HOME

 
 

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN B
St 2, 18-24 / Dt 2, 9-11 / Mc 10, 2-16

 

An Phong, op : Tin tưởng và phó thác

Fr. Jude Siciliano, op : Nhìn lại giá trị hôn nhân

Fr.  Jude Siciliano, op :

Giuse Nguyễn Cao Luật, op : Thiên Chúa đã phối hợp...

Giacôbê Phạm Văn Phượng, op : Hôn nhân bền vững

Như Hạ, op : Cộng đồng tình yêu

Giuse Mai Viết Tự : Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân rẽ

Giuse Nguyễn Hùng Sơn op : Con cái là hồng ân Chúa ban

Fr. Jude Siciliano, op: Hôn nhân được Thiên Chúa chúc lành

 

An Phong, op

Tin Tưởng Và Phó Thác

Mc 10, 2-16

Tin mừng hôm nay gồm hai phần độc lập nhau : Một về việc ly dị (2-12) và một về các trẻ em (13-16). Các người Biệt phái muốn gài bẫy Ðức Giêsu nên đã hỏi Người về việc ly dị. Ðức Giêsu đã trả lời bằng cách qui chiếu về ý muốn của Thiên Chúa hơn là duy lề luật. Sách Ðệ nhị luật chương 24, câu 1 viết : "Nếu một người đàn ông đã lấy vợ… thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì phải viết cho nàng một chứng thư ly dị" là một nhượng bộ của Môsê. Theo đó, luật ly dị chỉ là chấp nhận việc ly dị chứ không cho quyền để ly dị. Hơn nữa, đó còn có mục tiêu là để giới hạn tội lỗi và kiểm soát những hậu quả xấu có thể xảy ra. Ðể giải quyết nhượng bộ này, Ðức Giêsu đã đưa ra Sáng thế ký 2,24 : "Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt." Như thế, không có vấn đề ly dị theo ý Thiên Chúa.

Ðoạn văn về các trẻ em và việc đón nhận Nước Thiên Chúa như trẻ em là một kiểu mẫu cho tất cả mọi người. Ðứa trẻ là hình ảnh của sự bất lực, yếu đuối, từ đó mới có khả năng đón nhận, phó thác. Theo quan niệm của Cận Ðông cổ, trẻ em chẳng có nghĩa lý gì, chúng chỉ "lệ thuộc, ngây thơ, không có giá trị". Ðón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ nhỏ tức là tin tưởng, phó thác vào Thiên Chúa đồng thời ý thức về sự bất xứng cũng như bất lực của mình.

Một cách chung, chủ đề chính của hai đoạn Tin mừng là tình yêu. Tình yêu không chỉ là một cảm xúc "mau nóng chóng nguội", nhưng là một sự liên lụy, dấn thân. Liên lụy, dấn thân đòi phải có tin tưởng và phó thác. Ðức Giêsu không chấp nhận ly dị vì lẽ tình yêu trong hôn nhân là sự liên lụy, dấn thân, tin tưởng và phó thác cho lẫn nhau trong tự do. Từ đó, con người mới biết tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa như một đứa trẻ, bởi lẽ đức tin là một cuộc "hôn nhân" giữa Thiên Chúa và con người.

Lạy Chúa,
Xin cho chúng con biết tin tưởng
và phó thác đời sống mình
dưới sự quan phòng của Ngài,
"như trẻ thơ nép mình trong vòng tay mẹ hiền",
Nhờ đó,
chúng con được sống bình an và hạnh phúc.

 

Jude Siciliano, op

Nhìn Lại Giá Trị Hôn Nhân

Mc 10, 2-16

 

Thưa quý vị,

Tôi vừa chủ toạ một thánh lễ với những người ly dị. Họ lập thành cộng đoàn nhỏ mà tôi hết lòng ngưỡng mộ. Họ là những thành viên mới ly dị hay ly dị đã lâu. Và bởi lẽ họ đều mang những vết thương lòng sâu sắc nên họ rất thông cảm với những người cùng cảnh ngộ. Họ bình thường như bao nhiêu người khác trong giáo xứ, nhưng vẫn cảm thấy lẻ loi và mang nhiều mặc cảm. Nhất là về phía nữ giới. Theo thống kê thì hiện nay trên đất nước Hoa Kỳ tỉ lệ ly dị là 50%. Một con số đáng chúng ta quan tâm suy nghĩ. Không kết án họ nhưng cũng không thể bỏ qua. Trong giáo xứ rồi sẽ có những cặp ly dị, những gia đình lộn xộn trù tính ly dị và các trẻ nhỏ phải sống với cha hoặc mẹ độc thân. Cũng phải liên tưởng đến các thanh niên thiếu nữ trong cộng đoàn đang dự định kết hôn. Họ có thể hiểu lầm lời rao giảng của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay như một lời mời gọi không thực tế. Lại nữa, thoạt nghe, những người đang gánh chịu đau khổ, dằn vặt trong gia đình cảm thấy sứ điệp của Ngài mâu thuẫn với kinh nghiệm họ đang phải trải qua. Cho nên chúng ta cần suy gẫm thấu đáo hơn về bí tích hôn phối.

Bài đọc một trích sách Sáng thế ký (2,18), Thiên Chúa tạo dựng Adam trước rồi đến Evà trong cách thức hoàn toàn khác nhau. Adam từ bụi đất và Evà từ xương sườn Adam. Khi vừa được dựng nên, Adam đã được Thiên Chúa ban quyền quản lý vũ trụ và các sinh vật trong đó. Bất cứ sinh vật nào đi qua trước ông, ông đều cho một cái tên và tên ấy sẽ thuộc về sinh vật đó mãi mãi. Nhưng Adam vẫn cô đơn, ông vẫn chờ đợi một người bạn có thể hiểu và hợp tác với mình. Bởi lẽ các sinh vật khác hoàn toàn xa lạ. Như thế có thể nói rằng đời sống và sự tạo dựng của các sinh vật kém hơn của con người. Khi Evà được tạo dựng thì không trực tiếp bởi bụi đất, nhưng từ chất liệu lấy từ Adam. Do đó, bà hoàn toàn lệ thuộc vào Adam và được dựng nên cho Adam: "Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được sinh ra từ đàn ông." Câu nói quá rõ ràng về nguồn gốc của tình yêu hôn nhân, gia đình và sự lệ thuộc hỗ tương giữa hai người nam nữ. Hai người có cùng một bản tính nhân loại nhưng nhiệm vụ khác nhau. Chính Adam đã xác nhận sứ vụ của vợ mình: "Con người đặt tên cho vợ là Evà, vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh" (St 3,20).

Qua dòng lịch sử, truyền thống của nhiều tôn giáo đã dùng hình ảnh hôn nhân để diễn tả mối liên hệ mật thiết giữa thần linh với dân tộc mình hoặc cá nhân . Dân Do Thái cũng không ra ngoài thông lệ. Cựu ước đã nhiều lần dùng hình ảnh này để nói về sự gắn bó giữa Thiên Chúa và tuyển dân. Thí dụ rõ ràng nhất là Sách Diễm tình ca. Nó là cả một bài thơ dài mô tả tình thắm thiết giữa Ðức Chúa Trời và dân tộc Israel. Nó dùng toàn ngôn ngữ và hình ảnh tình yêu lứa đôi theo cách thức loài người.

