Năm A

 
 

Chúa Nhật III Thường Niên - Năm A

Is 8,23b – 9,3; 1Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23
 

An Phong op : Ánh Sáng Cứu Ðộ

Như Hạ op : Khi Ánh sáng Bừng Lên

Fr Jude Siciliano, op. : Tôi biết tôi đang đi trong ánh sáng của Chúa

Fr Jude Siciliano. op : Ánh sáng đã xóa tan quyền lực tối tăm

G. Nguyễn Cao Luật op : Từ Miền Đất Xa Lạ

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Sám hối - Nước Trời

Giuse Vũ Hải Bằng op: Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần tới

Đỗ Lực op : Mặt Trời Công Chính

Fr Jude Siciliano, op : Hãy sống hòa thuận một lòng một ý

Fr. Jude Siciliano, op: Bạn làm gì khi Đức Giêsu bảo: "Hãy theo tôi"?

 


An Phong op

Ánh Sáng Cứu Ðộ
Mt 4,12-23

Chúng ta không chê bai trần gian là xấu; lại càng không dễ dãi tưởng rằng khi mình chê bai trần gian ô trọc, bẩn thỉu, gian tham... nghĩa là tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta cũng không bi quan trước những đổ vỡ, bế tắc của cuộc đời vì tin có Chúa Thánh Thần vẫn đang ở cùng Giáo hội, ở cùng con cái loài người.

Tuy nhiên, kinh nghiệm cũng cho chúng ta thấy, tuy trần gian thật đẹp, nhưng lại luôn có những giới hạn không thể vượt qua. Cuộc đời chúng ta, ta xoay sở mãi; nhưng không bao giờ trọn vẹn cả, và dần dần ta mới hiểu điều Khổng Tử đã nói "làm người khó thật"; xã hội con người, với biết bao cố gắng để thăng tiến, để công bằng hơn và hòa bình hơn, nhưng lại cứ mãi có chiến tranh và nghèo đói, bất công và bạo lực; gia đình của chúng ta, được kết hợp do tình yêu, được san sẻ với nhau bằng máu huyết, bằng tâm lực, bằng của cải... nhưng vẫn luôn có chút gì đó còn chưa đúng như ước vọng thật của mình... Trần gian đó, xã hội đó, gia đình đó... vẫn là một Da-bu-lon và Nép-ta-li; nơi đó, con người "đang lần bước giữa tối tăm..."

Ðó là sự thật mà ta không thể che giấu, không thể giả đò quên, và càng không thể buông xuôi, mặc kể cuộc đời.

Người kitô hữu chúng ta tin rằng Ðức Kitô đã và đang đến trần gian, đã và đang đến với con người; Ngài là nguồn ánh sáng chiếu soi mọi ngõ ngách thâm u của trần gian, mọi tối tăm u uẩn trong lòng con người; để cho chúng ta trở thành "Ðoàn dân đang sống giữa cảnh tối tăm mù mịt, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; những kẻ ngồi trong bóng tối tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi".

Với niềm tin vững vàng như thế và trong tâm tình "sám hối, vì triều đại Thiên Chúa đã đến gần", chúng ta có thể hân hoan hát lời thánh vịnh 26 : "Chúa là sự sáng và là Ðấng Cứu độ tôi" (đáp ca); và tung hô lời Hallêluia "Chúa Giêsu rao giảng Tin mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân".

Ðồng thời, niềm vui mừng và tin tưởng đó cũng phải thúc đẩy chúng ta mở rộng tâm hồn để lắng nghe Lời Chúa mời gọi, mở rộng đôi tay quảng đại để ơn gọi của Chúa biến chúng ta thành "những kẻ lưới người như lưới cá".

Lạy Chúa,
Xin cho con biết đón nhận cuộc sống,
trong lòng hân hoan, trong đôi tay tự tin.
Vì cha mẹ con chuyển giao cuộc sống cho con từ tình yêu;
dù tình yêu đó có thể là mong manh, dòn mỏng.

Xin Chúa giúp con,
đừng bao giờ đánh cắp cuộc sống của người khác
và đừng bao giờ khép kín trong một con tim
chỉ biết giữ lại cho mình.
(Michel Quoist)


Như Hạ op

KHI ÁNH SÁNG BỪNG LÊN.
Mt 4,12-23

Thế giới đang khát vọng hòa bình. Nhưng làm sao có hòa bình nếu lúc nào nhân loại cũng đầy ắp những đội quân khủng bố và vắng bóng những chiến sĩ hòa bình ? Hôm nay Đức Giêsu giới thiệu chiến sĩ hòa bình với những trang bị tinh thần cần thiết cho một nền hòa bình đích thực.

TIN MỪNG HÒA BÌNH.

 Tin Mừng hòa bình là sứ điệp duy nhất Thiên Chúa gởi đến nhân loại. Mở đầu sứ điệp đó, “Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng : ‘Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.’” (Mt 4:17) Người đến loan báo và thiết lập Nước “công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần,” (Rm 14:17) ngược hẳn với nước trần gian. Tất cả mọi người đều cần hồi tâm. Cần mở mắt nhìn “ánh sáng đã đến thế gian.” (Ga 3:19) là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống.

 “Ánh sáng thế gian” lần đầu tiên đã chiếu soi tận “Galilê, miền đất của dân ngoại !” (Mt 4:15) Ánh sáng đã vượt qua ranh giới Do thái, vượt trên mọi hạn chế Cựu Ước, chiếu soi “những dân đang ngồi trong cảnh tối tăm, nhưng kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần.” (Mt 4:16) Nhờ vậy, tất cả sẽ bừng tỉnh trước sức mạnh tình yêu Thiên Chúa. Chính nơi Đức Giêsu, mọi người sẽ thấy ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia : “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng” (Is 8:2) cho những người đặt tất cả niềm hi vọng nơi Nước Chúa.

Loan báo cho muôn dân biết Nước Chúa là tất cả sứ mạng cao cả của Đức Giêsu nơi trần gian. Việc loan báo đó không chỉ thông tin, nhưng còn kêu gọi mọi người hãy trở về với Thiên Chúa. Việc trở về không chỉ nhắm cải hóa cá nhân, nhưng giải thoát con người khỏi mọi hình thức đàn áp và nô lệ. Bởi thế, “Phúc âm hóa là loan báo và mạc khải sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa là ‘sự kiện có thật’ nơi chúng ta.” (The New Dictionary of Theology 1989:358) Quả thế, Đức Giêsu chính là ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi vào mọi thực tại trần gian, kể cả những vấn đề tinh thần, luân lý, công bình và toàn thể cuộc sống nhân loại. Như thế, rao giảng Tin Mừng không chỉ nhằm kết nạp thêm phần tử. Hơn nữa, Đức Giêsu còn muốn mời gọi mọi người trở thành môn đệ và sai họ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.

Chính vì thế khởi đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã tìm cách qui tụ các môn đệ giữa những người đang vật lộn với cuộc sống. Oâng Phêrô và Anrê “đang quăng chài xuống biển.” (Mt 4:18) Ông Giacôbê và Gioan “đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền.” (Mt 4:21) Họ không phải là những người đang quay cuồng với những mớ lý thuyết viển vông trong phòng kín. Đức Giêsu vận dụng từ cuộc sống thực tế để thúc đẩy con người dấn thân rao giảng Tin Mừng. “Người bảo các ông : ‘Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.’” (Mt 4:19) Các ông không ngạc nhiên vì lời mời gọi bất ngờ đó, vì “Người gọi các ông” (Mt 4:21) thi hành cùng một công tác, nhưng ở một lãnh vực và mức độ cao hơn nhiều. Đức Giêsu đã móc nối thực tại trần thế với Nước Trời một cách tài tình. Bởi thế, Người đã khiến các môn thực hiện một bước nhảy vọt rất êm thắm.

Bước nhảy vọt có thể thấy trong thái độ các ông “lập tức theo Người.” (Mt 4:20.22) Như ánh sáng vụt chiếu vào người đang mê ngủ, Đức Giêsu là ánh sáng trần gian đã chiếu vào tận cuộc đời lam lũ của các ông. Suốt ngày các ông tối tăm mặt mũi với những rổ cá. Không còn nghĩ gì xa hơn lòng thuyền ngổn ngang chài lưới. Thế nhưng Thiên Chúa đã đi vào tận những mảng sống tươi rói ấy. Đó là bước đi tuyệt vời nhất của Con Thiên Chúa khi “đem Tin Mừng vào tất cả mọi tầng lớp nhân loại, và dùng ảnh hưởng Tin Mừng biến đổi và canh tân tự bên trong nhân loại.” (Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, đoạn 18)

NHU CẦU THỜI ĐẠI.

Chính khi canh tân nhân loại như thế, Tin Mừng trở thành sức mạnh đem lại hòa bình. Bởi vậy, chỉ có Tin Mừng mới đáp ứng khát vọng thâm sâu và nhu cầu lớn lao nhất của nhân loại hôm nay. Tin Mừng không ngừng chiếu sáng niềm hi vọng giữa lúc niềm tin vào hòa bình đang bị xoi mòn vì mọi hình thức khủng bố. ĐGH Gioan Phaolô quả quyết : “Chắc chắn chống lại con người là chống lại Thiên Chúa. Không tôn giáo nào nhằm biện minh cho việc con người dùng vũ lực chống lại con người.” (Zenit 24/1/2002) Thứ Năm 25 tháng 01 năm 2002 vừa qua, cuộc tụ họp cầu nguyện liên tôn khác thường tại Assisi đã làm cho niềm tin vào nền hòa bình như sống lại. Quả thế, “ĐGH Gioan Phaolô II đã tiêm một lượng hi vọng mới vào thế giới.” (CWNews 25/01/2002) khi tuyên bố : “Xây dựng hòa bình trong trật tự, công lý và tự do ưu tiên đòi phải cầu nguyện. Đó là cách cởi mở, lắng nghe, đối thoại và sau cùng kết hiệp với Thiên Chúa, suối nguồn phát sinh nền hòa bình đích thực.” (Zenit 24/01/2002) Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể uốn nắn và nối kết lòng người. Bởi thế, hòa bình không phải chỉ là kết quả của những nỗ lực ngoại giao, chính trị, nhưng là một hồng ân Thiên Chúa. “Nếu hòa bình là hồng ân Thiên Chúa và bắt nguồn từ nơi Chúa, chúng ta sẽ tìm kiếm hòa bình ở đâu và làm cách nào có thể xây dựng hòa bình, nếu không đi vào tương quan sâu xa và thân mật với Thiên Chúa ?” (ĐGH Gioan Phaolô II, Zenit 24/01/2002)

Nhưng làm sao thiết lập tương quan vô cùng tốt đẹp và cần thiết đó, nếu trước tiên con người không “sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15) ? Tất cả nhân loại cần phải sám hối. Sám hối vì những hành vi bạo động, khủng bố. Sám hối vì đã không rao giảng Tin Mừng cho anh em. Sám hối vì đã không không lắng nghe tiếng mời gọi của Thiên Chúa. Sám hối vì đã quên thi hành sứ mạng hòa bình giữa những tương quan muôn mặt hôm nay. Sám hối vì đã không đem ánh sáng Tin Mừng hòa bình chiếu soi “những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần.” (Mt 4:16)

Tử thần đang gây chia rẽ và xúi giục con người chống lại con người. Bao lâu còn sống trong hận thù, con người vẫn không thể đón nhận Tin Mừng hòa bình. Bởi thế, thánh Phaolô khuyên : “Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau” (1 Cr 1:10) để tất cả nhân loại được “thấy một ánh sáng huy hoàng” (Is 9:1) từ Tin Mừng hòa bình. Nhưng làm sao nhân loại “được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” và “mừng vui trước nhan Chúa” (Is 9:1.2) nếu Kitô hữu không xác tín về sứ mệnh đã lãnh nhận từ khi chịu bí tích Thanh Tẩy: “Đức Kitô đã sai tôi đi rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 1:17) cho muôn dân ? Bao lâu chưa sống với chiều kích phổ quát đó của Tin Mừng, làm sao có thể trở thành ánh sáng muôn dân ? Họ vẫn là những người mù đang sống trong bóng tối của lòng mình. “Mù mà lại dắt mù được sao ? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố ” (Lc 6:39) tử thần ? Nhưng tình yêu mạnh hơn sự chết. Thiên Chúa không thể chiến bại trước sức mạnh tử thần.

Hi vọng đã vươn lên khi các đại diện tôn giáo thế giới nhất trí thề hứa sẽ nỗ lực xây dựng và cầu nguyện cho hòa bình nhân loại. Xây dựng hòa bình tận tâm hồn con người, nơi Thiên Chúa đang ngự trị. Chỉ có Tin Mừng mới có thể cống hiến giải pháp vững bền để kiến tạo một nền hòa bình đích thực cho nhân loại.


