| |
Chúa Nhật V Phục Sinh -
Năm A
Cv
6,1-7 / 1Pr 2,4-9 / Ga 14,1-12
An Phong op :
Ðường Dẫn Ðến Sự Thật Và Sự Sống
Như Hạ op :
Như viên đá xanh
Fr. Jude
Sicilianô, op : Thày ra đi để dọn chỗ cho anh em
Fr. Jude
Sicilianô, op : Hãy tìm một chỗ trong trái tim Chúa
G. Nguyễn Cao
Luật op : Những bước chân trên đường
Giacôbê Phạm
Văn Phượng op : Chúa Kitô là đường
Gioan B. Vũ Văn Tín op : Thầy là đường. là sự thật
và là sự sống
Đỗ Lực op :
Chuột sa chĩnh gạo
Fr. Jude Siciliano, op : Những viên đá sống động
xây nên ngôi nhà Thiên Chúa
Fr. Jude Siciliano,
op: Hãy
tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy
An Phong op
Ðường Dẫn Ðến Sự Thật Và Sự Sống
Ga
14,1-12
Trong bữa tiệc chia tay, Ðức
Giêsu loan báo : một trong số các đồ đệ thân yêu sẽ nộp Thầy; và chính
Phêrô, tông đồ trưởng, cũng sẽ chối Thầy 3 lần. Các môn đệ lo lắng, phân
vân, bối rối và xao xuyến. Ðức Giêsu liền trấn an : "Lòng anh em đừng
xao xuyến… Thầy là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống".
Chúng ta lo lắng, xao xuyến vì
điều gì ?
Phải chăng là một tương lai
không biết đi về đâu trong cuộc đời còn ngổn ngang "trăm mối tơ vò" ?
Phải chăng là sự không kiểm soát
nổi những tiến bộ khoa học kỹ thuật; không biết chúng sẽ dẫn ta đi đến
đâu ?
Phải chăng là lý tưởng sống
không rõ ràng hoặc sai lạc ?
Phải chăng là do chúng ta đang
đi trên con đường ngoằn ngoèo phức tạp, khó đi, đó là "dấu tranh tồn";
"triệt hạ đối phương"; "tiền bạc là tất cả"; "chủ nghĩa mackeno - mặc kệ
cuộc đời" ?…
Trên đường đời,
Ðứng trước một cánh cửa mở toang,
Không bảng chỉ đường, không bản đồ.
Không hướng đi bắt buộc.
Người ta sẽ lạc lối.
Ðức Giêsu cho chúng ta biết
"tương lai chúng ta ở trên trời", nơi "nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở cho
anh em".
Ðức Giêsu giải quyết nỗi lo lắng
lớn nhất của nhân loại hôm nay, là không thể kiểm soát nổi những tiến bộ
khoa học, kỹ thuật; Ngài giải quyết bằng cách ban chính "Ngài là cuộc
sống". Tất cả những gì không phục vụ sự sống, không thăng tiến sự sống,
không làm cho "sống dồi dào" hơn, đều đáng bị kết án.
Ðức Giêsu là lý tưởng cho người
trẻ, khi Ngài cho họ nhận thấy sự thật về con người họ, về định mệnh
nhân loại, về mối tương giao đích thực giữa con người với Thiên Chúa và
giữa con người với nhau.
Ðức Giêsu là chính Ðường dẫn đến
Sự thật và Sự sống.
Ngài trao tay chúng ta một cách
sống, "hôm nay hơn hôm qua một chút xíu" và một bản đồ dẫn đường "mến
Chúa yêu người".
Con đường đơn giản này dẫn đến
chính Thiên Chúa là Sự thật và là Sự sống.
Lạy Chúa Giêsu,
con biết, con người là thụ tạo tốt đẹp nhất của Chúa;
Nhưng trong con người, con cũng có thể thấy
biết bao việc dã man, đê tiện, xấu xa bỉ ổi nhất.
Con biết đời sống của con là hồng ân Chúa ban
nhưng con cũng quá mệt nhọc
để xoay sở tính toán cho cuộc đời của con.
Lạy Chúa Giêsu,
tất cả là của Chúa, và chỉ có Chúa mới hiểu thấu;
Tất cả là hồng ân và chỉ có Chúa mới có thể chỉ đường dẫn lối
Xin Ngài hãy trở nên Con Ðường,
nên Sự Thật và nên Sự Sống cho cuộc đời con.
Như Hạ op
NHƯ VIÊN
ÐÁ XANH
Ga 14,1-12
Nếu khám phá ra hạnh phúc tuyệt
vời của người Kitô hữu, chắc chắn người ta phải phát ghen lên. Nhưng
chính người Kitô hữu nhiều lúc quên lãng hay coi thường hạnh phúc của
mình. Hạnh phúc đó chính là đức tin nơi Thiên Chúa và Ðức Giêsu Kitô.
SỰ NGHIỆP VĨ ÐẠI
Con người hạnh phúc vì đã xây
được những công trình vĩ đại trên mặt đất. Ðó là niềm hãnh diện của nhân
loại. Nhưng đó chỉ là những công trình vật chất. Kitô hữu còn hạnh phúc
biết bao khi được "Thiên Chúa dùng như những viên đá sống động mà xây
nên ngôi Ðền Thờ thiêng liêng," (1 Pr 2:5) không ai phá hủy nổi, vì đó
là công trình của Thiên Chúa. Chính Ðức Giêsu cũng là "viên đá sống động
bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quí
giá." (1 Pr 2:4) Ðúng hơn, đó là "đá tảng góc tường" (1 Pr 2:6) nối kết
các viên đá xây nên Ðền Thờ đó.
Những viên đá sống động đó đã
được Thiên Chúa biến thành "hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng
liêng đẹp lòng Người nhờ Ðức Giêsu Kitô." (1 Pr 2:5) Vinh dự và cao cả
biết bao được làm Kitô hữu trên trần gian ! Ðó là chiều dọc trong sứ
mệnh Kitô hữu. Chiều ngang cũng quan trọng không kém. Ðó là Kitô hữu
được Thiên Chúa kêu gọi "để loan truyền những kỳ công của Người." (1 Pr
2:9) Họ trở nên những chứng nhân vì "là giống nòi được tuyển chọn, là
hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa." (1 Pr
2:9) Tất cả đều là công trình vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa nơi Ðức
Giêsu Kitô.
Hồng ân cao cả Thiên Chúa đã ban
tặng các Kitô hữu. Họ được tuyển chọn do cái chết và phục sinh của Ðức
Giêsu Kitô. Ðó là tất cả "công việc Thầy làm" (Ga 14:11) cho nhân loại.
Chỉ cần tin vào công việc đó, họ sẽ thấy một sức mạnh vô cùng lớn lao
của Ðức Giêsu nơi chính mình. Sức mạnh đó do sự hiện diện thâm sâu và
hiệp nhất lạ lùng giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Quả thực, chính Thánh Linh
mới có thể giải thích tại sao huyền nhiệm cao cả : "Thầy ở trong Chúa
Cha và Chúa Cha ở trong Thầy." (Ga 14:11) Nếu tin, Kitô hữu sẽ đi vào
tương quan kỳ diệu đó vàsẽ tìm được một nơi trú ẩn vững chắc nhất giữa
bao nhiêu thách đố. Chính Ðức Giêsu đã bảo đảm cho các môn đệ : "Anh em
đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy." (Ga 14:1) Ðiệp
khúc này Ðức Giêsu không ngừng lập lại : "Anh em hãy tin Thầy." (Ga
14:11)
Tin vào Thầy không những tìm
được nơi an toàn nhất trong cuộc đời đầy bất trắc. Nhưng hơn nữa, tin
vào Thầy sẽ làm được những công trình vĩ đại. Quả thực, "ai tin vào
Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn
làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha," (Ga 14:12)
để "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28:20) Nhờ đó,
Thầy mới có thể hiện diện một cách sâu xa và sung mãn hơn nơi các tín
hữu. Thầy về cùng Chúa Cha để kéo mọi sự lên với Thầy (x. Ga 12:32) và
để nắm mọi quyền bính trên trời dưới đất (x. Mt 28:19). Tin tưởng tuyệt
đối vào lời Thầy hứa, ngay từ đầu các môn đệ đã thực hiện những việc lớn
lao hơn về mặt tổ chức, chiều kích và ảnh hưởng. Quả thế, trong cộng
đoàn tông đồ nhỏ bé, không phân biệt những người "chuyên lo cầu nguyện
và phục vụ Lời Thiên Chúa." (Cv 6:4) và những người chuyện "lo việc ăn
uống" (Cv 6:2) hay "phân phát lương thực hằng ngày" (Cv 6:1) cho dân
Chúa.
Trước phục sinh, "Thầy chỉ được
sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi." (Mt 12:24)
Nhưng sau phục sinh, Thầy sai các môn đệ : "Anh em hãy đi và làm cho
muôn dân trở thành môn đệ." (Mt 28:19) Ngày còn tại thế, Ðức Giêsu là
đối tương của lòng căm thù ghen tức. Có bao giờ thấy cảnh tư tế tỏ lòng
sám hối hàng loạt sau bài giảng của Ðức Giêsu đâu ! Thế nhưng, sau khi
biến cố phục sinh, các môn đệ đã làm cho "một đám rất đông các tư tế đón
nhận đức tin." (Cv 6:7) Môn đệ đã làm những việc lớn lao hơn sư phụ,
nhưng vẫn không qua mặt sư phụ được. Quả thế, nếu Thầy xác tín "Chúa
Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình," (Ga
14:10), người môn đệ cũng thâm tín rằng : "Tôi sống, nhưng không còn
phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi." (Gl 2:20) Như vậy, chính
Ðức Giêsu đang làm những việc vĩ đại hơn khi còn tại thế nơi Giáo Hội.
Ðó là niềm tin của người môn đệ Chúa.
TOÀN CẦU HÓA NIỀM TIN.
Vì tin tưởng mãnh liệt vào sự
hiện diện và hành động của Ðức Giêsu trong lòng Giáo Hội, các môn đệ đã
dễ dàng thực hiện mệnh lệnh toàn hầu hóa niềm tin hầu đem ơn cứu độ đến
cho toàn thể nhân loại. Ngay sau khi phục sinh, Chúa đã ban bố mệnh lệnh
đó (x. Mt 28:19) Bao nhiêu lực lượng thù nghịch bên trong cũng như bên
ngoài đang nỗ lực cản trở việc toàn cầu hóa đó.
Bên trong, nhiều anh em Kitô hữu
giữ mãi mối thù nghịch với Giáo Hội Công giáo. Chẳng hạn, Ðức Tổng giám
mục Chính thống giáo Nga Yevsevi (Savvin) đã yêu cầu Tổng thống Vlaimir
Putin "đừng cho phép những kẻ thù của quê hương và quốc gia - Giáo hoàng
Rôma và Công giáo - phất cờ chiến thắng trên miền Ðất Thánh Pskov."
(CWNews 23/04/02) Ông giải thích : "Chúng ta phải ý thức rằng các người
Công giáo không phải là những ân nhân của chúng ta. Họ chẳng mang lại
cái gì tốt đẹp hay ích lợi cho quê hương chúng ta. Họ đi đến đâu, hủy
diệt, phân hóa và phá hoại tới đó." (CWNews 23/04/02) Tại sao lại có một
cái nhìn hằn học như vậy ? Có thể tìm thấy nét Tin Mừng nào trong cái
nhìn đó không ? Chẳng lẽ tình yêu đầy khoan dung thứ tha của Thiên Chúa
không ảnh hưởng gì tới người anh em Kitô hữu sao ? Nếu đúng thế, làm sao
có thể thi hành mệnh lệnh toàn cầu hóa đức tin ?
Bên ngoài, kẻ thù đang tìm cách
giới hạn sức mạnh toàn cầu hóa của Giáo Hội. Tại Hoa kỳ, "cuộc khủng
hoảng về linh mục lạm dụng tính dục vị thành niên không phải là do
truyền thông tạo nên hay là quan tâm của công luận tại Hoa Kỳ, nhưng đây
là một vấn đề rất hệ trọng làm cho sứ mạng của Giáo hội bị tê liệt. Muốn
thay đổi đòi phải tái tạo niềm tin." (ÐHY Bernard Law : VietCatholic
23/4/2002). Thế nhưng, đằng sau sự kiện đó kẻ thù đang nỗ lực hạ uy tín
hàng giáo phẩm. Nếu họ thành công, chắc chắn việc Phúc âm hóa sẽ bị
khựng lại. Lý do vì linh mục đóng vai chủ chốt trong mọi sinh hoạt Giáo
Hội. ÐGH Gioan Phaolô II nhắc nhớ : "Chúng ta phải xác tín rằng thời
gian thử thách sẽ thanh tẩy toàn thể cộng đồng Công giáo, một sự thanh
tẩy khẩn thiết nếu Giáo Hội muốn rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô với
tất cả sức mạnh giải phóng nhân loại một cách hiệu quả hơn. Giờ đây phải
tin chắc rằng ở đâu tội lỗi gia tăng, ở đó ân sủng càng chan chứa (x.Rm
5:20). Càng nhiều đau khổ, càng nhiều buồn sầu càng đưa chức linh mục,
giám mục và Giáo Hội đến sự thánh thiện hơn. Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn
sự thánh thiện. Trên hết chúng ta phải quay về với Người để xin ơn tha
thứ, để chữa lành và đón nhận ân sủng để có đủ can đảm đối đầu với thách
đố một cách không khoan nhượng mà vẫn đạt mục đích" (CWNews 23/04/02) là
toàn cầu hóa niềm tin theo mệnh lệnh Chúa.
Càng bị thách đố, Giáo Hội càng
ý thức hơn về sức mạnh đích thực trong việc toàn cầu hóa niềm tin.
