![]() | |
|
Chúa Nhật II Thường Niên - Năm A
Is
49,3.5-6; 1Cr 1,1-3; Ga 1,29-34 An Phong op : Tôi Xin Chứng Thực G. Nguyễn Cao Luật op : Lời Chứng Về Con Chiên Fr. Jude Siciliano, op. : Đây Là Đấng Xóa Tội Trần Gian Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chiên Thiên Chúa G. Nguyễn Hải Phương op : Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian Fr. Jude Siciliano, op : Khám phá Ơn Gọi và kiên trì trong sứ vụ G. Lê Minh Thông op : Làm chứng về ánh sáng và giới thiệu Đức Giêsu Fr. Jude Siciliano, op: Hãy trở nên "ánh sáng cho muôn dân"
Tôi
Xin Chứng Thực Gioan Tẩy giả được Chúa gọi và trao sứ mệnh làm tiền hô giới thiệu "Chiên Thiên Chúa". Ơn gọi và sứ mệnh đó thâu tóm tất cả một cuộc đời và một con người như Gioan. Ông đã hoàn thành cuộc đời mình, dù bên ngoài có vẻ bi đàt, một cách trọn vẹn và anh dũng. Nơi Gioan, ta thấy được ý nghĩa của một con người sống ơn gọi và thi hành sứ mệnh. Ơn gọi khác với nghề nghiệp. Ðã là một ơn gọi thì vững bền và không phải là một công việc để kiếm tiền, để vinh vang, hay để được điều gì; nhưng chỉ vì đó là ý nghĩa của đời mình, không làm được thì đời không còn ý nghĩa. Sứ mệnh thì không phải là công tác. Ðã là sứ mệnh thì không phải là chuyện vui chơi, không phải là chuyện "nhiệm ý" nhưng là một thúc bách mãnh liệt. Gioan đã sống trọn vẹn với ơn gọi của mình, cả một cuộc đời sống trong sa mạc, để chuẩn bị cho ơn gọi ông đã lãnh nhận từ khi còn trong bụng mẹ. Gioan đã chu toàn trọn vẹn sứ mệnh của mình, thẳng thắn nói mình không phải là Ðấng thiên sai, chấp nhận "Ngài đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi"; và "xin chứng thực rằng chính Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn". Gioan xứng đáng với lời Chúa phán trong Isaia, bài đọc 1 : "Ngươi là tôi trung của Ta; Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang". Khi nhận ra ơn gọi của đời mình, người ta sẽ không còn tâm trạng đứng núi này trông núi kia; nhưng vui với ơn gọi của mình và sống chỉ để thực hiện ơn gọi đó. Chẳng hạn ơn gọi giáo dân, ơn gọi làm cha, làm mẹ... Khi lãnh nhận một sứ mệnh, người ta dám hy sinh tầt cả, dám chịu đựng tất cả để hoàn thành sứ mệnh của đời mình. Chẳng hạn sứ mệnh giáo dục con cái... Mọi người kitô hữu, dù trong hoàn cảnh nào và với khả năng nào, đều có thể "biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa"; như thế, chúng ta cũng có thể nhận ra ơn gọi và sứ mệnh của Chúa trao ban cho mỗi người. Cuộc đời chúng ta có "công chính" hay không là do ta có trung tín với ơn gọi; và có quyết tâm thi hành sứ mệnh đã lãnh nhận hay không. Lạy Chúa, Xin dùng con làm khí cụ bình an của Chúa. Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù đem thứ tha vào nơi lăng nhục đem an hòa vào nơi tranh chấp đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, đem trông cậy vào nơi thất vọng. Ðể con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm đem niềm vui đến chốn u sầu. (Thánh Phanxico Assisi)
THA
THỨ Chưa bao giờ nhân loại cần đến sự tha thứ như bây giờ. Nhân loại đứng trước một thách đố lớn lao. Một là tha thứ hai là chết. Bởi vậy cần phải tìm về nguồn cội của sự thứ tha để thấy được hướng đi tới cho toàn thể nhân loại. CHIÊN THIÊN CHÚA. Đức Giêsu đã được ông Gioan Tẩy giả giới thiệu: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1:29) Ông đã công bố cho mọi người biết về bản chất sứ mệnh của Đức Giêsu, đồng thời nói lên tất cả tình yêu tuyệt vời nơi con người kỳ diệu ấy. Tình yêu Thiên Chúa mang một chiều cạnh thực tế vô cùng lớn lao. Đã đến lúc Thiên Chúa không thể che dấu lòng bao dung vô bờ bến của mình nữa. Chính ông Gioan đã mạnh mẽ làm chứng ơn cứu độ đã đến với con người Đức Giêsu. Nói khác, đã đến lúc Thiên Chúa tha thứ cho nhân loại. Ai có thể tha thứ cho nhân loại nếu không phải là Thiên Chúa ? Tha thứ là một việc vô cùng khó khăn. Bởi vậy, Thiên Chúa đã phải chuẩn bị rất kỹ cho công cuộc lớn lao đó. Chính ông Gioan đã nêu lên tất cả chiều kích siêu việt và sức mạnh kỳ diệu nơi con người sẽ thực hiện công cuộc cứu độ : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.” (Ga 1:32) Đó là dấu chỉ cho ông thấy “người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” (Ga 1:33) Hình ảnh lộng lẫy đó cũng mạc khải Ba Ngôi Thiên Chúa hợp lực với nhau để tha thứ cho nhân loại. Không có sức mạnh Thánh Linh, không thể thực hiện được công cuộc tha thứ. Chỉ có phép rửa trong Thánh Thần mới thực sự mang lại ơn tha thứ cho nhân loại. Đó là nét trổi vượt của thời kỳ Tân Ước. Chính ông Gioan đã thú nhận : “Chính Người là Đấng tôi đã nói khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” (Ga 1:30) Trổi hơn vì chính “Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1:34) để thực hiện tất cả ý muốn hòa giải của Thiên Chúa. Trổi hơn vì chỉ mình Người mới có thể “xóa bỏ tội trần gian,” (Ga 1:29) hầu giải phóng nhân loại khỏi mọi thứ nô lệ. Sau khi được tràn ngập Thánh Linh, Đức Giêsu trở thành Đấng Kitô, Đấng được xức dầu. Sứ mệnh Người chỉ hoàn thành khi tất cả nhân loại được tha thứ. Người đã tha thứ vô điều kiện. Lượng tha thứ vô cùng vô tận. Không ai có thể tha thứ như Người. Chính vì thế, Người mới có thể mời gọi chúng ta “hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5:44) Lòng yêu thương kẻ thù là gì, nếu không phải là sự tha thứ ? Tội lỗi đã biến nhân loại thành kẻ thù của Chúa và tạo một khoảng cách vô cùng giữa Thiên Chúa và con người. Xa Thiên Chúa là xa nguồn sống, là đi vào cõi tiêu diệt. Thế nhưng chính Thánh Linh trong Đức Giêsu đã mạc khải cho mọi người biết tình yêu mạnh hơn sự chết. Aân sủng đã lấp đầy hố thẳm. Từ nay con người không còn phải thất vọng vì tội lỗi, nhưng tràn đầy niềm vui vì được tình yêu Thiên Chúa giải thoát. Thế mới biết “không phải tội lỗi, nhưng tình yêu Thiên Chúa mới là điều căn bản” (The New Dictionary of Catholic Spirituality, 1993: 407) cho mọi suy tư và hành động nhân loại. Giải thoát khỏi tội lỗi cá nhân chỉ là một phần trong chương trình cứu độ. Đúng hơn, sau khi được tha thứ, con người được hướng dẫn vào đườngï công chính. Nói khác, “hành động vì công lý và hòa bình là hệ quả chính sau khi nhận thức về tình yêu Thiên Chúa và nhu cầu cần được tha thứ của nhân loại.” (The New Dictionary of Catholic Spirituality, 1993: 407) THA THỨ VÀ HÒA BÌNH NHÂN LOẠI. Thế nhưng ngày nay, nhiều người còn nhân danh Thiên Chúa khoan nhân để đối xử bất bao dung với anh em. Thật là một xỉ nhục đối với Thiên Chúa. Họ không thể tha thứ cho anh em, vì họ tưởng có thể kéo Thiên Chúa về phe mình và biến Người thành phương tiện thực hiện những mưu đồ đen tối của mình. Một cái nhìn hẹp hòi như thế cần phải dẹp tan. Theo ĐGH Gioan Phaolô II, các nhà lãnh đạo tôn giáo có trách nhiệm phải “từ chối và cô lập những người lợi dụng danh Thiên Chúa vào những mục tiêu và những hành động thực tế xúc phạm đến Người.” (CWNews, 21/1/2002) Nếu thực sự hiểu biết và tôn thờ Thiên Chúa, con người không thể không tha thứ cho nhau. Không tha thứ cho nhau, không thể có hòa bình. Thực tế cho thấy cuộc chiến ngày càng leo thang giữa Palestine và Israel. Những cuộc khủng bố trả đũa nhau khiến cho bất cứ sáng kiến hòa bình nào cũng lâm vào bế tắc. Đã đến lúc cần phải nhìn vào “Chiên Thiên Chúa” để tìm ra phương hướng cho những vấn đề tranh chấp hôm nay. Nếu chỉ dựa trên những tính toán tự nhiên, không bao giờ con người có thể tha thứ cho nhau. Tự nhiên ai cũng muốn ăn miếng trả miếng. Đó là sự khôn ngoan loài người. Không làm như thế sẽ bị đối phương chê là ngu dại. Người ta chỉ lo ăn thua, ngay cả trong đời sống hôn nhân và gia đình ! Nếu muốn chung sống hòa bình, nhân loại hôm nay cần hiểu biết lẫn nhau và thắt chặt mối giây thân ái. Đó là một công cuộc lớn lao và rất phức tạp. Các nhà lãnh đạo tinh thần và tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đó. Thực vậy, theo ĐGH Gioan Phaolô II, “tất cả các nhóm tôn giáo phải nhận thức rằng họ có chung một cam kết kiến tạo hòa bình và công lý.” (CWNews 21/1/02) Công cuộc xây dựng hòa bình không phải chỉ thuộc về các nhà chính trị, ngoại giao. Không ai có thể đứng ngoài các cuộc tranh chấp hôm nay. Nhất là khi các tên khủng bố nhân danh Thượng Đế để sát phạt anh em, các nhà lãnh đạo tôn giáo càng thấy rõ vai trò của mình hơn. Dù khác biệt nhau về niềm tin, nhưng họ đều có trách nhiệm khám phá và trình bày một Thiên Chúa đầy lòng bao dung tha thứ. Từ cái nhìn trung thực về Thiên Chúa như thế, nhân loại sẽ dễ dàng đi đến với anh em. Nhưng việc kiến tạo hòa bình không chỉ là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo tinh thần. Trái lại, tất cả mọi người đều phải cầu nguyện cho tinh thần bao dung của Thiên Chúa thấm nhuần vào đại gia đình nhân loại. Thật vậy, ĐGH Gioan Phaolô II cho rằng “nhân loại phải chung lời cầu nguyện để vượt qua ‘những nguy cơ của những đối kháng mới’ sau vụ khủng bố 11/9. ‘Bây giờ là lúc khẩn thiết phải cầu nguyện cho hòa bình.’ Người thúc đẩy đặc biệt các cộng đoàn tôn giáo hãy đoàn kết cầu nguyện cho hòa bình vào ngày đã ấn định.” (CWNews 21/1/02) Đúng hơn, cần phải cầu xin Thiên Chúa hoán cải lòng người để sẵn sàng tin tưởng vào Thiên Chúa tình thương và chấp nhận tha nhân như những người anh em cùng chia sẻ một tình thương Thiên Chúa. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể tha thứ cho nhân loại. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể làm cho nhân loại sống bao dung và tha thứ như Người. Con người thực sự chỉ hạnh phúc và sống hòa bình với nhau khi khôi phục được hình ảnh Thiên Chúa bao dung nơi chính mình và cộng đoàn. Không thể nào khôi phục được hình ảnh tươi sáng đó, nếu con người không hết tình tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho họ. Hơn ai hết, các Kitô hữu là những “Chiên Thiên Chúa” giữa thời đại hôm nay. Họ là những người đã được xức dầu như Đức Kitô. Họ cũng đã lãnh nhận đầy đủ sức mạnh Thánh Linh để thực hiện công cuộc hòa giải giữa Thiên Chúa và nhân loại. Nhân loại chưa hòa bình, vì còn nhiều Kitô hữu chưa nhận thức mình là “những người đã được hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi làm dân thánh,” (1 Cr 1:2) và “làm ánh sáng muôn dân, để đem ơn cứu độ (của Ta) đến tận cùng cõi đất.” (Is 49:6)
Lời Chứng
Về Con Chiên Cuộc gặp gỡ lạ lùng Tin Mừng Thứ Tư mở đầu với lời tựa tuyệt vời, một bài thơ về Ngôi Lời, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa sự vĩnh cửu của Thiên Chúa và lịch sử củ loài người. Thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca, nhờ hiểu biết về phỗ hệ, đã nối kết Ðức Giêsu với các vị tỗ tiên, để trình bày phẩm cách cao cả của Ðấng Thiên Sai. Còn thánh Gioan đi thẳng vào trung tâm mầu nhiệm : Ngôi Lời Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm nơi Ðức Giêsu. Thực là một tuyên bố long trọng, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí : Ðức Giêsu được xác nhận chính thức do chính Thiên Chúa. Và thánh Gioan Tiền Hô, con người sống bởi Thần Khí và nói về Thần Khí, đã nhận ra Ðấng được Thiên Chúa sai đến và giới thiệu Ðấng ấy cho người khác. Trong Tin Mừng Thứ Tư, Ðức Giêsu bắt đầu cuộc đời bên bờ sông Gio-đan, tại một ngôi làng tên là Bê-ta-ni-a, mà theo danh từ có nghĩa là "nhà qua đường". Một hình ảnh về Vượt Qua. Chính tại đây đã diễn ra cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa người loan báo và người được loan báo. "Người-loan-báo" rời khỏi sa mạc, nơi thinh lặng, để nói, để công bố về Lời. Con người ông là kết tinh của toàn thể hàng ngôn sứ : A-mốt, người chăn nuôi đàn vật trở thành người thuyết; và Giê-rê-mi-a, vị tư tế bị trục xuất trở thành người diễn tả về Thiên Chúa. Có cả lời nói lẫn cử chỉ: Gioan đã chỉ vào Ðức Giêsu và nói : ""Ðây là Chiên Thiên Chúa". Còn "Ðấng-được-loan-báo", đến từ một nơi khác, một cách khác, không ai hiểu được : người ta chờ đợi sức mạnh, thì Ðấng Vô Tội xuất hiện. Ðiểm được nhấn mạnh là bản tính siêu vời của Thiên Chúa. Người là Ðấng Thánh, là Ánh Sáng mà bóng tối của con người không thể bao phủ. "Người-loan-báo" đứng tại chỗ; hình ảnh của sự chờ đợi, đổng thời cũng cho thấy điểm dừng, điểm kết thúc của một thời kỳ. Thời kỳ của Cựu Ước, của các ngôn sứ. Còn "Người-loan-báo" từ xa tiến đến : hình ảnh của sự xuất hiện, mở ra một thời kỳ mới. Thời kỳ của Tân Ước, của Ðấng Thiên Sai. Và Gioan Tẩy Giả thú nhận : ""Tôi không biết Người"". Một khẳng định nền tảng. Vị Thiên Chúa này, không ai có thể biết được, trừ phi nhờ ân sủng; không ai gặp được, trừ phi được Thần Khí hướng dẫn. Khi làm phép rửa cho Ðức Giêsu, vị ngôn sứ cuối cùng đã trao chìa khóa của thế giới cũ cho Ðấng đến mở ra thế giới mới. Như vậy, trong phép rửa, hình ảnh của việc ""đi qua"", ông khép lại giao ước cũ, và chỉ cho thấy Ðất Hứa : nơi con người Ðức Giêsu, Thủ Lãnh của dân được quy tụ trong Thần Khí. Cuối cùng, việc hoán cải tâm hổn mà Gioan rao giảng sẽ dẫn đén niềm tin vào Ðấng Thiên Sai, một niềm tin thấm nhuần ánh sáng và rất tinh tuyền. Sự sám hối là bước đầu tiên để đón nhận Mặc Khải về Ðức Kitô, sự hiển linh của Thiên Chúa. Chiên của Thiên Chúa Với lời giới thiệu về Ðức Giêsu của Gioan, người ta không đón chờ một vị bác sĩ, một nhà cải cách luân lý hay người làm phép lạ. Ðấng được đợi chờ là Con Chiên, là của lễ được dâng lên để chuộc tội trần gian. Trong lịch sử của Dân Chúa, con chiên là biểu tượng cho việc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập. Hình ảnh con chiên gắn liền với cuộc vượt qua - vì thế được gọi là Chiên quợt qua. Nên hằng năm, khi cử hành lễ kỷ niệm cuộc Vượt Qua, Dân Chúa vẫn sát tế chiên để dâng lễ tạ ơn Thiên Chúa, Ðấng đã cứu thoát họ. Hôm nay, con chiên là một con người, như ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo: "Ðức Chúa đã đổ trên đầu Người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược đãi, Người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng mở miệng kêu ca". (Is 53,6-7). Con chiên vẫn thường được sử dụng trong việc dâng của lễ, do sự thanh khiết và dịu dàng. Vì vậy, con chiên là biểu tượng rất phù hợp với tính cách của Ðấng Thiên Sai. Gioan đã giới thiệu Ðức Giêsu là Chiên Thiên Chúa : điều này có nghĩa đặc biệt. Ðó không phải là con chiên của dân, hay của bất cứ người phàm nào, nhưng là Con Chiên của Thiên Chúa. Con Chiên này được hiến tế, không phải vì bị ép buộc do những kẻ mạnh hơn mình, nhưng là do lòng tự nguyện chu toàn nghĩa vụ tình yêu đối với kẻ tội lỗi. Hy lễ này cũng không phải do tay người phàm dâng lên, nhưng là hy lễ của Thiên Chúa, Ðấng dâng hiến chính mình. Phêrô, một môn đệ của Gioan, có lẽ đã có mặt trong buổi giới thiệu này. Về sau, ông đã diễn tả ý nghĩa của "Con Chiên" trong đoạn văn dưới đây : ""Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được giải thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ Bửu Huyết của con chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Ðức Kitô"" (1 Pr 1,18-). Ngoài ra, theo tác giả sách Khải huyền, cũng là người theo Ðức Giêsu ngay từ thời đầu, và nhất là đã có mặt dưới chân thập giá, khi Con Chiên của Lễ Vượt Qua mới bị sát tế, thì ""Chiên Thiên Chúa"" là con chiên đầu đàn, là thủ lãnh của những người đã ""trải qua cơn thử thách lớn lao"", và đang tiến tới ""nguồn nước trường sinh"" (x. Kh 7,14.17). Chính nhờ thái độ hoàn toàn tuân phục, Con Chiên đã mang lấy, đã xóa bỏ tội lỗi nhân loại, và đã trở nên Con Chiên Vĩnh Cửu, chiên đem lại ơn Cứu độ. Sống như Con Chiên Ðức Giêsu đã được Chúa Cha sai đến làm Con Chiên gánh lấy tất cả tội lỗi của nhân loại cũng như của từng người. Khi đáp lại lời kêu gọi của Người mà chạy đến kêu cầu danh Người, mọi tội lỗi của chúng ta sẽ được chính Người gánh lấy. Nhờ lòng yêu mến và tuân phục của Người, chúng ta được nên thánh thiện, được giao hòa với Thiên Chúa, và được quy tụ trong nhà của Người. Thực là một hổng ân lớn lao Thiên Chúa dành cho con người. Không những Người không trừng phạt nhân loại vì tội lỗi của họ, nhưng đã sai Con của Người đến để chuộc tội cho họ. Vấn đề còn lại của con người là họ có nhận ra hổng ân đó hay không, có chờ đợi và sẵn sàng đón tiếp Ðức Giêsu hay không, và có trao phó tất cả tội lỗi của mình cho Con Chiên để được thứ tha và sống thánh thiện hay không. Hơn nữa, qua Bí tích Thanh Tẩy, mỗi người Kitô hữu đã được chọn làm "người tôi tớ", làm "ánh sáng" (Bài đọc 1), và "nên thánh" để làm chứng về Ðức Kitô. Trong Ðức Kitô và cùng với Ðức Kitô, người tín hữu được mời gọi đảm nhận vận mệnh của thế giới, và không chỉ là vận mệnh là cuộc sống trần gian, nhưng quan trọng và thiết yếu, là cuộc sống vĩnh cửu. Nhờ việc đảm nhận vận mệnh trần gian, tức là chung vai gánh vác cuộc sống của con người, với mọi khỗ đau và nhọc nhằn, người tín hữu giới thiệu về sự hiện diện của Thiên Chúa, về ơn cứu độ trong Ðức Kitô, Ðấng được sai đến để cùng chia sẻ thân phận làm người... Thế nhưng, Ðức Kitô, Chiên Thiên Chúa, đã đem lại ơn giải thoát nhờ đời sống khiêm tốn, vâng phục, thì người Kitô hữu cũng phải sống như thế. Ðức Kitô là Chiên Thiên Chúa, đổng thời cũng là Người Tôi Tớ : Người đã đến để ""phục vụ chứ không phải để được phục vụ"", đến để tuân phục mà không hề kêu ca, than trách. Người Kitô hữu cũng là khí cụ của Thiên Chúa, là người tôi tớ của Thiên Chúa để thực hiện kế hoạch của Người. Thực hiện rong khiêm tốn và yêu thương. "Sống với Con Chiên và sống như Con Chiên đó là đời sống duy nhất, là đời sống đích thực."
