Năm A

 
 

Chúa Nhật V Thường Niên - Năm A

Is 58,7-10 /1Cr 2,1-5 / Mt 5,13-16

 

Anphong op : Muối Và Ánh Sáng

G. Nguyễn Cao Luật op : Chút Hương Vị Cho Cuộc Đời

Fr. Jude Siciliano, op : Ngón tay hướng về Thiên Chúa

Fr. Jude Siciliano, op Căn cước kitô hữu : Muối và Ánh Sáng

Fr. Jude Siciliano, op : Ánh sáng Đức Kitô trong một thế giới đen tối

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy trở nên muối cho đời và ánh sáng trần gian

 


Lm Anphong op

Muối Và Ánh Sáng
Mt 5,13-16

Ai trong chúng ta, chắc cũng có lần phàn nàn về những tệ nạn, những thói xấu, những trò chơi đê tiện xảy ra chung quanh mình... Những điều ấy làm ngứa mắt chúng ta.

Nhưng nếu tất cả chúng ta chỉ “ngứa mắt” và phàn nàn mà thôi, thì những điều đó, chẳng những vẫn còn mãi, mà sẽ còn gia tăng mỗi ngày mỗi nhiều hơn. Hơn nữa, thành thật với chính mình, chúng ta sẽ nhận thấy : “chính tôi” cũng góp phần làm gia tăng thêm bóng tối trên trần gian.

Chỉ khi nào chúng ta “đau lòng” và muốn đóng góp phần nhỏ mọn của mình, muốn “thắp lên một que diêm còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối”, thì chúng ta mới thực sự trở thành môn đệ của Chúa Kitô.

Đức Giêsu là ánh sáng thật soi sáng trần gian và Ngài đã lấy chính máu của Ngài để tẩy rửa trần gian; nhưng Chúa Giêsu lại muốn chúng ta góp phần của mình vào sứ mệnh đó : “Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.

Người môn đệ Chúa Kitô không thể ngồi chờ, không đổ trách nhiệm cho ai khác bằng những lời nguyền rủa, không chỉ than thân trách phận; nhưng phải biết để cho Ánh sáng và Muối của Chúa Kitô thấm nhập và sử dụng chính sức mạnh, tài năng của mình.

Và điều lạ lùng là : khi ta “chia cơm sẻ bánh cho người đói, rước vào nhà những kẻ không nơi trú ngụ, khi ấy ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông; vết thương ngươi rồi sẽ mau lành” (Bài đọc 1). Điều đó có nghĩa là khi ta lưu tâm đến nỗi khổ đau của người khác, khi ta “đau lòng” vì những hoạn nạn của người khác, khi ta muốn trở thánh “ánh sáng”, thì ta mới có thể được ánh sáng của Chúa chiếu soi và cũng trở thành “muối” và “ánh sáng” cho đời.

Lạy Chúa Giêsu,

Xin lưu lại trong con, để con bắt đầu sáng lên như Chúa;
và tỏ ánh sáng của Chúa cho những người chung quanh con.

Lạy Chúa,
tất cả ánh sáng đều phát xuất từ Chúa;
không tia sáng nào của con
nhưng xin Chúa chiếu ánh sáng của Chúa qua con.

Ôi, lạy Chúa ! xin cho con chiếu sáng
trên tất cả những người sống chung quanh
theo đường lối Chúa ưa thích nhất,
ngõ hầu làm sáng Danh Chúa.

Xin ban ánh sáng cho họ
cũng như Chúa đã ban cho con;

Xin Chúa cùng với con,
và qua con mà soi sáng cho anh chị em của con.

J.H. Newman


G. Nguyễn Cao Luật op

CHÚT HƯƠNG VỊ CHO CUỘC ÐỜI
Mt 5,13-16

Nằm ở phần đầu Bài giảng trên núi cùng với các mối phúc thật, bài Tin Mừng hôm nay bổ sung cho bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước.

Sau các mối phúc thật, thánh Mát-thêu chuyển từ mối phúc cuối cùng thành lời nói thẳng với các môn đệ : Anh em có phúc ... Họ là những người đi theo Ðức Giêsu, họ đã đón nhận các mối phúc thật, và đã đặt hạnh phúc của mình nơi Ðức Giêsu và bây giờ là trách nhiệm của họ đối với người khác.

Chính anh em là muối cho đời

Muối là một loại sản phẩm rất dễ tìm và cũng rẻ tiền. Ngày xưa, muối được rắc lên trên các phẩm vật tiến dâng lên Thiên Chúa (dấu chỉ của Giao ước), và có khi được trộn lẫn với phân để làm cho đất thêm mầu mỡ. Ngày nay, muối được sử dụng để giữ cho các thức ăn khỏi bi hư thối ... Nhưng vai trò thường xuyên nhất cửa muối là làm tăng mùi vị, tạo cảm giác ngon miệng : có muôí đủ măn thì ngon ...

Muối cho đời. Thật là một tham vọng cũng tương tự như lời mời gọi hãy nên trọn lành. Câu nói của Ðức Giêsu có nghĩa là anh em hãy là, hãy mang lại niềm vui, sự ngọt ngào, sự mạnh dạn và đà tiến lên cho cuộc sống. Hãy đem lại cho nhân loại sự thú vị mà họ đang có nguy cơ mất dần đi trong những điều tầm thường của cuộc sống.

Muối cho đời. Một lời mời gọi khác thường mà Ðức Giêsu muốn khởi xướng mơi tâm hồn những kẻ đi theo Người. Nếu muối được sử dụng để lưu giữ thức ăn, thanh luyện và tăng thêm mùi vị, thì những người môn đệ Ðức Kitô cũng làm cho người khác luôn có những diệu cảm mới về cuộc sống, về những vấn để họ gặp phải, để rồi nhờ chất muối này, họ lại hăng hái tiến lên, vượt qua những trở ngại.

Muối cho đời. Nhưng trước tiên là cho chính mình. Với tinh thần, với đà lực này, mỗi sáng sớm người Kitô hữu lại bắt đầu, lại ướp mặn cuộc đời của mình. Mỗi ngày, người ta đón nhận từ Thiên Chúa, từ người khác những nắm muối : muối của tình thương, tình bạn, của nụ cười, và cả những nắm muối của phẫn nộ, đấu tranh. Và từ đó, mỗi ngày, người ta lại trao tặng những nắm muối của khiêm tốn, của hiền hoà, xót thương. Nhận thêm những nắm muối và lại trao tặng những nắm muối khác, quá trình ấy làm cho cuộc đời thêm mùi vị, trở thành những món ăn mới.

Là Kitô hữu, có nghĩa là đi theo Ðức Giêsu những ngày vui tươi, cũng như những ngày cơ cực, là bước theo Người vào những chân trời rộng lớn của con người, ở đó người ta chờ đón bình minh của Thiên Chúa, đồng thời đem lại mùi vị của Thiên Chúa. Như thế, là Kitô hữu có nghĩa là tìm thấy nơi mình thứ muối luôn sẵn sàng đem lại mùi vị và sự phì nhiêu, phong phú cho cuộc sống (xin coi G.Bessière: Thiên Chúa mãi trẻ trung, trang 21).

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian

Dụ ngôn thứ hai có cùng ý nghĩa như dụ ngôn thứ nhất.

Không có ánh sáng thì không có màu sắc, không có vẻ đẹp, không có sự sống. Tại ÍT-RA-EN, ánh sáng tượng trưng cho mặc khải thiên sai, chiếu rọi vào bóng tối của lạc giáo. Trong thiên nhiên, nhờ có ánh sáng, nhờ có mặt trời mà vạn vật được sống, các tài nguyên được phát triển.

