Năm C

 
 


Chúa Nhật I Mùa Chay - Năm C

Đnl 26,4-10 / Rm 10,8-13 / Lc 4,1-13

 

Lm An Phong : Đến Với Con Người

Lm Như Hạ op : Thời Cơ Đã Đến !

Fr Jude Siciliano, OP. 2001 : Hoang Địa Có Thể là Nơi Để Nên Thánh

Fr Jude Siciliano, OP. 2004 : Lời Chúa Là Sức Sống

G. Nguyễn Cao Luật op : Lại Một Cuộc Phiêu Lưu Mới

Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Cám dỗ

Laurensô Ninh Tú Toàn op : Ba cơn cám dỗ : tình, tiền và quyền

Lm Đỗ Lực op : Hạnh Phúc Trong Tầm Tay (Lc 4:1-13)

Fr. Jude Siciliano, OP: Thánh Thần Giúp Chúng Ta Vượt Qua Cơn Cám Dỗ

 


Lm An Phong

Đến Với Con Người
Lc 4,1-13

Tin mừng hôm nay là trình thuật Đức Giêsu bị cám dỗ. Đức Giêsu đầy tràn Thánh Thần, rời vùng sông Gio-đan. Hai chi tiết này cho thấy thánh Luca muốn nối cơn cám dỗ với cuộc thần hiện sau khi Đức Giêsu lãnh phép rửa của Gio-an tẩy giả. Con người đầy Thánh Thần này, con người là Con Thiên Chúa "đẹp lòng Ta mọi đàng" này đã đi vào sa mạc 40 đêm ngày để chịu cám dỗ. Tên cám dỗ đã thách thức quyền uy của một vị Thiên Chúa "nếu ông là Con Thiên Chúa". Cơn cám dỗ thứ nhất là về bánh ăn, là một thách thức cái đói sau 40 ngày chay tịnh. Cơn cám dỗ thứ hai, quyền hành và vinh quang, là một thách thức thường tình cho tham vọng của con người. Cơn cám dỗ thứ ba đã thách đố lòng tin tưởng mù quáng, quá đáng dễ khiến con người không nhận ra được sự thực.

Đức Giêsu đã chiến thắng ba cơn cám dỗ đó.

Cám dỗ là một thực tế của đời người. Cám dỗ tự bên trong con người. Cám dỗ đến từ bên ngoài. Cám dỗ theo đuỗi con người bao lâu họ còn ở trần gian... Người ta thường nói đến ba nguyên do của cám dỗ : ma quỉ, thế gian, xác thịt. Nhưng có lẽ cơn cám dỗ của ngày hôm nay đó là cám dỗ đánh mất chính mình.

Kẻ đánh mất mình

Không rõ người, không rõ bóng ma

kẻ ấy cứ nhập nhòa

sau lưng người khác

Bao thói quen

đi

đứng

nói năng

tự nhiên biến mất

chỉ còn một khối xám xám

mờ mờ đó

cái con người

đã đánh mất bản thân mình.

(Thanh Quế - Báo Tuổi Trẻ)

Chúng ta là những người con yêu của Thiên Chúa. Bản thân mỗi người là cơ hội thể hiện tình yêu thương này cho đồng loại. Người đánh mất bản thân mình sẽ đánh mất luôn tư cách người con yêu đó. Mối tương giao Thiên Chúa – chúng ta là tương giao cha con. Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự. Thiên Chúa sáng tạo, quan phòng đời sống chúng ta. Người có quyền năng cứu độ và thực hiện quyền năng đó trên đời sống con người. Khi bị cơn cám dỗ đánh mất chính mình đè bẹp, chúng ta sẽ nhìn nhận quyền năng của Satan, sự bảo lãnh của nó, sự chi phối của nó trên đời sống chúng ta. Tên cám dỗ - Satan luôn cố tách chúng ta khỏi tình yêu Thiên Chúa. Nó dùng vinh hoa phú quý như một quyền lực cám dỗ chúng ta khước từ Thiên Chúa, khước từ sự chăm sóc yêu thương của Người Cha. Để vượt thắng cơn cám dỗ này, chúng ta phải nhận ra chính mình, nhận ra mối tương giao của mình, nhận ra ý muốn và tình yêu của Cha trên đời sống mình.

Chúng ta là những anh em, chị em với nhau trong Đức Giêsu, Cứu Chúa của ta. Mối tương giao này phát xuất tự căn bản : chúng ta cùng một Cha trên trời, tôn thờ cùng một Thiên Chúa, giới luật yêu thương là giới luật căn bản để sống đời sống kitô hữu. Cơn cám dỗ đè bẹp người khác vì thiện ích của chính mình vẫn là cơn cám dỗ miên trường của kiếp người. Cư xử với người khác như là anh chị em mình không phải là dễ dàng gì. Đức Giêsu kêu gọi chúng ta nhìn nhận thân phận con người của mình để chỉ tôn thờ Thiên Chúa, đồng thời trân trọng anh chị em mình. Trân trọng con người nghĩa là nhìn nhận khía cạnh tích cực của họ. Những khía cạnh tích cực của một người làm nên chính đời sống tích cực của họ.

Như thế, cơn cám dỗ đánh mất chính mình tức là cơn cám dỗ đánh mất vai trò làm con đối với Cha trên trời, đồng thời đánh mất tư cách giao hảo anh chị em với nhau. Bởi lẽ, đời sống công giáo là đời sống trong tình yêu Thiên Chúa và thề hiện tình yêu này trong tương giao với người đồng loại - "mến Chúa, yêu người".

Lạy Chúa,

Chúng con được thanh tẩy trong Thánh Linh,
và chúng con đã lãnh nhận sức mạnh của Ngài.
Ngài có thể sai chúng con đến tận cùng trái đất.

Xin giúp chúng con đừng cuốn mình trong sợ hãi hay hững hờ,
và đừng dập tắt lửa thiêng Chúa đã trao cho chúng con.
Xin cho sức mạnh Chúa tung hoành trong chúng con,
và chúng con sẽ mạnh dạn tiến công,
nhận công tác Chúa trao là đổi mới trái đất này.


An Hạ op

THỜI CƠ ĐÃ ĐẾN !
Lc 4,1-13

Cuộc đời dệt bằng những thách đố liên tục. Không có thách đố, con người không thể lớn lên. Cám dỗ là một thách đố hay một trở ngại cản bước tiến nhân loại ? Đức Giêsu sẽ vạch rõ tất cả bộ mặt của tên cám dỗ và sẽ cho thấy khả năng của lời Chúa trong việc chiến thắng kẻ tử thù lớn lao đó.

CUỘC GIAO TRANH TRỐNG MÁI.

Hoang địa vẫn là hình ảnh lý tưởng cho dân Do thái gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng hoang địa cũng là nơi đầy thử thách. Bốn mươi năm lang thang trong hoang địa đã tạo nên cảmột lịch sử Dân Chúa. Hôm nay sắp thành lập một dân mới, Đức Giêsu cũng “được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ.” (Lc 4:2) Hai hình ảnh Thánh Thần và quỉ dữ đã nói lên tất cả những gì lý tưởng nhất và thử thách nhất trong lịch sử dân mới. Đức Giêsu muốn hoàn toàn chia sẻ tất cả những thách đố trong thân phận làm người. Cám dỗ sẽ là một dịp để con người lớn lên và xác định rõ nhân cách và địa vị của mình

Cám dỗ trước tiên có liên quan tới sự sống vật chất. “Suốt bốn mươi ngày, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.” (Lc 4:2) Trong cảnh thiếu thốn cùng cực đó, người ta mới thấy rõ tất cả nhân cách con người. Tên quỉ vừa mời mọc vừa thách thức : “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi !” (Lc 4:3) Còn cơ hội nào lớn hơn cho Đức Giêsu xác định dứt khoát bản tính cao cả của mình ? ! Nhưng Người không mắc mưu một cách dễ dàng như vậy, mặc dù thực sự Người là Con Thiên Chúa và có dư uy quyền để làm chuyện đó. Nhưng lúc này, Người cần phải lên tiếng xác quyết có những giá trị cao vượt hơn những nhu cầu vật chất: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.” (Lc 4:4) Kinh khủng thật ! Giữa lúc bụng cồn cào, gào thét như thế mà miệng vẫn khăng khăng xác định một giá trị lớn hơn. Giá trị đó chính là “mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Đnl 8:3; Mt 4:4) Thật vậy, “vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có.” (Dt 11:3) Như vậy, Người suy tôn giá trị tối thượng của Lời Chúa tức là chính mình.

Cơn cám dỗ vật chất vẫn không buông tha Người, nhưng xuất hiện ở dạng tinh vi hơn. Tên cám dỗ vẽ lên một hình ảnh tuyệt vời về thế gian với “quyền cai trị và vinh hoa lợi lộc” (Lc 4:6) Quyền bính vẫn là một cám dỗ đáp lại nhu cầu thống trị của con người. Tên cám dỗ đầy tưởng tượng khi xác quyết : “Quyền hành ấy đã được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tùy ý.” (Lc 4:6) Nó tự nhận mình là Chúa tể muôn loài. Bởi vậy, nó mới lên giọng : “Nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông.” (Lc 4:7) Thật là kinh khủng ! Nó muốn đưa Đức Giêsu vào mê hồn trận ! Nhưng cơn đói vẫn không làm lu mờ trí phán đoán của Người. Người khẳng khái phản đối : “Đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.” (Lc 4:8) Con người đứng trước hai lựa chọn : Thiên Chúa hay ma quỉ. Bên nào cũng đòi phải vâng phục. Nhưng hai vâng phục hoàn toàn khác nhau. Vâng phục Thiên Chúa sẽ nâng cao và giải thoát con người. Trái lại vâng phục ma quỉ chỉ là nô lệ tội lỗi. Chính vì thế, khi Đức Giêsu chịu cám dỗ, “Thiên Chúa làm cho Đức Kitô liên đới với loài người tội lỗi (Rm 8:3; Gl 3:13) để loài người được liên đới với lòng vâng phục và sự công chính của Đức Kitô (Rm 5:19)” (Nhóm Phiên Dịch CGKPV 1995: 722) Trở nên công chính tức là được cứu độ. Như thế, qua cơn cám đỗ này, Đức Giêsu đã xác định mình chính là Đấng Cứu thế đem lại niềm hi vọng lớn lao cho toàn thể nhân loại.

