Năm A

 
 


Chúa Nhật V Phục Sinh - Năm A

Cv 6,1-7 / 1Pr 2,4-9 / Ga 14,1-12

 

An Phong op : Ðường Dẫn Ðến Sự Thật Và Sự Sống

Như Hạ op : Như viên đá xanh

Fr. Jude Sicilianô, op : Thày ra đi để dọn chỗ cho anh em

Fr. Jude Sicilianô, op : Hãy tìm một chỗ trong trái tim Chúa

G. Nguyễn Cao Luật op : Những bước chân trên đường

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa Kitô là đường

Gioan B. Vũ Văn Tín op : Thầy là đường. là sự thật và là sự sống

Đỗ Lực op : Chuột sa chĩnh gạo

Fr. Jude Siciliano, op : Những viên đá sống động xây nên ngôi nhà Thiên Chúa

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy

 

 
An Phong op

Ðường Dẫn Ðến Sự Thật Và Sự Sống
Ga 14,1-12

Trong bữa tiệc chia tay, Ðức Giêsu loan báo : một trong số các đồ đệ thân yêu sẽ nộp Thầy; và chính Phêrô, tông đồ trưởng, cũng sẽ chối Thầy 3 lần. Các môn đệ lo lắng, phân vân, bối rối và xao xuyến. Ðức Giêsu liền trấn an : "Lòng anh em đừng xao xuyến… Thầy là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống".

Chúng ta lo lắng, xao xuyến vì điều gì ?

Phải chăng là một tương lai không biết đi về đâu trong cuộc đời còn ngổn ngang "trăm mối tơ vò" ?

Phải chăng là sự không kiểm soát nổi những tiến bộ khoa học kỹ thuật; không biết chúng sẽ dẫn ta đi đến đâu ?

Phải chăng là lý tưởng sống không rõ ràng hoặc sai lạc ?

Phải chăng là do chúng ta đang đi trên con đường ngoằn ngoèo phức tạp, khó đi, đó là "dấu tranh tồn"; "triệt hạ đối phương"; "tiền bạc là tất cả"; "chủ nghĩa mackeno - mặc kệ cuộc đời" ?…

Trên đường đời,
Ðứng trước một cánh cửa mở toang,
Không bảng chỉ đường, không bản đồ.
Không hướng đi bắt buộc.
Người ta sẽ lạc lối.

Ðức Giêsu cho chúng ta biết "tương lai chúng ta ở trên trời", nơi "nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở cho anh em".

Ðức Giêsu giải quyết nỗi lo lắng lớn nhất của nhân loại hôm nay, là không thể kiểm soát nổi những tiến bộ khoa học, kỹ thuật; Ngài giải quyết bằng cách ban chính "Ngài là cuộc sống". Tất cả những gì không phục vụ sự sống, không thăng tiến sự sống, không làm cho "sống dồi dào" hơn, đều đáng bị kết án.

Ðức Giêsu là lý tưởng cho người trẻ, khi Ngài cho họ nhận thấy sự thật về con người họ, về định mệnh nhân loại, về mối tương giao đích thực giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau.

Ðức Giêsu là chính Ðường dẫn đến Sự thật và Sự sống.

Ngài trao tay chúng ta một cách sống, "hôm nay hơn hôm qua một chút xíu" và một bản đồ dẫn đường "mến Chúa yêu người".

Con đường đơn giản này dẫn đến chính Thiên Chúa là Sự thật và là Sự sống.

Lạy Chúa Giêsu,
con biết, con người là thụ tạo tốt đẹp nhất của Chúa;
Nhưng trong con người, con cũng có thể thấy
biết bao việc dã man, đê tiện, xấu xa bỉ ổi nhất.
Con biết đời sống của con là hồng ân Chúa ban
nhưng con cũng quá mệt nhọc
để xoay sở tính toán cho cuộc đời của con.

Lạy Chúa Giêsu,
tất cả là của Chúa, và chỉ có Chúa mới hiểu thấu;
Tất cả là hồng ân và chỉ có Chúa mới có thể chỉ đường dẫn lối

Xin Ngài hãy trở nên Con Ðường,
nên Sự Thật và nên Sự Sống cho cuộc đời con.


Như Hạ op

NHƯ VIÊN ÐÁ XANH
Ga 14,1-12

Nếu khám phá ra hạnh phúc tuyệt vời của người Kitô hữu, chắc chắn người ta phải phát ghen lên. Nhưng chính người Kitô hữu nhiều lúc quên lãng hay coi thường hạnh phúc của mình. Hạnh phúc đó chính là đức tin nơi Thiên Chúa và Ðức Giêsu Kitô.

SỰ NGHIỆP VĨ ÐẠI

Con người hạnh phúc vì đã xây được những công trình vĩ đại trên mặt đất. Ðó là niềm hãnh diện của nhân loại. Nhưng đó chỉ là những công trình vật chất. Kitô hữu còn hạnh phúc biết bao khi được "Thiên Chúa dùng như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Ðền Thờ thiêng liêng," (1 Pr 2:5) không ai phá hủy nổi, vì đó là công trình của Thiên Chúa. Chính Ðức Giêsu cũng là "viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quí giá." (1 Pr 2:4) Ðúng hơn, đó là "đá tảng góc tường" (1 Pr 2:6) nối kết các viên đá xây nên Ðền Thờ đó.

Những viên đá sống động đó đã được Thiên Chúa biến thành "hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người nhờ Ðức Giêsu Kitô." (1 Pr 2:5) Vinh dự và cao cả biết bao được làm Kitô hữu trên trần gian ! Ðó là chiều dọc trong sứ mệnh Kitô hữu. Chiều ngang cũng quan trọng không kém. Ðó là Kitô hữu được Thiên Chúa kêu gọi "để loan truyền những kỳ công của Người." (1 Pr 2:9) Họ trở nên những chứng nhân vì "là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa." (1 Pr 2:9) Tất cả đều là công trình vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu Kitô.

Hồng ân cao cả Thiên Chúa đã ban tặng các Kitô hữu. Họ được tuyển chọn do cái chết và phục sinh của Ðức Giêsu Kitô. Ðó là tất cả "công việc Thầy làm" (Ga 14:11) cho nhân loại. Chỉ cần tin vào công việc đó, họ sẽ thấy một sức mạnh vô cùng lớn lao của Ðức Giêsu nơi chính mình. Sức mạnh đó do sự hiện diện thâm sâu và hiệp nhất lạ lùng giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Quả thực, chính Thánh Linh mới có thể giải thích tại sao huyền nhiệm cao cả : "Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy." (Ga 14:11) Nếu tin, Kitô hữu sẽ đi vào tương quan kỳ diệu đó vàsẽ tìm được một nơi trú ẩn vững chắc nhất giữa bao nhiêu thách đố. Chính Ðức Giêsu đã bảo đảm cho các môn đệ : "Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy." (Ga 14:1) Ðiệp khúc này Ðức Giêsu không ngừng lập lại : "Anh em hãy tin Thầy." (Ga 14:11)

Tin vào Thầy không những tìm được nơi an toàn nhất trong cuộc đời đầy bất trắc. Nhưng hơn nữa, tin vào Thầy sẽ làm được những công trình vĩ đại. Quả thực, "ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha," (Ga 14:12) để "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28:20) Nhờ đó, Thầy mới có thể hiện diện một cách sâu xa và sung mãn hơn nơi các tín hữu. Thầy về cùng Chúa Cha để kéo mọi sự lên với Thầy (x. Ga 12:32) và để nắm mọi quyền bính trên trời dưới đất (x. Mt 28:19). Tin tưởng tuyệt đối vào lời Thầy hứa, ngay từ đầu các môn đệ đã thực hiện những việc lớn lao hơn về mặt tổ chức, chiều kích và ảnh hưởng. Quả thế, trong cộng đoàn tông đồ nhỏ bé, không phân biệt những người "chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa." (Cv 6:4) và những người chuyện "lo việc ăn uống" (Cv 6:2) hay "phân phát lương thực hằng ngày" (Cv 6:1) cho dân Chúa.

Trước phục sinh, "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi." (Mt 12:24) Nhưng sau phục sinh, Thầy sai các môn đệ : "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ." (Mt 28:19) Ngày còn tại thế, Ðức Giêsu là đối tương của lòng căm thù ghen tức. Có bao giờ thấy cảnh tư tế tỏ lòng sám hối hàng loạt sau bài giảng của Ðức Giêsu đâu ! Thế nhưng, sau khi biến cố phục sinh, các môn đệ đã làm cho "một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin." (Cv 6:7) Môn đệ đã làm những việc lớn lao hơn sư phụ, nhưng vẫn không qua mặt sư phụ được. Quả thế, nếu Thầy xác tín "Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình," (Ga 14:10), người môn đệ cũng thâm tín rằng : "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi." (Gl 2:20) Như vậy, chính Ðức Giêsu đang làm những việc vĩ đại hơn khi còn tại thế nơi Giáo Hội. Ðó là niềm tin của người môn đệ Chúa.

TOÀN CẦU HÓA NIỀM TIN.

Vì tin tưởng mãnh liệt vào sự hiện diện và hành động của Ðức Giêsu trong lòng Giáo Hội, các môn đệ đã dễ dàng thực hiện mệnh lệnh toàn hầu hóa niềm tin hầu đem ơn cứu độ đến cho toàn thể nhân loại. Ngay sau khi phục sinh, Chúa đã ban bố mệnh lệnh đó (x. Mt 28:19) Bao nhiêu lực lượng thù nghịch bên trong cũng như bên ngoài đang nỗ lực cản trở việc toàn cầu hóa đó.

Bên trong, nhiều anh em Kitô hữu giữ mãi mối thù nghịch với Giáo Hội Công giáo. Chẳng hạn, Ðức Tổng giám mục Chính thống giáo Nga Yevsevi (Savvin) đã yêu cầu Tổng thống Vlaimir Putin "đừng cho phép những kẻ thù của quê hương và quốc gia - Giáo hoàng Rôma và Công giáo - phất cờ chiến thắng trên miền Ðất Thánh Pskov." (CWNews 23/04/02) Ông giải thích : "Chúng ta phải ý thức rằng các người Công giáo không phải là những ân nhân của chúng ta. Họ chẳng mang lại cái gì tốt đẹp hay ích lợi cho quê hương chúng ta. Họ đi đến đâu, hủy diệt, phân hóa và phá hoại tới đó." (CWNews 23/04/02) Tại sao lại có một cái nhìn hằn học như vậy ? Có thể tìm thấy nét Tin Mừng nào trong cái nhìn đó không ? Chẳng lẽ tình yêu đầy khoan dung thứ tha của Thiên Chúa không ảnh hưởng gì tới người anh em Kitô hữu sao ? Nếu đúng thế, làm sao có thể thi hành mệnh lệnh toàn cầu hóa đức tin ?

Bên ngoài, kẻ thù đang tìm cách giới hạn sức mạnh toàn cầu hóa của Giáo Hội. Tại Hoa kỳ, "cuộc khủng hoảng về linh mục lạm dụng tính dục vị thành niên không phải là do truyền thông tạo nên hay là quan tâm của công luận tại Hoa Kỳ, nhưng đây là một vấn đề rất hệ trọng làm cho sứ mạng của Giáo hội bị tê liệt. Muốn thay đổi đòi phải tái tạo niềm tin." (ÐHY Bernard Law : VietCatholic 23/4/2002). Thế nhưng, đằng sau sự kiện đó kẻ thù đang nỗ lực hạ uy tín hàng giáo phẩm. Nếu họ thành công, chắc chắn việc Phúc âm hóa sẽ bị khựng lại. Lý do vì linh mục đóng vai chủ chốt trong mọi sinh hoạt Giáo Hội. ÐGH Gioan Phaolô II nhắc nhớ : "Chúng ta phải xác tín rằng thời gian thử thách sẽ thanh tẩy toàn thể cộng đồng Công giáo, một sự thanh tẩy khẩn thiết nếu Giáo Hội muốn rao giảng Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô với tất cả sức mạnh giải phóng nhân loại một cách hiệu quả hơn. Giờ đây phải tin chắc rằng ở đâu tội lỗi gia tăng, ở đó ân sủng càng chan chứa (x.Rm 5:20). Càng nhiều đau khổ, càng nhiều buồn sầu càng đưa chức linh mục, giám mục và Giáo Hội đến sự thánh thiện hơn. Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn sự thánh thiện. Trên hết chúng ta phải quay về với Người để xin ơn tha thứ, để chữa lành và đón nhận ân sủng để có đủ can đảm đối đầu với thách đố một cách không khoan nhượng mà vẫn đạt mục đích" (CWNews 23/04/02) là toàn cầu hóa niềm tin theo mệnh lệnh Chúa.

Càng bị thách đố, Giáo Hội càng ý thức hơn về sức mạnh đích thực trong việc toàn cầu hóa niềm tin. "Thách đố trước mắt làm cho chúng ta hiểu rõ những lựa chọn cải tiến tinh thần qua cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hóa, giữa mạc khải và những vấn đề nhân loại để bảo đảm cả phẩm giá con người lẫn sự trưởng thành nhân vị" (Zenit 2/9/02) sẵn sàng cho việc toàn cầu hóa đức tin. Thiên Chúa đang dùng biến cố hôm nay để đẩy mạnh công cuộc Phúc âm hóa đang khựng lại ở nhiều nơi chăng ?


