chết đã biến thành hành vi yêu thương và tự do tột đỉnh
của Ađam mới.”
Như thế, “chết là một mối lợi” (Pl 1:21) tuyệt vời cho toàn thể nhân
loại.
Chúa thà chết để bảo tồn tương quan siêu
việt và sâu đậm với Chúa Cha, còn hơn sống mà phủ nhận uy quyền Thiên
Chúa trên thân phận mình. Người không chọn con đường thỏa hiệp hay thỏa
mãn tham vọng trước mắt.
Có chết đi như thế, Ðức Giêsu mới cho
thấy con người có một định mệnh cao cả. Chúng ta không phải là tác giả
hay người sáng tạo chính mình. “Chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Thiên Chúa,
Ðấng Tạo Hóa đích thực của chúng ta.”
Sự lệ thuộc này không làm con người mất tự do, vì “Thiên Chúa là tình
yêu và tình yêu là huyền nhiệm làm nên hạnh phúc chúng ta. Tuy thế, chỉ
có xả thân và bước vào đường khổ giá, chúng ta mới có thể đi vào huyền
nhiệm tình yêu này.”
Phải đợi đến cơn cám dỗ cuối cùng trên thập giá, tất cả ý nghĩa và giá
trị của cuộc chiến thắng trong hoang địa mới hoàn toàn được mạc khải .
Mạc khải đó cho thấy không ai hạnh phúc
hơn Ðức Giêsu !
Hôm nay hạnh phúc đang chạy trốn con
người, vì cuộc sống đang mất đi chiều kích siêu việt. Muốn tìm lại chiều
kích siêu việt đó, phải tìm đến với Ðức Giêsu. Khi vâng lời Chúa Cha,
Người đã sống trong tương quan sung mãn. Nhờ thế, không những Người
không đánh mất chính mình, mà còn làm cho mọi người tìm thấy căn tính
đích thực và chiều kích siêu việt, để có thể tin yêu Thiên Chúa.
Hạnh phúc nằm trong tầm tay !
Lạy Chúa, Chúa đã thương chia sẻ
thân phận làm người, vừa tầm thường vừa cao cả, với chúng con. Xin sai
Chúa Thánh Thần đến hướng dẫn chúng con chiến thắng mọi thử thách trên
sa mạc trần gian. Xin soi sáng cho chúng con tìm thấy nơi Lời Chúa thần
khí và sự sống cần thiết cho hạnh phúc hôm nay và ngày mai. Amen.
Jude Siciliano, OP.
Thánh Thần Giúp Chúng Ta
Vượt Qua Cơn Cám Dỗ
Dnl
26,4-10; Rm 10,8-13; Lc 4,1-13
Kính thưa quý vị,
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã cảnh báo với du khách
người Mỹ để tránh đến một số nước vì quá nguy hiểm. Nhiều người Mỹ có vẻ quan
tâm đến những lời cảnh báo đó và chuyển qua du lịch đến những vùng đất khác, an
toàn hơn. Những du khách này không muốn bị bắt cóc trong một đất nước xảy ra bạo
loạn, và khi có bạo loạn, người ta muốn đưa họ ra khỏi đất nước đó bằng trực
thăng để được an toàn.
Tin mừng hôm nay nằm ngay sau phần nói về gia phả
và phép Rửa của Đức Giêsu. Đức Giêsu sắp khởi đầu sứ vụ của Người; nhưng trước
hết, Thánh Thần dẫn Người đến sa mạc để chịu cám dỗ. Vì vậy, Đức Giêsu bắt đầu
lưu lại ở Giêrusalem và nơi mà sau này Người bị giết chết. Ngay từ đầu, khởi đi
từ những cám dỗ cho đến lúc chết, rõ ràng Đức Giêsu không đến như một du khách
để nhập cuộc với chúng ta trong một lát, gặp một vài người, ngắm cảnh, và rồi
khi có sự cố thì được trực thăng đưa đi. Nhưng Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ của mình
bằng việc chịu phép rửa giữa lòng dân tộc, Người ở với chúng ta cho đến tận
cùng, tất nhiên bao gồm cả việc chịu cám dỗ.
Sự cám dỗ này dường như một cách thức quay trở
lại để bắt đầu suy gẫm về Tin mừng ngày hôm nay… nhưng quý vị có chú ý đến hàng
cuối cùng không? “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi
thời cơ.” Ở đây, thánh Luca có lẽ ám chỉ đến việc cám dỗ quay trở lại vào lúc
vượt qua của Đức Giêsu. Tuy nhiên, cụm từ “chờ đợi thời cơ” cũng ám chỉ rằng
những cám dỗ không chỉ vào giai đoạn khó khăn ban đầu, mà Đức Giêsu còn phải cố
gắng vượt qua những cám dỗ khác nữa trong suốt sứ vụ của Người. Người phải đương
đầu với những cám dỗ tương tự trong suốt cuộc đời công khai. Qua kinh nghiệm,
chúng ta biết được rằng cám dỗ không phải thử thách ta duy chỉ một lần.