"Thách đố trước mắt làm cho chúng ta hiểu rõ những lựa chọn cải tiến
tinh thần qua cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hóa, giữa mạc khải và
những vấn đề nhân loại để bảo đảm cả phẩm giá con người lẫn sự trưởng
thành nhân vị" (Zenit 2/9/02) sẵn sàng cho việc toàn cầu hóa đức tin.
Thiên Chúa đang dùng biến cố hôm nay để đẩy mạnh công cuộc Phúc âm hóa
đang khựng lại ở nhiều nơi chăng ?
Fr. Jude Sicilianô, op
Thày ra đi
để dọn chỗ cho anh em
Ga 14,1-12
Thưa quý vị.
Mỗi lần soạn bài giảng là một
lần tôi cảm thấy mình bị phân đôi về nhân cách và tư tưởng. Bởi lẽ tôi
đang sống ở một thời điểm phụng vụ, tập trung vào một mầu nhiệm của cuộc
đời Chúa Giêsu cứu thế, thì lại phải tưởng tượng mình sống ở thời điểm
khác, mầu nhiệm khác. Thí dụ tôi đang sống Mùa Vọng mà lại thấy mình đọc
các bài đọc mùa Hiển linh, suy nghĩ về mầu nhiệm Chúa tỏ mình ra cho các
dân ngoại. Tôi giống như các nhà vẽ mẫu thời trang. Ðang sống ở mùa Hè
nóng bức mà lại đặt mình vào mùa Ðông giá rét để vẽ kiểu quần áo mùa
đông cho các khách hàng ! Nhưng hôm nay thì tôi phớt lờ tính bất hợp lý
đó mà cứ cố tình suy tư đúng thời điểm, mặc cho có sự trái mùa. Nếu có
chi lạc điệu, xin quý vị rộng tình lượng thứ.
Hôm nay là ngày nào ?
Thưa, thứ Sáu Tuần Thánh. Báo đài Việt Nam gọi là thứ Sáu tốt lành (dịch
đúng nguyên văn tiếng Anh : Good Friday). Nhưng tôi lại thấy mình viết
bài giảng cho Chúa Nhật V mùa Phục Sinh ! Thôi mặc, cứ thời sự thứ Sáu
tốt lành mà viết. Tin tức thế giới đầy dẫy những sự kiện “tốt lành”. Các
kẻ vô tội đang tiếp tục chịu đau khổ, chịu bóc lột, bị khai thác và bị
tiêu diệt hàng loạt. Một dì phước Ða Minh trở về từ El Salvador để cấm
phòng mùa chay trên đất Mỹ, vừa khóc vừa thuật lại những nỗi thống khổ
dân nước này phải chịu đựng dưới ách độc tài quân phiệt. Số phận mẹ con
Esmiranđa của tiểu thuyết Nhà Thờ Ðức Bà Paris có lẽ còn dễ chịu hơn.
Một tờ Tuần Báo Mỹ kể lại rằng ở Guatemala 60.000 trẻ con dưới 5 tuổi
thường xuyên bị bệnh suy dinh dưỡng do chế độ áp bức của quân đội gây
nên. Một số cha mẹ ở Afghanistan phải buộc lòng bán bớt con để có tiền
nuôi những đứa còn lại. Dĩ nhiên, hôm nay là ngày thứ Sáu tốt lành !
Nhưng đã xảy ra vài ba vụ ôm bom tự sát ở Palestine, giết hại hàng chục
người, xe tăng Israel đang giận dữ tiến vào Bethlehem, nơi sinh của Chúa
Giêsu.
Ngay cả Chúa Nhật V
Phục Sinh, con cháu bà Aga và Ismael cùng con cháu ông Isaac và bà nội
Sara sẽ tiếp tục tàn sát nhau không chút nương tay ! Thứ Sáu tốt lành là
tên người ta đặt cho một ngày của năm ! Nhưng những sự việc xảy ra trong
ngày đó thì lại quá khủng khiếp. Chúng ta phải tìm ý nghĩa của nó trong
viễn tượng khác. Chúng ta đang suy tư về bài Phúc âm Chúa Nhật V mùa
Phục Sinh Gioan đoạn 14. Chẳng hiểu quý chức có nhiệm vụ xếp đặt các bài
đọc phụng vụ chủ ý hay không, riêng phần tôi, tôi thấy nó giống bầu khí
của ngày thứ Sáu tốt lành và Phục Sinh liên hệ. Chúng ta phải thực tế
nhìn vào cả hai khía cạnh đau khổ và đời sống mới tinh khôi để có thể
cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa của bài đọc đó.
Chúa Giêsu dạy dỗ các
môn đệ trong huấn từ cuối cùng. Giọng điệu của Ngài hoàn toàn bình thản
trước cơn bão táp đang ập tới đè bẹp bản thân Ngài. Thái độ trầm tư, ân
cần và dịu dàng của người sắp ra đi lìa cõi thế làm cho các môn đệ (và
chúng ta ngày nay) thêm can đảm đối mặt với những khó khăn trước mắt.
Ngài giống như một người cha an ủi đứa con nhỏ đang bồn chồn lo lắng :
“Này, này, mọi sự rồi sẽ tốt đẹp thôi con ạ !”. Những điều sắp xảy đến
cho Ngài sẽ quá ư tồi tệ và đau xót, nhưng về lâu về dài, là phúc lợi vô
giá cho họ và cho chúng ta. Bởi vì Ngài ra đi để dọn chỗ cho mọi người :
“Trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ ở.”
Tôi thường có thói
quen tuyên đọc bản văn này trước đám tang hay người sắp qua đời bởi cái
giọng điệu đầy ủi an của nó. Chúa Giêsu hứa cho các môn đệ của Ngài một
chỗ ở tốt đẹp hơn. Và lời hứa đó không phải là hứa suông. Ngài biết rõ
mình nói chi. Một chỗ ở với Thiên Chúa không phải là bánh vẽ, mà chắc
chắn có thực như vậy, sẽ xảy ra đúng như thế. Cho nên người nghe được an
lòng và hết lo lắng. Hơn nữa, theo thần học của thánh Gioan những lời
hứa hoặc những điều lòng chúng ta mong đợi thì trên thực tế đã hiện
diện, cũng như án phạt cho những kẻ không tin đã xảy ra rồi. Cho nên
Chúa Giêsu ra đi sửa soạn chỗ ở cho chúng ta trong nhà cha Ngài thì thực
tế những chỗ đó đã có sẵn và đang chờ đợi chúng ta. Việc chúng ta phải
làm là chiếm lấy. Những môn đệ của Chúa Giêsu không sống ngoài thế giới,
mà sống trong trần gian, đối mặt với những thử thách hằng ngày, nhưng
phải trở nên những dấu chỉ của Ngài.
Thế giới này đầy dẫy
những khó khăn, lừa đảo, gian dối. Nhiều khi chúng ta cảm thấy lạc lõng,
như sống trong đất lạ, quê người. Không phải thế. Trái đất này là quê
hương của chúng ta. Mỗi người sống một kiểu, một cách, một ơn gọi. Không
có hai đời sống hoàn toàn giống nhau vì thế cũng không có hai “chỗ ở”
hoàn toàn y hệt. Mỗi người đều được phần chia sẻ đặc biệt trong cuộc
sống thần linh của Thiên Chúa : “Trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ ở. Nếu
không Thày đã nói cho các con hay.” Mặc dầu còn phải gặp khó khăn, chán
nản, tăm tối, vật lộn và thách thức trên con đường đức tin, nhưng chúng
ta đã được một chỗ ở, được chia sẻ cuộc đời với Thượng đế. Chúa Giêsu
không bỏ chúng ta mồ côi. Ngài đã ban sự sống, sự chết và Thánh Thần của
Ngài để nâng đỡ chúng ta. Lúc này đây, Ngài ra đi để dọn chỗ cho chúng
ta trong Thiên Chúa. Thomas muốn biết phương hướng nào là lối đi của
Ngài : “Thưa Thày làm sao chúng con biết đường đi ?” Chúa liền trả lời :
“Thày là đường” tức cuộc sống trần gian của Ngài là con đường dẫn chúng
ta tới Thượng đế. Con đường ấy nhiều người từ chối, cụ thể như dân Do
thái, thượng tế, luật sĩ v.v. Nhưng Ngài đã chọn con đường đó và mời gọi
chúng ta cùng đi. Ngài là con đường của sự yêu thương, hy sinh và thánh
thiện. Con đường dẫn đến Thiên Chúa Cha. Nếu chúng ta chọn đi theo con
đường đó, là chúng ta đã tới Thiên Nhan Thượng đế, hiện diện trong Ngài
và hoạt động nhờ Ngài. Tuy rằng còn đòi hỏi nhiều cố gắng hơn nữa.
Ở trong các nước tiên
tiến, tức thế giới thứ nhất, các xa lộ đều là tốc hành. Người ta không
được phép ngừng xe giữa đường. Muốn ngừng xe hoặc quay xe thì phải rẽ
qua một chỗ riêng, gọi là các trạm (stopping-off places). Cuộc lữ hành
trần gian của mỗi thành viên nhân loại cũng có những điểm ngừng, như lập
gia đình, ra ở riêng, đỗ đạt, nghề nghiệp, việc làm, sinh con cái, già
cả, ốm yếu và chết chóc… trong mỗi giai đoạn của cuộc sống chúng ta được
Chúa chia phần ân huệ hay phải gánh chịu những đau thương, tổn trí.
Nhưng mỗi giai đoạn cũng là các điểm dừng “dwelling place” để chúng ta
cảm nghiệm những gì Chúa đã ban cho khi cố gắng đi theo con đường Chúa
Giêsu đã chỉ dạy. Chẳng có chi bảo đảm trong cuộc đời, nhưng khi kinh
qua những giai đoạn đó, chúng ta có lời hứa của Chúa Giêsu trấn an :
Thiên Chúa luôn ở với chúng ta hay đúng hơn chúng ta luôn ở trong Ngài.
Lúc này Ngài đi trước, rồi sẽ trở lại mang chúng ta theo!
Như vậy hôm nay là
Thứ Sáu Tuần Thánh. Ðiều chi làm trái tim chúng ta bồn chồn ? Các môn đệ
sau bữa tiệc ly cũng bồn chồn khi các nhà cầm quyền lùng bắt họ. Chúa
Giêsu đang ở đâu ? Tại sao Ngài không trợ giúp chúng ta chấm dứt mọi
thương đau của Thứ Sáu Tuần Thánh trên thế giới ? Sách Tông Ðồ Công Vụ
trả lời câu hỏi này. Chính trong đau khổ và hy sinh mà Hội Thánh làm
chứng cho Chúa Giêsu, chứ không phải vẻ vang, hiển hách. Chính trong
việc vác Thánh giá mà chúng ta theo Chúa chứ không phải thỏa lòng sung
sướng. Giáo Hội tiên khởi lớn mạnh là nhờ cái chết của Ðấng sáng lập và
hy sinh của thánh Stêphanô. Càng trung thành với Tin Mừng Chúa bao
nhiêu, thì Giáo Hội càng phải chịu bách hại bấy nhiêu. Ðó là sự thật. Lý
do Giáo Hội lan rộng khắp Ðế quốc La Mã chỉ trong thời gian ngắn, là do
bởi các cơn bão táp mà Giáo Hội phải hứng chịu khắp mọi nơi Giáo Hội
hiện diện. Thánh Luca tiếp tục thuật lại những phép lạ các Tông đồ thực
hiện nhân danh Chúa Giêsu để chứng tỏ Ngài vẫn còn họat động trong Giáo
Hội và điều này đã thu hút thiên hạ nhập đạo. Một trật tự mới của thế
giới đang được hình thành. Cộng đoàn tín hữu là dấu chỉ của trật tự đó.
Kinh Thánh Cựu Ước đã
nhiều lần nói về trật tự này (Ðnl 15,4-5). Ðức Giavê hứa sẽ thiết lập
một cộng đồng mới. Mọi thành viên sẽ được dư dật, không có người nào đói
khát. Cộng đồng này chỉ có thể là Giáo Hội và khi chúng ta cử hành lễ bẻ
bánh, chúng ta cùng nhau chia sẻ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu thật dồi dào,
Ngài là tấm bánh nuôi sống Giáo Hội, chẳng ai bị bỏ quên, không có rào
cản. Các Tông Ðồ đặt tay trên 7 phó tế không có nghĩa là “truyền chức”
để họ cai trị cho bằng chỉ định một sứ vụ đặc biệt. Ho phải lo lắng cho
những người nghèo khổ : các bà góa, các con trẻ… Chúa muốn thế và cộng
đoàn đã đồng ý như vậy. Cho nên công tác chăm sóc những thành viên thiếu
ăn, thiếu mặc trong mỗi giáo xứ không phải là việc làm phụ thuộc, tài
tử, có cũng được mà không có cũng xong. Nó phải là công tác chính yếu,
giữ vai trò quan trọng hàng đầu, bổn phận của cộng đoàn để “không ai
phải thiếu thốn” (Cv 4,34). Lúc ấy Chúa Kitô mới cư ngụ giữa chúng ta.
Thơ thứ I của thánh Phêrô trong bài đọc 2 hôm nay cũng
nhắc nhớ về nghĩa vụ đó. Nghĩa vụ làm viên đá sống động để xây nên ngôi
đền thờ thiêng liêng, tức trật tự mới, đẹp lòng Thiên Chúa. Bởi chúng ta
là giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân riêng của Thiên
Chúa. Chúng ta không thể làm hoen ố chức vị của mình và của cộng đoàn mà
để cho một thành viên nào phải thiếu thốn, đói khổ về vật chất cũng như
tinh thần. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi luôn phải là tấm gương chói lọi
cho mọi giáo xứ, cha xứ noi chung. Ðược như vậy “Thày ra đi để dọn chỗ
cho anh em” mới có ý nghĩa. Amen. Alleluia.
