![]() | |
|
CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA - A
Is
42:1-4,6-7; Cv 10:34-38 ; Mt 3, 13-17 An Phong op : Cùng Với Ðức Giêsu bước vào cuộc đời G. Nguyễn Cao Luật op : Người Con Của Thiên Chúa Fr Jude Siciliano, op : Nhiệm Vụ Người Tôi Trung Thiên Chúa Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Con Thiên Chúa Bernard Huỳnh Hữu Phúc op : “Hãy Sống Ơn Gọi Là Con Cái Chúa” Đỗ Lực op : Khi Thánh Giá Xuống Đường Fr Jude Siciliano, op : Bí tích rửa tội, khởi đầu hành trình rao giảng Fr. Jude Siciliano, op: Phép Rửa của Đức Giêsu được công khai
Cùng
Với Ðức Giêsu bước vào cuộc đời Hôm nay lễ Chúa Giêsu lãnh phép Rửa của Gioan tẩy Giả trong dòng nước sông Giođan. Vì muốn liên đới với các tội nhân, muốn hòa đồng với mọi người chung quanh, Ðức Giêsu đã khiêm tốn bước xuống dòng Giođan lãnh phép Rửa. Phép Rửa của Gioan là phép Rửa chuẩn bị cho mọi người bước vào thời đại Cứu thế. Ðức Giêsu chính là người mở ra thời đại cứu thế đó, cũng chính là Ðấng Cứu thế đến trong trần gian, cũng chính là Người Tôi Tớ của Giavê đã được ngôn sứ Isaia loan báo từ 8 thế kỷ trước. Lời Ðức Chúa Cha "Ðây là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta" có cùng ý nghĩa như lời Thiên Chúa nói với Người Tôi Tớ đau khổ trong sách ngôn sứ Isaia "Ðây là tôi tớ của Ta, người Ta chọn lựa, nơi Người, tâm hồn Ta được vui thỏa...". Và Thánh Thần ngự xuống trên Người như một bồ câu, tức là Thánh Thần ngự xuống trên Ðức Giêsu là Ðấng siêu việt, ngự xuống như chim bồ câu ngự xuống (chứ không phải Thánh Thần là như chim bồ câu). Ðây thực là một cuộc Thần hiện, có Cha - Con và Thánh Thần. Qua cuộc thần hiện này, Thiên Chúa đến qua Ðức Giêsu như lời nói với nhân loại và từ nay trở đi, Nước Trời đã có ngay nơi đây, nơi chính con người Ðức Giêsu. Thời đại Cứu thế là thời đại Thiên Chúa đổ tràn hồng ân, tha thứ và cứu độ con người. Ðức Giêsu Ðấng Cứu thế đã đến chia sẻ cuộc sống của con người, chứ không phải để phán xử "từ trên cao". Người khước từ thống trị, bạo lực, áp đặt. Người cứu độ con người bằng cách hạ mình đến tận cùng cho đến chết trên thập giá. Bước xuống dòng sông Giođan là Người bước vào lòng đời, chia sẻ thân phận con người. Bước xuống dòng sông Giođan là Người đảm nhận cuộc đời này, đóng một vai trò khiêm hạ, nhưng cuối cùng lại trở thành vai chính trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Bước xuống dòng sông Giođan là Người muốn thánh hóa dòng sông cuộc đời này, nơi đó chất chứa biết bao hy vọng, niềm vui, nỗi buồn và cả tội lỗi nữa. Cùng với Ðức Giêsu, Ðấng liên đới với nhân loại nghèo khó và yếu đuối, người kitô hữu được mời gọi để sống cuộc đời liên đới. Mọi ước muốn thống trị, đè bẹp, áp đảo, cho mình là quan trọng đều trở thành không phù hợp. Cùng với Ðức Giêsu, nhờ bí tích Rửa tội, người kitô hữu trở thành những người con yêu của Thiên Chúa, được Thiên Chúa Cha chuẩn nhận, được đón nhận Chúa Thánh Thần. Cùng với Ðức Giêsu bước vào dòng sông cuộc đời, người kitô hữu được mời gọi xây dựng các giá trị trần thế, kiến tạo một thế giới yêu thương, nơi Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau. Lạy Chúa, Chúng con đã được thanh tẩy trong Thánh Thần của Người, chúng con đã lãnh nhận sứ mạng yêu thương. Xin sai chúng con đến khắp nơi gieo rắc tình yêu thương. Xin giúp chúng con đừng quấn mình trong sợ hãi hay hờ hững. Xin đặt trên môi miệng chúng con một ngôn ngữ mới, ngôn ngữ tình yêu, kiến tạo và hy vọng, để con người hôm nay nghe được sứ điệp cứu độ của Chúa.
Người Con Của Thiên
Chúa Bây giờ cứ thế đã … Khi "xuất hiện" bên bờ sông Gio-đan, theo cái nhìn bên ngoài, Ðức Giêsu không có vẻ gì là người đặc biệt. Người hòa mình vào đoàn dân, vào giữa làn sóng người tuốn đến xin Gioan làm phép rửa. Người là một người giữa muôn người. Lúc ấy, tiếng tăm của Gioan lừng lẫy khắp nơi. Lời giảng của ông làm rung động lòng người. Thiên hạ tìm đến với ông để xin thanh tẩy, kể cả hàng đầu mục Do-thái, cả những người thu thuế và binh lính (x. Lc 3,10-14). Ðó là cả một dòng người đi tìm ơn cứu độ, là dòng lịch sử nhân loại chờ mong được cứu thoát. Và Ðức Giêsu đã đi vào trong dòng người đó, thể hiện tính cách "ở cùng" đến tận căn bản : tham dự trọn vẹn vào cuộc sống con người để rổi từ đó đưa con ngươi đi lên. Mặc dầu đi giữa đoàn người sám hối, nhưng Ðức Giêsu không hề có tội để được tha thứ. Người muốn đồng hóa mình với nhân loại đến nỗi đã tự nhận mình là "Con Người". Chính vì vậy Người đã hòa mình vào dòng người đến xin Gioan làm phép rửa. Xưa kia, lúc lên 12 tuổi, Người đã nói đến bỗn phận của Người là thi hành ý muốn của Chúa Cha. Lúc này, Người cho thấy thánh ý Chúa Cha là gì : loài người được cứu độ. Tại Ðền thờ, Người đã nhấn mạnh đến nguổn gốc thiêng liêng của mình, đến lệnh truyền của Chúa Cha. Còn tại sông Gio-đan, Người cho thấy rõ Người "nên một" với nhân loại. Với Ðức Giêsu, lịch sử cứu độ bước sang một khúc quanh mới, khúc quanh có tính cách quyết định. Ðức Giêsu đã hòa mình trong đám nạn nhân của tội lỗi để phục vụ họ. Người đã tự nộp mình trong tay những kẻ tội lỗi và để cho họ tố cáo, mặc dù Người chẳng hề vương tội lỗi. Người cũng đã chịu cắt bì đúng theo Lề Luật, như là người đã bị ô uế bởi tội, và giờ đây, cùng với mọi người, Người đã đến với Gioan... Một sự hòa mình đến tận cùng ! Ðàng khác, theo thánh Mát-thêu, phép rửa Ðức Giêsu lãnh nhận nơi Gioan gợi lại và tóm tắt toàn bộ lịch sử của dân Ít-ra-en, một dân không ngừng vượt qua "bởi nước" (tức là đi xuống tận vực sâu, để rổi từ đó đi lên và được sống - nhờ ân sủng Chúa ban). Như vậy, thánh Mát-thêu có ý nhấn mạnh rằng Ðức Giêsu là người nối tiếp của dân Ít-ra-en, là người làm cho "dân được tuyển chọn" đạt được ý nghĩa cao cả nhất của mình. Trong dòng người đông đảo ấy, Gioan đã nhận ra Ðức Giêsu. Sững sờ và kinh ngạc, ông thưa : "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi" (Mt 3,14). Gioan biết rõ thân phận mình, ông thấy mình bất xứng và đã từ chối làm phép rửa cho Ðức Giêsu, nhưng Người đã trả lời "Bây giờ cứ thế đã...". Bây giờ cứ thế đã... để thánh ý Chúa Cha được chu toàn : Ðức Giêsu nên giống mọi người. Bây giờ cứ thế đã... biến cố hôm nay mới chỉ là khởi đầu cho những điều lớn lao hơn, lạ lùng hơn. Với Gioan, điều xảy ra hôm nay khó có thể chấp nhận, nhưng đó chưa phải là tất cả. Hôm nay mới chỉ là khúc dạo đầu cho một phép rửa khác có năng lực đem lại ơn cứu độ. Một Cuộc Tấn Phong Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, người ta thấy có tất cả những dấu hiệu về việc sáng tạo : + Gioan, người sống trong sa mạc, dấu hiệu về sự đoạn tuyệt. + Nước sông Giođan, từ đó Ðức Giêsu bước lên, như ra khỏi lòng mẹ. + Các tầng trời mở ra. + Thánh Thần dưới hình chim bồ câu. Thực ra, tiếng nói từ trời công bố Ðức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha, vĩnh cửu không phải là nói lên một điều gì mới. Không phải lúc này Chúa Cha mới công nhận Ðức Giêsu là Con. Ðức Giêsu muôn đời vẫn là Con Thiên Chúa. Hôm nay chỉ là lời công bố long trọng về một sự việc vẫn có trong vĩnh cửu, và hôm nay được tỏ hiện trong thời gian cho mọi người được biết: Ðức Giêsu là Ðấng Trung Gian giữa Thiên Chúa, là Ðấng nối