Theo Tin Mừng thánh Gio-an, Ðức Giêsu là Ánh Sáng trần gian (x.Ga 8,12). Câu nói của Ðức Giêsu làm người ta nhớ lại bài ca của ông già Si-mê-on khi ẵm Hài Nhi Giêsu trên tay mình (xLc 2,29-32). Chính Người đã đem ánh sáng thần linh đến trần gian soi rọi vào mọi nơi tối tăm, kể cả nơi sâu nhất là tâm hồn con người.

Ánh sáng cho trần gian. Người Kitô hữu được mời gọi để đem lại hứng khởi cho nhân loại, đủ sức để xuyên thủng những nghi ngờ, những băn khoăn vẫn thường xảy ra trong cuộc hành trình.

Ánh sáng cho trần gian. Một trách nhiệm đầy vinh dự nhưng cũng là một nỗ lực vươn lên không ngừng. Người Kitô hữu không phải là ánh sáng thực, nhưng chỉ là phản ảnh (mặt trăng so với mặt trời). Ánh sáng ấy họ nhận được từ Ðức Giêsu : càng gạt bỏ được những vật cản để đón lấy ánh sáng thực, thì ánh sáng của người Kitô hữu càng thêm rực rỡ ...

Ánh sáng cho trần gian. Không phải là bất cứ loại ánh sáng nào, nhưng là ánh sáng là tinh thần Tin Mừng. Người môn đệ Ðức Kitô là người thấm nhuần ánh sáng của Thiên Chúa : giữa cuộc đời tăm tối và đầy những hiểm nguy, họ luôn dùng tinh thần Tin Mừng để soi chiếu, để giải đáp những vấn đề của mình cũng như của người khác.

Ánh sáng cho trần gian. Cũng như ý nghĩa về muối, người môn đệ Ðức Kitô không phải là người tách biệt khỏi cuộc đời. Họ cùng đồng hành với con người trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Chính trong bối cảnh cùng chia sẻ thân phận con người, họ trở thành muối, thành ánh sáng, hay nói đúng hơn, họ đem lại muối và ánh sáng của Thiên

Như thành xây trên núi

Muối và ánh sáng không thể chỉ dùng để tàng trữ trong một nơi nào đó, dù nơi đó có đẹp đẽ huy hoàng đến đâu. Nếu như thế thì cũng giống như trường hợp người đầy tớ đem chôn giấu nén bạc đã được chủ trao phó (Mt 25,30).

Người Kitô hữu luôn phải ý thức về sứ mạng được trao cho họ. Mỗi ngày, họ phải làm cho muối đời mình thêm tinh khiết, ánh sáng của mình thêm rực rỡ.

Ðức Giêsu đã cảnh giác : nếu muối nhạt đi, thì chỉ còn việc đem đổ ra ngoài cho người ta chà đạp ; nếu đốt đèn rồi đem để dưới đáy thùng, thì thật là điên rồ. Họ là những người được Thiên Chúa mời gọi cộng tác vào việc khai sinh ra một vũ trụ mới, một nhân loại mới, tức là một cuộc sống tràn đầy Thiên Chúa.

Như vậy, để giữ cho muối Tin Mừng luôn giữ được độ đậm, để giữ cho ánh sáng của Thiên Chúa luôn rạng ngời, những người môn đệ Ðức Kitô luôn phải trở về với cái hứng khởi Ðức Giêsu đã tạo nên, đồng thời trở về với tinh thần nguyên thuỷ do Ðức Giêsu đề xướng. Thiếu điều kiện này, mọi cuộc trở về sẽ không có nền tảng, và mau chóng bị sụp đổ.

Trách nhiệm này được trao phó cho người Kitô hữu, và sứ mạng này phải được chu toàn cách tốt đẹp, dù trong bất cứ tình huống nào. Họ là những nhân chứng của Ðức Kitô.

Như muối, họ đem lại hương vị cho cuộe đời. Như ánh sáng, họ chiếu soi. Như thành luỹ trên núi, mọi người có thể nhìn thấy từ xa.

Thế nhưng, hãy coi chừng. Người môn đệ không trèo lên đỉnh núi để cho mọi người nhìn thấy. Họ không cố gắng chiếu sáng để cho người khác tin rằng chính họ là ánh sáng. Họ chỉ đem lại hương vi cho cuộc đời nhờ sự sống do chính Thiên Chúa ban.

Do đó, mỗi người đều có trách nhiệm làm cho sự sống của Thiên Chúa đã được trao cho họ được phát triển thêm mãi. Vì vậy, mỗi người sẽ phải kiểm điểm lại xem mình có chấp nhận để cho Thiên Chúa ngự trị, có hoà hợp thái độ của mình với Tình Yêu đang hoạt động trong mình hay không.

Như thế, người Kitô hữu sẽ trở nên muối, nên ánh sáng với một ưu tư duy nhất là không để cho mình bị nhạt đi, không để cho mình bị mờ tối.

Cũng trong ý nghĩa cửa việc trở thành chứng nhân, những người môn đệ, qua các hoạt động của mình, làm cho người khác nhận ra tình thương của Chúa Cha, nhận ra vinh quang cao cả của Nguời.

Thật là một ơn gọi cao cả. Người Kitô hữu được đặt vào trong thế giới để trở thành một Tin Mừng sống động. Nếu vì lí do nào đó mà sứ điệp của họ mất đi sức mạnh riêng biệt của mình, thì họ đã phá hỏng căn tính Kitô hữu của mình. Khi ấy, họ trở thành những người vô dụng, chẳng còn dùng vào việc gì nữa.


Trở nên muối
dù chỉ là một nắm nhỏ ;
trở nên ánh sáng
dù chỉ là một tia le lói,
nhưng mỗi ngày một hơn,
để đem lại cho cuộc đời tẻ nhạt
hương vị của Thiên Chúa.


Fr. Jude Siciliano, op (2002)

Ngón tay hướng về Thiên Chúa
Mt 5, 13-16

Thưa quý vị.

Nói thực tình, cuộc sống hàng ngày của người giáo dân bình thường đã quá tải, nặng nề, bởi biết bao nhiêu nhiệm vụ trên đôi vai nhỏ bé : Kinh tế gia đình, trách nhiệm xã hội, bổn phận tôn giáo, vv… Nhiều khi mệt mỏi muốn buông xuôi. Hôm nay nghe bài Tin mừng Chúa Nhật lại càng thêm ngán ngẩm : Anh sáng cho thế gian và muối mặn trái đất. Liệu tôi có đủ nghị lực để đứng vững trên đôi chân như dấu hiệu cho thế gian nhìn vào ? Liệu tôi có đủ khả năng để sống như một tín hữu gương mẫu, làm ánh sáng cho người ta kiếm tìm Thiên Chúa ? Cố gắng lắm tôi chỉ mới giữ cho mọi sự ở vào vị thế hợp lý, khỏi tan rã, nói chi đến phát triển và thăng tiến !