Nhiều sách khác trong văn chương Do Thái cũng mượn truyện hôn nhân để cho biết tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại như Giêrêmia, Êzêkiel, Amos, Hôsê,.. Bước sang thời kỳ Tân Ước, các tác giả Kinh Thánh vẫn dùng hình ảnh phổ thông đó mà nói về Chúa Giêsu với Giáo Hội của Ngài. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô như sau: "Thật thế, vì anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Ðức Kitô, để tiến dâng anh em như một trinh nữ trinh khiết" (2 Cr 11,2). Hay Mt 9,15 : "Ðức Giêsu trả lời: chẳng lẽ khách dự tiệc lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ?" Hay Ga 3,28: "Tôi đây không phải là Ðấng Kitô mà là kẻ được sai đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu người ấy là chú rể." Như vậy, cả hai giao ước cũ và mới đều nhất trí dùng hình ảnh hôn nhân để mô tả tình yêu cao vời của Ðức Chúa Trời đối với dân Ngài. Do đó, chúng ta hiểu được ý nghĩa sâu xa của tình yêu hôn phối. Không những nó là một thực tại trần thế, không tàn phai mà còn là biểu tượng vĩnh viễn mối dây Thiên Chúa yêu thương loài người. Trong lễ cưới của người công giáo, Hội Thánh đã nêu lên biểu tượng này khi chúc lành cho đôi vợ chồng mới: "Lạy Chúa, Chúa đã thánh hiến sự phối hợp vợ chồng bằng mầu nhiệm cao cả, để dùng khế ước hôn nhân mà báo trước mầu nhiệm kết hiệp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh." Hoặc những lời khác tương tự: "Lạy Chúa, để mặc khải mầu nhiệm yêu thương, Chúa đã lấy sự kết hợp giữa hai vợ chồng làm hình ảnh giao ước giữa Chúa và Hội Thánh. Chúng con nài xin Chúa…" Cũng như hôn nhân lý tưởng là hai vợ chồng hiến thân cho nhau, thể xác và tâm hồn, như món quà ban tặng, thì tình yêu giao kết của chúng ta và của toàn thể Hội Thánh với Thiên Chúa phải trọn vẹn như vậy. Sự đáp trả của linh hồn không thể có chút bợn nhơ, hậu ý mà phải tinh tuyền và trọn hảo. Kết quả của tình yêu hôn nhân là con cái. Kết quả của tình yêu hiến dâng Thiên Chúa là sự thánh thiện và những công việc bác ái mình thực hiện cho tha nhân. Ích kỷ không thể nào và không bao giờ là tình yêu thiêng liêng, nó là sự dối trá trắng trợn, một cạm bẫy của Satan. Ðời sống của những vị thánh trong Giáo Hội là bằng chứng rõ nét cho sự thật đó. Nó là sự thể hiện rõ ràng các Ngài yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa yêu thương các Ngài. Tình yêu này không bao giờ tan vỡ. Các Thánh không bao giờ phản bội Thiên Chúa vì cảm nghiệm được tình Chúa xót thương mình. Những ân huệ hàng ngày thúc giục các Ngài yêu mến và tạ ơn. Như vậy, chúng ta cũng phải vững bụng rằng Thiên Chúa không khi nào bẻ gãy tình yêu của Ngài đối với nhân loại, đối với mỗi người chúng ta. Ngài không hề thất vọng nơi các linh hồn, bỏ rơi hoặc ngoảnh mặt không yêu thương, trợ giúp họ nữa.

Vì thế trong bài Phúc âm Chúa Giêsu nhắc lại truyền thống nhiệm màu của Kinh Thánh mà tuyên bố mối ràng buộc hôn nhân là không tháo gỡ được. Nó là dấu chỉ hữu hình tình yêu vô hình và hiệu quả của Thiên Chúa đối với nhân loại. Ngài khẳng định tính bền vững của hôn nhân. Nó có ý nghĩa vượt xa sự kết hiệp giới tính. Nó không phải chỉ liên quan đến thân xác mà còn bao hàm toàn thể nhân sinh. Ðôi vợ chồng là một về xác thịt và cũng là một về hiện hữu (une seule chair, un seul être). Vì thế, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Rõ ràng ông Adam không có cha mẹ để lìa bỏ. Lời tuyên bố của Sách Thánh nhắm đến toàn thể nhân loại. Tác giả muốn gọi sự kết hợp này là thuộc về "trái tim", phát xuất từ trái tim, nơi thẳm sâu nhất của tồn tại con người. Hôn nhân, do đó, là sự dấn thân của hai trái tim giống như tình yêu trung tín (hesed) của Ðức Chúa Trời. Lòng thương yêu này vượt trên cả tội lỗi và nết xấu của mỗi người. Tức là trung tín trong bất cứ tình huống nào. Vì Thiên Chúa không thể bất trung với chính Ngài. Lời thề trong lễ hôn phối của đôi vợ chồng mới là: "giữ lòng chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ" vang vọng tình yêu hered của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta phải đáp trả cho cân xứng. Nghĩa là trung tín với Ngài trong bất cứ hoàn cảnh nào, thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, khoẻ mạnh cũng như khi yếu đau. Ðừng bao giờ lãng quên giao ước giữa ta với Ðức Chúa Trời.

Hình ảnh tình yêu hôn phối còn giúp chúng ta suy gẫm về bí tích Thánh Thể trong thánh lễ hôm nay. Phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu thực hiện là ở trong bữa tiệc cưới. Hai người thề hứa yêu thương và trung thành trọn đời là cơ hội tốt để Chúa Giêsu mặc khải tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài cũng đổ tràn đầy tình yêu và ân huệ vào lòng chúng ta, như ban cho đôi tân hôn hơn bốn trăm lít rượu ngon. Rượu của niềm vui và hạnh phúc. Âu huệ và lòng xót thương của Ngài cũng tràn trề trên mỗi linh hồn. Xin hân hoan cử hành thánh lễ này. Ðúng thật, sự sống, sự chết và sống lại của Ngài đã sinh hoa trái lạ lùng cho mỗi linh hồn, cũng như hôn phối mang tình yêu, nhẫn nại, hy sinh, độ lượng, tha thứ, bền vững cho mỗi gia đình công giáo. Lòng trung tín trong hôn nhân của các tín hữu là hình ảnh cực kỳ sống động Chúa Giêsu luôn ngự giữa Hội Thánh trong mọi tình huống. Dĩ nhiên khế ước hôn nhân nhiều khi bị bẻ gãy, chia lìa bởi những lý do loài người không lường trước được như phản bội, thói xấu, kinh tế,… Nhưng tất cả đều là tội lỗi, yếu đuối về phần con người. Trong Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu rao giảng hôn nhân lý tưởng, nằm trong tầm tay của con người, bởi nó phản ánh ý định nguyên thuỷ của Thượng Ðế khi tác tạo nhân loại. Như chúng ta đã thấy, sách Sáng Thế ký nói về một hôn nhân bền vững, không chia lìa: "Họ không còn là hai, nhưng là một." Sau khi con người sa ngã, bản tính trở nên yếu đuối, ngu xuẩn, dễ bị Satan lừa dối mà phạm tội, phá đổ hạnh phúc của chính mình. Chúa Giêsu thương chỉnh đốn lại hôn nhân lý tưởng để chúng ta nhận ra lỗi lầm của mình, quay về với chính mình và với Thiên Chúa cùng đồng loại.

Cho nên Phúc âm hôm nay trình bày cho chúng ta cái nhìn hoàn toàn mới về căn tính của hôn nhân và đường lối sống thế nào cho hợp với chương trình nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Dù còn độc thân, kết bạn hay đã ly dị, chúng ta đều có thể nhận ra phải trái trong cuộc đời. Chúng ta hằng ngày vật lộn với bao nhiêu khó khăn, kể cả trong hôn nhân, để trung thành với Thiên Chúa. Chúng ta có bí tích Thánh Thể, hãy cậy trông vào Chúa Giêsu giúp đỡ vượt qua mọi khó khăn. Chúa Thánh Thể là biểu trưng của lòng Thiên Chúa xót thương và trung tín (hesed và rahamim). Ngài luôn ngự giữa chúng ta, hướng dẫn mọi nỗ lực, ý tưởng mỗi người theo nẻo chính đường ngay. Chúng ta hy vọng từng bước trong cuộc đời, sống trung tín với giao ước của Ngài và với tha nhân. Nếu như chúng ta có trái tim "chai đá" như các kinh sư trong phúc âm, thì xin Ngài uốn nắn để có thể cải tạo, ngõ hầu xoá bỏ được các lỗi lầm mà quay về với tương lai tươi sáng của kiếp sống làm con cái Thiên Chúa tình thương. Amen.

 

Ghi chú: Xin đọc thông điệp "Thiên Chúa giàu lòng thương xót" (Deus dives in Misericordia) của Ðức Gioan Phaolô II ban hành ngày 30/11/1980 để có thể hiểu được hai từ "hesed" (tình yêu trung tín) và rahamim (tình yêu xót thương) của Cựu ước mà tác giả nhắc tới trong bài suy gẫm này.

 

Giuse Nguyễn Cao Luật, op

Thiên Chúa Ðã Phối Hợp ...

Mc 10, 2-16

 

Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ

Những người biệt phái mở đầu cuộc tranh luận với Ðức Giê-su qua câu hỏi về vấn đề ly dị. Họ không có ý tìm hiểu vấn đề, trái lại có ý thử Ðức Giê-su và tìm cách hại Người. Họ dựa vào Luật Mô-sê để nói rằng được phép rẫy vợ. Theo luật này, chỉ cần người chồng thấy người vợ không đẹp lòng mình nữa, vì khám phá nơi nàng có điều gì chướng thì anh ta có quyền viết cho nàng một chứng thư ly dị và đuổi nàng ra khỏi nhà. Những người biệt phái đề cập đến tương giao nam-nữ theo khía cạnh pháp lý bằng cách quy chiếu vào một quyền bính nhân loại.