kết trời với đất. Hình ảnh Ðức Giêsu chìm trong nước gợi lại việc sáng tạo và lụt hồng thủy; đất chìm trong làn nước; đồng thời hình ảnh Mô-sê và đoàn dân ra khỏi Biển Ðỏ. Như vậy, việc Ðức Giêsu chịu phép rửa tại sông Gio-đan là biến cố kết thúc cuộc đời ẩn dật của Người, và mở ra đời sống công khai. Khi Người bước xuống dòng sông, người ta chỉ biết Người như mọi người khác, là con bà Ma-ri-a. Nhưng khi từ dưới sông bước lên, Người tỏ mình ra - và được công nhận - là Ðấng Vĩnh Cửu, là Con Thiên Chúa. Trong khi trở nên hoàn toàn giống nhân loại, ngoại trừ tội lỗi, Người vẫn là Con Thiên Chúa. Và Thánh Thần đã tấn phong, đã thánh hiến Người, Chúa Cha đã nói rõ Người là Con chí ái. Thực là một cuộc tấn phong, một cuộc xức dầu đặc biệt. Xức dầu để sai đi. Trong cuộc tấn phong long trọng này, Ðức Giêsu vẫn thể hiện tính khiêm tốn. Ở đây, người ta nhớ lại lời ngôn sứ I-sai-a diễn tả về Người Tôi Tớ của Thiên Chúa : "Không kêu la... không bẻ gẫy cây sậy bị giập" (Bài đọc I), và "đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó" (Cv 10,38). Ðức Giêsu được sai đến trần gian không phải để thống trị, nhưng là để hiến mạng sống hầu chuộc lại con người cho Thiên Chúa. Dầu vậy, trong nét khiêm tốn và hiền lành, Ðức Giêsu vẫn cho thấy tính cương quyết. Khiêm tốn nhưng không yếu đuối, hiền lành nhưng không nhu nhược. Người đã vững vàng thi hành trọn vẹn sứ mạng đã được trao phó, dù phải hy sinh cả tính mạng. Nhìn xa hơn, cuộc tấn phong này là biến cố báo trước cuộc tử nạn và phục sinh. Sau này, trong cuộc đời công khai, Ðức Giêsu đã nói đến một thứ phép rửa khác Người phải chịu, tức là cuộc Thương khó, một phép rửa bằng máu (x. Mc 10,38; Lc 12,50). Phép rửa trong nước hôm nay là bước khởi đầu, còn phép rửa trong máu là điểm kết thúc. Do đó, hình ảnh Ðức Giêsu từ dòng sông Gio-đan bước lên cũng báo trước việc Người sẽ bị dìm trong sự chết, được mai táng trong mổ, và sẽ bước ra khỏi đó vào ngày phục sin. Và lời tuyên phong của Chúa Cha cũng sẽ đạt được ý nghĩa trọn vẹn trong mầu nhiệm Phục Sinh. Như thế, cuộc hiển linh hôm nay, tuy có tính cách dịu dàng và long trọng, nhưng chỉ mới là khúc dạo đầu cho một cuộc chiến đấu, mới chỉ là những tuyên bố đầu tiên cho một tương lai dài. Tất cả đều hướng tới mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh. Vinh quang hôm nay hứa hẹn cho vinh quang trọn vẹn của Ngày Phục Sinh. Con Ðường Ði Lên Hôm nay, người Kitô hữu mừng lễ Rửa tội của mình. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, mỗi người đã trở thành Con Thiên Chúa, và được sống với Người, vì đã được dìm trong sự chết và sống lại của Ðức Kitô. Ngày nay, không còn phép rửa của Gioan, nhưng là mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Ðức Kitô. Tuy vậy, như Ðức Giêsu, việc lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy mới chỉ là bước khởi đầu, chứ chưa phải là kết thúc, mỗi người Kitô hữu sẽ cảm nghiệm dần dần về thực tại lớn lao ấy, đồng thời thể hiện nỗ lực sống của mình để đạt tới tầm mức viên mãn như Thiên Chúa mong muốn. Bên bờ giếng rửa tội, cũng một Thần Khí xưa kia xuống trên Ðức Giêsu, đã được ban cho người Kitô hữu, giúp họ sống thân mật với Chúa, và tiến bước trong niềm vui. Nhờ Thần Khí thúc đẩy, họ luôn trở thành những con người mới trong Ðức Kitô, luôn chiến đấu chống lại các nết xấu, và cương quyết chu toàn những cam kết của một người con.
"Con là Con Ta" "Con là Con Ta" Ðó là một hồng ân - một kinh nghiệm phải đón nhận và sống mỗi ngày.
Nhiệm Vụ Người
Tôi Trung Thiên Chúa Thưa quý vị. Nói một cách tổng quát, ba Tin Mừng nhất lãm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tiên tri Isaia. Bài tường thuật Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođanô của thánh Matthêo hôm nay là một thí dụ rõ ràng. Nhưng trước tiên chúng ta tập trung suy tư vào bài đọc thứ nhất. Bài đọc này có tên rất thơ mộng : "Bài ca của người tôi tớ trung tín". Người tôi trung được Thiên Chúa chuẩn nhận và có một sứ mệnh đặc biệt : "Ðây là người tôi trung Ta nâng đỡ, người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng. Thần khí của Ta ngự trên nó. Nó sẽ làm sáng tỏ Công lý trước muôn dân" (42,1). Ðoạn văn này được vang vọng lại trong trình thuật của thánh Matthêo : "Thần khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên người và có tiếng lớn từ trời phán rằng : "Ðây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3,13). Ðây là lần thứ nhất chúng ta gặp người tôi tớ. Trong Isaia tất cả có bốn bài ca như thế này. Vậy người tôi trung đó là ai ? Một vài tác giả nói là một nhân vật nào đó rất đặc biệt. Người khác lại nói là toàn thể Israel xét như một dân tộc. Dù thế nào đi nữa, thì người tôi tớ đó sẽ làm tròn nhiệm vụ Thiên Chúa trao trong dân Do thái : "Trên ngươi Ta sẽ đổ thần khí của Ta xuống. Nó sẽ làm sáng tỏ Công lý trước muôn dân". Từ quan trọng nhất, nổi bật nhất, an ủi nhất là từ "Công lý". Ba lần trong bài đọc hôm nay nhắc đến từ này : "mang lại Công lý, thiết lập Công lý và làm sáng tỏ Công lý". Ðó chắc chắn là nhiệm vụ của người tôi trung Thiên Chúa. Như thế "Công lý" là từ vĩ đại, chủ chốt trong bài đọc hôm nay, và cũng là từ quan trọng bậc nhất trong toàn thể Kinh Thánh. Các tiên tri đều là phát ngôn viên của Thiên Chúa về Công lý. Họ có nhiệm vụ kêu gọi dân chúng hành động trong công lý, sống công lý. Họ là những nhân viên công lý Thiên Chúa sai đến trong dân. Bổn phận họ là rao giảng thánh ý Chúa trong lòng xã hội. Mọi người phải được đối xử ngang bằng nhau trong tình tương thân, tương ái. Ðối tượng cần được công lý che chở hơn hết là những kẻ thấp cổ bé miệng trong xã hội, những kẻ không có đủ tiền trả luật sư hay quan toà, những kẻ đứng góc phòng xử án để nghe "công lý giả hiệu" phán quyết trên mình, không có quyền lên tiếng tự bênh vực. Công lý là đặc tính trung tâm Thiên Chúa muốn trông thấy giữa xã hội loài người, đến nỗi, mọi lời cầu nguyện, mọi nghi lễ tôn giáo mà không có Công lý đều là ghê tởm trước mặt Thiên Chúa : "Lễ lạt của các ngươi Ta chán ghét khinh thường, hội hè của các ngươi Ta chẳng hề thích thú, các ngươi có dâng lễ toàn thiêu, Ta không nhận, bò béo tốt các ngươi Ta chẳng đoái hoài… Ta chỉ muốn lẽ phải như nước tuôn trào, công lý như dòng suối không bao giờ cạn (Am 5, 21-24). Mọi thành phần xã hội nhất là những kẻ thiếu thốn phải được hưởng những quyền lợi căn bản như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành… Hơn nữa các tiên tri còn khơi dạy lòng khao khát "ngày của Thiên Chúa", khi mọi sự đều được làm mới, Công lý như ánh sáng chiếu vào thế giới đen tối vì bất công. Isaia đã đặt nhiệm vụ đó cho người tôi tớ trung tín khi ông viết : "Mở mắt cho người mù, mang ra khỏi ngục các tù nhân còn bị giam giữ, những ai ngồi trong bóng tối sẽ được xem thấy ánh sáng…" Trong ngày Chúa Giêsu xuất hiện tại bờ sông Giođanô, Ngài đã thấy Gioan làm phép rửa cho các tội nhân. Họ đến để xưng thú tội lỗi và nói lên nhu cầu cần Thiên Chúa giải phóng mình khỏi đủ thứ ngục tù. Tội là một thứ ngục tù ghê gớm nhất, một bệnh mù kinh niên, một kiếp nô lệ tinh thần và thể xác. Chúa Giêsu đã nhập bọn với những người này tự nhận mình là thành phần