Fr. Jude Sicilianô, OP
HÃY TÌM
MỘT CHỖ TRONG TRÁI TIM CHÚA
(Ga 14,
1-12)
Thưa quý vị,
Bài đọc 1 hôm nay cho
chúng ta cơ hội tốt để kiểm tra lại tình hình giáo hội địa phương. Các
bài đọc công vụ mùa Phục sinh gây ấn tượng Hội thánh tiên khởi có sự
đoàn kết chặt chẽ và vững bền, nhờ đức tin vào Chúa Kitô sống lại. Nhưng
thực tế chúng ta không luôn cảm nghiệm như vậy ở các Hội thánh địa
phương. Thường xảy ra những tranh cãi lớn nhỏ. Trên bình diện quốc gia
và quốc tế cũng vậy, luôn có đe doạ chia rẽ về nhiều vấn đề.
Thí dụ, những năm
cuối đời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tiếng nói đòi ngài từ chức
không phải là hiếm, có những lúc tưởng như đổ vỡ. Hiện nay ở giáo phận
tôi phục vụ, các trường công giáo đang là một vấn đề. Kẻ đòi đóng cửa
vài trường vì không đủ kinh phí, người khác đề nghị đầu tư thêm. Cuộc
tranh cãi có lúc bùng nổ lớn, lan đến các phương tiện truyền thông xã
hội. Không hiểu tháng 9 tới đây (mùa khai trường) vụ việc sẽ được
quyết định ra sao ? Hiện thời thì chưa ngã ngũ. Lại còn việc các giáo sỹ
gây gương xấu, trách nhiệm của các vị lãnh đạo giáo phận đến đâu ? Ai
buộc phải từ nhiệm, ai không ?
Trước sự lớn mạnh và
nhiệt thành của giáo đoàn tiên khởi, hình như sách công vụ tông đồ chỉ
chú ý ghi lại phần tích cực, bỏ qua những tiêu cực, cho nên chúng ta
nghĩ rằng mình kém cỏi hơn các vị tiền bối trong đức tin. So sánh với
Hội thánh tiên khởi, các Giáo hội hiện thời luôn phải đối mặt với nhiều
sa sút, chia rẽ. Vì vậy, hình như chúng ta không được “chính thống”
như các tín hữu đầu tiên. Đó là cảm nghiệm chung mọi người đều thấy
được. Tuy nhiên, bài đọc một hôm nay không củng cố quan điểm đó, ngược
lại nó cho thấy các tín hữu cũng có những “khó khăn” riêng : Số
là khi cộng đồng thêm đông, các tín hữu gốc Do thái nhưng nói tiếng Hy
lạp cảm thấy bị thiệt thòi vì các goá phụ của họ không được anh em đồng
đạo Do thái chính gốc đối xử cộng bằng. Sách Công vụ kể :
“Thời đó các môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do thái theo văn hoá Hy
lạp kêu trách những tín hữu Do thái bản xứ, vì trong việc phân phát
lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên.”
Rõ ràng giáo đoàn tín
hữu đã gặp sự khác biệt về sắc tộc và bất bình đẳng trong các thành phần
cộng đoàn. Dấu chỉ hợp nhất chứng minh Chúa phục sinh đang hiện diện
không còn chặt chẽ nữa. Tuy lúc đầu, sách công vụ kể cộng đoàn làm chứng
mạnh mẽ Chúa đã phục sinh bằng dấu chỉ họ yêu thương, đoàn kết với nhau
khăng khít. Nhưng bây giờ chủ nghĩa thiên tư đã để lộ chân tướng. Họ cố
tình bỏ quên những kẻ thấp cổ bé miệng trong cộng đoàn. Đây cũng là
thách đố của chúng ta hôm nay. Khi đọc đoạn Kinh Thánh này, chúng ta nên
thành thực với ơn Chúa Thánh Thần, loại trừ khỏi tâm hồn thói giả hình
giả điệu, dấu diếm những lỗi lầm, làm ra vẻ là môn đệ Chúa, nhưng thực
tế lòng đầy gian tham, ghen tỵ và loại trừ lẫn nhau. Hãy noi gương giáo
đoàn tiên khởi, giải quyết các khó khăn trong ơn Chúa và sự thật.
Duy chỉ sự thật mới
giải thoát chúng ta khỏi chia rẽ. Lấp liếm không phải là cách giải quyết
tốt. Cứ như tông đồ công vụ thuật lại thì toàn bộ giáo hữu tụ họp, không
thấy kể có ai vắng mặt. Họ cùng bàn bạc và nhất trí chọn ra 12 thanh
niên Do thái gốc Hy lạp, đầy Thánh thần. Các tông đồ đặt tay trên họ để
thành lập một nhóm riêng, có nhiệm vụ trông coi vật chất cho cộng đoàn.
Chẳng bao lâu sau, người ta thấy nhóm này cũng đi rao giảng Lời Chúa như
Stêphanô ở Giêrusalem, Philiphê ở Samaria. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính yếu
của họ là giúp đỡ các tông đồ, phân phát nhu cầu vật chất cho những
người thiếu thốn. Hôm nay trước bàn thờ thánh thể, chúng ta cùng cầu xin
cho chúng ta ý thức được nhiệm vụ chính yếu của mình là rao giảng Lời
Chúa, săn sóc những người thiếu thốn, yếu đau, bệnh tật và đừng tìm kiếm
thanh danh, lợi lộc riêng tư.
Bài Phúc âm trích
diễn từ cuối cùng của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly. Bối cảnh là sau biến
cố rửa chân, Chúa Giêsu loan báo Giuđa phản bội. Các môn đệ nhìn nhau
bối rối, rồi chuyển sang hoang mang về tương lai. Chúa Giêsu trấn an các
ông :
“Anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong
nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi.”
Các tông đồ hoang mang vì khi Chúa ra đi rồi các ông sẽ rơi vào hoàn
cảnh như rắn mất đầu, con cái không cha mẹ, đạo binh không tướng lãnh.
Họ biết chống đỡ ra sao với các thế lực thù địch, nhất là với quyền bính
đền thờ đang tìm cơ hội để tiêu diệt họ ? Đúng là họ sẽ gặp nhiều khó
khăn nếu vắng bóng Chúa Giêsu giữa họ. Ngày nay cũng vậy, Hội thánh sẽ
vô cùng lo sợ nếu Chúa không hiện diện để nâng đờ hằng ngày. Bởi kẻ thù
của mình, đứng đầu là Satan, luôn chờ cơ hội để quấy phá và nếu có thể
được thì tiêu diệt luôn. Đức Thánh cha, hàng giáo phẩm, những vị có
trách nhiệm đều cảm thấy được như vậy. Cho nên, năm 1978, khi vừa đắc cử
giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã phải tuyên bố ngay trước giáo dân tại
quảng trường thánh Phêrô : “Anh chị em đừng sợ!” Một lời bảo đảm
vững chắc nhưng bao hàm tình hình quá ư bấp bênh, đầy nguy hiểm. Cho nên
chúng ta không lấy làm lạ về thái độ của Chúa Giêsu đối với các môn đệ
đang sợ sệt. Ngài nói nhiều về Chúa Cha : “Trong nhà Cha Thầy có
nhiều chỗ ở” (c 2). Ngài là đường dẫn đến Chúa Cha (c 4). Xem thấy
Thầy là xem thấy Cha ( c 7). Những lời ngài giảng dạy, các việc ngài làm
là của Chúa Cha (c 10). Tất cả những nội dung đó bảo đảm Ngài luôn ở với
các môn đệ và Hội thánh. Ngài không để chúng ta một mình bơi qua biển
đời trần gian, chống chọi với phong ba bão táp của hoả ngục. Đến đây,
xin liên tưởng tới trường hợp của Phêrô đi trên biển vào ban đêm để đến
với Ngài (Mt 15, 22), hay mẻ cá lạ lùng sau một đêm làm vịêc luống công
(Ga 21, 3).
Lời tuyên bố của Chúa Giêsu : “Thầy là con đường, là
sự thật và là sự sống” bao hàm nhiều chân lý khác nữa và đối với các
môn đệ, chúng hợp thành nền tảng đức tin của họ vào Ngài. Ngài thực sự
là con đường để các môn đệ đến với Chúa Cha, thay vì những tục lệ của
các lãnh đạo tôn giáo áp đặt trong việc tuân thủ lề luật, thì chỉ cần
tin vào Chúa Kitô. Ngài chính là con đường để mọi người được cứu độ.
Ngoài Ngài ra không có con đường nào khác nữa. Tin vào Chúa Giêsu, chúng
ta được hưởng tràn đầy thánh nhan Thiên Chúa (Tôi và Cha tôi là một).
Ai thấy Chúa Con thì cũng thấy Chúa Cha (Ga 6, 16). Ngoài ra, Ngài
là con đường yêu thương đưa đến sự sống. Cho nên, muốn học biết yêu
thương thì phải học với Ngài, chứ không bày ra những tưởng tượng rồi gọi
đó là yêu thương. Yêu mến Chúa Giêsu là tuân giữ các giới răn của Ngài.
Yêu thương nhân loại là làm gương lành gương sáng cho họ, lôi kéo họ về
với tình thương của Thiên Chúa. Như vậy, Ngài đích thực là con đường
chúng ta tin cậy. Con đường duy nhất mặc khải cho chúng ta biết về bản
tính Thiên Chúa. Chúng ta vững lòng tin theo khi Ngài rao giảng về lòng
thương xót của Thiên Chúa, về sự tha thứ Người ban cho những linh hồn
sám hồn. Nếu ai đó rêu rao về một Thiên Chúa trả thù, oán giận, hằn học,
chúng ta có thể bỏ ngoài tai. Chúa Giêsu chính là chân lý về Chúa Cha.
Sống theo như Ngài đã
sống dẫn đưa nhân loại đến thể hiện hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa. Do đó,
nếu chúng ta mường tượng ra một lối sống khác, kỳ quặc thì đấy là lối
sống của ma quỷ. Tai hại thay, thiên hạ thường cỗ võ lối sống này, rồi
hô là văn minh, hợp thời đại, không bị tụt hậu, hay nói nhẹ nhàng hơn
“nhân bản”. Tôi nhớ cha Bernard Pro O.P. phát biểu một câu chí lý :
“Dieu seul est humain - Chỉ một mình Đức Chúa là nhân bản”, còn loài
người dù sống tốt thế nào đi nữa cũng vương mùi tục luỵ. Cho nên, đừng
kiêu ngạo, tự hào mình “nhân bản” hơn Thiên Chúa. Con đường của Chúa là
nhân bản tối thượng.
Chúng ta không có khả năng tự thân sống theo cuộc sống của Chúa Giêsu,
cũng chẳng tự sức lấy Ngài làm gương mẫu. Đúng hơn, Ngài là “sự sống”
của mỗi người. Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào ơn Ngài để có thể sống
như Ngài. Đây là chân lý nền tảng của cuộc đời tinh thần. Chúng ta phải
ghi nhớ luôn, kẻo sai lầm, sống theo khả năng riêng, xa rời giới răn của
Chúa Giêsu. Từ đó, sinh ra tự phụ về đàng thiêng liêng. Chúa Giêsu là
nguyên lý của sự sống siêu nhiên, chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài
để có thể sống tốt. Ngoài ơn Ngài ra là sống sai lầm. Sống buông thả
theo dục vọng của mình thì thế nào gọi là có ơn Chúa hướng dẫn ? Khi
Ngài tuyên bố với các môn đệ : “Thầy về cùng Thiên Chúa Cha” tức
thời các môn đệ nhớ lại lời hứa của Ngài là Ngài sẽ trở lại mang họ cùng
đi với Ngài :
“Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở nếu không Thầy đã nói
với anh em rồi, Thầy đi dọn chỗ cho anh em và Thầy sẽ trở lại đem anh em
về với Thầy.”
Trong khi chờ đợi
Chúa thực hiện chân lý đó, chúng ta cần cầu xin Thần khí của Ngài gìn
giữ mình trung thành với ơn nghĩa Chúa. Lễ Ngũ tuần đã gần kề, nhớ lại
biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống chan hoà trên Giáo hội tiên khởi,
chúng ta cũng mong ước biến cố này còn tiếp tục xảy ra trong hội thánh
ngày nay, để Thần khí Chúa thúc đẩy mỗi tín hữu, ban cho mỗi người khả
năng sống thánh thiện theo đời sống Chúa Kitô. Trong các trường phổ
thông cơ sở công giáo, đôi khi người ta tổ chức ngày họp mặt các cựu học
sinh. Thường thì vài năm một lần. Đúng là một truyền thống tốt đẹp, đáng
ghi nhớ. Mỗi lớp sẽ gửi thiếp mời đến các học sinh cũ của nhà trường,
chỉ định ngày giờ. Mọi người hồi hộp đợi ngày trở về tổ ấm (homecoming),
gồm cả những nhân vật thành đạt trên trường đời như tổng thống, thương
gia, nghĩ sĩ, nghị viện, không loại trừ vô danh tiểu tốt. Trong thánh lễ
tạ ơn, người ta chọn đọc bài phúc âm hôm nay. Đó là một chọn lựa khôn
ngoan, bởi lẽ Chúa Giêsu tuyên bố Ngài đi là để dọn chỗ cho các môn đệ
và Ngài sẽ trở lại mang họ theo. Phải chăng đây không phải là một sự trở
về tổ ấm thực sự hay sao ? Ý nghĩa thật sâu sắc ! Những học sinh đã rời
nhà trường tản lạc đi khắp ngả đông tây để kiếm sống, danh vọng, địa vị,
tiền tài. Bao nhiêu thời giờ, nghị lực, tham vọng đã bỏ ra cùng muôn nỗi
nhớ nhung ngôi trường cũ, bạn bè xưa. Nay được trở về xum họp, đúng là
cơ hội mừng vui. Những mối ràng buộc thân tình ngày xưa lại được làm cho
sống lại. Ai nấy đều cảm thấy hạnh phúc, tạm thời gạt bỏ những khó nhọc
vì công việc hằng ngày. Có điều gì đó liên quan đến lời tuyên bố của
Chúa Giêsu : “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống” cho
những cựu sinh viên, và cho toàn thể tín hữu, khi mà việc trở về họp mặt
với Chúa Giêsu trong vương quốc ân sủng, trong hạnh phúc tuyệt vời.