Ðức Giê-su không nhìn vấn đề theo khía cạnh này, nhưng theo chương trình của Thiên Chúa. Do đó, Người nói rõ với họ Luật Mô-sê đã cho phép như thế vì lòng dạ lì lợm của con người, chứ ý Thiên Chúa không phải như vậy. Ðó là một sự nhượng bộ phát sinh từ hoàn cảnh lịch sử và cần phải được chỉnh đốn lại cho phù hợp với chương trình của Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa đã đến nơi Ðức Giê-su Ki-tô, tất cả những gì không phù hợp với Nước Thiên Chúa, phải bị loại bỏ. Trong xã hội, lề luật có mục đích là giúp con người tiến bộ. Theo quan điểm Ki-tô giáo, lề luật có mục đích giúp con người thi hành thánh ý Thiên Chúa và làm cho chương trình của Người được hoàn thành. Nếu người ta biến lề luật thành tuyệt đối bằng cách nêu ra các thứ quyền, khi ấy, người ta đã khép kín lại nơi chính mình và quên mất giá trị ơn gọi của mình là tiến lên phía trước. Và như thế, họ cũng khép kín trước Thiên Chúa là Ðấng kêu mời họ tiến lên phía trước.

"Lúc khởi đầu ... Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ ..."
Khẳng định này cho thấy người nam và người nữ đều được Thiên Chúa dựng nên, và vì vậy họ bình đẳng với nhau. Chương trình của Thiên Chúa, đó là người nam và người nữ cùng nhau tiến bước, hoà hợp với nhau, người này làm cho người kia được sống. Người vợ không phải là một món đồ thuộc quyền sở hữu của người chồng và có thể bị anh ta bỏ rơi bất cứ lúc nào.

Hơn thế nữa, khẳng định của Ðức Giê-su còn nhấn mạnh đến việc hai người nam nữ thu hút nhau, bù đắp cho nhau và khắng khít với nhau để tạo nên một cộng đoàn, một nếp sống. Ðời sống lứa đôi không phải là chiếm hữu nhưng là một cuộc phiêu lưu, trong đó mỗi người khám phá và thăng tiến chính mình qua việc gặp gỡ người bạn đời của mình. Ðời sống này đòi mỗi người trung tín đến cùng như chương trình của Thiên Chúa. Chấp nhận phiêu lưu là chấp nhận lời mời trung tín đến cùng. Tại sao người chồng lại có thể viện cớ người vợ có điều gì chướng để từ bỏ nàng ? Phải chăng vì anh ta đã đặt khát vọng và cảm tính của mình lên trên kế hoạch của Thiên Chúa ? Chỉ có ai khám phá sống tình yêu, người ấy mới có thể đi đến cùng của cuộc phiêu lưu.

Dĩ nhiên tình yêu này không làm giảm giá trị của tình dục, như người ta vẫn nghĩ ; trái lại, chính tình yêu là cách hiểu về tình dục cách đúng đắn nhất : đặt nó vào trong toàn bộ ơn gọi làm người, và như vậy, tương đối hoá nó.

Yêu thương và trung tín

 Ðời sống hôn nhân quả là một thực tại sâu sắc : đời sống ấy có tính cách thiêng thánh vì là công trình của Thiên Chúa, và từ đời sống ấy có thể phát sinh một con người mới, có linh hồn bất tử, có tự do, có khả năng yêu mến và hiểu biết theo đúng hình ảnh của Thiên Chúa. Ngay từ khi được sáng tạo, người nam và người nữ, vốn xa cách và khác biệt nhau, được mời gọi sống chung với nhau để làm nảy sinh tình yêu.

Khi tình yêu ngự trị trong cuộc sống này, thì đời sống lứa đôi trở thành một thực tại thánh, trở thành một phần trong thân thể Ðức Ki-tô, bởi vì có tình yêu Thiên Chúa hiện diện trong đó. Thánh Phao-lô ghi nhận : Mầu nhiệm này thật cao cả. Tôi muốn nói về Ðức Ki-tô và Hội Thánh" (Ep 5,32).

Cũng như Ðức Ki-tô và Hội Thánh chỉ là một thân thể và không ngừng sinh ra những người con mới qua bí tích Thánh Tẩy, thì người nam và người nữ cũng thực hiện một cuộc hoà hợp nơi đứa con của mình. Từ hai, họ làm nên một, một thân xác, một con người.

Như vậy, là người nam hay người nữ, mỗi người chỉ thực sự là mình khi được yêu mến và mỗi người cũng chỉ thực sự là mình khi biết yêu mến. Chính tình yêu tạo nên mối tương giao duy nhất : từ hai, họ làm nên một, không còn tính cách nào khác.

Trong cuộc sống lứa đôi, mỗi người cảm nghiệm sự hiệp nhất này. Ðây không phải là sự tan biến, mất hút - dấu chỉ của sự chết, nhưng là một sự trao tặng : mỗi người vẫn tự do khi hiệp nhất với nhau để diễn tả về tình yêu Thiên Chúa và cùng tiến bước về với Thiên Chúa.

Trong cuộc sống lứa đôi, hai người cùng đi vào cuộc phiêu lưu làm con cái Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở bên cạnh họ. Chính điều này làm cho họ liên kết chặt chẽ với nhau, và nhờ đó họ cùng nhau sống mầu nhiệm sáng tạo, sống giao ước, cùng nhau đảm nhận những khó khăn, những thách đố, và cùng nhau đón nhận Nước Thiên Chúa.

Thế nhưng, có những người lầm lẫn về chính mình và về người khác, những người chỉ sống bí tích hôn nhân như một nghi lễ, những người coi bí tích hôn nhân như cao điểm của trí tưởng tượng, được một vị thần trong mây chúc lành, để rổi cuối cùng họ xa rời nhau. Ðối với những người này, ai được quyền phân xử, ai được quyền ném đá vào họ ? Thưa chỉ có Thiên Chúa. Chỉ có Người mới biết họ như thế nào.

Sau cùng, sự trung tín không phải là đặc tính dành riêng cho đời sống lứa đôi. Trong nhiều cuộc dấn thân khác, vẫn phải có những người trung tín phục vụ. Khi người ta phá đỗ sự dấn thân được thể hiện trong tinh thần tự do và trách nhiệm, tức là dứt khoát lìa bỏ dân Thiên Chúa, thì đó là chia rẽ. Mà chia rẽ dẫn đến cái chết. Mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi lập giao ước, để sống và làm cho sống.

Con đường nên thánh

Hôn nhân không chỉ là tế bào nền tảng, nguyên thuỷ, gắn liền với mầu nhiệm sáng tạo, nhưng còn là con đường nên thánh. Ở đây, thánh thiện không có nghĩa là sự hoàn hảo luân lý, nhưng là một công trình thiêng liêng và mỗi người đều trung thành thể hiện.

Thánh thiện bởi vì tạo nên sự hiệp nhất như Thiên Chúa đã muốn khi dựng nên con người. Và sự hiệp nhất này được diễn tả trong tình yêu. Phá vỡ sự hiệp nhất này chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa đã dựng nên : đó là ngoại tình. Xưa kia các ngôn sứ đã dùng từ ngữ này để nói về những người bỏ quên Thiên Chúa mà chạy theo các ngẫu tượng.

Như thế, hôn nhân là con đường nên thánh. Ðời sống lứa đôi tạo nên một cộng đoàn sống động, trong đó tình yêu ngự trị, hay nói cách khác, chính Thiên Chúa ngự trị. Hẳn không phải là tình cờ khi Ðức Giê-su muốn cho thấy Nước Thiên Chúa đã đến, Người đã thực hiện phép lạ đầu tiên trong một tiệc cưới.

Ðàng khác, câu chuyện Tin Mừng này cũng nhắc nhở mỗi người phải trở về với thánh ý của Thiên Chúa. Người ta không được quyền nại ra bất cứ điều gì để né tránh, để không thực hiện chương trình của Người. Trái lại, người ta phải can đảm sửa lại những sai lệch do tình trạng yếu đuối hay đam mê của mình.

Dù vậy, phải nói rằng khẳng định của Ðức Giê-su không có ý giải quyết tất cả những vấn đề cụ thể và pháp lý của cuộc sống lứa đôi. Người chỉ muốn đặt đời sống đó trước chương trình kỳ diệu của Thiên Chúa, trước tình yêu không thay đỗi, một tình yêu lớn hơn mọi tình trạng của con người. Trung tín chính là trở về với tình yêu này.