của họ. Dĩ nhiên Người không có tội và chẳng cần tẩy rửa. Có thể có khoảng cách giữa Ngài và những tội nhân khác, nhưng Người đã chọn liên kết với họ, cùng xuống nước với họ và tỏ mình là một tên nô lệ của đế quốc Roma, gánh chung số phận của dân tộc Ngài. Ngài đích thật là người tôi tớ Isaia nói tới sáu trăm năm về trước. Chưa hết, khi Ngài tiến đến để chịu phép rửa bởi Gioan, ông này nhận ra ngay vị cứu tinh nhân loại, hoàn toàn trong trắng, vô tì tích. Ðấng Thánh của Thiên Chúa, chẳng cần hối cải, thì ông đã từ chối thi hành lễ nghi tẩy rửa cho Ngài. Ngài phản đối : "Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính". Giữ trọn đức công chính là sứ mệnh của Ngài kể từ ngày hôm nay. Và phép rửa của Gioan đã được Chúa Giêsu chuẩn nhận. Ông đích thật là tiền hô của Ðấng thiết lập Công lý trước mặt muôn dân. Tuy nhiên, lễ nghi tẩy rửa chỉ là phần nhỏ của trình thuật Matthêo. Cái mà thánh sử muốn nhắm tới là sự hiển linh của Chúa Giêsu. Tiếng vọng từ Trời xác nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Ðấng thần khí ngự xuống để thi hành những sứ vụ nói trên. Tiếng đó phán ra không phải để Ngài nghe, mà chúng ta, toàn thể nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Ai nghe thì được cứu rỗi, ngoài ra bị trầm luân. Bởi lẽ nghe thì được nên người công chính và không nghe thì vẫn còn là tội nhân. Qua phép rửa của Chúa Giêsu bởi tay ông Gioan toàn thể nhân loại đã có thể sống công chính, bởi mỗi người cũng đã lãnh nhận phép rửa và cũng một thần khí đậu trên Chúa Giêsu đã đậu trên mỗi người, và cũng được Thiên Chúa chuẩn nhận là con rất yêu dấu của Ngài. Khi suy gẫm bài Tin Mừng Chúa nhật 4 Mùa Vọng vừa qua, thánh Giuse đã được thiên thần nói cho hay căn cước đích thực của con trẻ mà bạn ngài đang mang thai. Căn cước đó là thần linh ở với loài người "Emmanuel". Câu hỏi là ở thế nào ? từ đàng xa ? Kính nhi viễn chi ? Ðó là cung cách của Thiên Chúa Cựu Ước trên núi Sinai hay của thần Jupiter, Hy lạp trên núi Olympia, mỗi lần hiển hiện là có sấm sét, làm run sợ lòng người. Emmanuel của Ðức Kitô khác hẳn, hiền lành và khiêm nhượng, nhưng không kém phần vĩ đại và thanh khiết - Vĩ đại trong sự khiêm nhượng, thanh khiết trong sự hiền lành. Ngài hoàn toàn mặc lấy thân phận loài người, ngoại trừ tội lỗi. Ngài bước xuống dòng sông Giođanô nhập bọn với những người tự nhận mình là tội nhân, cần lòng thương xót thứ tha của Thiên Chúa. Chắc hẳn, lúc ấy trong đền thờ Giêrusalem có ngàn vạn người đến cầu nguyện, dâng hương, những kẻ xứng đáng hơn để Người đến thăm viếng, nhưng không, Ngài đã lội xuống bùn với các tội nhân, tắm chung cùng dòng nước với họ. Ai có thể từ chối một Thiên Chúa như thế ? Ai có thể làm ngơ giáo lý của Ngài ? Thực sự, Ngài đã làm tròn giấc mơ của Isaia : "Ðấng thiếp lập công lý" bằng lòng ăn năn thống hối, hoán cải cuộc sống. Phép rửa nói lên rằng Ngài không dùng bạo lực tàn nhẫn để ép buộc người ta phải ăn ngay ở lành như thiên hạ xưa nay thường quan niệm và đã từng sử dụng. Ngài chọn sống giữa chúng ta, di động giữa nhân loại để lôi kéo lòng họ về với Thiên Chúa. Ngài trà trộn với những người bị xã hội ruồng bỏ, những tội nhân, những người không thanh sạch, những cùi hủi, nghèo khổ, trả lại nhân phẩm cho họ bằng các cuộc chữa lành để nói lên rằng Thiên Chúa không phải ở xa tít mù khơi trên không trung mà ở trong trái tim mỗi người đúng như tiên tri Isaia đã loan báo : "Nó sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập nó không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét nó cũng chẳng nỡ tắt đi." Ngài bước xuống sông, dìm mình vào nước, nước tẩy rửa các tội nhân để tỏ rõ rằng Thiên Chúa đã bước những bước đi trước, công nhận họ là quan trọng trong chương trình của Ngài, trong công cuộc làm cho mọi sự nên công chính, hay nói như tiên tri Isaia "Làm sáng tỏ công lý." Những người đến với Gioan cảm thấy tự mình, họ chẳng có khả năng làm điều đó. Cho nên họ cần Gioan. Nhưng Gioan chỉ là tiếng kêu, chỉ là kẻ chỉ đường, chính Chúa Giêsu mới là kẻ thi hành sự Công chính trên họ, nghe những khắc khoải của họ, và đổ thần khí mới vào linh hồn họ. Vậy thì thần khí đổ trên Ngài cũng là thần khí chúng ta lãnh nhận khi chịu phép Thánh Tẩy. Thần khí ấy không khi nào rời chúng ta nữa. Ngài có mặt vĩnh viễn trong cuộc đời mọi người để dẫn dắt và thánh hoá linh hồn chúng ta, trừ phi chúng ta cố tình phản bội, đuổi Ngài đi vì không muốn nghe lời Ngài. Nếu như hạnh phúc lớn nhất của linh hồn là được Thiên Chúa ở cùng, thì chẳng còn hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc của người tín hữu. Kết thúc Tin Mừng, thánh Matthêo kể lại, khi rời môn đệ về trời, Chúa Giêsu hứa sẽ ở với họ mọi ngày cho đến tận thế. Ðây không phải là lời hứa suông hay lời nói dối, mà sự thật là như thế. Các môn đệ hoan hỉ trở về nhà tiệc ly, giữ lấy lời hứa ấy. Vậy thì nhà tiệc ly đó hôm nay là Giáo hội mà thánh lễ này là biểu chứng. Emmanuel của phép rửa chúng ta mừng hôm nay vẫn còn đầy ắp trong thánh đường này và trong mọi tâm hồn tôi trung của Chúa. Amen.
Con Thiên Chúa Đông Ca-mê-lô là tên một cuốn phim hài của Ý. Trong cuốn phim này diễn tả cuộc đối đầu liên tục giữa vị linh mục và ông thị trưởng thành phố. Xem ra hai bên lúc nào cũng hoạt động sát cánh bên nhau để phục vụ công ích, nhưng cũng luôn luôn bảo vệ quan điểm của mình : một bên là niềm tin Công giáo, một bên là ý thức hệ vô thần. Một trong những cảnh đó, dường như ông thị trưởng muốn thỏa hiệp với tôn giáo, đó là cảnh ông kín đáo đưa đứa con mới sinh đến nhà thờ xin vị linh mục rửa tội. Nhưng đến khi đặt tên thánh cho con, ông lại đưa ra một cái tên là Sta-lin. Cũng như ông thị trưởng trên đây, ngày nay có nhiều người Công giáo đưa con mới sinh đến nhà thờ xin linh mục cử hành bí tích Rửa tội mà không hiểu ý nghĩa tôn giáo cũng như các cam kết mà bí tích này đòi hỏi. Nói khác đi, người ta trở thành Kitô hữu mà không sống cho đến cùng niềm tin tôn giáo của mình. Ông thị trưởng trên đây, cũng có thể nhìn vào bí tích Rửa tội như nhiều người Kitô giáo, họ xem nghi thức này như một thứ ma thuật, bùa chú, có hiệu năng bảo vệ con người khỏi nghịch cảnh và bất hạnh trong cuộc sống. Nhiều người khác cũng có thể nhìn vào bí tích này như một thứ mê tín dị đoan cần phải loại bỏ. Hoặc là có những người Công giáo coi bí tích này đơn thuần chỉ là để rửa tội tổ tông… Vậy đâu là ý nghĩa đích thực của bí tích Rửa tội ? Chúng ta hãy trở lại dòng sông Gio-đan bên Pa-lét-tin, nơi Chúa Giêsu đã đến dìm mình trong nước. Tại đây, Gioan Tẩy Giả đã lôi kéo được đông đảo dân chúng đến nghe giảng và tỏ dấu sám hối bằng cách dìm mình trong nước. Chúa Giêsu cũng chen lẫn trong đám đông ấy để xin Gioan thanh tẩy cho Ngài. Nhưng là một người không vương một tội lỗi nào, Chúa Giêsu đến dìm mình trong nước không phai để thể hiện sự sám hối, Ngài muốn nói lên một ý nghĩa khác, đó là loan báo cái chết và sự phục sinh của Ngài : dìm mình xuống nước là biểu hiệu cái chết, lên khỏi nước là loan báo sự sống lại. Đây chính là ý nghĩa của bí tích Rửa tội. Khi chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Ngài. Chúng ta vào đời khi được cha mẹ sinh ra, và vào đạo của