Fr. Jude Sicilianô, op 

Thày ra đi để dọn chỗ cho anh em
Ga 14,1-12

Thưa quý vị.

Mỗi lần soạn bài giảng là một lần tôi cảm thấy mình bị phân đôi về nhân cách và tư tưởng. Bởi lẽ tôi đang sống ở một thời điểm phụng vụ, tập trung vào một mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Giêsu cứu thế, thì lại phải tưởng tượng mình sống ở thời điểm khác, mầu nhiệm khác. Thí dụ tôi đang sống Mùa Vọng mà lại thấy mình đọc các bài đọc mùa Hiển linh, suy nghĩ về mầu nhiệm Chúa tỏ mình ra cho các dân ngoại. Tôi giống như các nhà vẽ mẫu thời trang. Ðang sống ở mùa Hè nóng bức mà lại đặt mình vào mùa Ðông giá rét để vẽ kiểu quần áo mùa đông cho các khách hàng ! Nhưng hôm nay thì tôi phớt lờ tính bất hợp lý đó mà cứ cố tình suy tư đúng thời điểm, mặc cho có sự trái mùa. Nếu có chi lạc điệu, xin quý vị rộng tình lượng thứ.

Hôm nay là ngày nào ? Thưa, thứ Sáu Tuần Thánh. Báo đài Việt Nam gọi là thứ Sáu tốt lành (dịch đúng nguyên văn tiếng Anh : Good Friday). Nhưng tôi lại thấy mình viết bài giảng cho Chúa Nhật V mùa Phục Sinh ! Thôi mặc, cứ thời sự thứ Sáu tốt lành mà viết. Tin tức thế giới đầy dẫy những sự kiện “tốt lành”. Các kẻ vô tội đang tiếp tục chịu đau khổ, chịu bóc lột, bị khai thác và bị tiêu diệt hàng loạt. Một dì phước Ða Minh trở về từ El Salvador để cấm phòng mùa chay trên đất Mỹ, vừa khóc vừa thuật lại những nỗi thống khổ dân nước này phải chịu đựng dưới ách độc tài quân phiệt. Số phận mẹ con Esmiranđa của tiểu thuyết Nhà Thờ Ðức Bà Paris có lẽ còn dễ chịu hơn. Một tờ Tuần Báo Mỹ kể lại rằng ở Guatemala 60.000 trẻ con dưới 5 tuổi thường xuyên bị bệnh suy dinh dưỡng do chế độ áp bức của quân đội gây nên. Một số cha mẹ ở Afghanistan phải buộc lòng bán bớt con để có tiền nuôi những đứa còn lại. Dĩ nhiên, hôm nay là ngày thứ Sáu tốt lành ! Nhưng đã xảy ra vài ba vụ ôm bom tự sát ở Palestine, giết hại hàng chục người, xe tăng Israel đang giận dữ tiến vào Bethlehem, nơi sinh của Chúa Giêsu.

Ngay cả Chúa Nhật V Phục Sinh, con cháu bà Aga và Ismael cùng con cháu ông Isaac và bà nội Sara sẽ tiếp tục tàn sát nhau không chút nương tay ! Thứ Sáu tốt lành là tên người ta đặt cho một ngày của năm ! Nhưng những sự việc xảy ra trong ngày đó thì lại quá khủng khiếp. Chúng ta phải tìm ý nghĩa của nó trong viễn tượng khác. Chúng ta đang suy tư về bài Phúc âm Chúa Nhật V mùa Phục Sinh Gioan đoạn 14. Chẳng hiểu quý chức có nhiệm vụ xếp đặt các bài đọc phụng vụ chủ ý hay không, riêng phần tôi, tôi thấy nó giống bầu khí của ngày thứ Sáu tốt lành và Phục Sinh liên hệ. Chúng ta phải thực tế nhìn vào cả hai khía cạnh đau khổ và đời sống mới tinh khôi để có thể cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa của bài đọc đó.

Chúa Giêsu dạy dỗ các môn đệ trong huấn từ cuối cùng. Giọng điệu của Ngài hoàn toàn bình thản trước cơn bão táp đang ập tới đè bẹp bản thân Ngài. Thái độ trầm tư, ân cần và dịu dàng của người sắp ra đi lìa cõi thế làm cho các môn đệ (và chúng ta ngày nay) thêm can đảm đối mặt với những khó khăn trước mắt. Ngài giống như một người cha an ủi đứa con nhỏ đang bồn chồn lo lắng : “Này, này, mọi sự rồi sẽ tốt đẹp thôi con ạ !”. Những điều sắp xảy đến cho Ngài sẽ quá ư tồi tệ và đau xót, nhưng về lâu về dài, là phúc lợi vô giá cho họ và cho chúng ta. Bởi vì Ngài ra đi để dọn chỗ cho mọi người : “Trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ ở.”

Tôi thường có thói quen tuyên đọc bản văn này trước đám tang hay người sắp qua đời bởi cái giọng điệu đầy ủi an của nó. Chúa Giêsu hứa cho các môn đệ của Ngài một chỗ ở tốt đẹp hơn. Và lời hứa đó không phải là hứa suông. Ngài biết rõ mình nói chi. Một chỗ ở với Thiên Chúa không phải là bánh vẽ, mà chắc chắn có thực như vậy, sẽ xảy ra đúng như thế. Cho nên người nghe được an lòng và hết lo lắng. Hơn nữa, theo thần học của thánh Gioan những lời hứa hoặc những điều lòng chúng ta mong đợi thì trên thực tế đã hiện diện, cũng như án phạt cho những kẻ không tin đã xảy ra rồi. Cho nên Chúa Giêsu ra đi sửa soạn chỗ ở cho chúng ta trong nhà cha Ngài thì thực tế những chỗ đó đã có sẵn và đang chờ đợi chúng ta. Việc chúng ta phải làm là chiếm lấy. Những môn đệ của Chúa Giêsu không sống ngoài thế giới, mà sống trong trần gian, đối mặt với những thử thách hằng ngày, nhưng phải trở nên những dấu chỉ của Ngài.

Thế giới này đầy dẫy những khó khăn, lừa đảo, gian dối. Nhiều khi chúng ta cảm thấy lạc lõng, như sống trong đất lạ, quê người. Không phải thế. Trái đất này là quê hương của chúng ta. Mỗi người sống một kiểu, một cách, một ơn gọi. Không có hai đời sống hoàn toàn giống nhau vì thế cũng không có hai “chỗ ở” hoàn toàn y hệt. Mỗi người đều được phần chia sẻ đặc biệt trong cuộc sống thần linh của Thiên Chúa : “Trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ ở. Nếu không Thày đã nói cho các con hay.” Mặc dầu còn phải gặp khó khăn, chán nản, tăm tối, vật lộn và thách thức trên con đường đức tin, nhưng chúng ta đã được một chỗ ở, được chia sẻ cuộc đời với Thượng đế. Chúa Giêsu không bỏ chúng ta mồ côi. Ngài đã ban sự sống, sự chết và Thánh Thần của Ngài để nâng đỡ chúng ta. Lúc này đây, Ngài ra đi để dọn chỗ cho chúng ta trong Thiên Chúa. Thomas muốn biết phương hướng nào là lối đi của Ngài : “Thưa Thày làm sao chúng con biết đường đi ?” Chúa liền trả lời : “Thày là đường” tức cuộc sống trần gian của Ngài là con đường dẫn chúng ta tới Thượng đế. Con đường ấy nhiều người từ chối, cụ thể như dân Do thái, thượng tế, luật sĩ v.v. Nhưng Ngài đã chọn con đường đó và mời gọi chúng ta cùng đi. Ngài là con đường của sự yêu thương, hy sinh và thánh thiện. Con đường dẫn đến Thiên Chúa Cha. Nếu chúng ta chọn đi theo con đường đó, là chúng ta đã tới Thiên Nhan Thượng đế, hiện diện trong Ngài và hoạt động nhờ Ngài. Tuy rằng còn đòi hỏi nhiều cố gắng hơn nữa.

Ở trong các nước tiên tiến, tức thế giới thứ nhất, các xa lộ đều là tốc hành. Người ta không được phép ngừng xe giữa đường. Muốn ngừng xe hoặc quay xe thì phải rẽ qua một chỗ riêng, gọi là các trạm (stopping-off places). Cuộc lữ hành trần gian của mỗi thành viên nhân loại cũng có những điểm ngừng, như lập gia đình, ra ở riêng, đỗ đạt, nghề nghiệp, việc làm, sinh con cái, già cả, ốm yếu và chết chóc… trong mỗi giai đoạn của cuộc sống chúng ta được Chúa chia phần ân huệ hay phải gánh chịu những đau thương, tổn trí. Nhưng mỗi giai đoạn cũng là các điểm dừng “dwelling place” để chúng ta cảm nghiệm những gì Chúa đã ban cho khi cố gắng đi theo con đường Chúa Giêsu đã chỉ dạy. Chẳng có chi bảo đảm trong cuộc đời, nhưng khi kinh qua những giai đoạn đó, chúng ta có lời hứa của Chúa Giêsu trấn an : Thiên Chúa luôn ở với chúng ta hay đúng hơn chúng ta luôn ở trong Ngài. Lúc này Ngài đi trước, rồi sẽ trở lại mang chúng ta theo!

Như vậy hôm nay là Thứ Sáu Tuần Thánh. Ðiều chi làm trái tim chúng ta bồn chồn ? Các môn đệ sau bữa tiệc ly cũng bồn chồn khi các nhà cầm quyền lùng bắt họ. Chúa Giêsu đang ở đâu ? Tại sao Ngài không trợ giúp chúng ta chấm dứt mọi thương đau của Thứ Sáu Tuần Thánh trên thế giới ? Sách Tông Ðồ Công Vụ trả lời câu hỏi này. Chính trong đau khổ và hy sinh mà Hội Thánh làm chứng cho Chúa Giêsu, chứ không phải vẻ vang, hiển hách. Chính trong việc vác Thánh giá mà chúng ta theo Chúa chứ không phải thỏa lòng sung sướng. Giáo Hội tiên khởi lớn mạnh là nhờ cái chết của Ðấng sáng lập và hy sinh của thánh Stêphanô. Càng trung thành với Tin Mừng Chúa bao nhiêu, thì Giáo Hội càng phải chịu bách hại bấy nhiêu. Ðó là sự thật. Lý do Giáo Hội lan rộng khắp Ðế quốc La Mã chỉ trong thời gian ngắn, là do bởi các cơn bão táp mà Giáo Hội phải hứng chịu khắp mọi nơi Giáo Hội hiện diện. Thánh Luca tiếp tục thuật lại những phép lạ các Tông đồ thực hiện nhân danh Chúa Giêsu để chứng tỏ Ngài vẫn còn họat động trong Giáo Hội và điều này đã thu hút thiên hạ nhập đạo. Một trật tự mới của thế giới đang được hình thành. Cộng đoàn tín hữu là dấu chỉ của trật tự đó.

Kinh Thánh Cựu Ước đã nhiều lần nói về trật tự này (Ðnl 15,4-5). Ðức Giavê hứa sẽ thiết lập một cộng đồng mới. Mọi thành viên sẽ được dư dật, không có người nào đói khát. Cộng đồng này chỉ có thể là Giáo Hội và khi chúng ta cử hành lễ bẻ bánh, chúng ta cùng nhau chia sẻ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu thật dồi dào, Ngài là tấm bánh nuôi sống Giáo Hội, chẳng ai bị bỏ quên, không có rào cản. Các Tông Ðồ đặt tay trên 7 phó tế không có nghĩa là “truyền chức” để họ cai trị cho bằng chỉ định một sứ vụ đặc biệt. Ho phải lo lắng cho những người nghèo khổ : các bà góa, các con trẻ… Chúa muốn thế và cộng đoàn đã đồng ý như vậy. Cho nên công tác chăm sóc những thành viên thiếu ăn, thiếu mặc trong mỗi giáo xứ không phải là việc làm phụ thuộc, tài tử, có cũng được mà không có cũng xong. Nó phải là công tác chính yếu, giữ vai trò quan trọng hàng đầu, bổn phận của cộng đoàn để “không ai phải thiếu thốn” (Cv 4,34). Lúc ấy Chúa Kitô mới cư ngụ giữa chúng ta.

Thơ thứ I của thánh Phêrô trong bài đọc 2 hôm nay cũng nhắc nhớ về nghĩa vụ đó. Nghĩa vụ làm viên đá sống động để xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng, tức trật tự mới, đẹp lòng Thiên Chúa. Bởi chúng ta là giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân riêng của Thiên Chúa. Chúng ta không thể làm hoen ố chức vị của mình và của cộng đoàn mà để cho một thành viên nào phải thiếu thốn, đói khổ về vật chất cũng như tinh thần. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi luôn phải là tấm gương chói lọi cho mọi giáo xứ, cha xứ noi chung. Ðược như vậy “Thày ra đi để dọn chỗ cho anh em” mới có ý nghĩa. Amen. Alleluia.