Cuối cùng, bài Tin Mừng này được đặt sau những lời Ðức Giê-su nói về chuyện đi theo Người, vác lấy thập giá. Chúng ta có quyền hiểu rằng, nếu như đời sống lứa đôi là con đường cần phải đi, thì phải đi đến cùng. Và chính con đường này dẫn đến sự sống đích thực.

 

Giacôbê Phạm Văn Phượng, op

Hôn Nhân Bền Vững

Mc 10, 2-16 

Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su tuyên bố cho những người Pha-ri-sêu cũng như cho mọi người biết chủ trương của Ngài về hôn nhân và cũng là lề luật của Thiên Chúa, là vợ chồng phải nhất phu nhất phụ và bất khả phân ly, tức là chỉ được một vợ một chồng và phải sống chung thủy với nhau suốt đời. Nói khác đi, Chúa Giê-su không chấp nhận đa phu đa thê và ly dị. Tại sao Chúa Giê-su lại chủ trương như vậy và đòi hỏi mọi người phải sống như vậy?

Trong báo Tuổi Trẻ Cười số 3 phát hành vào đầu tháng Ba năm 1984, có một bài đầu đề là “Hôn nhân kiểu Mỹ” kể rằng : chuyện thay vợ đổi chồng như thay áo của người Mỹ cũng đáp ứng nhu cầu tiện dụng, bởi vì mọi thứ trong cuộc sống của họ đều phải tiện dụng, đều mang dấu vết những sản phẩm chế tạo hàng loạt. Khi nói như vậy tác giả bài báo này có dụng ý nói rằng : chuyện bỏ nhau, chuyện thay vợ đổi chồng ở Mỹ rất nhiều và rất dễ dàng. Mọi người dân Mỹ đều thuộc làu bộ luật ly dị, vì nó giản tiện hơn những bộ luật khác.

Đó là chuyện của xứ người, còn ở xứ ta thì sao ? Báo chí cho biết : tại thành phố Hồ Chí Minh, qua thụ lý sơ thẩm của các tòa án quận huyện, được tòa án thành phố tổng hợp, thì hiện tượng ly hôn đã gia tăng đáng kể, đến mức báo động trong những năm gần đây. Báo chí còn cho biết thêm : phần đông đơn xin ly hôn là của những đôi vợ chồng ở lứa tuổi 30 tới 40 và có rất nhiều đôi vợ chồng mới lấy nhau từ một đến năm năm. Có bài báo, sau khi đã kể ra một số lý do dẫn đến ly hôn, đã kết luận : có những trường hợp có lý do chính đáng, nhưng cũng có những trường hợp lý do đưa ra xin ly hôn thật lẩm cẩm. Một số dẫn chứng trên cho thấy tình trạng hôn nhân ngày nay và củng cố cho điều Chúa Giê-au dạy trong Tin Mừng hôm nay.

Bước vào hôn nhân, tất cả mọi người, ai cũng muốn được hạnh phúc, trọn đời yêu thương, và cuộc tình không phải chỉ là chuyện tháng ngày, vui thì ở, chán thì chia tay, nhưng trái lại, luôn bền vững, tươi đẹp. Chính Chúa Giê-su cũng mong muốn như thế, nên Ngài đã nâng sự kết hợp vợ chồng lên hàng bí tích, nghĩa là một sự kết hợp thánh thiện, bền chặt, biểu tượng của sự kết hợp mầu nhiệm giữa Chúa Ki-tô và Hội thánh. Sự kết hợp này keo sơn và bền chặt, ngoài sự chết, không sức mạnh nào, không uy quyền nào có thể chia lìa. Vì thế, khi những người Pha-ri-sêu đến chất vấn Chúa : có được phép ly dị để lấy người khác không ? Hẳn là họ muốn hỏi : có được thay vợ đổi chồng, đa phu đa thê không ? họ còn nại đến thế giá của ông Mô-sê để hỏi thử Chúa. Chúng ta thấy Chúa Giê-su đã điềm đạm nhắc lại cho họ biết luật nguyên thủy của Thiên Chúa là một vợ một chồng, còn việc ông Mô-sê cho phép bỏ nhau để lấy người khác là vì lòng dạ dân chúng thời đó cố chấp, nên ông Mô-sê phải nhượng bộ, chứ thuở ban đầu đâu có thế. Như vậy, Chúa Giê-su đã chính thức rút lại luật Mô-sê và thay thế những gì là hủ tục trong Cựu Ước bằng luật Tân Ước, nghĩa là Chúa chính thức xác nhận luật nhất phu nhất phụ và bất khả phân ly của hôn nhân, đồng thời Chúa đòi hỏi mọi người phải sống theo luật lệ này. Vì thế từ xưa cho đến nay, Giáo hội vẫn luôn trung thành tuân giữ.

Hôn nhân là vấn đề tình yêu, một tình yêu chân chính không chấp nhận chia sẻ, phân tán. Khi yêu người ta muốn chiếm trọn, muốn được chung tình, chứ không ai muốn chung chạ hay nửa đường đứt gánh. Vì thế, bất cứ khi nào tình yêu bị sứt mẻ, bị chia sẻ, bị phản bội, người ta sẽ không quản gian nguy, không ngại tai tiếng, không ngại hy sinh, để quyết bảo vệ cho kỳ được tình yêu đó, như đánh ghen, đập phá, chém giết, thuê người hành hung, tạt át xít tình địch… Tất cả những hành động đó không ngoài mục đích đòi quyền yêu và được yêu một cách tuyệt đối trong hôn nhân, không ngoài mục đích bảo vệ đạo chung thủy của vợ chồng.

Không thể có hạnh phúc trong những gia đình chồng đèo bồng vợ lang chạ, trái lại, khi ‘sợi giây” tơ hồng bị xé lẻ thì biết bao cảnh hỗn loạn tang thương xảy đến cho gia đình, vợ chồng sẽ không còn lòng quảng đại để tha thứ và để cảm thông nhau như trước nữa, bầu khí gia đình ngột ngạt, nghi kỵ, hằn học, ăn miếng trả miếng sẽ bùng nổ từ đây, và không sớm thì muộn sẽ đi đến chỗ đưa nhau ra tòa đòi ly dị. Tình trạng bi đát này sẽ gây nên nhiều đau khổ cho hai người.

          Nhưng hậu quả tại hại nhất của gia đình ly dị là số phận con cái. Thật bất hạnh cho chúng, sinh lầm trong những gia đình bất hòa ấy : tâm tư tình cảm chúng bị đầu độc, chia sẻ, tình huynh đệ bị sứt mẻ héo tàn, tuổi trẻ thơ mộng bị hoen ố, lòng chúng hoang mang, mặc cảm, chán chường. Tội ác phát sinh ra tội ác, từ một gia đình thiếu tình yêu, chúng càng kháo khát tình yêu khi nhìn đến anh em của những gia đình khác, chúng muốn tình thương mà lại thiếu tình thương, chúng muốn thoát ly gia đình để đòi hỏi một sự bù đắp nào đó, đòi hỏi không được thì càng gào thét, đập phá, quấy rối… và trở thành những trẻ em hư hỏng.

Trong phạm vi tự nhiên mà đã nguy hại như thế huống chi là phạm vi siêu nhiên. Gia đình là nền tảng của Giáo hội, là tế bào sống của Giáo hội. Nếu tế bào đó không sống, bị hư hỏng thì nhiệm thể đâu có lành mạnh được. Chúa nói : “gia đình nào chia rẽ là tự hủy”. Trường hợp đau thương đó nếu còn được người cha hay người mẹ biết chịu đựng, nhẫn nại, hướng dẫn các con thì còn hy vọng cứu vãn được các con, nhưng nếu “ông ăn chả bà ăn nem” thì sẽ không còn mảnh đức tin nào nữa. Chúa Ki-tô đã xác định rõ ràng : “Điều Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân ly”, phân ly là mất mát, là chết chóc.

Nếu thực tại hôn nhân ngày nay đã lệch chính đạo và xa rời ý muốn của Thiên Chúa, thì nhiệm vụ đưa hôn nhân trở về nguồn là một vinh dự và cũng là một trọng trách của đôi bạn đã kết ước, của các bậc cha mẹ, của các gia đình, và của hết mọi người có nhiệm vụ rao truyền lời Chúa cho muôn dân.    