Thiên Chúa khi được rửa tội. Trong nghi thức Rửa tội, chúng ta được dìm trong nước hoặc đổ nước trên đầu, một đàng để chỉ việc tẩy rửa khỏi tội tổ tông và mọi tội riêng, một đàng khác, quan trọng hơn là chúng ta được sinh lại làm con cái của Thiên Chúa và gia nhập vào Giáo Hội. Vì thế, Giáo Hội coi bí tích Rửa tội là một cuộc tái sinh, người được Rửa tội trở thành một con người mới. Họ biết được đâu là ơn gọi và định mệnh của con người và đâu là ý nghĩa của cuộc đời. Có một cụ già, mãi tới khi 80 tuổi mới lãnh nhận phép Rửa tội. Bắt đầu từ đó cụ sống một đời rất gương mẫu. Hai năm sau, cụ hấp hối, có người muốn biết cụ bao nhiêu tuổi, cụ dõng dạc trả lời : “Tôi mới hai tuổi, 80 năm trước khi rửa tội là những năm chết. Tôi mới bắt đầu sống thật khi tôi chịu phép Rửa tội”. Thật là chí lý. Chúng ta thấy có một số người, không mừng sinh nhật ngày họ sinh ra vào đời, nhưng mừng ngày họ được chịu phép Rửa tội. Thiết nghĩ điều này rất hay, rất đúng, vì đây mới là ngày trọng đại, cao quý, như Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI đã nói với hàng ngàn thanh niên nam nữ có mặt ở Rô-ma nhân ngày kỷ niệm ngài chịu phép Rửa tội : “Ngày cha chịu phép Rửa tội là ngày cao quý nhất của đời cha. Cũng như ngày chúng con chịu phép Rửa tội là ngày cao quý nhất của đời chúng con”. Thật vậy, nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta trở thành con Thiên Chúa, không phải chỉ có tiếng, có tên, nhưng thực sự là thế. Chúng ta là con Thiên Chúa và Thien Chúa là cha của chúng ta, một người cha yêu thương chúng ta vô cùng. Ngài luôn nghĩ đến chúng ta, cả khi chúng ta không nghĩ tới Ngài. Ngài luôn ở bên chúng ta trong mọi cảnh huống của cuộc đời, mặc dầu mắt phàm chúng ta không nhìn thấy Ngài. Chúng ta có thể hình dung qua câu chuyện sau đây. Báo chí đã tường thuật lại rằng : vào một đêm kia, một đám cháy bùng lên tại một ngôi nhà, trong khi những ngọn lửa phừng phừng bốc lên, người ta thấy người cha, người mẹ và mấy đứa con hấp tấp chạy ra, rồi đứng buồn rầu nhìn ngôi nhà mình bốc cháy. Bất chợt họ nhận ra thiếu mất đứa bé nhất, một đứa bé trai năm tuổi. Bởi vì lúc chạy ra, thấy khói lửa nghi ngút, nó hoảng sợ lùi lại, rồi leo lên tầng trên. Mọi người nhìn nhau, làm sao đây ? Không thể nào liều lĩnh chạy vào trong nhà bây giờ chỉ còn là một lò lửa. Làm sao cứu đứa bé được ? Thì kìa, đứa bé đứng ở lan can, khóc lóc nhìn xuong kêu cứu. Người cha nhìn lên quát to : “Nhảy xuống đây”. Đứa bé chỉ thấy khói lửa mịt mù, không nhìn thấy cha nó, nhưng nó nghe ra tiếng cha nó, nó liền đáp : “Ba ơi, con không thấy ba đâu cả”. Người cha quát to hơn : “Ba thấy con, con ơi, nhảy xuống đi”. Và đứa bé đã nhảy xuống bình an vô sự rơi vào vòng tay ba nó, vì ông đã kịp đỡ lấy nó. Đứa bé đứng trong ngôi nhà bốc cháy ấy lại không phải là hình ảnh diễn tả người Kitô hữu đứng trước mặt Thiên Chúa sao ? Trong cơn khốn quẫn, người ấy nghe ra tiếng Thiên Chúa bảo mình : “Hãy tin tưởng vào Ta, hãy nhảy vào vòng tay của Ta”. Và người Kitô hữu ấy rất nhiều phen đã muốn trả lời : “Chúa ơi, con chẳng thấy Chúa đâu cả” và đã tưởng rằng Thiên Chúa bỏ rơi mình. Không, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, Ngài bảo chúng ta : “Cha thấy con, con ơi, nhảy đi”. Chúng ta hãy nhảy vào vòng tay Chúa, nghĩa là chúng ta hãy hết lòng tin tưởng vào Chúa, Ngài đang mở rộng vòng tay đón chúng ta. Chúng ta biết : khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Cha đã phán : “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. Chúa Cha hài lòng về Đức Giêsu, người con yêu quý của Ngài. Người cha trần gian nào cũng thế thôi, đều vui sướng khi người con của ông khởi sự một chức vụ quan trọng, người cha của một bác sĩ, người cha của một tân linh mục, người cha của chú rể trong ngày cưới… niềm vui ấy càng lớn lao hơn khi người con ấy càng vâng phục và tôn kính cha mình. Chúa Giêsu là một người con như thế, nên Chúa Cha hài lòng về Người. Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta là con Thiên Chúa, dĩ nhiên rồi, nhưng lúc này đây, nhận định về chúng ta, Chúa Cha sẽ nói thế nào ? Chúa có hài lòng về chúng ta không hay Chúa phải buồn rầu, đau lòng và than phiền ? Tóm lại, ơn cao quý nhất chúng ta lãnh nhận được khi chịu phép Rửa tội là ơn được làm con Thiên Chúa. Vậy chúng ta phải luôn cố gắng sống xứng đáng là những người con mà Chúa Cha hài lòng về chúng ta.
“Hãy Sống Ơn Gọi Là Con Cái Chúa” Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai bằng việc lãnh nhận phép rửa. Lịch sử cứu rỗi là một cuộc sai đi, từ Đức Chúa Cha qua mầu nhiệm nhập thể, và từ Chúa Giêsu qua Hội Thánh đến mỗi người chúng ta, nhờ sức mạnh và quyền năng của Chúa Thánh Thần. Thánh Thần đã đến khi Chúa Giêsu chịu phép rửa cũng như khi Gíao Hội khai sinh, thì ngày chúng ta chịu phép rửa, chúng ta cũng bắt đầu cuộc sống cứu rỗi trong Chúa Thánh Thần. Thế nhưng, một thực tế đáng lo ngại cho Gíao Hội ngày nay là hiện tượng “giải thiêng” ở một số nhóm người, đặc biệt bao gồm cả Kitô hữu. Như vậy, khi những Kitô hữu không còn niềm tin nơi Chúa Kitô và tách rời khỏi Gíao Hội, thì cũng đồng nghĩa chối bỏ mọi cam kết khi lãnh nhận bí tích rửa tội. Trình thuật Tin Mừng của Thánh Matthêu gợi lại hình ảnh Chúa Giêsu đứng xếp hàng chung với những người thu thuế, tội lỗi, chờ đến phiên Gioan làm phép rửa cho mình. Tuy nhiên, Gioan đã bối rối và khước từ trước Đấng sẽ ban phép rửa trong Thánh Thần, nhưng Chúa Giêsu đã mời gọi ông cứ làm, dù ông không hiểu, vì đó là điều hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Bởi khi dìm mình thật sâu trong dòng nước, Chúa Giêsu đã muốn thể hiện một cử chỉ liên đới với nhân loại tội lỗi, một cử chỉ báo trước việc tự hạ đẫm máu của chính Ngài trên thập giá, để cho nhân loại được cứu thoát khỏi tội lỗi và làm con cái Thiên Chúa. Qua hành động này, Chúa Giêsu muốn nói lên sự vâng phục trọn vẹn với Chúa Cha, Ngài đón nhận cái chết như thể hiện đỉnh cao của tình yêu: “ Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13) Chúa Giêsu đã sống như một con người sống yêu thương và yêu thương đến độ sẵn sàng thí mạng sống mình vì người mình yêu. Thật vậy, sau khi chịu phép rửa tại sông Gio-đan, Đức Chúa Cha đã gọi Đức Chúa Giêsu là Người Con yêu dấu đẹp lòng Ngài mọi đàng. Đây chính là ý nghĩa của phép rửa mà Chúa Giêsu đã thiết lập và uỷ thác cho Gíao Hội, để qua phép rửa ấy, mỗi Kitô hữu cũng sẽ được vinh dự làm con cái Thiên Chúa. Thế nhưng, câu hỏi đặt ra cho mỗi Kitô hữu ngày nay là: “Đời sống đức tin Kitô giáo của mỗi người đã thực sự xứng đáng với danh hiệu làm con Thiên Chúa mà chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa hay chưa ?” Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể ! Chúa đã sống trọn ơn gọi làm người chỉ vì yêu thương nhân loại và muốn con người trở nên con cái Thiên Chúa. Xin cho chúng con luôn biết rằng: “Những gì Chúa Cha đã nói với Ngài, Ngài cũng nói lại với chúng con trong phép rửa tội của chúng con”. Qua đó, chúng con ý thức về trách nhiệm làm con cái Thiên Chúa mà luôn trung thành với đức tin vào Chúa Kitô và thể hiện đức tin ấy bằng đời sống chứng tá, đó là giá trị của Tin Mừng. Amen.