Fr. Jude Siciliano, op.

Tôi biết tôi đang đi trong ánh sáng của Chúa
Mt 4,12-23

Thưa quý vị.

Hôm nay tôi muốn đặt vấn đề với tiên tri Isaia. Quý vị có thể bảo rằng tôi giữ vai trò luật sư của quỷ sứ (trong các vụ phong thánh, có người luôn giữ vai trò phản đối, từ chuyên môn gọi là luật sư của quỷ sứ advocatus diaboli). Bởi lẽ tôi cảm thấy có khuynh hướng chống lại bài đọc một Chúa nhật này và những đoạn văn tương tự của Thánh Kinh. Tác giả mô tả một cách quá lạc quan rằng Thiên chúa sẽ can thiệp mang hòa bình ổn định cho thế giới như là "fait accompli" (việc đã rồi). Nhưng thức tế có được như vậy đâu. Chiến tranh, chém giết ngày một leo thang. Vui mừng và hoan hỉ sao nổi ? Ðó là kinh nghiệm của tôi, của bạn, của hầu hết mọi người trong thế giới hôm nay. Vậy thì giải thích thế nào lời của tiên tri trước thực tế buồn thảm trên cả hai lãnh vực cá nhân và toàn cầu ? Liệu chúng ta nên yên lòng và "có đức tin" ? Liệu chúng ta đã được chan chứa niềm hoan hỉ và tăng thêm nỗi vui mừng rồi huýt sáo băng qua các tha ma của cuộc đời ?

Theo lệ thường, trước khi đọc các tài liệu chú giải Thánh Kinh để nhờ giúp đỡ viết bài suy niệm, thì tôi đi đi lại lại suy tư và cầu nguyện. Tôi chuyện vãn ngay với các bản văn và xin ơn soi sáng để có thể nghe các tác giả nói gì với tôi qua thực tế hàng ngày. Tôi cũng đã làm như vậy với tiên tri Isaia mấy ngày hôm nay. Sau đây là kết quả : bản văn nói với tôi, bóng tối sẽ bị đẩy lui, thống khổ sẽ hết. Thưa vị tiên tri, chưa được như vậy đâu ! Sau ngày lễ Giáng Sinh tôi phải đợi gần hai tiếng đồng hồ ở sân bay NC để lấy vé máy bay đi New - York thăm gia đình. Người ta chen chúc nhau ở phòng kiểm soát, nhiều người đã lỡ chuyến bay. Cảnh sát an ninh súng ống đầy mình bắt mọi người tháo giầy để khám xét thuốc nổ. Họ hét người này, dọa người kia. Trước đây đâu có quang cảnh như vậy.

Thế thì "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng" là chưa hiện thực. Tình thế đang trở nên tối tăm hơn. Chưa hết, hai ngày sau tôi gặp một dì phước Ðaminh. Chúng tôi cùng nhau đi bộ vài dặm để đến Manhattan. Nhiều người cùng đi với chúng tôi, không phải như khách du lịch, nhưng là kẻ hành hương. Ðến mảnh đất Zerô, nơi hai tòa tháp đôi bị sụp đổ, quang cảnh trở nên thiêng liêng hơn. Các thợ dọn dẹp đang lao động : Người thì khiêng ra những thanh sắt cháy dở khổng lồ, người khác bụi trắng bám đầy mình như đang bị tuyết phủ, nhưng không phải, đó là tro - có kẻ xấu miệng đồn thổi rằng : Chúa phạt. Nước Mỹ quá tội lỗi và vô tín ngưỡng.

Tôi ngạc nhiên về những quan niệm như vậy. Tôi nhìn vào những tấm ảnh kỷ niệm của các nạn nhân dựng khắp nơi trên nền đất. Có thể nào những gương mặt vô tội thế kia lại bị Chúa phạt ? Nhưng Isaia nói với tôi : "Thời đầu, Chúa đã hạ nhục đất Zebulun và đất Naptali." Liệu câu đó có gồm cả 3 ngàn người đang nhễ nhại lao động, gia đình họ và đất nước chúng ta ? Liệu mỗi khi có thiên tai, địch họa là do Chúa trừng phạt ? Thế thì Chúa chúng ta là Ðấng nào ? Những ai sẵn lòng thờ phượng Thiên Chúa đó ? Có lẽ chỉ những người đầy lòng sợ hãi và cố gắng được lợi trên căn bản tích cực của các cơn thịnh nộ thần linh ?

Với những thắc mắc đó, tôi cố gắng tìm hiểu bối cảnh đàng sau bản văn này. Khi Isaia viết nó, thì đất hứa đã phân chia làm hai. Vương quốc Israel phía Bắc và vương quốc Giuđa phía Nam. Hai vương quốc kình địch nhau nên cả hai đều yếu. Vào thế kỷ thứ 8 trước công nguyên (732), giải đất Zebulun và Naptali bị quân Assyria phương Bắc đánh chiếm, rồi đến Israel. Isaia giải thích đó là kết quả của dân đã phạm tội. Họ bị Thiên Chúa trừng phạt. Nghiên cứu kỹ văn chương Thánh Kinh, tôi nhận ra thái độ như vậy thuộc về giai đoạn sơ khởi của dân Chúa. Họ chỉ mới bắt đầu hiểu biết Thiên Chúa. Trong quan niệm này bất cứ cái gì tốt, xấu đều là công việc đến trực tiếp từ Thiên Chúa hoặc như phần thưởng hoặc như hình phạt. Giầu có là phần thưởng, nghèo đói là hình phạt. Dần dần khi đức tin phát triển, thì cũng có tiến bộ về quan niệm thưởng phạt. Các tác giả Sách Thánh trở nên tế nhị hơn khi phân biệt hành động của Thiên Chúa và hậu quả tai hại của hành vi dại dột của chúng ta. Chính Chúa Giêsu cũng đã dạy dỗ như vậy về người mù từ lúc mới sinh ở Phúc âm thánh Gioan chương 9. Các môn đệ hỏi rằng : Ai đã phạm tội ? hắn hay cha mẹ hắn ? Chúa Giêsu trả lời : Việc hắn mù chẳng liên quan gì đến hành động phạm tội (9,3).

Tôi đi đến kết luận là phải giải thích bản văn Isaia hôm nay và các bản văn tương tự trong ánh sáng tình yêu rộng lớn của Ðức Chúa Trời mà Chúa Giêsu là hiện thân. Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay soi sáng ý nghĩa của quan điểm này. Việc Chúa Giêsu khởi sự rao giảng và chọn 12 Tông đồ cộng tác với Ngài, thực sự nói lên rằng Thiên Chúa đang đẩy lui bóng tối và nhân loại đang nhìn thấy ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng giải phóng và cứu độ. Thiên Chúa yêu thương đang tỏ mình ra dần dần trong những bản văn muộn thời hơn và trở nên rõ nét trong 4 Phúc âm.

Nhưng để được tình thương Chúa bao bọc, điều kiện tiên quyết là hối cải : "Anh em hãy sám hối" lý do là : "Vì nước trời đã đến gần." Khi vương quốc phương bắc thất thủ, vua Assyria là Teglath Phalassar III tức giận bắt dân Do thái đi đày sang Euphrata, không có ngày về. Isaia tiên báo ngày giải phóng với điều kiện nhân dân phải sám hối quay về với Thiên Chúa của tổ tiên. Ðiều đó đã xảy ra 70 năm sau, nhưng chỉ là hình bóng của cuộc giải phóng vĩ đại mà hôm nay Chúa Giêsu khởi sự. Tuy nhiên, Ngài không làm việc đó một mình, Ngài cần sự hợp lực. Một mình, ngài vẫn có thể thực hiện được công việc đó hoàn hảo, tốt đẹp. Nhưng Ngài mời gọi chúng ta cộng tác, cộng tác không chỉ trong sứ vụ rao giảng, mà còn sâu đậm hơn thế nhiều : Trở thành dân giao ước mới trong máu Ngài. Mười hai tông đồ là hạt nhân. Thánh Phaolô kêu là Thân Mình mầu nhiệm Chúa Kitô.

Bài Phúc âm hôm nay thuật lại việc Chúa kêu gọi các môn đệ đầu tiên. Hai cặp anh em, bốn người. Phêrô và Anrê đang thả lưới, Giacôbê và Gioan đang vá lưới với cha. Tất cả đều làm nghề đánh bắt cá, đơn sơ và lương thiện. Từ nghề chài lưới cá, họ sẽ đi rao giảng chài lưới thiên hạ. Ðó là ý nghĩa ơn gọi của họ. Thánh Luca rõ ràng hơn, đặt việc kêu gọi sau một mẻ lưới lạ lùng (Lc 5,11). Nhưng hai anh em ông Giacôbê và Gioan còn phải hy sinh nhiều hơn. Ngoài việc bỏ nghề, bỏ công ăn việc làm, còn phải bỏ lại cha già một mình vá lưới trên thuyền. Chúng ta có dám hy sinh như vậy không ? Ít là về mặt của cải, tiện nghi ! Theo đúng nghĩa, theo Chúa Giêsu là phải bỏ lại tất cả (Kh 14,4).

Chỉ lúc ấy mới có hy vọng được giải phóng. Bởi chỉ lúc ấy mới có lòng hối cải thực sự. Ở nguyên bản từ "giải phóng" dùng thì hiện tại, như thể việc đã xảy ra. Nhờ chi tiết nhỏ này, hai tư tưởng nẩy lên trong đầu óc tôi.

Thứ nhất, lòng tôi đầy hy vọng bởi viễn tượng về chương trình yêu thương Thiên Chúa dành cho tôi. Hãy can đảm, đừng sợ. Những sự tồi tệ của thế giới không luôn mãi là như thế. Sẽ có thay đổi. Thiên Chúa đã đoái nhìn đến những nhọc nhằn của tôi và Ngài sẽ xua tan bóng tối cho tôi. Sự vững tin đó phải ảnh hưởng đến cách suy nghĩ, cách sống của tôi. Không mãi chịu thân phận định mệnh ác nghiệt đè bẹp, tôi phải ngẩng đầu lên, sống như người công chính, bởi lẽ đã biết rằng : Ách đè lên cổ, gậy đập xuống vai, roi hà hiếp đã bị Ngài bẻ tan. Ánh sáng huy hoàng soi dẫn muôn dân đã tới dẫn đưa chúng ta ra khỏi cảnh tối tăm tù ngục.

Thứ hai : Có lẽ tôi đã trông chờ Thiên Chúa báo oán ở những nơi, những lúc sai ý định của Ngài. Tôi đã mong đợi những dấu lạ, điềm thiêng to tát, ngoạn mục trong khi thực tế đời thường đầy dẫy những chỉ dẫn bàn tay Thiên Chúa hiện diện quanh tôi. Ở trung tâm Thương Mại ngày hôm ấy tôi không thể rời mắt khỏi những công nhân đào bới. Họ kiên nhẫn đến ương ngạnh tìm kiếm những bộ xương của các nạn nhân để trao lại cho thân nhân chôn cất. Hàng triệu triệu đô-la đổ về trung tâm cứu trợ cho những gia đình nạn nhân. Hàng hà sa số bàn thờ, đài kỷ niệm được dựng lên chung quanh quảng trường để cầu nguyện cho vong linh người đã qua đời. Suốt ngày Radio, TV nhắc đến tên họ, kêu gọi sự tha thứ và khoan dung. Ðúng thực, dân đi trong đêm tối đã nhìn thấy ánh sáng huy hoàng.

Tôi chưa thể hoàn toàn thỏa mãn với những câu trả lời tích cực. Cuộc đời tôi còn nhiều nghi vấn. Bóng đen còn tràn ngập. Những vật lộn hàng ngày chưa đưa đến kết quả mong muốn. Hạnh phúc vẫn còn nằm ngoài tầm tay. Mặc dầu vậy, tôi biết tôi đang đi trong ánh sáng của Chúa Giêsu. Các Tông đồ đang đồng hành với tôi, chỉ cho tôi hay đàng kia, qua ngõ tối này, ánh sáng cứu độ đang rạng ngời ở cuối đường hầm. Amen.