Như Hạ, op

Cộng Đồng Tình Yêu

Mc 10, 2-16

 

Hôn nhân là một cộng đồng tình yêu, qui tụ những nét tươi đẹp nhất của cả vũ trụ này. Nếu không, tại sao thánh Phaolô dám so sánh hôn nhân với cuộc kết hiệp giữa Ðức Giêsu và Giáo Hội (Ep 5:32) ? Nhưng vì tội lỗi, hôn nhân đang rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về mọi mặt, đã đánh mất nét tinh nguyên thuở ban đầu. Bởi đó, Ðức Giêsu đã đến để phục hồi những nét tươi đẹp nhất của hôn nhân trong gia đình nhân loại hôm nay.

LÝ TƯỞNG HÔN NHÂN

Mấy người Pharisêu đã giương bẫy khi chất vấn Ðức Giêsu về vấn đề hôn nhân (Mc 10:2). Nếu chấp nhận ly dị, Người đã ủng hộ những thủ tục ly dị của họ. Nếu đả phá ly dị, Người sẽ bị một số người dùng luật ly dị (Dnl 24:1) chống đối. Quan trọng hơn nữa, Người có thể chọc giận vua Herod vì ông này mới giết thánh Gioan Tẩy giả dám chống lại việc ly dị và ngoại tình (Life Application Study Bible 1991: 1754). Nhưng Ðức Giêsu không trả lời trực tiếp. Dựa trên Thánh Kinh, Người muốn mọi người trở về nguồn để thấy hình ảnh tươi đẹp của hôn nhân : "Cả hai sẽ thành một xương một thịt." (St 2:24; Mc 10:8) Thật là một hòa hợp tuyệt vời !

Từ khởi thủy, "Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà" (St 2:22). Không còn sự gắn bó nào khăng khít hơn. Trong cơn đê mê, Ađam vui sướng kêu lên : "Ðây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút ra từ đàn ông." (St 2:23) Sự gắn bó này không dừng lại ở xác thịt, nhưng vươn tới sự hiệp nhất trong bình đẳng. Trong hôn nhân, "con người tìm được cho mình một trợ tá tương xứng." (St 2:20) Hôn nhân gắn bó nam nữ trong một tình yêu sâu xa và bền chặt. Chỉ khi nào trung thành trong tình yêu đó, con người mới khám phá ra chính mình và đạt được những chiều kích lớn lao trong kế hoạch Thiên Chúa. Thiên Chúa đã không tạo dựng người nữ từ hư vô hay từ bùn đất, nhưng từ cạnh sườn Adam. Sự hiệp nhất thực sự chỉ thể hiện khi hai bên tôn trọng giá trị của nhau. Trong hôn nhân, người ta không đánh mất chính mình, nhưng tìm được mình trong người khác. Mỗi người là một nhân vị độc lập, nhưng hiệp nhất trong sự tương trợ, gắn bó với nhau. Sự tương trợ không phá hủy tính độc lập. Sự hiệp nhất là một hòa điệu tuyệt vời giữa tính độc lập và tương trợ. Ðộc lập quá mức sẽ đẩy người ta đến chỗ phân ly hay ly dị. Nhưng "sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly," (Mc 10:9) vì tình yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Quả thực, con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa (St 1:28), nhưng không giống trong sự cô độc. Chính vì thế Thiên Chúa mới phán : "Con người ở một mình thì không tốt." (St 2:18) Không tốt vì sự đơn độc làm giảm đi hình ảnh Thiên Chúa nơi con người. Cũng như Thiên Chúa, con người chỉ thực sự là con người khi sống cùng và với người khác. Tự bản chất, Thiên Chúa không đơn độc, nhưng hiện hữu trong một cộng đồng Ba Ngôi. Tình yêu bao giờ cũng đòi tương quan. Tình yêu không thể thành hình nơi một cực hay một chiều. Chỉ tình yêu mới phản ánh tình yêu. Con người chỉ thực sự là hình ảnh Thiên Chúa khi yêu thương nhau. Bởi đó con người cô độc Adam phải ra khỏi chính mình, để tìm đến đối tượng tình yêu là Evà. Evà và Adam làm thành cộng đoàn tình yêu. Như thế cộng đồng Ba Ngôi tìm thấy hình ảnh viên mãn trong cộng đồng tình yêu hôn nhân. Ngược lại, hôn nhân tìm thấy lý tưởng tuyệt vời nơi tương quan Ba Ngôi. Khi đã khắn khít trong hôn nhân, người ta tìm được hạnh phúc tròn đầy, vì thể hiện được độ sung mãn tình yêu Thiên Chúa trong chiều kích nhân loại. Tình yêu nhập thể trong một bối cảnh và xác thân cụ thể. Bởi đấy càng sống trọn vẹn ơn gọi hôn nhân, càng cảm thấy sâu xa mầu nhiệm kết hiệp giữa Ðức Giêsu và Giáo Hội, càng cảm thấy thấm thía tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại được mạc khải trong Diễm Tình Ca và sách Ngôn sứ Hôsêa.

Sự kết hiệp sâu xa đó như một chứng từ mạnh mẽ về tình yêu và niềm hi vọng. Giữa bao nhiêu đổ vỡ hôn nhân hôm nay, can đảm sống ơn gọi và lý tưởng hôn nhân, Kitô hữu đã chứng minh cho mọi người thấy tình yêu là sức mạnh liên kết hai trái tim bền vững trong hôn ước giữa bao sóng gió cuộc đời. Khi ly dị, người ta vừa phản bội nhau vừa phản bội Thiên Chúa. Tâm hồn phản bội sẽ không tìm được bình an, vì "hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội." (Ga 8:34) Ly dị không xóa nhòa được dấu ấn Chúa đã ghi trong tình yêu hôn nhân ban đầu. Vì "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình."(Mc 10: 12) Cuộc kết hiệp này không phản ánh tình yêu Thiên Chúa. Tâm hồn con người trở thành phức tạp, không còn đơn sơ xứng đáng với Nước Thiên Chúa nữa.

Ðó là lý do tại sao sau khi đề cập tới đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân, Ðức Giêsu ôm các trẻ em để mạc khải về điều kiện vào Nước Thiên Chúa : "Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào."(Mc 10: 15) Không ai thành thực hơn trẻ em. Không đâu cần thành thực hơn đời sống hôn nhân. Khi bỏ cuộc sống hôn nhân, bất chấp ý định phối hợp của Thiên Chúa, con người không còn thành tâm với chính mình và người bạn đời nữa. Mỗi đứa con là một nhắc nhở hôn nhân nhớ rằng "Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng."(Mc 10:14) Người ta không thể trở nên như trẻ em. Nhưng nhờ sự trung tín trong tình yêu, họ có thể tìm được nét tuyệt vời của hạnh phúc hôn nhân. Tấm lòng mỗi người sẽ mở ra như tờ giấy trắng. Họ có thể tin nhau vì hiểu rõ nhau. Nói khác, khi yêu, phải đơn sơ thành thực như trẻ em, người ta mới có thể bước vào thiên đàng trần giới tức là hạnh phúc gia đình.

CHỨNG TỪ HÔN NHÂN

Càng tìm cách tránh né thực tế, hôn nhân càng rơi vào cơn hỏa mù tình yêu. Chỉ có một cách thoát cơn hỏa mù đó là bước theo "Ðức Giêsu, (Ðấng) trải qua gian khổ đã trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ." (Dt 2:10) Quả thế, nếu theo Ðức Giêsu, họ sẽ đi vào cuộc sống hôn nhân cũng giống như Ðức Giêsu đến thế gian "không phải để lên án thế gian (mặc dù thế gian đáng bị lên án) nhưng là để thế gian được cứu độ." (Ga 3:17) Khi không còn yêu nhau nữa, họ chỉ sống với tâm trạng buồn bực và thái độ lên án. Họ không còn cảm thấy dịu ngọt của hoa trái tình yêu. Họ không thấy phải hi sinh và ban tặng cho nhau hạnh phúc tình yêu nữa. Họ không thể mở mắt học bài học yêu thương nơi Thiên Chúa. Quả thực, "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời." (Ga 3:16) Chính vì tình yêu ấy, "Ðức Giêsu đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa." (Dt 2:9) Khi hi sinh trọn vẹn cho nhau, vợ chồng đang thực hiện ơn cứu độ do nguồn ơn bí tích hôn phối mang lại. Như thế hôn nhân trở thành một con đường nên thánh. Chỉ khi hiến thân cho nhau, vợ chồng mới chứng tỏ mình là bạn đời của nhau. Thật vậy, "không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15:13).