Khi
Thánh Giá Xuống Đường Những sự kiện mới mẻ diễn ra nhanh chóng trong mấy ngày qua được ghi nhận như sau : “Ngày 20.12.2007, giáo phận Hà Nội long trọng cử hành thánh lễ truyền chức linh mục cho 18 phó tế. Cả giáo phận vui mừng vì có thêm nhiều linh mục. Ngoài những nghi thức truyền chức, giới thiệu, chúc mừng như bao thánh lễ truyền chức khác, thì thánh lễ hôm nay lại có một điều thật đặc biệt. Ngay sau lời Chúc Bình An kết lễ, toàn thể cộng đoàn khoảng 5,000 người vừa đi vừa hát lời Kinh Hòa Bình tiến ra khu đất Tòa Khâm Sứ cạnh Tòa giám mục.” (1) “Trưa ngày 01.01.2008, phố Nhà Chung đã biến thành nhà thờ. Khoảng trên 2000 người đã tụ họp cầu nguyện tại đây. Các cảnh sát đã chặn đầu phố hướng dẫn xe cộ lưu thông theo hướng khác giúp giáo dân biến lòng đường thành nguyện đường. Đi đầu là thánh giá nến cao và hơn 20 cha đồng tế. Tiếp theo là mấy trăm chủng sinh, nữ tu và hàng nghìn giáo dân. Nhiều người ở bên ngoài nhà thờ, hai bên lối đi Toà Giám Mục đứng đón đoàn cầu nguyện.” (2) Chúa đã ra khỏi bốn bức tường nhà thờ, xuống lòng phố để kêu gọi công lý. Lòng phố cũng giống như dòng sông Giođan ngày xưa cần được thân thể Chúa chạm đến để thanh tẩy khỏi bao uế nhơ tội lỗi, nhất tội bất công đang tràn ngập xã hội. Muốn thấu hiểu sâu xa những diễn biến đó, thiết tưởng cần phải nhìn lại giây phút Chúa Giêsu được ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa trong dòng sống Giođan ngày xưa. BẢN HỢP CA TUYỆT VỜI Thuở ấy từ Galilê, Chúa Giêsu đã đến với ông Gioan để được thanh tẩy. Trong Tin Mừng Mathêu, phép rửa Chúa Giêsu đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ Cựu sang Tân Ước, từ Gioan Tẩy Giả tới Chúa Giêsu. Ông đã nhiệt tình dọn đường cho Chúa. Một cuộc đối thoại ngắn như tiếng hát hai bè trầm bổng khác nhau, nhưng cùng chung một hòa điệu. Ðó là đặc điểm của Tin Mừng thứ nhất. Chỉ tin mừng Mathêu mới cho nghe thấy cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Cựu và Tân ước. Khuôn mặt Gioan nổi bật với lời giảng và phép rửa ông thực hiện cho muôn dân. Ông tuyên bố không có khả năng cởi giây giầy cho Người. Ông Gioan, “cựu ước,” tự đặt mình làm người đầy tớ Chúa Giêsu, “tân ước.” Cuộc đối thoại mạc khải thực tế ông Gioan ý thức Chúa cao trọng và quyền năng hơn ông. Người đang đến và sẽ làm phép rửa trong Thánh Linh. Chiều theo ý Chúa, ông Gioan miễn cưỡng chấp nhận Người đứng giữa các tội nhân cho ông rửa, “để giữ trọn đức công chính.”(Mt 3:15) Trong Tin Mừng Mathêu, giữ trọn thường chỉ về việc hoàn thành lời ngôn sứ, và sự công chính nói về hành vi đạo đức phù hợp với ý Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong những câu 5:6 và 6:33, hình như công chính có nghĩa là việc Thiên Chúa cứu độ. “Giữ trọn đức công chính” là quy phục theo kế hoạch cứu độ nhân loại của Thiên Chúa. Muốn thế, Chúa Giêsu phải đồng hóa với tội nhân. Ðó là lý do tại sao Người chấp nhận phép rửa của Gioan. (3) Nhưng trước tiên người mạnh nhất phải được người yếu nhất làm phép rửa. Chính Con Thiên Chúa sẽ đầm mình trong dòng nước loài người. Dường như ơn cứu độ phải xây dựng bắt đầu từ thực tại mỏng dòn và hư hỏng, đúng như ngôn sứ Isaia nói :
“Đây là người tôi
trung Ta nâng đỡ, Chính tại nơi và lúc chịu phép rửa, cuộc gặp gỡ thần kỳ đã diễn ra giữa Thiên Chúa và con người. Chính trong giây phút đó, Gioan đã thấy Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại một phép rửa trong Thánh Linh và lửa, hoàn toàn khác với phép rửa trong nước do ông thực hiện. Sự khác biệt vô cùng giữa công việc của Gioan và của Ðấng đến sau ông là khúc nhạc dạo cho ngày lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay. Chúa Giêsu không đặt lại vấn đề Gioan đã nói gì về Người, vì tiếng nói từ trời cao sẽ làm chứng Người là Thiên Chúa. Nhiều người bàn về cử chỉ khiêm tốn của Chúa Giêsu khi chịu phép rửa. Nhưng trước tiên, đó không phải là một gương nhân đức. Ðó là một thực tại khôn sánh đã ban tặng cho ta để chiêm ngắm Ðấng làm cho chúng ta sống khiêm tốn. Sau khi Chúa chịu phép rửa, khi bầu trời mở ra, chúng ta biết khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa và con người hoàn toàn khác nhau, nhưng rất gần gũi nhau. Lịch sử nhân loại gặp gỡ vĩnh hằng. Nhân loại thoát khỏi cảnh cô liêu. Nhân loại vượt lên trên sự thù nghịch đã chia cắt họ với Thiên Chúa cũng như chính mình. Nhân loại đươc giải thoát khỏi tai họa. Nhân loại hiểu biết về Thiên Chúa, đồng thời ý thức về sự cao cả của mình. Những dự kiến này hình như quá lý thuyết và trừu tượng. Nhưng ít nhất, cụ thể phép rửa nhắc lại, khi làm người, Chúa Giêsu Kitô đã làm cho ta trở nên người và gần Thiên Chúa hơn. CÔNG LÝ VÀ TỪ BI Khi thánh giá xuống đường hay Chúa Giêsu xuống dòng sông Giođan, Chúa “sẽ trung thành làm sáng tỏ công lý ... cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu.”(Is 42:3.4) Nhưng phải chăng công lý là sửa phạt tội nhân và ân thưởng chính nhân ? Rõ ràng đó không phải là tư tưởng của Thiên Chúa và Chúa Giêsu. Thánh Têrêsa Hài Ðồng viết : “Vui chừng nào khi nghĩ Thiên Chúa là Ðấng công chính. Nói khác, Người cho phép các yếu đuối xảy ra và hoàn toàn hiểu biết sự dòn mỏng của thân phận con người chúng ta”. Bằng chứng Người đã đồng hóa với tội nhân trong dòng sông Giođan. Nhìn vào thực tế, chúng ta mới thấy sự công chính của Thiên Chúa là lòng từ bi của Người. Sự từ bi của Người là sự công chính. Một Thiên Chúa chỉ công bình mà thôi, có lẽ không công chính. Lý do vì chúng ta không bao giờ có thể mang được gánh nặng của sự công bình đó. Thánh Thomas viết : “Trong mọi công trình của Thiên Chúa ... bao giờ cũng có lòng từ bi. Chính vì thế, từ lòng sung mãn thiện hảo, Chúa ban dư dả cho tạo vật tất cả mọi sự thuộc về chúng hơn là xứng với những gì chúng đáng có.” (4) Ðây là một điều mới lạ trên thế giới. Nếu chúng ta không nghiệm thấy lòng thương xót Chúa qua bàn tay các môn đệ Chúa Kitô, thì họ không phải là môn đệ đích thực của Người. Họ sống trong một nền luân lý cổ hủ, “mắt đền mắt, răng đền răng,” “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” ! Công lý và lòng thương xót là những đức tính của Thiên Chúa. Ðó là những nguyên lý vĩnh hằng. Sự công chính của Thiên Chúa là một nguyên lý nền tảng. Lòng từ bi của Thiên Chúa là nguồn cội sinh ra mọi phúc lành cho nhân loại và là nguyên lý cho việc cứu chuộc nhân loại. Công lý đòi hỏi hình phạt. Lòng từ bi đòi tha thứ. Cả hai đều được hòa giải trong sức mạnh hiệp nhất của Chúa Giêsu cứu thế. Chúa sống cuộc đời bình lặng, không dức lác ồn ào. Người không nhẫn tâm cũng chẳng bạo động, nhưng cả cuộc đời luôn hướng về vương quốc công chính. Ðể xây dựng vương quốc công chính, Chúa Giêsu phải chết để đền bù tội lỗi nhân loại. Nhờ đó, Người mới dung hòa hai nguyên lý hầu như trái ngược nhau : từ bi và công lý. Không có việc chuộc tội đó, không bao giờ có thể thỏa mãn những đòi hỏi của công lý và làm vui lòng Thiên Chúa. Ðó là lý do tại sao Chúa Cha vừa làm chứng vừa giới thiệu cho nhân loại: “Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.”