Bởi Ngài chính là tổ ấm của
chúng ta. Những linh hồn đón nhận Ngài đều cảm nhận nơi Ngài có nhiều
chỗ ở, không phải đợi tới đời sau mới được, mà ngay từ đời này. Chính
cuộc sống của Ngài là địa chỉ họp mặt của tất cả chúng ta. Khi Ngài đồng
bàn với các môn đệ không thấy đặt bảng hiệu chỉ rõ chỗ ngồi cho những
chức sắc hay vị trí của những kẻ thân cận tri kỷ. Mọi người đều bình
đẳng, không phân biệt nghèo khó, sang giàu, người thu thuế hay thợ chài
lưới, Phêrô hay Gioan. Ngược lại, Ngài cung cấp chỗ nghỉ ngơi cho những
ai gồng gánh nặng nề, ủi an những linh hồn đau khổ, phiền muộn. Tất cả
đều được danh dự trước mặt Ngài, tìm thấy sự ấm cúng trong trái tim Ngài
và được Cha Ngài yêu thương. Chẳng lạ gì mọi người dù tội lỗi đến đâu
cũng được Ngài tiếp đón. Khi rao giảng Ngài luôn ban phát ơn lành cho
những linh hồn gặp Ngài. Thí dụ, các phụ nữ nơi công cộng, Ngài chấp
nhận họ như những môn đệ của mình, điều mà các thầy thông luật, các biệt
phái từ chối. Nếu họ là những tội nhân, những người bị thần ô uế ám hại,
các kẻ bị loại trừ vì lý do tôn giáo, các thân phận ngoài lề xã hội,
chắc chắn họ tìm thấy nơi nương ẩn nơi lòng thương xót của Ngài, vì Ngài
giải thích lề luật theo căn bản của nó, chứ không đặt thêm gánh nặng
trên vai người có lỗi bằng các tập tục, các thói lệ của đời xưa, xa lìa
ý định Thiên Chúa. Ngài là sự hiện diện của Thiên Chúa trước mặt các tội
nhân. Vì vậy, người trộm lành được một nơi cư ngụ tốt đẹp trên thiên
đàng. Chị phụ nữ ngoại tình được ơn tha thứ và bình an. Ngài ngỏ lời với
tất cả các linh hồn tìm kiếm Thiên Chúa : “Chúc
mừng cuộc trở về tổ ấm nhà ta.”
Đúng vậy, Chúa Giêsu cung cấp
mái ấm cho những ai lắng nghe và chấp nhận lời Thiên Chúa. Nội dung được
gói ghém trong tuyên bố : “Ta là con đường, là sự thật và là sự
sống”.
Bất cứ những ai chấp nhận Ngài như vậy đều tìm thấy nơi cư ngụ trong
trái tim Thiên Chúa, không sợ bị loại bỏ ra ngoài. Hãy để những thứ phù
phiếm trôi vào quá khứ. Những tội lỗi, tham vọng, gánh nặng vào hư vô.
Bởi chúng ta là con Thiên Chúa, chúng ta có thể cảm nghiệm Ngài như cha
mẹ và Ngài ra đi để dọn chỗ cho chúng ta. Đức tin vào Chúa Giêsu như vậy
là nơi cư ngụ của nhân loại. Ngài ban khả năng cho chúng ta sống tốt,
làm điều thiện hảo. Nhờ đó, những kẻ còn ở xa có thể tìm thấy nơi ở vững
bền. Những người yếu kém về kinh tế, xã hội tìm được sự nâng đỡ thăng
tiến. Hôm nay, trước bàn thờ Thánh thể, buổi phụng vụ của chúng ta đúng
lý phải là nơi cư ngụ quen thuộc cho hết thảy mọi người, thường xuyên dự
lễ hay khô khan nguội lạnh.
Nhưng thực tế không được như
vậy. Có những kẻ còn bị loại trừ như di dân, ly dị, đồng tính luyến ái,
con hoang, xì ke, ma tuý, trộm cướp, v. v. Chúng ta cầu xin Chúa cho mọi
người tìm thấy chỗ ở trong trái tim Chúa. Xin Ngài củng cố chúng ta
trong các hoạt động bác ái ngõ hầu Hội thánh, thế giới này trở thành mái
ấm cho mọi linh hồn, không phân biệt già trẻ, trai gái, sắc tộc, trình
độ, sang hèn. Chúng ta đợi trông Chúa Thánh Thần đổi mới mọi sự để trái
đất này thực sự là mái ấm cho loài người cư ngụ. Bởi vì tự thân chúng ta
chẳng thể thực hiện được ước mơ đó. Amen.
G. Nguyễn Cao Luật op
Những bước
chân trên đường
Ga
14,1-12
"Con chồn có hang, con chim có
tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu" (Mt 8,20).
Có thể nói cả cuộc đời Ðức Giêsu
là những bước chân trên đường, là những cuộc di chuyển đây đó, là những
cuộc gặp gỡ với đủ mọi hạng người.
Quả thật, Ðức Giêsu đã giáng
sinh trong một hang đá, ở một nơi không phải nhà mình. Rồi chỉ ít ngày
sau, Người lại cất bước lên đường lưu lạc. Nhất là từ khi hoạt động công
khai, cuộc đời Ðức Giêsu là những nẻo đường, những vết chân ngang dọc :
ban ngày, Người rảo qua các làng mạc để loan báo Tin Mừng, để giảng dạy,
cứu chữa, trò chuyện và gặp gỡ ; đêm xuống, chỗ nghỉ chân của Người là
bất cứ nơi nào, nay chỗ này mai chỗ khác : khi thì dưới gốc cây ô-liu
trong vườn Cây Dầu, khi thì trên sườn núi nhìn xuống bờ hồ Ti-bê-ri-a,
lúc khác trong khoang thuyền lênh đênh trên mặt hồ, hay trong căn nhà ấm
cúng của mấy chị em ở làng Bê-ta-ni-a.
Cuối cùng, cuộc đời của Người đã
chấm dứt với cái chết không phải trong nhà của mình, không phải trên
giường, nhưng là trên một cây gỗ, tại một ngọn đồi bên ngoài thành phố,
để rồi được an táng trong một ngôi mộ không phải dành cho mình.
Cuộc đời của Ðức Giêsu luôn diễn
ra trên đường, những nẻo đường lạ lùng.
Trên đường : một cuộc sống lang
bạt, thoáng đãng, có nắng, có gió, có cỏ cây ... ở đó, Ðức Giêsu đã
giảng dạy, đã loan báo, giải thích các mầu nhiệm ... và điều này phù hợp
với tinh thần tự do, quảng đại của Người.
Trên đường : đến với con người ở
mọi hoàn cảnh, gặp gỡ những tình huống éo le của cuộc sống :
gọi những môn đệ đang đánh cá
bên bờ hồ ;
gặp Mát-thêu ở bàn thu thuế ;
gặp bà mẹ vợ Phê-rô đang ốm nằm ở nhà ;
gặp Ni-cô-đê-mô lúc đêm khuya ;
gặp người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp ;
gặp Da-kêu đang vắt vẻo trên cành cây ;
gặp con trai của người đàn bà goá thành Na-in ;
và nhiều cuộc gặp gỡ khác nứa ...
Cuộc gặp gỡ tiêu biểu nhất là
cuộc hành trình với hai môn đệ đang trên đường trở về Em- mau : Ðức
Giêsu đã giải thích cho hai môn đệ về chương trình của Thiên Chúa, về
con người và sứ mệnh của Ðức Kitô.
Ði và gặp gỡ. .
Gặp và đi.
Những bước chân không bao giờ ngừng lại,
Những bước chân không khi nào ngơi nghỉ,
ngay cả khi người ta muốn tôn
phong Người làm vua, sau khi đã được ăn bánh, Người vẫn trốn đi ;
ngay cả khi người ta định bắt
Người và ném đá, Người vẫn cứ đi ;
ngay cả khi người ta đóng đinh
tay chân Người vào thập giá, Người vẫn chỗi dậy mà đi ;
ngay cả khi Ma-ri-a Mác-đa-la ôm
chân Người, Người vẫn đi : "Thôi đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên
cùng Chúa Cha" (Ga 20,16).
Vậy con đường dài nhất, con
đường đẹp nhất là hành trình từ Thiên Chúa đến với con người và từ con
người đến với Thiên Chúa. Ðức Giêsu đã đi, đi với tất cả nỗ lực của
mình, và đi đến đích.
Ðức Giêsu đã đi đến mọi nơi.
Không chỗ nào có thể gọi là nhà của Người, hay nói đúng hơn, mọi chỗ đều
là nhà của Người. Người đã đi để thể hiện một tình yêu, một tình yêu
thống nhất cả đời sống, một tình yêu chi phối mọi hành động, mọi suy
nghĩ.
Ðửc Giêsu đã đi đường với một
tình yêu lớn. Và tôi nhớ đến thái độ của chúng ta : thiếu gì người vẫn
đi mà trong lòng chẳng có một chút tình yêu ; thiếu gì người vẫn đi mà
trong lòng không nuôi dưỡng một điều gì cả.
Con đường
Nhưng không chỉ có thế. Ðức
Giêsu không phải chỉ là người đi đường, sống trên đường, nhưng chính
Người là Ðường.
Trong lịch sử các tôn giáo,
chẳng có ai dám tự nhận với một danh xưng như thế. Mọi tôn giáo đều là
đường- Ðạo, nhưng ở đây Ðức Giêsu nhận mình là Ðường.
Hai tông đồ Tô-ma và Phi-líp-phê
muốn xác định con đường cũng như nơi chốn để được xem thấy Chúa Cha.
Nhưng Ðức Giêsu xác định rõ : Thầy là Ðường ... Một khẳng định quá bất
ngờ. Các Tông Ðồ tưởng rằng Ðức Giêsu sế chỉ cho các ông thấy con đường
phải đi để gặp được Chúa Cha, nhưng Ðức Giêsu lại là con đường các ông
phải theo.
Con đường mà Ðức Giêsu chỉ cho
các môn đệ không phải là những lí thuyết đạo đức, không phải là những
quy tắc, nhưng là chính bản thân Người. Ðức Giêsu đã rời bỏ các môn đệ
mà không để lại một văn bản nào. Giáo huấn của Người chính là bản thân
của Người. Lịch sử và lí tưởng đều tụ lại ở nơi Người.
Tại sao Ðức Giêsu có thể tuyên
bố như vậy ?
Người là Ðường, bởi vì đồng thời
Người là Sự Thật và là Sự Sống.
Ðức Giêsu là Sự Thật, vì nơi
Người, cái Tuyệt Ðối đã nhập thể và được bày tỏ cho con người. Chính
Người đã đến với con người để giải đáp những vấn nạn đang làm họ băn
khoăn day dứt Chính Người mới có đủ thẩm quyền để vén lên bức màn cho
nhân loại thấy tình yêu bao la và kì diệu của Thiên Chúa vẫn được giấu
kín từ muôn thuở.
Ðức Giêsu là Sự Sống, vì Người
luôn hiệp thông với Chúa Cha là sự sống vĩnh cừu. Chính Người không
ngừng thông ban sự sống ấy cho nhân loại, thông ban cách tràn trề và
phong phú. Chính Người mới cho con người được sống đích thực, sống trong
tự do và được quý trọng như những người con của Thiên Chúa.
Nói tóm lại, Ðức Giêsu là Ðường,
là Sự Thật và là Sự Sống, bởi vì Người luôn làm một với Chúa Cha : Người
ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Người.
Ðiều này cũng có nghĩa là ngoài
Con Ðường của Ðức Giêsu, không có con đường nào khác ; ngoài Sự Thật do
Ðức Giêsu đem đến, không có sự thật nào khác ; và ngoài Sự Sống do Ðức
Giêsu ban tặng, người ta không thế nào sống được. Con đường trở nên dễ
thương, dễ đi bởi vì đó không phải là việc tuân theo một cách máy móc
những quy tắc, những luật lệ. Con đường ấy là một ngôi vị, một mối hiệp
thông sâu xa với Ðức Giêsu.
Như vậy, Ðức Giêsu là con đường
dẫn đến Thiên Chúa Cha nhờ sự hiệp thông vĩnh cửu. Khi đến trần gian,
Người đã mở ra những con đường để rồi lại quy tụ nơi chính Người, qua
cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh.
Trong bầu khí thinh lặng của
buổi sáng ngày Phục Sinh, lời đem lại ơn giải thoát đã được vang lên.
Ðức Giêsu loan báo việc hoàn tất công trình cứu độ :
Thầy là Ðường, là Sự' Thật và là Sự Sống".
Trên con đường Giêsu Kitô, con
người gặp được Thiên Chúa ;
trên con đường Giêsu Kitô, con
người hiểu được thế nào là tình yêu thương ;
trên con đường Giêsu Kitô, con
người biết chắc mình sẽ đi đến đích.
Ðức Giêsu là con đường duy nhất.
Tôi nghĩ đến con đường của chúng ta : dường như chúng ta đang bước đi
trên những con đường không phải là Con Ðường Giêsu, chúng ta vẫn tìm
kiếm Thiên Chúa trên những nẻo đường không phải là Ðức Giêsu.
Phải từ bỏ
Khi được mời gọi bước
theo Ðức Giêsu, các Tông Ðồ đã phải bỏ lại tất cả : gia đình, nghề
nghiệp ... Các ông đã khám phá ra rằng chính sự liều lĩnh này lại là con
đường dẫn đến sự sống. Ðó là điều các ông muốn truyền lại cho chúng ta
khi loan báo sứ điệp Phục Sinh.