Ngoài đặc tính cứu độ, tình yêu còn đầy năng lực sáng tạo. Cũng như Thiên Chúa đã chứng tỏ tất cả sức mạnh tình yêu khi sáng tạo con người, vợ chồng cũng cảm thấy năng lực vô biên ấy khi thấy kết quả tình yêu nơi người con, hình ảnh tuyệt vời của Thiên Chúa và của chính mình. Mỗi người con là một hồng ân làm phong phú tình yêu và củng cố cộng đoàn tự nhiên là gia đình. Bởi vậy, phá vỡ cộng đồng này sẽ kéo theo những hậu quả trầm trọng, không thể cứu vớt được. Thiên Chúa muốn cứu con người nên đã kêu gọi họ nhớ lại "lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ," để "phối hợp" (Mc 10:6,8) họ thành vợ chồng. Ðó là thánh ý Thiên Chúa. Sống theo thánh ý là con đường nên thánh nhanh nhất và chắc chắn nhất. Thiên Chúa muốn hôn nhân phải là hình thức tốt đẹp nhất nối kết con người trong một cộng đồng tình yêu, ở đó "con người tìm được cho mình một trợ tá tương xứng." (St 2:20) Trước những thảm cảnh gia đình đổ vỡ hôm nay, Thiên Chúa cần đến hôn nhân như dấu ấn tình yêu của Người đặt giữa nhân loại.

Giuse Mai xuân Tự

Sự Gì Thiên Chúa Đã Kết Hợp, Loài Người Không Được Phân Rẽ

Mc 10, 2-16

 

Kính thưa quý ông bà và anh chị em

Thánh lễ Chúa Nhật hôm nay không phải là thánh lễ thành hôn. Nhưng phụng vụ lời Chúa hôm nay muốn mượn hình ảnh của hôn nhân, đặc biệt là tính đơn hôn và chung thủy của hôn nhân, để nói lên tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người.

Thưa anh chị em, ngay từ ban đầu Thiên Chúa đã muốn cho con người được hạnh phúc, hạnh phúc đó được thể hiện trong ý muốn và việc làm của Thiên Chúa dành cho con người : "Ðàn ông ở một mình không tốt, Ta hãy tạo dựng cho nó một nội trợ giống như nó" (St2, 18) và Thiên Chúa đã tạo dựng người nữ, khi bừng tỉnh dậy thấy người nữ trước mặt, người đàn ông đã sủng sốt thốt lên : "Bây giờ đây, xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi" (St2, 23). Tình yêu bền chặt và hạnh phúc còn vượt xa tình máu mủ ruột thịt : "Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân thể" (St2,24). Tình yêu như thế là tuyệt vời, đem lại hạnh phúc tràn đầy và bất tận cho con người. Ðây vừa là ý muốn của Thiên Chúa cho con người được hạnh phúc, đồng thời muốn nói lên tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người giống như tình yêu phu thê: kết hợp mật thiết, trở nên một, vượt xa tất cả mọi thân thiết khác và hoàn toàn tạo hạnh phúc cho đối tượng của tình yêu.

Thưa anh chị em, tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người như thế đó ! Nhưng con người có sống, có giữ và có thực thi tình yêu đó chăng?

Nhìn vào thực tại cuộc sống, hôn nhân đã không ngừng tiếp diễn, hôn nhân này sinh ra hôn nhân khác. Mỗi hôn nhân là một chuyến đi về định mệnh, là cuộc mạo hiểm đi tìm hạnh phúc. Nhiều người cho rằng : những ngày liền trước hôn nhân là cả một mùa xuân, rồi đến những ngày mới thành hôn là mùa thu, và tiếp đó, là những ngày xuân thu xen giữa những tháng dài đông hạ. Với nhiều bạn trẻ thì cho rằng : những ngày liền trước hôn nhân là những ngày đầy thân mật, rồi đến ngày mới thành hôn là tuần trăng mật, và tiếp đó là cả những tháng ngày dài dập mật và vỡ mật.

Thưa anh chị em, hôn nhân ngày nay có lẽ đang trở thành nỗi lo sợ của không ít người. Bởi vì, tỷ lệ những cuộc hôn nhân đi đến ly dị ngày một gia tăng, nó đang làm biến đổi nền đạo đức trong xã hội, gây đau khổ cho biết bao người vô tội. Ðặc biệt là những em nhỏ mồ côi đương nhiên trở thành tệ nạn của xã hội cũng không ngừng gia tăng. Phải chăng hôn nhân ngày hôm nay đang trở thành nỗi bất lực của con người, mà con người không có cách giải quyết.

Trở về bài tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đã mượn bối cảnh của cuộc nói chuyện với người Pharisiêu về hôn nhân, để tái xác nhận những đặc tính bất di bất dịch của đời sống hôn nhân, là không bao giờ được ly dị.

Những người Pharisiêu đã nại đến Môsê tổ phụ của dân tộc, để tấn công Chúa về tính cách bền vững này. Chúa Giêsu đã trả lời họ một cách nhẹ nhõm : "Chính vì sự cứng lòng tin của các ông mà Môsê đã viết ra điều luật đó. Nhưng lúc khởi đầu cuộc sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi đó người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà luyến ái với vợ mình và hai người sẽ nên một huyết nhục. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ". (Mc 10,5-9)

Thưa anh chị em, Chúa Giêsu đã lặp lại hầu như nguyên văn những lời trong sách Sáng thế, để tái khẳng định sự bền chặt của hôn nhân. Việc ly dị vợ hoặc chồng là điều không được phép làm, vì như thế là phá vỡ sự bình đẳng Thiên Chúa đã thiết lập và con người đang tái tạo, là theo ý riêng tư vụ lợi, là xúc phạm đến những tâm hồn ngây thơ đơn sơ, vì gia đình là tổ ấm, là nôi hạnh phúc, là mái trường không thể thiếu để trẻ em phát triển thành người. Hơn nữa, sự bất khả phân ly của hôn nhân là lời thề hứa sâu sắc nhất của tình yêu; và bí tích hôn nhân đúng là một hồng ân, một quà tặng nhưng không để chữa bệnh con người không biết yêu thương và chỉ có Thiên Chúa sống động trong ta mới có thể làm được những gì mà chúng ta coi là bất lực.

Tôi xin kể câu chuyện: có hai vợ chồng trẻ rất nhiệt tình đi làm việc bác ái cùng mẹ Têrêxa Calcutta, nhưng hai vợ chồng không bao giờ đi làm việc với nhau, khi họ được mời đi làm việc cùng nhau là họ tìm cách khước từ, họ không thể đi chung và sống chung với nhau. Một hôm mẹ Têrêxa gọi cả hai người đến và nói: tại sao anh chị đi làm việc bác ái và yêu thương người khác được, mà anh chị lại không bác ái và yêu thương nhau ? Họ bắt đầu kể tội nhau, nhưng mẹ Têrêxa đã giơ tay xin hai người cùng mẹ vào nhà thờ để cầu nguyện. Hai người đã nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đã dành cho họ, họ đã khóc với Chúa, xin lỗi nhau và về sống chung với nhau thật là hạnh phúc.

Thưa anh chị em, chỉ có Thiên Chúa là tình yêu mới có thể làm biến đổi tình yêu nơi con người và tình yêu Thiên Chúa dành cho con người chỉ đạt tới đỉnh cao nơi Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã làm chứng cho tình yêu, bằng chính cái chết trên thập giá. Quả thật tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho con người thì cao vời, tuyệt diệu, trung tín và bền vững. Ước gì Lời Chúa hôm nay trở thành phương thuốc chữa căn bệnh bất lực của tình yêu hôn nhân. Với những ai đang làm vợ và làm chồng hãy sống ý thức được tình yêu mà Chúa đã dành cho mỗi người, bằng tất cả ý thức trách nhiệm, biết quên mình để can đảm nhận lãnh bổn phận, chính là bí quyết sống hạnh phúc trăm năm. Ðây cũng là cuộc hành trình đầy tin tưởng vào Thiên Chúa là tình yêu và là hành trang đi về hạnh phúc bất diệt nơi Nước Trời, mà Thiên Chúa đã hứa ban cho con người qua Ðức Giêsu Kitô. Amen.


Jos. Nguyễn Hùng Sơn op

Con cái là hồng ân Chúa ban
Mc 10, 2-16

Cộng đoàn thân mến !