Thực vậy, từ nay “mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng.” (Rm 10:11) Thực tế, quyền lực và lợi lộc không đủ bảo đảm hạnh phúc con người. Khi vượt lên trên những cám dỗ vật chất , Đức Giêsu đã đem lại hạnh phúc đích thực và đã qui tụ được muôn dân. Nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra sau khi Người đã vượt qua cơn cám dỗ lớn nhất chính là cái chết trên thập giá. “Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết” để từ nay “không có sự khác biệt giữa Do thái và người Hy lạp, vì tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người.”( Rm 10: 9,12) Kêu cầu với niềm tin tưởng tuyệt đối, con người “sẽ được cứu độ.” (Rm 10:9)

Sau cơn cám dỗ quyền lực và lợi lộc vinh hoa, Đức Giêsu bước vào cơn cám dỗ về niềm tin. Địa vị và bản tính Người bị đặt thành vấn đề trước một thách thức : “Nếu ông là Con Thiên Chúa . . .” (Lc 4:9) Trong cám dỗ thứ nhất Đức Giêsu đã gặp thách thức đó rồi. Nhưng ở đây, mức độ cám dỗ mãnh liệt hơn vì xoáy sâu vào tương quan giữa Người và triều thần Thiên quốc và chính Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu chứng tỏ tất cả quyền uy và bản tính Người để kết thúc những màn vật lộn với quỷ thần : “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” (Lc 4:12) Tên quỉ không ngờ đã đụng phải uy quyền tuyệt đối trong một thân phận mỏng manh như thế.

CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ.

Cơn cám dỗ vẫn còn đó. “Quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ,” (Lc 4:13) để cám dỗ huyền nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội. Quyền bính và lợi lộc vinh hoa vẫn là những cơn cám dỗ muôn đời. Nhưng Giáo hội vẫn tồn tại vì đã không ngừng “rao giảng (Lời Thiên Chúa) để khơi dậy niềm tin” (Rm 10:8) trong lòng dân Chúa, hầu đem lại sức mạnh chiến thắng tên cám dỗ và đạt đến ơn cứu độ nhờ Đức Giêsu Kitô.

Con đường cứu độ duy nhất chính là “phủ phục trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em)” (Đnl 26:10), vì “tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát.” (Rm 10:13) Con người phải tự quyết định vận mệnh của mình. “Ơn cứu độ nơi Đức Kitô thuộc về cá nhân, sâu xa trong nội tâm,” (Fahey 1994:219) nhưng cũng gắn liền với nhiệm thể Đức Giêsu là Giáo hội, tức là anh em đang chia sẻ cùng một niềm tin vào sứ mệnh cứu độ do Đức Giêsu dành cho thế giới hôm nay và ngày mai.

Lý tưởng là như thế. Nhưng thực tế vẫn đầy những cám dỗ. Cùng rao giảng Tin Mừng, cùng chia sẻ một niềm tin và hi vọng, và cùng cầu nguyện với một Chúa, nhưng anh em Kitô hữu hôm nay vẫn chưa vượt qua được cơn cám dỗ chia rẽ chúng ta. Cuộc giao tranh sống mái với “cái tôi” cồng kềnh trong mọi định hướng và chương trình vẫn lấn át cả tiếng Chúa. Cám dỗ không còn là cơ hội xác định mình chỉ là nơi để Đức Kitô lớn lên. Nếu chỉ nghĩ đến những quyền lợi vật chất, vinh hoa lợi lộc trước mắt, chắc chắn Đức Kitô đã ngã gục trước mưu kế thâm độc của Satan. Sở dĩ sau bốn mươi ngày ăn chay, Người vẫn còn đủ sức chống lại mọi cám dỗ, vì “lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4:34) Ý muốn đó rhể hiện rõ ràng trong Lời Chúa. Công trình của Người là cứu độ trần gian, một công trình còn dở dang trong huyền nhiệm Đức Giêsu Kitô.

Công trình đó không thể hoàn thành, nếu không bắt đầu từ việc lắng nghe Lời Chúa. “ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.” (Tv 119:105) Nếu không, cơn cám dỗ sẽ đưa con người vào cơn lầm tưởng mình là Thiên Chúa. Kết quả chỉ là khổ đau và bất công. Tình trạng cấp bách lắm rồi ! Hơn lúc nào, người Kitô hữu “trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và đức công chính của Người.” (Mt 6:33)


Fr Jude Siciliano, OP.

Hoang Địa Có Thể là Nơi Để Nên Thánh
Lc 4,1-13

Thưa qúi vị. Thế là chúng ta đã bước vào mùa chay thánh. Mùa thuận lợi để suy gẫm : chúng ta là ai ? Thiên Chúa là Đấng nào ? Tương quan giữa chúng ta vói Thiên Chúa. Sách Đệ nhị luật khởi đầu bằng một lời nhắc nhở đến cả hai thực tại đó kẻo chúng ta lãng quên. Mỗi người tín hữu Do thái, đang khi dâng hoa qủa đầu mùa của mình đều phải đọc : “Cha tôi là một người Aram lang thang, lạc lõng…”

Những lời đó nhắc họ nhớ đến nguyên thủy mình, nguyên thủy khiêm hạ, và Chúa tuyển chọn họ không phải vì sự vĩ đại của họ, nhưng chỉ vì nhu cầu của họ mà thôi. Họ đã là những nô lệ khốn khổ ở Ai cập. Họ đã kêu cầu Chúa. Thiên Chúa của tổ tiên họ. Thiên Chúa đã nghe lời và thấy cảnh cực khổ, lầm than, áp bức họ phải gánh chịu. Cũng như dân tộc Do thái, chúng ta phải luôn nhớ lại những gì Thiên Chúa đã làm cho mình. Nhớ như thế sẽ cho chúng ta đủ can đảm và tin tưởng bước vào mùa chay thánh. Bởi lẽ những điều được nhắc đến trong bài đọc thứ nhất tức ơn Chúa giải cứu dân Ngài, dân chẳng thể tự giải thoát khỏi cảnh nô lệ, thì ngày nay Ngài cũng vẫn có thể làm cho Hội Thánh.

Qua bài đọc này, Giáo hội cũng nhắc nhớ rằng chúng ta hằng có một Thiên Chúa nhìn thấy những đau đớn, nhọc nhằn cũa chúng ta và Ngài cũng đến giải cứu. Chúng ta cần được nhắc nhớ như vậy để chúng ta bước vào mùa chay đúng hướng. Chúng ta nhớ lại tội lỗi mình. Điều đó rất tốt. Nhưng xin đừng dừng lại ở những sai lầm đó, mà hãy thống thiết kêu xin Chúa giải cứu. Khi chúng ta dâng lễ vật đầu mùa chay lên Thiên Chúa, giống như dân Do thái, thì Giáo hội cũng muốn chúng ta ý thức Thiên Chúa đó là Đấng nào. Vậy chúng ta hãy đặt hy vọng và tin tưởng vào sự giải cứu của Người. Thánh nhan Ngài luôn luôn chiếu giãi để dẫn dắt chúng ta về đường chính ,nẻo ngay.

Sách Đệ nhị luật là sách ghi lại lời giáo huấn thật dài ông Môi-sê khuyên dân Do thái khi họ chuẩn bị vào Đất Hứa.Ong nói với họ về lễ vật đầu mùa. Đoạn này là về những lễ nghi và ngôn từ kính mừng ơn lành của Thiên Chúa. Lễ vật họ dâng là chính hoa mầu ruộng đất họ đã làm ra. Như thế việc thờ phượng và lao động của họ được nối kết với nhau như một. Điều đó làm cho chúng ta phải suy đi gẫm lại trong suốt mùa chay này. Làm thế nào để chúng ta có thể giữ được thống nhất trong cuộc sống ? Tại sao thường ngày chúng ta phải chia năm sẻ bảy linh hồn ? Tại sao chúng ta phải xây dựng một bên là “thánh” một bên là “trần tục” ? trong cõi lòng ? Nếu như chúng ta hiệp nhất lao động với tâm tình thờ phượng Chúa để làm lễ vật dâng lên Ngài, lễ vật Ngài ban tặng luôn mãi thì có được không ? Nếu như chúng ta coi khó nhọc mỗi ngày là cơ hội thuận tiện thờ phượng Chúa,có được không ? Nếu như qúa bận rộn kiếm ăn hay nói thẳng thừng, không úp mở, không thi vị hóa đời sống thường nhật, chúng ta phải đi “húc”, đi kiếm tiền, vì mỗi ngày là một đôla khác, thì liệu chúng ta có tìm ra được giây phút hầu việc Chúa không ?

Câu trả lời nằm ở bài đọc Tin mừng Th. Luca. Thử thách để biết vàng, thau. Thử thách để biết chân, gỉa . Thử thách để biết trung thành hay phản loạn, cho nên những cám dỗ, thử thách của Chúa Giêsu là có thực, chứ không phải gỉa vờ. Chúa đã chịu thử thách về căn tính “Con Thiên Chúa” của Ngài và về “sứ vụ cứu độ” của Ngài. Tên của Ngài đã được thiên thần gọi khi truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria. “Con Đấng Tối Cao” và khi Ngài chịu phép rửa ở sông Giodanô tiếng từ trời phán: “Này là Con Ta yêu dấu”. Nếu như Ngài đã nhượng bộ các cơn cám dỗ, tên đó còn có nghĩa gì không ? Nếu như Ngài thất bại trong những thử thách, thì Ngài còn là con yêu dấu nữa không hay đã trở thành phản loạn ? Vậy thì người ta đòi hỏ những gì ở một người con của Thiên Chúa ? Người ta ước vọng những gì ở một người được Thiên Chúa yêu dấu ? Những đứa con yêu dấu này của Thiên Chúa phải đi qua cuộc đời ra sao ? Những cám dỗ của Chúa Giêsu là có thật. Chiến thắng của Ngài là có thật. Nhờ Ngài tất cả chúng ta, dù phản loạn, đã được giao hòa với Thiên Chúa Cha. Và chúng ta học được từ gương sáng Chúa Giêsu phải sống làm sao để được làm con yêu dấu của Thiên Chúa, làm vui thỏa lòng Ngài mọi đàng .