Mỗi chúng ta cũng sẽ
phải gạt bỏ mọi ảo tương : không có một kiến thức hay mặc khải nào có
thể miễn chuẩn cho chúng ta bổn phận phải tiến bước, phải liều, phải
chết đi. Càng bước đi trên đường, lại càng phải từ bỏ.
Từ bỏ để bước đi và
bước đi để từ bỏ.
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Chúa
Kitô là đường
(Ga
14,1-12)
Trong các sách Tin
Mừng, chúng ta thấy có một sự khác biệt rất lạ lùng và thú vị về các
danh hiệu mà chính Chúa Giêsu đã tự nói, tự định nghĩa về mình, chẳng
hạn Ngài tự xưng mình là Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, là ánh sáng, là
bánh hằng sống, là cửa chuồng chiên, là mục tử tốt lành. Ngoài ra, Chúa
còn dùng những hình ảnh để tự ví mình, chẳng hạn Ngài ví mình như kẻ
trộm, như tân lang, như hoàng tử… Mỗi danh hiệu, mỗi hình ảnh đó đều có
một ý nghĩa sâu xa, độc đáo và thú vị.
Bài Tin Mừng Chúa
Nhật tuần trước, chúng ta thấy Chúa Giêsu tự xưng mình là cửa chuồng
chiên, là cửa dẫn vào Hội Thánh, là cửa dẫn vào Nước Trời. Ai muốn vào
Nước Trời phải đi qua cửa đó. Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chúng ta
thấy Chúa Giêsu lại xưng mình là đường dẫn tới Nước Trời. Nước Trời là
nhà Cha, trong đó có đủ chỗ cho hết mọi người. Chúa Giêsu lên trời là để
dọn chỗ cho chúng ta. Nhưng ai muốn đến với Chúa Cha, muốn đến chỗ ở của
mình trên trời, phải đi trên con đường đó.
Tất cả chúng ta đều
biết : con đường là những phương tiện để đi lại, để lưu thông và vận
chuyển, nhờ đó giúp người ta có thể giao dịch và liên kết với nhau. Dù
là những con đường mòn nhỏ bé, quanh co xuyên qua các làng mạc, dù là
những con đường hẻm, chật hẹp chằng chịt trong các thành phố, cho đến
những con đường cái quan, những xa lộ trải đá, trải nhựa, đều là những
phương tiện để con người đi lại và đạt tới mục đích đã định. Cũng vậy,
Chúa Kitô là đường, là con đường liên kết đất với trời, liên kết loài
người với Thiên Chúa.
Từ khi tổ tông loài
người phạm tội, con đường dẫn tới Nước Trời, dẫn tới hạnh phúc đích
thực, dẫn tới Thiên Chúa đã bị phá huỷ, đã bị đứt quãng. Chúa Kitô đã
tái lập giao thông, làm cho con đường về trời được mở lại như cũ. Ai
muốn đến với Thiên Chúa, muốn về quê trời, đều phải đi trên con đường
đó, như chính Chúa đã quả quyết : “Không ai đến được với Cha mà không
qua Thầy”.
Từ 20 thế kỷ qua, con
đường ấy thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng. Con đường ấy mở ra bằng
một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc. Con đường ấy trải dài
tin yêu, thắp sáng hy vọng để dẫn tới nhà Cha trên trời. Con đường ấy
mang tên Giêsu, con đường ấy chính là Ngài. Ngài là đường, là sự thật và
là sự sống, nghĩa là đến với Ngài, tin vào Ngài là gặp được sự thật và
sự sống đích thực.
Nói rõ hơn, từ xưa
cho đến nay, có nhiều tôn giáo hoặc chủ nghĩa nối tiếp nhau đưa ra những
quan niệm về vũ trụ, về con người, về hạnh phúc, nhằm giải đáp các thắc
mắc và đề nghị những phương thế như những con đường dẫn tới hạnh phúc.
Mỗi con đường có một giá trị riêng của nó và nhằm dẫn tới thứ hạnh phúc
nhất định. Chúng đã góp phần không nhỏ giúp con người sống tương quan
tốt đẹp hơn với nhau qua dòng lịch sử.
Tuy nhiên, những vị
sáng lập các tôn giáo là những người có công tìm ra một con đường và
truyền giảng cho người khác, rồi họ đều đã chết, họ chỉ là những người
tìm kiếm và chỉ đường. Còn Chúa Giêsu đã ý thức rõ về mình và tuyên bố
rằng : “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống”, nghĩa là Ngài đã biết
đường, không phải tìm kiếm, Ngài chỉ đường và còn có khả năng giúp người
ta đi trọn đường để đạt tới đích, vì Ngài chính là đường. Ngài không cần
phải tịnh niệm để tìm sự thật, vì Ngài là sự thật. Ngài cũng sống và
chết như mọi người, nhưng Ngài đã phục sinh và sống vĩnh hằng, vì Ngài
chính là sự sống. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, là đường, là sự
thật và là sự sống, đó là cơ sở vững chắc tuyệt đối để chúng ta chọn
Ngài là đường dẫn tới hạnh phúc đích thực và toàn diện.
Vì thế, Chúa Giêsu
dạy bảo và mời gọi chúng ta bước theo Ngài trên con đường đó. Tất cả
chúng ta đều biết: trần gian chưa phải là quê hương, và những ngày chúng
ta đang sống chỉ là những bước hành trình trở về quê hương. Rõ ràng đời
này chỉ là cuộc sống tạm bợ, chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu. Vậy trong
cuộc hành trình này, trong cuộc sống tạm bợ này, chúng ta phải sống thế
nào để đảm bảo về đến quê hương và sống hạnh phúc?
Như một người Cha tốt
lành, Chúa Giêsu lại chỉ dạy thêm cho chúng ta biết con đường chắc chắn
đi vào cõi phúc, đó là con đường hẹp. Chúa nói : “Con đường rộng rãi
thênh thang là lối đưa đến hư mất và có nhiều kẻ đi lối ấy. Còn con
đường đưa tới sự sống thì chật hẹp và ít kẻ đi theo lối ấy”. Như vậy là
có hai con đường, hai con đường tóm kết hết mọi lối sống luân lý của con
người. Giữa hai con đường đó, người ta được tự do chọn lựa, và chịu
trách nhiệm về sự chọn lựa của mình.
Tại sao con đường dẫn
tới sự sống lại chật hẹp và ít người đi theo con đường này, trong khi
nhiều người lại bước theo con đường rộng đưa đến sự chết ? Bởi vì
con đường gồ ghề, chật hẹp là con đường phải từ bỏ mình, khép mình theo
kỷ luật, theo giới răn Chúa, là con đường chấp nhận những hy sinh, khó
khăn, vất vả, đau khổ… vì thế con người không muốn đi trên con đường đó.
Trái lại, con đường rộng rãi thênh thang, đầy vẻ quyến rũ là con đường
sống thoải mái, theo ý riêng, là con đường bất công, kiêu ngạo, ích kỷ,
ghen ghét… dẫn tới những ngõ cụt, chán chường và thất vọng. Tóm lại, là
con đường tà không đưa tới đích cuối cùng của cuộc sống là hạnh phúc
vĩnh cửu, thế mà nhiều người lại thích đi theo con đường này.
Vì vậy, mỗi người chúng ta hãy xét mình xem, chúng ta có
đang đi vào con đường hẹp của Chúa Giêsu không hay đi ngoài lề, đi trệch
đường, đi ngược chiều ? Chúng ta phải luôn nhớ : con đường hẹp này, có
lúc thẳng băng, có lúc quanh co, có lúc bằng phẳng, có lúc gồ ghề đầy ổ
gà. Đó là hình ảnh về cuộc đời con nguời chúng ta. Cuộc đời chúng ta
được ví như có bốn mùa thay đổi nhau. Đừng ai tưởng rằng đời mình chỉ có
một mùa xuân, cũng đừng ai cho rằng đời mình chỉ là một mùa đông ảm đạm,
hay chỉ là mùa hè nóng bức oi nồng. Nhưng dù đường đời của chúng ta thế
nào, chúng ta cũng phải bền gan can trường đi tới đích, vì “kiến tha lâu
đầy tổ, “có công mài sắt có ngày nên kim”, và nhất là “ai bền đỗ đến
cùng mới được cứu rỗi”.
Gioan B. Vũ Văn Tín op
Thầy
là đường. là sự thật và là sự sống
Ga 14,1-12
Thầy là đường.
Ngay từ khi Thiên Chúa tạo dựng
lên loài người chúng con Thiên Chúa đã mời gọi chúng con tham dự
vào đời sống của Thiên Chúa Ba
Ngôi, vì thế mục đích của đời sống chúng con chính là được hiệp thông
mật thiết với Thiên Chúa. Nhưng làm sao chúng con có thể hiệp thông khi
sức hiểu của chúng con còn nhiều hạn chế, cũng như thánh Tôma ngày xưa
đã từng hỏi Chúa : “Thưa Thầy, chúng con không biết thầy đi đâu, làm sao
chúng con biết được đường đi ?” qua câu hỏi này, Chúa đã mặc khải cho
chúng con một điều trọng đại : “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.
Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua thầy”. Thật vậy, chúng con
chỉ có thể hiệp thông với Thiên Chúa Cha qua Người con là chính Thầy,
chính Thầy là con đường dẫn chúng con đi và cứ theo con đường đó để đến
với Chúa Cha. Thầy không chỉ đưa ra những lời khuyên dạy, hướng dẫn
đường đi mà thôi, nhưng chính Thầy đã dẫn và cùng đi với chúng con mỗi
ngày.
Thầy là
sự thật
Chân lý hay sự thật
là những cụm từ chúng con đã được nghe, được học hỏi nhiều lần, song
không thể tìm thấy một chứng nhân nào sống cho chân lý cho sự thật
ấy một cách hoàn trọn ngoại trừ Thầy, và chỉ có Thầy mới là sự thật là
chân lý vì chân lý đạo đức mà Thầy trao lại cho chúng con không chỉ
truyền đạt bằng lời nói mà được truyền đạt bằng chính gương sống của
Thầy.
Thầy là
sự sống
Thầy đã từng nói với
các môn đệ : « Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dù đã chết
cũng sẽ được sống”. Trong suốt đời sống của một kiếp người, xét cho cùng
con người luôn tìm kiếm một đích điểm sâu xa đó là sự sống. Con người
không tìm tri thức chỉ vì tri thức, nhưng tìm những gì tri thức
đem lại cho sự sống, hay làm cho cuộc đời này đáng sống.
Lạy Chúa Giêsu Thánh
Thể, Chúa đã phán : “Không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua
Thầy”. Xin cho chúng con luôn hiệp thông với Chúa để chúng con không lầm
đường lạc lối, và cho chúng con gắn kết với Chúa vì chỉ một mình Ngài
mới dẫn đưa chúng con đến với Chúa Cha mà chúng con không phải sợ hãi,
thất vọng.
Lạy Chúa, sống giữa
cuộc đời trần thế này, có biết bao lời mời gọi hấp dẫn của tiền tài,
danh vọng, của địa vị xã hội lôi cuốn chúng con, dễ làm chúng con biến
chất chạy theo lời mời gọi ấy bằng cách lường gạt, chà đạp người khác.
Lạy Chúa, xin cho chúng con có đủ can đảm để dám sống thật, và đừng để
chúng con vì chút lời lãi của cải trần gian này mà sống sai Lời
Chúa dạy.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa
đã đến để cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con
biết đặt trọn niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa, xin cho chúng con luôn
biết tôn trọng sự sống vì Chúa là chủ sự sống. Amen
Đỗ Lực op
Chuột sa chĩnh gạo
(Ga
14:1-12)
Trong sứ điệp gởi cho
người Công giáo và dân chúng Hoa Kỳ, ÐGH Bênêđictô XVI viết : "Cùng với
các Giám mục, tôi chọn chủ đề 3 chữ đơn giản nhưng thiết yếu cho cuộc
tông du : "Christ Our Hope." (Ðức Kitô, Niềm Hy vọng chúng ta.) Theo
chân các vị tiền nhiệm đáng kính, Ðức Phaolô VI và Gioan Phaolô II, tôi
sẽ đến Hiệp Chủng Quốc lần đầu tiên với tư cách Giáo hoàng, để công bố
chân lý vĩ đại này : Chúa Giêsu Kitô là niềm hy vọng cho mọi người thuộc
mọi ngôn ngữ, chủng tộc, văn hóa và hoàn cảnh xã hội."[i]
Ðâu là niềm hy vọng
lớn lao nhất của nhân loại nếu không phải tự do ? Làm sao có tự do đích
thực, nếu Chúa Giêsu không chết trên thập giá. Quả thực,“chính để chúng
ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta.” (Gl 5:1) Khi xuống
trần gian, Chúa Giêsu đã tự xưng là con đường dẫn đến sự thật và sự sống
tự do trong Chúa Cha. Chính vì thế mà Người trở thành niềm hy vọng chúng
ta.
CHIỀU SÂU NƯỚC TRỜI
Sống giữa trần gian,
Chúa Giêsu vẫn còn là một ẩn số, ngay cả với các môn đệ. Dù sau khi tự
mạc khải vừa là cứu cánh và vừa là phương tiện giúp con người tới Chúa
Cha, Người vẫn còn là một mầu nhiệm đối với các ông. Bằng chứng, Người
giải thích mãi các ông vẫn chưa nhận ra sự thật về Người. Một phần cũng
vì những lời mạc khải có phần trừu tượng. Một phần vì những mầu nhiệm
quá ẩn sâu trong Chúa Cha.
Nhưng nhờ thời gian
chung sống với Chúa, các môn đệ nhận ra phần nào sự thật về Thày. Chắc
chắn phải đợi Thần Khí ngự xuống, các ông mới được mạc khải hoàn toàn.