Sách Sáng Thế có hai trình thuật về việc thiết lập hôn nhân. Trình thuật thứ nhất (1, 26-58) xem hôn nhân như một phương tiện để duy trì nòi giống. Trình thuật thứ hai (2, 18-24) – tức là bài đọc thứ nhất Chúa Nhật hôm nay- xem hôn nhân như nhu cầu gặp gỡ của con người sống thành đôi bạn và bình đẳng.

Như thế, với trình thuật thứ nhất của sách Sáng Thế, ta hiểu rằng tự bản chất của đời sống hôn nhân là sinh sản, một hành vi mang tính cách tạo dựng được Thiên Chúa trao phó và uỷ thác cho người nam và người nữ, cùng kết hợp với nhau để thực hiện việc tạo dựng này.

Với trình thuật thứ hai, đời sống hôn nhân ngay từ đầu đã trở nên một dấu chỉ và một phương cách diễn tả huyền nhiệm của gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là Tình Yêu[1]. Khi nói đến tình yêu thì ta biết rằng tự bản chất tình yêu phải và cần có đối tượng. Thiên Chúa không ở đơn độc trong một ngôi vị nhưng là Ba Ngôi vị, cùng hướng về nhau trong một tình yêu duy nhất và làm nên một Thiên Chúa độc nhất.

Dựa vào bài trích sách Sáng Thế và bài Tin Mừng ta vừa nghe, ta có thể hiểu rằng đời sống hôn nhân là cách thức diễn tả huyền nhiệm của tình yêu. Khi nói đến tình yêu, ta nhận thấy tình yêu luôn có sự kết hiệp để chia sẻ và bổ túc cho nhau, làm cho nhau nên hoàn thiện và có được hạnh phúc trọn vẹn

Thêm vào đó, nếu như công cuộc tạo dựng vũ trụ và con người là sáng kiến từ tình yêu của Thiên Chúa, thì cũng tự bản chất tình yêu lại mang trong mình tính tạo dựng. Người nam người nữ khi yêu nhau sẽ quyến luyến với nhau bằng sợi dây tình yêu, và từ sự quyến luyến do tình yêu này mà kết quả là một mầm sống mới được sinh ra.

Ta cũng nên biết thêm rằng, khi một đứa trẻ sinh ra, em mang trong mình sự kết hợp hài hoà giữa cha và mẹ em. Em chính là biểu hiện sự nên một của cả cha và mẹ em trong tình yêu được cụ thể hoá nơi chính bản thân em. Như thế, con cái thực sự là đặc ân cao trọng của những người sống đời hôn nhân, vì chúng làm cho sự sống và tình yêu của họ không mất đi, cho dù khi họ già đi và sẽ phải chết thì tình yêu và sự sống của họ vẫn được bảo vệ và duy trì.

Ước gì tất cả những ai đang sống bậc hôn nhân và đặc biệt là những đôi bạn trẻ đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân, biết quí trong con cái mình như hồng ân cao trọng Chúa ban cho. Biết quan tâm và chăm sóc món quà cao quí này, để sự sống mới mà Chúa trao phó cho không bị thiệt thòi do tội lỗi và sự thiếu hiểu biết.

Xin Chúa Giêsu Thánh Thể cũng cho tất cả những ai đang sống đời sống hôn nhân gia đình, đặc biệt là các đôi bạn trẻ đang chuẩn bị bước vào đời sống này, luôn ý thức được ý nghĩa của đời sống hôn nhân của họ như là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa. Đồng thời qua đời sống hôn nhân, họ được mời gọi cộng tác vào chương trình tạo dựng con người của Thiên Chúa. Vì lý do đó, xin cho họ biết yêu mến và tôn trọng nhau một cách trung thành và bình đẳng. Có như thế họ mới biết quí trong con cái của họ, bởi vì chúng là kết quả của tình yêu, sự nên một và đặc ân được chia sẻ vào công cuộc tạo dựng con người của họ.

Kính thưa cộng đoàn!

Nếu đời sống hôn nhân là dấu chỉ của tình yêu luôn khao khát được kết hợp, được dâng hiến, được trao tặng, để được sống cùng, sống với, thì Chúa Giêsu Thánh Thể mà chúng ta đang tôn thờ trên bàn thờ đây, cũng muốn được sống kết hợp với ta như vậy.

Có thể nói, bí tích Thánh Thể là một sáng kiến tuyệt vời của tình yêu. Đức Giêsu đã lập bí tích này trong hoàn cảnh đặc biệt, khi biết rằng sứ mạng của Người trên trần thế sắp hoàn tất, Người phải trở về với Chúa Cha. Người vốn yêu ta và yêu cho đến cùng[2]. Tình yêu của Người quá mãnh liệt đến nỗi tình yêu đó đã làm nên một sáng kiến tuyệt vời. Sáng kiến đó chính là bí tích Thánh Thể.

Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể đã muốn kết hợp với ta bằng cách trở nên của ăn, của uống để mang đến nguồn sống cho ta. Khi ta “ăn” Người, Người sẽ trở nên chất “dinh dưỡng thần linh” để nuôi sống linh hồn ta, để hoà mình vào cuộc sống của ta, để cùng đồng hành và chia sẻ cuộc sống của ta với những thăng trầm của kiếp nhân sinh. Rồi theo dòng thời gian, Người sẽ biến đổi ta thành con người mới, trở nên con người thần linh, nghĩa tử của Chúa Cha và là anh em của Người.

Như đã nói ở phần trên, tự bản chất tình yêu mang trong mình tính tạo dựng. Nếu ta siêng năng đón rước Người mỗi ngày khi tham dự thánh lễ với tâm hồn trong sạch và tin yêu, Đức Giêsu sẽ kết hợp với ta không những để ban tặng cho ta niềm vui và hạnh phúc, mà Người còn trao ban cho ta “mầm sống mới”, mầm sống này sẽ trở nên cao trọng và được gọi là con Thiên Chúa. Mầm sống này khi lớn mạnh sẽ trở nên con người mới thay thế cho con người cũ của ta là con người yếu hèn, hư hỏng và phải chết. Con người mới ấy sẽ được thừa hưởng gia tài không tàn phai trên Trời.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể!

Xin giúp chúng con biết năng kết hợp với trong Chúa trong bí tích tình yêu này, để nhờ Người mà con người mới trong chúng con cũng được sinh ra. Con người đó thực sự là con người của ân sủng và bình an, của ánh sáng và hạnh phúc, của vinh quang và vĩnh cửu. Xin cho chúng con ngay từ bây giờ cảm nghiệm được sự hình thành và lớn mạnh của con người mới ấy, cũng như thấy con người mới ấy đang dần thay thế con người cũ của chúng con. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

Hôn nhân được Thiên Chúa chúc lành

St 2: 18-24; Hr 2: 9-11; Mc 10: 2-16

Kính thưa quý vị,

Vấn đề ly dị mà các Pharisêu đặt ra cho Đức Giêsu không nhằm mục đích tranh luận để nghiên cứu hay chỉ là ngẫu nhiên. Nhưng thánh Máccô cho chúng ta thấy họ đang thử Đức Giêsu. Vấn đề này đã được bàn đến từ lâu, thậm chí trong suốt Sách Thánh. Chúng ta đọc thấy trong Sách Đệ Nhị Luật rằng:

 “Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà. Ra khỏi nhà người ấy, nếu nàng đi lấy chồng khác, mà người chồng sau lại ghét bỏ nàng, viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà và…” (Đnl 24, 1-3).

Vấn đề trên không khiến cho một chuyên viên Giáo luật bận tâm xem xét giáo huấn này cởi mở thế nào để giải thích và tranh luận. Ví dụ, cái gì đã làm nên “điều chướng”, hay việc “ghét bỏ nàng” có nghĩa là gì? Có nhiều tranh luận khác nhau xoay quanh giáo huấn này theo nghĩa đen, lời giải thích này cụ thể nói đến việc không chung thủy như là căn cớ cho việc ly dị. Một lối giải thích rộng hơn được một số người có thẩm quyền đặt ra, đáng chú ý là Hillel. Trường phái tư tưởng này cho phép cho phép chỉ cần một lý do bình thường cũng có căn cớ để ly dị. Chẳng hạn người phụ nữ không giỏi nấu ăn; hay vô tình làm cháy nhà – những việc như thế có nên là căn cớ để li dị hay không?