Thực ra trình thuật về các thử thách của Chúa Giêsu là một bản tóm lược sứ vụ của Ngài. Các cơn cám dỗ sẽ tiếp tục trải dài trong suốt cuộc sống cho đến mãi tận cùng dời Ngài. Nhiều lần Ngài đã chứng kiến lòng dạ chai đá đến ương ngạnh của giới cầm đầu tôn giáo thời bấy giờ, nhiều lần Ngài đã chịu đựng tính chao đảo tình cảm của dân chúng, nhiều lần Ngài đã qưở trách các môn đệ vì yếu lòng tin, thế thì Ngài có bị cám dỗ thực hiện một phép lạ vĩ đại, một điều chi cực kỳ ngọan mục để thuyết phục họ về sứ vụ của Ngài không ? chắc chắn là có,nhưng Ngài đã vượt qua. Đảng “Nhiệt Thành”(Zealot) sẽ yêu mến Ngài,về phe với Ngài nếu như Ngài nắm quyền chính trị, lật đổ người Roma, thu tóm mọi vinh quang trong tay. Trước những chống đối ngày càng tăng các tông đồ muốn Ngài làm một vài dấu lạ đầy uy quyền để đè bẹp đối phương và để củng co lòng tin non yếu của nhiều môn đệ. Vào thời Chúa Giêsu có rất nhiều người đói khát, kể cả Ngài. Vậy thì Ngài có bị cám dỗ hằng ngày biến bánh ra nhiều từ các tảng đá để nuôi sống họ hay không? Chắc chắn là có, nhưng Ngài đã vượt qua.

Những thử thách của Chúa Giêsu có liên hệ gì đến chúng ta ? Chúng ta chẳng biết các cơn cám dỗ của Ngài xảy ra ở đâu, quang cảnh địa lý thế nào, vĩ tuyến nào, kinh tuyến nào ? Nhưng chúng ta biết rõ những hoàn cảnh của các thử thánh đó. Nó ở trong tâm trí, trong gia đình, trong xóm làng, trong giáo xứ, trong xã hội…chúng ta. Nó ở trong những quyết định lành thánh của chúng ta để lung lay những quyết định đó. Nó ở trong cộng đồng nghề nghiệp, trong chương trình TV, trong quán rượu đèn mờ, trong những cuộc vui chơi … để lôi kéo chúng ta trật đường thánh thiện ! Hoang địa có thể là nơi để nên thánh như hoang địa của Chúa Giêsu, nhưng hoang địa cũng có thể là nơi để qủi dữ hoành hành như hoang địa của những người bị qủi ám ! Xã hội là nơi chúng ta nên trọn lành, nhưng xã hội cũng biến chúng ta thành ma qủi.

Những cám dỗ của chúng ta không ngoạn mục như trong Tin Mừng. Nhưng dần dần mỗi khi một ít…từng giờ, từng ngày, sức mạnh của nó cũng đủ đè bẹp chúng ta như nó có thể đè bẹp Chúa Giêsu. Những sai trái mà Chúa Giêsu trông thấy trong các cơn cám dỗ của Ngài là bánh ăn không khổ công lao động (hãy biến hòn đá này thành bánh mà ăn), quyền lực không do Chúa an bài (tôi, ma qủi, sẽ cho ông tất cả những nước đó…) kiêu ngạo, cậy nhờ Chúa vô lý, (gieo mình xuống đi…). Nếu Chúa Giêsu không đứng vững trong các cơn cám dỗ này, người sẽ chao đảo khỏi thánh ý Chúa, khỏi những an bài thông thường Chúa muốn cho nhân loại, chạy trốn khỏi đau thương, không chịu lệ thuộc vào Thiên Chúa, giả tảng không có sự chết. Ngài sẽ được mọi người tung hô, như thiên hạ tung hô các ngôi sao điện ảnh, các người hùng bóng đá…Nhưng than ôi chẳng còn ai theo, khi Ngài đi vào thất bại và sự chết !

Con đường của Chúa Giêsu là con đường khiêm nhu. Những dấu lạ của Ngài chỉ có thể nhìn thấy bằng đức tin ! Người ta chẳng thể đợi trông Ngài làm cách mạng, lật đổ ách thống trị ngoại bang. Những kẻ theo Ngài chỉ thấy một “con người” chịu đựng mọi gian nan, nghèo khổ, đi lẫn trong đám đông vô danh tiểu tốt, bề ngoài chẳng có vẻ chi là lãnh tụ cao cường. Nhưng lòng thương xót của Ngài thật vô biên. Ngài đi hết đường đời nhân loại, đi đến tận cùng một kết thúc đau thương, cay đắng. Ngài mời gọi chúng ta theo Ngài, không phải để được nổi danh, nhưng để được trở nên một người con của Thiên Chúa sẵn sàng chấp nhận số phận nhân loại với các hạn chế và thử thách. Một người con kiên cường tín nhiệm và phó thác vào tay Thiên Chúa, bất chấp mọi đau thương kể cả cái chết. Khi chúng ta đã theo Ngài như thế, chúng ta sẽ được một sức mạnh vô song để đối phó với khó khăn của cuộc đời .

Trong Tin mừng Thánh Luca, Gioan Tẩy Gỉa hứa : “Đấng có quyền năng hơn tôi đang đến”. Chúng ta cần sự trợ giúp của Đấng có quyền năng như thế. Nhưng lạ lùng thay, quyền năng của Ngài lại được thể hiện qua yêu thương, tha thứ và cảm thông. Quyền năng đó chẳng là gì trong mắt satan và những thế lực chống đối Ngài. Thực tế, họ đã thành công triệt hạ Ngài. Nhưng sự chết lại là khởi đầu sự phục sinh. Chiến thắng cuối cùng về Đấng đầy thần khí. Ngài đã ban thần khí đó cho chúng ta để khích lệ chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa. Và trong mùa chay này cùng với Thần khí chúng ta từng bước đi trọn con đường qua sa mạc trần gian. Amen.


Fr Jude Siciliano, OP.

Lời Chúa Là Sức Sống
(Lc 4,1-13)

Thưa quý vị,

Trong một cuộc trò chuyện gia đình, tôi được nghe lời bình phẩm về một người phụ nữ. Ngừơi nói dùng thành ngữ lạ trong tiếng Mỹ “cô ta đi trong lời nói” (she walks the talk). Thành ngữ này xuất hiện cách đây vài năm và lần đầu tiên tôi được nghe là ở trong nhà nguyện của một khám đường. Lúc ấy tôi hỏi một tù nhân về ông bảo vệ rất có ấn tượng. Người tù trả lời: “Lão ta hả ? Hắn đi trong lời mình!” (That guy walks the talk). Sau đó, trong các phạm nhân, thành ngữ thường được dùng để mô tả con người lương thiện, lời nói đi đôi với việc làm. Ngôn ngữ Trung Hoa thì “tri hành hợp nhất”. Nghĩa là một tù nhân đã cải tạo tốt, biết trách nhiệm về lời mình hứa với ban giám đốc, không khoa trương để lừa gạt họ. Thành ngữ lan ra đường phố, xóm làng và cả nước. Tôi ước ao ai đó cũng tặng cho tôi danh từ này, nó đúng là một lời khen thưởng, dù là giữa đám phạm nhân, người lính gác hoặc ở ngoài đời tự do, trong Giáo Hội… Chúng ta thường bị bao vây bằng lời người khác (đúng hơn bằng ý kiến của họ). Thí dụ một phụ nữ bị ung thư, bà ta sợ chết và sợ luôn cách chữa trị đau đớn, mổ xẻ và cắt bỏ, hậu quả đè nặng trên toàn thể gia đình. Người chồng phải ủi an: “Đừng sợ em yêu ạ! Anh sẽ luôn ở bên cạnh em.” Lời hứa của chồng an ủi bà, làm cho bà phần nào yên tâm. Đứa trẻ ba tuổi sắp lên giường mổ cắt Amidan (Amygdante). Cha mẹ động viên : “Bé giỏi ghê, khi tỉnh con sẽ thấy cha mẹ đang mỉm cười nhìn con.”

Nói chung, những lời như vậy làm chúng ta yên lòng và can đảm dấn bước vào những khó khăn. Chúng ta được thêm nghị lực đối diện tương lai bất trắc. Chúng ta tin cậy vào những nhân vật hứa như vậy và hy vọng họ đi trong lời mình. Về đời sống thiêng liêng cũng vậy, chúng ta tin tưởng vào Lời Chúa vì lúc nào Ngài cũng “tri hành hợp nhất.” Ngài hứa là Ngài làm, không có sự cách biệt như loài người. Bởi Ngài quyền năng vô tận. Tương lai nhân loại được bảo đảm vững chắc trong lời Chúa hứa nơi Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã ban Lời hằng sống. Ngôi Lời đã nhập thể, làm thành viên của nhân loại, đi lại giữa chúng ta. Không phải chỉ là hình bóng như các thần linh trong chuyện cổ dân gian. Ngài thực sự mang thân xác, sống giữa anh em mình. Những lời Người nói, việc Người làm đều là quyền năng, chân lý và hiện thực. Chẳng hề lừa dối hay “không tưởng” như thiên hạ gán cho Ngài. Nhân loại cần một Cứu Chúa thật sự chứ không phải giả nhân, giả thần như một nhân vật trong phim Star Trek (vết sao đi). Ông ta trông giống người nhưng không biết đau, không biết vui buồn là gì và cũng chẳng biết thương khóc kẻ chết. Chúng ta cần một Thiên Chúa làm người, biết cảm thông với nhân loại trong hết mọi tình huống: Vui, giận, mừng, lo. Vui khi được yêu, buồn khi bị phản bội, thổn thức khóc thương khi bạn bè qua đời. Ngài thực sự “bước đi trong ngôn ngữ của mình”.

Các cám dỗ được miêu tả trong chúa nhật hôm nay khởi sự tiến trình đó, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Ngài, Ngài mời gọi nhân loại cùng tiến bứơc. Vừa lúc Ngài lãnh nhận phép rửa của Gioan bên sông Giođan thì đã gặp quỷ cám dỗ. Hắn thách thức Ngài dấn sâu đến mức độ nào vào các nhọc nhằn hàng ngày của nhân loại. Liệu Ngài có đủ can đảm chịu đựng các cơn đói mà chúng ta, con cái chúng ta, hàng xóm láng giềng, gặp phải thường xuyên? Hay dùng quyền năng mà biến đá thành bánh để thoả mãn dạ dày? Liệu Ngài có chịu đựng nổi những khát khao vật chất, tiền bạc, giàu sang mà trái tim con người thường bị lôi cuốn ? Hay dùng phép màu để vượt khó? Liệu Ngài có dùng dấu lạ ngoạn mục những bữa ăn nhất thời để lôi kéo đám đông theo mình? Hay cương quyết rao giảng chân lý Đức Chúa Trời, bất chấp mọi thất vọng xác thịt? Ngài sẽ thất bại nếu Ngài bỏ qua những nỗi đau, phiền muộn, khổ ải của loài người, bởi nó là định mệnh bất cứ ai cũng gặp lúc này hay lúc khác. Hơn nữa, nếu đó là kỹ thuật lôi kéo đệ tử thì Ngài chỉ thành công bao lâu lương thực, thực phẩm còn trong dạ dày họ. Khi đói khổ đến họ sẽ bỏ Ngài, dại gì mà dấn thân theo Ngài với cái bụng lép, với những gian truân khổ ải ! Lời Ngài kêu gọi “từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta” sẽ chẳng được ai lắng nghe. Chúng ta đã biết câu trả lời của Ngài và của mọi tín hữu trung thành với giáo huấn của Ngài: “Người ta sống không nguyên chỉ bằng bánh”.