Fr. Jude Sicilianô, OP

HÃY TÌM MỘT CHỖ TRONG TRÁI TIM CHÚA
(Ga 14, 1-12)

Thưa quý vị,

Bài đọc 1 hôm nay cho chúng ta cơ hội tốt để kiểm tra lại tình hình giáo hội địa phương. Các bài đọc công vụ mùa Phục sinh gây ấn tượng Hội thánh tiên khởi có sự đoàn kết chặt chẽ và vững bền, nhờ đức tin vào Chúa Kitô sống lại. Nhưng thực tế chúng ta không luôn cảm nghiệm như vậy ở các Hội thánh địa phương. Thường xảy ra những tranh cãi lớn nhỏ. Trên bình diện quốc gia và quốc tế cũng vậy, luôn có đe doạ chia rẽ về nhiều vấn đề.

Thí dụ, những năm cuối đời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tiếng nói đòi ngài từ chức không phải là hiếm, có những lúc tưởng như đổ vỡ. Hiện nay ở giáo phận tôi phục vụ, các trường công giáo đang là một vấn đề. Kẻ đòi đóng cửa vài trường vì không đủ kinh phí, người khác đề nghị đầu tư thêm. Cuộc tranh cãi có lúc bùng nổ lớn, lan đến các phương tiện truyền thông xã hội. Không hiểu tháng 9 tới đây (mùa khai trường) vụ việc sẽ được quyết định ra sao ? Hiện thời thì chưa ngã ngũ. Lại còn việc các giáo sỹ gây gương xấu, trách nhiệm của các vị lãnh đạo giáo phận đến đâu ? Ai buộc phải từ nhiệm, ai không ?

Trước sự lớn mạnh và nhiệt thành của giáo đoàn tiên khởi, hình như sách công vụ tông đồ chỉ chú ý ghi lại phần tích cực, bỏ qua những tiêu cực, cho nên chúng ta nghĩ rằng mình kém cỏi hơn các vị tiền bối trong đức tin. So sánh với Hội thánh tiên khởi, các Giáo hội hiện thời luôn phải đối mặt với nhiều sa sút, chia rẽ. Vì vậy, hình như chúng ta không được “chính thống” như các tín hữu đầu tiên. Đó là cảm nghiệm chung mọi người đều thấy được. Tuy nhiên, bài đọc một hôm nay không củng cố quan điểm đó, ngược lại nó cho thấy các tín hữu cũng có những “khó khăn” riêng : Số là khi cộng đồng thêm đông, các tín hữu gốc Do thái nhưng nói tiếng Hy lạp cảm thấy bị thiệt thòi vì các goá phụ của họ không được anh em đồng đạo Do thái chính gốc đối xử cộng bằng. Sách Công vụ kể : “Thời đó các môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do thái theo văn hoá Hy lạp kêu trách những tín hữu Do thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên.”

Rõ ràng giáo đoàn tín hữu đã gặp sự khác biệt về sắc tộc và bất bình đẳng trong các thành phần cộng đoàn. Dấu chỉ hợp nhất chứng minh Chúa phục sinh đang hiện diện không còn chặt chẽ nữa. Tuy lúc đầu, sách công vụ kể cộng đoàn làm chứng mạnh mẽ Chúa đã phục sinh bằng dấu chỉ họ yêu thương, đoàn kết với nhau khăng khít. Nhưng bây giờ chủ nghĩa thiên tư đã để lộ chân tướng. Họ cố tình bỏ quên những kẻ thấp cổ bé miệng trong cộng đoàn. Đây cũng là thách đố của chúng ta hôm nay. Khi đọc đoạn Kinh Thánh này, chúng ta nên thành thực với ơn Chúa Thánh Thần, loại trừ khỏi tâm hồn thói giả hình giả điệu, dấu diếm những lỗi lầm, làm ra vẻ là môn đệ Chúa, nhưng thực tế lòng đầy gian tham, ghen tỵ và loại trừ lẫn nhau. Hãy noi gương giáo đoàn tiên khởi, giải quyết các khó khăn trong ơn Chúa và sự thật.

Duy chỉ sự thật mới giải thoát chúng ta khỏi chia rẽ. Lấp liếm không phải là cách giải quyết tốt. Cứ như tông đồ công vụ thuật lại thì toàn bộ giáo hữu tụ họp, không thấy kể có ai vắng mặt. Họ cùng bàn bạc và nhất trí chọn ra 12 thanh niên Do thái gốc Hy lạp, đầy Thánh thần. Các tông đồ đặt tay trên họ để thành lập một nhóm riêng, có nhiệm vụ trông coi vật chất cho cộng đoàn. Chẳng bao lâu sau, người ta thấy nhóm này cũng đi rao giảng Lời Chúa như Stêphanô ở Giêrusalem, Philiphê ở Samaria. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính yếu của họ là giúp đỡ các tông đồ, phân phát nhu cầu vật chất cho những người thiếu thốn. Hôm nay trước bàn thờ thánh thể, chúng ta cùng cầu xin cho chúng ta ý thức được nhiệm vụ chính yếu của mình là rao giảng Lời Chúa, săn sóc những người thiếu thốn, yếu đau, bệnh tật và đừng tìm kiếm thanh danh, lợi lộc riêng tư.

Bài Phúc âm trích diễn từ cuối cùng của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly. Bối cảnh là sau biến cố rửa chân, Chúa Giêsu loan báo Giuđa phản bội. Các môn đệ nhìn nhau bối rối, rồi chuyển sang hoang mang về tương lai. Chúa Giêsu trấn an các ông : “Anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi.” Các tông đồ hoang mang vì khi Chúa ra đi rồi các ông sẽ rơi vào hoàn cảnh như rắn mất đầu, con cái không cha mẹ, đạo binh không tướng lãnh. Họ biết chống đỡ ra sao với các thế lực thù địch, nhất là với quyền bính đền thờ đang tìm cơ hội để tiêu diệt họ ? Đúng là họ sẽ gặp nhiều khó khăn nếu vắng bóng Chúa Giêsu giữa họ. Ngày nay cũng vậy, Hội thánh sẽ vô cùng lo sợ nếu Chúa không hiện diện để nâng đờ hằng ngày. Bởi kẻ thù của mình, đứng đầu là Satan, luôn chờ cơ hội để quấy phá và nếu có thể được thì tiêu diệt luôn. Đức Thánh cha, hàng giáo phẩm, những vị có trách nhiệm đều cảm thấy được như vậy. Cho nên, năm 1978, khi vừa đắc cử giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã phải tuyên bố ngay trước giáo dân tại quảng trường thánh Phêrô : “Anh chị em đừng sợ!” Một lời bảo đảm vững chắc nhưng bao hàm tình hình quá ư bấp bênh, đầy nguy hiểm. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ về thái độ của Chúa Giêsu đối với các môn đệ đang sợ sệt. Ngài nói nhiều về Chúa Cha : “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở” (c 2). Ngài là đường dẫn đến Chúa Cha (c 4). Xem thấy Thầy là xem thấy Cha ( c 7). Những lời ngài giảng dạy, các việc ngài làm là của Chúa Cha (c 10). Tất cả những nội dung đó bảo đảm Ngài luôn ở với các môn đệ và Hội thánh. Ngài không để chúng ta một mình bơi qua biển đời trần gian, chống chọi với phong ba bão táp của hoả ngục. Đến đây, xin liên tưởng tới trường hợp của Phêrô đi trên biển vào ban đêm để đến với Ngài (Mt 15, 22), hay mẻ cá lạ lùng sau một đêm làm vịêc luống công (Ga 21, 3).

Lời tuyên bố của Chúa Giêsu : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” bao hàm nhiều chân lý khác nữa và đối với các môn đệ, chúng hợp thành nền tảng đức tin của họ vào Ngài. Ngài thực sự là con đường để các môn đệ đến với Chúa Cha, thay vì những tục lệ của các lãnh đạo tôn giáo áp đặt trong việc tuân thủ lề luật, thì chỉ cần tin vào Chúa Kitô. Ngài chính là con đường để mọi người được cứu độ. Ngoài Ngài ra không có con đường nào khác nữa. Tin vào Chúa Giêsu, chúng ta được hưởng tràn đầy thánh nhan Thiên Chúa (Tôi và Cha tôi là một). Ai thấy Chúa Con thì cũng thấy Chúa Cha (Ga 6, 16). Ngoài ra, Ngài là con đường yêu thương đưa đến sự sống. Cho nên, muốn học biết yêu thương thì phải học với Ngài, chứ không bày ra những tưởng tượng rồi gọi đó là yêu thương. Yêu mến Chúa Giêsu là tuân giữ các giới răn của Ngài. Yêu thương nhân loại là làm gương lành gương sáng cho họ, lôi kéo họ về với tình thương của Thiên Chúa. Như vậy, Ngài đích thực là con đường chúng ta tin cậy. Con đường duy nhất mặc khải cho chúng ta biết về bản tính Thiên Chúa. Chúng ta vững lòng tin theo khi Ngài rao giảng về lòng thương xót của Thiên Chúa, về sự tha thứ Người ban cho những linh hồn sám hồn. Nếu ai đó rêu rao về một Thiên Chúa trả thù, oán giận, hằn học, chúng ta có thể bỏ ngoài tai. Chúa Giêsu chính là chân lý về Chúa Cha.

Sống theo như Ngài đã sống dẫn đưa nhân loại đến thể hiện hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa. Do đó, nếu chúng ta mường tượng ra một lối sống khác, kỳ quặc thì đấy là lối sống của ma quỷ. Tai hại thay, thiên hạ thường cỗ võ lối sống này, rồi hô là văn minh, hợp thời đại, không bị tụt hậu, hay nói nhẹ nhàng hơn “nhân bản”. Tôi nhớ cha Bernard Pro O.P. phát biểu một câu chí lý : “Dieu seul est humain - Chỉ một mình Đức Chúa là nhân bản”, còn loài người dù sống tốt thế nào đi nữa cũng vương mùi tục luỵ. Cho nên, đừng kiêu ngạo, tự hào mình “nhân bản” hơn Thiên Chúa. Con đường của Chúa là nhân bản tối thượng. Chúng ta không có khả năng tự thân sống theo cuộc sống của Chúa Giêsu, cũng chẳng tự sức lấy Ngài làm gương mẫu. Đúng hơn, Ngài là “sự sống” của mỗi người. Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào ơn Ngài để có thể sống như Ngài. Đây là chân lý nền tảng của cuộc đời tinh thần. Chúng ta phải ghi nhớ luôn, kẻo sai lầm, sống theo khả năng riêng, xa rời giới răn của Chúa Giêsu. Từ đó, sinh ra tự phụ về đàng thiêng liêng. Chúa Giêsu là nguyên lý của sự sống siêu nhiên, chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài để có thể sống tốt. Ngoài ơn Ngài ra là sống sai lầm. Sống buông thả theo dục vọng của mình thì thế nào gọi là có ơn Chúa hướng dẫn ? Khi Ngài tuyên bố với các môn đệ : “Thầy về cùng Thiên Chúa Cha” tức thời các môn đệ nhớ lại lời hứa của Ngài là Ngài sẽ trở lại mang họ cùng đi với Ngài : “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, Thầy đi dọn chỗ cho anh em và Thầy sẽ trở lại đem anh em về với Thầy.”

Trong khi chờ đợi Chúa thực hiện chân lý đó, chúng ta cần cầu xin Thần khí của Ngài gìn giữ mình trung thành với ơn nghĩa Chúa. Lễ Ngũ tuần đã gần kề, nhớ lại biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống chan hoà trên Giáo hội tiên khởi, chúng ta cũng mong ước biến cố này còn tiếp tục xảy ra trong hội thánh ngày nay, để Thần khí Chúa thúc đẩy mỗi tín hữu, ban cho mỗi người khả năng sống thánh thiện theo đời sống Chúa Kitô. Trong các trường phổ thông cơ sở công giáo, đôi khi người ta tổ chức ngày họp mặt các cựu học sinh. Thường thì vài năm một lần. Đúng là một truyền thống tốt đẹp, đáng ghi nhớ. Mỗi lớp sẽ gửi thiếp mời đến các học sinh cũ của nhà trường, chỉ định ngày giờ. Mọi người hồi hộp đợi ngày trở về tổ ấm (homecoming), gồm cả những nhân vật thành đạt trên trường đời như tổng thống, thương gia, nghĩ sĩ, nghị viện, không loại trừ vô danh tiểu tốt. Trong thánh lễ tạ ơn, người ta chọn đọc bài phúc âm hôm nay. Đó là một chọn lựa khôn ngoan, bởi lẽ Chúa Giêsu tuyên bố Ngài đi là để dọn chỗ cho các môn đệ và Ngài sẽ trở lại mang họ theo. Phải chăng đây không phải là một sự trở về tổ ấm thực sự hay sao ? Ý nghĩa thật sâu sắc ! Những học sinh đã rời nhà trường tản lạc đi khắp ngả đông tây để kiếm sống, danh vọng, địa vị, tiền tài. Bao nhiêu thời giờ, nghị lực, tham vọng đã bỏ ra cùng muôn nỗi nhớ nhung ngôi trường cũ, bạn bè xưa. Nay được trở về xum họp, đúng là cơ hội mừng vui. Những mối ràng buộc thân tình ngày xưa lại được làm cho sống lại. Ai nấy đều cảm thấy hạnh phúc, tạm thời gạt bỏ những khó nhọc vì công việc hằng ngày. Có điều gì đó liên quan đến lời tuyên bố của Chúa Giêsu : “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống” cho những cựu sinh viên, và cho toàn thể tín hữu, khi mà việc trở về họp mặt với Chúa Giêsu trong vương quốc ân sủng, trong hạnh phúc tuyệt vời.