Đây Là
Đấng Xóa Tội Trần Gian Thưa quý vị. Cứ như dự tính thì năm phụng vụ A là năm của Tin Mừng theo thánh Matthêo. Ðúng như vậy, bởi vì bài đọc Phúc Âm mấy tuần trước đều trích từ thánh nhân. Nhưng đặc biệt tuần này lại chuyển sang thánh Gioan và cũng cùng đề tài phép rửa của Chúa Giêsu bởi tay ông Gioan ở sông Giođanô. Bài đọc thứ nhất cũng vậy, một bài ca khác về người tôi tớ trung tín của tiên tri Isaia, giống như tuần vừa qua. Như thế Hội thánh có ý lưu lại một tuần nữa trong chủ đề sự hiển linh của Chúa Giêsu. Ðiều đó có ích để chúng ta đào sâu hơn về thần tính của Ngài. Các tuần tới sẽ tiếp tục trích Phúc Âm theo thánh Matthêo. Nhưng ngặt một nỗi, chẳng lẽ các nhà giảng thuyết phải lặp lại bài suy niệm của mình ? Vậy tôi xin đề nghị một phương án khác : Tôi để ý thấy rằng mấy dòng mở đầu của bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Chúa Giêsu được thánh Gioan giới thiệu là : "Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian" (The lamb of God who tabes away the "sin" of the world). Liệu có một lỗi chính tả ở đây không ? Từ "tội" (sin) nên để ở số nhiều (sins). Bởi lẽ ngày nay trên thế gian này tội lỗi nhiều quá, nhan nhản khắp hang cùng ngõ hẻm mà để ở số ít, e không đủ. Ðúng ra phải để ở số nhiều mới thỏa đáng. Ngay trong Kinh Thánh hễ kể đến tội là dùng số nhiều. Có khi liệt kê thành danh sách. Hơn nữa lại có nhiều danh sách như vậy trong Tân ước và Cựu ước. Thí dụ : các danh sách của thánh Phaolô ở cuối các thơ của Ngài. Hoặc nếu quý vị không muốn mở Thánh Kinh thì cứ kể ngay các lời cửa miệng như gian dối, lừa đảo, chiến tranh, cướp bóc, hôi của, bất trung, phản bội, kỳ thị, say sưa, giết người, gian dâm, cưỡng hiếp, xì ke, ma túy, v.v và v.v… quý vị có thể tiến xa hơn rất nhiều nữa, bởi chúng ta đã quá quen thuộc với chúng. Chúng xảy ra hàng ngày trong mọi xã hội. Nếu chúng ta không là kẻ phạm tội thì chí ít là nạn nhân của kẻ khác. Chẳng có nơi nào là không có tội. Ngay ở trong tâm hồn người ta cũng đầy tội lỗi. Hậu quả của chúng lại rất rõ ràng và khủng khiếp. Vậy dùng số ít nghe không ổn. Chẳng lẽ chỉ có một tội ? Hay tác giả Gioan ám chỉ đến tội nguyên tổ ? ông muốn nói : "Ðấng xóa tội nguyên tổ ? cho nên dùng số ít ?" Chúng ta biết rất rõ truyện hai ông bà sa ngã và hậu quả tàn khốc của truyện đó. Hai người đã âm mưu chống lại lệnh cấm của Thượng đế. Họ đã khinh thường Ngài, coi lời Ngài không có ký lô nào ! Họ chẳng muốn có một hạn chế nào trên các hành động của họ. Họ muốn được hoàn toàn tự do, chẳng lệ thuộc vào ai. Lại còn lời hứa dối trá nếu họ bất tuân Thiên Chúa họ sẽ trở nên thần linh, làm chủ thể phân định lành dữ, tự lựa chọn lấy con đường phải đi, bẻ gãy mọi tương giao với Tạo hóa. Vậy đó, từ nguyên thủy loài người đã có thứ tội gọi là tội tổ tông hay tội của thế giới, tội từ chối chấp nhận vương quyền của Thượng đế trên cuộc sống nhân loại, thất bại không cảm nhận được giá trị cao quý trong tương quan với Thiên Chúa. Vì vậy mà Gioan dùng số ít chăng ? Không phải vậy đâu. Xét cho thấu đáo thì tội bắt nguồn từ tự do của chúng ta. Ngay từ giây phút tạo dựng, con người đã được Thiên Chúa ban cho có ý chí tự do, thay vì sử dụng nó một cách lành thánh, thì ông bà nguyên tổ đã lạm dụng, và ngày nay con cháu cũng vậy. Tuy nhiên, Thiên Chúa chẳng khi nào lấy lại tự do đó rồi bắt chúng ta phải sống kiếp nô lệ. Không có tự do thử hỏi cuộc sống con người ra sao ? Cho nên, mặc dầu lạm dụng, chúng ta vận còn được hưởng nền tự do đó. Thánh Kinh Cựu ước dùng nhiều từ để nói về sự lạm dụng tự do, ý nghĩa chung thì là "đi ra ngoài quy định" hay "tội lỗi". Nó là cố tình từ bỏ Ðức Chúa Trời như cùng đích của mình mà chọn đi những con đường khác. Một trong các từ Cựu ước dùng là "Awon". Nó có nghĩa là mặc cảm lỗi lầm. Nó nhấn mạnh đến hậu quả của tội lỗi. Nó giày vò linh hồn, bóp méo lương tâm. Cách hiểu của Kinh Thánh như vậy có nghĩa rằng Thiên Chúa yêu thương loài người, muốn chia sẻ sự thân mật, gần gũi với nhân loại, muốn sống tình cha con với Adam, Evà. Nhưng hai ông bà đã phản loạn và tội lỗi nhảy vào bẻ gãy mối tương giao tốt đẹp đó. Kết quả là loài người cảm thấy ân hận vì hạnh phúc đã mất, lương tâm bị giày vò, xáo trộn. Hai ông bà quay đi hướng khác, ôm mặt khóc. Tiếng Chúa vang vọng khắp địa đàng : "Adam, Adam, con ở đâu ?" (St 3,9). Tiếng ấy bây giờ vẫn còn mỗi khi con người phạm tội. Trong văn chương của thánh Phaolô và thánh Gioan, tội lỗi được chuyển hóa từ hành động cá thể sang một nếp sống. Tội lỗi sống trong các tội nhân. Tội lỗi thi hành quyền lực trên tội nhân (Ga 8, 24) bắt các tội nhân làm nô lệ, lôi kéo các tội nhân xa rời Thiên Chúa. Thánh Phaolô mô tả điều này không bằng số lượng tội lỗi chúng ta phạm nữa, mà bằng chính tình trạng sinh sống cụ thể của nhân loại. Chúng ta hiến thân cho tội lỗi, tự nguyện sống dưới sự kìm kẹp của nó và vong thân khỏi Thiên Chúa. Chúng ta sống dưới quyền lực của tội lỗi. Sau lễ Giáng sinh tôi đi chơi thành phố New-York, đến thăm nền đất Zêrô, trước đây là Trung tâm thương mại quốc tế, để cầu nguyện cho những người đã thiệt mạng, gia đình họ và hàng trăm công nhân đang đào bới tìm kiếm những gì còn lại. Ðây là một thí dụ điển hình về tội ác trần gian. Nó có ảnh hưởng khủng khiếp đến cách suy nghĩ và hành động mọi người trên quả địa cầu này. Gần đây ở Sài Gòn, chúng ta cũng có vụ Năm Cam. Ai có thể chối cãi được tội ác kéo bè kéo đám của băng đảng đó ? Cầm tờ báo Công An thành phố trên tay, giở trang nào cũng thấy đăng tải tội ác. Toàn thể nhân loại đang sống dưới quyền lực của tội ác. Vì thế, Hiến chế "Vui mừng và hy vọng" của Công đồng Vaticanô II đã dựa trên chương VII của thơ Roma mà mô tả rõ nét tính phân hóa loài người vì tội lỗi. Ai có thể cứu vớt chúng ta khỏi tình trạng bi thảm này ? Thánh Phaolô trả lời : "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 7,25) Tức chỉ Ðức Giêsu Kitô mới làm được mà thôi. Thánh Gioan trong bài Tin Mừng hôm nay cũng trả lời tương tự : "Ðây là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian". Từ "tội lỗi" xuất hiện nhiều nhất trong Phúc Âm theo thánh Gioan hơn là trong các Phúc Âm khác. Nó không mấy ám chỉ các hành động riêng lẻ cho bằng tình trạng đen tối của cuộc sống con người. Từ tình trạng này dẫn đến phạm tội. Do đó, thánh Gioan dùng từ tội ở số ít, tức Ngài muốn nói đến "lực" lôi kéo con người phạm tội. Ngay từ đầu, nhân loại đã bị ô nhiễm bởi lực đó, và nó còn tiếp diễn. Nó cư ngụ trong các tội nhân. Từ chối sự hiện diện của lực đó là chưa có chân lý vẹn toàn, còn tự lừa dối mình. Vậy khi Gioan Tẩy giả trông thấy Chúa Giêsu lập tức ông nhìn ra vị chiến thắng tội lỗi hay nói cách khác : "Ðấng xóa tội trần gian." Tuy nhiên, chúng ta không dễ gì mà thoát khỏi nanh vuốt của cái ác. Chúng ta được mang thai và sinh ra trong tình trạng tội lỗi. Bản tính nhân loại đã bị đánh trọng thương, dễ gì mà ngóc đầu lên nổi ? Tội đã che mắt chúng ta, những viễn tượng tốt đẹp, thánh thiện của tương lai đều bị tội lỗi che phủ làm sao nhìn cho thấy ? Nếu không có tay Chúa dẫn dắt, chúng ta vẫn còn mò mẫm trong tối tăm lầm lạc. Các lựa chọn của chúng ta vẫn còn ở trong nội dung hôi tanh của tội lỗi. Thánh Augustinô đã tóm tắt : "Tội là từ bỏ Ðức Chúa Trời mà theo loài thụ tạo." Cho nên muốn thoát khỏi tội lỗi, chúng ta phải hối cải trở về với Thiên Chúa. Thiết lập lại tương quan tốt lành với Thượng đế. Nhưng chỉ có Thiên Chúa mới đủ quyền năng thắng được tội lỗi và thiết lập lại mối tương giao đó, Chúa Giêsu nhập thể để làm việc này. Ngài chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để công bố ơn tha tội. Ngài mời gọi nhân loại chấp nhận tình thương của Thiên Chúa. Ngài biết rõ nhân loại đang mệt mỏi vì gánh nặng tội lỗi. Chúng ta đang tìm những lối thoát giả tạo như phim ảnh, văn chương, du lịch … Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là tạm bợ. Cái bền vững nhất là theo ngón tay chỉ bảo của thánh Gioan Tẩy giả trong bài Tin Mừng hôm nay. "Ðây Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian" trong Ngài chúng ta sẽ tìm thấy hạnh phúc và bình an. Amen.