Fr Jude Siciliano.OP (2005)

Ánh sáng đã xóa tan quyền lực tối tăm
(Mt 4, 12-23)

Thưa quý vị, Các bài đọc 1 và 3 hôm nay nhắc đến nhiều địa danh. Những địa danh như Galilêa, Nazareth, Capharnaum rất quen thuộc với các tín hữu, bởi chúng thường được nói đến trong các Phúc âm. Còn địa danh Jebulun, Nephtali, Galilêa của dân ngoại, đường ven biển, bên kia sông Giođan thì hiếm khi được nghe. Bởi nó thuộc Cựu ước. Nhưng tại sao các bài đọc lại nêu lên nhiều địa danh đến thế ? Chúng liên quan gì đến sứ điệp Tin mừng hôm nay hay không ? Chúng ta đặt câu hỏi, bởi lẽ chẳng dòng nào, chữ nào của Phúc âm là thừa. Mỗi chữ, mỗi dòng đều quan trọng, được Chúa Thánh Linh xui khiến viết ra cho chúng ta suy nghĩ và dẫn đến những lợi ích thiêng liêng vế phần linh hồn. Giống như những nhà phê bình văn chương tinh tế, chúng ta nên chú ý đến những chi tiết nhỏ nhặt, người đọc bình thường hay bỏ qua.

Chi tiết đầu tiên nên lưu tâm là cụm từ : “Người lánh qua miền Galilêa”. Tại sao vậy ? Đọc Tin mừng chúng ta chẳng được hay biết Chúa Giêsu và các môn đệ không là người Galilêa đó sao ? Có chi quan trọng lắm đâu ? Các Ngài lui về quê hương xứ sở mình là chuyện bình thường. Vậy tại sao Tin Mừng hôm nay đặt thành vấn đề ? Chúng ta nên nhớ Galilêa là một vùng rộng lớn chứ không phải chỉ là mấy làng quê của người Do thái. Nó nằm dọc theo các con đường thương mại và như vậy qua nó người ta có thể tiếp cận với các thế lực lớn trong vùng thời kinh thánh như Ai Cập, Syria, Phoenicia, Mediterranian... Dĩ nhiên các nước đó cũng dễ dàng lui tới Galilêa. Về sắc dân, thì Galilêa không thuần chủng Do Thái, mà có lẫn lộn các cộng đồng nòi giống khác. Vì vậy, mới gọi là “Miền Galilêa của dân ngoại”. Như thế, Chúa Giêsu lánh về đó không phải về chỗ hoang vắng để mai danh ẩn tích. Nhưng để tránh vua Herôđê Antipas và khởi sự công việc rao giảng. Các bản dịch Kinh thánh cũ dùng cụm từ “lui về”, chứ không phải “lánh” như bản giờ kinh. Tiếng Anh dịch là “withdrew”, cũng không có nghĩa “lánh” mà lui về. Thực vậy, câu kế tiếp kể: Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”.

Những thính giả đầu tiên tiếp cận với sứ điệp này hẳn lấy làm ngạc nhiên. Nội dung của nó có ý nghĩa làm sao ? Nước Trời ở đây là gì ? Có phải là một vương quốc hùng mạnh mà dân tộc hằng mong đợi ? Thánh sử Matthêu không nói rõ. Ông chỉ nối kết căn tính của Chúa Giêsu và các việc người làm với lời ngôn sứ Isaia: “Rồi Người bỏ Nazareth đến ở Caphrnaum, một thành ven biển hồ Galilea, thuộc hạt Zebulun và Nephtali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã nói: “Này đất Zebulun và đất Nephtali, hỡi con đường ven biển và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilêa miền đất của dân ngoại ! Đoàn người đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi !”

Như vậy thánh nhân muốn ám chỉ Chúa Giêsu chính là “ánh sáng lớn” Chúa ban cho nhân loại đang chìm đắm trong tội lỗi. Nhưng dưới hình thức nào? Lời dạy dỗ và gương lành của Ngài sẽ nên như ánh sáng hướng dẫn cuộc đời mỗi người. Bởi lẽ sinh ra, là chúng ta đã ngồi trong bóng tối tử thần. Tự mình chẳng thể nào thoát khỏi. Chúng ta bị bao trùm bởi đêm đen tính hư tật xấu. Như văn hào Victor Hugo đã có lần đặt thành thơ: “Trên ngai vàng, kìa Cái Ác. Trước bàn thờ, này Đêm Đen” nói về những lãnh đạo xã hội. Làm thế nào nhân loại bước ra khỏi bóng tối tội lỗi được ? Giải pháp duy nhất là lời rao giảng của Chúa Giêsu ! Lời giảng về Cha Ngài, Đấng yêu thương. Ngài lôi kéo chúng ta đến nguồn sáng chân thật mà Ngài gọi là “Abba” (bố ơi). Ngài sẽ nói những lời tha thứ, xua tan bóng đen tội lỗi, giải phóng những cảnh tù đầy lầm lạc. Đúng như ngôn sứ Isaia tiên tri. Ngài còn chữa lành các bệnh tật, khai trừ ma quỷ, tiếp đón các tội nhân, kẻ ngoài lề, mở mắt cho người mù, cho người què quặt nhảy nhót như hươu nai. Nghĩa là các lời hứa của tiên tri Isaia được thực hiện trong con người Đức Giêsu Kitô và dân chúng lúc ấy đáp lại bằng cách kéo đến với Ngài từng đoàn lũ, hồ hởi vui mừng như đất khô gặp mưa rào, như lính canh trông thấy hừng đông. Ngày nay chúng ta nên có tâm trạng như vậy mỗi khi tham dự thánh lễ. Bởi lẽ chúng ta cũng đã từng kinh nghiệm đêm đen tội lỗi, từng kinh nghiệm nếp sống nô lệ tính hư, thói xấu, ươn lười, xác thịt nặng nề, tâm trí u mê, rượu chè say sưa, đĩ điếm, gian tham, giả hình, lừa đảo.

Có lẽ thế giới văn minh vật chất hiện nay còn dầy đặc bóng đen hơn thời Chúa Giêsu. Cho nên cần sự hiện diện của Ngài nhiều, qua chứng tá các tu sĩ, linh mục, giáo dân. Hôm nay Chúa Giêsu khởi sự sứ vụ tại miền Galilêa. Ngài sẽ rảo bước khắp nơi trong xứ sở, thu thập môn đệ. Chúng ta sẽ được chứng kiến Ngài mở rộng công trình rao giảng cả đến các dân ngoại, ngõ hầu mọi người được hưởng ơn cứu rỗi, lòng thương xót của Thiên Chúa. Vậy thì việc truyền giáo của Hội thánh nói chung và của cộng đoàn tín hữu, tu sĩ nói riêng ra sao ? Mở rộng hay co cụm ? Vượt khó hay chùn bước ? Chúng ta nên suy nghĩ, thẩm định và tiến hành sửa chữa sai lầm.

Bởi lẽ như thánh Matthêu mô tả gọn các hoạt động về sau của Chúa Giêsu vào một từ duy nhất: “Rao giảng”. “Từ lúc ấy Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng: Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”. Chẳng những lời Ngài nói, nhưng kể cả việc chữa lành, lối sống, sự chết, phục sinh, lên trời của Ngài đều gọi được là “rao giảng”, là công bố triều đại Thiên Chúa, cuối cùng đã đến thế gian cho những ai khao khát ánh sáng, khao khát được giải thoát khỏi số phận đen tối hiện thời. Xin tưởng tượng lại hoàn cảnh dân tộc Do thái lúc ấy, hàng nhiều thế kỷ, những người công chính mong đợi giây phút này ! Bây giờ họ được lắng nghe Ngài rao giảng. Đúng thật là Tin mừng vĩ đại, là ánh sáng huy hoàng như ngôn sứ Isaia tuyên bố.

Toàn thể cuộc sống Đức Kitô đều là lời rao giảng về Thiên Chúa và lòng nhân từ của Ngài đối với nhân loại. Vì vậy nhiều tác giả đã chủ trương Tin mừng là Ân huệ Chúa ban cho loài người. Muốn hưởng ân huệ đó chúng ta đọc và suy gẫm Phúc âm. Nó sẽ mở cho chúng ta vào cuộc sống ơn thánh, cuộc sống Thiên Chúa Ba Ngôi. Tất yếu sau đó chúng ta phải tự hỏi: Liệu lời nói, việc làm của mình phù hợp với các điều Chúa chỉ bảo chưa? Liệu nó có phải là “lời rao giảng” để Nước Trời hiện diện giữa cộng đoàn giáo xứ, xóm làng và xã hội không? Thánh Matthêu dùng từ “ứng nghiệm” để mô tả sứ mệnh của Chúa Giêsu: “Rồi Người bỏ Nazareth, đến ở Capharnaum, một thành ven biển hồ Galilêa, thuộc địa hạt Zebulun và Nephtali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia”. Chủ đích của thánh nhân là giúp đỡ độc giả đương thời nhận ra nơi Chúa Giêsu, Đấng giải phóng dân tộc lâu ngày mong đợi. Còn đối với chúng ta thì sao? Ngài đã nên “trọn” những gì chúng ta khao khát? Chắc hẳn phần lớn cảm thấy đang ngụp lặn trong tăm tối, khó khăn, sợ hãi bởi quyền lực ác thần, trong muôn vàn thể hiện của nó: tiền tài, danh vọng, tình ái, ích kỷ, tham lam, lừa đảo… Dịp tết dương lịch vừa qua tỏ rõ những xấu xa đó trong xã hội tiêu thụ hiện giờ!

Chưa hết, trên thế giới ngày nay còn vô số hình thức khác của đêm đen: Chiến tranh, khủng bố, trả thù, sát sinh tập thể, nghèo nàn, đói khát, môi trường độc hại, phân biệt chủng tộc, người già bị bỏ rơi, trẻ con lang thang, phá thai vô tư… Nghĩa là nhân loại vẫn đang ngồi trong bóng tối tội lỗi, bóng tối sự chết trên diện rộng. Không biết lúc này mấy ai đươc tự do thực sự ? Hay chỉ là những ảo tưởng về tự do ? Ngay từ khởi thuỷ Tin mừng, thánh Matthêu đã cho biết Thiên Chúa thực hiện cuộc giải thoát nhân loại khỏi kìm kẹp tội lỗi và những hậu quả của nó. Chúng ta được Ngài cứu thoát qua Đức Kitô, khỏi các ngục tù hiện tại và tương lai. Quả thật một nguồn ánh sáng chói loà đã chiếu giãi vào số phận nhân loại. Nhưng ai là người nhận ra ân huệ của Thiên Chúa nơi Đức Kitô ? Thánh Matthêu trả lời rõ ràng khi liệt kê nhiều địa danh trong vùng Galilêa dân ngoại. Sứ mệnh của Chúa sẽ gieo ơn giáng phúc cho bất kể những ai chấp nhận lời “rao giảng” của Ngài, Do thái hay Man-di ? Cuộc đời, lời nói của Ngài kêu gọi duy một nội dung “Anh em hãy sám hối”. Nghĩa là Ngài muốn chúng ta định hình lại nếp sống của mình và nhìn sự vật bằng lăng kính khác, lăng kính của Phúc âm: “Vì nước Đức Chúa Trời đã đến gần”. Trong Nước Trời, chúng ta hối cải để lãnh nhận sự tha thứ, để tin vào lòng Chúa xót thương mà Đức Kitô phản ánh, để quay lại với đồng bào nhất là những kẻ thiếu thốn, để làm chứng tá cho họ về thực tại “Giêsu” là ánh sáng vĩ đại đã tỏ hiện sáng ngời trên bầu trời luân lý toàn cầu.

Khi Chúa Giêsu khởi sự rao giảng, Ngài không muốn thi hành sứ vụ một mình. Ngài mời thêm 12 cộng sự viên mà Ngài gọi là Tông đồ (Apostolus = kẻ được sai đi). Họ nhanh chóng rời bỏ gia đình, nếp sống cũ, tích cực theo Ngài. Đây là số người đầu tiên sẵn lòng “cải hoá”, đáp ứng lời kêu gọi của Ngài. Sau này con số lớn lên rất nhanh. Nhưng cũng có những kẻ từ chối. Nhiều người khác sinh lòng thù hận. Tuy nhiên, những môn đệ tập trung quanh Ngài. Chúa Giêsu không bắt ép họ ký kết hợp đồng, cũng không đưa ra cam kết vật chất nào cả. Họ hoàn toàn tự do ở lại hay bỏ đi. Hơn nữa, Ngài không hù dọa hoặc dùng hình phạt trả thù những kẻ bỏ đi. Ngài không đưa ra chương trình cho tương lai. Không kế hoạch thành công. Không địa vị xã hội. Thánh Matthêu cho chúng ta hay: Tất cả những gì Chúa hứa là: “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Ở giai đoạn này các ông chẳng thể hiểu lời hứa đó có ý nghĩa gì! Nhưng họ vẫn từ bỏ mọi sự mà theo Ngài. Đi đến những nơi Ngài tới, ngủ nghỉ ăn uống với Ngài và học hỏi những điều Ngài dạy dỗ. Giống hệt như chúng ta ngày nay, đúng không? Vậy thì chúng ta cũng nên đón nhận lời Ngài mời gọi và mỗi ngày cũng trả lời bằng nếp sống tông đồ như các ngư phủ thời xưa. Nếu ngoan ngoãn theo Ngài hướng dẫn, chúng ta sẽ dần dà nhận ra những điều Ngài dậy dỗ (bằng không, ngày càng thêm ngu dại). Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta đi vào mầu nhiệm Nước Trời, mầu nhiệm đời sống Chúa Ba Ngôi. Thật là một hy vọng cực kỳ vĩ đại! Nhưng xin lưu ý, tất cả bảo đảm của cuộc phiêu lưu này là chính Chúa Giêsu. Vậy thì tương lai mọi người hoàn toàn nằm trong tay Chúa như các tông đồ khi xưa.