Tiếp theo ma quỷ tung ra một chưởng khác độc ác hơn. Hắn bày ra trước mặt Ngài vinh quang của các quốc gia trên thế giới trong nháy mắt, rồi đề nghị Ngài thờ lạy hắn để có được những thứ đó. Nếu vào trường hợp chúng ta, những kẻ đang đói khát quyền lực, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận, bởi lẽ chẳng có chi hấp dẫn hơn ! Đây là mùa tranh cử ở nước Mỹ, chúng ta hãy bình tĩnh gẫm xem người ta vận động thế nào, hứa hẹn những gì để được đắc cử ? Người ta sẵn sàng đặt trên bàn thờ ngẫu tượng, danh dự, tiền tài, dịch vụ, thoả hiệp và ngay cả tôn giáo để được nhân dân ủng hộ. Họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để được vinh quang và quyền bính của “các nước trên thế gian”. Nhưng Chúa Giêsu đã từ chối. Ngài chỉ thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi, ngoài ra mọi thứ đều là rơm rác. Ngài nhất quyết chọn lựa kiếp sống con người bình thường, chẳng ăn trên ngồi trốc ai. Ngài gánh chịu số phận của dân làng, hàng xóm láng giềng Ngài đang bị đế quốc Rôma dày xéo. Ngài lầm lũi bước những bước nặng nề của những kẻ lầm than mất nước. Những ai là công dân hạng hai, không tên tuổi, không căn cước, sẽ thấy Ngài lựa chọn sống trọn vẹn con đường nhân loại với Thiên Chúa là Thượng Đế của mình.

Chưởng thứ ba của cơn cám dỗ nguy hiểm hơn: “Nếu ông là con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đất, vì có lời chép rằng Thiên Chúa sẽ sai thiên sứ giữ gìn ông…”. Suốt cuộc đời Chúa Giêsu đã phải chịu đựng cơn cám dỗ này ngay cả trong vườn cây dầu. Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, Cha nói Cha yêu Con, xin cho Con một cuộc sống dễ dãi, khổ đau như thế này thật quá sức chịu đựng. Suốt cuộc đời người tín hữu cũng chịu dằn vặt vì cơn cám dỗ giai dẳng này, kể cả những kẻ đi tu. Tuy đã khấn hứa từ bỏ thế gian và ma quỷ khi chịu phép rửa tội, nhưng thực tế chúng ta luôn bị lôi cuốn tìm một đời sống phú quý, giàu sang, đầy đủ tiện nghi, Tivi, tủ lạnh, xe hơi, nhà lầu và xa tránh những khó khăn của cuộc sống. Chúng ta muốn Chúa luôn bảo vệ che chở mình, hy vọng một cuộc đời vắng bóng đau khổ và thất bại. Được như vậy chúng ta gọi là hồng ân. Ngược lại lúc gặp gian nan thử thách chúng ta kêu trách Chúa ở đâu ? Nếu Chúa yêu mến loài người tại sao chúng ta thất bại trong công ăn việc làm, bị chống đối, khước từ, sa thải …

Nhưng xét xem trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, không có trường hợp nào Ngài được miễn trừ khỏi đau đớn, chống đối, kể cả cái chết. Ngài sống hoàn toàn kiếp sống nhân loại, luôn vướng mắc vào những khốn đốn của gian trần. Chẳng khi nào Đức Chúa Trời cho phép Ngài thoát khỏi những giây phút nguy nan. Cho nên những kẻ theo Ngài cũng phải chống lại cám dỗ bánh ăn không lao động, quyền bính nhờ bè phái, ô dù, thờ phượng Mammom thay vì Thiên Chúa, kiêu ngạo tưởng mình thần tượng kẻ khác phải noi gương. Đức Kitô không bao giờ thu hút người ta bằng ân huệ thần linh. Ngài đòi hỏi đức tin và đức tin ban ơn lành cho họ. Ngài cũng chẳng được giải thoát khi thù địch bốn bề vây kín. Thánh Phêrô đề nghị kêu xin Đức Chúa Trời. Nhưng Ngài từ chối : “Anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao ? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được” (Mt 26,53), và Ngài cũng không còn như chúng ta, nhân loại yếu đuối nữa. Khi nghe quỷ dữ đề nghị gieo mình xuống từ tháp cao đền thờ, Ngài đã từ chối để nên giống loài người hoàn toàn. Ngài cũng vấp ngã, bị trầy da chóc thịt, cũng đói, cũng khát, cũng gặp thất bại, chống đối, khinh bỉ, chê cười như loài người, chứ không được thiên thần bảo vệ.

Đúng là Ngài đã “bước đi trong lời mình nói”, ở với nhân loại, giống như nhân loại. Ngài đã liều lĩnh đặt sứ điệp vào tay những kẻ tầm thường chứ không phải những người quyền cao chức trọng của đền thờ. Phêrô, Gioan, Philipphê, Tôma… đâu có học hành gì, suốt đời thả lưới bắt cá, làm sao đủ khả năng lên lớp đạo đức cho thiên hạ? Ấy vậy mà Ngài đã tin tưởng họ, đặt tương lai Giáo Hội vào tay họ, cho họ một cơ hội. Đúng là liều lĩnh, đặt cược với may mắn. Nhưng Phúc Âm cho chúng ta hay Ngài đã thật sự “đi trong lời nói”.

Chúng ta tưởng tượng tên cám dỗ hỏi Chúa Giêsu: Ông nói ông đồng hoá với loài người, liệu ông có đi trọn số kiếp của họ? Không lẩn trốn, không thối lui, không cầu lợi danh, không thành công sáng chói? Tin Mừng hôm nay trả lời: “Phải, Chúa Giêsu đã làm đúng như vậy”. Ngược lại, giáo dân thường ngủ vùi trong nếp sống. Tôi biết một tín hữu nọ tạm tạm là tốt lành. Một hôm ông vào gian nhà cải huấn, ông trông thấy toàn những con người say sưa, đói rách, tan nát, ông vội bước ra ngay: “Ta đâu có mạt kiếp như họ !” ông đã để lỡ mất cơ hội ăn năn. Ông không dám đồng hoá với họ, nết xấu khó bỏ, thói quen không tốt, uống rượu, rầy la vợ con. Não trạng “biệt phái” không cho phép ông thay đổi nếp sống. Mùa Chay đã bắt đầu, nó giống như bước vào căn phòng toàn những con người khuyết điểm, đi lạc khỏi giáo huấn của Chúa, thất bại trong đời sống luân lý: xì ke ma tuý, cờ bạc rượu chè, đĩ điếm, những kẻ lừa đảo, những linh hồn giả hình, những tay buôn người, đâm thuê chém mướn… tất cả đều ở trong phòng mùa Chay này, cầu xin ơn tha thứ và xót thương.

Ở một mức độ nào đó, chúng ta đều cần điều chỉnh lại nếp sống, đều cần “bước đi trong lời mình nói”. Cho nên thật ích lợi khi chúng ta nhìn lại những cám dỗ của Chúa Giêsu, làm cho chiến thắng của Ngài ứng nghiệm nơi bản thân. Chẳng ai ép buộc chúng ta bước vào mùa Chay. Chúng ta cần đến nó và chọn lựa cho mình phương thức khổ chế thích hợp. Chúng ta phải nhủ mình: “Tôi giống như những con người tội lỗi này. Tôi phải trực diện với chính mình và khát khao sống tốt lành hơn, nếu tôi muốn là Kitô hữu thực sự, không phải nửa vời, mà hoàn toàn thành tâm với Chúa Giêsu, với Hội Thánh. Mùa Chay sẽ hướng dẫn chúng ta tìm ra chính mình như Chúa Giêsu đã làm trong sa mạc. Nhờ việc từ chối những danh hiệu giả tạo, Ngài đã khẳng định căn cước thật của mình: Đấng Thiên Sai tiến bước giữa nhân loại, hoàn toàn đồng hoá với chúng ta mà vẫn trung thành với Thiên Chúa, ngay cả lúc gian nan thất bại.

Những điều Chúa Giêsu thực hiện ở Palestine khi xưa, chúng ta có thể làm hôm nay. Từ chối noi gương Ngài là phản bội Thiên Chúa. Thần Khí đã hướng dẫn Chúa Giêsu trong hoang địa, thì cũng chính Thần Khí ấy được ban cho chúng ta hôm nay. Bài đọc Đệ nhị luật nói rõ: Nhờ Ngài chúng ta ý thức được tình trạng nô lệ tội lỗi của mình tựa như dân Israel rên siết dưới ách Pharaon. Nhưng Thiên Chúa đã nhìn, đã thương xót nỗi nhọc nhằn của chúng ta, như Người đã trông thấy nỗi thống khổ của dân Do Thái xưa. Ngài đã quyết định giải cứu chúng ta trong mùa Chay này. Và cũng chính Thiên Chúa của Israel mà chúng ta dâng lễ vật, khi dâng của lễ, dân Do Thái được nhắc nhở Đức Chúa là ai, tương quan của họ với Đức Chúa thế nào và họ đặt tin tưởng vào sự giải cứu từ Thiên Chúa.