Chiên
Thiên Chúa “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Đó là lời thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu Chúa Giêsu với dân chúng. Tại sao thánh Gioan lại dùng hình ảnh “Con Chiên” để nói về Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu đã xóa bỏ tội cho nhân loại thế nào ? Trước hết, chúng ta biết, Chúa Giêsu có nhiều danh hiệu, một trong những danh hiệu quen thuộc là “Chiên Thiên Chúa”. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu được gọi là “Chiên Thiên Chúa” tới 31 lần : 29 lần trong sách Khải Huyền và 2 lần trong sách Tin Mừng thứ 4. Con Chiên là hình ảnh mẫu mực của sự hiền lành, khiêm hạ, nhẫn nhục, chịu đựng. Ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo về Chúa Giêsu : “Ngài như chiên con bị đưa đến lò sát sinh, như chiên mẹ im lặng không hề kêu la trước thợ xén lông”. Thực sự Chúa Giêsu đã giữ “im lặng” trước Hội đồng Do Thái, và không trả lời gì với Phi-la-tô và Hê-rô-đê. Đàng khác, con chiên còn là hình cảnh mẫu mực của sự hi sinh đền tội thay cho phạm nhân. Truyền thống Do Thái bắt đền tội bằng dâng con chiên. Ngày xưa, khi Thiên Chúa quyết định giải thoát dân Do Thái khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, Ngài đã truyền cho mỗi gia đình phải sát tế một con chiên đực, vừa tròn một tuổi, không có tì vết, phải ăn ngay chiều hôm đó, và phải lấy máu chiên bôi lên thành cửa, làm dấu để thiên thần đi qua mà không chinh phạt. Chính nhờ máu chiên vượt qua này mà các con trai đầu lòng của người Do Thái thoát chết, và rồi thoát ách nô lệ, đi đến đất hứa, trở thành dân tộc hiến thánh của Thiên Chúa. Thánh Gioan Tiền Hô đã mượn hình ảnh con chiên vượt qua này để ám chỉ Chúa Giêsu. Ngài là Đấng vô tội những đã gánh lấy tội lỗi nhân loại. Truyền thống Kitô giáo luôn nhìn nhận Chúa Kitô là chiên vượt qua thực sự, Ngài là chiên vô tội và hoàn hảo, Ngài dùng máu mình làm giá cứu chuộc nhân loại khỏi ách tội lỗi. Như vậy, Chúa Kitô với tính cách là “Chiên Thiên Chúa”, Ngài đã đền tội thay cho nhân loại. Tất cả tội lỗi của loài người đã được tẩy xóa nhờ cái chết đền tội của Ngài. Ngài đã tự do và tự nguyện thực hiện việc đền tội này chỉ vì yêu thương con người. Nhưng nói Thiên Chúa đã xóa tội trần gian, mà tại sao chúng ta thấy không một nơi nào, thành thị cũng như thôn quê, chỗ hẻo lánh đến đâu chăng nữa, nếu đã có con người sinh sống, thì ở đó có tội lỗi, nơi đó bị quyền lực của tội lỗi bao trùm, chi phối, điều khiển : tội người lớn, tội trẻ con, tội người giàu, tội người nghèo, tội nam giới, tội nữ giới, tội xã hội, tội cá nhân, tội công cộng, tội riêng tư… không còn nhân đức nào cả, như Bru-nô đã thốt lên trước khi tự vận: “Đâu đâu cũng thấy tội và tội, tội tràn ngập trước mặt tôi, nhân đức và thánh thiện ở đâu ? đó chỉ là những danh từ trống rỗng”. Phải, Thiên Chúa xóa bỏ tội chúng ta, nghĩa là Ngài đã cứu chuộc chúng ta, nhưng không có nghĩa là máu Ngài đã cất hết tội lỗi đi, vì thế, con người đã được cứu chuộc vẫn có thể phạm tội, vì Thiên Chúa không cho chúng ta khả năng không thể phạm tội, Ngài chỉ ban cho chúng ta khả năng chiến thắng tội lỗi, ban cho chúng ta khả năng chỗi dậy mỗi khi sa ngã. Cũng như cứu chuộc không có nghĩa là sẽ hết chết chóc, Chúa không cất sự chết đi, nên chính Ngài đã chết, nhưng chết để thắng cái chết. Cũng vậy, Chúa không cất tội lỗi đi, nhưng Ngài đã dạy chúng ta cách thắng tội lỗi. Vì vậy, nếu chúng ta muốn được cứu chuộc, chúng ta phải chiến đấu để thắng tội lỗi và thắng sự chết. Nếu chúng ta không muốn chiến đấu để được cứu chuộc, chúng ta hãy suy nghĩ câu chuyện sau đây : Thánh Ma-ke tu trong rừng ở Ai Cập, một hôm, ngài gặp một cái sọ người lây lất trong rừng, ngài hỏi : “Đây là sọ của ai ?” - “Tôi là sọ của một người ngoại giáo” - “Linh hồn ngươi ở đâu ?” - “Tôi đang ở trong hỏa ngục” - “Ngươi ở chỗ nào trong hỏa ngục ?” - “Sâu lắm, xa bằng từ đất lên trời” - “Còn ai ở dưới ngươi nữa không ?” - “Thưa còn, những người Công giáo xấu, vì họ đã được cứu chuộc, nhưng họ không làm gì để được cứu chuộc, họ ở sâu nhất so với các người khác”. Chúng ta không thể khoán trắng việc cứu chuộc cho Chúa mà không làm gì cả. Dù Chúa đã cứu chuộc, nhưng mỗi người phải cộng tác tích cực, nghĩa là ơn cứu chuộc của Chúa có giá trị phổ quát, Chúa đã hoàn thành việc cứu chuộc, nhưng hiệu quả hay sự áp dụng ơn cứu chuộc không nhất thiết phổ quát, mỗi người phải cộng tác vào ơn cứu rỗi của chính mình. Đây chính là bài học chúng ta phải luôn ghi nhớ : để được cứu chuộc, mỗi người phải cộng tác, phải đóng góp phần mình, ít nhất là một chút thiện chí. Để diễn tả chân lý này, một nhà văn Kitô giáo đã dựng một vở kịch, diễn tả vụ hành quyết một tên trọng phạm, tại một thị trấn nhỏ thời Trung cổ. Theo luật nhà nước, chỉ có một lối thoát chết duy nhất cho tử tội, là nộp đủ 1000 đồng tiền vàng để chuộc mạng. Nhà vua tỏ ra hào hiệp, tặng hết số vàng 700 đồng mang theo trong chuyến du hành. Hoàng hậu theo gương góp 200 đồng. Các cận thần cũng dốc hết túi. Người ta đếm được 997 đồng, còn thiếu 3 đồng, công lý không thể nhân nhượng, đành phải thi hành pháp lệnh. Toán hành quyết tròng dây thừng vào cổ tên tử tội thiếu may mắn, sửa soạn rút dây. Bỗng có một tiếng kêu lớn : “Khoan đã, lục soát người nó coi, biết đâu đấy”. Tên đao phủ lục soát khắp người tội nhân, móc ra được 3 đồng hắn giấu kỹ trong dây lưng từ hồi nào mà hắn không nhớ. Thế là đủ 1000 đồng, hắn được thoát chết. Có lẽ chúng ta đều hiểu ý nghĩa của vở kịch này ? Nhà vua là Chúa Cứu Thế, hoàng hậu là nữ vương Maria, cận thần là các thánh và các Kitô hữu chân chính, quyên góp lập thành kho báu cứu đo. Dẫu sao vẫn thiếu một ít, một ít đó là phần đóng góp của mỗi người, ít nhất là bằng thiện chí, muốn thực hiện cuộc vượt qua từ đời sống tội lỗi vượt lên đời sống thánh thiện. Nói rõ hơn, Chúa Giêsu đã giải thoát chúng ta, điều đó chắc chắn lắm rồi, không còn hồ nghi gì hết. Nhưng chúng ta có muốn được giải thoát hay không, đó là tùy ở mỗi người, như thánh Âu-tinh đã nói : “Thiên Chúa không thể cứu chuộc chúng ta, nếu chúng ta không cộng tác”.
Đây Chiên Thiên Chúa,
Đấng xóa bỏ tội trần gian “Đây là Chiên Thiên Chúa, đấng xoá bỏ tội trần gian”, lời giới thiệu của thánh Gioan Tẩy giả thật đầy đủ và ý nghĩa. Lời giới thiệu này đầy đủ, Gioan đã chỉ ra cho chúng ta biết rằng : Đức Giêsu là đấng Mêsia, là Ngôn sứ, là đấng Mặc khải, là con Thiên Chúa và chính là Thiên Chúa. Lời minh chứng này rất có ý nghĩa với loài người chúng ta : Đức Giêsu là Đấng xoá bỏ tội trần gian, là Con Chiên sát tế để đền tội thay cho nhân loại, giao hoà với Chúa Cha và nâng con người lên địa vị làm con Thiên Chúa. “Đây là Chiên Thiên Chúa”, qua lời giới thiệu này, thánh Gioan Tiền hô muốn cho nhân loại biết về con người Đức Giêsu. Hình ảnh con Chiên nói lên Đức Giêsu là Đấng vô tội, bị sát tế để gánh tội cho loài. Khi giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, thánh Gioan cũng khẳng định ông không phải là Đấng Mêsia như nhiều người Do-thái thời bấy giờ lầm tưởng. Thậm chí, thánh Gioan đã hai lần nói : “tôi không biết Người” , thánh nhân muốn xoá mình đi, để cho Đấng Cứu Thế được nổi bật lên. Gioan chỉ biết mình là người mở đường, là tiếng hô trong sa mạc để cho mọi người nhận biết Đấng là đường, là sự thật và là sự sống. Là người được sai đi để dọn đường cho Đấng Mêsia, thánh nhân đã giới thiệu cho mọi người Đức Giêsu như lời nói: “có người đến sau tôi nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1,30). Thánh Gioan Tiền Hô thật là một chứng nhân tuyệt vời và là một nhân chứng cho ánh sáng đích thực. Từ lời chứng của thánh Gioan Tẩy Giả, tự hỏi lại bản thân mỗi người, chúng ta đã ý thức mình là chứng nhân cho Đức Giêsu như thánh nhân chưa ? Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, mỗi người đã trở thành ngôn sứ, là chứng nhân của Đức Kitô, theo dòng thời gian ý thức về đời sống chứng nhân của chúng ta sẽ cao hơn hay bị lu mờ và mai một. Cũng từ lời chứng của thánh Gioan, chúng ta nhận ra sự khiêm nhường, trung thực nơi bản thân của thánh nhân. Gioan làm chứng cho Chúa để Chúa nổi bật lên còn ông thì mờ đi. Chúa cũng muốn chúng ta làm chứng cho Chúa. Chúa muốn chúng ta giới thiệu Chúa cho mọi người để “danh Cha cả sáng Nước Cha trị đến”. Nhưng rất nhiều khi, thay vì đi trước mở đường, trở thành người giới thiệu Chúa. Chúng ta lại mở đường hoặc giới thiệu về bản thân mình vì một lợi ích cá nhân nào đó. Nhiều lúc thay vì làm chứng, chúng ta lại trở nên những tấm gương phản chứng. Nhiều khi làm chứng cho Chúa để Chúa nổi bật lên, chúng ta lại làm nổi bật bản thân và hạ thấp Chúa. “Đấng xoá bỏ tội trần gian”, lịch sử cứu độ loài người bắt đầu khi hai ông bà nguyên tổ phạm tội. Trong Cựu Ước khi nói đến Đấng Mêsia, dân Ít-ra-en liên tưởng đến một vị lãnh đạo đứng đầu cuộc giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của ngoại bang, và thiết lập một vương triều bền vững. Nhưng Đấng Cứu Thế giáng trần không phải để lãnh đạo một cuộc giải phóng vật chất, nhưng là cuộc giải phóng toàn nhân loại khỏi sự thống trị của tội lỗi. Đấng cứu tinh ấy chính là Đức Giêsu mà ông Gioan đã làm chứng : tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người, và lời chứng này phù hợp với lời của Đấng đã sai thánh Gioan : “ngươi thấy thần Khí ngự trên ai thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. “Đấng xoá bỏ tội trần gian” : Đây là sứ mệnh của Đức Giêsu khi Ngài giáng thế và được Gioan chứng thực. Lời chứng của Gioan cũng là lời cảnh tỉnh cho thời đại hôm nay. Ngày nay, trước sự phát triển của nhiều ngành khoa học cũng như kinh tế, con người dường như đặt trọng tâm của đời mình vào của cải vật chất. Tiền của là thước đo giá trị. Vật chất là cứu cánh của con người. Nhưng trên thế giới ngày nay, con người dường như ngày càng đánh mất ý nghĩa của cuộc sống. Chiến tranh, khủng bố, người bóc lột người,… làm cho nhân loại đang bị vong thân theo thời gian. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Xưa thánh Gioan đã giới thiệu Chúa là Đấng xoá bỏ tội trần gian cho mọi người. Nhìn lại cuộc sống bản thân, chúng con đã giới thiệu Chúa cho anh chị em mình chưa ? chúng con đã giới thiệu Chúa như thế nào ? Là Đấng xoá tội và sống thân thiện mọi người hay chỉ là một vị thần xa vời, chỉ biết răn đe và trừng phạt. Nguyện xin Chúa biến đổi lòng chúng con và làm cho chúng con “trở thành ánh sáng cho muôn dân, để mang ơn cứu độ của Ngài đến tận cùng trái đất”. Amen.