Cộng đoàn giáo xứ hôm nay tụ họp trong thánh đường này là để nghe theo tiếng Chúa mời gọi. Nếu không chúng ta đã chẳng đến đây. Bởi lẽ trong cuộc sống vội vã này, mọi giây phút đều quý báu, có thể kiếm ra tiền. Chúng ta đều có những thời khóa biểu dầy đặc, thản hoặc được những lúc nhàn rỗi thì vẫn có thể dùng vào công việc nào đó. Nhưng thực tế, chúng ta đã gạt sang bên mọi sự, để đến thánh đường làm việc thờ phượng với các anh chị em tín hữu khác. Nghĩa là chúng ta đã chấp nhận đi theo tiếng Chúa mời gọi, định hình lại tư tưởng, nếp sống của mình, ngõ hầu trở nên ánh sáng cho tha nhân, lưới người ta như lưới cá. Đối với các tín hữu, mỗi Chúa nhật không chỉ là cơ hội tụ họp đơn giản, nhưng là thời gian thánh hoá, xem xét lại 7 ngày vừa qua, chúng ta đã lao động thế nào trong vườn nho Thiên Chúa ? Nói đầy đủ hơn, nhân dịp đầu năm mới, chúng ta đã hạ biết bao quyết tâm lành thánh. Lúc này thế nào? Tiến hành được bao nhiêu phần trăm ? Nếu cần giúp đỡ thì các bài đọc hôm nay là cơ may thuận tiện. Chúa kêu mời chúng ta cộng tác với Ngài. Bởi lẽ nhiệm vụ tông đồ không giới hạn vào 12 ngư phủ ngày xưa, nhưng còn kéo dài mãi trong những linh hồn đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy. Chúng ta được khích lệ trở nên các ngư phủ của Thiên Chúa trên toàn thể hoàn vũ.

Phải chăng những nơi chúng ta đang sống và làm việc cũng tương đương với “Galilêa của dân ngoại” thời Chúa Giêsu ? Gồm những thuận tiện và không thuận tiện. Chúng ta vật lộn với thế gian để giữ vững đức tin cùng anh chị em đồng đạo, tạo nên những gia đình tương trợ lẫn nhau, chiến đấu chống “Cái Ác” khi vui cũng như lúc buồn. Nhưng còn có những hoàn cảnh trái ngược, người tín hữu phải sống trong các môi trường thù nghịch. Họ bị cô lập, tẩy chay vì niềm tin của mình. Họ chịu đựng kỳ thị trong công ăn việc làm, địa vị xã hội, con cái học hành; bị hạn chế tự do sinh hoạt, đi lại di chuyển. Nhưng họ vẫn vững vàng trong đức tin và tràn đầy hy vọng vào ánh sáng Chúa dẫn bước soi đường. Vậy thì, hôm nay chúng ta tụ họp về đây để thờ phượng, tạ ơn Thiên Chúa. Vì ánh sáng “Giêsu vĩ đại” chẳng bao giờ lìa bỏ mình, cho dù “bóng tối sự chết” dày đặc đến đâu đi nữa. Ngài vẫn hướng dẫn mỗi cuộc đời tin kính trở thành bài rao giảng cho tha nhân bằng lời nói việc làm. Nhờ đó, Giáo hội luôn là lực lượng chống lại văn hoá sự chết hay như lời Chúa Giêsu: “Nước Trời đã đến gần”. Xin cho mọi linh hồn được bàn tiệc Thánh Thể nuôi dưỡng đầy đủ để can đảm làm chứng cho Phúc âm. Đó là lý do chúng ta đến đây với đôi bàn tay mở rộng, đôi tai chú ý nghe và tấm lòng háo hức đón nhận hồng ân. Cảm tạ “ánh sáng Giêsu chói loà” đã chiếu rọi vào đêm tối trần gian. Amen


G. Nguyễn Cao Luật op

TỪ MIỀN ÐẤT XA LẠ
Mt 4,12-23

Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay vẫn còn là phần mở đầu sứ vụ của Ðức Giêsu. Ngay từ những ngày đầu của cuộc đời công khai, Ðức Giêsu đã gây ra nhiều điều ngạc nhiên, cụ thể hôm nay là môi trường hoạt động.

Ðức Giêsu không bắt đầu giảng dạy tại Giêrusalem, thành phố tượng trưng cho uy quyền về tôn giáo lẫn xã hội. Người không khởi đầu việc loan báo Tin Mừng Cứu độ tại Thành Thánh, nơi có Ðền Thờ là biểu tượng nguy nga và linh thiêng của dân Do-thái, nơi tụ họp của những người cho rằng mình đạo đức.

Ðức Giêsu cũng không loan báo Nước Trời tại Giu-đa, nơi Gio-an đã khởi xướng phong trào Thiên Sai, nhưng đã bắt đầu sứ vụ tại Ga-li-lê, nơi có nhiều lương dân, nhiều người hèn kém, những người đang chìm đắm trong tối tăm ngoại giáo.

Miền Ga-li-lê được coi là miền đất của dân ngoại, bởi vì nó tiếp giáp với những vùng đất của dân ngoại. Hơn thế nữa, nó cũng là nơi các dân ngoại lui tới làm ăn buôn bán, từ tả ngạn sông Gio-đan và từ các miền Dáp-bu-lon, Náp-ta-li. Với người Do-thái, Ga-li-lê và nơi ngoại giáo hèn hạ, "Ga-li-lê các dân ngoại", cho nên "không có một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả" (Ga 7,52).

Tại sao lại có chuyện nghịch thường này ? Tại sao Ðức Giêsu lại chọn lưa miền Ga-li-lê làm địa bàn hoạt động trong suốt thời kỳ đầu của sứ vụ công khai, để rổi sau Phục Sinh, Người lại trở về vùng đất quen thuộc này để đưa ra lệnh truyền cuối cùng cho các môn đệ ? (x. Mt 28,16-20).

Có nhiều lý do để giải thích sự kiện này

Trước hết, có lẽ Ðức Giêsu thấy xứ Giu-đê quá gần nơi Gio-an Tẩy Giả bị bắt, và cũng là pháo đài của Do-thái-giáo. Tình hình có vẻ xáo trộn và nguy hiểm : người Do-thái đã tống giam Gio-an Tẩy Giả, họ cũng có thể loại trừ Ðức Giêsu. Họ là những người lãnh đạo tinh thần và đạo đức của dân tộc, nên bất cứ ai có ảnh hưởng trên dân chúng, lại không thuộc về trường phái của họ, cũng có thể gây cho họ những thắc mắc, nghi ngại.

Có lẽ vì vậy mà tác giả Tin Mừng đã dùng từ "lánh qua ", hay "rút về ". Ðức Giêsu phải hoàn tất sứ vụ của Người.

Hãy tạm lùi một bước.

Sau nữa, việc chọn địa bàn truyền giáo tại nơi xa lạ này có nhiều lợi điểm. Miền đất này là nơi đô hội, tứ chiếng, giao thương với những miền xa xăm. Tại đây, tục lệ kiêng cữ của người Do-thái bớt khắt khe. Còn về tôn giáo, vì có nhiều người ngoại quốc, nên ở đây có xu hướng tự do tín ngưỡng và hòa đổng tôn giáo. Do đó, lời giảng và các hoạt động của Ðức Giêsu sẽ ít gây phản ứng bất lợi nơi các nhà lãnh đạo tôn giáo, đổng thời, nhờ giao thương dễ dàng, ảnh hưởng của Người dễ lan rộng sang các miền chung quanh.

Tuy nhiên, điều quan trọng và có ý nghĩa hơn cả là Tin Mừng được loan báo cho muôn dân, đặc biệt là dân ngoại, như lời ngôn sứ I-sai-a đã báo trước (Is 9,1-4).

Chính tại miền đất mà người Do-thái ở Giêrusalem khinh dể, coi như không phải là chôỵ Thiên Chúa mặc khải, thì Vị Hoàng Tử Bình An đã xuất hiện. Chính tại miền đất của dân ngoại, miền đất tăm tối, thì ánh sáng của Vị Cứu Tinh đã bùng lên, Tin Mừng giải phóng được loan báo.

Rõ ràng đây là một sự lựa chọn, một kế hoạch được tính toán kỹ càng. Ðàng khác, sự kiện này còn cho thấy một quy luật : Thiên Chúa hoàn toàn độc lập, tự do chọn nơi chốn, thời kỳ và dụng cụ theo ý Người muốn. Người hay chọn những điều thấp hèn, vô giá trị, nhỏ bé để thực hiện chương trình vĩ đại.

TUNG BAY TRONG GIÓ

Từ nơi biên giới tiếp giáp với dân ngoại, Ðức Giêsu bắt đầu lên tiếng, bắt đầu công bố cho muôn dân biết Nước Thiên Chúa đã hiện diện.

Một trang sử mới được mở ra, một công trình mới được khởi đầu. Thời của các ngôn sứ được chấm dứt với việc Gio-an bị tống ngục : ông phải nhỏ đi để Ðấng khác lớn lên; ông im tiếng để Lời được công bố. Cánh cửa nhà tù khép kín cuộc đời Gio-an cũng là dấu chấm hết của tiếng-nói-ngôn-sứ. Từ trước tới nay, Ðức Giêsu vẫn giữ im lặng, bây giờ Người xuất hiện và lên tiếng nói.

Có lẽ dân chúng không hiểu hết lời giảng của Ðức Giêsu, nhưng họ cũng cảm nhận được nơi con người lạ lùng này một điều gì khác lạ. Danh tiếng của Người lan ra khắp nơi và dân chúng tuốn đến với Người. Theo quan điểm của người Do-thái, chẳng có gì tốt từ Ga-li-lê. Nhưng chính cho miền đất đó mà I-sai-a loan báo ánh sáng thiên sai của Ðấng Em-ma-nu-en. Và cũng chính cho miền đất xa lạ ấy mà Ðức Giêsu ngỏ lời :"triều đại Thiên Chúa đã đến gần". Ðức Giêsu là "người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Si-on rằng : "Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị" (Is 52,7).

Ðúng thế, Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Sai, Ðấng làm cho Vương quyền Thiên Chúa trên dân được chọn và qua họ, trên thế giới, được hoàn thành. Chính Người sẽ thực hiện Vương quyền đó, không phải bằng một chiến thắng quân sự hay chính trị như dân chúng mong đợi, nhưng bằng cách thiêng liêng (Mc 1,34) với tư cách là "Con Người" (Mt 8,20) và "Tôi Tớ" (Mt 8,17). Nói thế, bởi vì công trình cứu chuộc của Ðức Giêsu sẽ giựt loài người thoát quyền lực đô hộ của Xa-tan. Vương quyền ấy là một điều có thực, một trật tự mới cho cả vũ hoàn, chứ không phải là điều trừu tượng, không tưởng.

Vậy, trong Ðức Giêsu, Nước Thiên Chúa đã đến, và vì vậy phải sám hối, phải thay đỗi cách nhìn, phải thay đỗi lối sống.

Thế đó, "Nước Thiên Chúa" đã được loan báo lần đầu tiên tại một miền biên giới xa lạ, đầy xáo trộn : đó lài không phải là một hình ảnh về Hội Thánh cũng sẽ phải hiện diện ở những nơi tiếp giáp của những vấn đề. Hội Thánh cũng sẽ phải tung bay theo gió của Thần Khí, như đã được khởi đầu.