Bài đọc là một phần của huấn dụ dài mà ông Môsê ban cho dân Do Thái trước lúc chết. Ông truyền cho họ phải dâng của đầu mùa lên trước tôn Nhan Thiên Chúa và ôn lại lịch sử đất nước. Của lễ đầu mùa mà họ dâng chính là “hoa màu ruộng đất và lao công của con người”. Hai lễ vật kết kiệp nên một. Lao động và thờ phượng không còn là hai thực tế tách biệt nữa mà hoà lẫn với nhau thành một. Vậy thì tại sao ngày nay chúng ta lại phải phân chia ? Một bên là “đạo” một bên là “đời ”? một bên kinh nguyện một bên lao động ? Nếu chúng ta kết hợp cả hai nên một như Môsê đã truyền cho dân Do Thái, có được không ? Như vậy cả cuộc đời chúng ta là giờ khắc thờ phượng Thiên Chúa. Đẹp biết mấy. Xin cho chúng ta thực hiện được trong mùa Chay thánh thiện này. Không còn phải “lúc” kiếm tiền và khản cổ cầu xin. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op

Lại một cuộc phiêu lưu mới
(Lc 4,1-13)

Chỉ tín thác vào Thiên Chúa

Các tác giả sách Tin Mừng vẫn thường nhấn mạnh mối tương quan giữa hai sự kiện Đức Giêsu chịu phép rửa và chịu cám dỗ trong hoang địa: tại sông Giođan, Thần Khí TC đã ngự xuống trên Người, dưới hình chim bồ câu; và sau đó, cũng Thần Khí đã dẫn Người vào hoang địa. Tác giả Luca đã nhân cơ hội này để phác họa chân dung hai nhân vật trong thảm kịch sẽ đạt tới cao điểm vào “thời gian ấn định”, tức là ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã đối đầu với ma quỉ, tác viên chính trong cuộc Khổ Nạn. Trong trình thuật cám dỗ này, Đức Giêsu cũng cho thấy bằng cách nào Người minh chứng thân phận của Đức Kitô, Con Thiên Chúa.

Vậy, theo Luca, Đức Giêsu làm gì để chứng tỏ Người là Con Thiên Chúa ? Người đã từ chối sử dụng sức mạnh như một thứ quyền lực có tính ma thuật và hướng đến những mục tiêu ích kỷ. Tiếp đến, Người so sánh vương quyền của Người với những yêu cầu chính trị của trần gian: vương quyền của Người chỉ qui phục Thiên Chúa, nhờ đó Người có tất cả quyền hành. Sau cùng, khi đuợc dẫn lên Giêrusalem, Người đã từ chối đề nghị thử thách Chúa Cha : quỉ đã đề nghị Người xin Chúa Cha nâng đỡ cách đặc biệt để tỏ cho mọi người thấy tính cách chính thức của Người.

Như vậy, ý hướng của tác giả là muốn cho mọi Kitô hữu thấy Đức Giêsu là gương mẫu cho họ, bởi vì thử thách là điều vẫn xảy đến cho họ mỗi ngày.

Trình thuật Tin Mừng cuộc thử thách tại hoang địa là bản tóm lược về cuộc đời và con người Đức Giêsu. Bởi vì thử thách không phải là điều chỉ xảy ra một lần và trong khoảnh khắc: thử thách còn trở lại. Trong câu cuối cùng, bản văn ghi lại: “ma quỉ bỏ Người mà đi, chờ đợi thời cơ”. Thời cơ đó chính là cuộc Khổ Nạn.

Như thế, trình thuật Tin Mừng hôm nay thực là một hình ảnh sống động về toàn bộ cuộc đời của Đức Kitô. Câu nói “cứu lấy mình đi” của đám lính khi Đức Giêsu chịu treo trên thập giá chỉ là lặp lại lời thách thức hôm nay: “ Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng dậy mà gieo mình xuống đi!”

Cuộc thử thách hôm nay cũng là việc lặp lại, theo chiều đối nghịch, lịch sử đầy thất bại của đoàn dân tuyển chọn. Bốn muơi ngày trong hoang địa… Bốn muơi năm. Vẫn luôn là cơn cám dỗ đó, vẫn luôn là ý định bắt Thiên Chúa phải phục vụ mình, vẫn luôn là quyến rũ đạt được thành công do ngẫu tượng, các quyền lực trần gian.

Thế nhưng, Đức Giêsu, theo cái nhìn chung, vẫn là Con Người. Tác giả Luca đã nhấn mạnh điều này khi nói đến sự liên tục từ nguyên tổ A-đam đến Đức Kitô. Với Đức Giêsu, nhân loại lại lên đường để thể hiện ơn gọi của mình.

Cuối cùng, những cám dỗ trong cuộc thử thách của Đức Giêsu là hình ảnh về những vấn đề cơ bản vẫn được đặt ra trong suốt cuộc hành trình của nhân loại. Liệu con người có nghe được lời Thiên Chúa và chấp thuận cuộc sống tư cách làm con Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã sống ?

Những thử thách muôn thuở

Vào cuối bản văn Tin Mừng, tác giả ghi lại: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ…” như là quỉ không còn nghĩ ra được điều gì nữa để thử Đức Giêsu. Tại sao thế ? Chẳng lẽ chỉ có ba cám dỗ, quỉ hết cách ! Hay là ba cám dỗ này đã đủ để nói lên tất cả ? Nên nhìn lại một chút để thấy rõ hơn:

-  Cám dỗ thứ nhất: biến đá thành bánh. Quả là một thử thách lớn lao khi người ta bị rơi vào cảnh đói khát. Và cũng quả là một thử thách lớn khi muốn giải quyết những nhu cầu căn bản bằng chiếc đũa thần kỳ diệu, khi muốn chuyển sang CÓ trước khi LÀ. Đâu là cuộc sống đích thực của con người ? Phải chăng chỉ nhờ cơm bánh hay những của cải thu được mà không phải làm gì ? Đức Giêsu cho thấy rằng: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh !”

-  Cám dỗ thứ hai : quyền lực và vinh quang. Điều này mọi người đều biết : ai lại không khao khát mình đứng trên, có quyền trên người khác ? Khi một người bị kẻ khác đàn áp, trong công việc hay trong những điều khác, lập tức người ấy thường tìm cách thể hiện quyền của mình, có khi trên một con vật, một đứa trẻ hay trên những kẻ yếu thế hơn … Đây chỉ là một ví dụ.

-  Cám dỗ thứ ba : uy quyền của Thiên Chúa trên chính mình. Đây là một cám dỗ ghê gớm, nó vẫn thường xuất hiện tại những khúc quanh trên hành trình đức tin. Người ta thường kêu lên : “Nếu Ngài là Thiên Chúa, hãy thực hiện điều này … hãy làm điều kia !”

Nếu Ngài không thực hiện, thì Ngài cũng chẳng phải là Thiên Chúa, vì Ngài tuân phục loài người. Biết bao nhiêu lần, đàng sau những lời cầu nguyện, trong những ngõ ngách của tâm hồn, lại vẫn không ẩn giấu tham vọng muốn Thiên Chúa làm theo ý mình đó sao ?

Đó là ba cám dỗ quỉ đã đưa ra để thử Đức Giêsu, và nó đã thất bại. Quỉ đã đưa ra những cám dỗ này như những “tuyệt chiêu” nhằm hạ thủ Đức Giêsu, nhưng Người đã dùng lời Thiên Chúa mà chế ngự. Rút cuộc quỉ đã phải tháo lui. Những người môn đệ của Đức Kitô có nghĩ rằng đây là những cám dỗ mạnh nhất mà họ phải đương đầu không ? Họ có nghĩ rằng những cám dỗ ấy thu tóm tất cả khát vọng của con người về sự sở hữu và quyền lực không ? Điều này tùy thuộc vào nhận thức và kinh nghiệm của mỗi người.

Ngược lại, chính tình yêu đem lại giá trị siêu việt, tình yêu thách thức với quyền lực, tình yêu là sự trông chờ Thiên Chúa. Khi sống với tình yêu, con người sẽ thoát khỏi mọi cám dỗ, và sẵn sàng để gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu.

Tiến bước trong niềm vui

Toàn bộ cuộc sống Kitô hữu chúng ta tại trần gian này vẫn thường gặp những cám dỗ như thế: tôn thờ tiền bạc; phô trương quyền lực khi sử dụng nó làm phương hại đến người khác; lệ thuộc vào tôn giáo, coi tôn giáo như một phương tiện để thỏa mãn tham vọng cá nhân. Có biết bao thứ mặt nạ mà quỉ vẫn dùng để làm cho con người nghi ngờ về cuộc sống của mình. Có biết bao người cảm thấy khó khăn khi phải nói lên lời “không” trước những cám dỗ như thế. Họ nghĩ rằng thu tích của cải thì tốt hơn là chia sẻ, củng cố quyền hành thì tốt hơn là phục vụ, và sẵn sàng sử dụng những điều tốt lành thiêng liêng vào những mục đích phàm trần.

Khi thu tóm nơi mình những cám dỗ của dân Ít-ra-en và của toàn thể nhân loại, ngay trước khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu cho chúng ta thấy Người hoàn toàn tín thác trong tay Chúa Cha, hoàn toàn tin tưởng vàolời Thiên Chúa.

Như vậy, thái độ cần phải có trong mùa Chay này là lòng tín thác vào Thiên Chúa. Sự tín thác này không giảm bớt tầm quan trọng trong những cuộc chiến và những sức mạnh đang đe dọa chúng ta. Chúng ta không thể chiến thắng được sự dữ nếu không tin tưởng vào Thiên Chúa. Chúng ta sẽ gục ngã trước sức mạnh của sự dữ nếu chúng ta chỉ dựa vào sức lực riêng của mình.

Ở đây chúng ta nhớ đến lời Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ : “Giống quỉ ấy chỉ trừ được bằng lời cầu nguyện thôi” (Mc 9,29). Cầu nguyện để duy trì cuộc tiếp xúc thường xuyên với Thiên Chúa, cầu nguyện để khổ chế.

Tiếp đến, noi gương Đức Giêsu, chúng ta sống đời chay tịnh để chia sẻ cho những người đang đói, để thanh luyện chính mình, nhất là để sám hối và tiến bước trong niềm tin… Như thế, một cuộc phiêu lưu mới lại bắt đầu !


Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Cám dỗ (Lc 4,1-13)

Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng công khai, Chúa Giêsu đã vào hoang địa để ăn chay, cầu nguyện 40 ngày, sau đó ma quỷ đến cám dỗ Chúa. Thánh Lu-ca cho biết Chúa bị cám dỗ ba đợt, từ những quyến rũ thấp nhất đến những quyến rũ cao nhất, đó là miếng ăn, danh vọng và kiêu ngạo.