Từ vị trí nhỏ bé của tôi, nhìn ra thế giới rộng lớn thì quả là cơn ác mộng. Nó là một mớ hổ đốn những tranh chấp, chém giết, kỳ thị, âm mưu, áp bức, nghèo đói, bệnh tật… thôi thì đủ cả, không thiếu một vấn đề nào, và chẳng vấn đề nào có trời mới giải quyết ! Tôi phải dựa vào đâu để còn chút hy vọng được bình an, hạnh phúc ? Là người có đạo, câu trả lời tự nhiên là thánh đường, niềm tin và Thiên Chúa. Hôm nay đến nhà thờ để được nghe Chúa Giêsu dạy : “Các con là muối đất, là ánh sáng thế gian …” tự dưng tôi bừng tỉnh. Bấy lâu nay cứ ngỡ công việc to tát như thế là dành để cho Giáo hoàng, Giám mục, linh mục, tu sĩ, mẹ Teresa thành Calcutta, Đức Đại La Lat Ma của Tibet, vv… nghĩa là cho những nhân vật hoạt động xã hội nổi tiếng, có uy tín to lớn, đi khắp đó đây, công du năm châu bốn bể, ra nước ngoài phát biểu ở các hội nghị quốc tế, bắt tay ngoại giao, cử chỉ biểu tượng, vv… Còn vô danh tiểu tốt như tôi, làm được trò trống gì ? Nhiều lắm thì mò mẫm trong các hành lang tối tăm của các nhà xứ để tìm ra cảnh cửa nào có đề chữ “tư vấn gia đình” là vội vàng lọt vào !

Đó là tâm trạng của đa phần giáo dân nghe bài Tin mừng hôm nay. Vậy thì bài đọc này có mở con đường mới cho chúng ta không ? Bài đọc là một phần của bài giảng trên núi mà đoạn mở đầu là Tám Mối Phúc Thật chúng ta suy niệm tuần vừa qua (Tuần 4 TN). Chúa Giêsu tuyên bố nước trời hay triều đại Thiên Chúa đã thuộc về các Tông đồ (Nước trời là của họ 5,3). Hoa quả là họ có khả năng đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa, sống cuộc đời trung thành với lề luật. Cuộc sống đó mời gọi mọi người tập hợp thành dân mới, trong tương giao mới với Thiên Chúa. Dân Thiên Chúa mới này thay thế cho Israel bất trung. Dân tộc bày tỏ Thiên Chúa như vậy gọi là ánh sáng thế gian !

Vậy thì đây là một thách đố cho hết mọi tín hữu. Chúng ta được kêu gọi đi ra với thế giới, soi sáng thế gian. Chúng ta đã được Chúa chọn để mang sứ điệp của Ngài cho mọi người. Chúng ta rao giảng sứ điệp đó bằng lời nói, nhưng như cuối đoạn văn ám chỉ, chúng ta sẽ thi hành những điều mình rao giảng bằng các việc tốt lành. Những việc đó là muối đất ướp mặn thế giới. Thiên hạ cứ đấy mà bị lôi đến cùng nguồn gốc mọi sự lành, tức Thiên Chúa của chúng ta. Môn đệ Chúa Giêsu như thế, đích thực là ánh sáng và muối đất cho trần gian. Hay nói cách khác họ là ngón tay hướng về Thiên Chúa. Cuộc sống của họ trước mặt dân ngoại là như hải đăng trong đêm tối cho người tìm về Thượng đế.

Có những kẻ xấu miệng sẽ bình phẩm : “Coi đó, muối đất mà như vậy ư ?” Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, muối vẫn là phẩm vật tốt, rất tốt, để làm cho đồ ăn, thức uống thêm hương vị ngọt ngào. Không có muối, mọi sự đều nhạt nhẽo. Ngay cả những người kiêng ăn, vẫn cần chút muối, dù ít đến đâu. Như thế, muối chỉ là yếu tố rất nhỏ trong bữa ăn nhưng lại tối quan trọng. Đó là hình ảnh thích hợp để mô tả người tín hữu trong môi tường đời thường. Chúng ta cảm thấy mình bé nhỏ, chẳng có ý nghĩa gì, nhưng trong ý định của Thiên Chúa, chúng ta giữ một vai trò hệ trọng. Chẳng phải giáo hoàng, linh mục, giám mục mới là đáng kể. Mọi tín hữu, bất cứ ai, cũng là hạt muối trong bữa tiệc trần gian. Chúng ta, có lẽ, chẳng ảnh hưởng gì đế cục diện thế giới, chẳng thay đổi được gì nhiều, nhưng giữa gia đình, làng xóm, sở làm, môi trường sinh hoạt, chúng ta là hạt muối, cần thiết cho hương vị ngọt ngào của những nơi chốn đó.

Xin hãy lưu ý đến bài đọc thứ hai hôm nay. Thánh Phaolô đã mô tả mình thế nào trước giáo dân thành Corintô ? Tôi có cảm tưởng còn bết bát hơn hạt muối : “Khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy”. Ngài đã chẳng cảm thấy như chúng ta hay sao ? bé nhỏ và yếu đuối. Trong công cuộc truyền giáo ngài rất nổi tiếng vì mạnh dạn, nhưng trong sinh hoạt đời thường lại yếu đuối và đầy sợ hãi. Điều đó chứng tỏ ngài đã hoạt động trong quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ngài làm muối đất không phải do sức riêng của ngài mà là do sức mạnh của Thiên Chúa. Vậy thì chúng ta được chọn làm muối đất, ánh sáng thế gian, chúng ta sẽ được Chúa hướng dẫn để chu toàn nhiệm vụ và ban ơn để chúng ta thành công. Thiên Chúa mới là Đấng hoạt động trong chúng ta. Ngài dùng chúng ta như một khí cụ mang ơn cứu độ cho tha nhân.

Kinh nghiệm cho hay, những tín hữu nhiệt thành là muối đất thì thường cũng là những kẻ hay gây “mặn” cho hàng xóm láng giềng chung quanh. Họ khiêu khích những lời bình phẩm, tranh luận và ngay cả đối đầu. Mỗi người đều đã có sẵn các thói quen, tập quán, não trạng, tư duy, thấm nhiễm từ thuở còn thơ, ngay cả các thói xấu, tham, sân, si đã thành cố định. Các “muối đất” có mặt với những tư tưởng mới, thấm đượm màu sắc Chúa Kitô là lập tức gây ra những căng thẳng, xung đột. Đức Giêsu đã từng kinh nghiệm như vậy. Và sự xung đột của Ngài đã dẫn đến cái chết đau thương, nhục nhã trên thập tự.

Thời nay cũng vậy thôi. Người ta kể truyện rằng có một con rắn muốn qua sông. Nhìn ngang nhìn dọc chẳng thấy thuyền bè nào cả. Rắn ta lại chẳng biết bơi, chỉ có mấy cành củi khô trôi giữa dòng với mấy cụm bèo hồng, làm sao mà qua ? Đúng lúc ấy, một con rùa trồi lên gần con rắn. Rắn dỗ ngọt : “Có phải chị rùa đó không ? Cho tôi qua sông với. Tôi có việc cần phải sang gấp”. Rùa giãy nẩy từ chối : “Thôi, chịu thôi. Họ nhà anh hay cắn cổ gà, giữa dòng anh cắn tôi thì sao ?” Rắn cam đoan : “Tôi thề với chị, chúng ta là bạn, làm sao tôi có thể như thế được ? Chị làm ơn làm phước, phúc đức đỡ cho con cháu !”