Và, cũng tại miền đất hèn kém này, Ðức Giêsu đã kêu gọi những con người vô danh để họ trở thành môn đệ của Người. Các môn đệ của Ðức Giêsu không phải là những người học thức, tài giỏi. Họ chỉ là những ngư phủ, những người thất học. Công việc thường ngày của họ là tìm kiếm trong lòng biển lương thực để nuôi sống mình và gia đình. Ðức Giêsu đã gọi họ đi theo Người, gắn bó với Người và cộng tác vào kế hoạch lớn lao. Người biến họ thành những người quăng lưới trên biển trần gian - biển bao la, sâu thẳm, luôn biến động vì bão táp. Người muốn bắt lấy những con người từ biển trần gian, dù mặt nước luôn bị khuấy động.

Thực là một chọn lựa quan trọng. Chọn những kẻ sẽ cùng Người đi quăng lưới, những kẻ sẽ đi khắp nơi để đánh cá. Và chọn lựa này lại bắt đầu từ những người vô danh, tầm thường.

Như vậy, Hội Thánh đã được khai sinh, tại miền đất biên giới, bên bờ hổ này, với vị mặn của muối và gió thổi lổng lộng báo trước những chuyến du hành, những cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm (đến độ có thể phá tiêu tan mọi sự). Hội Thánh đã được khai sinh tại nơi hội tụ của gió muôn phương, nơi mở ra những cuộc viễn du.

Ðó chính là nơi để nhận thấy rằng Tin Mừng sẽ tung bay theo gió của Thần Khí, tung bay đến mọi nơi


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Sám hối - Nước Trời
(Mt 4,12-23)

Hằng ngày, trên báo chí, truyền thanh, truyền hình chúng ta thấy đầy những thông tin về những vụ giết người, cướp của, tham nhũng, hối lộ, lừa gạt, tai nạn, chiến tranh, khủng bố… đó là những chứng từ cụ thể về những tội lỗi con người đã phạm hay những tội ác do con người gây ra. Thiên Chúa muốn cứu độ giải thoát con người khỏi nô lệ tội lỗi và tội ác, nhưng việc ấy sẽ không thành đạt nếu con người không muốn. Vì thế, ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã nhờ các ngôn sứ tố cáo tội lỗi của dân chúng và yêu cầu họ hãy sám hối, hoán cải. Đến thời Tân Ước, ngôn sứ Gio-an Tẩy Giả cũng kêu gọi mọi người sám hối và làm phép rửa bằng nước để giúp họ bày tỏ lòng sám hối. Đến khi Chúa Giêsu xuất hiện công khai, Ngài là Đấng gánh tội trần gian, Ngài cũng xin chịu phép rửa của Gio-an để làm gương, rồi kêu gọi mọi người : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”.

Tại sao Chúa Giêsu lại kêu gọi sám hối và Nước Trời đến gần nghĩa là thế nào ? Trước hết, tất cả chúng ta đều nhìn nhận : Tội lỗi vẫn luôn có trong đời người, nhưng nhiều người ngày nay đã không ý thức đúng về tội lỗi, đây là một điều rất đáng sợ. Họ ăn cắp, gian dối, bất công, lừa gạt, giết người, phản bội… mà không bối rối âu lo mấy, hoặc vì họ cho rằng vì hoàn cảnh bó buộc nên “gặp thời thế thế thời phải thế”, hoặc vì họ muốn loại trừ tiếng lương tâm là tiếng Thiên Chúa, để họ hoàn toàn làm chủ và xét đoán theo tư lợi, ích kỷ, không dựa vào giá trị khách quan. Nhưng dầu con người có bị chi phối bởi hoàn cảnh, bởi tính tình, bởi người khác, thì mỗi người vẫn có tự do chọn lựa và quyết định, nên phải nhận phần trách nhiệm về sự chọn lựa và quyết định của mình. Kinh Thánh đã giúp chúng ta ý thức về tội ngay khi thuật lại việc Tổ Tông loài người sa ngã : Tội là lạm dụng tự do Thiên Chúa chia sẻ cho để chọn lựa lời nói, việc làm hoặc ước muốn trái với lời Thiên Chúa dạy, trái với lương tâm, với lý trí, với sự thật. Hậu quả là cắt đứt mối dây hiệp thông với Thiên Chúa, gây xáo trộn nơi bản thân và làm tan vỡ mối dây hiệp thông với tất cả mọi người.

Ý thức về tội đòi chúng ta phải thực hiện sám hối. Chúa Giêsu mời gọi sám hối để con người từ bỏ tội lỗi, trở về với Thiên Chúa và phục hồi phẩm giá của mình. Sám hối không phải chỉ là một nghi thức để tỏ ra ăn năn hối tiếc về tội đã phạm như tự kiểm, tự phê, tự nhận khuyết điểm, thú tội, dầu có thành thật đi nữa. Sám hối mà không đổi đời, ăn năn mà không trở lại, thì đâu vẫn hoàn đó.

Sám hối đích thực phải phát xuất từ lòng tôn kính Thiên Chúa cũng như yêu mến chính mình và mọi người, mọi vật, để trở về đời sống hiệp thông với tất cả, ăn năn hối tiếc và từ bỏ con đường đã làm mình bị chia cắt và xa cách. Sám hối phải đổi đời để sống tốt đẹp hơn. Đổi đời thì trước hết phải thay đổi tư duy : loại bỏ những nhận thức sai lạc, chủ quan, lầm lỗi, rồi thay đổi cả nếp sống và thái độ theo tư duy đúng với sự thật khách quan đó thì đời sống mới thống nhất, không giả hình và mâu thuẫn.

Đàng khác, đi liền với lời kêu gọi “Hãy sám hối”, Chúa Giêsu còn bảo, “vì Nước Trời đã đến gần”. Chúng ta biết Nước Trời hay Nước Thiên Chúa là một trong những chủ đề chính trong những lời truyền giảng của Chúa Giêsu, vì thế trọng tâm lời truyền giảng của Ngài là loan báo, giới thiệu và trình bày về Nước Trời. Ngài dùng nhiều dụ ngôn để giảng dạy. Mỗi dụ ngôn nói lên một ý nghĩa của Nước Trời, chẳng hạn : dụ ngôn hạt cải và men trong bột, cho biết sức mạnh vô hình nhưng bất khuất của Nước Trời, dụ ngôn kho tàng giấu trong ruộng và viên ngọc quý, cho biết Nước Trời có giá trị tuyệt đối và ưu tiên, dụ ngôn tiệc cưới, cho biết mọi người đều được mời gọi hưởng niềm vui của Nước Trời, nhưng có nhiều người từ chối, dụ ngôn cỏ lùng, cho biết hiện nay Nước Trời chưa toàn hảo, một ngày kia nước đó sẽ đạt tới viên mãn, dụ ngôn thợ làm vườn nho, cho biết Thiên Chúa rộng lượng với mọi kẻ đáp ứng lời mời vào Nước Trời.

Như vậy, qua những dụ ngôn Chúa giảng dạy, chúng ta biết được một số yếu tố căn bản của Nước Trời như sau : thứ nhất, Nước Trời là nước vô hình, nội tâm, được thiết lập trong các tâm hồn. Thứ hai, Nước Trời là nước thánh thiện, vì những ai gia nhập vào nước ấy được mời gọi trở nên toàn thiện. Thứ ba, Nước Trời là nước đại đồng, vì đón nhận mọi người, mọi dân tộc, không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, miễn là họ có lòng tin và sám hối. Thứ tư, Nước Trời tràn đầy ơn phúc, trong đó mọi người đều được vui mừng và thỏa mãn. Thứ năm, Nước Trời có giá trị tuyệt đối, phải đặt lên trên hết mọi sự, phải sẵn sàng hy sinh tất cả và bằng mọi giá phải vào cho được. Thứ sáu, Nước Trời đã đến cùng với Chúa Giêsu. Như vậy, Nước Trời không còn xa xôi, cũng không còn là một lời hứa, nhưng đã hình thành trong trần gian qua sự hiện diện của Ngài, đã đến cùng với Ngài, chính Ngài thiết lập Nước Trời ở trần gian, ai tin, sám hối và đón nhận Ngài là đã vào Nước Trời.

Vì thế, cùng với lời kêu gọi “Hãy sám hối”, Chúa Giêsu nói “Vì Nước Trời đã đến gần”, có nghĩa Chúa đến loan báo Tin Mừng về Nước Trời, tức là Ngài đem ơn cứu độ đến, và điều kiện để được gia nhập Nước Trời, để được cứu độ là người ta phải ăn năn sám hối, phải cải thiện đời sống.

Chúng ta đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, tức là chúng ta đã được gia nhập vào Nước Trời. Nhưng trong cuộc đời trần thế này còn có tội lỗi, sự ác, con người còn đang chịu cám dỗ, có thể sa ngã, nên còn phải phấn đấu và sám hối. Vì vậy, bao lâu còn sống ở đời này, chúng ta còn phải sám hối, sám hối thường xuyên, sám hối suốt đời.


Giuse Vũ Hải Bằng op

Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần tới
(Mt 4,12-23)

Bài Tin mừng hôm nay tường thuật lại những lời Chúa nói, những việc Chúa làm sau khi Ngài đã trải qua 40 ngày ăn chay, cầu nguyện trong sa mạc. Việc Chúa làm đầu tiên dđó là tuyển chọn các môn đệ. Lời nói trước hết đó là kêu gọi mọi người : "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.". Đó cũng chính là sứ mạng Chúa không chỉ dành riêng cho các tông đồ, mà cho tất cả những người Kitô hữu chúng ta.

Trong không khí của những ngày cuối năm âm lịch và chuẩn bị bước vào mùa chay, sứ mạng này càng trở nên một lời mời gọi để mỗi người chúng ta sống Tin mừng cách triệt để hơn.

Nhưng trước khi muốn đón nhận ơn sám hối và được chữa lành, chúng ta phải để cho Chúa – vị lương y tài ba – chẩn đoán bệnh và xác định tình trạng tội lỗi và yếu đuối của chúng ta. Chính Chúa Giêsu Kitô là nguồn ánh sáng chiếu soi mọi ngõ ngách trần gian, mọi tối tăm u uẩn trong lòng người; Ngườii đến mang bình an và ơn chữa lành. Phần chúng ta, để được ơn chữa lành, chúng ta phải cộng tác, và nhận ra sự tối tăm u mê của mình, nhận ra sự bệnh hoạn, tật nguyền của mình … và mở lòng để cho ánh lời Lời Chúa chiếu rọi, để cho Người chạm đến chữa lành những yếu đuối, tội lỗi của chúng ta không ? Nhờ đặt mình dưới ánh sáng Lời Chúa soi dẫn mà những bệnh tiềm ẩn về phần hồn phần xác chúng ta mới có thể được định bệnh và cho thuốc đúng phương pháp.

Không chỉ tìm kiếm ơn chữa lành cho riêng mình, người Kitô hữu chúng ta còn phải có trách nhiệm loan báo Tin mừng, làm cho lời mời gọi “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” ngày càng vang xa hơn và được nhiều người hưởng ứng thực thi hơn. Trách nhiệm loan báo Tin mừng đó, Chúa đã trao phó vào tay các tông đồ – những ngư phủ thất học, những người đủ mọi ngành nghề, địa vị xuất thân... Đức Giêsu đã gọi họ đi theo Người, gắn bó với Người và cộng tác vào kế hoạch lớn lao. Người biến họ thành những người quăng lưới trên biển trần gian - biển bao la, sâu thẳm, luôn biến động vì bão táp chiến tranh, hận thù, chia rẽ, tranh giành quyền lợi…"

Từ những con đường ven biển và vùng tả ngạn Sông Giôđan, nơi hội tụ của gió muôn phương, nơi mở ra những cuộc viễn du, nơi biển cả với bão to và gió lớn, báo trước những chuyến hải hành, những cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo, tù đày…. Hội Thánh đã được khai sinh. Và cũng từ đó, Tin Mừng sẽ tung bay theo gió của Thần Khí, thổi đến mọi nơi. Trong chương trình đó, chúng ta cũng được mời gọi để sử dụng chính những khả năng, sở trường, học thức riêng của mình, tuỳ theo ơn Chúa ban cho mà cộng tác vào việc loan báo Tin mừng, kêu gọi “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” bằng chính đời sống của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, được mời gọi làm môn đệ Chúa, làm người Kitô hữu chính danh, chúng con biết rằng phải vâng theo những đòi hỏi triệt để của Tin mừng. Với tuổi đời trên dưới 80, 70, 60, 30, 20... chúng con đã trải qua nhiều mùa chay, rất nhiều tuần lễ tĩnh tâm, sám hối... nhưng đời sống chúng con chưa thay đổi đáng kể bao nhiêu. Chúng con vẫn thường đọc Kinh Lạy Cha để cầu xin cho “Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” , nhưng trong hành xử thì chúng con lại làm ngược lại những điều chúng con cầu xin. Chúng con đề cao ý của chúng con hơn là ý Chúa. Chúng con muốn tự điều khiển cuộc đời mình, chứ không tín thác trao phó cho bàn tay yêu thương của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con luôn biết thật sự sám hối, nhận ra tình trạng bệnh tật, tội lỗi của mình, luôn trong tâm tình sám hối và kêu xin rằng “con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà thăm, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con lại lành mạnh”. Nhất là xin Chúa giúp chúng con biết sống Tin mừng trong môi trường sinh hoạt, học tập, làm việc...của mỗi người chúng con, để mọi người có thể nhận ra “Nước Trời đã đến gần” không phải bởi lời chúng con nói, mà là do bởi những việc chúng con làm.