Ma quỷ rất tinh khôn, biết Chúa trong 40 ngày chay tịnh, không ăn uống gì, chắc phải đói lắm, nó liền lợi dụng cái đói tự nhiên này để cám dỗ Chúa, nó đem đến một hòn đá và bảo Chúa : “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi”. Phải chăng ma quỷ muốn cám dỗ Chúa về sự mê ăn uống ? Vô lý, nếu ma quỷ muốn vậy thì tại sao nó không kiếm ra bánh trước rồi đem đến cám dỗ có phải dễ dàng thành công hơn không ? Nhưng ở đây ma quỷ lại nói Chúa làm phép lạ từ đá ra bánh, cho thấy ma quỷ cám dỗ khá tinh khôn, nó muốn Chúa sử dụng sai lạc uy quyền Thiên Chúa, thay vì dùng vào việc cứu độ thì dùng vào việc tư lợi ích kỷ cho riêng mình, nó muốn Chúa dùng quyền phép mình mà đề cao mình, phô trương mình, nên nó lợi dụng ngay cái đói tự nhiên để làm Chúa mất lòng tin nơi Thiên Chúa Cha quan phòng. Vì tại sao bao nhiêu đêm ngày không đói mà nay tới ngày 40 lại đói ? như vậy ma quỷ muốn Chúa Giêsu dùng sai uy quyền của Ngài. Thế nghĩa là ma quỷ muốn đánh mạnh vào nhược điểm chung của nhân loại là tính mê ăn uống, là tính hay lo đến phần xác quá đáng mà mất tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng. Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào ? Chúa không chê cơm bánh, cũng không làm phép lạ, nhưng Chúa nói : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn bằng những lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Nghĩa là con người sống không phải chỉ có khía cạnh thể lý, nhưng còn phần khác siêu việt cao quý hơn, đó là phần hồn, phần thiêng liêng, những nhu cầu thể xác chỉ là phụ khi đem so sánh với nhu cầu thiêng liêng.

Thế là thất bại, ma quỷ bày keo khác, nó đem Chúa lên một nơi cao và chỉ cho Chúa thấy khắp bàn dân thiên hạ, thấy mọi vinh quang phú quý uy quyền, nó hứa biếu Chúa tất cả nếu bằng lòng uốn gối thờ lạy nó. Thờ lạy tức là vâng phục, là đầu hàng. Chúng ta thấy lời dụ dỗ của ma quỷ rất hấp dẫn, vì dân Do Thái lúc bấy giờ đang trông mong một Đấng Mê-si-a trần thế, một anh hùng, một vị cứu tinh để giải thoát dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc, vì thế ma quỷ xúi Chúa thờ lạy nó đi là được ngồi ngay vào ghế đó, cờ đến tay rồi, còn chờ gì nữa không cầm mà phất lên, nhưng Chúa Giêsu đã từ chối bằng câu Kinh Thánh : “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”. Xưa kia ma quỷ đã thành công trong việc cám dỗ A-dong E-và, nhưng với Chúa, nó đã thất bại, nhưng đây vẫn là cái bả hấp dẫn mà ma quỷ vẫn hằng sử dụng để cám dỗ mọi người của mọi thời đại, bằng cách ban cho tiền tài, danh vọng, lạc thú ngoài đời sống hôn nhân chính đáng, nhưng ma quỷ không bao giờ cho đi mà không đòi lại, chúng ta hãy nhớ kỹ điều đó.

Ma quỷ lại bày thêm một keo khác, nó đưa Chúa lên cao hơn nữa, lên nóc đền thờ Giê-ru-sa-lem, cao hơn mặt đất 40 mét, ở dưới có đông người. Ma quỷ xúi bẩy Chúa : “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy gieo mình xuống đi”. Nếu Chúa nhảy xuống thì thật là một hành động ngoạn mục, giả như bị chết hay bị thương thì càng tốt, còn nếu không hề hấn gì như lời kinh Thánh : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ đỡ nâng, thì Chúa sẽ được mọi người ở dưới vỗ tay hoan hô ca tụng, đề cao và được biết đến như một người Thiên Chúa sai đến. Thực vậy, khi xúi giục Chúa gieo mình xuống đất là ma quỷ đã khích động lòng kiêu ngạo vốn thường có trong mỗi người. Tính kiêu ngạo ẩn núp dưới hai hình thức, là tôn trọng mình cách vô lối và muốn mọi người khác phải đề cao mình. Ma quỷ là cha thần kiêu ngạo, nó đem kiêu ngạo vào mọi lãnh vực, đó là điểm rắc rối của cuộc đời. Biết bao người đã là nạn nhân của lòng tự ái, lòng háo danh, tự hào tự phụ về tài năng, sắc đẹp, và cả nhân đức nữa. Nhưng một lần nữa, Chúa Giêsu lại chiến thắng ma quỷ và bảo cho nó biết qua lời Kinh Thánh : “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”, nghĩa là đừng đòi hỏi Thiên Chúa làm phép lạ vô ích, rồi Chúa theo cấp thang từng bậc đi xuống dưới.

Ma quỷ đã cám dỗ Chúa và Chúa đã chiến thắng tất cả, còn đối với chúng ta ngày nay thì sao ? Ma quỷ vẫn tiếp tục bày ra cho chúng ta những chước cám dỗ đó, vì ba chước cám dỗ ấy đều xoay quanh cuộc sống con người. Có những người bị cám dỗ thờ cái bụng của mình, biết bao người đã ngã gục vì nhậu nhẹt say sưa, có những người sẵn sàng chịu nhục để được ăn. Rồi có những người bị cám dỗ lấy một cái gì trước mắt hay lấy mạng sống trần gian này làm tất cả mà quên mất mục đích đời đời của mình. Rồi có những người bị cám dỗ tìm đường ngang lối tắt, tìm con đường dễ dàng, muốn ăn gian với lương tâm và với Thiên Chúa. Rồi có những người bị cám dỗ lấy của cải, danh vọng làm ông thần mà thờ, sẵn sàng đem tất cả làm của lễ mà tế ông thầy ấy và đi theo con đường của ông thần ấy… Nói tóm lại, cám dỗ là một sự kiện hiển nhiên, phổ thông cho hết mọi người, lịch sử nhân loại từ đầu đã làm chứng điều này, cuộc đời mỗi người cũng kinh nghiệm điều này, cám dỗ không chừa ai, lớn bé già trẻ giàu nghèo đều có những cám dỗ, như thánh Gio-an Kim Khẩu đã quả quyết : “Trên đời này không ai mà không bị cám dỗ”.

Vì thế, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác vơi những cám dỗ và cố gắng vượt qua những cám dỗ ấy, dĩ nhiên Chúa sẽ trợ giúp chúng ta, nhưng chính chúng ta phải cố gắng bằng cầu nguyện và hết lòng tin tưởng vào Chúa.


Laurensô Ninh Tú Toàn op

Ba cơn cám dỗ : tình, tiền và quyền
(Lc 4,1-13)

Mùa chay là thời kỳ đi bộ, phải vất vả nhọc nhằn, phải hy sinh chịu khó thanh tẩy để tham dự vào chặng đường khổ nạn của Chúa Kitô. Những hy sinh khổ hạnh trong mùa chay được diễn tả trong hai bài đọc và trong bài Phúc âm của thánh lễ Chúa nhật I Mùa chay hôm nay. Cuộc đi bộ, cuộc hành trình trong 40 ngày của mùa chay được ví như là cuộc hành trình gian lao đau khổ của dân Do thái trong những năm bị nô lệ bên Ai Cập, bị dân bản xứ hành hạ mạt sát tàn nhẫn.

Hành trình  ấy cũng được thánh Tin Mừng  Luca diễn tả rõ ràng : được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu từ sông Giocđan trở về, sau đó Chúa Thánh Thần đưa ngài đến hoang địa, tại đây Chúa bị cám dỗ trong vòng 40 ngày, nghĩa là Chúa bị ma quỉ quấy phá sau khi đã chịu phép rửa của thánh Gioan, tức là sau khi Chúa Giêsu đã được Chúa Cha long trọng tuyên bố : “Đây là con ta yêu dấu”.

Satan biết rằng Chúa Giêsu có quyền năng có thể thực thi những dấu chỉ lớn lao, do đó Satan đến cám dỗ Chúa hãy hành động theo uy quyền của một vị cứu thế theo nghĩa trần gian oai phong lẫm liệt. Hai lần Satan xúi giục Chúa theo danh nghĩa : “ Nếu ông là con  Thiên Chúa…” Các loại cám dỗ ỷ vào uy thế Thiên Chúa này còn theo mãi cho đến ngày Chúa chịu tử nạn. Chúa đã bị treo trên thập giá rồi mà ma quỉ vẫn còn dùng miệng dân chúng để thử thách Chúa một lần sau cùng : “ nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy tự cứu mình đi”

Ma quỉ cám dỗ Chúa đi ra ngoài chương trình của Thiên Chúa Cha đã tiền định. Nó xúi giục Ngài là một vị cứu thế theo quan điểm của một người trần gian được người ta hoan hô, chứ không theo ý định của Thiên Chúa. Do đó mà Chúa Giêsu đã trả lời cho ma quỷ khi ngài nhắc đến lời kinh thánh  có chép rằng, hãy minh chứng cho thế giới và tòan thể nhân loại biết sở dĩ Chúa xuống trần gian là để thực thi thánh ý của thiên Chúa Cha, và sau đó ngài đã chiến thắng ma quỷ.

Lạy Chúa Giêsu Thánh  Thể,

Ngày nay, chúng con đang bị bao quanh bởi rất nhiều tiếng ồn : tiến ồn của thèm muốn và đam mê, của sợ hãi và lo âu, của buồn chán và thất vọng, của tình, tiền, tiếng tăm,thành công…những tiếng ốn ấy làm cho chúng con chẳng khi nào yên, ngay cả lúc ngủ. Những tiếng ốn ấy làm cho chúng con chẳng còn là mình, và không còn nhận biết sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống nữa.

Lạy Chúa, Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng. Khi bị rã rời vì trăm công nghìn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa. Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe lời ngài. Khi bị kéo ghì bời đam mê dục vọng, xin cho con thóat được lên cao nhở mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện. Ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con. Nhờ cầu ngiuyện xin cho con gặp được con người thật của con và gặp được gương mặt thật của Chúa. Amen


Đỗ Lực op :

HẠNH PHÚC TRONG TẦM TAY
(Lc 4:1-13)

Cuộc khủng hoảng về căn tính đang bùng nổ dữ dội trên khắp thế giới. Khi con người đánh mất chính mình, mọi tương quan đều tan biến. Ðó là nguyên nhân chính gây nên nỗi bất hạnh lớn lao cho nhân loại. Hình ảnh người ôm bom tự sát có thể dùng làm biểu tượng cho cuộc khủng hoảng đó. Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ niềm tin. Con người như bị xé rách thành trăm mảnh khi niềm tin châm ngòi cho những cuộc xung đột, căm thù và bạo động giữa các dân tộc. Khi niềm tin biến thành động lực phá hoại, tôn giáo còn đủ lý do chính đáng[1] để tồn tại hay không ? Tôn giáo đã đánh mất tương quan siêu việt. Con người bị đẩy vào những tranh chấp bạo lực ngông cuồng. Tôn giáo đã bị tục hóa và hạ giá quá thấp.