Những cuộc tranh luận như thế chẳng khác gì chẻ sợi tóc làm tư, nhưng những tranh cãi đó liên quan đến vấn nạn xã hội quan trọng: khi nào thì được phép ly dị? Ly dị không phải đơn thuần là vấn đề riêng tư, nhất là trong một cộng đồng sống khép kín. Hơn nữa, vì ly dị thường ảnh hưởng đến những đứa con và quyền lợi của chúng, một cuộc tranh luận về ly dị quả không phải là đơn giản. Có thể chúng ta nghe từ nhiều khía cạnh khác nhau rằng, người phải chịu đau khổ về việc ly dị chính là người phụ nữ và những đứa con.

Trong nền văn hóa của Đức Giêsu, một hôn lễ bền vững và tốt đẹp là điều tối quan trọng đối với phụ nữ, vì họ không có tài sản riêng và cũng không thể tự mình mưu sinh. Vì thế, một người phụ nữ đã có gia đình thì được chu cấp cho cả mình và con cái. Vì thế, luật pháp chống lại việc ly dị nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em khỏi bị những tính khí nông nổi thống trị và lấn lướt. Người vợ bị ruồng rẫy thì đồng thời cũng bị “đuổi ra khỏi nhà”. Đâu là sự bảo vệ mà nền văn hóa gia tộc đông phương dành cho người nữ và con của cô ấy? Cây ấy sẽ sống thế nào nếu ngay chính gia đình của mình cũng không, hoặc không thể đón cô về nhà? Có bao giờ quý vị thắc mắc tại sao những cô gái điếm lại thường xuyên được nhắc đến rong Tin Mừng không?

Chúng ta đang ở trong một nền văn hóa tân tiến với rất nhiều bảo vệ cho phụ nữ và trẻ em. Thế nhưng chúng ta vẫn còn sống trong một thế giới bị đổ vỡ, và ai mà chẳng biết những bà mẹ đã bị ly dị phải chật vật để nuôi dạy con cái mà không hề có sự giúp đỡ của người chồng cũ?

Đoạn Tin Mừng không chỉ nói về việc ly dị mà còn cho biết tình tiết về các môn đệ Đức Giêsu đang cố ngăn cản người ta đem trẻ em đến với Thầy mình. Hơn nữa, ngoài tình thương mà Đức Giêsu dành cho trẻ em, Người còn dùng cơ hội đó mà nhân danh những người dễ bị lên án nhất trong xã hội – mà trong bối bản văn, không chỉ bao gồm trẻ em, chưa được pháp luật công nhận, mà còn cả những phụ nữ bị ly dị nữa. Trong lời phát biểu của Đức Giêsu chống lại việc ly dị, Người vẫn theo cách thông thường bảo vệ người nghèo và những người dễ bị lên án nhất trong xã hội.

Đức Giêsu khẳng định hôn nhân lý tưởng và cũng nói rằng người đàn ông ly dị vợ rồi đi tái hôn là điều sai trái, vì như thế là bất công đối với phụ nữ bị ruồng rẫy. Người còn giảng dạy về sự bình đẳng của cả vợ chồng trong hôn nhân. Chúng ta nghe điều lý tưởng mà Đức Giêsu đã đặt ra cho chúng ta trong đời hôn nhân. Chẳng ai cần phải đi tìm một nhà thống kê xã hội để biết về sự đổ vỡ trong hôn nhân ở đất nước chúng ta ra sao. Ngày nay người ta cũng ghi nhận về mức độ kết hôn thấp ở Hoa Kỳ – khoảng 51% người lớn ở độ tuổi trên 18, so với 70% vào năm 1960 (Phân tích của Trung Tâm Nghiên Cứu Pew).

Một số lý do của sự giảm sút về tỉ lệ hôn nhân là tình trạng sống chung như vợ chồng, những trào lưu làm mẹ đơn thân. Thêm vào đó, số lượng người phụ nữ không lập gia đình chẳng bao lâu sẽ vượt qua số lượng phụ nữ lập gia đình. Vì cứ hai đôi kết hôn thì có một đôi ly dị. Những người theo dõi các thống kê này cho rằng, cần có một chương trình giáo dục về sống hôn nhân để đẩy mạnh tính vững bền và chất lượng hôn nhân. Các giáo xứ và trung tâm giảng thuyết trong tuần này cần quan tâm đến sáng kiến và chương trình sẵn có nơi giáo sứ, giáo phận và cộng đoàn địa phương dành cho những người chuẩn bị sống đời hôn nhân, hoặc những người cần tư vấn hôn nhân, hay những nạn nhân của đời sống hôn nhân cần được giúp đỡ.

Câu trả lời của Đức Giêsu cho những người Pharisêu không bàn về tính hợp pháp của việc ly dị cho bằng bàn về nguồn gốc linh thiêng của hôn nhân được thiết lập trong sách Sáng Thế. Lập trường của Người, được nói đến trong bối cảnh của thế giới Người đang sống là sự cảm thương dành cho những ai thiếu thốn, và tái khẳng định về sự thánh thiêng trong đời sống hôn nhân.

Bối cảnh mà trong đó Đức Giêsu đang nói thì khác xa với thời đại chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cảm nhận được sự phẩm vị mà Người đã ban cho nhân loại, đó là chúng ta được Thiên Chúa trân trọng và yêu thương. Như Patricia Sanchez phát biểu trong một ấn bản gần đây về “Nguồn mạch Giảng Thuyết,” (một nghi thức bao gồm “Việc cử hành: Nghi Thức Phụng vụ Tổng Quát,” trang 2, tháng 10/2012) như sau:

 “Dù thế nào đi nữa, khi mỗi người có thể duy trì mối quan hệ lâu dài với một người khác thì chẳng có lý do gì để phán xét hoặc kết án họ. Trái lại, như Đức Giêsu, khi chúng ta có động lòng trắc ẩn và biết quan tâm đến người khác, thì chúng ta mới dám tin tưởng vào lương tâm trong sáng của họ và biết trân trọng những quyết định đúng đắn mà họ đã đưa ra. Ngăn cản không cho những người đau khổ nhất nhận được sự trợ giúp trong cộng đoàn đức tin không chỉ là bất nhân, mà còn trái với gương mẫu do Đức Giêsu thiết lập và nghịch với Tin Mừng mà Người rao giảng.”

Để củng cố lập trường của mình, Đức Giêsu dẫn đưa thính giả đến đoạn đầu sách Sáng Thế và những trình thuật tạo dựng. Trước hết Người trích câu Kinh Thánh nhấn mạnh về giá trị bình đẳng của người nam và người nữ. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Câu trích thứ hai từ sách Sáng Thế, trong bài đọc một, nói đến người phụ nữ như là trợ tá cho người nam. Có một sự hỗ tương lẫn nhau như được mô tả trong tham chiếu này (Xc St 2,18).

Hai bản văn trích từ sách Sáng Thế mô tả người nam và người nữ đều bình đẳng trước mặt Chúa và và bình đẳng trong tương quan với nhau. Không một động vật nào có thể trở thành tác nhân đối tác cho con người. Nên biết rằng, không phải người nam tạo nên người nữ, mà chính Thiên Chúa mới là Đấng tạo nên người nữ. Thậm chí người đàn ông còn không biết quá trình tạo dựng phụ nữ xảy ra như thế nào; vì lúc bấy giờ người đàn ông đang chìm trong “giấc ngủ sâu”. Chính Thiên Chúa là Đấng thực hiện. Phải chăng người phụ nữ thấp kém hơn vì được dựng nên từ xương sườn của đàn ông? Chẳng thấp kém gì hơn đàn ông cả, vì đàn ông cũng được dựng nên từ bụi đất mà thôi.

Diane Bergant (cuốn “Giảng lễ” - Preaching the New Lectionary: Năm B”) cho thấy rằng sự liên kết “xương và thịt” (c.23) là cách thức tiêu biểu để diễn tả tính toàn thiện – như “thân xác và linh hồn”. “Xương” ám chỉ sức mạnh; “thịt” nói đến sự mềm yếu. Vì thế, người đàn ông thấy mình bình đẳng trong người nữ; một con người hoàn thiện, một sự hoàn toàn phù hợp với mình.

Tác giả sách Sáng Thế không phải viết về một tường trình tạo dựng mang tính lịch sử được chứng kiến tận mắt, nhưng tác giả đã tập trung vào mối tương quan, nhấn mạnh ở câu kết, “cả hai thành một xương một thịt”. Điều quan trọng của một lòng trung thành hoán đổi như thế của đàn ông trong thế giới cổ đại quả không thể bị xem thường. Bởi lẽ, trong một xã hội gia trưởng, người phụ nữ được xem là người phối ngẫu duy nhất phù hợp để thiết lập một gia đình mới.

 


----------

[1] x. 1 Ga 4, 8

[2]  x. Ga 3, 1