Bởi Ngài chính là tổ ấm của chúng ta. Những linh hồn đón nhận Ngài đều cảm nhận nơi Ngài có nhiều chỗ ở, không phải đợi tới đời sau mới được, mà ngay từ đời này. Chính cuộc sống của Ngài là địa chỉ họp mặt của tất cả chúng ta. Khi Ngài đồng bàn với các môn đệ không thấy đặt bảng hiệu chỉ rõ chỗ ngồi cho những chức sắc hay vị trí của những kẻ thân cận tri kỷ. Mọi người đều bình đẳng, không phân biệt nghèo khó, sang giàu, người thu thuế hay thợ chài lưới, Phêrô hay Gioan. Ngược lại, Ngài cung cấp chỗ nghỉ ngơi cho những ai gồng gánh nặng nề, ủi an những linh hồn đau khổ, phiền muộn. Tất cả đều được danh dự trước mặt Ngài, tìm thấy sự ấm cúng trong trái tim Ngài và được Cha Ngài yêu thương. Chẳng lạ gì mọi người dù tội lỗi đến đâu cũng được Ngài tiếp đón. Khi rao giảng Ngài luôn ban phát ơn lành cho những linh hồn gặp Ngài. Thí dụ, các phụ nữ nơi công cộng, Ngài chấp nhận họ như những môn đệ của mình, điều mà các thầy thông luật, các biệt phái từ chối. Nếu họ là những tội nhân, những người bị thần ô uế ám hại, các kẻ bị loại trừ vì lý do tôn giáo, các thân phận ngoài lề xã hội, chắc chắn họ tìm thấy nơi nương ẩn nơi lòng thương xót của Ngài, vì Ngài giải thích lề luật theo căn bản của nó, chứ không đặt thêm gánh nặng trên vai người có lỗi bằng các tập tục, các thói lệ của đời xưa, xa lìa ý định Thiên Chúa. Ngài là sự hiện diện của Thiên Chúa trước mặt các tội nhân. Vì vậy, người trộm lành được một nơi cư ngụ tốt đẹp trên thiên đàng. Chị phụ nữ ngoại tình được ơn tha thứ và bình an. Ngài ngỏ lời với tất cả các linh hồn tìm kiếm Thiên Chúa : “Chúc mừng cuộc trở về tổ ấm nhà ta.”

Đúng vậy, Chúa Giêsu cung cấp mái ấm cho những ai lắng nghe và chấp nhận lời Thiên Chúa. Nội dung được gói ghém trong tuyên bố : “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống”. Bất cứ những ai chấp nhận Ngài như vậy đều tìm thấy nơi cư ngụ trong trái tim Thiên Chúa, không sợ bị loại bỏ ra ngoài. Hãy để những thứ phù phiếm trôi vào quá khứ. Những tội lỗi, tham vọng, gánh nặng vào hư vô. Bởi chúng ta là con Thiên Chúa, chúng ta có thể cảm nghiệm Ngài như cha mẹ và Ngài ra đi để dọn chỗ cho chúng ta. Đức tin vào Chúa Giêsu như vậy là nơi cư ngụ của nhân loại. Ngài ban khả năng cho chúng ta sống tốt, làm điều thiện hảo. Nhờ đó, những kẻ còn ở xa có thể tìm thấy nơi ở vững bền. Những người yếu kém về kinh tế, xã hội tìm được sự nâng đỡ thăng tiến. Hôm nay, trước bàn thờ Thánh thể, buổi phụng vụ của chúng ta đúng lý phải là nơi cư ngụ quen thuộc cho hết thảy mọi người, thường xuyên dự lễ hay khô khan nguội lạnh.

Nhưng thực tế không được như vậy. Có những kẻ còn bị loại trừ như di dân, ly dị, đồng tính luyến ái, con hoang, xì ke, ma tuý, trộm cướp, v. v. Chúng ta cầu xin Chúa cho mọi người tìm thấy chỗ ở trong trái tim Chúa. Xin Ngài củng cố chúng ta trong các hoạt động bác ái ngõ hầu Hội thánh, thế giới này trở thành mái ấm cho mọi linh hồn, không phân biệt già trẻ, trai gái, sắc tộc, trình độ, sang hèn. Chúng ta đợi trông Chúa Thánh Thần đổi mới mọi sự để trái đất này thực sự là mái ấm cho loài người cư ngụ. Bởi vì tự thân chúng ta chẳng thể thực hiện được ước mơ đó. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op

Những bước chân trên đường
Ga 14,1-12

"Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu" (Mt 8,20).

Có thể nói cả cuộc đời Ðức Giêsu là những bước chân trên đường, là những cuộc di chuyển đây đó, là những cuộc gặp gỡ với đủ mọi hạng người.

Quả thật, Ðức Giêsu đã giáng sinh trong một hang đá, ở một nơi không phải nhà mình. Rồi chỉ ít ngày sau, Người lại cất bước lên đường lưu lạc. Nhất là từ khi hoạt động công khai, cuộc đời Ðức Giêsu là những nẻo đường, những vết chân ngang dọc : ban ngày, Người rảo qua các làng mạc để loan báo Tin Mừng, để giảng dạy, cứu chữa, trò chuyện và gặp gỡ ; đêm xuống, chỗ nghỉ chân của Người là bất cứ nơi nào, nay chỗ này mai chỗ khác : khi thì dưới gốc cây ô-liu trong vườn Cây Dầu, khi thì trên sườn núi nhìn xuống bờ hồ Ti-bê-ri-a, lúc khác trong khoang thuyền lênh đênh trên mặt hồ, hay trong căn nhà ấm cúng của mấy chị em ở làng Bê-ta-ni-a.

Cuối cùng, cuộc đời của Người đã chấm dứt với cái chết không phải trong nhà của mình, không phải trên giường, nhưng là trên một cây gỗ, tại một ngọn đồi bên ngoài thành phố, để rồi được an táng trong một ngôi mộ không phải dành cho mình.

Cuộc đời của Ðức Giêsu luôn diễn ra trên đường, những nẻo đường lạ lùng.

Trên đường : một cuộc sống lang bạt, thoáng đãng, có nắng, có gió, có cỏ cây ... ở đó, Ðức Giêsu đã giảng dạy, đã loan báo, giải thích các mầu nhiệm ... và điều này phù hợp với tinh thần tự do, quảng đại của Người.

Trên đường : đến với con người ở mọi hoàn cảnh, gặp gỡ những tình huống éo le của cuộc sống :

gọi những môn đệ đang đánh cá bên bờ hồ ;
gặp Mát-thêu ở bàn thu thuế ;
gặp bà mẹ vợ Phê-rô đang ốm nằm ở nhà ;
gặp Ni-cô-đê-mô lúc đêm khuya ;
gặp người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp ;
gặp Da-kêu đang vắt vẻo trên cành cây ;
gặp con trai của người đàn bà goá thành Na-in ;
và nhiều cuộc gặp gỡ khác nứa ...

Cuộc gặp gỡ tiêu biểu nhất là cuộc hành trình với hai môn đệ đang trên đường trở về Em- mau : Ðức Giêsu đã giải thích cho hai môn đệ về chương trình của Thiên Chúa, về con người và sứ mệnh của Ðức Kitô.

Ði và gặp gỡ. .

Gặp và đi.
Những bước chân không bao giờ ngừng lại,
Những bước chân không khi nào ngơi nghỉ,

ngay cả khi người ta muốn tôn phong Người làm vua, sau khi đã được ăn bánh, Người vẫn trốn đi ;

ngay cả khi người ta định bắt Người và ném đá, Người vẫn cứ đi ;

ngay cả khi người ta đóng đinh tay chân Người vào thập giá, Người vẫn chỗi dậy mà đi ;

ngay cả khi Ma-ri-a Mác-đa-la ôm chân Người, Người vẫn đi : "Thôi đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha" (Ga 20,16).

Vậy con đường dài nhất, con đường đẹp nhất là hành trình từ Thiên Chúa đến với con người và từ con người đến với Thiên Chúa. Ðức Giêsu đã đi, đi với tất cả nỗ lực của mình, và đi đến đích.

Ðức Giêsu đã đi đến mọi nơi. Không chỗ nào có thể gọi là nhà của Người, hay nói đúng hơn, mọi chỗ đều là nhà của Người. Người đã đi để thể hiện một tình yêu, một tình yêu thống nhất cả đời sống, một tình yêu chi phối mọi hành động, mọi suy nghĩ.

Ðửc Giêsu đã đi đường với một tình yêu lớn. Và tôi nhớ đến thái độ của chúng ta : thiếu gì người vẫn đi mà trong lòng chẳng có một chút tình yêu ; thiếu gì người vẫn đi mà trong lòng không nuôi dưỡng một điều gì cả.

Con đường

Nhưng không chỉ có thế. Ðức Giêsu không phải chỉ là người đi đường, sống trên đường, nhưng chính Người là Ðường.

Trong lịch sử các tôn giáo, chẳng có ai dám tự nhận với một danh xưng như thế. Mọi tôn giáo đều là đường- Ðạo, nhưng ở đây Ðức Giêsu nhận mình là Ðường.

Hai tông đồ Tô-ma và Phi-líp-phê muốn xác định con đường cũng như nơi chốn để được xem thấy Chúa Cha. Nhưng Ðức Giêsu xác định rõ : Thầy là Ðường ... Một khẳng định quá bất ngờ. Các Tông Ðồ tưởng rằng Ðức Giêsu sế chỉ cho các ông thấy con đường phải đi để gặp được Chúa Cha, nhưng Ðức Giêsu lại là con đường các ông phải theo.

Con đường mà Ðức Giêsu chỉ cho các môn đệ không phải là những lí thuyết đạo đức, không phải là những quy tắc, nhưng là chính bản thân Người. Ðức Giêsu đã rời bỏ các môn đệ mà không để lại một văn bản nào. Giáo huấn của Người chính là bản thân của Người. Lịch sử và lí tưởng đều tụ lại ở nơi Người.

Tại sao Ðức Giêsu có thể tuyên bố như vậy ?

Người là Ðường, bởi vì đồng thời Người là Sự Thật và là Sự Sống.

Ðức Giêsu là Sự Thật, vì nơi Người, cái Tuyệt Ðối đã nhập thể và được bày tỏ cho con người. Chính Người đã đến với con người để giải đáp những vấn nạn đang làm họ băn khoăn day dứt Chính Người mới có đủ thẩm quyền để vén lên bức màn cho nhân loại thấy tình yêu bao la và kì diệu của Thiên Chúa vẫn được giấu kín từ muôn thuở.

Ðức Giêsu là Sự Sống, vì Người luôn hiệp thông với Chúa Cha là sự sống vĩnh cừu. Chính Người không ngừng thông ban sự sống ấy cho nhân loại, thông ban cách tràn trề và phong phú. Chính Người mới cho con người được sống đích thực, sống trong tự do và được quý trọng như những người con của Thiên Chúa.

Nói tóm lại, Ðức Giêsu là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống, bởi vì Người luôn làm một với Chúa Cha : Người ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Người.

Ðiều này cũng có nghĩa là ngoài Con Ðường của Ðức Giêsu, không có con đường nào khác ; ngoài Sự Thật do Ðức Giêsu đem đến, không có sự thật nào khác ; và ngoài Sự Sống do Ðức Giêsu ban tặng, người ta không thế nào sống được. Con đường trở nên dễ thương, dễ đi bởi vì đó không phải là việc tuân theo một cách máy móc những quy tắc, những luật lệ. Con đường ấy là một ngôi vị, một mối hiệp thông sâu xa với Ðức Giêsu.

Như vậy, Ðức Giêsu là con đường dẫn đến Thiên Chúa Cha nhờ sự hiệp thông vĩnh cửu. Khi đến trần gian, Người đã mở ra những con đường để rồi lại quy tụ nơi chính Người, qua cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh.

Trong bầu khí thinh lặng của buổi sáng ngày Phục Sinh, lời đem lại ơn giải thoát đã được vang lên. Ðức Giêsu loan báo việc hoàn tất công trình cứu độ :
Thầy là Ðường, là Sự' Thật và là Sự Sống".

Trên con đường Giêsu Kitô, con người gặp được Thiên Chúa ;

trên con đường Giêsu Kitô, con người hiểu được thế nào là tình yêu thương ;

trên con đường Giêsu Kitô, con người biết chắc mình sẽ đi đến đích.

Ðức Giêsu là con đường duy nhất. Tôi nghĩ đến con đường của chúng ta : dường như chúng ta đang bước đi trên những con đường không phải là Con Ðường Giêsu, chúng ta vẫn tìm kiếm Thiên Chúa trên những nẻo đường không phải là Ðức Giêsu.

Phải từ bỏ

Khi được mời gọi bước theo Ðức Giêsu, các Tông Ðồ đã phải bỏ lại tất cả : gia đình, nghề nghiệp ... Các ông đã khám phá ra rằng chính sự liều lĩnh này lại là con đường dẫn đến sự sống. Ðó là điều các ông muốn truyền lại cho chúng ta khi loan báo sứ điệp Phục Sinh.