Sau một hồi năn nỉ, rùa bằng lòng cõng rắn qua sông. Tới giữa dòng rắn ngứa miệng táp vào cổ rùa một miếng. Trước khi cả hai chìm, rùa than thở : “Tôi đã nói với anh rồi, anh làm thế này thì cả hai cùng chết”. Rắn hối hận : “Nhưng biết làm thế nào ? Tổ tiên nhà tôi đều như vậy cả”. Nói xong cả hai rơi xuống đáy sông. Thiên hạ như thế cả, mỗi người có thói quen khó bỏ, mỗi người có cái thước riêng của mình để đo giá trị sự vật. Họ có danh sách những ưu tiên và mục tiêu cho cuộc sống của mình, không thể thay đổi được. Những “muối đất” sẽ làm cho họ cay đắng. Nhưng muối thì chẳng thể không ướp mặn ? dầu rằng bé nhỏ và không thốt một lời. Nguyên sự hiện diện của họ đã gây nên căng thẳng và xung đột.

Hai ngàn năm lịch sử của Giáo hội đã minh chứng sự thật đó. Nhưng chúng ta cũng chẳng thể sống tách rời, đóng kín. Chúng ta phải đi ra thế giới như những cá nhân, như những cộng đồng. Hội thánh không phải chỉ ở trong ngôi nhà thờ này. Hội thánh hiện diện khắp nơi, làm muối và ánh sáng. Khi gặp bất công, áp bức, chúng ta chẳng thể im hơi lặng tiếng nhưng phải làm muối. Muối gieo rắc thương cảm, tình yêu, công bình, bác ái, kiên nhẫn, hiền hòa mọi nơi, mọi lúc. Muối ướp mặn và bảo quản. Vì danh Chúa người tín hữu tốt phải ướp mặn và bảo quản thế giới này cho Ngài.

Tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay chỉ dạy phải làm thế nào để trở nên muối và ánh sáng thế gian. Đó là liên hệ với tha nhân. Hy sinh hãm mình, từ bỏ, tự nó không có ích lợi gì. Giá trị của nó là ở chỗ liên kết với người khác. Chia cơm, xẻ áo, từ chối mình vì nhu cầu của tha nhân mới là trung tâm của đạo giáo. Thực sự đạo đức không chỉ liên quan đến lễ nghi nghiêm trang, đúng quy tắc, cầu nguyện sốt sắng, lâu giờ mà còn đáp ứng nhu cầu của những kẻ thiếu thốn, nghèo khó.

Ngôn từ của bài đọc giống như các giới răn : “Ngươi hãy chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi cư trú, những ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục. Bấy giờ chúng ta sẽ được Chúa lắng nghe, nhậm lời và đáp ứng. Tự thân chúng ta chẳng thể là nguồn mạch sự lành và cũng không thể ép buộc Thiên Chúa ban phát sự lành cho thế gian, nhưng cách sống “muối” và “ánh sáng” chắc chắn sẽ lôi cuốn tha nhân trở về bản tính chân thật của mình, từ đấy họ nhận ra Thiên Chúa của Bát phúc, bóng tối ích kỷ sẽ bị đẩy lui, phá tan, nhường chỗ cho tương lai huy hoàng của ân sủng Chúa. Amen.


Fr. Jude Siciliano, op (2005)

Căn cước kitô hữu : Muối và Ánh Sáng
(Mt 5,13-16)

Thưa quý vị.

Thời gian bay đi nhanh chóng quá. Mới đó mà sắp đến lễ tro rồi ? Chúng ta vừa tháo gỡ các trang hoàng giáng sinh, cây Noel, hang đá, đèn sao lấp lánh ! Vậy mà đã phải thay thế bằng màu tím ảm đạm, hát những bản thánh ca lâm li thống thiết. Mùa Chay đã bắt đầu. Lại phải nghĩ đến hãm mình, gạt sang bên các vui chơi giải trí, từ bỏ các thói quen yêu thích : dã ngoại, cà phê, bóng đá, xem phim … Dầu sao thì toàn thể nước Mỹ ngày nay đang hô hào “ăn kiêng” vì lý do sức khoẻ, chẳng lẽ bớt vài ly rượu, vài miếng Sôcôla không hợp “thời trang” lắm sao ?

Người Công giáo chúng ta hãm mình để tăng cường lòng khao khát Thiên Chúa, đồng thời có khả năng nuôi dưỡng những người thiếu thốn trên thế giới. Con số này theo thống kê của Liên hiệp quốc lên đến vài tỉ người. Đó chưa phải là lý do chính đáng lắm sao ? Ngoài ra chúng ta còn nhiều hình thức khổ chế khác nữa. Như dậy sớm đi tham dự thánh lễ mỗi ngày, thăm viếng bệnh nhân, các người đơn côi, tứ cố vô thân, siêng năng cầu nguyện, chăm chú nghe lời Chúa và các công việc bác ái xã hội. Như vậy mùa Chay mang rất nhiều ý nghĩa đối với các linh hồn đạo đức.

Nhưng các bài đọc kinh thánh hôm nay còn vạch ra cho tín hữu những đường lối thực tiễn hơn nữa để canh tân cuộc sống trong mùa Chay này. Trước hết là tiên tri Isaia. Ông hô hào chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người không nơi cư trú, những ai mình trần thì cho áo che thân. Từng bước, từng bước vị ngôn sứ đưa ra những chương trình cải tạo bản thân, cải tạo xã hội, ngõ hầu ánh sáng sẽ bừng lên trong cuộc đời người tín hữu : “Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông và vết thương ngươi sẽ mau lành.”

Tôi viết những dòng suy gẫm này chỉ vài giờ sau khi nghe tin chẳng lành về số phận người nghèo trên đất Hoa Kỳ: Chính quyền bang Tennessee cắt bớt trợ cấp an sinh xã hội. Tiếp theo là tiểu bang California, bất chấp những tiếng phàn nàn của giai cấp khố rách áo ôm. Nhưng hai tiểu bang đó không phải là duy nhất gây thiệt thòi cho các người nghèo khổ, nhiều tiểu bang khác cũng đang dự tính những chương trình tương tự. Tại sao vậy ? Có phải vì kinh tế nước Mỹ đang trên đà thoái hoá theo khuynh hướng chung của thế giới ? Thoạt nghe thì xem ra hợp lý. Nhưng thử hỏi nguyên nhân nào gây ra tình trạng hiện thời ? Chiến tranh, ích kỷ, phá hoại thiên nhiên, tiến bộ khoa học ?

Kết quả thì vẫn những người thiếu ăn chịu thiệt thòi trước nhất. Cho nên mùa Chay này chúng ta còn vài việc khác phải làm. Đó là gióng tiếng mạnh mẽ hơn nhân danh công lý và hoà bình, nhân danh những người không có tiếng nói, để bênh vực lợi ích của họ trước những quyền bính áp bức, bất công. Viết thơ hay gọi điện thoại đến các người làm luật bày tỏ ý kiến của tầng lớp nghèo khổ. Như vậy là chúng ta tuân theo lời khuyên bảo của ngôn sứ Isaia trong hoàn cảnh hiện thời : “Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở gông cùm, cử chỉ đe doạ, lời nói hại người, nếu người nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”

Giống như các ngôn sứ khác, tiên tri Isaia công bố cùng toàn thể dân Do thái và bộ tộc Israel cũng giống như chúng ta ngày nay đang trong thời kỳ khó khăn về kinh tế, chính trị. Họ vừa trở về từ kiếp sống lưu đày Babylon, cố gắng tổ chức một nhà nước thần quyền bền vững và phồn vinh. Việc này không dễ, đòi hỏi nhiều hy sinh và khổ chế, để tìm kiếm sự ủng hộ của Đức Chúa Trời.