Ngón
Tay Kỳ Diệu Ngày xưa, trong cuộc đàm đạo với Dighanakha, Ðức Phật nói : “Giáo pháp của tôi là một phương tiện đi vào thực tại chứ không phải là để miêu tả thực tại, cũng như ngón tay chỉ lên mặt trăng không phải là mặt trăng. Người khôn khéo phải nương vào ngón tay để thấy được mặt trăng. Nếu cố chấp vào ngón tay, nếu cho ngón tay là mặt trăng thì sẽ không có cơ hội nào thấy được mặt trăng cả.” (1) Còn hình ảnh nào diễn tả con đường tìm chân lý tuyệt vời hơn ?! Trên bầu trời, mặt trăng vẫn còn đó. Nhưng có lẽ ngày nay thiếu một ngón tay chỉ mặt trăng. Phải cấp thiết tìm ra ngón tay chỉ mặt trăng. Nhưng tìm đâu bây giờ ? May thay, trong Tân Ước, một ngón tay kỳ diệu đã chỉ cho nhân loại không phải thấy mặt trăng, nhưng Mặt Trời Công Chính. Ngón tay đó là ông Gioan Tẩy giả. Mặt Trời Công Chính là Chúa Giêsu Kitô. Nương theo ngón tay đó, chắc chắn chúng ta sẽ thấy Mặt Trời Công Chính đang chiếu sáng, dù mây mù bao phủ trái đất. NGÓN TAY GIOAN Một con người kỳ lạ như Gioan không dễ kiếm thấy trên trần gian. Ông có một lối sống khác hẳn mọi người. Lời chứng của ông vượt xa các ngôn sứ trong Cựu ước. Không phải chỉ có lời chứng, nhưng cả phép rửa, ông cũng nhắm ‘mạc khải’ về Chúa Giêsu. Quả thực, chính ông quả quyết : “Tôi đến làm phép rửa trong nước, để Người được tỏ ra cho dân Israel.”(Ga 1:31) Ðể củng cố lời chứng của mình, ông còn cho biết chính mắt ông đã chứng kiến một cảnh tượng khác thường nơi con người Ðức Giêsu : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’ Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn."(Ga 1:32-34) Như thế, trên đường tìm đến sự thật, ông Gioan đã được Thiên Chúa củng cố và dẫn dắt để có thể nhận diện Chúa Giêsu và giới thiệu cho mọi người. Riêng cá nhân ông đã phải chuẩn bị rất nhiều. Sau bao nhiêu năm tu luyện trong hoang địa, ông đã có sẵn một tâm hồn khiêm nhường để đón nhận sự thật. Bởi đó, Thiên Chúa đã không vẽ đường chỉ lối tường tận cho ông. Có ngôn sứ nào được vinh dự lớn lao đến thế?! Nếu không có khiêm tốn và chân thành, chắc chắn Gioan đã không thể mở rộng tâm hồn đón nhận sự thật. Thời đó ông đang nổi tiếng khắp nơi. Bao nhiêu vinh dự và lợi lộc có thể dễ dàng đến với ông. Mọi người hâm mộ đến nỗi tưởng ông là vị Thiên Sai. Nhưng ông cương quyết khước từ. Ông chỉ nhằm một mục đích: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.”(Ga 3:30) Ai có thể từ bỏ như ông Gioan? Ông biết mình chỉ là ngón tay nhỏ bé trước một mặt trời vô cùng lớn lao là Chúa Giêsu Kitô. Nhưng nếu không có ngón tay nhỏ bé đó, làm sao nhân loại thấy được vừng trăng hay mặt trời? Chúa Giêsu quả quyết với người Do thái: “Ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông.” (Mt 21:32) Ông đã chết trên con đường công chính đó. Từ chỗ nhận biết sự thật về con người Chúa Giêsu, ông Gioan còn phóng tầm nhìn tới tương lai của Chúa. Giờ đây, ông không còn là vị tiền hô nữa. Ông mời gọi mọi người nhìn thẳng vào Con Người đang đến : "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.”(Ga 1:29) Từ việc xác định vị trí của Chúa trong Kinh Thánh đến việc báo trước công cuộc cứu độ do Chúa thực hiện, ông Gioan đã làm cho mọi người kinh ngạc. Kinh ngạc không phải do ông có lòng khiêm tốn, nhưng vì ông phóng cái nhìn về một biến cố rất xa, xa tới tận đồi Canvê, nơi Chúa Giêsu sẽ chịu đóng đinh để cứu độ nhân loại. Hơn hẳn con chiên trong Cựu Ước, Con Thiên Chúa đã đích thân đổ máu hy sinh chính mạng sống mình để lập giao ước mới. Như thế, Chúa đã họa lại giao ước giữa Thiên Chúa và con người. Khi giới thiệu Chúa là “Chiên Thiên Chúa xóa bỏ tội trần gian,” ông Gioan nghĩ ngay đến những tội nào, nếu không phải là những tội bất công con người đã phạm đến Thiên Chúa và đồng loại? Tất cả những lời giảng của ông và của Chúa sau này cũng xoay quanh những tội vô cùng nặng nề đó. Cả Chúa và ông đều là nạn nhân của những cơ chế bất công. Nhưng nhờ chết như thế, ông mới hoàn thành sứ mạng làm chứng cho Sự Thật và Chúa mới đem lại sự công chính cho nhân loại. Nếu không nhờ Gioan, chắc chắn nhân loại không thể sớm nhận ra sự thật nơi Chúa Giêsu. Không những ông đã cho thấy sứ mệnh cứu độ, nhưng cả vị thế của Chúa nơi cung lòng Chúa Cha nữa. Ông còn quả quyết : “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn."(Ga 1:34) Những chứng từ của Chúa Cha và Thánh Linh càng củng cố lập trường của ông về Chúa Giêsu và làm cho mọi người tin tưởng vững chắc vào vai trò đang lên của Ðấng đến sau ông, nhưng có trước ông. Như thế, ông đã trở thành con đường cho mọi người đi đến với Chúa Giêsu. CÔNG LÝ : ÐƯỜNG DẪN TỚI CHÂN LÝ Nếu theo ngón tay Gioan, con người sẽ khám phá thấy Chúa Giêsu là nguồn sống. Cuối cùng, chính Chúa Giêsu cũng là con đường dẫn đến Thiên Chúa Cha. Con đường ấy được chính Chúa Cha tuyển chọn và Chúa Thánh Linh bồi đắp. Ai đi trên con đường ấy, chắc chắn sẽ gặp được mạch sống dồi dào và sự thật giải thoát. Có Chúa Giêsu là có cả một nguồn ánh sáng, vì Người đã được Thiên Chúa đặt “làm ánh sáng muôn dân, để đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất.” (Is 49:6) Ơn cứu độ đã đem đến cho con người một phẩm vị mới, phẩm vị làm Con Thiên Chúa. Quả thực, “trong Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và cho chúng ta thấy con đường đi lên và mục tiêu chúng ta phải cố gắng vươn tới.” (2) Nhân phẩm là một quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa, nhưng cũng là một giá trị cao cả con người phải dầy công mới có thể tạo lập. Nhân phẩm đã được chính Thiên Chúa đề cao khi truyền lệnh : “Ngươi phải yêu thương tha nhân như chính mình.”(Mc 12:31) Tình yêu đòi sự kính trọng tương xứng. Không ai giải thích được tại sao nơi trái tim con người có một mối tương liên với Thiên Chúa và một chiều kích mở ra với tha nhân bằng một tình yêu cụ thể. Tình yêu này đòi ta phải đối xử với tha nhân như một tha ngã, dù họ là kẻ thù (x. Mt 5:43-44) (3) Chính Chúa Giêsu đã mở ra chiều hướng mới cho ta nhìn thấy tha nhân như người anh em cần được phục vụ một cách vô điều kiện. Chỉ khi nào hoàn toàn thoát khỏi cái tôi như Chúa Giêsu, ta mới có thể phục vụ tới mức chết cho người mình yêu, bất chấp mình có được yêu hay không. Quả thực, “Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa. Trong Người và nhờ Người, thế giới và con người đạt đến chân lý thực sự và trọn vẹn. Nhờ biến cố Chúa Giêsu Nhập Thể, hiến mình trên thánh giá, từ bỏ đến chết, Thiên Chúa gần gũi vô cùng với con người. Mầu nhiệm ấy cho thấy càng nhìn các thực tại nhân loại dưới ánh sáng kế hoạch Thiên Chúa và sống hiệp thông với Người, họ càng được mạnh sức và giải thoát ngay trong bản tính đặc biệt và tự do của họ.” (4) Ðạt tới tình trạng đó, Kitô hữu sẽ trở thành con đường dẫn tha nhân đến sự thật là Chúa Kitô. Họ có thể thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa nhờ những nỗ lực xây dựng công lý và hòa bình. Kế hoạch đó nhằm “biến cải các tương quan xã hội nhằm đáp ứng các đòi hỏi của Nước Thiên Chúa. Sự biến cải đó không dứt khoát gắn chặt vào những hoàn cảnh cụ thể. Ðúng hơn, đó là công tác Chúa ủy thác cho cộng đoàn Kitô hữu phát triển và thực hiện khi họ phản tỉnh và thực hành nhờ Tin Mừng. Chính Thánh Linh đang hướng dẫn dân Thiên Chúa, cùng lúc thẩm nhập vào vũ trụ. Ðôi khi Thánh Linh cũng gợi mở ra những con đường mới mẻ và thích hợp để họ thực thi trách nhiệm một cách sáng tạo.” (5) Thánh Linh đang tung ra bao nhiêu sáng kiến cho Kitô hữu đáp ứng những nhu cầu khẩn thiết của thời đại. Nhu cầu khẩn thiết của thời đại chính là lòng khát khao công lý. Nỗ lực tranh đấu cho công lý là làm chứng cho Chúa Kitô. Không có công lý, không thể có nhân quyền. Công lý là con đường đưa tới chân lý. Nhưng ngược lại, không có chân lý, cũng không thể nhìn rõ bản chất và đặc chất của công lý. Con đường công lý phải được xây dựng bằng máu và nước mắt. Công lý bị xúc phạm nặng nề nhất khi người ta không coi trọng phẩm chất tâm linh nơi con người. Khi chà đạp quyền tự do tôn giáo, người ta coi thường tất cả mọi thứ nhân quyền. Quyền tự do tôn giáo đã được Bản Hiến Chương LHQ nhìn nhận từ lâu. Nhưng bao giờ con người mới chịu nhìn nhận quyền cơ bản đó của anh em đồng loại? Phải sống trong một thế giới tự do thực sự, chúng ta mới hiểu được tất cả nét cao đẹp của nhân quyền trong lãnh vực tôn giáo. Ngày 16/01/2008 vừa qua, đứng giữa thế giới Hồi giáo vắng bóng tự do tôn giáo, TT Bush thẳng thắn tuyên bố : “ Tổng Thống Thomas Jefferson coi tự do thờ phượng là một trong những hồng ân lớn nhất của nước Mỹ. Theo ông, ở các nước khác, tự do thờ phượng bị xem như không phù hợp với việc cai trị đúng đắn. Thế nhưng kinh nghiệm chúng tôi cho thấy tự do thờ phượng là nguồn trợ lực tuyệt hảo cho chính quyền.” (6) Từ nay, hy vọng ngày 16/01 mỗi năm sẽ là dịp nhắc nhớ mọi người về quyền tự do căn bản và cao quý nhất của con người trên mặt đất. Không hiểu tại sao một quyền cơ bản như thế lại bị chối từ trong các nước đang mong phát triển và ổn định về mọi mặt, nhất là Việt nam ?! Tại sao tôn giáo ở nước này được nhìn nhận như một con đường đưa tới hạnh phúc phú cường, thì ở nước khác lại bị coi là thuốc phiện mê hoặc hay một kỳ đà cản mũi tiến bộ ? Tóm lại, nhờ thánh Gioan Tẩy Giả, nhân loại nhận biết Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa bỏ tội trần gian. Ngón tay Gioan đã chỉ cho chúng ta thấy rõ sức mạnh nơi Chúa. Từ lúc Thánh Linh ngự xuống trên Người, không kẻ thù nào có thể đè bẹp con người nữa. Giáo hội hôm nay đang cố gắng trở thành ngón tay chỉ cho mọi người thấy Mặt Trời Công Chính là Chúa Kitô. Chính khi nỗ lực tranh đấu cho công lý, Giáo Hội đang xây dựng một con đường dẫn đến Chúa là Hòa bình của nhân loại. Lạy Chúa, xin cho GHVN chúng con đủ sức mạnh làm chứng cho Chúa trong giai đoạn khó khăn này. Xin cho chúng con đừng bao giờ hèn nhát đầu hàng cơ chế bất công, kẻo chúng con làm ô danh Chúa. Amen. (đỗ lực 20.01.2007)