Dầu thế, Chúa không muốn các ông quá lo lắng về số phận ngày mai …
Dù vắng bóng Thày,
cuộc đời vẫn không ngừng trôi. Bởi thế, các môn đệ cần xác định rõ
phương hướng và tỉnh thức trước những âm mưu đen tối của kẻ thù. Dù đang
trong giai đoạn nào, họ vẫn luôn là lữ khách trên trần gian. Họ đang đi
trên con đường dẫn về nhà Cha hay Nước Thiên Chúa. Con đường đó chính là
Ðức Kitô (x. Ga 14:6). Ngoài con đường đó, họ không thể sống tự do, hạnh
phúc và bình an. Chắc chắn đó là con đường giải thoát, vì Người là chân
lý. Theo con đường đó, họ không thể bị lầm lạc. Hơn nữa, họ sẽ mãn
nguyện khi “biết” và “thấy” Chúa Cha nơi Chúa Con. Như thế, con đường đó
sẽ dẫn họ vào cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa. Còn gì hạnh phúc
hơn !
Con đường đó sẽ bảo
đảm cho họ một cuộc sống bình an, vì Người là Ðấng Công Chính (x. Cv
3:14). Người sẽ công chính hóa bất cứ ai bước vào con đường của Người.
Ðó là con đường công lý dẫn đến bình an cho muôn người. Muốn có công lý,
cần tôn trọng tha nhân với những khác biệt của họ, vì “trong nhà Cha
Thầy, có nhiều chỗ ở.” (Ga 14:2) Nói khác, trong Nhà Cha có nhiều khác
biệt nhưng vẫn hiệp nhất. Không tôn trọng sự khác biệt ấy, không thể
sống trong Nhà Cha.
Chính vì không tôn
trọng sự khác biệt của nhau, nên mới có cảnh “các tín hữu Do-thái theo
văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, vì trong việc
phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên.”
(Cv 6:1) Thật là bất công ! Nếu cảnh bất công này kéo dài, cộng đoàn
tiên khởi sẽ mất bình an. Công cuộc truyền giáo sẽ bị ảnh hưởng. Rất may
sự phân công rõ ràng đã tháo gỡ bế tắc. Tất cả đều được giải quyết dựa
trên quyền tối ưu của “việc rao giảng Lời Thiên Chúa.” (Cv 6:2) Nhờ Lời
Chúa, Giáo hội mới có đủ sáng suốt để trình bày những khác biệt một cách
một cách trung thực và tìm cách giải quyết những bất đồng mà vẫn tôn
trọng mọi người.
Ðó là con đường đầy
ắp tình Chúa và tình người. Ði vào con đường đó, Giáo hội đã tìm kiếm
được chân lý, công lý, sự sống, tự do và bình an. Ðó là “những việc lớn
hơn nữa” do cộng đoàn những người “tin vào Thày” (Ga 14:12) thực hiện,
đúng như Chúa hứa. Còn niềm vui nào lớn hơn ! Niềm vui ấy thật sung mãn
vì Thiên Chúa “đã gọi anh em ... vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.”(1 Pr
2:9)
Ánh sáng diệu huyền
đó chỉ chiếu soi những ai tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu đã chết và
sống lại vì họ. Chúa đã trải qua trước tiên để mở đường khai lối cho
những người em nhân loại, để “dọn chỗ” (Ga 14:2) cho họ trong nhà Cha.
Nhà Cha chính là trái tim Chúa. Quả thế, Chúa nói rõ : “Thầy ở trong
Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.” (Ga 14:11) Ðó là việc cư ngụ trong
trái tim, sự hiện diện sâu xa, sự hiệp thông với tình yêu vĩnh cửu là
chính Thiên Chúa.
Tình yêu sung mãn đó
đã hiện rõ trên dung nhan Chúa Kitô. Không cần đợi thấy Chúa Cha mới mãn
nguyện vì “ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14:9) Khi nhắc bảy lần
câu văn đơn sơ đó trong một đoạn văn ngắn, Chúa có ý cảnh giác các môn
đệ : họ là những con “chuột sa chĩnh gạo” mà không hay ! Họ đã tìm thấy
một con đường dẫn đến chân lý giải thoát và sự sống sung mãn trong Thiên
Chúa tình yêu. Sống trong hạnh phúc tuyệt vời như thế, họ còn đòi hỏi gì
nữa ?! Chúa là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. Người là mạc khải
trọn vẹn về bản chất Thiên Chúa. Cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, chân lý và
thực tại ngừng lại nơi Ðức Kitô (x. Cl 1:15; Dt 1:1-4).
Nhờ quyền lực Thần
Khí, các môn đệ sẽ hoạt động để đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa ra khỏi
lãnh thổ Palestine và đưa vào thế giới. Mọi người sẽ mãn nguyện vì “Chúa
Giêsu là con đường dẫn tới Chúa Cha. Như chân lý, Người đến thực hiện
mọi lời hứa của Thiên Chúa. Như sự sống, Người nối kết sự sống Thiên
Chúa với sự sống chúng ta, từ đây cho tới muôn đời.”[ii]
Nhờ đó, con người tìm được một lối sống hạnh phúc.
QUYỀN
NĂNG
Chúa Giêsu là con
đường đưa vào chiều sâu thẳm thẳm của Nước Trời hay dẫn tới cuộc hiệp
thông sâu xa với Chúa Cha. Mọi người sẽ mãn nguyện vì sẽ “khám phá ý
nghĩa sau cùng của cuộc đời trong Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới có thể
đưa ra câu trả lời thỏa đáng nhất qua Mạc khải của Con Thiên Chúa làm
người. Thực vậy, Tin mừng ‘loan báo và công bố sự tự do của con
cái Thiên Chúa. Tin Mừng không chấp nhận mọi hình thức nô lệ tội lỗi.
Tin mừng tuyệt đối kính trọng phẩm giá và tự do lựa chọn của lương tâm.
Tin Mừng không ngừng khuyến khích con người dùng tài năng phục vụ Thiên
Chúa và con người. Sau cùng, Tin Mừng thúc đẩy mỗi người yêu thương mọi
người cách quảng đại.’”[iii]
Bao giờ những giấc mơ
đó trở thành sự thật ? Con người quá bị giới hạn đến nỗi nhiều khi không
thể thực hiện những dự định nhỏ nhất. Muốn thoát khỏi giới hạn đó, con
người cần phải gia nhập gia đình Thiên Chúa để “Thầy ở trong Cha Thầy,
anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.” (Ga 14:20) Ðó là cuộc hiệp
thông đem lại sức mạnh kỳ diệu cho những ai muốn làm cuộc cách mạng trần
thế.
Cuộc cách mạng đó là
giải thoát nhân loại khỏi những áp bức bất công. Nhân loại chỉ hoàn toàn
tự do, khi các môn đệ Chúa Kitô biết “tin vào Thầy.”(Ga 14:12) Có tin
vào Thày, họ mới “làm được những việc Thầy làm,” và “còn làm những
việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.” (Ga 14:12) Trong cuộc
hiệp thông đó, con người có thể hành động hữu hiệu. Mối hiệp thông kỳ
diệu đó có tên gọi là Thần Khí. Chính nhờ Thần Khí, Thiên Chúa hiện diện
và gắn bó với chúng ta. Không có Vị Thiên Chúa hiệp thông đó, sự sống
thần thiêng hay thiêng liêng không thể lưu chảy trong tâm hồn con người.
Không những đưa con
người vào cuộc hiệp thông kỳ diệu với Thiên Chúa, Thần Khí còn nối kết
con người với nhau. Hơn bao giờ, nhân loại cần Thần Khí để “hợp tác thực
sự với nhau trên mức độ toàn cầu để có thể đạt tới công ích cho toàn thể
nhân loại và cho các thế hệ tương lai.”[iv]
Không nhắm công ích, không thể giải quyết các vấn đề căn bản của nhân
loại.
Muốn giải quyết những
vấn đề căn bản đó, nhân loại không thể cậy dựa vào sức mạnh quân sự,
kinh tế, nhưng cá nhân cần phải ý thức trách nhiệm đối với tự do. ÐGH
Bênêđictô XVI lưu ý mọi người rằng tự do không phải chỉ là một hồng ân,
nhưng cũng là lời “mời gọi cá nhân phải có tinh thần trách nhiệm.”[v]
Ðiều đó đòi hỏi phải có thời gian kiên trì giáo dục quần chúng. Thực
vậy, “muốn duy trì tự do, con người cần phải tập luyện nhân đức, tự kỷ
luật, hy sinh cho công ích và ý thức trách nhiệm đối với những người kém
may mắn. Tự do cũng đòi hỏi con người can đảm dấn thân vào đời sống công
dân và đem những niềm tin và giá trị sâu thẳm nhất ra tranh luận công
khai. Tóm lại, tự do mãi mãi mới mẻ. Ðó là một thách đố cho từng thế hệ,
và vì công ích, mọi người phải nỗ lực đạt đến tự do.”[vi]
Muốn có tự do, con
người phải tôn trọng sự thật, vì chỉ sự thật mới có sức mạnh giải thoát
(x. Ga 8:32). Thực vậy, “trong một thế giới không có sự thật, tự do đánh
mất nền tảng, và nếu không có những giá trị thực sự, một nền dân chủ có
thể mất chính linh hồn mình.”[vii]
ÐGH Bênêđictô XVI nhắc lại lời khẳng quyết tương tự của TT George
Washington : “Tôn giáo và luân lý tiêu biểu cho ‘những hỗ trợ cần thiết’
giúp nền chính trị được hưng thịnh.”[viii]
Càng tránh né hay che đậy sự thật, con người càng bị sa lầy và lụn bại.
Không có sự thật, không thể có tự do. Không có tự do, không thể phát
triển.
Tự do là quyền căn
bản nhất của con người. Trong buổi nói truyện với các nhà ngoại giao tại
Liên Hiệp Quốc ngày 18.04.2008, ÐGH Bênêđictô XVI đã mạnh mẽ đề cao nhân
quyền như một đường lối ngăn ngừa bạo động, khủng bố và chiến tranh.
Người nói : “Cổ võ nhân quyền vẫn còn là chiến lược hữu hiệu để giảm bớt
những bất bình đẳng giữa các quốc gia và các nhóm xã hội, và tăng cường
an ninh.”[ix]
Càng chà đạp nhân quyền, càng tạo nhiều bất ổn trong xã hội. Những yếu
tố kinh tế, chính trị, quân sự … không đủ để tạo nên công ích.
Hơn nữa, “những đòi
hỏi của công ích tùy thuộc những hoàn cảnh xã hội của mỗi thời kỳ lịch
sử và liên hệ chặt chẽ với việc kính trọng và thăng tiến toàn diện nhân
vị và những quyền căn bản của con người. Trên hết, những đòi hỏi này
liên hệ tới cam kết thực thi hòa bình, tổ chức các quyền lực Quốc gia,
một hệ thống pháp lý lành mạnh, việc bảo vệ môi trường, việc cung cấp
những dịch vụ thiết yếu cho mọi người, một số trong những việc đó đồng
thời là nhân quyền : thực phẩm, nhà cửa, việc làm, giáo dục, văn hóa,
vận chuyển, việc chăm sóc cơ bản cho sức khỏe, tự do truyền thông và
ngôn luận, việc bảo vệ tự do tôn giáo.”[x]
Nhân quyền là một đòi hỏi khẩn thiết của công ích. Khi nhân quyền không
được tôn trọng, quyền lợi quốc gia sẽ biến thành sức mạnh củng cố những
tư lợi cá nhân hay bè phái. Chỉ khi đạt tới công ích, quyền lợi mọi
người mới được tôn trọng. Nhân dân mới thoát khỏi cảnh lầm than. Mọi
người thực sự vui hưởng tự do, dân chủ và hòa bình.
CON
ÐƯỜNG
SỐNG
Muốn đạt tới công
ích, trước hết cần nhận định rõ về tình trạng thế giới hôm nay. Theo ÐGH
Bênêđictô XVI, “nhiều nơi trên thế giới hiện nay đang sống trong tình
trạng căng thẳng và chiến tranh. Tuy nhiên, ngay cả những nơi không có
thảm họa chiến tranh, cũng tràn lan những cảm giác sợ hãi và bất an. Hơn
nữa, hiện tượng khủng bố toàn cầu làm cho người ta khó phân biệt hòa
bình và chiến tranh, tác hại trầm trọng niềm hy vọng của nhân loại vào
tương lai.”[xi]
Nhân loại đang lạc vào mê lộ kinh hồn.
Ðâu là con đường dẫn
nhân loại thoát khỏi những bế tắc hôm nay ? “Làm cách nào đáp ứng
những thử thách đó ? Làm sao chúng ta có thể nhận ra ‘các dấu chỉ thời
đại’? Chắc chắn hành động phối hợp trên bình diện chính trị, kinh tế và
pháp luật là điều cần thiết, nhưng, trước hết, cần cùng suy tư về mặt
luân lý và tinh thần. Điều thìết yếu hơn nữa là xiển dương một ‘nền nhân
bản mới’.”[xii]
Ðây là lúc nhân loại phải trở về với những giá trị tinh thần, chứ không
phải chỉ có vật chất, để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc đích thực. Quả
thế, ÐGH cảnh giác, chúng ta không thể hiểu “chủ nghĩa nhân bản mới”này
chỉ thu gọn sự phát triển vào ‘sự lớn mạnh về kinh tế,’ nhưng phải gồm
chiều kích luân lý và tinh thần. Ðồng thời, một nền nhân bản toàn diện
đích thực cũng phải biểu lộ tình đoàn kết.”[xiii]
Nói khác, chỉ có thể hạnh phúc và bình an nếu biết quan tâm đển những
giá trị siêu việt và sống trong tình liên đới với người khác.