(Mt 3:17) Chúa Giêsu sẽ gìm mình trong dòng nước để tỏ tình liên đới với nhân loại, một nhân loại không thể phủ nhận chính mình, một nhân loại đầy yếu đuối và cần đến ơn cứu độ. Nếu nhân loại không cần ơn cứu độ, Thiên Chúa cũng chẳng đến trọ nơi trần gian để cải hóa và làm cho họ lớn lên. Nhưng Người đã sống những ngày tuyệt vời nhất trên trần gian. Người hoàn thành công cuộc cứu độ. Người kết thân với những người yếu nhược và gánh lấy tội lỗi nhân loại. Nhờ thế, Chúa Giêsu tỏ lộ nhân tính của Người. Do đó, Người cho thấy điều quan trọng chính là con người. Người không phủ nhận, khinh thường nhân loại, cũng chẳng chối từ thân phận làm người. Mọi sự nơi con người đã đụng chạm đến ơn cứu độ của Thiên Chúa, khi Chúa Giêsu ngụp lặn trong dòng sông Giođan. Tất cả đã được cứu độ, vì thần tính đã chạm đến nước rửa các tội nhân. Chúa Giêsu đã đưa cả nhân loại vào thời kỳ viên mãn. Ðó chính là điều Chúa Giêsu đã thực hiện. Ðó là đặc điểm của toàn thể Tin Mừng. Việc làm công khai của Người là gìm mình trong dòng sông Giođan. Người không bắt đầu bằng một bài diễn văn soạn sẵn, cũng chẳng lên giọng kết án phong tục thời đại ...Nhưng khi Chúa chịu phép rửa, có một cuộc biến đổi khác lạ. Ðó không phải là cuộc đối kháng giữa cái mới và cái cũ. Chính khi Chúa Giêsu trao đổi với Gioan là lúc lịch sử tiếp diễn, chứ không cách quãng. Ông Gioan loan báo sẽ có phép rửa mới trong Thánh Linh và lửa nơi Chúa Giêsu. Còn ông Gioan chỉ làm phép rửa cổ xưa theo lối cựu ước. Ðáng lý cái mới phải thay thế cái cũ. Cái mới phải hủy diệt cái cũ. Nhưng Chúa Giêsu bắt đầu bằng cách để cho giao ước cũ đi tới tận cùng. Chúa nhận phép rửa Gioan. Nhờ vậy, Người bắt đầu có thể xác định vị trí của mình. Từ đó, cái mới có thể kế tục, đồng thời cho thấy một cái gì hoàn toàn khác biệt. Chúa Giêsu hoàn thành lịch sử nhân loại. Người không phủ nhận cũng không khinh miệt nó. Nhân loại là một thực tại quan trọng, đắp nền cho một cuộc sống mới. Cuộc sống mới đó bắt đầu từ phép rửa “trong Thánh Linh và lửa.”(Mt 3:11) Ðây là con đường cải tạo đích thực. Chỉ Thánh Linh mới có thể biến đổi chúng ta. Phần còn lại, chúng ta chỉ cần tự sắp đặt cho đẹp mắt hơn. Trong Sáng Thế Ký, thần khí hay hơi thở Thiên Chúa đã bay lượn trên mặt nước để bắt đầu công cuộc tạo dựng trời đất. Nay Thần Khí tỏa bóng trên Chúa Giêsu khi Người bắt đầu sứ mệnh làm sáng tỏ hành động cuối cùng của Thiên Chúa trong việc tái tạo và cứu chuộc thế gian. Chúa Giêsu là Ánh Sáng Muốn Dân, hằng làm đẹp lòng Thiên Chúa và được sai đi khỏi biên giới Israel. Người là Người Ðầy tớ bắt đầu giãi “ánh sáng” là đạo lý đến các dân tộc khác, “dân các hải đảo xa xăm”. Ánh sáng là tình yêu của Thiên Chúa Israel bao trùm cả vũ trụ, Thiên Chúa của Giao ước mà các dân nước khác không nghe biết. Họ sẽ được giải thoát khỏi cơn u mê và sợ hãi. Thiên Chúa làm cho giao ước thánh vượt ngoài biên giới Israel. Người được Thiên Chúa tuyển chọn sẽ bắt đầu nhập thế để ôm trọn cả vũ trụ. KHẮP NẺO ÐƯỜNG QUÊ HƯƠNG Từ Hà Nội tới Sàigòn, ngọn lửa công lý đã thắp lên ! Còn gì cảm động và ý nghĩa hơn khi thấy Thánh Giá dẫn đầu đoàn người cầu nguyện cho công lý thực hiện trên mảnh đất quê hương ! Hình ảnh vừa dịu dàng vừa hiên ngang như Chúa Kitô vào thành Giêrusalem vậy. Một khi Chúa Kitô đã chạm xuống lòng đường, ánh sáng công lý không thể không tới. Dòng sông Giođan cũng đã biến đổi từ ngày thân xác Chúa chạm đến ! Tin mới nhận : Thứ Sáu 11/01/2008 vừa qua, “hơn 5000 anh chị em giáo dân, những người thân sơ, những người Công Giáo và cả anh chị em không Công Giáo đã đến nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn, số 38 đường Kỳ Đồng để nói lên tình hiệp thông với anh chị em thuộc giáo xứ Thái Hà, Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội; để dõng dạc lên án những bất công và yêu cầu nhà cầm quyền thi hành chính những luật lệ do họ đưa ra. Trong buổi Thắp Nến canh thức kéo dài trong 2 giờ đồng hồ từ 7 giờ tối đến 9 giờ tối, Cha Tôma Phạm Huy Lãm, Bề trên chính xứ, Tu viện trưởng Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn đã chủ tế trong thánh lễ cùng 23 linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, 2 linh mục dòng Đa Minh, 2 thầy phó tế và toàn bộ các thầy trong Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn.” (5) Hình như thấy ngày tháng đã đong đầy đau khổ, nên Thiên Chúa muốn công lý phải được thực thi giữa lòng dân tộc hôm nay. Chẳng lẽ nguyện vọng và quyền lợi dân tộc cứ bị chà đạp mãi ?! Ðứng trước những đòi hỏi lớn lao của toàn dân, bạn có thể giữ thái độ bàng quan mãi được không ? Gm Desmond Tutu từng nói : “Nếu giữ thái độ trung lập trong những hoàn cảnh bất công, bạn đã chọn đứng về phía kẻ đàn áp. Nếu con voi dẫm lên đuôi con chuột và bạn nói bạn đứng trung lập, con chuột sẽ không hiểu được thái độ trung lập của bạn có nghĩa gì.” (6) Tuy vẫn không ra ngoài nguyên tắc và lý tưởng từ bi, bạn cũng không nên để cho kẻ thống trị lợi dụng như một phương tiện bóp nghẹt mọi nguyện vọng. Theo Chúa xuống đường, ta có thể thanh tẩy xã hội khỏi những tội ác bất công. Chúng ta tôn trọng nhà cầm quyền nào biết bảo vệ quyền lợi cho dân và thi hành công lý. Ðó là lý do cho họ được hiện hữu và hoạt động. Họ quên vai trò của người đầy tớ nhân dân, để ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của dân oan và Giáo hội. Bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền họ đã ký nhận và đưa vào Hiến pháp có giá trị ở chỗ nào ? Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, Tgm Silvano Tomasi, quan sát viên thường trực của Tòa thánh tại LHQ tuyên bố : “Sáu muơi năm sau ngày bản tuyên ngôn ra đời, nhiều thành phần trong gia đình nhân loại vẫn còn xa vời không được hưởng các quyền lợi và các nhu cầu căn bản của mình. Sự an toàn cho con người vẫn còn chưa được đảm bảo. Ngày kỷ niệm 60 năm nên được dùng để nhấn mạnh rằng mỗi con người, trong cương vị cá nhân hay thành viên của một cộng đồng, có quyền lợi và trách nhiệm phải bảo vệ và thực thi mọi quyền của con người.” (7) Chính vì không tôn trọng quyền con người, các nhà cầm quyền mới thi nhau trấn áp dân oan để bảo vệ quyền lợi phe đảng mình. Làm sao xã hội có hòa bình để người dân an tâm làm việc cho nước giàu dân mạnh, nếu họ bị chà đạp như vậy? Tgm Tomasi nhắc lại một chủ đề Đức Thánh Cha đã đưa ra trước đây : “Tôn trọng mọi quyền con người là nguồn phát sinh hòa bình.” (8) Có được tôn trọng, con người mới xác định được vị trí và phương thức đóng góp với mọi người chung quanh. Cá nhân hay tập thể cũng vậy. Thật thế, “hòa bình không những được xây dựng trên sự tôn trọng nhân quyền, nhưng còn trên sự tôn trọng quyền của các dân tộc, đặc biệt là quyền sống độc lập.” (9) Theo nữ tu Miriam Díez i Bosch, Dòng Ða Minh, nhân quyền bị đe dọa nếu không nhìn nhận sự thật về con người vượt trên và ngoài những khác biệt về văn hóa hay lịch sử. (10) Sự thật đó là con người được Thiên Chúa ban cho quyền làm người. Ðã là người, ai cũng có một bản tính. Quyền làm người phát sinh từ bản tính con người, chứ không từ truyền thống hay cơ chế xã hội. Bản tính ấy do Trời ban cho, chứ không phải do cha mẹ hay nhà nước. “Chỉ khi đối thoại với Thiên Chúa, con người mới tìm ra sự thật về mình, từ đó mới tìm thấy nguồn hứng khởi và tiêu chuẩn lập kế hoạch cho tương lai thế giới.” (11) Ðó là một vinh dự, nhưng cũng là một trách nhiệm của con người, nhất là những ai đang nắm quyền trong xã hội và Giáo hội. Tóm lại, khi Chúa Giêsu bước xuống dòng sông Giođan, tất cả đều biến đổi vì nguồn ân sủng lớn lao đã tuôn trào từ thân thể Chúa. Dòng sông đã chứng kiến cảnh Chúa Cha tấn phong Chúa Giêsu trong quyền lực Chúa Thánh Thần. Từ dòng sông Chúa cất bước ra đi rao giảng Tin Mừng. Cũng giống như lòng sông Giođan, lòng phố hôm nay trên quê hương yêu dấu cũng đang đón nhận bóng Thánh Giá. Công lý đang trỗi dậy từ những bước chân các môn đệ Chúa Kitô hiên ngang bước theo Thày. Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã đánh thức dân tộc và Giáo Hội Việt Nam. Xin Chúa ban thêm ân sủng và nghị lực cho các môn đệ Chúa đang tranh đấu cho công lý và hòa bình khắp nơi. Amen. (đỗ lực 10.01.2008)
1. http://www.vietcatholic.net/News/Html/50102.htm 2. http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=50604 3. x.The New American Bible 1991:1013. 4. Thomas Aquinas. The “Summa Theologica” Part I QQ I.-XXVI. Vol. 1. 5. http://www.vietcatholic.net/News/Html/50958.htm 6. http://www.tentmaker.org/Quotes/justicemercyquotes.htm 7. http://www.catholicnewsagency.com/new.php?n=11374 8. ibid. 9. Toát Yếu Học Thuyết về Xã Hội của Giáo Hội, 157. 10. http://www.zenit.org/article-21471?l=english 11. Toát Yếu Học Thuyết về Xã Hội của Giáo Hội, 452.