Thập giá của Đức Giêsu không chỉ đến vào giây
phút cuối đời khi Người chịu sự cám dỗ để chọn lựa, chấp nhận hoặc từ chối việc
hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa theo cách thức của Người. Hơn thế nữa, trong
câu chuyện hôm nay, quỷ cám dỗ là một biểu tượng đúng nghĩa của quyền lực và sự
lựa chọn mà Đức Giêsu phải chống lại trong suốt cuộc đời. Những người như chúng
ta khi không dễ gì chiến thắng được hay vượt qua cách nhẹ nhàng những cám dỗ
tương tự.
Những gì Đức Giêsu quyết định thực hiện trong khi
đối diện với những cám dỗ sẽ định hình sứ vụ và tạo nên thân thế của Người.
Chúng ta chưa biết hết toàn bộ câu chuyện, nhưng từ việc Đức Giêsu đương đầu với
chước cám dỗ, trong sự vâng phục Thiên Chúa, chúng ta biết chắc Người sẽ không
chọn lựa theo ma quỷ để hoàn thành sứ vụ của Người. Sứ thần đã tiết lộ với Đức
Maria rằng, con của Bà sẽ được gọi là “Con Thiên Chúa” (Lc 1,35). Những cơn cám
dỗ của Đức Giêsu xảy ra ngay sau phần trình bày về phép rửa và gia phả của Người.
Trong cả hai sự kiện đó, Người đều được gọi là “Con Thiên Chúa”. Điều đó có
nghĩa gì đối với Người? Sự thăm dò của quỷ và những lời đối đáp của Đức Giêsu
trong cả ba tình tiết cám dỗ đã mạc khải cho chúng ta biết: Đức Giêsu sẽ sống
như thế nào với thân thế của Người trong cương vị “Con Thiên Chúa.”
Đức Giêsu không ăn không uống trong 40 ngày đêm.
Khoảng thời gian 40 là liên kết Người với “biến cố mang số 40” khác trong Kinh
thánh Hípri. Ông Môsê ăn chay 40 ngày đêm trên núi (Xc. Đnl 9,9); Ông Êlia đi
suốt 40 ngày đêm lên núi (Xc. 1V 19,4-8) và dân Israel phiêu bạt 40 năm trong sa
mạc.
Quỷ yêu cầu Đức Giêsu tự nuôi sống mình bằng cách
biến những hòn đá thành bánh ăn. Việc đó chẳng phải là điều gì lớn lao lắm,
nhưng thức ăn đó liệu có phải là lương thực nuôi sống sau thời kỳ chay tịnh quan
trong hay không? Tất nhiên, Đức Giêsu có quyền năng làm điều đó. Nhưng câu trả
lời của Đức Giêsu, “Đã có lời chép: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” làm
chúng ta nhớ lại cảnh tượng tương tự của ông Môsê với dân chúng trong sa mạc.
Thật là một sự gợi nhớ mãnh liệt cho chúng ta: ngay trong thời gian ở sa mạc,
khi mà những nguồn thức ăn vật chất được coi trọng, thì Lời Chúa vẫn còn quan
trọng hơn cả cơm bánh. Đức Giêsu chống lại cơn cám dỗ thứ nhất chứng tỏ rằng nơi
Người và những người Dothái nhiệt thành đã có đời sống gắn bó với Lời Chúa.
Cơn cám dỗ thứ hai nói về quyền lực chính trị.
Tại sao Đức Giêsu không dùng nó để hoàn thành mục đích cao quý của mình? Nhưng
lịch sử của dân Israel phản ánh tham vọng chính trị, họ được ví là những người
thân cận uy quyền với các thần ngoại. Cơn cám dỗ này cũng khiến chúng ta kinh
ngạc và để ý thấy những gì liên quan đến các nhà lãnh đạo chính trị đều tạo ra
lớp người vận động hành lang và “động lực ngầm”, nhằm đạt được và nắm giữ quyền
lực chính trị. Đó cũng là cám dỗ cho mỗi người chúng ta khi đạt được quyền lực
và thống trị trên những người khác. Giáo hội và những người lãnh đạo được mời
gọi phục vụ cộng đoàn tín hữu đôi khi lại vướng vào cám dỗ này, là dùng quyền để
ép buộc dân chúng tuân theo những nguyên tắc do mình đặt ra. Trong Bữa Tiệc Ly,
Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ và Người cho chúng ta thấy quyền lực được
chuyển thành phục vụ. Quả thực, Đức Giêsu sẽ không thỏa hiệp với bất cứ người
nào hay kế hoạch nào trái nghịch với đường lối của Thiên Chúa, vì thế Người
chống lại lời đề nghị quyền lực và vinh quang của quỷ.