Mỗi chúng ta cũng sẽ phải gạt bỏ mọi ảo tương : không có một kiến thức hay mặc khải nào có thể miễn chuẩn cho chúng ta bổn phận phải tiến bước, phải liều, phải chết đi. Càng bước đi trên đường, lại càng phải từ bỏ.

Từ bỏ để bước đi và bước đi để từ bỏ.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chúa Kitô là đường
(Ga 14,1-12)

Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thấy có một sự khác biệt rất lạ lùng và thú vị về các danh hiệu mà chính Chúa Giêsu đã tự nói, tự định nghĩa về mình, chẳng hạn Ngài tự xưng mình là Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, là ánh sáng, là bánh hằng sống, là cửa chuồng chiên, là mục tử tốt lành. Ngoài ra, Chúa còn dùng những hình ảnh để tự ví mình, chẳng hạn Ngài ví mình như kẻ trộm, như tân lang, như hoàng tử… Mỗi danh hiệu, mỗi hình ảnh đó đều có một ý nghĩa sâu xa, độc đáo và thú vị.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước, chúng ta thấy Chúa Giêsu tự xưng mình là cửa chuồng chiên, là cửa dẫn vào Hội Thánh, là cửa dẫn vào Nước Trời. Ai muốn vào Nước Trời phải đi qua cửa đó. Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu lại xưng mình là đường dẫn tới Nước Trời. Nước Trời là nhà Cha, trong đó có đủ chỗ cho hết mọi người. Chúa Giêsu lên trời là để dọn chỗ cho chúng ta. Nhưng ai muốn đến với Chúa Cha, muốn đến chỗ ở của mình trên trời, phải đi trên con đường đó.

Tất cả chúng ta đều biết : con đường là những phương tiện để đi lại, để lưu thông và vận chuyển, nhờ đó giúp người ta có thể giao dịch và liên kết với nhau. Dù là những con đường mòn nhỏ bé, quanh co xuyên qua các làng mạc, dù là những con đường hẻm, chật hẹp chằng chịt trong các thành phố, cho đến những con đường cái quan, những xa lộ trải đá, trải nhựa, đều là những phương tiện để con người đi lại và đạt tới mục đích đã định. Cũng vậy, Chúa Kitô là đường, là con đường liên kết đất với trời, liên kết loài người với Thiên Chúa.

Từ khi tổ tông loài người phạm tội, con đường dẫn tới Nước Trời, dẫn tới hạnh phúc đích thực, dẫn tới Thiên Chúa đã bị phá huỷ, đã bị đứt quãng. Chúa Kitô đã tái lập giao thông, làm cho con đường về trời được mở lại như cũ. Ai muốn đến với Thiên Chúa, muốn về quê trời, đều phải đi trên con đường đó, như chính Chúa đã quả quyết : “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.

Từ 20 thế kỷ qua, con đường ấy thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng. Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc. Con đường ấy trải dài tin yêu, thắp sáng hy vọng để dẫn tới nhà Cha trên trời. Con đường ấy mang tên Giêsu, con đường ấy chính là Ngài. Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, nghĩa là đến với Ngài, tin vào Ngài là gặp được sự thật và sự sống đích thực.

Nói rõ hơn, từ xưa cho đến nay, có nhiều tôn giáo hoặc chủ nghĩa nối tiếp nhau đưa ra những quan niệm về vũ trụ, về con người, về hạnh phúc, nhằm giải đáp các thắc mắc và đề nghị những phương thế như những con đường dẫn tới hạnh phúc. Mỗi con đường có một giá trị riêng của nó và nhằm dẫn tới thứ hạnh phúc nhất định. Chúng đã góp phần không nhỏ giúp con người sống tương quan tốt đẹp hơn với nhau qua dòng lịch sử.

Tuy nhiên, những vị sáng lập các tôn giáo là những người có công tìm ra một con đường và truyền giảng cho người khác, rồi họ đều đã chết, họ chỉ là những người tìm kiếm và chỉ đường. Còn Chúa Giêsu đã ý thức rõ về mình và tuyên bố rằng : “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống”, nghĩa là Ngài đã biết đường, không phải tìm kiếm, Ngài chỉ đường và còn có khả năng giúp người ta đi trọn đường để đạt tới đích, vì Ngài chính là đường. Ngài không cần phải tịnh niệm để tìm sự thật, vì Ngài là sự thật. Ngài cũng sống và chết như mọi người, nhưng Ngài đã phục sinh và sống vĩnh hằng, vì Ngài chính là sự sống. Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, là đường, là sự thật và là sự sống, đó là cơ sở vững chắc tuyệt đối để chúng ta chọn Ngài là đường dẫn tới hạnh phúc đích thực và toàn diện.

Vì thế, Chúa Giêsu dạy bảo và mời gọi chúng ta bước theo Ngài trên con đường đó. Tất cả chúng ta đều biết: trần gian chưa phải là quê hương, và những ngày chúng ta đang sống chỉ là những bước hành trình trở về quê hương. Rõ ràng đời này chỉ là cuộc sống tạm bợ, chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu. Vậy trong cuộc hành trình này, trong cuộc sống tạm bợ này, chúng ta phải sống thế nào để đảm bảo về đến quê hương và sống hạnh phúc?

Như một người Cha tốt lành, Chúa Giêsu lại chỉ dạy thêm cho chúng ta biết con đường chắc chắn đi vào cõi phúc, đó là con đường hẹp. Chúa nói : “Con đường rộng rãi thênh thang là lối đưa đến hư mất và có nhiều kẻ đi lối ấy. Còn con đường đưa tới sự sống thì chật hẹp và ít kẻ đi theo lối ấy”. Như vậy là có hai con đường, hai con đường tóm kết hết mọi lối sống luân lý của con người. Giữa hai con đường đó, người ta được tự do chọn lựa, và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình.

Tại sao con đường dẫn tới sự sống lại chật hẹp và ít người đi theo con đường này, trong khi nhiều người lại bước  theo con đường rộng đưa đến sự chết ? Bởi vì con đường gồ ghề, chật hẹp là con đường phải từ bỏ mình, khép mình theo kỷ luật, theo giới răn Chúa, là con đường chấp nhận những hy sinh, khó khăn, vất vả, đau khổ… vì thế con người không muốn đi trên con đường đó. Trái lại, con đường rộng rãi thênh thang, đầy vẻ quyến rũ là con đường sống thoải mái, theo ý riêng, là con đường bất công, kiêu ngạo, ích kỷ, ghen ghét… dẫn tới những ngõ cụt, chán chường và thất vọng. Tóm lại, là con đường tà không đưa tới đích cuối cùng của cuộc sống là hạnh phúc vĩnh cửu, thế mà nhiều người lại thích đi theo con đường này.

Vì vậy, mỗi người chúng ta hãy xét mình xem, chúng ta có đang đi vào con đường hẹp của Chúa Giêsu không hay đi ngoài lề, đi trệch đường, đi ngược chiều ? Chúng ta phải luôn nhớ : con đường hẹp này, có lúc thẳng băng, có lúc quanh co, có lúc bằng phẳng, có lúc gồ ghề đầy ổ gà. Đó là hình ảnh về cuộc đời con nguời chúng ta. Cuộc đời chúng ta được ví như có bốn mùa thay đổi nhau. Đừng ai tưởng rằng đời mình chỉ có một mùa xuân, cũng đừng ai cho rằng đời mình chỉ là một mùa đông ảm đạm, hay chỉ là mùa hè nóng bức oi nồng. Nhưng dù đường đời của chúng ta thế nào, chúng ta cũng phải bền gan can trường đi tới đích, vì “kiến tha lâu đầy tổ, “có công mài sắt có ngày nên kim”, và nhất là “ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi”.


Gioan B. Vũ Văn Tín op

Thầy là đường. là sự thật và là sự sống
Ga 14,1-12

Thầy là đường.

Ngay từ khi Thiên Chúa tạo dựng lên loài người chúng con Thiên Chúa đã mời gọi chúng con  tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, vì thế mục đích của đời sống chúng con chính là được hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa. Nhưng làm sao chúng con có thể hiệp thông khi sức hiểu của chúng con còn nhiều hạn chế, cũng như thánh Tôma ngày xưa đã từng hỏi Chúa : “Thưa Thầy, chúng con không biết thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường đi ?” qua câu hỏi này, Chúa đã mặc khải cho chúng con một điều trọng đại : “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua thầy”. Thật vậy, chúng con chỉ có thể hiệp thông với Thiên Chúa Cha qua Người con là chính Thầy, chính Thầy là con đường dẫn chúng con đi và cứ theo con đường đó để đến với Chúa Cha. Thầy không chỉ đưa ra những lời khuyên dạy, hướng dẫn đường đi mà thôi, nhưng chính Thầy đã dẫn và cùng đi với chúng con mỗi ngày.

Thầy là sự thật

Chân lý hay sự thật là những cụm từ chúng con đã được nghe, được học hỏi nhiều lần, song không thể tìm thấy một chứng nhân nào sống cho chân lý  cho sự thật ấy một cách hoàn trọn ngoại trừ Thầy, và chỉ có Thầy mới là sự thật là chân lý vì chân lý đạo đức mà Thầy trao lại cho chúng con không chỉ truyền đạt bằng lời nói mà được truyền đạt bằng chính gương sống của Thầy.

Thầy là sự sống

Thầy đã từng nói với các môn đệ : « Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dù đã chết cũng sẽ được sống”. Trong suốt đời sống của một kiếp người, xét cho cùng con người luôn tìm kiếm một đích điểm sâu xa đó là sự sống. Con người không tìm tri thức  chỉ vì tri thức, nhưng tìm những gì tri thức đem lại cho sự sống, hay làm cho cuộc đời này đáng sống.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã phán : “Không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy”. Xin cho chúng con luôn hiệp thông với Chúa để chúng con không lầm đường lạc lối, và cho chúng con gắn kết với Chúa vì chỉ một mình Ngài mới dẫn đưa chúng con đến với Chúa Cha mà chúng con không phải sợ hãi, thất vọng.

Lạy Chúa, sống giữa cuộc đời trần thế này, có biết bao lời mời gọi hấp dẫn của tiền tài, danh vọng, của địa vị xã hội lôi cuốn chúng con, dễ làm chúng con biến chất chạy theo lời mời gọi ấy bằng cách lường gạt, chà đạp người khác. Lạy Chúa, xin cho chúng con có đủ can đảm để dám sống thật, và đừng để chúng con vì chút lời lãi của cải trần gian này  mà sống sai Lời Chúa dạy.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến để cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con biết đặt trọn niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa, xin cho chúng con luôn biết tôn trọng sự sống vì Chúa là chủ sự sống. Amen


Đỗ Lực op

Chuột sa chĩnh gạo
(Ga 14:1-12)

Trong sứ điệp gởi cho người Công giáo và dân chúng Hoa Kỳ, ÐGH Bênêđictô XVI viết : "Cùng với các Giám mục, tôi chọn chủ đề 3 chữ đơn giản nhưng thiết yếu cho cuộc tông du : "Christ Our Hope." (Ðức Kitô, Niềm Hy vọng chúng ta.) Theo chân các vị tiền nhiệm đáng kính, Ðức Phaolô VI và Gioan Phaolô II, tôi sẽ đến Hiệp Chủng Quốc lần đầu tiên với tư cách Giáo hoàng, để công bố chân lý vĩ đại này : Chúa Giêsu Kitô là niềm hy vọng cho mọi người thuộc mọi ngôn ngữ, chủng tộc, văn hóa và hoàn cảnh xã hội."[i]

Ðâu là niềm hy vọng lớn lao nhất của nhân loại nếu không phải tự do ? Làm sao có tự do đích thực, nếu Chúa Giêsu không chết trên thập giá. Quả thực,“chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta.” (Gl 5:1) Khi xuống trần gian, Chúa Giêsu đã tự xưng là con đường dẫn đến sự thật và sự sống tự do trong Chúa Cha. Chính vì thế mà Người trở thành niềm hy vọng chúng ta.

CHIỀU SÂU NƯỚC TRỜI

Sống giữa trần gian, Chúa Giêsu vẫn còn là một ẩn số, ngay cả với các môn đệ. Dù sau khi tự mạc khải vừa là cứu cánh và vừa là phương tiện giúp con người tới Chúa Cha, Người vẫn còn là một mầu nhiệm đối với các ông. Bằng chứng, Người giải thích mãi các ông vẫn chưa nhận ra sự thật về Người. Một phần cũng vì những lời mạc khải có phần trừu tượng. Một phần vì những mầu nhiệm quá ẩn sâu trong Chúa Cha.

Nhưng nhờ thời gian chung sống với Chúa, các môn đệ nhận ra phần nào sự thật về Thày. Chắc chắn phải đợi Thần Khí ngự xuống, các ông mới được mạc khải hoàn toàn. Dầu thế, Chúa không muốn các ông quá lo lắng về số phận ngày mai …

Dù vắng bóng Thày, cuộc đời vẫn không ngừng trôi. Bởi thế, các môn đệ cần xác định rõ phương hướng và tỉnh thức trước những âm mưu đen tối của kẻ thù. Dù đang trong giai đoạn nào, họ vẫn luôn là lữ khách trên trần gian. Họ đang đi trên con đường dẫn về nhà Cha hay Nước Thiên Chúa. Con đường đó chính là Ðức Kitô (x. Ga 14:6). Ngoài con đường đó, họ không thể sống tự do, hạnh phúc và bình an. Chắc chắn đó là con đường giải thoát, vì Người là chân lý. Theo con đường đó, họ không thể bị lầm lạc. Hơn nữa, họ sẽ mãn nguyện khi “biết” và “thấy” Chúa Cha nơi Chúa Con. Như thế, con đường đó sẽ dẫn họ vào cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa. Còn gì hạnh phúc hơn !