Muốn thăng tiến và phát triển toàn vẹn, con người không thể cắt đứt tương quan với quyền bính siêu việt. Phong trào tục hóa đang nỗ lực tách lìa con người khỏi Thiên Chúa và xóa nhòa tương quan siêu việt trong các sinh hoạt nhân loại. Nếu loại bỏ chiều hướng tới siêu việt ra khỏi cuộc sống, không thể hiểu được con người.[2] Thiếu chiều kích siêu việt, chỉ còn những hình ảnh què cụt về con người. Không hiện hữu toàn vẹn, làm sao con người hạnh phúc. Làm cách nào tìm lại hình ảnh toàn vẹn của con người bây giờ ?

Cuộc phấn đấu trong hoang địa hôm nay của Chúa Giêsu nhằm phục hồi hình ảnh toàn vẹn của con người. Càng theo dõi sát ba cơn cám dỗ và cuộc chiến thắng lớn lao của Chúa, càng thấy ý nghĩa và hạnh phúc cuộc đời nằm trong tầm tay.

Ba cơn cám dỗ xoay quanh lòng ham mê khoái lạc, của cải và quyền bính. Cả ba đều do Chúa dựng nên và rất cần thiết cho cuộc sống. Vậy tại sao Chúa từ chối ? Từ chối không phải tự bản chất những điều đó xấu xa tệ hại. Nhưng những thứ đó đã bị tên “quỷ cám dỗ” bóp méo nhằm phục vụ và thỏa mãn cái tôi nhất thời. Bởi thế, Chúa không thể nào chấp nhận được ! Người không bao giờ rời xa mục tiêu là Thiên Chúa. Mục tiêu cao cả đó lôi con người ra khỏi chính mình. Chúa không muốn sống cho mình. Người càng không muốn loại hạnh phúc nào vắng bóng Thiên Chúa.

Sau khi nhịn đói bốn mươi ngày, chắc hẳn Chúa Giêsu có đủ lý do chính đáng để biến đá thành bánh để đáp ứng nhu cầu sinh tồn. Tự bản chất, việc biến đá thành bánh chẳng có gì xấu xa. Nhưng giải quyết vấn đề phải hợp thời và hợp lý. Nếu không, Người sẽ phá hỏng chương trình Thiên Chúa. Giải quyết vấn đề quá cấp bách để thỏa mãn nhu cầu trước mắt, có thể đánh mất mục tiêu lâu dài. Hơn nữa, nhu cầu vật chất đó không phải là tất cả khát vọng của con người.

Con người toàn vẹn không thể thiếu niềm tin nơi Chúa. Khi niềm tin vươn lên, con người sẽ tìm được lối thoát cho mình. Lối thoát đó nằm ngay trong việc vâng phục Thiên Chúa. Ðối với con người Ðức Giêsu, sự vâng phục đó cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cứu độ muôn dân. Con người toàn vẹn phải bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần. Chúa cho thấy một bức họa toàn bích về con người : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, (Lc 4:4) nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4; Ðnl 8:3) Cơm bánh đáp ứng nhu cầu vật chất. Lời Chúa nuôi sống niềm tin.

Rất may Ðức Giêsu không thi thố quyền phép để biến đá thành bánh. Người cũng không chịu khuất phục hay thỏa hiệp với quỷ dữ để thống trị trần gian. Ðó không phải là con đường cứu độ. Trong lịch sử, rất nhiều lần Giáo hội đã thỏa hiệp để cầu an. Có khi Giáo hội hy sinh cả chân lý hay công lý để tìm một chút lợi lộc hay thỏa mãn chế độ “xin cho.” Nhưng rõ ràng con đường thỏa hiệp đã làm cho công cuộc truyền giáo thất bại. Thỏa hiệp là con đường ngắn nhất dẫn đến suy vong.Bài học lịch sử còn đó. Không ai có thể chối cãi được ! Càng thỏa hiệp với quyền lực, càng làm cho muôn người xa lánh Giáo hội. Thỏa hiệp với đối phương là phản bội Thiên Chúa. Bổn phận duy nhất của Giáo hội là thờ phượng Thiên Chúa mà thôi (x. Lc 4:8).

Trong hoang địa, Chúa đã dứt khoát phục vụ một mình Thiên Chúa là nguồn sống đích thực. Niềm tín thác vào tình yêu Thiên Chúa Cha đã cho Ðức Giêsu một cái nhìn toàn diện về con người. Bởi đấy, Người không hy sinh bất cứ phần nào trong toàn bộ cuộc sống để đổi lấy quyền lợi cho riêng mình.

Trong cả hai cơn cám dỗ đầu, Ðức Giêsu đã trích dẫn lời Chúa trong sách Ðệ Nhị Luật (8:30 và 6:13). Người dùng Luật để xác quyết sự sống con người quý trọng hơn phương tiện vật chất. Cả hai cám dỗ đó vẫn chưa chạm đến bản chất con người Ðức Giêsu. Sau này, khi “buồn rầu đến nỗi chết” trong Vườn Giệtsimani, Chúa như rơi vào tình trạng rối loạn tình cảm. Cơ hội đã tới. Quỷ tưởng bở. Nhưng, hắn không ngờ phải nếm mùi thảm bại ! Không có cách nào phá tan tương quan giữa Người với Chúa Cha. Tương quan tình yêu nổi bật và bền vững qua lời xin vâng thánh ý Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba trong hoang địa mới làm cho kẻ yếu tin choáng váng. Choáng váng không phải vì cuộc thử thách diễn ra từ chóp đỉnh đền thờ, nhưng vì đụng tới phần cao cả nhất trong con người Ðức Giêsu. Người bị thử thách về chính địa vị làm Con Thiên Chúa. Quỷ dữ đã đánh mạnh vào tương quan tình yêu thâm sâu nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi !” (Lc 4:9) Một thử thách tương tự đã đến với Chúa vào lúc cuối đời : “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” (Mt 27:40) Trong cả hai trường hợp, nếu nhảy xuống, Ðức Giêsu đã không vâng lời Chúa Cha. Không còn thử thách nào lớn hơn ! Thử thách đụng tới yếu điểm nhưng không phải là điểm yếu của Chúa !

Người không hề bị lay chuyển. Trái lại, tên cám dỗ đã vô cùng choáng váng như lãnh búa tạ khi nghe Chúa tỏ tất cả uy quyền : “Ngươi chớ thử thách Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” (Ðnl 6:13) Chúa không gieo mình xuống đất theo lời xu nịnh của quỷ dữ. Nhưng Người sẽ gieo mình vào bàn tay nhân hiền của Chúa Cha từ cây Thánh Giá : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Tv 30) Phó thác như một người con thơ hay tín thác như một người đầy tớ (Is 50:10), dù phải bước đi trong đêm tối.

Cuộc thắng bại đã phân minh !

Chính trong lời vâng phục, con người có khả năng gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu trong thực tại toàn vẹn của mình. Con người có khả năng yêu như Thiên Chúa. Trong tình yêu Thiên Chúa, con người sẽ tìm được bình an và sự toàn vẹn. Nhờ vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa Cha, Ðức Giêsu đã dùng “Thánh Giá mạc khải trọn vẹn tình yêu Thiên Chúa. Sự chết đã biến thành hành vi yêu thương và tự do tột đỉnh của Ađam mới.”[3] Như thế, “chết là một mối lợi” (Pl 1:21) tuyệt vời cho toàn thể nhân loại.

Chúa thà chết để bảo tồn tương quan siêu việt và sâu đậm với Chúa Cha, còn hơn sống mà phủ nhận uy quyền Thiên Chúa trên thân phận mình. Người không chọn con đường thỏa hiệp hay thỏa mãn tham vọng trước mắt.

Có chết đi như thế, Ðức Giêsu mới cho thấy con người có một định mệnh cao cả. Chúng ta không phải là tác giả hay người sáng tạo chính mình. “Chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa đích thực của chúng ta.”[4] Sự lệ thuộc này không làm con người mất tự do, vì “Thiên Chúa là tình yêu và tình yêu là huyền nhiệm làm nên hạnh phúc chúng ta. Tuy thế, chỉ có xả thân và bước vào đường khổ giá, chúng ta mới có thể đi vào huyền nhiệm tình yêu này.”[5] Phải đợi đến cơn cám dỗ cuối cùng trên thập giá, tất cả ý nghĩa và giá trị của cuộc chiến thắng trong hoang địa mới hoàn toàn được mạc khải .

Mạc khải đó cho thấy không ai hạnh phúc hơn Ðức Giêsu !

Hôm nay hạnh phúc đang chạy trốn con người, vì cuộc sống đang mất đi chiều kích siêu việt. Muốn tìm lại chiều kích siêu việt đó, phải tìm đến với Ðức Giêsu. Khi vâng lời Chúa Cha, Người đã sống trong tương quan sung mãn. Nhờ thế, không những Người không đánh mất chính mình, mà còn làm cho mọi người tìm thấy căn tính đích thực và chiều kích siêu việt, để có thể tin yêu Thiên Chúa.

Hạnh phúc nằm trong tầm tay !

Lạy Chúa, Chúa đã thương chia sẻ thân phận làm người, vừa tầm thường vừa cao cả, với chúng con. Xin sai Chúa Thánh Thần đến hướng dẫn chúng con chiến thắng mọi thử thách trên sa mạc trần gian. Xin soi sáng cho chúng con tìm thấy nơi Lời Chúa thần khí và sự sống cần thiết cho hạnh phúc hôm nay và ngày mai. Amen.

Jude Siciliano, OP.

 

Thánh Thần Giúp Chúng Ta Vượt Qua Cơn Cám Dỗ

Dnl 26,4-10; Rm 10,8-13; Lc 4,1-13


Kính thưa quý vị,

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã cảnh báo với du khách người Mỹ để tránh đến một số nước vì quá nguy hiểm. Nhiều người Mỹ có vẻ quan tâm đến những lời cảnh báo đó và chuyển qua du lịch đến những vùng đất khác, an toàn hơn. Những du khách này không muốn bị bắt cóc trong một đất nước xảy ra bạo loạn, và khi có bạo loạn, người ta muốn đưa họ ra khỏi đất nước đó bằng trực thăng để được an toàn.