Giêrusalem và Đền thờ là những chủ đề xuyên suốt
trong Tin mừng theo thánh Luca. Phần lớn Tin mừng diễn ra trong suốt hành trình
của Đức Giêsu lên Giêrusalem (Xc. Lc 9,51). Vì thế, thật phù hợp khi cơn cám dỗ
cuối cùng lại diễn ra trên nóc Đền thờ. Sự lọng trọng của đền thờ cho thấy rằng
đây là cơn cám dỗ còn mạnh hơn cả hai cám dỗ trước đó. Một lần nữa, người ta nhớ
lại quá khứ của dân Israel. Khi dân Israel kết thúc thời gian lưu lạc trong sa
mạc thì ông Môsê cảnh báo với dân rằng, mai sau họ không được thách thức Thiên
Chúa nữa (Đnl 6,16), bởi vì họ đã thường làm điều đó với Người trong quá khứ.
Quỷ đã dùng Kinh thánh (Tv 91,11-12) để thuyết
phục Đức Giêsu dùng quyền năng của Thiên Chúa và bảo vệ Người khỏi tai họa. Vì
căn cứ theo lẽ rằng, nếu Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ bảo vệ
Người, do đó Người có thể hoàn thành những sứ vụ mà Người được sai đến để thi
hành. Tin mừng sẽ mạc khải lòng trung thành của Đức Giêsu với lời mời gọi của
Người, và Người sẽ dạy chúng ta biết nỗi đau và sự chịu đựng không phải là dấu
hiệu cho thấy Thiên Chúa không còn ở bên cạnh Đức Giêsu hay không còn ở bên
chúng ta nữa.
Chúng ta sẽ đi qua mùa Chay và không ép buộc bàn
tay Thiên Chúa thực hiện, hay là tìm kiếm những dấu hiệu cho thấy ta đang làm
điều đúng đắn, chính chúng ta sẽ nhượng bộ trước ý định của Thiên Chúa và trả
lại cho Thiên Chúa những gì thuộc Ngài. Nếu chúng ta nhận được những đảm bảo và
sự an ủi trong mùa Chay, thì chúng ta hãy đón nhận nó như một món quà từ Thiên
Chúa trong thời gian thuận tiện của Người. Chúng ta hãy thực hiện những thói
quen đặc biệt của mùa Chay, nhưng không phải tìm cách để đạt được những phần
thưởng của Thiên Chúa cho công việc vất vả của chúng ta. Thay vào đó, những công
việc đó giúp chúng ta luôn tỉnh thức, chúng ta như những người đang hành trình
qua sa mạc, những người mà ít nhiều đều dễ quên béng mất phần lương thực Chúa đã
chuẩn bị sẵn cho chúng ta. Khi khám phá ra lương thực tựa như của ăn mà chúng
ta dùng trong Thánh thể ngày nay, thì chúng ta mới biết dâng lên lời cầu nguyện
mùa Chay và thân thưa: “Tạ ơn Ngài.”
Những trình thuật về cám dỗ có thể đem đến cho ta
một viễn cảnh mùa Chay này. Đức Giêsu không chỉ đến sa mạc, mà Người còn “được
đầy Thánh thần” và “Người còn được Thánh thần dẫn vào sa mạc 40 đêm ngày…” Chúng
ta được rửa tội không phải là không có mục đích hay chỉ là hời hợt bên ngoài
trong 40 ngày này. Theo đó, Thánh thần đã dẫn đưa Đức Giêsu, thì chính Người
cũng là Đấng dẫn dắt chúng ta. Chúng ta bắt đầu mùa Chay bằng cách xin Thánh
thần giúp chúng ta vượt qua cơn cám dỗ mà chúng ta có nguy cơ bước theo lối mòn
của người Kitô hữu.
Với Mùa Chay, còn có một sự hướng dẫn khác cho
chúng ta. Quỷ cám dỗ đặt ba sự lựa chọn trước Đức Giêsu và ba lần Đức Giêsu đều
trả lời bằng cách trích dẫn Kinh thánh. “Đã có lời chép rằng… đã có lời chép
rằng… cũng có lời nói rằng.” Câu chuyện đã gắn kết sự hiện diện của Thánh Thần
với những lời hướng dẫn của Kinh thánh. Điều đó khiến chúng ta suy nghĩ là phải
đối diện với cám dỗ và sống theo sự thật trong tư cách là người Kitô hữu như thế
nào? Qua lời cầu nguyện đầy tin tưởng nơi Thánh thần, đồng thời từ sự giác ngộ
và được giáo dục, liệu chúng ta có thể đón nhận Kinh thánh dưới sự hướng dẫn của
Chúa Thánh thần hay không?
|