Mấy câu trước bài đọc hôm nay Thiên Chúa phán qua miệng tiên tri Isaia : “Ngày lại ngày chúng tìm kiếm Ta, chúng ao ước biết đường lối của Ta… Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao : Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm ? Chẳng phải chia cơm cho người đói… ?” (58, 2-7). Đó là việc chay tịnh lôi kéo được lòng thương xót của Thiên Chúa. Mấy câu tiếp theo thuộc bài đọc hôm nay. Chúng đủ ngắn để mọi người có thể viết lên cửa nhà, lên tường, bất cứ nơi đâu thuận tiện để nhắc nhở mình. Nhờ đó đem ra thực hành trong mùa Chay này và suốt cuộc đời tín hữu. Những ai làm được sẽ trở nên ánh sáng chiếu toả trong bóng tối và tối tăm sẽ trở nên như chính ngọ.

Hình ảnh của vị tiên tri khiến chúng ta liên tưởng ngay tới các việc lành mà thánh Matthêu đề cập đến trong Phúc âm hôm nay : “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành phố xây dựng trên núi không tài nào che giấu được.” Xin nhớ ở chương 25, thánh nhân cho biết ngày thẩm phán nhân loại sẽ được xét xử tuỳ vào việc thiện mình làm cho những kẻ đói khát, trần truồng, đau yếu, khách lạ hay tù đày chứ không phải theo tiêu chuẩn khổ chế ăn chay đánh tội. Bởi lẽ bác ái sẽ tồn tại mãi mãi. Mọi chuyện khác phải phục vụ lòng mến và sẽ nhanh chóng qua đi. Như vậy Phúc âm giúp chúng ta thoát khỏi ích kỷ và sai lầm.

Dĩ nhiên cộng đoàn nào cũng có những vấn đề nội bộ và đối ngoại cám dỗ các thành viên thu hẹp sinh hoạt để đối phó với các khó khăn. Nhưng xin biết rằng Phúc âm dạy chúng ta các việc tốt lành không phải để làm đẹp lòng Thiên Chúa hay để chiếm địa vị trong Giáo hội mà để biểu lộ Thiên Chúa đang hành động qua chúng ta, trong con người chúng ta. Chúng ta phản ánh sự tốt lành của Ngài. Chúng ta mang ánh sáng của Chúa đến với người khác. Thiên hạ sẽ nhìn thấy sự thật nhờ ánh sáng này và như Chúa Giêsu nói : “Họ sẽ ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16). Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành trong chúng ta. Lúc nào thế giới cũng đầy dẫy bóng tối và xáo trộn, nhất là ở trong những thời kỳ khó về kinh tế, chính trị. Những người chịu đựng hậu quả nhiều nhất là tầng lớp nghèo khó, thấp cổ bé miệng, di cư, ngoài lề. Hội thánh sơ khai cũng mỏng dòn như dân Do thái thời tiên tri Isaia trở về từ kiếp lưu đày Babylon.

Tuy nhiên, thánh Matthêu khi viết cho giáo đoàn của mình đã không khuyên họ co cụm, nhưng thúc đẩy chiếu giãi ánh sáng mà họ đã tiếp nhận từ Chúa phục sinh bằng các hành động tốt. Như ở trên chúng ta lui lại vài câu để nhận ra sự điệp của tiên tri Isaia, thì đối với Tin Mừng cũng vậy, chúng tra trở lên vài hàng thì thấy Chúa Giêsu đang nói với những người bị bách hại vì Ngài và vì lẽ công chính (cc 11-12). Nghĩa là những người sống ngày lành sẽ là kẻ sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của xã hội bất công.

Nhờ ơn chúa soi sáng và cũng như các Tông đồ khi xưa chúng ta trông thấy những điều mà thiên hạ chẳng hề nhận ra, chúng ta dấn thân vào những nơi mà kẻ khác không dám tới , chúng ta tố cáo khi người ta im lặng, chúng ta kiên trì trong những vấn đề mà thiên hạ thối lui, đúng như câu ngạn ngữ của người Mỹ: “When the going gets tough, the tough get going.” (Khi tình thế trở nên khó khăn, thì kẻ can đảm cứ tiến bước). Dĩ nhiên không nhờ sức riêng mình mà nhờ quyền năng của Thiên Chúa.

Do bởi tính can đảm và kiên vững như thế cho nên thiên hạ sẽ để ý đến chúng ta như muối trong của ăn, như ánh sáng trong bóng tối. Nhờ đời sống thánh thiện của Ngài cư ngụ trong mỗi tín hữu, cho nên chúng ta đã là ánh sáng cho trần gian và muối men cho nhân loại, không phải tập luyện để trở thành những thứ đó nữa. Chúng ta không thể phủ nhận hoặc che giấu ánh sáng đó được. Nó đã lộ rõ nơi Chúa Giêsu, thì cũng phải tỏ tường nơi mỗi người chúng ta.

Khi việc thi hành bổn phận tín hữu trở nên khó khăn, khi phải đối diện với những lời phê bình về hành động bác ái, khi phải bênh vực người nghèo khó, khi tranh đấu cho lẽ phải, chúng ta nhớ rằng đừng cố gắng trở nên vai trò nào đó mà mình không có danh hiệu. Trái lại phải hành động cậy nhờ vào nội lực mà Thiên Chúa ban khi lãnh phép rửa tội. Chính giờ đây chúng ta phải là ánh sáng và muối đất. Chúng ta hành động trên căn bản đó. Những kẻ lưu đày trở về từ kiếp sống lầm than. Các tín hữu tiên khởi chịu đựng tán công vì đức tin của mình và chúng ta ngày nay đang phải vật lộn để sống đời ơn thánh chẳng bao giờ được gọi là việc dễ. Vì thế chúng ta tụ họp nhau trước Thánh thể, cùng với các anh chị em đồng đạo khác, xin ơn sức mạnh để trở nên tốt lành, thánh thiện hơn, trở nên những công dân xứng đáng hơn của thế giới này.

Hiện nay thế gian đầy dẫy đêm tối, cần đến ánh sáng của chúng ta. Dù rằng chúng ta cảm thấy mình chỉ là cái bóng đèn 40 Watts. Nhưng nếu chúng ta không tới thánh đường mà khườn khĩnh ở nhà, thì ánh sáng của chúng ta sẽ lu mờ hơn. Ở buổi phụng vụ này chúng ta có cơ hội hồi tâm lắng nghe lời Chúa Giêsu. Ngài sẽ dạy bảo căn cước thật của mình là thế nào : Muối và ánh sáng cho trần gian. Ngài sẽ giúp đỡ chúng ta sống thực với ơn gọi đó. Tôi sẽ cố gắng dùng vài hình ảnh cụ thể để làm nổi bật vai trò của người tín hữu trong thế giới hôm nay. Đại khái nó như thế này : Đối với các tín hữu, mọi sự vẫn chưa hoàn toàn tốt đẹp đâu và sự đáp trả lời mời gọi của Chúa Giêsu sẽ khởi sự từ bối cảnh trực tiếp chung quanh chúng ta. Chúng ta sẽ phải dùng đến lọ rắc muối và công tắc mở điện.

Chúng ta sẽ rắc mạnh lòng kiên nhẫn ở nơi đâu có sự han rỉ và nhu cầu của hàng xóm bị bỏ quên.