BÍ TÍCH RỬA TỘI: Người Do Thái đã chờ đợi lời hứa của Thiên Chúa trở thành hiện thực trong nhiều thế kỷ. Họ đã trải qua nhiều thử thách truân chuyên: Quê hương bị xâm lăng nghiền nát, toàn dân bị lưu đày ở Babylon, chung quanh họ là những dân tộc đa thần giáo, khiến giới trẻ bị cám dổ và bị lung lạc xa rời Thiên Chúa từ bỏ đức tin nơi Thiên Chúa của dân Israel Hôm nay Chúa Giêsu đến giữa dân người đang bị đau khổ. Họ hưởng ứng lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả là: Hảy ăn năn sám hối để sửa soạn đón Chúa đến sống giữa họ. Việc Chúa Giêsu chịu phép rửa là dịp nhắc lại lời Thiên Chúa qua ngôn sứ Isaia được thánh Matthêu mô tả Ngài chịu phép rửa là để hoàn thành nhiệm vụ của người tôi tớ đau khổ; vì lúc đó bầu trời được mở ra và thần khí Chúa xuất hiện dưới hình chim bồ câu trên Chúa Giêsu và có tiếng từ trời phán như nhắc tới người tôi tớ huyền nhiệm theo lời ngôn sứ Isaia mô tả. Bài đọc 1 hôm nay (là bài thứ nhất trong bốn bài ca nói về Người Tôi Tớ của Isaia), trong đó mô tả Thiên Chúa như người tôi tớ hiền lành. Quyền năng của người tôi tớ được thể hiện dưới một vóc dáng yếu ớt Thế nhưng đây lại là: "Một ánh sáng đến cho dân tộc ngươi, để mở mắt cho kẻ mù, đem tù nhân ra khỏi nơi giam giử, chiếu ánh sáng cho người sống nơi tăm tối." Chúa Giêsu là người con yêu dấu. Đời sống của Ngài diễn tả sự tha thiết tuân theo đường lối của Thiên Chúa, với sự hổ trợ của thần khí Thiên Chúa (trong hình dáng chim bồ câu) để cải hoá loài người. Ngay cả khi sứ vụ của Chúa Giêsu có vẻ như thất bại, khi Ngài chịu sự xỉ báng mạ lỵ trong cơn đau khổ tột cùng. Thế nhưng Ngài đã vượt qua trong sức mạnh của Thần khí Thiên Chúa; với niềm tin tuyệt đối vào Chúa Cha mà chúng ta nghe phán từ trời hôm nay:”Đây là con yêu dấu của ta, ta hài lòng về người”. Ngôn sứ Isaia hứa là người tôi tớ của Đức Chúa sẽ “đưa tù nhân; là cư dân của bóng tối; ra khỏi nơi giam cầm”. Nơi giam cầm ở đây không mang ý nghĩa là căn nhà có chấn song sắt mà đó là bóng tối của tội lỗi bao bọc lấy chúng ta từ trong lòng mẹ và theo chúng ta đến ngày hôm nay và phủ quanh thế giới chúng ta đang sống. Thế nên trong chúng ta có nhiều người luôn mang ngục thất này theo mình Khi Chúa Giêsu bước xuống sông Jordan để chịu phép rửa chính là lúc Ngài bước vào trong bóng tối tội lỗi đang bao phủ chúng ta; Ngài chính là đấng mà ngôn sứ Isaia đã loan báo : ”Người sẽ đưa tù nhân ra khỏi nơi giam cầm…”; và đời sống chúng ta đang bị tội lỗi giam cầm xâu xé. Chính Chúa Giêsu. Ngài không đứng trên bờ cao để khuyên dạy chúng ta, mà Ngài đến trong cuộc sống chúng ta nơi chúng ta đang là tù nhân của tội lổi, cho chúng ta đối mặt với bóng tối và các mánh khoé mà tội lỗi dễ xâm nhập vào để khuyên dạy và đưa chúng ta ra khỏi đó như Đức Chúa đã hứa với ngôn sứ Isaia xưa kia. Phép rửa của Chúa Giêsu hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến ngày chịu phép rửa tội. Ngày mà chúng ta được thông hiệp với Ngài. Tôi chắc rằng một số đông trong chúng ta không ai nhớ được ngày rửa tội của mình! Bí tích rửa tội làm cho chúng ta cùng chết với Đức Giêsu Kitô và được sống lại trong một cuộc sống mới (Rm. 6). Người đã được rửa tôi là đã được sáp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Chúng ta được mời gọi làm theo và sống như Chúa đã làm và sống, như thánh Phaolô đã nói: ”Hãy đi làm việc công chính…” Chúng ta không cần sách chỉ dẫn cách làm nhưng vì nhờ đã nhận lảnh bí tích rửa tội nên có thần khí của Chúa Giêsu tác động làm chúng ta khôn ngoan hơn và làm tốt hơn Chúa Kitô không tránh khỏi sự đau khổ của Người tôi tớ của Thiên Chúa. Ngay sau khi Chúa chịu phép rửa, Ngài bị cám dỗ trong sa mạc phép rửa rỏ ràng là không đem đến cho Ngài một chút dể dàng gì trong cuộc sống. Vì thế khi chúng ta chịu phép rửa, chúng ta sẽ gặp khó khăn trong đời sống của người phục vụ như Chúa Giêsu đã sống. Trong một số nhà thờ, tôi thấy có giếng rửa tội nằm cạnh lối đi giữa, ngay khi bước qua cửa chính là chúng ta thấy ngay. Khi đưa tay chấm nước thánh để làm dấu thánh giá là nhắc chúng ta đã được gọi để theo chân Người Tôi Tớ Trung Thành của Đức Chúa. Anh chị em khi chịu phép rửa tội có nghỉ là chúng ta được giáo hội mời gọi thực hiện những gì nói trong bí tích rửa tội. Nơi giếng rửa tội có thể nhắc chúng ta nhớ đến việc chúng ta đã bắt đầu đời sống đức tin thế nào. Khi đưa tay chấm nước thánh để làm dấu thánh giá hảy nhớ là chúng ta đang khởi đầu thực hiện lời mời gọi của người tôi tớ trung thành của Đức Chúa Thần khí mà chúng ta lãnh nhận khi chịu phép rửa tội sẽ liên tục thúc đẩy và khuyến khích chúng ta làm theo lời Chúa cho đến lúc này khi chúng ta làm dấu thánh giá với nước thánh. Khi được rửa tội, không chỉ chúng ta nhận một tên mới mà thôi mà chúng ta còn lãnh nhận căn tính và sứ vụ mà chúng ta phải làm để được gọi là: ”con yêu mến“ và được mời gọi theo từng bước chân của Chúa Giêsu đã đi qua. Qua cuộc sống, căn tính và sứ vụ của chúng ta sẽ được hoàn thiện hơn vì chúng ta đã cố gắng hết mình để phục vụ Thiên Chúa Một số người coi bí tích rửa tội như một thủ tục của gia đình, thậm chí họ còn xin chịu bí tích rửa tội ngoài thánh lễ ngày Chúa nhật. Họ không hiểu được rằng Bí Tích rửa tội hoàn toàn không phải là chuyện riêng tư nhưng là là chuyện của cộng đoàn Kitô hữu. Chúa Giêsu không đòi Gioan Tẩy Giả rửa tội cho Ngài ở một nơi nào khác trên sông Jordan với cha mẹ Ngài, và vài thân hữu có mặt là đủ rồi. Phép rửa của Chúa Giêsu là giữa công chúng và với công chúng. Chúng ta cũng vậy, Phép rửa tội là Bí Tích mời gọi chúng ta sống đời kitô hữu giữa công chúng và không có gì riêng tư cả. Đôi khi chúng ta không cảm nhận được Bí tích rửa tội làm chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa và Thiên Chúa yêu mến và hài lòng khi chúng ta khi cố gắng sống trong tình yêu mến của Ngài. Bí tích rửa tội đem đến cho chúng ta ân sủng để sống một cuộc sống mới mà Thiên Chúa đã chia sẻ với chúng ta qua Chúa Giêsu Kitô. Nhờ ân sũng đã làm chúng ta trở nên tôi tớ sống đời trong sáng trong bóng tối âm u: “Để mở mắt cho kẻ mù loà, đưa tù nhân ra khỏi ngục thất” Điều này đã được chứng nhận trên giấy rửa tội của chúng ta Lm. Jude Siciliano, O.P. Phép rửa của Đức Giêsu được công khai Is 42,1-4.6-7; Tv 42; Cv 10,34-38; Mt 3,13-17 Kính thưa quý vị, Người Do Thái đã chờ đợi một thời gian rất lâu, khoảng vài thế kỷ, để theo đuổi những lời hứa mà Thiên Chúa đã thiết lập với họ. Một số dân thánh còn sót lại đã kiên cường trong niềm tin của mình, mặc dù bị thất bại thảm hại, đồng thời quê hương và những nơi thánh thiêng bị tàn phá và chịu lưu đày thê lương ở Babylon. Thêm vào đó, những tôn giáo đa thần bao vây và quyến rũ họ, nhất là giới trẻ, họ đã xa rời việc tin vào Thiên Chúa của Israel. Ngày nay Đức Giêsu xuất hiện giữa một dân tộc chịu đau khổ triền miên. Họ đã đáp lại lời kêu gọi tiên tri của ông Gioan Tẩy Giả. Ngài mời gọi họ hãy sám hồi và chuẩn bị cho việc quang lâm mới của Thiên Chúa