Con đường đó sẽ bảo đảm cho họ một cuộc sống bình an, vì Người là Ðấng Công Chính (x. Cv 3:14). Người sẽ công chính hóa bất cứ ai bước vào con đường của Người. Ðó là con đường công lý dẫn đến bình an cho muôn người. Muốn có công lý, cần tôn trọng tha nhân với những khác biệt của họ, vì “trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở.” (Ga 14:2) Nói khác, trong Nhà Cha có nhiều khác biệt nhưng vẫn hiệp nhất. Không tôn trọng sự khác biệt ấy, không thể sống trong Nhà Cha.

Chính vì không tôn trọng sự khác biệt của nhau, nên mới có cảnh “các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên.” (Cv 6:1) Thật là bất công ! Nếu cảnh bất công này kéo dài, cộng đoàn tiên khởi sẽ mất bình an. Công cuộc truyền giáo sẽ bị ảnh hưởng. Rất may sự phân công rõ ràng đã tháo gỡ bế tắc. Tất cả đều được giải quyết dựa trên quyền tối ưu của “việc rao giảng Lời Thiên Chúa.” (Cv 6:2) Nhờ Lời Chúa, Giáo hội mới có đủ sáng suốt để trình bày những khác biệt một cách một cách trung thực và tìm cách giải quyết những bất đồng mà vẫn tôn trọng mọi người.

Ðó là con đường đầy ắp tình Chúa và tình người. Ði vào con đường đó, Giáo hội đã tìm kiếm được chân lý, công lý, sự sống, tự do và bình an. Ðó là “những việc lớn hơn nữa” do cộng đoàn những người “tin vào Thày” (Ga 14:12) thực hiện, đúng như Chúa hứa. Còn niềm vui nào lớn hơn ! Niềm vui ấy thật sung mãn vì Thiên Chúa “đã gọi anh em ... vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.”(1 Pr 2:9)

Ánh sáng diệu huyền đó chỉ chiếu soi những ai tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu đã chết và sống lại vì họ. Chúa đã trải qua trước tiên để mở đường khai lối cho  những người em nhân loại, để “dọn chỗ” (Ga 14:2) cho họ trong nhà Cha. Nhà Cha chính là trái tim Chúa. Quả thế, Chúa nói rõ : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.” (Ga 14:11) Ðó là việc cư ngụ trong trái tim, sự hiện diện sâu xa, sự hiệp thông với tình yêu vĩnh cửu là chính Thiên Chúa.

Tình yêu sung mãn đó đã hiện rõ trên dung nhan Chúa Kitô. Không cần đợi thấy Chúa Cha mới mãn nguyện vì “ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14:9) Khi nhắc bảy lần câu văn đơn sơ đó trong một đoạn văn ngắn, Chúa có ý cảnh giác các môn đệ : họ là những con “chuột sa chĩnh gạo” mà không hay ! Họ đã tìm thấy một con đường dẫn đến chân lý giải thoát và sự sống sung mãn trong Thiên Chúa tình yêu. Sống trong hạnh phúc tuyệt vời như thế, họ còn đòi hỏi gì nữa ?!  Chúa là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. Người là mạc khải trọn vẹn về bản chất Thiên Chúa. Cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, chân lý và thực tại ngừng lại nơi Ðức Kitô (x. Cl 1:15; Dt 1:1-4).

Nhờ quyền lực Thần Khí, các môn đệ sẽ hoạt động để đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa ra khỏi lãnh thổ Palestine và đưa vào thế giới. Mọi người sẽ mãn nguyện vì “Chúa Giêsu là con đường dẫn tới Chúa Cha. Như chân lý, Người đến thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa. Như sự sống, Người nối kết sự sống Thiên Chúa với sự sống chúng ta, từ đây cho tới muôn đời.”[ii] Nhờ đó, con người tìm được một lối sống hạnh phúc.

QUYỀN NĂNG

Chúa Giêsu là con đường đưa vào chiều sâu thẳm thẳm của Nước Trời hay dẫn tới cuộc hiệp thông sâu xa với Chúa Cha. Mọi người sẽ mãn nguyện vì sẽ “khám phá ý nghĩa sau cùng của cuộc đời trong Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng nhất qua Mạc khải của Con Thiên Chúa làm người. Thực vậy, Tin mừng  ‘loan báo và công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa. Tin Mừng không chấp nhận mọi hình thức nô lệ tội lỗi. Tin mừng tuyệt đối kính trọng phẩm giá và tự do lựa chọn của lương tâm. Tin Mừng không ngừng khuyến khích con người dùng tài năng phục vụ Thiên Chúa và con người. Sau cùng, Tin Mừng thúc đẩy mỗi người yêu thương mọi người cách quảng đại.’”[iii]

Bao giờ những giấc mơ đó trở thành sự thật ? Con người quá bị giới hạn đến nỗi nhiều khi không thể thực hiện những dự định nhỏ nhất. Muốn thoát khỏi giới hạn đó, con người cần phải gia nhập gia đình Thiên Chúa để “Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.” (Ga 14:20) Ðó là cuộc hiệp thông đem lại sức mạnh kỳ diệu cho những ai muốn làm cuộc cách mạng trần thế.

Cuộc cách mạng đó là giải thoát nhân loại khỏi những áp bức bất công. Nhân loại chỉ hoàn toàn tự do, khi các môn đệ Chúa Kitô biết “tin vào Thầy.”(Ga 14:12) Có tin vào Thày, họ mới  “làm được những việc Thầy làm,” và “còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.” (Ga 14:12) Trong cuộc hiệp thông đó, con người có thể hành động hữu hiệu. Mối hiệp thông kỳ diệu đó có tên gọi là Thần Khí. Chính nhờ Thần Khí, Thiên Chúa hiện diện và gắn bó với chúng ta. Không có Vị Thiên Chúa hiệp thông đó, sự sống thần thiêng hay thiêng liêng không thể lưu chảy trong tâm hồn con người.

Không những đưa con người vào cuộc hiệp thông kỳ diệu với Thiên Chúa, Thần Khí còn nối kết con người với nhau. Hơn bao giờ, nhân loại cần Thần Khí để “hợp tác thực sự với nhau trên mức độ toàn cầu để có thể đạt tới công ích cho toàn thể nhân loại và cho các thế hệ tương lai.”[iv] Không nhắm công ích, không thể giải quyết các vấn đề căn bản của nhân loại.

Muốn giải quyết những vấn đề căn bản đó, nhân loại không thể cậy dựa vào sức mạnh quân sự, kinh tế, nhưng cá nhân cần phải ý thức trách nhiệm đối với tự do. ÐGH Bênêđictô XVI lưu ý mọi người rằng tự do không phải chỉ là một hồng ân, nhưng cũng là lời “mời gọi cá nhân phải có tinh thần trách nhiệm.”[v] Ðiều đó đòi hỏi phải có thời gian kiên trì giáo dục quần chúng. Thực vậy, “muốn duy trì tự do, con người cần phải tập luyện nhân đức, tự kỷ luật, hy sinh cho công ích và ý thức trách nhiệm đối với những người kém may mắn. Tự do cũng đòi hỏi con người can đảm dấn thân vào đời sống công dân và đem những niềm tin và giá trị sâu thẳm nhất ra tranh luận công khai. Tóm lại, tự do mãi mãi mới mẻ. Ðó là một thách đố cho từng thế hệ, và vì công ích, mọi người phải nỗ lực đạt đến tự do.”[vi]

Muốn có tự do, con người phải tôn trọng sự thật, vì chỉ sự thật mới có sức mạnh giải thoát (x. Ga 8:32). Thực vậy, “trong một thế giới không có sự thật, tự do đánh mất nền tảng, và nếu không có những giá trị thực sự, một nền dân chủ có thể mất chính linh hồn mình.”[vii] ÐGH Bênêđictô XVI nhắc lại lời khẳng quyết tương tự của TT George Washington : “Tôn giáo và luân lý tiêu biểu cho ‘những hỗ trợ cần thiết’ giúp nền chính trị được hưng thịnh.”[viii] Càng tránh né hay che đậy sự thật, con người càng bị sa lầy và lụn bại. Không có sự thật, không thể có tự do. Không có tự do, không thể phát triển.

Tự do là quyền căn bản nhất của con người. Trong buổi nói truyện với các nhà ngoại giao tại Liên Hiệp Quốc ngày 18.04.2008, ÐGH Bênêđictô XVI đã mạnh mẽ đề cao nhân quyền như một đường lối ngăn ngừa bạo động, khủng bố và chiến tranh. Người nói : “Cổ võ nhân quyền vẫn còn là chiến lược hữu hiệu để giảm bớt những bất bình đẳng giữa các quốc gia và các nhóm xã hội, và tăng cường an ninh.”[ix] Càng chà đạp nhân quyền, càng tạo nhiều bất ổn trong xã hội. Những yếu tố kinh tế, chính trị, quân sự … không đủ để tạo nên công ích.

Hơn nữa, “những đòi hỏi của công ích tùy thuộc những hoàn cảnh xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử và liên hệ chặt chẽ với việc kính trọng và thăng tiến toàn diện nhân vị và những quyền căn bản của con người. Trên hết, những đòi hỏi này liên hệ tới cam kết thực thi hòa bình, tổ chức các quyền lực Quốc gia, một hệ thống pháp lý lành mạnh, việc bảo vệ môi trường, việc cung cấp những dịch vụ thiết yếu cho mọi người, một số trong những việc đó đồng thời là nhân quyền : thực phẩm, nhà cửa, việc làm, giáo dục, văn hóa, vận chuyển, việc chăm sóc cơ bản cho sức khỏe, tự do truyền thông và ngôn luận, việc bảo vệ tự do tôn giáo.”[x] Nhân quyền là một đòi hỏi khẩn thiết của công ích. Khi nhân quyền không được tôn trọng, quyền lợi quốc gia sẽ biến thành sức mạnh củng cố những tư lợi cá nhân hay bè phái. Chỉ khi đạt tới công ích, quyền lợi mọi người mới được tôn trọng. Nhân dân mới thoát khỏi cảnh lầm than. Mọi người thực sự vui hưởng tự do, dân chủ và hòa bình.

CON ÐƯỜNG SỐNG

Muốn đạt tới công ích, trước hết cần nhận định rõ về tình trạng thế giới hôm nay. Theo ÐGH Bênêđictô XVI, “nhiều nơi trên thế giới hiện nay đang sống trong tình trạng căng thẳng và chiến tranh. Tuy nhiên, ngay cả những nơi không có thảm họa chiến tranh, cũng tràn lan những cảm giác sợ hãi và bất an. Hơn nữa, hiện tượng khủng bố toàn cầu làm cho người ta khó phân biệt hòa bình và chiến tranh, tác hại trầm trọng niềm hy vọng của nhân loại vào tương lai.”[xi] Nhân loại đang lạc vào mê lộ kinh hồn.

Ðâu là con đường dẫn nhân loại thoát khỏi những bế tắc hôm nay ?  “Làm cách nào đáp ứng những thử thách đó ? Làm sao chúng ta có thể nhận ra ‘các dấu chỉ thời đại’? Chắc chắn hành động phối hợp trên bình diện chính trị, kinh tế và pháp luật là điều cần thiết, nhưng, trước hết, cần cùng suy tư về mặt luân lý và tinh thần. Điều thìết yếu hơn nữa là xiển dương một ‘nền nhân bản mới’.”[xii] Ðây là lúc nhân loại phải trở về với những giá trị tinh thần, chứ không phải chỉ có vật chất, để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc đích thực. Quả thế, ÐGH cảnh giác, chúng ta không thể hiểu “chủ nghĩa nhân bản mới”này chỉ thu gọn sự phát triển vào ‘sự lớn mạnh về kinh tế,’ nhưng phải gồm chiều kích luân lý và tinh thần. Ðồng thời, một nền nhân bản toàn diện đích thực cũng phải biểu lộ tình đoàn kết.”[xiii] Nói khác, chỉ có thể hạnh phúc và bình an nếu biết quan tâm đển những giá trị siêu việt và sống trong tình liên đới với người khác.