Chúng ta sẽ gieo vãi ngọt ngào vào nơi nghen ghét, hận thù. Ướp mặn cuộc đời mình với lòng nhiệt thành vui thích việc nhà Chúa. Gieo rắc vui tươi vào những hoàn cảnh căng thẳng và u ám. Ướp mặn lời công bình khi xem thấy áp bức, bất công. Bật ngọn đèn giáo huấn khi gặp ngu dốt và tối tăm. Gieo rắc đùa vui với những trẻ nít ngây thơ. Chiếu sáng hy vọng vào các bạn bè đang nhát đảm. Đốt cháy ngọn nến yêu đời bằng những cuộc thăm viếng các kẻ neo đơn. Soi rọi ánh sáng bình đẳng nơi đâu có thành kiến tai hại.

Chắc hẳn quý vị đã hiểu được ý của tôi. Có lẽ nó giúp trí tưởng tượng của quý vị bay bổng. Xin thiết lập danh sách riêng của mình cho phù hợp với hoàn cảnh. Viết đến đây, tôi nhớ đến một ví dụ khác mà không nhớ rõ đã đọc được ở đâu. Chuyện là ở thành phố Florence, Ý-đại-lợi, vài thế kỷ trước, các kỹ sư đã sáng chế ra một phương pháp để xác định độ di chuyển của các nhà thờ chính toà trên nền móng của chúng. Họ đặt một tấm bảng đồng chính xác vào một điểm trên nền. Mỗi 21 tháng sáu hàng năm, một tia sáng chiếu qua cửa sổ nào đó của nhà thờ. Nó đậu đúng vào tấm bảng. Nếu nhà thờ di chuyển, ánh sáng sẽ trệch đi và người ta biết được sự cố (ngày 21/6 là ngày hạ chí theo dương lịch). Đối với chúng ta cũng vậy, chúng ta phản ánh Chúa Kitô, nhưng không phải chỉ một ngày trong năm hoặc một tình huống đặc biệt nào đó. Nhưng tất cả mọi ngày, mọi hoàn cảnh cuộc đời. “Các con là ánh sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu mọi người trong nhà”.

Thánh Phaolô trong bài đọc 2 cho chúng ta biết rõ hơn về nguồn gốc muối men và ánh sáng khi ngài viết cho tín hữu thành Corintô “Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa” Ngài cố ý tránh sự khôn ngoan của loài người, kẻo đức tin của chúng ta dựa trên những điều phù phiếm. Ngài nhấn mạnh giáo lý của Ngài là mầu nhiệm đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Đối với người Do thái là một sỉ nhục cay đắng và đối với dân Hy lạp là sự điên rồ. Nhưng thực tế là quyền năng và thượng trí của Đức Chúa Trời. Thánh nhân luôn quy chiếu về nội dung căn bản này mà rao giảng ơn cứu rỗi cho nhân loại.

Do đó ánh sáng và muối men của chúng ta không thể đi ra ngoài cây thập giá. Trong cuộc sống cá nhân cũng như cộng đoàn, nó là sự hy sinh hãm mình, dõi theo con đường hẹp của Chúa mà đi. Chúng ta không thể khoa trương công trình, thành tích mà có thể đưa dẫn thiên hạ đến ơn cứu độ. Xin nghe tiếp lời thánh Phaolô : “Vì thế khi đến với anh em tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy.” Sự thiếu xót bề ngoài này chẳng những không làm thiệt hại lời rao giảng của thánh nhân. Ngược lại nó nhường chỗ cho hoạt động tự do của Chúa Thánh Thần. Như vậy đức tin không lệ thuộc vào sự khôn ngoan loài người và ơn trở lại cũng chẳng phải là hoa quả của tài hùng biện. Tất cả đều do sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Do đó ánh sáng mà chúng ta phải chiếu giãi, muối men mà chúng ta phải ướp mặn thế gian đến từ cây thập tự Chúa Giêsu và tác động của Chúa Thánh Linh. Ước chi các tín hữu ý thức được như vậy, để có thể sống đạo một cách chính trực hơn trong mùa Chay sắp tới. Amen.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp)

CHÚNG TA SẼ LÀ ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC KITÔ 
TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐEN TỐI

Mt 5: 13-16

Trong những năm gần đây, người ta đã chứng minh muối có những nguy hại. Nó liên quan đến cao huyết áp, một mối nguy đe dọa tính mạng của con người. Các bác sĩ khuyến cáo những người bị chứng cao huyết áp hạn chế việc nạp muối vào cơ thể. Với việc tiêu thụ ngày càng tăng về thức ăn nhanh và thực phẩm chế biến sẵn, các chuyên gia về dinh dưỡng cảnh báo tất cả chúng ta rằng chúng ta đã sử dụng quá nhiều muối, và nhắc nhở chúng ta nên hạn chế bớt – nhất là những ai lớn tuổi. Vì thế, đối với thế giới hiện đại của chúng ta, quả thật đó chẳng phải là một lời khích lệ hay khen ngợi khi Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Người làm “muối cho đời”.

Chẳng có ai chỉ ăn muối không. Ngay cả hôm nay, với những cảnh báo mà chúng ta nghe thấy, hầu như mọi người đều chỉ thích một chút muối trong thức ăn của họ. Tôi có lần nói chuyện với một người bạn của tôi làm y tá bị chứng cao huyết áp. Cô ấy nháy mắt tinh nghịch với tôi và nói rằng: “Tôi không được phép ăn muối nhưng tôi vẫn bỏ một chút muối vào thức ăn của tôi. Nó làm tăng hương vị của thức ăn”.

Nhưng các Tông đồ ngày xưa đâu có lo lắng vì ăn quá nhiều khoai tây chiên hay những bữa tối đông lạnh. Kinh nghiệm của họ về muối hoàn toàn khác với những quan niệm của chúng ta. Muối là một thứ xa hoa và dùng để bảo quản thức ăn. Nó còn là biểu tượng của tình bằng hữu và cộng đoàn, và vì thế người ta chia sẻ muối trong những buổi tiệc để bày tỏ tình bằng hữu dạt dào và tình cảm gia đình nồng thắm của họ.

Trong Kinh thánh Hippri, muối là biểu tượng của sự trường cửu và thanh sạch. Muối biểu trưng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, mà sách Dân số (18:19) đã mô tả như là một “kết ước không thể xâm phạm muôn đời tồn tại trước nhan Đức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi”. “Giao ước vĩnh cửu” đó được mô tả là “một giao ước được lập bằng muối” (2Sb 13,5). Vì thế, khi Chúa Giêsu mời gọi các tông đồ “làm muối cho đời” đó là danh hiệu đã âm hưởng sâu sắc trong kinh nghiệm thường nhật cũng như trong di sản tôn giáo của họ. Người đã đề nghị họ trước hết làm bạn với Người và vào trong mối tương quan bền chặt với Thiên Chúa.

Các Kitô hữu tiên khởi lấy hình ảnh của muối và đã nối kết hình ảnh đó với phép rửa và giao ước của họ với Chúa. Chính nhờ giao ước này mà họ được bảo vệ và gìn giữ cho khỏi ác thần. Thế gian có thể làm hư hoại các Kitô hữu, nhưng phép rửa và Tin mừng sẽ bảo vệ và gìn giữ họ trong tương quan với Chúa Giêsu và với người khác. Họ giống như những tiền nhân Dothái, ở trong một “giao ước bằng muối”.

Mãi cho đến thời gian gần đây, muối vẫn được sử dụng trong nghi thức thánh thẩy. Nó được bỏ trên lưỡi của người lãnh nhận Bí tích Rửa tội. (Muối cũng được rắc vào nước để được chúc phúc.) Chúng ta cũng rảy nước thánh lên mình để nhắc nhớ lại Bí tích Thánh tẩy của chúng ta và tính chất chữa lành cũng như bảo cho đức tin của chúng ta. Nước thánh tẩy đó cũng tiếp tục bảo vệ chúng ta khỏi ác thần, vì Thiên Chúa chưa phá bỏ “giao ước lập với muối” mà chúng ta có được trong Đức Giêsu. Trong sự sống tuôn trào của Thánh Thần trong mỗi người được rửa tội, chúng ta có thể hoàn tất ơn gọi trở nên “muối cho trần gian”.