Tin mừng hôm nay nằm ngay sau phần nói về gia phả và phép Rửa của Đức Giêsu. Đức Giêsu sắp khởi đầu sứ vụ của Người; nhưng trước hết, Thánh Thần dẫn Người đến sa mạc để chịu cám dỗ. Vì vậy, Đức Giêsu bắt đầu lưu lại ở Giêrusalem và nơi mà sau này Người bị giết chết. Ngay từ đầu, khởi đi từ những cám dỗ cho đến lúc chết, rõ ràng Đức Giêsu không đến như một du khách để nhập cuộc với chúng ta trong một lát, gặp một vài người, ngắm cảnh, và rồi khi có sự cố thì được trực thăng đưa đi. Nhưng Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ của mình bằng việc chịu phép rửa giữa lòng dân tộc, Người ở với chúng ta cho đến tận cùng, tất nhiên bao gồm cả việc chịu cám dỗ.

Sự cám dỗ này dường như một cách thức quay trở lại để bắt đầu suy gẫm về Tin mừng ngày hôm nay… nhưng quý vị có chú ý đến hàng cuối cùng không? “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.” Ở đây, thánh Luca có lẽ ám chỉ đến việc cám dỗ quay trở lại vào lúc vượt qua của Đức Giêsu. Tuy nhiên, cụm từ “chờ đợi thời cơ” cũng ám chỉ rằng những cám dỗ không chỉ vào giai đoạn khó khăn ban đầu, mà Đức Giêsu còn phải cố gắng vượt qua những cám dỗ khác nữa trong suốt sứ vụ của Người. Người phải đương đầu với những cám dỗ tương tự trong suốt cuộc đời công khai. Qua kinh nghiệm, chúng ta biết được rằng cám dỗ không phải thử thách ta duy chỉ một lần.

Thập giá của Đức Giêsu không chỉ đến vào giây phút cuối đời khi Người chịu sự cám dỗ để chọn lựa, chấp nhận hoặc từ chối việc hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa theo cách thức của Người. Hơn thế nữa, trong câu chuyện hôm nay, quỷ cám dỗ là một biểu tượng đúng nghĩa của quyền lực và sự lựa chọn mà Đức Giêsu phải chống lại trong suốt cuộc đời. Những người như chúng ta khi không dễ gì chiến thắng được hay vượt qua cách nhẹ nhàng những cám dỗ tương tự.

Những gì Đức Giêsu quyết định thực hiện trong khi đối diện với những cám dỗ sẽ định hình sứ vụ và tạo nên thân thế của Người. Chúng ta chưa biết hết toàn bộ câu chuyện, nhưng từ việc Đức Giêsu đương đầu với chước cám dỗ, trong sự vâng phục Thiên Chúa, chúng ta biết chắc Người sẽ không chọn lựa theo ma quỷ để hoàn thành sứ vụ của Người. Sứ thần đã tiết lộ với Đức Maria rằng, con của Bà sẽ được gọi là “Con Thiên Chúa” (Lc 1,35). Những cơn cám dỗ của Đức Giêsu xảy ra ngay sau phần trình bày về phép rửa và gia phả của Người. Trong cả hai sự kiện đó, Người đều được gọi là “Con Thiên Chúa”. Điều đó có nghĩa gì đối với Người? Sự thăm dò của quỷ và những lời đối đáp của Đức Giêsu trong cả ba tình tiết cám dỗ đã mạc khải cho chúng ta biết: Đức Giêsu sẽ sống như thế nào với thân thế của Người trong cương vị “Con Thiên Chúa.”

Đức Giêsu không ăn không uống trong 40 ngày đêm. Khoảng thời gian 40 là liên kết Người với “biến cố mang số 40” khác trong Kinh thánh Hípri. Ông Môsê ăn chay 40 ngày đêm trên núi (Xc. Đnl 9,9); Ông Êlia đi suốt 40 ngày đêm lên núi (Xc. 1V 19,4-8) và dân Israel phiêu bạt 40 năm trong sa mạc.

Quỷ yêu cầu Đức Giêsu tự nuôi sống mình bằng cách biến những hòn đá thành bánh ăn. Việc đó chẳng phải là điều gì lớn lao lắm, nhưng thức ăn đó liệu có phải là lương thực nuôi sống sau thời kỳ chay tịnh quan trong hay không? Tất nhiên, Đức Giêsu có quyền năng làm điều đó. Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu, “Đã có lời chép: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” làm chúng ta nhớ lại cảnh tượng tương tự của ông Môsê với dân chúng trong sa mạc. Thật là một sự gợi nhớ mãnh liệt cho chúng ta: ngay trong thời gian ở sa mạc, khi mà những nguồn thức ăn vật chất được coi trọng, thì Lời Chúa vẫn còn quan trọng hơn cả cơm bánh. Đức Giêsu chống lại cơn cám dỗ thứ nhất chứng tỏ rằng nơi Người và những người Dothái nhiệt thành đã có đời sống gắn bó với Lời Chúa.

Cơn cám dỗ thứ hai nói về quyền lực chính trị. Tại sao Đức Giêsu không dùng nó để hoàn thành mục đích cao quý của mình? Nhưng lịch sử của dân Israel phản ánh tham vọng chính trị, họ được ví là những người thân cận uy quyền với các thần ngoại. Cơn cám dỗ này cũng khiến chúng ta kinh ngạc và để ý thấy những gì liên quan đến các nhà lãnh đạo chính trị đều tạo ra lớp người vận động hành lang và “động lực ngầm”, nhằm đạt được và nắm giữ quyền lực chính trị. Đó cũng là cám dỗ cho mỗi người chúng ta khi đạt được quyền lực và thống trị trên những người khác. Giáo hội và những người lãnh đạo được mời gọi phục vụ cộng đoàn tín hữu đôi khi lại vướng vào cám dỗ này, là dùng quyền để ép buộc dân chúng tuân theo những nguyên tắc do mình đặt ra. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ và Người cho chúng ta thấy quyền lực được chuyển thành phục vụ. Quả thực, Đức Giêsu sẽ không thỏa hiệp với bất cứ người nào hay kế hoạch nào trái nghịch với đường lối của Thiên Chúa, vì thế Người chống lại lời đề nghị quyền lực và vinh quang của quỷ.

Giêrusalem và Đền thờ là những chủ đề xuyên suốt trong Tin mừng theo thánh Luca. Phần lớn Tin mừng diễn ra trong suốt hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem (Xc. Lc 9,51). Vì thế, thật phù hợp khi cơn cám dỗ cuối cùng lại diễn ra trên nóc Đền thờ. Sự lọng trọng của đền thờ cho thấy rằng đây là cơn cám dỗ còn mạnh hơn cả hai cám dỗ trước đó. Một lần nữa, người ta nhớ lại quá khứ của dân Israel. Khi dân Israel kết thúc thời gian lưu lạc trong sa mạc thì ông Môsê cảnh báo với dân rằng, mai sau họ không được thách thức Thiên Chúa nữa (Đnl 6,16), bởi vì họ đã thường làm điều đó với Người trong quá khứ.

Quỷ đã dùng Kinh thánh (Tv 91,11-12) để thuyết phục Đức Giêsu dùng quyền năng của Thiên Chúa và bảo vệ Người khỏi tai họa. Vì căn cứ theo lẽ rằng, nếu Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ bảo vệ Người, do đó Người có thể hoàn thành những sứ vụ mà Người được sai đến để thi hành. Tin mừng sẽ mạc khải lòng trung thành của Đức Giêsu với lời mời gọi của Người, và Người sẽ dạy chúng ta biết nỗi đau và sự chịu đựng không phải là dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa không còn ở bên cạnh Đức Giêsu hay không còn ở bên chúng ta nữa.

Chúng ta sẽ đi qua mùa Chay và không ép buộc bàn tay Thiên Chúa thực hiện, hay là tìm kiếm những dấu hiệu cho thấy ta đang làm điều đúng đắn, chính chúng ta sẽ nhượng bộ trước ý định của Thiên Chúa và trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc Ngài. Nếu chúng ta nhận được những đảm bảo và sự an ủi trong mùa Chay, thì chúng ta hãy đón nhận nó như một món quà từ Thiên Chúa trong thời gian thuận tiện của Người. Chúng ta hãy thực hiện những thói quen đặc biệt của mùa Chay, nhưng không phải tìm cách để đạt được những phần thưởng của Thiên Chúa cho công việc vất vả của chúng ta. Thay vào đó, những công việc đó giúp chúng ta luôn tỉnh thức, chúng ta như những người đang hành trình qua sa mạc, những người mà ít nhiều đều dễ quên béng mất phần lương thực Chúa đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta. Khi khám phá ra  lương thực tựa như của ăn mà chúng ta dùng trong Thánh thể ngày nay, thì chúng ta mới biết dâng lên lời cầu nguyện mùa Chay và thân thưa: “Tạ ơn Ngài.”

Những trình thuật về cám dỗ có thể đem đến cho ta một viễn cảnh mùa Chay này. Đức Giêsu không chỉ đến sa mạc, mà Người còn “được đầy Thánh thần” và “Người còn được Thánh thần dẫn vào sa mạc 40 đêm ngày…” Chúng ta được rửa tội không phải là không có mục đích hay chỉ là hời hợt bên ngoài trong 40 ngày này. Theo đó, Thánh thần đã dẫn đưa Đức Giêsu, thì chính Người cũng là Đấng dẫn dắt chúng ta. Chúng ta bắt đầu mùa Chay bằng cách xin Thánh thần giúp chúng ta vượt qua cơn cám dỗ mà chúng ta có nguy cơ bước theo lối mòn của người Kitô hữu.

Với Mùa Chay, còn có một sự hướng dẫn khác cho chúng ta. Quỷ cám dỗ đặt ba sự lựa chọn trước Đức Giêsu và ba lần Đức Giêsu đều trả lời bằng cách trích dẫn Kinh thánh. “Đã có lời chép rằng… đã có lời chép rằng… cũng có lời nói rằng.” Câu chuyện đã gắn kết sự hiện diện của Thánh Thần với những lời hướng dẫn của Kinh thánh. Điều đó khiến chúng ta suy nghĩ là phải đối diện với cám dỗ và sống theo sự thật trong tư cách là người Kitô hữu như thế nào? Qua lời cầu nguyện đầy tin tưởng nơi Thánh thần, đồng thời từ sự giác ngộ và được giáo dục, liệu chúng ta có thể đón nhận Kinh thánh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh thần hay không?

 

[1] x. ÐHY Renato Martino, Zenit 19.02.2007.

[2] x. Mariano Fazio, Zenit 19.02.2007.

[3] ÐGH Bênêđictô XVI, Thông Ðiệp Mùa Chay 2007.

[4] ibid.

[5] ibid.