Vào thực tế, ÐGH Bênêđictô quả quyết : “Hoà bình đích thực và lâu dài là chuyện không tưởng nếu không phát triển từng cá nhân và cả các dân tộc.” Thế nhưng, “suy tư về việc cắt giảm vũ khí là điều không thể hiểu nổi, nếu trước nhất chúng ta không loại trừ bạo lực tận gốc rễ, nếu trước tiên con người không cương quyết đi tìm hòa bình, tìm điều thiện hảo và công lý.”[xiv] Ðây là một trách nhiệm nặng nề và khó thực hiện, vì con người chỉ thấy cái lợi trước mắt và không thấy hết những liên hệ tinh thần trong công cuộc xây dựng cộng đồng nhân loại. Những ai đang nắm quyền trong xã hội đạo đời cần phải ý thức rằng “quyền con người được hưởng hòa bình là điều thiết yếu và không thể bị tước đoạt, và sự thực thi tất cả các quyền khác đều tùy thuộc vào quyền này.”[xv]

Trong cuộc tông du Hoa kỳ, sau khi đọc kinh chiều với các giám mục ÐGH Bênêđictô XVI ban huấn từ : “Trong một xã hội đề cao tự do cá nhân và sự tự lập, không dễ gì thấy sự lệ thuộc và trách nhiệm chúng ta đối với tha nhân. Sự chú trọng vào cá nhân chủ nghĩa ảnh hưởng cả đến Giáo Hội (x Spe Salvei, 13-15), khiến nó phát sinh một loại  đạo đức quá chú trọng tới liên hệ riêng tư với Thiên Chúa, mà quên mất tiếng gọi trở nên thành phần của một cộng đồng cứu độ. Nhưng ngay từ đầu, Thiên Chúa thấy rằng “con người ở một mình không tốt.”  (St 2 :18) Chúng ta được dựng nên như những sinh vật có tính xã hội, chỉ hoàn chỉnh trong tình yêu - đối với Thiên Chúa và tha nhân. Nếu thực sự chú tâm đến Chúa là nguồn vui, chúng ta cần phải hành động như những thành phần dân Chúa (x. Spe Salvi).”[xvi]            

Quả thực, nếu không gột bỏ tính ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa ra khỏi văn hóa, chúng ta phải đối đầu với rất nhiều thảm họa cho cuộc sống hôm nay và ngày mai. Không biết từ bao giờ, nền văn hóa Việt Nam đã nhuốm đầy màu sắc tư kỷ. Biết bao công ích đã bị tiêu hủy trong nền văn hóa chúng ta ! Biết bao giá trị tinh thần phải hy sinh vì nền văn hóa còn nhuốm đầy mùi vật chất. Ðã đến lúc cần lên kế hoạch Phúc âm hóa văn hóa Việt Nam. Nếu không, đợi đến bao giờ chúng ta mới bắt đầu làm cho Tin Mừng nhập cuộc vào đời sống của dân tộc chúng ta ? Nếu mỗi Kitô hữu Việt Nam tích cực sống đạo hơn một chút, nền văn hóa dân tộc sẽ mau được thanh tẩy khỏi những vết nhơ do nền văn hóa tư kỷ và vô thần gây nên.

Chào mừng ÐGH Bênêđictô XVI đến Hoa kỳ tông du, TT Bush phát biểu : “Chúng tôi cần sứ điệp của ngài để phi bác thuyết tương đối độc tôn và hướng theo một nền văn hóa của công lý và sự thật. Trong một thế giới có một số người coi tự do chỉ là quyền làm bất cứ điều gì theo ý mình, chúng tôi cần ngài công bố cho mọi người sứ điệp,  tự do đích thực đòi chúng ta không chỉ sống tự do cho mình mà thôi.”[xvii] Sau cuộc đàm đạo với ÐGH, chắc TT Bush thấy ÐGH đáp ứng được niềm mong đợi của ông.

Tóm lại, nhân loại đang tìm một con đường sống tự do. Hơn ai hết, Chúa Kitô là con đường dẫn chúng ta đến cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa và đồng loại. Nhờ đó, chúng ta mới có thể tìm được những giá trị tinh thần đích thực và cần thiết để xây dựng cuộc sống hạnh phúc hôm nay và ngày mai.

Lạy Chúa, giữa muôn bế tắc trong cuộc sống hôm nay, xin mạc khải cho chúng con thấy rõ Chúa Giêsu « là con đường, sự thật và sự sống, » để chúng con sống một cuộc đời tự do, hạnh phúc và bình an. Amen.

đỗ lực 20.04.2008

 


[ii] Life Application Study Bible : New International Version, Zondervan 1991:1911.

[iii] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 576.

[iv] Ibid., 166.

[vi] Ibid.

[vii] Ibid.

[viii] Ibid.

[x] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 166.

[xii] Ibid.

[xiii] Ibid.

[xv] Ibid.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Anh Em Nhà Học Đa Minh Gò Vấp chuyển ngữ)

Những viên đá sống động xây nên ngôi nhà Thiên Chúa
Ga 14: 1-12

Thưa quý vị,

Bài đọc trích sách Công vụ Tông đồ hôm nay diễn tả những ngày đầu của Giáo hội. Cộng đoàn ngày càng phát triển và khi số thành viên trong cộng đoàn tăng nhanh thì những căng thẳng cũng xảy ra. Hôm nay, chúng ta nghe lời kêu trách từ các tín hữu Do Thái theo văn hóa Hy Lạp (những Kitô hữu nói tiếng Hy Lạp) rằng các bà góa trong nhóm họ không được “những tín hữu Do Thái” (gốc) chăm sóc. Đôi khi, những bất đồng về ngôn ngữ và văn hóa dường như có thể gây ra những căng thẳng, thậm chí là sự phân biệt đối xử ngay trong những cộng đoàn Giáo hội.

Tình hình căng thẳng giữa hai nhóm này có khả năng làm chia rẽ Giáo hội tiên khởi, vì thế những người lãnh đạo cộng đoàn mau mắn để tâm đến vấn đề này. Ông Têphanô và các bạn của ông được chọn để “lo việc ăn uống”, nghĩa là nuôi những người đói khát. Các Tông đồ sẽ chuyên lo việc “cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa”. Bởi vì đây là Công vụ Tông đồ, mà có người đề nghị gọi là “Công vụ của Thánh Thần”, nên tiêu chuẩn chọn lựa ông Têphanô chính là ông được “đầy Thần Khí và khôn ngoan”. Những môn đệ đầu tiên “được đầy Thần Khí” sẵn sàng hoạt động cùng nhau.

Ngày nay, liệu có những khác biệt như thế trong các giáo xứ của chúng và trong Giáo hội phổ quát ta hay không? Những nhóm nhỏ hơn có cảm thấy họ thấp cổ bé miệng hay không? Những người mới đến có được tiếp đón? Có những cuộc tranh giành quyền lực giữa “thế hệ cũ” và các giáo dân mới? Chúng ta bị chia rẽ không? Ở một vài nơi, chúng ta và những căng thẳng này đã chia rẽ cộng đoàn và thuyết phục người ta đi đến một chốn khác. Mỗi chúng ta, ban mục vụ giáo xứ và giáo dân, hãy tin tưởng vào những hành động mang tính cầu nguyện, ân cần, trắc ẩn và kiên quyết của các tín hữu tiền nhân như là mẫu gương để chúng ta làm thành Giáo hội của Đức Giêsu Kitô .

Có một điều ngạc nhiên đối với Giáo hội tiên khởi là họ đã cảm nghiệm được sự phát triển và lòng nhiệt thành mà họ đã thi hành. Bản văn Kinh Thánh hôm nay được lấy từ Những lời từ biệt của Đức Giêsu với các môn đệ vào đêm trước khi Người chịu chết. Lúc đó, các môn đệ nghe tin về việc sắp ra đi của Người. Họ biết làm gì …và làm như thế nào… nếu không có Người? Ngày hôm sau, những giấc mơ của họ bị rạn vỡ và rồi sụp đổ. Giáo hội được khai sinh từ sự đau khổ và mất mát của Đức Giêsu. Sự sống mới sẽ đến với các môn đệ đang tuyệt vọng và bị phân tán, không phải vì các ông có thể giành lại hay tự kéo mình đến với nhau, nhưng chính nhờ hơi thở của Thần Khí mà Đức Kitô Phục đã thổi vào các ông. Thế rồi các ông thực hiện “những điều vĩ đại” mà Đức Giêsu đã hứa tại bữa ăn sau cùng với các ông.

Tôi di chuyển rất nhiều. Với những sự thay đổi thất thường của ngành du lịch hiện đại, tôi dự định chuẩn thật bị kỹ cho chuyến đi: Tôi muốn luôn sẵn sàng cho những bất ngờ có thể xảy đến bất cứ lúc nào! Nếu đang đi máy bay, tôi kiểm tra tỉ mỉ cách thức để đến sân bay, số và địa điểm của ga đi. Tôi in vé của mình ra trước và lên trang web kiểm tra vị trí chỗ ngồi. Nếu đó là một chuyến đi dài thì tôi gói theo ít thức ăn và bánh kẹo. Tôi đảm bảo là phải có cái để đọc. Tôi từng là một thành viên trong nhóm hướng đạo sinh và vẫn còn ghi nhớ khẩu hiệu của nhóm là: “Hãy sẵn sàng”.

Vì thế, hôm nay tôi có thể thông cảm với thánh Tôma. Chúng ta cũng thế. Đức Giêsu chuẩn bị cho những môn đệ đang quy tụ quanh bàn ăn với Người vì Người sắp bước vào cuộc khổ nạn và cái chết. Người sẽ rời khỏi các ông, nhưng Người hứa sẽ trở lại và dẫn các ông về với Người. Người nói với các ông: “Thầy đi đâu, thì anh em  biết đường rồi”. Thánh Tôma là một du khách rất thực tế. Nếu ông đi đến một nơi nào đó thì ông muốn biết rõ nơi ông đi và làm thế nào để đến được đó. (Tôi cũng xin được hỏi rằng: “Ngày nào Thầy sẽ trở lại và khi nào thì tất cả chúng con đi cùng Thầy?”).

Câu trả lời của Đức Giêsu không đề cập đến bản đồ, địa điểm cố định và thời gian cụ thể (chẳng hạn “Tôi sẽ trở lại vào thứ Ba, lúc 3 giờ chiều). Thay vì vậy, khi chúng ta nghe toàn bộ Tin Mừng của thánh Gioan, Đức Giêsu dùng lối diễn tả khác về mình “Thầy là”: “Chính Thầy là con đường …”. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ đến với Người và phó thác cuộc đời họ trong tay Người. Chúng ta thi hành điều đó qua việc sống trong mối tương quan với Người, lắng nghe lời Người dạy bảo và đi theo đường lối của Người. Đó là cách chúng ta sẽ tiến tới cuộc sống mà Người hứa ban cho những ai bước đi cùng Người “trên con đường” Người đã đi. Đức Giêsu nói rõ rằng Người là con đường dẫn đến Thiên Chúa và nếu chúng ta theo Người (con đường), thì chúng ta sẽ có “sự thật” – vì Người chính là mạc khải của Thiên Chúa cho chúng ta. Chúng ta sẽ có “sự sống” – vì Đức Giêsu đã kéo chúng ta ra khỏi cái chết của tội lỗi để bước vào đời sống mới.

Những độc giả Kinh Thánh cũng đã quen với hình ảnh Đức Giêsu sử dụng để diễn tả về mình – “con đường”. Trong Cựu Ước, “con đường” có nghĩa là hợp với lề luật, những điều mang lại sự thật và sự sống cho ai biết tuân theo. Thiên Chúa hứa trong sách Isaia (40,3): Hãy dọn một con đường băng qua sa mạc để đưa những người sống xa quê hương trở về. Thánh Vịnh đầu tiên đề cập đến “con đường” để khích lệ niềm hy vọng của chúng ta khi chúng ta phó dâng đời mình vào tay Thiên Chúa, “Chúa hằng che chở nẻo đường công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong” (Tv 1,6).

Hai con đường được vạch ra trước mắt chúng ta: nẻo đường người công chính và đường lối ác nhân. Khi Đức Giêsu nói lời từ biệt các môn đệ thì Người khích lệ các ông đi theo Người, như nẻo đường công chính –đường dẫn tới Thiên Chúa. Người không chỉ nhận mình như một kiểu mẫu mà các ông phải theo để đạt được sự sống. Hơn thế nữa, Người hứa khi trở lại, Người sẽ ở với các ông. Đức tin là con đường dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu. Khi tin vào Người, chúng ta có được đời sống mới, một đời sống giúp ta bắt chước sống theo Người. “…Ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha”.

Tôi cho rằng Đức Giêsu chắc chắn đã chọn những môn đệ có nhiều năng lực và hiệu quả hơn để làm “những việc lớn hơn nữa” mà Người hứa chúng ta sẽ làm được. Hiện giờ, chúng ta, những Kitô hữu thời đại xem như còn nhiều giới hạn, sợ hãi, tội lỗi, cau có và thiển cận. Bài đọc 1 hôm nay cho thấy rằng ngay cả trong “Giáo hội sơ khai được cho là lý tưởng” thì cũng có những căng thẳng và tất cả mọi thành viên trong Giáo hội đều là những con người đầy khiếm khuyết. Nhưng khi cùng làm việc với nhau như một cộng đoàn, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, họ có thể giải quyết những vấn đề có thể nảy sinh -  điều xem như chẳng khi nào là dễ dàng hoặc không có đấu tranh và ngờ vực.