Kitô hữu chúng ta cũng đang ở trong “giao ước lập bằng muối” với những người khác. Chúng ta có thể không phải là người tốt nhất trong số những người bạn. Chúng ta có thể không mời những người khác đến nhà chúng ta trong những dịp đặc biệt, hay dùng bữa tối trong những ngày nghỉ. Tuy nhiên, chúng ta đã kết ước với anh chị em chúng ta trong Bí tích Rửa tội của chúng ta. Trong Đức Giêsu, chúng ta kết hiệp vĩnh hằng với Thiên Chúa, được tăng sức và nuôi dưỡng nhờ Thánh Thần. Chúng ta trong “giao ước bằng muối”.

Bài Tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta chúng ta được mời gọi vào trong sự phục vụ của Chúa Giêsu Kitô. Người không chỉ mời gọi chúng ta làm “muối cho trần gian” mà bảo chúng ta hãy là thứ muối cho trần gian. Đó là một trách nhiệm hết sức khó khăn mà Đức Giêsu tin tưởng trao cho chúng ta. Chúng ta sẽ trở nên nhân chứng chỉ đường cho người ta đến với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể thấy mình nhỏ bé và vô nghĩa như hạt muối, một thành phần nhỏ bé, nhưng như hạt muối chúng ta trộn lẫn chứ không tránh né cuộc sống trần gian. Như hạt muối, chúng ta không chỉ gây sự chú ý cho mình, nhưng người ta sẽ nhận ra hương vị mà chúng ta mang lại cho thế giới – đó là sự thinh lặng, nhưng lại là sự hiện diện hữu hiệu của Đức Kitô – Đấng mà chúng ta có với Người một giao ước vĩnh cửu bằng muối.

Nhưng đôi khi người môn đệ của Đức Giêsu dường như không chỉ là sự hiện diện lặng lẽ trong cuộc sống thường nhật. Một số hoàn cảnh đòi hỏi chúng ta phải tác động mạnh lên thế giới xung quanh. Hoặc, như phần thứ hai của bài Tin mừng hôm nay nhắc chúng ta, chúng ta là “ánh sáng cho thế gian”. Trong một sân vận động rộng lớn tối đen, một que diêm lóe lên trong sân có thể khiến mọi người dù ở mãi những hàng ghế sau, hay mãi phía trên nhìn thấy nó. Trong bóng tối, không ai bỏ qua ánh sáng. Chúng ta sẽ là ánh sáng của Đức Kitô trong một thế giới đen tối.

Đức Giêsu không nói điều gì mới mẻ cho tín hữu Dothái giáo. Ngôn sứ Isaia đã cho thấy một số ví dụ về việc làm thế nào tín hữu có thể trở nên ánh sáng cho trần gian. “Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ, thấy ai mình trần thì khoắc áo che thân,…” Sau này Đức Giêsu lấy lại sứ điệp đó trong dụ ngôn mà Người mô tả mình như kẻ thiếu thốn nhất, “Vì khi Ta đói, các ngươi đã cho ăn, khi ta khát,…”

Hôm nay, thánh Phaolô khuyên chúng ta rằng, nguyên chỉ sự khôn ngoan của con người sẽ không mang lại ánh sáng cho trần gian. Còn có nhiều ánh chớp và sự chói lào quyến rũ chúng ta từ nhiều phía, nhưng không thực sự soi sáng con đường mà ánh sáng Chúa Kitô đã được tỏ lộ qua cuộc đời và trên thập giá của người mang lại.

Dĩ nhiên, một thành xây trên núi không thể nào che giấu được. Chúng ta không cần Đức Giêsu nói cho chúng ta những điều hiển nhiên như thế. Nhưng đối với những người Dothái, hình ảnh thành xây trên núi đó khiến họ nhớ đến thành Giêrusalem – không chỉ là thành vật chất nhưng trong tất cả ý nghĩa của nó đối với người Dothái – là dấu chỉ sự công chính và hiện diện của Thiên Chúa giữa họ. Thành Giêrusalem lý tưởng sẽ là một nơi mọi thứ được làm đúng đắn theo như ánh sáng của Chúa. Đó là thành của dân Thiên Chúa.

Các ngôn sứ đã tiên báo rằng thành Giêrusalem lý tưởng và hoàn hảo này sẽ lôi cuốn mọi dân nước và Thiên Chúa sẽ dạy dỗ và bảo vệ họ. Ngôn sứ Mikha công bố:

“Dân dân sẽ đến và nói

Hãy đến đây, ta cùng lên núi ĐỨC CHÚA,…

để Người dạy ta biết lối của Người

và bước theo đường Người chỉ vẽ."

Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống,

từ Giê-ru-sa-lem, lời ĐỨC CHÚA phán truyền.” (Mk 4:2)

Giáo hội chúng ta được cho là một thành được đặt trên núi như thế. Chúng ta được mời gọi để trở nên một cộng đoàn lôi kéo dân của muôn nước đến với Đức Giêsu. Việc lành chúng ta làm trên đời sẽ hiển diện chúng ta – như một thành trên núi – cho tất cả mọi người được thấy.

Vâng, chúng ta được đặt trên núi nhưng những xì-căng-đan của những năm gần đây, trong tất cả mọi câp độ của giáo hội chúng ta, đã không lôi kéo nhưng khiến một số người rời bỏ chúng ta. Đặc tính là ánh sáng của chúng ta bị lu mờ; và như là muối, chúng ta cũng đã bị mất hương vị đối với nhiều người. Vì thế, như một đáp trả cho lời giảng dạy và mời gọi của Thầy Giêsu hôm nay, chúng ta cầu xin không chỉ cho chúng ta, nhưng cho toàn thể Giáo hội. Chúng ta cầu xin được tẩy rửa, canh tân nhhờ nguồn sáng mà chỉ Thánh Thần mới có thể ban tặng. “Lạy Thánh Thần ánh sáng, xin giúp chúng con trở nên những tôi trung trong thế gian, thành ánh sáng cho đêm tối và muối cho hương vị của đời với Tin mừng của Chúa Giêsu Kitô”. 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

HÃY TRỞ NÊN MUỐI CHO ĐỜI

VÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN

Is 58,7-10; Tv 112; 1Cr 2,1-5; Mt 5,13-16

Kính thưa quí vị,

Trong năm phụng vụ này, Tin Mừng theo thánh Mátthêu là trọng điểm. Chúng ta khởi đi bằng việc nghe các bài đọc vào mùa Vọng: Sự sinh hạ của Đức Kitô, Ba Vua, ông Gioan Tẩy Giả rao giảng, Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, kêu gọi những môn đệ tiên khởi, khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu về việc rao giảng và chữa lành bệnh tật ở Galilê. Nhằm đưa vào những lời lẽ mang tính trần thế, trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta phải “bắt tay vào việc cần làm” – khi chịu phép rửa là chúng ta đã đáp trả lời mời gọi.