1. Thích Nhất Hạnh, Ðường Xưa Mây Trắng, 1999:200. 2. Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 17. 3. ibid., 40. 4. ibid., 45. 5. ibid., 53. 6. http://www.assistnews.net/STORIES/2008/s08010110.htm
Khám
phá Ơn Gọi và kiên trì trong sứ vụ Thưa quý vị, Đoạn sách trích từ Isaia hôm nay là bài thứ hai trong số bốn bài ca về Người Tôi Trung nằm trong các chương 40-55. Bài ca này viết cho Israen trong thời gian bị lưu đày ở Babylon. Từ “ngươi” được sử dụng rất hàm hồ - có lẽ là cố ý. Vì thế, có lẽ một cách để lắng nghe thông điệp là như thể nhắm đến từng người chúng ta. Nhưng từ ‘ngươi” cũng nhằm nói đến nước Israen. Như gia bộc được Chúa chọn, nó đã không trung tín với giao ước của Chúa và đã chịu hậu quả. Quân Babylon đã tràn vào tàn phá đất nước và bắt dân trí thức và nhân tài đem đi đày. Chúng bỏ lại những người yếu nhược, thành bị phá hủy và đất ra ô uế. Nhưng khi con người từ bỏ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa vẫn không bỏ họ. Ngay cả khi dân tỏ ra bất xứng, Thiên Chúa vẫn đến với họ. Dường như không có gì có thể ngăn cản tình yêu mà Thiên Chúa luôn dành cho chúng ta. Thiên Chúa đồng hành với chính cuộc lưu đày do chúng ta tạo nên, phục hồi lại lời hứa trung thành, đưa chúng ta ra khỏi nơi đất khách và chỉ cho đường về nhà – đồng hành với chúng ta trên suốt hành trình. Israen sẽ được đưa về từ cuộc lưu đày, nhưng niềm trăn trở của Thiên Chúa không dừng lại ở đó. Người tôi bộc còn được giao một sứ mệnh, vì Chúa còn có một kế hoạch lớn hơn cho dân, họ sẽ là “ánh sáng cho muôn dân.” Thiên Chúa muốn cứu tất cả mọi người, toàn thể thế giới khỏi cảnh lưu dày và tù tội. Tất cả mọi người chứ không chỉ Israen trong kế hoạch của Thiên Chúa. (Trong thư Thánh Phaolô sẽ công bố, với sự kinh ngạc, về kế hoạch cứu độ Chúa dành cho dân ngoại ). Trong “Lời thề trung thành”, chúng ta mô tả mình như “một đất nước của Thiên Chúa”. Nếu nhìn vận mệnh của thề giới theo lối của Isaia, chúng ta sẽ có trách nhiệm không chỉ với dân tộc mình nhưng còn với toàn thế giới. Mối ưu tư của chúng ta vượt xa những gì tốt đẹp cho riêng chúng ta. Như những người tôi bộc được chọn và nhìn bằng ánh mắt của Chúa, chúng ta phải đến với những người bị giam hãm trong sự tối tăm của nghèo đói, bệnh tật, chán nản, chiến tranh, … dù họ là ai và ở đâu. Như một quốc gia, chúng ta còn lâu mới có thể được xem như người tôi bộc của lòng thương xót và bình an của Chúa trong thế giới. Trong Thánh lễ này chúng ta cầu nguyện cùng Chúa cho đất nước của chúng ta được lắng nghe Lời Chúa và được biến đổi nhờ những gì chúng ta nghe, hầu chúng ta có thể trở nên ánh sáng cho những người đang sống trong bóng tối, trong đất nước của chúng ta cũng như trên toàn thế giới và hành tinh này. Những Kitô hữu tiên khởi chú ý đến Bài Ca Người Tôi Trung của Isaia và họ thấy mình là dân được gọi ra khỏi cảnh nô lệ nhờ Đức Giêsu, người tôi trung của Chúa. Đức Giêsu là dấu chỉ của lòng trắc ẩn và công bình của Thiên Chúa cho tất cả mọi dân tộc – “để ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất”. Chính những Kitô hữu cũng thấy mình trong vai trò ngôn sứ là tôi trung của Thiên Chúa, được kêu gọi và đòi hỏi phải trở nên ánh sáng; là dấu chỉ của Thiên Chúa tới với tất cả những ai đang ngồi trong bất kỳ hình thức tăm tối nào. Chẳng phải chúng ta, những Kitô hữu hiện đại cũng có cùng sứ mệnh đó sao? Trong Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi trở nên “ánh sáng cho muôn dân” để ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta được nhận biết “tới cùng cõi đất”. Được kêu gọi trở nên “ánh sáng cho muôn dân” không chỉ nhấn mạnh hành động truyền giáo của chúng ta như một giáo hội. Nếu chúng ta là ánh sáng thì chúng ta chiếu tỏa bất kỳ khi nào. Như một cộng đoàn đức tin, chúng ta là ai và chúng ta giao tiếp với nhau như thế nào, sẽ là sứ điệp cho dân ngoại, kêu gọi họ ra khỏi bóng tối để bước vào một cộng đoàn tín hữu yêu thương. Nếu chúng ta trung thành với ơn gọi của mình, sống như thánh Phaolô mô tả chúng ta trong bài đọc hôm nay, là những người “được hiến thánh trong Đức Giêsu, được kêu gọi làm dân thánh…,” và chúng ta sẽ trở thành tôi trung như Isaia đã hình dung, một “ánh sáng cho muôn dân”. Bài Tin mừng hôm nay làm một cú đảo lộn. Mãi cho đến bây giờ, chúng ta vẫn xem Gioan như vị tiền hô của Đức Giêsu. Giờ đây, qua sự chứng thực của Gioan Tẩy Giả, bài Tin mừng đã đưa chúng ta từ Gioan đến với Đức Giêsu. Nhưng trước khi chuyển qua Đức Giêsu, chúng ta hãy nán lại với Gioan thêm chút nữa. Hãy tưởng tượng xem Gioan Tẩy Giả đã trải qua những gì trong sứ vụ của ngài. Khởi đầu là việc ông nhận được lời mời gọi đi loan báo một Đấng đến sau ông nhưng cao trọng hơn ông, Đấng mà hôm nay Gioan tuyên bố là “Chiên Thiên Chúa”. Đây chính là Đấng xóa tội trần gian. Trước hết, Gioan không hề biết đấng sắp đến là ai. Ông phải chờ mạc khải thêm, như ông chứng thực hôm nay, “Trước đây, tôi đã không biết người…” Thực ra, hai lần Gioan chân nhận, “tôi đã không biết ngài”. Gioan phải chờ xem Thánh Thần hiện xuống “như chim bồ câu” và ngự lại nơi Đức Giêsu. Khi những sự ấy xảy ra, thì Gioan cuối cùng đã nhận ra đấng ông hằng mong đợi và chuẩn bị cho dân đón nhận – đấng sẽ “làm phép rửa bằng Thánh Thần”. Gioan đã phải dò dẫm làm việc trong một thời gian. Ông nhận được tiếng gọi đầu tiên của mình, và phải chờ đợi. Nhưng không phải là ông ngồi im chờ đợi và không thèm làm gì. Ông đã bận rộn và luôn hành động trong ơn gọi của mình, tin tưởng rằng khi thời gian hoàn tất sứ vụ của mình đến, Thiên Chúa sẽ cho ông biết mình phải làm gì tiếp theo. Gioan nhắc chúng ta nhớ về Ba Vua. Họ nhận được thông điệp khi họ vừa nhìn thấy ánh sao trên trời. Họ đáp lại, ra đi, theo thông điệp của ánh sao. Nhưng cũng giống như Gioan, họ phải dò dẫm đi một hồi trước khi đạt đến đích và nhận ra Đức Giêsu. Khi được rửa tội, tất cả chúng ta đều liên đới trong sứ vụ. Một số trong chúng ta lãnh tác vụ chính thức trong giáo hội, những người khác đáp ứng những nhu cầu xung quanh. Mỗi chúng ta đều nghe thấy lời mời gọi cho sứ vụ. Cuộc đời của chúng ta được ghi dấu bởi sứ vụ này và bởi những người cần đến chúng ta. Nhưng theo nhiều cách khác nhau, giống như Gioan và Ba Vua, chúng ta cũng làm việc trong tăm tố, không chỉ trong cảnh tăm tối của thế giới chúng ta, nhưng cả trong sự tăm tối của ơn gọi của chúng ta. Chúng ta dồn tất cả sức lực vào những gì chúng ta biết mình phải thực hiện, nhưng chúng ta vẫn không ngừng thắc mắc: Tôi còn phải tiếp tục sứ vụ này bao lâu nữa? Sứ vụ này có thích hợp với khả năng của tôi hay không? Tại sao những gì tôi thực hiện trong sứ vụ của mình lại không được biết đến cách chính thức hơn? Tôi nghĩ về điều này sau bao năm thi hành sứ vụ tôi có lẽ đã va chạm hơn. Nhìn lại phía sau, liệu tôi có nhận được ơn gọi hay không, hay đó chỉ là sự tưởng tượng của tôi, một sự hão huyền? Tôi cho rằng những câu hỏi này chẳng xa lạ gì với Tẩy Giả. Ông thực sự rất nhạy bén về việc được kêu gọi. Nhưng rồi, ông phải làm việc cho mãi đến khi nhận được dấu chỉ tiếp theo; dấu chỉ chỉ ra thân phận Đức Giêsu. Như Ba Vua và như một số trong chúng ta, ông lên đường mà không hề biết kết quả chung cuộc của công việc mình làm. Nhưng ông chắc rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ rời bỏ ông, nhưng luôn ở đó chờ ông, vào lúc thích hợp, để mặc khải bước tiếp theo cho ông. Có một kết cục đang chờ đợi chúng ta, khi mà chúng ta thấy Thiên Chúa diện đối diện và sẽ không còn tối tăm nào nữa. Với điều này, chúng ta đặt tất cả niềm hy vọng. Cho đến lúc đó, chúng ta tiếp tục sứ vụ của mình nhân danh Chúa. Chúng ta vẫn trung thành với cộng đoàn đức tin của mình, đặc biệt là khi chúng ta cùng quy tụ nhau để cử hành Thánh Thể. Chúng ta cũng tìm kiếm Đức Chúa trong những lần cầu nguyện thường xuyên của mình. Nếu như chúng ta thực hiện những thay đổi đáng kể, như việc Ba Vua khăn gói lên đường bắt đầu tìm kiếm, hoặc như sự hoàn thành sứ vụ của Gioan, chúng ta sẻ cần đến sự hướng dẫn trong sứ vụ của mình. Rồi, chúng ta sẽ để mình chăm chú lắng nghe hơn nữa trong thinh lặng cầu nguyện; đọc có suy gẫm và thậm chí tìm kiếm sự tư vấn của những người khôn ngoan để giúp chúng ta nhận ra lời mời gọi của Chúa trong cuộc đời chúng ta. Tôi biết ơn những ai giúp tôi biết nhận ra giây phút quan trọng và biến đổi trong cuộc đời tôi. Tri ân những ai đã ở đó và giúp tôi nói lên rằng: “Tôi thấy Thánh Thần tựa chim bồ câu từ trời ngự xuống…” Ai là những người như thế đối với quý vị ? Hãy cùng nhau tạ ơn. Ga 1,6-8.19-28 Tìm hiểu Nhân vật chính của đoạn Tin Mừng (Ga 1,6-8.19-28) là Gioan Tẩy Giả, đoạn văn nói về vai trò và sứ vụ của ông trước khi Đức Giêsu xuất hiện rao giảng công khai. Nội dung đoạn văn trích một phần (1,6-8) của “lời tựa thần học” (1,1-18) và một phần (1,19-28) của “lời tựa lịch sử” (1,19-51). Hai lời tựa này mở đầu sách Tin Mừng thứ tư. Lời tựa thần học nói về nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu; lời tựa lịch sử nói về việc Đức Giêsu xuất hiện khai mạc sứ vụ công khai qua lời chứng và lời giới thiệu của Gioan Tẩy Giả. Đoạn Tin Mừng thoáng cho thấy nội dung và cách hành văn trong sách Tin Mừng thứ tư, cũng như cho biết vài ám chỉ lịch sử về sự xuất hiện của Đức Giêsu. Sách Tin Mừng thứ tư mở đầu bằng lời chứng của Gioan và kết thúc bằng lời chứng của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến (21,24). Xin chia sẻ vài gợi ý về vai trò và vị trí của Đức Giêsu, về việc làm chứng và giới thiệu Đức Giêsu cho mọi người qua nhân vật Gioan Tẩy Giả. Nội dung bài tìm hiểu ngắn gồm năm mục:
1.