ở giữa họ. Câu chuyện về phép rửa của Đức Giêsu đã gợi lên lời tiên báo xa xưa mà Thiên Chúa đã phán qua ngôn sứ Isaia. Sự mô tả của thánh Mátthêu cho thấy rằng Đức Giêsu phải hoàn trọn vai trò người Tôi Trung Đau Khổ của Thiên Chúa. Giây phút đó thật cảm động: bầu trời mở ra, Thần Khí ngự xuống như chim bồ câu và đáp trên Đức Giêsu, đồng thời có tiếng nói về Đức Giêsu nhằm gợi lại người tôi tớ huyền nhiệm trong lời tiên báo của ngôn sứ Isaia. Trong bài đọc một ngày hôm nay (đây là bài đầu tiên trong số bốn Bài Ca lớn của ngôn sứ Isaia về người Tôi Tớ), vị ngôn sứ mô tả người tôi tớ dịu hiền của Thiên Chúa, uy quyền của người được thể hiện nơi sự yếu đuối và người sẽ là “ánh sáng chiếu soi muôn nước, để mở mắt cho những ai mù lòa, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.” Đức Giêsu là Người Con yêu dấu, cuộc đời của Người sẽ phản ánh cuộc khổ nạn theo đường lối của Thiên Chúa, và chính Người sẽ biểu lộ Thần Khí (biểu tượng qua hình ảnh chim bồ câu ngự xuống), Thần Khí này như uy quyền của Thiên Chúa biến đổi nhân loại. Thậm chí khi sứ vụ của Đức Giêsu bị thất bại và Người lại chịu sỉ nhục và bị đánh đón trong cuộc Khổ nạn, thì Người vẫn tiếp tục được Thần Khí hướng dẫn và ban sức mạnh để tin tưởng vào Chúa Cha, Đấng hôm nay đã phán cho ta nghe và đón nhận lời Người: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngươi.” Ngôn sứ Isaia hứa rằng người tôi tớ của Thiên Chúa sẽ “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, và dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.” Chúng ta biết rằng các ngục tối không nhất thiết là những nơi cố định làm bằng bê tông cốt thép. Một số người trong chúng ta mang theo mình những ngục tối, cái ngục tối đó được diễn tả như là một “nhà tù di động” – bóng tối đi qua cuộc đời chúng ta từ trong dạ mẹ u sầu hoặc nơi người cha tranh đấu, giờ đây hướng đến bóng tối hiện tại của thế giới quanh ta. Vì Đức Giêsu đã đến sông Jordan để chịu phép rửa tỏ lòng ăn năn, nên ngày nay Người lại bước vào cảnh tượng đen tối và giam hãm của chúng ta. Đức Giêsu là Đấng được hứa ban cho chúng ta theo lời tiên báo của ngôn sứ Isaia, vì Người sẽ “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ.” Người đến những nơi ẩn khuất đã giam hãm chúng ta. Người cũng đến những nơi giam cầm cuộc đời chúng ta, và Người lại can thiệp vào những cách ứng xử bị cấm kỵ mà đôi khi chúng ta bào chữa bằng cách nói rằng: “Đó chỉ cách sống của tôi.” Không phải như một người cổ vũ đang đứng bên lề, Đức Giêsu đã xuống nước và chìm vào những nơi tối tăm mà chúng ta đang có mặt ở đó. Người giúp chúng ta đối diện với những bóng tối và những nơi ẩn khuất, đồng thời đưa chúng ta ro khỏi đó, vì chính Thiên Chúa đã hứa rằng, Người sẽ thực hiện điều đó cho chúng ta qua lời tiên báo của ngôn sứ Isaia. Ngày nay phép rửa của Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng: qua việc lãnh nhận phép rửa, chúng ta được kết hiệp với Người. Tôi đoan chắc rằng hiếm người trong chúng ta suy nghĩ về phép rửa của mình. (Chúng ta có biết ngày mình được rửa tội không?) Qua phép rửa, chúng ta cùng chết với Đức Kitô, và nhờ đó được tái sinh trong một đời sống mới (x.Rm 6). Những người lãnh nhận phép rửa như chúng ta được sáp nhập vào thân thể của Đức Kitô. Chúng ta được mời gọi và làm cho nên giống Đức Giêsu, Đấng mà thánh Phaolô nói rằng “quan tâm làm điều thiện.” Chúng ta không cần một cuốn sách luật chi tiết để biết hành động như thế nào trong mỗi hoàn cảnh của đời mình, nhưng nhờ phép rửa, chúng ta có được tình bằng hữu của Thần Khí Đức Giêsu, Đấng hiện thân sự khôn ngoan, niềm khích lệ và nguồn trợ lực để giúp ta làm điều thiện. Đức Kitô đầy xứng đáng là Tôi Tớ của Thiên Chúa. Ngay sau khi lãnh nhận phép rửa, Đức Giêsu chịu cám dỗ trong hoang địa. Phép rửa đó không đảm bảo cho Người một con đường suôn sẻ trong suốt cuộc đời; cũng chẳng đảm bảo cho chúng ta một lối đi êm ả. Ấy vậy, phép rửa lại có giá trị cho cuộc đời chúng ta, làm cho người tín hữu phải sống cuộc đời phục vụ như chính Đức Giêsu đã nêu gương. Trong một vài nhà thờ mà tôi đã đi giảng, bình đựng nước thánh được đặt giữa lối đi chính, ngay tại lối vào nhà thờ. Thể nào quý vị cũng nhìn thấy nó. Tôi thường suy nghĩ như thế này, khi tôi nhúng ngón tay vào nước và đi quanh bình nước đó, thì vị trí của bình nước như là một sự nhắc nhở rằng, chúng ta tiếp tục đụng chạm vào phép rửa trong mình, và còn nhắc nhở ta suốt cuộc đời. Chúng ta không thể phớt lờ được. Bình nước thánh được đặt ở giữa nhà thờ là một sự nhắc nhở chúng ta biết bắt đầu hành trình đức tin như thế nào. Khi nhúng ngón tay vào nước và làm dấu thánh giá là chúng ta cũng được nhắc nhở rằng: phép rửa chỉ là khởi đầu lời mời gọi cho chúng ta hãy theo Đấng tôi trung của Thiên Chúa. Thần Khí mà chúng ta lãnh nhận trong Phép Rửa tiếp tục thôi thúc và khích lệ chúng ta đi theo đường lối của Thiên Chúa – nghĩa là khi chúng ta làm dấu thánh giá bằng nước thánh là hướng đến giây phút hiện tại. Khi được rửa tội, chúng ta không chỉ nhận lấy tên thánh mang theo suốt cả đời, mà sứ vụ và căn tính của ta còn được xác định nữa, nghĩa là chúng ta được gọi “người yêu dấu”, và được mời gọi hãy bước theo con đường mà Đức Giêsu đã đi. Trên suốt hành trình cuộc đời, căn tính và sứ vụ của chúng ta sẽ được kiện toàn khi chúng ta biết nỗ lực phục vụ Thiên Chúa. Một số người xem Phép Rửa chỉ là một sự kiện riêng tư của gia đình. Thậm chí họ còn nài nỉ đòi tách nghi thức phép rửa ra khỏi những nghi thức được cử hành trong Lễ Chúa Nhật hoặc chiều Chúa Nhật. Họ không cảm kích được rằng Phép Rửa không phải là một sự riêng tư, nhưng là một sự kiện công khai. Đức Giêsu không nài xin ông Gioan ra xa hơn sông Jordan để làm phép rửa cho mình cùng với thân mẫu, hoặc một số người trong gia đình và bạn bè. Phép rửa của Đức Giêsu được công khai, và do đó phép rửa của mỗi người Kitô hữu cũng được công khai, nghĩa là nghi thức công khai cho những ai được mời gọi sống ơn gọi Kitô hữu của mình trong những cách thức công khai. Tất nhiên vẫn có chút riêng tư đối với ơn gọi của chúng ta khi theo Đức Giêsu. Không phải lúc nào chúng ta cũng cảm nhận được điều đó, nhưng niềm tin nơi phép rửa đảm bảo rằng, chúng ta là con cái của Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương, đồng thời Người tự hào về chúng ta. Chúng ta không phải loay hoay để tạo cho được sự thân tình với Thiên Chúa. Nhưng qua phép rửa, chúng ta đã sống tương giao với Thiên Chúa rồi. Chúng ta là con cái yêu dấu của Thiên Chúa, được ban ân sủng để sống đời sống mới mà Thiên Chúa đã chia sẻ với chúng ta qua Đức Giêsu Kitô. Ân sủng được ban cho những tôi tớ trung thành, những ai sống như ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, để “mở mắt cho những ai mù lòa, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm.” Chúng ta đã chứng minh rằng đây chính là sứ vụ của mình; đồng thời quý vị hãy kiểm tra tên của mình trong giấy chứng nhận rửa tội.
| |