Tuần vừa qua là lễ Dâng Con vào đền thờ. Nếu lễ này không thay thế Chúa nhật IV thường niên, thì chúng ta đã được nghe những bài đọc khai mạc của Bài giảng trên Núi – tức là các mối phúc. Bài đọc tuần này theo ngay sau các mối phúc. Thật là ngại ngùng khi chúng ta đã không được nghe những lời chúc phúc và những lời hứa khởi đầu Bài Giảng, vì những lời này cho đám đông biết rằng họ có thể nếm nghiệm những phần thưởng của cương vị người môn đệ ngay trong đời sống hiện tại. Mỗi mối phúc bắt đầu bằng cách nói: “Phúc thay...”, và bảo đảm cho các môn đệ Đức Giêsu về những phúc lành là thuộc về họ ngay bây giờ, và chờ đợi sự hoàn tất vào thời sau hết. Sứ điệp của Đức Giêsu, mà các môn đệ là người có phúc rồi, tiếp diễn trong bài đọc hôm nay. Một lần nữa, Người nói ở thì hiện tại: “Anh em là muối cho đời... Anh em là ánh sáng thế gian”.

Ngày nay, khi bước vào nhà thờ hay một cơ sở tôn giáo nào, chúng ta thấy khá phổ biến “Bản Báo Cáo Sứ vụ” của cộng đoàn được niêm yết đập vào mắt. Thường bản báo cáo như thế này là kết quả của cuộc đối thoại mang tính cầu nguyện do cộng đoàn mô tả về đặc tính và sứ vụ trong ánh sáng Tin Mừng.

Một trang Web chuyên đề (entrepeneur.com) đưa ra những hướng dẫn về việc soạn thảo bản báo cáo sứ vụ. Trang web cho biết rằng việc nối kết bản báo cáo sứ vụ với nhân viên còn quan trọng hơn là khách hàng. Tôi đoán đó là lý do tại sao tôi đọc quá nhiều bản báo cáo sứ vụ trên các bảng thông tin giáo xứ, và thật có giá trị cho những suy tư qua việc tham dự việc thờ phượng. Theo ngôn ngữ của mô hình kinh doanh, bản báo cáo sứ vụ có ý nghĩa cho “các nhân viên” hơn là “khách hàng”.

Tại một giáo xứ nọ, một số nhân viên văn phòng đã cho tôi biết cha xứ đã soạn thảo và phát hành bản báo cáo mà không cần tham khảo các thành viên, hội đồng giáo xứ hay giáo dân nào. Một phụ nữ nói rằng: “Vì chúng con không có dữ liệu gì cả, thì làm sao chúng con có thể nhận diện bản báo cáo và thực hành theo bản báo cáo sứ vụ đó? Bản báo cáo đó không phải của chúng con, nó là của cha xứ. Ngài không nên làm như thế!”

Bà ta có lý. Nhưng Đức Giêsu thì có quyền hạn đó. Bởi lẽ, bản báo cáo sứ vụ của Người dành cho chúng ta, những môn đệ của Người, hợp với đòi hỏi của bản báo cáo, tập trung và dễ dàng nhớ bản tóm tắt công việc của chúng ta. Ngay cả những người không đọc Kinh Thánh nhiều cũng có thể trích dẫn giáo huấn ngày hôm nay: “Anh em là muốn cho đời... Anh em là ánh sáng cho trần gian”.

Thế nên, hãy bỏ qua yếu tố ngôn ngữ, vì chúng ta, những Kitô hữu nên “bắt tay vào việc cần làm”. Chúng ta phải là chứng nhân cho thế gian. Đức Giêsu bắt đầu mô tả công việc cho các môn đệ bằng việc sử dụng hai hình ảnh. Chúng ta phải tác động thế giới bằng cách đưa muối và ánh sáng tác động vào môi trường. Muối làm gia vị cho thức ăn, và trong thế giới của Đức Giêsu, muối còn được dùng để bảo quản. Nó giữ cho thức ăn khỏi bị hư hoại. Ánh sáng xua tan hoặc đẩy lui bóng đêm. Ngay cả một que diêm cháy sáng cũng có thể được nhìn thấy ở khoảng cách xa trong đêm đen. Chẳng mất công nhiều để có được một sự ảnh hưởng tốt và bất ngờ khi thiếu ánh sáng.

Hình ảnh muối là một cảnh báo. “Nhưng muối mà nhạt đi... nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi”. Người Kitô hữu không đơn thuần có thể cùng tồn tại và sống hài hoà. Chúng ta phải thay đổi những gì cần thiết. Hãy nhớ câu nói rằng: “Nếu người Kitô hữu làm sự ác, thì chẳng phải người ta có bằng chứng để kết án chúng ta sao?” Vì thế, lời cảnh báo của Đức Giêsu rằng muối có thể mất tác dụng làm gia vị cho thức ăn và nó sẽ bị ném ra ngoài. Chúng ta được sai vào thế gian để thay đổi nó – chứ không chỉ để sống.

Đức Giêsu bảo các môn đệ rằng dù họ chỉ có ít người, nhưng họ là muối. Điều nguy hiểm cho Giáo Hội là, ở trong thế gian, những môn đệ như chúng ta có thể theo cách thế gian và đánh mất “vị mặn” cho những người quanh ta. Khi đó, Giáo Hội thành vô dụng.

Các môn đệ phải biết đưa ra sự thiện hảo cho thế gian bằng cách chu cấp những gì biết bảo vệ, dưỡng nuôi và tôn tạo cuộc sống, đồng thời chống lại những hạn chế hoặc những gì phá hủy cuộc sống. Biết bao lần các môn đệ không thể để cho những điều tiếp tục diễn ra như: sao lãng với người nghèo, phá hủy sự sống trong lòng mẹ, ngược đãi với người di dân, bạo hành với phụ nữ, quân đội mất kiểm soát... Đối với những vị thế này hay những vị thế khác của các hiện trạng nêu trên, “các môn đệ ướp mặn” phải là những tác nhân của sự thay đổi. Nếu tất cả chúng ta chẳng đem lại ơn ích nhiều cho thân phận con người, thì lúc đó Đức Giêsu có lý khi Người cho rằng, chúng ta là muối thiếu vị mặn và vô dụng đối với những mục đích của Người.

Khi nghe biết sứ vụ đầy thách đố mà Đức Giêsu trao phó, chúng ta có thể cảm nhận điều mà những môn đệ tiên khởi đã cảm nhận – tức là chúng ta không đủ tầm mức và tầm ảnh hưởng để tác động thế gian và chống lại các quyền lực “vận hành thế gian”. Xét về cá nhân chúng ta, điều đó đúng. Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta không dựa trên bản thân mình. Đức Giêsu bắt đầu bài giảng bằng lời nhắc nhớ về những phúc lành của Thiên Chúa ở đây và ngay bây giờ.

Những lời chúc lành đó làm cho chúng ta liên kết với Thiên Chúa, và liên kết với cộng đoàn những người tin. Vì Đức Giêsu, chúng ta được làm cho nên công chính với Thiên Chúa. Bây giờ, chúng ta được mời gọi để phản chiếu sự công chính đó trong các tương quan với tha nhân. Hoặc trong những hình ảnh Đức Giêsu đã sử dụng, chúng ta phải là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.

Trong Thánh Lễ này, qua Lời và Bí tích, chúng ta một lần nữa được Thiên Chúa tạo thành và canh tân. Chúng ta là người có phúc và những môn đệ của Đức Giêsu mà Thiên Chúa chúc phúc và Đức Giêsu sai đi. Cùng với ân sủng Thiên Chúa, chúng ta nỗ lực để sống lệnh truyền Tin Mừng mà Đức Giêsu đã thực hiện bằng sự sống, sự chết và sự phục sinh của Người.