Đỗ Lực op

Mặt Trời Công Chính
(Mt 4:12-23)

Tuần vừa qua, www.thanhlinh.net tung ra Chiến Dịch Thắp Nến Cầu Nguyện Cho GHVN. Chỉ vài ngày đầu, số người hưởng ứng đã lên tới trên một ngàn. Thế mới biết đức tin và niềm hy vọng của dân Chúa hướng về GHVN lên cao tới mức nào ! Hy vọng những ngọn nến vừa sưởi ấm lòng người tha hương, vừa đem lại ánh sáng công lý cho dân tộc ! Bao giờ công lý xuất hiện, chắc chắn niềm vui và hạnh phúc sẽ đến với muôn người.

Từ ngàn xưa, ngôn sứ Isaia đã nhìn thấy cảnh tượng đó : “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Người như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Người đều bẻ gãy.” (Is 9:1.3)

Bóng tối chỉ thực sự lùi bước khi “Nước Trời đến gần.” (Mt 4:17) Ánh sáng chiếu lên niềm hy vọng cho muôn người. Thật vậy, Chúa Giêsu quả quyết : "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống." (Ga 8:12) Vậy Chúa sẽ làm gì để đem ánh sáng công lý từ Nước Trời chiếu soi muôn dân ? Chúng ta sẽ làm gì để đón nhận ánh sáng đó ?

KHI ÁNH SÁNG BỪNG LÊN

Khi vào trần gian, Chúa Giêsu khai mạc Vương Quốc Thiên Chúa để giải thoát muôn dân khỏi vùng tăm tối tử thần. Từ đây, “sẽ không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời.” (Kh 22:5) Người có sứ mệnh mạc khải tình thương cho loài người (Tv 80:4), “băng bó vết thương cho dân Người, và chữa lành những chỗ nó bị đánh,” (Is 30:26) giải thoát những người bị áp lực trong ngoài, ban cho họ sự sống, niềm vui và hòa bình.

Nhân loại muôn đời đều cần đến sự giải thoát và hạnh phúc như thế. Ngoài Tin Mừng Nước Trời, không có một chủ thuyết nào có thể đem lại sự giải thoát toàn diện như vậy. Ðể thực thi sứ mệnh cao cả và phổ quát đó, Chúa Giêsu phải có kế hoạch và chương trình hành động. Nếu không nhìn kỹ vào chiều hướng lớn lao của công cuộc cứu độ, người ta dễ lầm tưởng Chúa Giêsu tìm cách cao chạy xa bay, sau khi nghe tin ông Gioan Tẩy Giả bị Hêrôđê giết. Nhưng thực ra, Chúa đã nhắm một địa điểm để công bố ơn cứu độ cho muôn dân. Vì muốn Tin Mừng được loan truyền nhanh nhất và ảnh hưởng lớn nhất tới mọi người, Chúa phải chọn một thành phố buôn bán như Caphanaum mới có thể giảng cho đủ hạng người từ khắp nơi. Bởi vậy, Chúa đã phải di chuyển hai mươi mốt dặm từ quê nhà Nadarét đến Caphanaum tận miền Bắc.

Caphanaum đã trở thành địa bàn hay trung tâm mục vụ của Chúa Giêsu ở Galilê. Tại đây, Chúa đã loan báo sứ điệp trọng đại : "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." (Mt 4:17) Nước Thiên Chúa bắt đầu khi Thiên Chúa đích thân bước vào lịch sử nhân loại như một con người. Hôm nay, Chúa Giêsu Kitô đang thống trị cõi lòng tín hữu. Nhưng Nước Thiên Chúa sẽ không thể hiện trọn vẹn cho tới khi trần gian bị luận phạt và tẩy uế khỏi mọi sự dữ và bất công. Ðức Kitô đến trần gian lần thứ nhất như một người tôi tớ. Người sẽ đến lần thứ hai như vị Vua và Thẩm phán để hiển trị khắp cõi trần gian. (1)

Ðộng lực thúc đẩy con người trở về với Thiên Chúa là chính Nước Thiên Chúa, nơi họ sẽ vui hưởng “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.”(Rm 14:17) Ðó là những ân sủng Thiên Chúa, những hấp lực có giá trị tuyệt đối, đang lôi kéo con người ra khỏi vũng lầy tội lỗi. Nhưng phải can đảm dấn thân, con người mới có thể đáp ứng những đòi hỏi gắt gao từ nguồn ân sủng đó. Còn ai liều mình ra khơi và làm quen với hiểm nguy trên biển cả bằng các ngư phủ? Chính vì thế, họ được tuyển chọn vào danh sách các môn đệ đầu tiên. Họ gần Nước Thiên Chúa nhất, vì họ dám dấn thân phục vụ và chấp nhận lời mời gọi của Chúa.

Dẫn đầu đoàn người ra đi vì Nước Trời là Chúa Giêsu. Người xông pha “đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.”(Mt 4:23) Mọi bệnh hoạn tật nguyền đều là con đẻ của tội lỗi, nhất là tội bất công. Khi kêu gọi con người sám hối, Chúa muốn tiêu diệt tận gốc tất cả những đau khổ của trần gian, “vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống.”(Mt 15:19) Không phải vô tình mà lời kêu gọi được vang lên tại “miền đất của dân ngoại,”(Mt 4:15) tới những người đang sống trong bóng tối và chờ đợi mặt trời công chính mọc lên. Ðã đến lúc chính Thiên Chúa đích thân kêu gọi toàn thể nhân loại quay về và bước theo Người.

Theo Chúa Kitô là tham dự vào kế hoạch cứu độ của Người (x. 2 Tm 2:12). Lời kêu gọi đó có thể làm cho chúng ta run sợ, vì đòi hỏi phải từ bỏ chính mình (x. Mt 19:22). Nhưng theo Chúa Kitô là để hoàn thiện con người mình. Từ những người ngư phủ đơn sơ, các tông đồ đã trở thành những người chinh phục thiên hạ. Mầu nhiệm con người chỉ sáng tỏ khi họ chấp nhận bước theo Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, Ðấng đã mở ra một con đường mới. Chúng ta có thể theo Con Chiên đi khắp nơi (Kh 14:4) như người đầy tớ bước theo, phục vụ và yêu mến Thày tại nơi Thày đang thống trị (x. Ga 12:26). Người thống trị bằng tình thương và công lý. Chính tình thương của Người sẽ làm cho người môn đệ chan hòa lượng từ bi. Công lý của Người khiến họ sống ngay thẳng và tranh đấu chống bất công tới cùng.

HÀNH ÐỘNG CHO NƯỚC THIÊN CHÚA

Căn cứ vào đâu những người tranh đấu cho công lý hay chính nghĩa có thể duy trì lập trường của mình tới cùng? Nói khác, đâu là mẫu mực giúp con người xây dựng một xã hội công bằng và hạnh phúc? Chính Chúa Giêsu đã nêu cao lý tưởng Nước Trời cho những ai đang nỗ lực xây dựng nước trần thế. Như thế không có nghĩa lẫn lộn đạo đời hay thiên lệch đề cao Giáo Hội.

Thực tế, ngay cả Giáo Hội cũng chỉ là người đầy tớ phục vụ Nước Thiên Chúa khi loan báo Tin mừng cứu độ và xây dựng những cộng đoàn Kitô. (2) Hiện tại, Giáo Hội không phải là Nước Thiên Chúa. Sứ mệnh của Giáo Hội là phục vụ, chứ không phải thay thế Nước Thiên Chúa. Không thấy rõ địa vị của Nước Thiên Chúa, nên một số người coi hoạt động của GHVN chỉ nhằm mưu lợi cho Vatican. Mục đích tối hậu của Nước Thiên Chúa là biến đổi toàn thể tạo thành, chứ không phải phục vụ cho những mục tiêu trần thế. Thế nên, khi phục vụ Nước Thiên Chúa, Giáo Hội nhằm đem lại công lý, tự do, hòa bình và sự tôn trọng nhân quyền. Ðó là những giá trị nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Không gắn bó với một cộng đoàn cụ thể, Nước Thiên Chúa không thể làm cho chương trình đó thành hiện thực.

Bởi đó, “Nước Thiên Chúa tạo nên Giáo Hội, hoạt động qua Giáo Hội, và được Giáo Hội công bố trong thế giới. Không thể có Nước Thiên Chúa, nếu không có Giáo Hội – và không thể có Giáo Hội nếu không có Nước Thiên Chúa.” (3) Nước Thiên Chúa là một mẫu mực tuyệt đối cho Giáo Hội noi theo. Giáo Hội không bao giờ có thể đạt đến tình trạng tốt đẹp vô cùng đó. Vì nói cho cùng, Nước Thiên Chúa chính là Chúa Giêsu Kitô. Ðó là một bảo đảm và là một động lực thúc đẩy Giáo Hội cố gắng không ngừng.

Giáo Hội không bao giờ chùn bước trước thách đố thời đại. Thực vậy, căn cứ trên mô hình Nước Thiên Chúa, Giáo Hội cam kết cải tạo trần gian, trong công lý và hòa bình. Ðể xây dựng Nước Thiên Chúa một cách quyết liệt, Giáo Hội phải hành động . Tự bản chất, hành động đó quan trọng và tác động mãnh liệt đến việc thiết lập Nước Chúa ở trần gian. Một khi biết tôn trọng trật tự khách quan của thực tại trần thế, được chân lý và tình yêu hướng dẫn, hành động đó sẽ trở thành một dụng cụ toàn vẹn kiến tạo công lý và hòa bình. Nhưng nên nhớ, hành động đó vẫn là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. (4)

ÐỒNG HÀNH VỚI DÂN TỘC

Hồng ân Thiên Chúa đang hoạt động mãnh liệt trên quê hương chúng ta. Khắp nơi đều sôi sục một khát vọng công lý và hòa bình. Vô cùng cảm kích trước cảnh tượng giáo dân Hà Nội tông cửa sắt vào tận trong sân Tòa Khâm Sứ để dặt cây Thánh giá cao 4 mét ngay tại giữa tòa nhà. Hình ảnh đó gợi nhó đến cảnh dân Paris phá ngục Bastilles mở đầu cuộc cách mạng 1789 tại Pháp ?!

Ðây là bản tin mới nhận ngày 25.01.2008 :

“HÀ NỘI -- Hôm nay tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, giáo dân cả địa phận về tham dự Lễ mừng ĐHY Phạm Đình Tụng, có cả ĐHY Phạm Minh Mẫn, các Đức Giám Mục và linh mục thuộc nhiều giáo phận về đồng tế thánh lễ, mỗi giáo xứ trong giáo phận có 10 đại biểu, cộng thêm giáo dân Hà Nội dự lễ cỡ chừng 3000 người. Cuộc lễ hết sức nghiêm trang và sốt sắng.

Trước thánh lễ như chúng tôi đã trình bầy có chừng 2000 người đã đến hăng hái đến cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ.

Sau thánh lễ chúng tôi vừa được tin là cả từng 100 linh mục và cả trên 2000 giáo dân cùng giáo dân lại kéo sang Tòa Khâm Sứ cầu nguyện nữa, mặc dù trời mưa rất to và Hà nội đang phải chịu đợt rét đậm nhất trong năm.” (5)

“Buổi cầu nguyện vào sau trưa hôm nay trước Tòa Khâm Sứ hết sức là căng thẳng vì công an và bảo vệ đã đánh một số người trọng thương, ít nhất là 4 người trong đó có 3 phụ nữ phải đưa đi nhà thương cấp cứu. Trong những người bị công an đánh ở Tòa Khâm Sứ người tên là luật sư Lê Quốc Quân, một nhà từ lâu đã tranh đấu cho dân chủ tự do ở Việt nam. Một phụ nữ người Mường leo cổng nhảy vào bên trong để dâng hoa cho Đức Mẹ thì bị bảo vệ đánh chảy máu đầu. (6)

Tất cả hình ảnh và bài tường thuật trên cho thấy Giáo Hội gian khổ biết bao mới có thể xây dựng Nước Chúa ở trần gian. Dù chỉ cầu nguyện cách ôn hòa, dân Chúa vẫn bị đối xử dã man, tàn bạo !