Trong bài đọc thứ 2 hôm nay, thánh Phêrô gọi Đức Kitô là “viên đá sống động”, rồi trải rộng hình ảnh này đến cả chúng ta nữa. Làm thế nào các tác giả Kinh Thánh tránh khỏi những lối nói vô cùng khác thường này? Tảng đá làm sao có được sự sống? Phải chăng đó là niêm luật văn chương? Còn nhớ câu chuyện thiếu nhi nói về ba con heo, trong đó có một con tự bảo vệ mình chống lại “con sói lớn độc ác” bằng cách xây nhà của mình bằng đá không? Những tảng đá bất động tạo nên nền móng vững chắc để bảo vệ những bức tường – nhưng có ai lại nghĩ chúng có sự sống?

Thánh Phêrô khích lệ chúng ta sử dụng trí tưởng tượng của mình: sẽ như thế nào nếu ngôi nhà, cộng đoàn Đức Giêsu thiết lập lại không gồm những viên đá sống động? Chẳng phải điều đó có nghĩa rằng chúng ta không chỉ là một nơi cư ngụ thánh thiện dành cho Thiên Chúa, mà còn là một nơi ở rộng rãi, bao gồm mọi chủng tộc, quốc gia, ngôn ngữ, bậc sống, giới tính…nữa sao? Thánh thiện nghĩa là lớn lên cùng với Đức Giêsu, “con đường”, thổi sức sống vào trong chúng ta, giúp chúng ta trở nên “những viên đá sống động” và thúc đẩy chúng ta đi tới. Chẳng phải chúng ta biết rằng Giáo hội của Đức Kitô như một tòa nhà gồm “những viên đá sống động” đó sao? Đã bao nhiêu lần chúng ta tìm thấy sự giúp đỡ và chỉ dẫn nơi cộng đoàn tín hữu của mình? Chúng ta biết ơn những lần những ban mục vụ và các tâm hồn thánh thiện trong cộng đoàn đã trở nên sức mạnh và sự khôn ngoan cho chúng ta. Dẫu cho những ngày này chúng ta phải đối mặt với những phiền muộn trong Giáo hội, nhưng chúng ta vẫn còn gặp vô số những tín hữu luôn hiện diện ở nơi thờ phượng và tình nguyện tìm những dịp phục vụ những người thiếu thốn ở cả bên trong lẫn bên ngoài cộng đoàn. Họ và chúng ta là “những viên đá sống động” xây nên ngôi nhà thánh thiện của Thiên Chúa.

Lm. Jude Siciliano, O.P.

 

Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy

Cv 6,1-7; Tv 33; 1 Pr 2,4-9; Ga 14,1-12

 

Kính thưa quý vị,

Người lạc quan nhìn nửa ly nước, thì thấy nước chứa đầy nửa ly. Cũng nửa ly nước ấy, người bi quan sẽ nói ly nước bị vơi đi một nửa. Vậy, phải chăng Đức Giêsu là một người lạc quan? Người bảo rằng các môn đệ sẽ làm được“những việc mà Thầy làm, và sẽ còn làm những điều lớn lao hơn nữa…” Đức Giêsu nói nghiêm túc chứ? Hay chẳng qua là sự lạc quan ngây thơ? Dựa vào đâu Người có thể bảo đảm được lời hứa ấy?

Đồng bàn với các môn đệ vào đêm trước khi chịu chết, Đức Giêsu bực bội vì sự u minh của các ông. Tuy vậy, Người vẫn nói với các môn đệ rằng các ông sẽ làm được những việc còn lớn lao hơn cả những việc các ông đã thấy Người làm. Thế nhưng, nhìn vào Giáo hội hôm nay, chúng ta thử hỏi: “Đâu là những việc lớn lao hơn mà những người tin sẽ làm được theo như lời hứa của Đức Giêsu?” Có lẽ chỉ vì chúng ta – những tín hữu của thời hiện đại – không thừa nhận quyền năng của Thiên Chúa và cậy dựa quá nhiều vào sức riêng của bản thân. Hơn nữa, như Đức Thánh Cha Phanxicô từng nhắc nhở, chúng ta đã không biết dùng những khả năng Thiên Chúa ban tặng để phục vụ người khác, đặc biệt những người hèn yếu nhất và không có chút quyền hạn nào.

Vài đoạn trong sách Công vụ Tông đồ cho thấy đời sống của Giáo hội sơ khai là lý tưởng (Cv 2, 42-47; 4, 32-35). Nhưng bài đọc thứ nhất hôm nay lại nhắc đến một cách sống thiếu mẫu mực của các Kitô hữu tiên khởi. Ở đầu chương 6 của sách Công vụ Tông đồ, chúng ta gặp thấy bằng chứng về những khác biệt và chia rẽ trong cộng đoàn. Có những tín hữu Do Thái bản xứ và những tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp, các tín hữu theo văn hoá Hy Lạp than trách rằng các bà goá trong nhóm họ không nhận được sự phân phát công bằng về phần lương thực hằng ngày. Các vấn đề mà Giáo hội sơ khai phải đối diện không chỉ đến từ bên ngoài mà con cả dấu hiệu của sự chia rẽ từ bên trong.

Các tín hữu Do Thái bản xứ muốn duy trì ngôn ngữ và cách thức thờ phượng như truyền thống. Các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp thì đến từ các cộng đồng Do Thái ở hải ngoại, các cộng đồng này phân tán sống ngoài Palestine, là những người chịu ảnh hưởng của lối sống văn minh Hy-La. Chúng ta, những Kitô hữu thời hiện đại, đâu phải là những người duy nhất đối diện với những nhóm ‘bảo thủ’ và ‘cấp tiến’ trong cộng đoàn đức tin.

Tại sao các bà goá theo văn hoá Hy Lạp lại bị quên lãng? Phải chăng chỉ vì những tín hữu Do Thái bản xứ có sức mạnh và quyền lực hơn, và họ đang sử dụng sức mạnh và quyền lực ấy để đối xử thiên vị, ưu tiên cho phe của mình? Chúng ta không biết thực hư thế nào. Nhưng trước khi chịu chết, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ rằng các ông sẽ còn làm được những điều lớn lao hơn. Vì trước hết, Đức Giêsu nói là Người sẽ chết, rồi sống lại và trao ban cho các môn đệ ân huệ Chúa Thánh Thần. Người ban cho các ông “phương tiện” mà các ông cần đến để làm “những việc lớn lao hơn” như Người đã hứa.

Có giáo phận, giáo xứ hay cộng đoàn tôn giáo nào mà không có sự phân biệt dựa theo truyền thống, hiện đại, màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, giới tính hay dòng tộc? Những nhóm người nào đang bị tước đoạt quyền lợi, quyền lên tiếng nói? Có những sự tranh giành quyền lực xảy ra giữa các đoàn thể trong giáo phận và giáo xứ hay không? Các đoàn thể trong các xứ đạo có sự cạnh tranh quyền lực trong các việc phụng vụ, tác vụ và ngân quỹ không? Những vấn nạn này đòi hỏi sự hồi tâm chân thành, cầu nguyện và đối thoại. Ngay cả khi có những căng thẳng như thế, thậm chí thường xuyên xảy ra đi nữa, thì nhờ những hồng ân của Chúa Thánh Thần, những căng thẳng ấy sẽ được biến đổi thành nguồn sức mạnh, canh tân và tái tạo. Chúng ta biết rằng cuối cùng thì Giáo hội sơ khai cũng đã giải quyết tốt đẹp sự xung đột này:“Tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt…” Các môn đệ đầu tiên vẫn gắn bó với cộng đoàn, nhưng điều đó không miễn cho các ông sự mâu thuẫn. Tuy nhiên, các ông đã giải quyết vấn đề cách công khai và thẳng thắn, chia sẻ quyền lợi cho những tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp, và quan tâm đến nhu cầu của những người mà họ cảm thấy bị lãng quên.

Trong Giáo hội ngày nay, chúng ta cũng không muốn thấy bất cứ cá nhân hay nhóm người nào bị bỏ quên. Không để một ai bị quên lãng hay cảm thấy bản thân bị tách biệt khỏi những tác vụ của cộng đoàn giáo xứ. Tất cả mọi người đều có cơ hội đến với Lời Chúa và các Bí tích; nếu cần thiết, nhân lực và ngân quỹ sẽ ưu tiên cho những nhu cầu của “các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp” thời nay trong cộng đoàn Hội thánh. 

Suốt các Chúa Nhật Phục Sinh, chúng ta nghe những đoạn Kinh Thánh nói về tình hình Giáo hội sau biến cố Phục Sinh và sau biến cố Hiện Xuống. Hôm nay, Đức Giêsu nói với chúng ta rằng:“Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” Nhưng thử hỏi tại sao hôm nay nhiều người trong chúng ta quy tụ để thờ lạy Chúa. Lý do chẳng phải là lòng chúng ta xao xuyến đấy ư? Tình trạng lộn xộn xảy ra có thể là do những tranh cãi trong gia đình, tại nơi làm việc, hay giữa những người thân thiết. Hơn nữa, ai lại chẳng lo âu khi hay tin hơn 200 nữ sinh ở Nigeria bị bắt cóc và có nguy cơ bị bán làm nô lệ? Chỉ cần thêm một tin xấu, thì lại một gánh nặng nữa chất lên tâm hồn chúng ta khi đến dự lễ hôm nay.

Đức Giêsu nói với các môn đệ là những người có nhiều lý do để xao xuyến. Đó là bữa Tiệc Ly và Đức Giêsu nói những lời từ biệt với các ông. Các ông không biết chắc tương lai xảy đến điều gì, nhưng dường như đó là một chuyện không hay. Các ông biết chắc một điều rằng: những gì Đức Giêsu nói ở đây là một cuộc thử thách đức tin. Phiền muộn và lo âu đang xảy đến theo những cách mà trước đây các môn đệ chưa nghiệm thấy bao giờ. Phiền muộn và lo âu – hai vị khách không mời mà đến, xâm nhập vào cuộc sống của các môn đệ, giữ chân họ lại trong một cộng đoàn non trẻ và đầy yếu ớt.

Quả là một tương lai ảm đạm dành cho những người thiện tâm đặt niềm tín thác vào Đức Giêsu; họ vốn hình dung một tương lai hoàn toàn khác. Những lời Đức Giêsu loan báo về cái chết của Người khiến cho các môn đệ lo âu. Trong khi cuộc khủng hoảng này đang ập xuống trên các môn đệ thì liệu có tương lai cho các ông hay không? Làm sao các ông có thể chịu đựng được cơn khủng hoảng đó? Điều gì giúp cho các ông vượt qua được?

Những rắc rối trở nên gay go và làm cho cộng đoàn bị tản mát trong sợ hãi. Thêm nữa, Đức Giêsu mời gọi những kẻ đồng bàn với Người, và Người cũng đang mời gọi chúng ta khi chúng ta đồng bàn với Người hôm nay, rằng“hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.”

Lời hứa của Đức Giêsu về sự hiện diện luôn mãi của Người với các môn đệ không chỉ là một lời hứa hiện diện trong những lúc bình an, hạnh phúc thôi, mà còn trong những lúc khó khăn, đầy áp lực nữa. Bị bỏ rơi, đức tin của chúng ta sẽ vỡ vụn. Hãy nghĩ về tất cả những nơi đang gặp thử thách: gia đình, công sở, trường học, “và những nơi khác trên thế giới.” Hãy nghĩ đến cuộc thử thách mà đức tin của chúng ta phải kiên trì chịu đựng trong suốt thời gian này, với đầy tai tiếng về các vụ bê bối của hàng giáo sĩ. Nhưng, nếu như cuộc đời của Đức Giêsu đã dạy chúng ta mọi điều, thì hẳn rằng một cuộc sống mới có thể nảy sinh từ trong đau khổ, thậm chí từ trong cái chết.

Tu viện của chúng tôi ở bên cạnh một trường Đại học Công giáo. Trong những ngày này, các bạn sinh viên đang chịu nhiều áp lực chuẩn bị cho việc thi cử. Họ đang cố gắng để vượt qua thời gian thi cử rồi trở về quê. Đó chẳng phải là một ẩn dụ về tất cả chúng ta sao, những người đang cố gắng vượt qua thời gian thử thách rồi quay trở về “quê hương đích thực?” Đức Giêsu nói rằng Người trở về cùng Cha của Người và Người dọn chỗ cho chúng ta. Nghe như đó là một nơi tuyệt vời phải không? Nơi đó “có rất nhiều chỗ ở.” Đức Giêsu hứa sẽ quay trở lại và đón chúng ta về với Người. Sẽ có một cuộc “trở về nhà” cuối cùng để chúng ta được ở với Thiên Chúa và ở với nhau.

Tạm thời, Đức Giêsu đã trở lại chuẩn bị ngôi nhà cho chúng ta ở đây và bây giờ. Sự quy tụ của chúng ta để tôn thờ Người là một trong nhiều nơi trú ngụ Đức Giêsu chuẩn bị cho chúng ta ở đây. Khác với ngôi nhà quê hương đích thực của chúng ta, cộng đoàn này là nơi chúng ta được tháo cởi gánh nặng của những sai lầm quá khứ; là nơi chúng ta sống thật với chính mình, với những thiếu sót và tất cả mọi thứ là nơi chúng ta có thể giúp nhau mang những gánh nặng đang đè trên cuộc sống. Nơi đây, chúng ta được nuôi dưỡng và được ban sức mạnh cho tới khi chúng ta đạt đến ngôi nhà vĩnh cửu cuối cùng, nơi trú ngụ mà Đức Giêsu đã đi trước để dọn sẵn cho chúng ta.