Vào thực tế, ÐGH
Bênêđictô quả quyết : “Hoà bình đích thực và lâu dài là chuyện không
tưởng nếu không phát triển từng cá nhân và cả các dân tộc.” Thế nhưng,
“suy tư về việc cắt giảm vũ khí là điều không thể hiểu nổi, nếu trước
nhất chúng ta không loại trừ bạo lực tận gốc rễ, nếu trước tiên con
người không cương quyết đi tìm hòa bình, tìm điều thiện hảo và công lý.”[xiv]
Ðây là một trách nhiệm nặng nề và khó thực hiện, vì con người chỉ thấy
cái lợi trước mắt và không thấy hết những liên hệ tinh thần trong công
cuộc xây dựng cộng đồng nhân loại. Những ai đang nắm quyền trong xã hội
đạo đời cần phải ý thức rằng “quyền con người được hưởng hòa bình là
điều thiết yếu và không thể bị tước đoạt, và sự thực thi tất cả các
quyền khác đều tùy thuộc vào quyền này.”[xv]
Trong cuộc tông du
Hoa kỳ, sau khi đọc kinh chiều với các giám mục ÐGH Bênêđictô XVI ban
huấn từ : “Trong một xã hội đề cao tự do cá nhân và sự tự lập, không dễ
gì thấy sự lệ thuộc và trách nhiệm chúng ta đối với tha nhân. Sự chú
trọng vào cá nhân chủ nghĩa ảnh hưởng cả đến Giáo Hội (x Spe Salvei,
13-15), khiến nó phát sinh một loại đạo đức quá chú trọng tới liên
hệ riêng tư với Thiên Chúa, mà quên mất tiếng gọi trở nên thành phần của
một cộng đồng cứu độ. Nhưng ngay từ đầu, Thiên Chúa thấy rằng “con người
ở một mình không tốt.” (St 2 :18) Chúng ta được dựng nên như những
sinh vật có tính xã hội, chỉ hoàn chỉnh trong tình yêu - đối với Thiên
Chúa và tha nhân. Nếu thực sự chú tâm đến Chúa là nguồn vui, chúng ta
cần phải hành động như những thành phần dân Chúa (x. Spe Salvi).”[xvi]
Quả thực, nếu không
gột bỏ tính ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa ra khỏi văn hóa, chúng ta phải
đối đầu với rất nhiều thảm họa cho cuộc sống hôm nay và ngày mai. Không
biết từ bao giờ, nền văn hóa Việt Nam đã nhuốm đầy màu sắc tư kỷ. Biết
bao công ích đã bị tiêu hủy trong nền văn hóa chúng ta ! Biết bao giá
trị tinh thần phải hy sinh vì nền văn hóa còn nhuốm đầy mùi vật chất. Ðã
đến lúc cần lên kế hoạch Phúc âm hóa văn hóa Việt Nam. Nếu không, đợi
đến bao giờ chúng ta mới bắt đầu làm cho Tin Mừng nhập cuộc vào đời sống
của dân tộc chúng ta ? Nếu mỗi Kitô hữu Việt Nam tích cực sống đạo hơn
một chút, nền văn hóa dân tộc sẽ mau được thanh tẩy khỏi những vết nhơ
do nền văn hóa tư kỷ và vô thần gây nên.
Chào mừng ÐGH
Bênêđictô XVI đến Hoa kỳ tông du, TT Bush phát biểu : “Chúng tôi cần sứ
điệp của ngài để phi bác thuyết tương đối độc tôn và hướng theo một nền
văn hóa của công lý và sự thật. Trong một thế giới có một số người coi
tự do chỉ là quyền làm bất cứ điều gì theo ý mình, chúng tôi cần ngài
công bố cho mọi người sứ điệp, tự do đích thực đòi chúng ta không
chỉ sống tự do cho mình mà thôi.”[xvii]
Sau cuộc đàm đạo với ÐGH, chắc TT Bush thấy ÐGH đáp ứng được niềm mong
đợi của ông.
Tóm lại, nhân loại
đang tìm một con đường sống tự do. Hơn ai hết, Chúa Kitô là con đường
dẫn chúng ta đến cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa và đồng loại. Nhờ
đó, chúng ta mới có thể tìm được những giá trị tinh thần đích thực và
cần thiết để xây dựng cuộc sống hạnh phúc hôm nay và ngày mai.
Lạy Chúa, giữa muôn
bế tắc trong cuộc sống hôm nay, xin mạc khải cho chúng con thấy rõ Chúa
Giêsu « là con đường, sự thật và sự sống, » để chúng con sống một cuộc
đời tự do, hạnh phúc và bình an. Amen.
đỗ lực 20.04.2008
[ii]
Life Application Study Bible : New International Version,
Zondervan 1991:1911.
[iii]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 576.
[x]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 166.
Lm. Jude Siciliano, OP (Anh
Em Nhà Học Đa Minh Gò Vấp chuyển ngữ)
Những viên đá sống động
xây nên ngôi nhà Thiên Chúa
Ga 14: 1-12
Thưa quý vị,
Bài đọc trích sách Công vụ Tông đồ hôm
nay diễn tả những ngày đầu của Giáo hội. Cộng đoàn ngày càng phát triển
và khi số thành viên trong cộng đoàn tăng nhanh thì những căng thẳng
cũng xảy ra. Hôm nay, chúng ta nghe lời kêu trách từ các tín hữu Do Thái
theo văn hóa Hy Lạp (những Kitô hữu nói tiếng Hy Lạp) rằng các bà góa
trong nhóm họ không được “những tín hữu Do Thái” (gốc) chăm sóc.
Đôi khi, những bất đồng về ngôn ngữ và văn hóa dường như có thể gây ra
những căng thẳng, thậm chí là sự phân biệt đối xử ngay trong những cộng
đoàn Giáo hội.
Tình hình căng thẳng giữa hai nhóm này có
khả năng làm chia rẽ Giáo hội tiên khởi, vì thế những người lãnh đạo
cộng đoàn mau mắn để tâm đến vấn đề này. Ông Têphanô và các bạn của ông
được chọn để “lo việc ăn uống”, nghĩa là nuôi những người đói khát. Các
Tông đồ sẽ chuyên lo việc “cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa”. Bởi vì
đây là Công vụ Tông đồ, mà có người đề nghị gọi là “Công vụ của Thánh
Thần”, nên tiêu chuẩn chọn lựa ông Têphanô chính là ông được “đầy Thần
Khí và khôn ngoan”. Những môn đệ đầu tiên “được đầy Thần Khí” sẵn sàng
hoạt động cùng nhau.
Ngày nay, liệu có những khác biệt như thế
trong các giáo xứ của chúng và trong Giáo hội phổ quát ta hay không?
Những nhóm nhỏ hơn có cảm thấy họ thấp cổ bé miệng hay không? Những
người mới đến có được tiếp đón? Có những cuộc tranh giành quyền lực giữa
“thế hệ cũ” và các giáo dân mới? Chúng ta bị chia rẽ không? Ở một vài
nơi, chúng ta và những căng thẳng này đã chia rẽ cộng đoàn và thuyết
phục người ta đi đến một chốn khác. Mỗi chúng ta, ban mục vụ giáo xứ và
giáo dân, hãy tin tưởng vào những hành động mang tính cầu nguyện, ân cần,
trắc ẩn và kiên quyết của các tín hữu tiền nhân như là mẫu gương để
chúng ta làm thành Giáo hội của Đức Giêsu Kitô .
Có một điều ngạc nhiên đối với Giáo hội
tiên khởi là họ đã cảm nghiệm được sự phát triển và lòng nhiệt thành mà
họ đã thi hành. Bản văn Kinh Thánh hôm nay được lấy từ Những lời từ
biệt của Đức Giêsu với các môn đệ vào đêm trước khi Người chịu chết.
Lúc đó, các môn đệ nghe tin về việc sắp ra đi của Người. Họ biết làm gì
…và làm như thế nào… nếu không có Người? Ngày hôm sau, những giấc mơ của
họ bị rạn vỡ và rồi sụp đổ. Giáo hội được khai sinh từ sự đau khổ và mất
mát của Đức Giêsu. Sự sống mới sẽ đến với các môn đệ đang tuyệt vọng và
bị phân tán, không phải vì các ông có thể giành lại hay tự kéo mình đến
với nhau, nhưng chính nhờ hơi thở của Thần Khí mà Đức Kitô Phục đã thổi
vào các ông. Thế rồi các ông thực hiện “những điều vĩ đại” mà Đức Giêsu
đã hứa tại bữa ăn sau cùng với các ông.
Tôi di chuyển rất nhiều.
Với những sự thay đổi thất thường của ngành du lịch hiện đại, tôi dự
định chuẩn thật bị kỹ cho chuyến đi: Tôi muốn luôn sẵn sàng cho những
bất ngờ có thể xảy đến bất cứ lúc nào! Nếu đang đi máy bay, tôi kiểm tra
tỉ mỉ cách thức để đến sân bay, số và địa điểm của ga đi. Tôi in vé của
mình ra trước và lên trang web kiểm tra vị trí chỗ ngồi. Nếu đó là một
chuyến đi dài thì tôi gói theo ít thức ăn và bánh kẹo. Tôi đảm bảo là
phải có cái để đọc. Tôi từng là một thành viên trong nhóm hướng đạo sinh
và vẫn còn ghi nhớ khẩu hiệu của nhóm là: “Hãy sẵn sàng”.
Vì thế, hôm nay tôi có
thể thông cảm với thánh Tôma. Chúng ta cũng thế. Đức Giêsu chuẩn bị cho
những môn đệ đang quy tụ quanh bàn ăn với Người vì Người sắp bước vào
cuộc khổ nạn và cái chết. Người sẽ rời khỏi các ông, nhưng Người hứa sẽ
trở lại và dẫn các ông về với Người. Người nói với các ông: “Thầy đi
đâu, thì anh em biết đường rồi”. Thánh Tôma là một du khách rất
thực tế. Nếu ông đi đến một nơi nào đó thì ông muốn biết rõ nơi ông đi
và làm thế nào để đến được đó. (Tôi cũng xin được hỏi rằng: “Ngày nào
Thầy sẽ trở lại và khi nào thì tất cả chúng con đi cùng Thầy?”).
Câu trả lời của Đức Giêsu
không đề cập đến bản đồ, địa điểm cố định và thời gian cụ thể (chẳng hạn
“Tôi sẽ trở lại vào thứ Ba, lúc 3 giờ chiều). Thay vì vậy, khi chúng ta
nghe toàn bộ Tin Mừng của thánh Gioan, Đức Giêsu dùng lối diễn tả khác
về mình “Thầy là”: “Chính Thầy là con đường …”. Đức Giêsu mời gọi các
môn đệ đến với Người và phó thác cuộc đời họ trong tay Người. Chúng ta
thi hành điều đó qua việc sống trong mối tương quan với Người, lắng nghe
lời Người dạy bảo và đi theo đường lối của Người. Đó là cách chúng ta sẽ
tiến tới cuộc sống mà Người hứa ban cho những ai bước đi cùng Người
“trên con đường” Người đã đi. Đức Giêsu nói rõ rằng Người là con đường
dẫn đến Thiên Chúa và nếu chúng ta theo Người (con đường), thì chúng ta
sẽ có “sự thật” – vì Người chính là mạc khải của Thiên Chúa cho chúng
ta. Chúng ta sẽ có “sự sống” – vì Đức Giêsu đã kéo chúng ta ra khỏi cái
chết của tội lỗi để bước vào đời sống mới.
Những độc giả Kinh Thánh
cũng đã quen với hình ảnh Đức Giêsu sử dụng để diễn tả về mình – “con
đường”. Trong Cựu Ước, “con đường” có nghĩa là hợp với lề luật, những
điều mang lại sự thật và sự sống cho ai biết tuân theo. Thiên Chúa hứa
trong sách Isaia (40,3): Hãy dọn một con đường băng qua sa mạc để đưa
những người sống xa quê hương trở về. Thánh Vịnh đầu tiên đề cập đến
“con đường” để khích lệ niềm hy vọng của chúng ta khi chúng ta phó dâng
đời mình vào tay Thiên Chúa, “Chúa hằng che chở nẻo đường công chính,
còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong” (Tv 1,6).
Hai con đường được vạch
ra trước mắt chúng ta: nẻo đường người công chính và đường lối ác nhân.
Khi Đức Giêsu nói lời từ biệt các môn đệ thì Người khích lệ các ông đi
theo Người, như nẻo đường công chính –đường dẫn tới Thiên Chúa. Người
không chỉ nhận mình như một kiểu mẫu mà các ông phải theo để đạt được sự
sống. Hơn thế nữa, Người hứa khi trở lại, Người sẽ ở với các ông. Đức
tin là con đường dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu. Khi tin vào Người,
chúng ta có được đời sống mới, một đời sống giúp ta bắt chước sống theo
Người. “…Ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy
làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa
Cha”.
Tôi cho rằng Đức Giêsu
chắc chắn đã chọn những môn đệ có nhiều năng lực và hiệu quả hơn để làm
“những việc lớn hơn nữa” mà Người hứa chúng ta sẽ làm được. Hiện giờ,
chúng ta, những Kitô hữu thời đại xem như còn nhiều giới hạn, sợ hãi,
tội lỗi, cau có và thiển cận. Bài đọc 1 hôm nay cho thấy rằng ngay cả
trong “Giáo hội sơ khai được cho là lý tưởng” thì cũng có những căng
thẳng và tất cả mọi thành viên trong Giáo hội đều là những con người đầy
khiếm khuyết. Nhưng khi cùng làm việc với nhau như một cộng đoàn, được
Chúa Thánh Thần hướng dẫn, họ có thể giải quyết những vấn đề có thể nảy
sinh - điều xem như chẳng khi nào là dễ dàng hoặc không có đấu
tranh và ngờ vực.