Nhưng không vì thế mà dân Chúa sờn lòng nản chí. Trái lại, họ càng can đảm làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu ! Sở dĩ hùng khí dân Chúa dâng lên mãnh liệt như thế, vì Chúa đã cho họ một chủ chăn can đảm và khôn ngoan ! Trước những hiểm nguy đang vây bọc chung quanh, TGM Ngô Quang Kiệt vẫn quả quyết : “Nếu có ai phải bị bắt vì cầu nguyện, bị đi tù, tôi sẽ đi thay họ vì tôi là người kêu gọi họ cầu nguyện” (7)

Tóm lại, khi đến trần gian, Chúa Giêsu đem nguồn sáng đến chiều soi những người còn ngồi trong bóng tối sự chết. Người loan báo Nước Trời như một sức mạnh giải thoát toàn thể nhân loại khỏi những cơ chế bất công. Nhưng sức mạnh đó chỉ hoạt động khi con người biết sám hối. Giữa hoàn cảnh xã hội Việt Nam hôm nay, ai là người cần phải sám hối nhiều nhất ? Kẻ đàn áp hay dân oan ?!

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đang sai Thần Khí đến với GHVN thân yêu của chúng con. Xin Chúa cho GHVN và cả dân tộc sớm thấy công lý, tự do, nhân quyền và hòa bình. Amen.

 
--------

1. Life Application Study Bible 1991:1645.

2. Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 50.

3. Ladd 1974, trích từ Dictionary of Fundamental of Theology 1995:593.

4. Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 58.

5. http://www.vietcatholic.net/News/Html/51436.htm

6. http://www.vietcatholic.net/News/Html/51436.htm

7. J.B. Nguyễn Hữu Vinh http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=51489


Lm. Jude Siciliano, OP (
Anh Em Nhà học Đaminh chuyển ngữ.)

“HÃY SỐNG HÒA THUẬN,
MỘT LÒNG MỘT Ý VỚI NHAU”
Mt 4: 12-23

Thưa quý vị,

Gần đây, tôi nghe chương trình ra-đi-ô địa phương khi đang lái xe qua thị trấn. Chủ đề nói về việc những người con chăm sóc cha mẹ ốm đau và lớn tuổi. Khách mời là một thanh niên đã và đang chăm sóc mẹ trong suốt 5 năm qua. Bà ta bị chứng mất trí. Trong khi làm việc, anh luôn để tâm đến mẹ; còn khi trở về nhà, anh dành hết thời gian chăm sóc mẹ. Anh đã làm việc này suốt 5 năm qua. Anh nói: “Đó là công việc vất vả nhất tôi từng làm”. Nhưng anh cũng nói thêm: “Tôi cảm thấy vinh dự khi làm việc này, đây là một trong những việc tốt nhất tôi từng làm”.

Anh cho biết công của anh cũng đã khiến anh mệt mỏi, và rồi khi trở về nhà sau một ngày dài làm việc ở văn phòng anh còn phải chăm sóc mẹ. Nhiều đêm anh thức trắng vì sợ mẹ tỉnh giấc và đi loanh quanh trong nhà.  Anh nói: “Việc đó làm tôi kiệt sức, và khi tình trạng của mẹ ngày càng xấu hơn và cần sự chăm sóc vượt quá khả năng của tôi, cuối cùng thì tôi đành phải đưa bà vào nhà dưỡng lão”. Người dẫn chương trình hỏi anh: “Anh nghĩ mình làm đúng chứ?”. Anh trả lời: “Vâng, nhưng tôi thấy bất an vì đã ủy thác việc chăm sóc mẹ cho người khác”.

Người dẫn chương trình hỏi anh: “Điều gì đã giúp anh trong suốt những ngày tăm tối của 5 năm qua”. Anh nói là đã học cách trân trọng Hiện tại. Chẳng hạn như, anh yêu quý những giờ phút ngắn ngủi khi, ngồi bên cạnh mẹ xem ti vi, thì mẹ sẽ cười. Anh nói với giọng cảm động: “Đây là những món quà thật quý giá”.

Bạn bè cũng giúp đỡ anh trong những lúc khó khăn: Họ ghé thăm để quản lý công ty giúp anh; một người anh họ ngồi với mẹ anh để cho anh được nghỉ ngơi đôi chút; một người bạn thường xuyên lo bữa ăn; nữ y tá kinh nghiệm và những người khác am hiểu y khoa không phải lúc nào cũng có những giải đáp cho anh, nhưng họ cho anh sự tự tin và những chỉ dẫn. “Tất cả những người thân thương ấy là những tia sáng trong đêm tối, là những sự hiện diện dễ chịu trong những lúc nghi nan và bối rối”.

Ngôn sứ Isaia đã viết bản văn 800 năm trước thời Chúa Giêsu. Ông nói với Israel và Giuđa (hai nước phía Bắc và Nam), những người dương dương tự đắc với thế lực và nền độc lập của mình. Vị ngôn sứ tố cáo họ chỉ tin vào ánh sáng soi dẫn của chính mình mà không quan tâm đến ánh sáng của Giao ước với Thiên Chúa. Họ đã cố gắng liên minh với các thế lực ngoại bang để bảo vệ họ khỏi tay kẻ thù. Isaia đã cảnh báo họ về sự liên minh đó, nhưng họ đã không nghe ông. Những ngày tháng tăm tối phía trước dành cho Dơ-vu-lun và Náp-ta-li (câu 23) – đây là 2 nước đầu tiên rơi vào tay những người At-xi-ri hùng mạnh.

Với một Giu-đa đã hoàn toàn sụp đổ, Isaia cảnh báo rằng Israel cũng sẽ sụp đổ do bất trung và không tin cậy vào Thiên Chúa. Tuy nhiên, ông hứa rằng Thiên Chúa sẽ cứu giúp dân nếu họ biết ăn năn và quay về với Thiên Chúa. “Sợ hãi tan biến thì bóng tối cũng bị xua tan: vì ở đâu có sự u ám thì ở đó có sự buồn phiền. Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng…”.

Isaia nói đơn giản rằng: Bóng tối bị xua tan thì u ám sẽ tan biến và niềm vui sẽ đến ngự trị. Nghe có vẻ như quá khứ của dân thật khủng khiếp, còn hiện tại thì lạc quan hơn. Thực ra hiện tại của họ thật đáng thương. Họ sống trong “vùng đất u ám”. Tuy nhiên, Isaia nói ở thì hiện tại, như thể là mọi sự đã trôi qua và hoàn tất. Ông đang nhấn mạnh đến lời hứa cho tương lai, như thể đó là một thực tại hiện hữu. “Sợ hãi đã tan biến” chứ không phải “Sợ hãi sẽ tan tiến”.

Isaia hứa hẹn một ánh sáng ở cuối đường hầm, qua việc hình dung nó như một thực tại hiện hữu. Rồi ông ngỏ lời xin Thiên Chúa thực hiện những việc Người đã làm – ngay cả khi không có những dấu hiệu hiện tại về hoạt động của Thiên Chúa. Isaia tin tưởng Thiên Chúa sẽ mang lại sự giải thoát cho dân đến nỗi hiện tại ông đã dâng lời ca ngợi Chúa. Thật can cảm! Hết sức tin tưởng! Ông muốn ám chỉ cách thức mà ông Ghít-ôn đã đánh bại dân Ma-đi-an cách phi thường, nhằm khuyến khích những người dân của ông đang bị chèn ép. Ông hoàn toàn tin tưởng vào những gì Thiên Chúa có thể và sẽ thực hiện.

Chúng ta có thể nhận ra trong cuộc sống của mình những lời hứa mà Thiên Chúa đã hoàn trọn trong quá khứ không? Ký ức đó có cho chúng ta niềm hy vọng, bởi vì, khi lâm cảnh khốn quẫn, làm những điều hời hợt trong đời sống hàng ngày, chúng ta tìm thấy sự giải thoát? Chàng thanh niên chăm sóc người mẹ bệnh tật của mình thì có thể.

Ngay trong thánh lễ này chúng ta nói lời “tạ ơn” khi chúng ta nhắc lại những thời điểm trong quá khứ và cả hiện tại mà ánh sáng đã xua tan đêm tối, khi gia đình và bạn bè thấy: chúng ta bị quấy rầy và giúp chăm sóc bọn trẻ cả ngày; giúp ta mua sắm; cho ta mượn tiền; cho ta tựa vào vai để khóc, một bàn tay rắn chắc cho ta thêm sức mạnh; đồng hành với ta trong suốt cuộc hành trình khi mọi người rời bỏ ta. Cách này hay cách khác, chúng ta vượt qua đêm tối và Isaia nhắc chúng ta cách thức thực hiện: Thiên Chúa ở cùng chúng ta trong những tia sáng rất cụ thể; hôm nay chúng ta nhớ lại tên gọi của chúng và tỏ lòng biết ơn.

Nhưng ngay ở đây, chúng ta quy tụ trong một cộng đoàn phụng vụ, nơi đây vài người trong chúng ta hiện đang trong tình trạng tăm tối, khốn quẫn và bất định. Sợ hãi vẫn còn chưa “tan biến” hay đêm tối vẫn chưa xua tan. Làm gì đây? Chúng ta hãy trung thành với lời của ngôn sứ, người mà đã bày tỏ niềm tin mạnh mẽ hơn cảm nhận của chúng ta hiện nay; hy vọng hơn chúng ta có thể gắng sức. Chúng ta dựa vào những lời của Isaia và cùng với cộng đoàn tín hữu cầu nguyện để xin sự trợ giúp, để một ngày nào đó chúng ta cũng có thể nói rằng: “Tôi đang ở giữa tối tăm, nhưng “sợ hãi đã tan biến và bóng tối đã xua tan: vì ở đâu có sự u ám thì ở đó có sự buồn phiền”, cho dù lúc này chúng ta chưa hề chắc chắn.

Hãy để cho Thánh Thể trở thành lời kinh tạ ơn của chúng ta, một lời cầu xin trong ánh sáng và sự giải thoát mà chúng ta đang hy vọng nhận được. Chúng ta tạ ơn vì niềm khích lệ và sự hỗ trợ chúng ta đón nhận từ những tâm hồn quảng đại, những người đang giúp đỡ chúng ta vượt qua bất cứ nỗi buồn phiền hiện tại nào mà chúng ta đang trải qua: những người đặc biệt đoan chắc với chúng ta: “Đừng lo lắng, chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua”. Chúng ta biết chắc rằng họ sẽ giữ lời. Qua họ, chúng ta cũng có thể thấy được bàn tay Thiên Chúa đang hoàn trọn những lời hứa khi xưa được thực hiện qua ngôn sứ Isaia: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.

Chúng ta có thể nhận ra chính mình trong lời mời gọi của tin mừng dành cho các môn đệ đầu tiên hay không? Lời mời gọi này không dành cho những tông đồ thuộc giới thượng lưu, nhưng chỉ dành riêng cho vài người được chọn. Tất cả chúng ta được mời gọi làm môn đệ và tông đồ của Đức Giêsu. Trong tâm tưởng của Isaia, Đức Giêsu mời gọi chúng ta trở thành ánh sáng cho những ai đang ở trong tăm tối và trong tình trạng khốn quẫn. Như Isaia đã mường tượng, chúng ta cũng sẽ thấy Đức Giêsu xuất hiện như một “ánh sáng huy hoàng”. Nếu chúng ta trở về với Đức Giêsu như lời Ngài mời gọi chúng ta hôm nay, thì chúng ta sẽ trở thành những tấm gương phản chiếu ánh sáng của Ngài – chúng ta là những người mang ánh sáng. Chúng ta đã trở thành ánh sáng cho những người chúng ta gặp gỡ trong tuần hay chưa? Chúng ta có sẵn sàng gác sang một bên những mối ưu tư và những định kiến của mình, bỏ lại tất cả, để phục vụ Đức Kitô trong một thế giới đầy đau khổ hay không?

Hôm nay, Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy trở thành một phần trong việc hoàn trọn về lời hứa của Isaia: Mang ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui cho những ai sầu khổ. Chúng ta là những người được mời gọi để phá tan “cái ách đang đè nặng trên vai họ”

Có thể trong số những người chúng ta biết có người đang trải qua một cuộc ly hôn nghiệt ngã; mất đi người mình yêu thương; đang tìm việc làm; bị đuổi ra khỏi nhà; có đứa con đi hoang; ở tù; bị giam hãm trong nhà; thất bại trong cuộc chiến đấu với căn bệnh ung thư… Chúng ta có nghe thấy lời Đức Giêsu mời gọi “hãy theo Ta…” hay không? Chúng ta đáp trả bằng cách nào đây? Chúng ta có thể chiếu một tia sáng hy vọng cho những ai “đang ở trong bóng đêm tử thần” hay không?