Làm chứng
về
ánh sáng 1. Làm chứng về ánh sángPhần đầu đoạn Tin Mừng (1,6-8) nói đến vai trò của Gioan, ông không đến tự mình nhưng ông được Thiên Chúa sai đến và nhiệm vụ của ông là làm chứng về ánh sáng. Bản văn vừa lặp lại vừa khẳng định bằng câu phủ định: “Ông ấy không phải là ánh sáng, nhưng để làm chứng về ánh sáng” (1,8). Có thể người ta đã lầm tưởng Gioan là ánh sáng nên cần làm rõ bằng sự phủ định. Gioan có thể là gì đó, nhưng điều chắc chắn là ông không phải là ánh sáng. Trong phần lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18), những câu trước (1,1-5) và sau (1,9-11) phần nói về Gioan (1,6-8) cho biết ánh sáng mà Gioan làm chứng là ai. Trước khi nói đến vai trò của Gioan, lời tựa viết: “Ở nơi Người [Lời, Logos] là sự sống, và sự sống là ánh sáng của loài người, và ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không lấn át được ánh sáng” (1,4-5). Những câu 1,9-11 nói tiếp về Lời (Logos) như sau: “Người là ánh sáng thật, ánh sáng chiếu soi mọi người, đến trong thế gian. Người ở trong thế gian, thế gian được tạo thành nhờ Người và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, và những kẻ thuộc về Người đã không đón nhận Người” (1,9-11). Như thế, lời chứng của Gioan đặt trong bối cảnh xung đột giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa “đón nhận” và “không đón nhận”, giữa “nhận biết” và “không nhận biết” ánh sáng. Ánh sáng đó chính là Lời Nhập Thể (1,14) mà những câu đầu tiên của sách Tin Mừng (1,1-4) đã khẳng định mạnh mẽ nguồn gốc thần linh của Lời: “Lời có lúc khởi đầu, và Lời ở với Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa. Người ở với Thiên Chúa lúc khởi đầu. Nhờ Người, mọi sự được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng của loài người” (1,1-4). Sự hiện hữu, vị trí và vai trò của Lời Nhập Thể được giới thiệu như thế thì làm sao có thể lầm lẫn với Gioan Tẩy Giả được? Thực ra, trên bình diện lịch sử, người ta có thể lầm tưởng Gioan là Đấng Mê-si-a vì Gioan xuất hiện trước Đức Giêsu và đã gây được tiếng vang đáng kể. Còn những gì nói về Lời Nhập Thể là khẳng định niềm tin của cộng đoàn. Vì thế, cần phải làm rõ vai trò của Gioan Tẩy Giả và vai trò của Đức Giêsu là “người đến sau”. 2. Lịch sử và thần học về Đức GiêsuPhần thứ hai của đoạn Tin Mừng (1,19-28) cũng nói về những ý tưởng trong phần thứ nhất (1,6-8) nhưng cụ thể hơn qua cuộc đối thoại giữa Gioan và giới lãnh đạo Do Thái, gồm các tư tế và các Lê-vi (1,19), họ là những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu (1,24). Đây là lúc Gioan thi hành sứ vụ làm chứng của ông. Chúng ta gặp lại kiểu hành văn phủ định trước đó ở 1,8. Trước khi giới thiệu Đức Giêsu, Gioan làm chứng bằng cách nói “không” về mình. Ông khẳng định mình “không phải là Đấng Ki-tô” (1,20), “không phải là Ê-li-a” (1,21a), “không phải là vị ngôn sứ” (1,21b). Trả lời bằng phủ định vừa cho phép loại trừ sự lầm lẫn, vừa chuẩn bị để giới thiệu ai đó theo nguyên tắc mà Gioan đã nói với môn đệ của mình: “Đấng ấy phải lớn lên, còn thầy phải suy giảm” (3,30). Qua bản văn Tin Mừng thứ tư, có thể phác họa sự xuất hiện của Đức Giêsu trong lịch sử như sau: Lúc đầu, Gioan xuất hiện trước Đức Giêsu và được nhiều người biết đến, đã có người nghĩ rằng Gioan là Đấng Ki-tô mà dân chúng mong đợi. Vì thế, cần làm rõ qua cách nói phủ định để tránh hiểu lầm trước khi giới thiệu Đức Giêsu. Gioan khẳng định: “Chính tôi làm phép rửa trong nước. Người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết, Người đến sau tôi và chính tôi không xứng đáng cởi quai dép của Người” (1,26-27). Lời nói và việc làm của Gioan trong Tin Mừng thứ tư có ba gợi ý lịch sử: 1) “Người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết” ám chỉ rằng vào thời điểm ấy, người ta biết Gioan Tẩy Giả hơn là biết Đức Giêsu, vì Đức Giêsu chưa xuất hiện công khai. 2) Trước khi bước vào sứ vụ công khai, Đức Giêsu có liên hệ với nhóm Gioan Tẩy Giả, vì Gioan giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng, và Gioan giới thiệu môn đệ của mình cho Đức Giêsu (1,35-37). 3) Kiểu nói: “người đến sau tôi” hay “người đi sau tôi” (1,15.30) muốn nói người ấy là môn đệ, bởi vì đi sau người nào là môn đệ của người ấy. Có giả thuyết cho rằng trước khi bước vào hoạt động công khai, Đức Giêsu là môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Giả thuyết này dựa vào lời Gioan nói về Đức Giêsu như là “người đến sau Gioan” hay “người đi sau Gioan”. Ý tưởng này được Gioan Tẩy Giả lặp lại hai lần ở 1,15 và 1,30. Tuy nhiên khi Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai, Gioan khẳng định sự đảo lộn nền tảng về vị trí giữa ông và Đức Giêsu. Gioan nói về Đức Giêsu như sau: “Người đến sau tôi, nhưng vượt trước tôi, vì Người có trước tôi” (1,15.30). Câu này có ý nghĩa thần học quan trọng về vị trí và nguồn gốc của Đức Giêsu so với Gioan Tẩy Giả. Về lịch sử, Đức Giêsu là “Người đi sau”, nhưng đã “vượt lên đi trước” nghĩa là trở thành vị Thầy. Đối với Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu trở thành Thầy của ông vì Đức Giêsu đã “vượt trước ông”. Điểm thần học quan trọng hơn được Gioan nói đến hai lần: “Người có trước tôi (prôtos mou en)” (1,15.30). “Có trước” trong câu này dùng động từ eimi (là, có, hiện hữu). Vì thế, Gioan khẳng định Đức Giêsu hiện hữu trước ông. Trên bình diện lịch sử, Gioan Tẩy Giả sinh ra trước Đức Giêsu, còn trên bình diện thần học, Đức Giêsu hiện hữu trước Gioan Tẩy Giả vì “Lời có lúc khởi đầu” (1,1a). Để cụ thể hoá sự trổi vượt ấy, Gioan cho rằng mình “không xứng đáng để cởi quai dép” của Đức Giêsu (1,27). Ý tưởng về mối liên hệ giữa Đức Giêsu và nhóm của Gioan Tẩy Giả phù hợp với lịch sử. Thực vậy, theo Tin Mừng thứ tư, hai môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu thuộc nhóm môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Người thuật chuyện kể về hai môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu: “Hôm sau, Gioan lại đứng với hai người trong các môn đệ của ông ấy. Và chăm chú nhìn Đức Giêsu đang đi qua, ông ấy nói: ‘Đây là Chiên của Thiên Chúa.’ Hai môn đệ của ông ấy nghe nói thế, họ đi theo Đức Giêsu” (1,35-37). Đồng thời Gioan Tẩy Giả khẳng định mạnh mẽ căn tính và nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu phù hợp với thần học về Lời Nhập Thể trong lời tựa sách Tin Mừng. Như thế, qua nhân vật Gioan Tẩy giả, Tin Mừng thứ tư vừa đề cao tính lịch sử của biến cố Đức Giêsu xuất hiện, vừa khẳng định mạnh mẽ thần học về Lời Nhập Thể. 3. Ánh sáng và bóng tốiPhần làm chứng và giới thiệu Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng 1,6-8.19-28 còn đặt trong bầu khí xung đột với giới lãnh đạo Do-thái – qua những lời chất vấn – để biết Gioan là ai. Chính họ cũng sẽ chất vấn Đức Giêsu trong suốt Tin Mừng để biết: Người là ai, từ đâu đến, đã làm gì và lấy quyền ở đâu để rao giảng. Chất vấn và tranh luận là kiểu hành văn của Tin Mừng thứ tư, vì Tin Mừng được trình bày như một vụ kiện lớn giữa Thiên Chúa và con người. Thực vậy, nếu như Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi ban Con Một (3,16) thì người ta lại yêu mến bóng tối hơn ánh sáng và ghét ánh sáng (3,19-20). Đó là vụ kiện giữa “những người không đón nhận ánh sáng” và “những người đón nhận ánh sáng” (1,10-13). Vụ kiện giữa “ánh sáng” và “bóng tối” này vẫn còn tiếp diễn trong cộng đoàn đón nhận Tin Mừng thứ tư và vẫn còn hiện thực qua mọi thời đại. 4. Lời chứng về Đức Giêsu, lời chứng của Đức GiêsuTrong bối cảnh trên, việc làm chứng có tầm quan trọng đặc biệt. Có thể nói toàn bộ Tin Mừng thứ tư là một chuỗi các lời chứng về Đức Giêsu và lời chứng của Đức Giêsu. 1) “Lời chứng về Đức Giêsu” vì tất cả các lời chứng của Chúa Cha, của Gioan Tẩy Giả, của Kinh Thánh.v.v… (5,31-47) đều làm chứng cho Đức Giêsu. 