Trong bài đọc thứ 2 hôm
nay, thánh Phêrô gọi Đức Kitô là “viên đá sống động”, rồi trải rộng hình
ảnh này đến cả chúng ta nữa. Làm thế nào các tác giả Kinh Thánh tránh
khỏi những lối nói vô cùng khác thường này? Tảng đá làm sao có được sự
sống? Phải chăng đó là niêm luật văn chương? Còn nhớ câu chuyện thiếu
nhi nói về ba con heo, trong đó có một con tự bảo vệ mình chống lại “con
sói lớn độc ác” bằng cách xây nhà của mình bằng đá không? Những tảng đá
bất động tạo nên nền móng vững chắc để bảo vệ những bức tường – nhưng có
ai lại nghĩ chúng có sự sống?
Thánh Phêrô khích lệ
chúng ta sử dụng trí tưởng tượng của mình: sẽ như thế nào nếu ngôi nhà,
cộng đoàn Đức Giêsu thiết lập lại không gồm những viên đá sống động?
Chẳng phải điều đó có nghĩa rằng chúng ta không chỉ là một nơi cư ngụ
thánh thiện dành cho Thiên Chúa, mà còn là một nơi ở rộng rãi, bao gồm
mọi chủng tộc, quốc gia, ngôn ngữ, bậc sống, giới tính…nữa sao? Thánh
thiện nghĩa là lớn lên cùng với Đức Giêsu, “con đường”, thổi sức sống
vào trong chúng ta, giúp chúng ta trở nên “những viên đá sống động” và
thúc đẩy chúng ta đi tới. Chẳng phải chúng ta biết rằng Giáo hội của Đức
Kitô như một tòa nhà gồm “những viên đá sống động” đó sao? Đã bao nhiêu
lần chúng ta tìm thấy sự giúp đỡ và chỉ dẫn nơi cộng đoàn tín hữu của
mình? Chúng ta biết ơn những lần những ban mục vụ và các tâm hồn thánh
thiện trong cộng đoàn đã trở nên sức mạnh và sự khôn ngoan cho chúng ta.
Dẫu cho những ngày này chúng ta phải đối mặt với những phiền muộn trong
Giáo hội, nhưng chúng ta vẫn còn gặp vô số những tín hữu luôn hiện diện
ở nơi thờ phượng và tình nguyện tìm những dịp phục vụ những người thiếu
thốn ở cả bên trong lẫn bên ngoài cộng đoàn. Họ và chúng ta là “những
viên đá sống động” xây nên ngôi nhà thánh thiện của Thiên Chúa.
Lm.
Jude Siciliano, O.P.
Hãy tin vào Thiên
Chúa và tin vào Thầy
Cv
6,1-7; Tv 33; 1 Pr 2,4-9; Ga 14,1-12
Kính thưa quý vị,
Người lạc quan nhìn nửa ly nước, thì thấy
nước chứa đầy nửa ly. Cũng nửa ly nước ấy, người bi quan sẽ nói ly nước
bị vơi đi một nửa. Vậy, phải chăng Đức Giêsu là một người lạc quan?
Người bảo rằng các môn đệ sẽ làm được“những việc mà Thầy làm, và sẽ còn
làm những điều lớn lao hơn nữa…” Đức Giêsu nói nghiêm túc chứ? Hay chẳng
qua là sự lạc quan ngây thơ? Dựa vào đâu Người có thể bảo đảm được lời
hứa ấy?
Đồng bàn với các môn đệ vào đêm trước khi
chịu chết, Đức Giêsu bực bội vì sự u minh của các ông. Tuy vậy, Người
vẫn nói với các môn đệ rằng các ông sẽ làm được những việc còn lớn lao
hơn cả những việc các ông đã thấy Người làm. Thế nhưng, nhìn vào Giáo
hội hôm nay, chúng ta thử hỏi: “Đâu là những việc lớn lao hơn mà những
người tin sẽ làm được theo như lời hứa của Đức Giêsu?” Có lẽ chỉ vì
chúng ta – những tín hữu của thời hiện đại – không thừa nhận quyền năng
của Thiên Chúa và cậy dựa quá nhiều vào sức riêng của bản thân. Hơn nữa,
như Đức Thánh Cha Phanxicô từng nhắc nhở, chúng ta đã không biết dùng
những khả năng Thiên Chúa ban tặng để phục vụ người khác, đặc biệt những
người hèn yếu nhất và không có chút quyền hạn nào.
Vài đoạn trong sách Công vụ Tông đồ cho
thấy đời sống của Giáo hội sơ khai là lý tưởng (Cv 2, 42-47; 4, 32-35).
Nhưng bài đọc thứ nhất hôm nay lại nhắc đến một cách sống thiếu mẫu mực
của các Kitô hữu tiên khởi. Ở đầu chương 6 của sách Công vụ Tông đồ,
chúng ta gặp thấy bằng chứng về những khác biệt và chia rẽ trong cộng
đoàn. Có những tín hữu Do Thái bản xứ và những tín hữu Do Thái theo văn
hoá Hy Lạp, các tín hữu theo văn hoá Hy Lạp than trách rằng các bà goá
trong nhóm họ không nhận được sự phân phát công bằng về phần lương thực
hằng ngày. Các vấn đề mà Giáo hội sơ khai phải đối diện không chỉ đến từ
bên ngoài mà con cả dấu hiệu của sự chia rẽ từ bên trong.
Các tín hữu Do Thái bản xứ muốn duy trì
ngôn ngữ và cách thức thờ phượng như truyền thống. Các tín hữu Do Thái
theo văn hoá Hy Lạp thì đến từ các cộng đồng Do Thái ở hải ngoại, các
cộng đồng này phân tán sống ngoài Palestine, là những người chịu ảnh
hưởng của lối sống văn minh Hy-La. Chúng ta, những Kitô hữu thời hiện
đại, đâu phải là những người duy nhất đối diện với những nhóm ‘bảo thủ’
và ‘cấp tiến’ trong cộng đoàn đức tin.
Tại sao các bà goá theo văn hoá Hy Lạp
lại bị quên lãng? Phải chăng chỉ vì những tín hữu Do Thái bản xứ có sức
mạnh và quyền lực hơn, và họ đang sử dụng sức mạnh và quyền lực ấy để
đối xử thiên vị, ưu tiên cho phe của mình? Chúng ta không biết thực hư
thế nào. Nhưng trước khi chịu chết, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ rằng
các ông sẽ còn làm được những điều lớn lao hơn. Vì trước hết, Đức Giêsu
nói là Người sẽ chết, rồi sống lại và trao ban cho các môn đệ ân huệ
Chúa Thánh Thần. Người ban cho các ông “phương tiện” mà các ông cần đến
để làm “những việc lớn lao hơn” như Người đã hứa.
Có giáo phận, giáo xứ hay cộng đoàn tôn
giáo nào mà không có sự phân biệt dựa theo truyền thống, hiện đại, màu
da, chủng tộc, ngôn ngữ, giới tính hay dòng tộc? Những nhóm người nào
đang bị tước đoạt quyền lợi, quyền lên tiếng nói? Có những sự tranh
giành quyền lực xảy ra giữa các đoàn thể trong giáo phận và giáo xứ hay
không? Các đoàn thể trong các xứ đạo có sự cạnh tranh quyền lực trong
các việc phụng vụ, tác vụ và ngân quỹ không? Những vấn nạn này đòi hỏi
sự hồi tâm chân thành, cầu nguyện và đối thoại. Ngay cả khi có những
căng thẳng như thế, thậm chí thường xuyên xảy ra đi nữa, thì nhờ những
hồng ân của Chúa Thánh Thần, những căng thẳng ấy sẽ được biến đổi thành
nguồn sức mạnh, canh tân và tái tạo. Chúng ta biết rằng cuối cùng thì
Giáo hội sơ khai cũng đã giải quyết tốt đẹp sự xung đột này:“Tìm trong
cộng đoàn bảy người được tiếng tốt…” Các môn đệ đầu tiên vẫn gắn bó với
cộng đoàn, nhưng điều đó không miễn cho các ông sự mâu thuẫn. Tuy nhiên,
các ông đã giải quyết vấn đề cách công khai và thẳng thắn, chia sẻ quyền
lợi cho những tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp, và quan tâm đến nhu
cầu của những người mà họ cảm thấy bị lãng quên.
Trong Giáo hội ngày nay, chúng ta cũng
không muốn thấy bất cứ cá nhân hay nhóm người nào bị bỏ quên. Không để
một ai bị quên lãng hay cảm thấy bản thân bị tách biệt khỏi những tác vụ
của cộng đoàn giáo xứ. Tất cả mọi người đều có cơ hội đến với Lời Chúa
và các Bí tích; nếu cần thiết, nhân lực và ngân quỹ sẽ ưu tiên cho những
nhu cầu của “các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp” thời nay trong
cộng đoàn Hội thánh.
Suốt các Chúa Nhật Phục Sinh, chúng ta
nghe những đoạn Kinh Thánh nói về tình hình Giáo hội sau biến cố Phục
Sinh và sau biến cố Hiện Xuống. Hôm nay, Đức Giêsu nói với chúng ta
rằng:“Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.”
Nhưng thử hỏi tại sao hôm nay nhiều người trong chúng ta quy tụ để thờ
lạy Chúa. Lý do chẳng phải là lòng chúng ta xao xuyến đấy ư? Tình trạng
lộn xộn xảy ra có thể là do những tranh cãi trong gia đình, tại nơi làm
việc, hay giữa những người thân thiết. Hơn nữa, ai lại chẳng lo âu khi
hay tin hơn 200 nữ sinh ở Nigeria bị bắt cóc và có nguy cơ bị bán làm nô
lệ? Chỉ cần thêm một tin xấu, thì lại một gánh nặng nữa chất lên tâm hồn
chúng ta khi đến dự lễ hôm nay.
Đức Giêsu nói với các môn đệ là những
người có nhiều lý do để xao xuyến. Đó là bữa Tiệc Ly và Đức Giêsu nói
những lời từ biệt với các ông. Các ông không biết chắc tương lai xảy đến
điều gì, nhưng dường như đó là một chuyện không hay. Các ông biết chắc
một điều rằng: những gì Đức Giêsu nói ở đây là một cuộc thử thách đức
tin. Phiền muộn và lo âu đang xảy đến theo những cách mà trước đây các
môn đệ chưa nghiệm thấy bao giờ. Phiền muộn và lo âu – hai vị khách
không mời mà đến, xâm nhập vào cuộc sống của các môn đệ, giữ chân họ lại
trong một cộng đoàn non trẻ và đầy yếu ớt.
Quả là một tương lai ảm đạm dành cho
những người thiện tâm đặt niềm tín thác vào Đức Giêsu; họ vốn hình dung
một tương lai hoàn toàn khác. Những lời Đức Giêsu loan báo về cái chết
của Người khiến cho các môn đệ lo âu. Trong khi cuộc khủng hoảng này
đang ập xuống trên các môn đệ thì liệu có tương lai cho các ông hay
không? Làm sao các ông có thể chịu đựng được cơn khủng hoảng đó? Điều gì
giúp cho các ông vượt qua được?
Những rắc rối trở nên gay go và làm cho
cộng đoàn bị tản mát trong sợ hãi. Thêm nữa, Đức Giêsu mời gọi những kẻ
đồng bàn với Người, và Người cũng đang mời gọi chúng ta khi chúng ta
đồng bàn với Người hôm nay, rằng“hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.”
Lời hứa của Đức Giêsu về sự hiện diện
luôn mãi của Người với các môn đệ không chỉ là một lời hứa hiện diện
trong những lúc bình an, hạnh phúc thôi, mà còn trong những lúc khó khăn,
đầy áp lực nữa. Bị bỏ rơi, đức tin của chúng ta sẽ vỡ vụn. Hãy nghĩ về
tất cả những nơi đang gặp thử thách: gia đình, công sở, trường học, “và
những nơi khác trên thế giới.” Hãy nghĩ đến cuộc thử thách mà đức tin
của chúng ta phải kiên trì chịu đựng trong suốt thời gian này, với đầy
tai tiếng về các vụ bê bối của hàng giáo sĩ. Nhưng, nếu như cuộc đời của
Đức Giêsu đã dạy chúng ta mọi điều, thì hẳn rằng một cuộc sống mới có
thể nảy sinh từ trong đau khổ, thậm chí từ trong cái chết.
Tu viện của chúng tôi ở bên cạnh một
trường Đại học Công giáo. Trong những ngày này, các bạn sinh viên đang
chịu nhiều áp lực chuẩn bị cho việc thi cử. Họ đang cố gắng để vượt qua
thời gian thi cử rồi trở về quê. Đó chẳng phải là một ẩn dụ về tất cả
chúng ta sao, những người đang cố gắng vượt qua thời gian thử thách rồi
quay trở về “quê hương đích thực?” Đức Giêsu nói rằng Người trở về cùng
Cha của Người và Người dọn chỗ cho chúng ta. Nghe như đó là một nơi
tuyệt vời phải không? Nơi đó “có rất nhiều chỗ ở.” Đức Giêsu hứa sẽ quay
trở lại và đón chúng ta về với Người. Sẽ có một cuộc “trở về nhà” cuối
cùng để chúng ta được ở với Thiên Chúa và ở với nhau.
Tạm thời, Đức Giêsu đã trở lại chuẩn bị
ngôi nhà cho chúng ta ở đây và bây giờ. Sự quy tụ của chúng ta để tôn
thờ Người là một trong nhiều nơi trú ngụ Đức Giêsu chuẩn bị cho chúng ta
ở đây. Khác với ngôi nhà quê hương đích thực của chúng ta, cộng đoàn này
là nơi chúng ta được tháo cởi gánh nặng của những sai lầm quá khứ; là
nơi chúng ta sống thật với chính mình, với những thiếu sót và tất cả mọi
thứ là nơi chúng ta có thể giúp nhau mang những gánh nặng đang đè trên
cuộc sống. Nơi đây, chúng ta được nuôi dưỡng và được ban sức mạnh cho
tới khi chúng ta đạt đến ngôi nhà vĩnh cửu cuối cùng, nơi trú ngụ mà Đức
Giêsu đã đi trước để dọn sẵn cho chúng ta.
|