Các Giáo hội Kitô giáo của chúng ta đang cử hành tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất các Kitô hữu và ước mong có được nhiều dấu hiệu xác thực hơn về sự hiệp nhất. Chúng ta rất khác biệt trong niềm tin, trong việc thực hành tôn giáo và sống đạo. Có chăng một sự hiệp nhất thực sự đằng sau tính đa dạng này; lòng bao dung và sự trân trọng những tặng phẩm khác nhau chúng ta nhận được? Hay chúng ta cũng vẫn còn để tâm đến những dị biệt, những thiếu sót trong chúng ta? Hôm nay, thánh Phaolô khích lệ chúng ta rằng: “Đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau”. Đó là điều chúng ta cầu xin và phấn đấu cho năm mới này. 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

Bạn làm gì khi Đức Giêsu bảo:  "Hãy theo tôi"

Is 8,23-9,3; Tv 26; 1Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23

 

Kính thưa quý vị,

Có rất nhiều khoa địa lý trong Kinh Thánh ngày nay. Nhưng công việc mô tả chính yếu của thánh Mátthêu không phải là của một người viết mật mã. Khi khởi sự Tin Mừng, thánh sử không có ý định phác thảo những bản đồ của vùng cận Đông cổ đại. Ngài là một tác giả Phúc Âm và có cả Tin Mừng trong biểu đồ địa lý của ngài.

Đức Giêsu khởi đầu công cuộc rao giảng ở miền Bắc, đồng thời qua việc cho chúng ta thấy địa điểm này, thánh Mátthêu đang khai triển một đề tài lớn về Tin Mừng của mình, đó là: có cả dân ngoại trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu ở trong “địa hạt Dơvulun và Náptali”, ngôn sứ Isaia cho chúng ta biết nơi đây đã bị “hạ nhục”. Vương quốc phía Bắc đã bị những kẻ xâm lược Assyri trừng phạt. Hệ quả của cuộc ngoại xâm là cư dân xuất hiện nhiều dân ngoại và ngôn sứ Isaia coi họ như một dân “lần bước giữa tối tăm”.

Nếu một người đang tìm kiếm một cộng đoàn tôn giáo đáng kính và xứng đáng để cho Thiên Chúa viếng thăm, thì chúng ta sẽ phải trông chờ vào Giêrusalem ở phía Nam. Nhưng đây, Thiên Chúa lại luôn thực hiện những gì Người đã vạch ra, nên Người viếng thăm những dân không cho mình là xứng đáng, nhưng cần sự can thiệp của Thiên Chúa. Đó là những gì ngôn sứ Isaia đã hứa: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Thiên Chúa sẽ khôi phục dân tộc ngồi trong cảnh tối tăm.

Thánh Lễ của chúng ta là một lời nguyện tạ ơn. Việc lắng nghe lời hứa của vị ngôn sứ về sự khôi phục và canh tân hôm nay có thể khơi gợi những lý do để tạ ơn tại buổi lễ này, vì chúng ta sẽ nhớ lại cách thức Thiên Chúa đã chiếu sáng trên “vùng đất tăm tối” của chúng ta. Chẳng hạn, một cô bạn đã thất nghiệp 5 tháng, nay tìm được một công việc, và hiện giờ có thể nuôi hai đứa con của mình. Phương thuốc chữa trị của một người bạn khác cuối cùng đã có tác dụng và anh ta không còn phải chiến đấu với bệnh trầm cảm. Một cặp vợ chồng nọ, trước kia suýt nữa là ly dị, đã được tôi và một gia đình khuyên bảo giúp đỡ. Một thiếu niên lập đội bóng đá và có cả một nhóm bạn mới. Hôm nay, vị ngôn sứ khơi lên lời nguyện tạ ơn của chúng ta: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. …Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Mađian”. Vì vậy, chúng ta có lý do để cử hành Thánh Lễ.

Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ trong phần đất hạng hai, nơi dân cư được coi là những người Do Thái ít thuần chủng hơn; hoặc chỉ đơn thuần là Dân ngoại. Ánh sáng của Đức Giêsu sẽ chiếu rọi vào vùng bóng tối tử thần. Ở đó, Người khởi sự công cuộc rao giảng, chữa lành bệnh tật, và Người sẽ chọn những môn đệ tiên khởi từ những kẻ bé mọn nhất. Những môn đệ được gọi đầu tiên này sẽ không có quyền đòi hỏi lễ giáo riêng, cũng như việc xứng đáng có được thân phận đặc biệt. Nhưng cũng “một ánh sáng sẽ chiếu rọi” trên các ông, và như các vị Đạo sĩ, các ông sẽ hăm hở đi theo ánh sáng đó suốt hành trình tới Giêrusalem và xa hơn nữa.

Đức Giêsu đã vừa trải qua hai sự kiện mở đầu: Người được thánh Gioan Tẩy giả làm phép rửa trong dòng sông Giođan và chịu cám dỗ trong sa mạc. Giờ đây, Người bắt đầu sứ vụ công khai của mình ở Galilê. Thánh Gioan đã bị bỏ tù và sự kiện này đã tạo nên một bầu khí căng thẳng cho Đức Giêsu, Người được thánh Gioan Tẩy giả làm phép rửa. Phải chăng Đức Giêsu cũng sợ bị bỏ tù? Đối với Người, rút lui và cân nhắc những chọn lựa của mình chẳng phải là điều khôn ngoan sao? Đang khi sự kiện chưa xảy ra ngay, thì sứ vụ của Đức Giêsu đã bị lời đe doạ tống giam làm cho lu mờ. Hình bóng cây thập giá sớm xuất hiện trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu.

Tuy nhiên, hãy nhớ lời hứa chúng ta nghe hôm nay qua ngôn sứ Isaia rằng: “Đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”. Đức Giêsu vẫn tiếp tục sứ vụ của mình, dù chính Người phải trả giá, vì Thiên Chúa muốn giữ lời hứa, thế nên, thông qua Đức Giêsu, ánh sáng sẽ chiếu rọi vào đêm tối. Đức Giêsu đã bắt đầu khơi lên những nguồn sáng: Người rao giảng và mời gọi dân trở về với Thiên Chúa. “Hãy sám hối, vì nước Thiên Chúa đã đến gần”. Họ phải thay đổi hoàn toàn, thay vì bước theo những ánh sáng của họ, những thứ ánh sáng chỉ dẫn đưa họ ngày càng dấn sâu vào trong bóng tối. Họ phải quay về với Đức Giêsu, Người là ánh sáng và sẽ dẫn đưa họ trở về với Thiên Chúa.

Họ sẽ phải hối lỗi từ những vấn đề gì khác nữa? Thưa rằng, họ có thể hối lỗi từ những ý nghĩ, và tư tưởng xấu xa cho rằng Thiên Chúa đã bỏ mặc họ. Đức Giêsu là lời chứng thực rằng Thiên Chúa đã không bỏ mặc họ. Họ có thể hối lỗi từ tình trạng bị cô lập, tự mình loay hoay trở về với Thiên Chúa. Đức Giêsu đang mời gọi họ vào “Nước Thiên Chúa”, một cộng đoàn tương thân tương ái, nơi đó họ sẽ có những người bạn đồng hành mỗi khi biết nỗ lực tìm kiếm những đường lối của Thiên Chúa.

Đức Giêsu không đến trần gian chỉ để chết; Người đến để sống với chúng ta và trở thành bàn tay nối dài của Thiên Chúa đang vẫy chào chúng ta. Nếu Người chỉ đến để chết thì điều này đã xảy ra ngay sau khi Người mới được sinh ra. Thay vào đó, Người hoàn trọn lời Thiên Chúa đã hứa từ xa xưa thông qua các ngôn sứ, như ngôn sứ Isaia, để xua tan bóng tối và nỗi u sầu, đồng thời giúp chúng ta thoát khỏi cảnh nô lệ để được tự do, như Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Do Thái.

Mỗi tác giả Tin Mừng đều có cách diễn tả riêng về lời mời gọi của những môn đệ tiên khởi. Chẳng hạn trong bài tường thuật của thánh Mátthêu, không có mẻ cá kỳ lạ nào trước đó cả. Thay vào đó, Đức Giêsu đi dọc bờ biển Galilê, Người trông thấy hai anh em Simon và Anrê đang đánh cá và bảo với họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Họ lập tức đi theo Người.

Thánh Mátthêu đang nhấn mạnh một vấn đề. Đó là lời mời gọi trở thành môn đệ, lời mời gọi đó rốt cuộc sẽ thay đổi cuộc sống của những người này, và đã trở thành lời mời gọi đơn sơ mộc mạc. Thế họ có đáp lời không? “Họ lập tức bỏ lại chài lưới và đi theo Người”. Mặt khác, chúng ta còn vài vấn đề lưỡng lự: “Chúng tôi sẽ theo Ngài cách nào? Chúng tôi sẽ đi đâu? Mất thời gian bao lâu? Làm sao chúng tôi có thể tự nuôi sống mình?”. Ấy vậy, họ lại tín thác hoàn toàn vào một Đấng đang gửi tới lời mời gọi để đặt trọn vẹn đời sống của họ trong tay Người mà không chút ngập ngừng. Đâu là điều mà thánh Mátthêu đang mời gọi chúng ta thực hiện, không biết bao nhiêu lần, khi chúng ta hối lỗi về những thoả hiệp mà chúng ta đã gây ra trong vai trò môn đệ Đức Giêsu, và nhiều cách thức lớn nhỏ, chúng ta đã không tín thác vào Người?

Chúng ta đang ở trong Chúa Nhật thứ ba mùa Thường niên. Chúng ta gọi là “mùa thường niên”, dựa vào hạn từ “số thứ tự”, nghĩa là chúng ta đang đếm các Chúa Nhật. Nhưng trong tiếng Anh “số thứ tự” ám chỉ con người hay sự việc không đặc biệt lắm. Ai lại muốn được mời gọi trở thành một cầu thủ bóng rổ, một sinh viên hay một nhà giảng thuyết bình thường? Rất nhiều lần trong các giáo xứ nơi tôi rao giảng, có người đọc thông báo trước khi Thánh Lễ Chúa Nhật bắt đầu. Họ đưa ra lời chào vắn tắt và thông báo một vài điều đại loại như thế này: “Hôm nay là Chúa Nhật thứ ba trong mùa Thường niên”. Phải chăng gợi ý đó dành cho dân chúng sắp cử hành Thánh Lễ rằng, hôm nay “chỉ là Chúa Nhật Thường niên như các Chúa nhật khác?” Họ sẽ nghe thông báo này hoặc đọc nó trong những bản tin của họ suốt hơn 30 tuần.

Hôm ấy, các ông Phêrô và Anrê, Giacôbê và Gioan thức dậy đi ra biển đánh cá như bao ngày khác, vì họ thường làm thế, hôm đó có lẽ giống như một “ngày bình thường”. Nhưng hôm đó, Đức Giêsu đã phá vỡ thói thường của họ và đề nghị họ theo lời mời gọi sẽ giúp họ thay đổi đời sống, và cuối cùng phá vỡ thói thường của chúng ta. Hôm nay có thể là “Chúa Nhật thứ ba trong mùa Thường niên” nhưng không có gì “bình thường” liên quan tới ngày này. Vì vào ngày này, Đức Giêsu bước vào cuộc đời chúng ta và mời gọi chúng ta lần nữa quay về với Người, và bước theo ánh sáng Người cung cấp cho mỗi chúng ta, qua việc chúng ta lắng nghe Lời, đồng thời đón nhận mình và máu hằng sống của Người trong Thánh Lễ tạ ơn này.

Cho dù chúng ta là những người tiếp tân, là nhạc sĩ, người đọc sách, người trao Mình Thánh, nhà giảng thuyết, linh lục hay phó tế thì cũng không làm cho ngày này giống như “bình thường”. Đây không phải là Chúa Nhật khác trong một chuỗi những Chúa Nhật của “mùa Thường niên”. Là những thừa tác viên phụng vụ, chúng ta phải chu toàn nhiệm vụ của mình tốt nhất, ngõ hầu chúng ta và cộng đoàn quy tụ trong sự tôn kính, sẽ nghe lại lần nữa lời mời gọi của Đức Giêsu ngỏ lời với mỗi người trong chúng ta và với toàn thể cộng đoàn rằng: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”.