2) Nội dung sách Tin Mừng là “lời chứng của Đức Giêsu” vì Người đến để làm chứng cho sự thật. Cái chết của Người trên thập giá là lời chứng hùng hồn về tình yêu của Người dành cho các môn đệ (13,1; 15,13) và là lời chứng về tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế gian (3,16). 5. Kết luậnTóm lại, đoạn Tin Mừng trên có một phần (1,6-8) thuộc lời tựa thần học (1,1-18) và một phần (1,19-28) thuộc lời tựa lịch sử (1,19-51) giới thiệu về toàn bộ Tin Mừng thứ tư. Đoạn Tin Mừng Ga 1,6-8.19-28 vừa cho biết Đức Giêsu là ai so với Gioan Tẩy Giả; vừa khai mở sứ vụ công khai của Đức Giêsu; vừa báo trước sự xung đột giữa Đức Giêsu và những kẻ chống đối Người trong Tin Mừng. Ước mong chúng ta cũng biết can đảm làm chứng như Gioan Tẩy Giả, dám nói không về mình để ánh sáng đích thực là Đức Giêsu được tỏ lộ; dám làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa được bày tỏ nơi Đức Giêsu; dám làm chứng cho tình yêu cao cả ấy giữa cộng đoàn và cho thế giới hôm nay. Lm. Jude Siciliano, op. Hãy trở nên “ánh sáng cho muôn dân” Is 49,3.5-6; Tv 40; 1Cr 1,1-3; Ga 1,29-34 Kính thưa quý vị, Hôm nay, chúng ta nghe bài thứ hai trong bốn “Bài Ca Người Tôi Tớ” từ sách ngôn sứ Isaia. Trong bài ca này, người tôi tớ được kêu gọi để trở thành “ánh sáng muôn dân”. Bài đọc hôm nay sẽ xuất hiện lại vào ngày Thứ Ba Tuần Thánh, khi đó chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về sứ vụ cụ thể mà người tôi tớ đảm nhiệm. Chúng ta sẽ biết được việc quang lâm của Đức Giêsu hoàn trọn lời hứa như thế nào mà vị ngôn sứ đã tiên báo. Nhưng giờ đây, xin mời quý vị hãy dừng lại suy xét một chút: chúng ta không muốn dành bài đọc này chỉ để áp dụng cho mục đích Kitô giáo, mà quên đi vai trò cội nguồn lịch sử và yếu tố văn chương. Như ngôn sứ Giêrêmia, người tôi tớ ý thức về ơn gọi của mình từ lòng mẹ. Sứ vụ của người tôi tớ rất cao quí, đó là “Đem nhà Jacóp về cho Thiên Chúa và qui tụ dân Israel chung quanh Người”. Và còn cao quý hơn thế nữa, người tôi tớ phải vượt ra khỏi biên giới của lãnh thổ mình để hoàn thành sứ vụ trên khắp thế giới. Nhưng làm sao để thế giới biết đến Thiên Chúa? Thưa rằng, qua ơn cứu độ ngờ vực của dân Israel. Bởi lẽ, Thiên Chúa đã phán: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất”. Qua sự khôi phục nhà Israel từ những đổ nát của cuộc lưu đày, cảnh nô lệ và sự tàn phá, thế giới sẽ nhận biết Thiên Chúa của Israel. Đất nước bị đánh bại sẽ được khôi phục, không còn bị sức mạnh người phàm thống trị, nhưng chính quyền năng của Thiên Chúa thống trị. Muôn dân nước sẽ phải biết rằng chỉ Thiên Chúa của Israel mới có thể thực hiện kỳ công này. Người tôi tớ bí ẩn này có thể là chính ngôn sứ Isaia, hoặc thậm chí toàn bộ dân Israel. Khi nghe bài đọc hôm nay, chúng ta cũng có thể nghĩ rằng người tôi tớ bí ẩn đó là chính chúng ta hoặc là cả Giáo hội. Vì chính lúc này Thiên Chúa đang ngỏ lời với chúng ta. Nhưng, Thiên Chúa có dự định gì cho con người không? Thưa rằng, Thiên Chúa muốn giải thoát mọi người, đó là khi chúng ta được thoát khỏi tội lỗi và sự dữ. Lúc bấy giờ, những tôi tớ như chúng ta phải sống đúng với thân phận mình như những nô lệ được tư do. Bằng lời nói và việc làm, ơn gọi của chúng ta là phải dẫn đưa những người đang bị giam cầm về mặt thể lý, tinh thần và tâm lý đến với sự tự do. Chẳng phải người ta thường bắt đầu câu nói bằng từ “Đây là” đó sao? Nếu muốn chúng ta chú ý đến điều gì, hoặc chú ý vào ai đó, thì họ chỉ tay và nói: “Xem kìa”. Nhưng khi muốn hướng sự chú ý của người ta tới Đức Giêsu, ông Gioan Tẩy Giả bắt đầu rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. Ngay trước lúc hiệp lễ, chúng ta cũng nói tương tự như vậy khi linh mục đưa mình và máu thánh lên và nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa...” Sao lại nói “Đây là?” Ai nói như thế? Có lẽ ông Gioan hiểu về Đức Giêsu nhiều hơn là chứng kiến tận mắt qua những cuộc gặp gỡ đầu tiên; ông hiểu nhiều hơn về một Đức Giêsu, Đấng như một con người đang tiến đến. Dường như ông Gioan không chỉ nhận ra Đấng đang đến, mà còn thấy cả tầm quan trọng của Vị đó. Vì thế, ông Gioan nhận ra và công bố cho chúng ta rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa...” Những người hy vọng Đấng Mêsia thì không mong chờ một con chiên nào. Họ mong muốn một vị vua. Họ không mong muốn một biểu hiện hay dấu vết nào của sự yếu đuối; họ muốn có một đấng cai trị đầy quyền năng để giải thoát họ khỏi gót chân của những kẻ áp bức. Họ muốn lễ Vượt Qua nào khác để thoát khỏi ách nô lệ; chứ không phải con chiên Vượt Qua chịu hiến tế. Nhưng ông Gioan lại chỉ cho họ một điều gì đó khác đối với họ: “Này đây, các ngươi muốn bàn tay của Thiên Chúa; nhưng đây là Chiên Thiên Chúa. Đây, các ngươi muốn một vị tướng lĩnh đạo binh đến để đập tan quân thù; nhưng đây là Con Chiên thể hiện quyền năng Thiên Chúa trong sự yếu đuối. Đây, các ngươi muốn chiến thắng; nhưng trước hết sẽ là sự chiến bại, vì Chiên Thiên Chúa sẽ chịu hiến tế”. Có thể chúng ta không đặt kinh nghiệm niềm tin của mình như cách ông Gioan thực hiện là “Này đây!” Nhưng chúng ta có thể nói: “Kinh ngạc thay!” Cách người ta kêu lên ở bữa tiệc thật bất ngờ - trong trường hợp này, bữa tiệc bất ngờ được Thiên Chúa bày ra. Chúng ta nghĩ rằng mình biết về Thiên Chúa. Chúng ta chờ đợi lối vào của Thiên Chúa như vụ nổ lớn (big-bang) trong cuộc đời. Thay vào đó, Thiên Chúa đến trong cách thức bất bạo động, như một con chiên hiền lành. Nhưng Con Chiên sẽ chiếm được tâm hồn chúng ta và chiếm được cả thế giới mà chúng ta không bao giờ giành được; cũng chẳng có quyền lực mạnh mẽ nào trên trái đất này có thể chiêu mộ được. Thật ngạc nhiên thay! Lời của ông Gioan “Đây là” bắt đầu mở mắt và mở tai cho người khác. Ông Gioan sẽ hướng dẫn các môn đệ của ông đến với Đức Giêsu, và đến lượt mình, họ sẽ loan báo sự hiện hữu của Đức Giêsu cho những người khác nữa. Ông Anrê tìm em mình là ông Simon Phêrô và bảo với ông rằng: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêssia!” (1,41). Trong những ngày này, Giáo hội có rất nhiều cuộc tọa đàm về “Tân Phúc Âm Hóa”. Phúc Âm Hóa không phải là một khái niệm mà những người Công giáo chúng ta luôn quả quyết như phần căn tính và hoạt động của người Kitô hữu. Như ông Gioan và Anrê, chúng ta được mời gọi để đem tha nhân đến với Đức Kitô. Mỗi thành viên trong Giáo hội đều có nhiệm vụ này – không chỉ là trách nhiệm của các “thừa tác viên chính thức”. Cách này hay cách khác, như ông Gioan, chúng ta cũng phải loan báo: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Nếu có lần nào đó nỗ lực, thì chúng ta cũng cảm thấy lúng túng khi cố gắng kể cho người khác nghe về câu chuyện đức tin của mình. Nhưng phép rửa đã nối kết chúng ta với Đức Giêsu, và phép rửa trở thành mối dây liên kết giữa các môn đệ của Người, đó là những người tin rằng Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, đồng thời tuyên xưng cái chết và sự phục sinh của Người là nguồn sống mới cho mọi dân nước. Vì thế, theo bài đọc trích sách ngôn sứ Isaia hôm nay, chúng ta phải giống như người tôi tớ Thiên Chúa là trở nên “Ánh sáng cho muôn dân”. Hoặc, nói theo kiểu cá biệt rằng, chúng ta phải trở thành “những nhà truyền giáo”. Ông Gioan hứa rằng Đức Giêsu sẽ làm phép rửa bằng Thánh Thần. Và Người đã làm như vậy, vì chúng ta đã lãnh nhận Thánh Thần khi được rửa tội. Ắt hẳn Thánh Thần sẽ giúp chúng ta vượt qua sự nhát đảm và do dự để nói cho người khác biết về Đức Giêsu là ai đối với mình. Chắc rằng chúng ta sẽ không làm được điều đó từ nơi bục giảng trong quãng trường thành phố. Có thể Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta chia sẻ trong nhiều hình thức riêng tư hơn sao cho chúng ta đạt đến sự tự do, bình an, niềm vui và hy vọng qua niềm tin tưởng vào Đức Kitô.
| |