| |
Chúa Nhật III Phục
Sinh - Năm A
Cv 2,14.22-28 / 1Pr 1,17-21 / Lc
24,13-35
An Phong op : Trên Ðường Emmau
Như Hạ op : Đồng Hành
Fr. Jude Siciliano,
op : Trái tim ta bừng cháy khi hành động như Ngài
Fr. Jude Sicilianô,
op : Thiên Chúa vẫn luôn ở gần kề
G. Nguyễn Cao Luật op : Con đường trở về
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa Kitô Phục Sinh
hiện ra
Tôma Trần Ngọc Túy, op : Chúa Kitô Thánh Thể và
hành trình Emmaus
Giuse Vũ Hải Bằng op : Chúa vẫn đồng hành bên cạnh
đời ta
Ts. Sylvester Nguyễn Ngọc Minh, op : Bản trường ca
ngắn ngủi
Đỗ Lực op : Cuộc đời : một ẩn số
Fr. Jude Siciliano, op : Đức Giêsu luôn đồng hành
với chúng ta
Fr. Jude Siciliano,
op:
Hãy can đảm lên đường loan báo TM Phục sinh
An Phong op
Trên Ðường
Emmau
Lc 24,13-35
Hẳn là Ðức Giêsu đã là niềm hy
vọng và bình an cho các môn đệ khi còn tại thế. Nhưng lúc này đây, trên
đường Emmau, niềm hy vọng và bình an đó đã "tan theo mây khói". Thế là
đành "về vườn" thôi.
Hẳn là các môn đệ tưởng Ðức
Giêsu sẽ thục hiện một cuộc giải phóng, đánh đuổi người La Mã ra khỏi
đất nước Do Thái của họ.
Ðức Giêsu là một người giải
phóng. Nhưng lúc này đây, trên đường Emmau, "mộng vàng tan mây", thế là
đành "về vườn" thôi.
Hẳn là nỗi sợ hãi đã đè bẹp các
ông, khiến các ông không nhận ra Ðức Giêsu là bạn đồng hành, cho đến khi
thầy trò cùng "ăn nhậu" với nhau, đồng bàn với nhau.
"Về vườn", chuyện sao dễ dàng vậy, đơn giản quá. Tại sao thế?
Có lẽ là vì niềm hy vọng của họ
chỉ mang tính cách con người, và bình an thực sự chưa có. Họ nhìn nhận
và đánh giá mọi biến cố xảy ra theo nhãn giới con người; và đối với họ,
thập giá là một thất bại bi đát.
Có lẽ là vì họ hy vọng một chức
quyền trần thế, một chỗ nhất trong vương quốc Ít-ra-en; họ tưởng cuộc
giải phóng chính trị sẽ làm cho họ "đổi đời"; và thế là công lao khó
nhọc gần 3 năm trời theo thầy Giêsu được trả giá thích đáng.
Có lẽ là vì họ chưa nhận ra "Lời
mang lại sức sống" cho mình; dù họ đã nghe nhiều và thậm chí đã đem
những lời đã được nghe loan truyền cho người khác.
Từ đó, một kết luận :
Ðức Giêsu là niềm hy vọng và bình an cho mỗi người, nhưng phải là niềm
hy vọng và bình an mang tính cách "thần học"; tức là nhìn nhận và đánh
giá lịch sử theo nhãn giới Thiên Chúa.
Ðức Giêsu là người giải phóng
tâm linh cho mỗi người; Ngài làm cho cuộc đời vui tươi, thoát ách tội
lỗi.
Ðức Giêsu là bạn đồng hành trong
bàn tiệc Thánh Thể và Lời Chúa; vì bàn tiệc là nơi quy tụ, chia sẻ và
đồng cảm với nhau trong một niềm tin.
Lạy Chúa Giêsu,
Xin Thánh Thể Chúa
cũng cho chúng con được ơn soi sáng,
như hai môn đệ trên đường Emmau
đã được "sáng mắt" để nhận ra Chúa.
Ðể chúng con biết mời Chúa ở lại,
đón Chúa vào nhà;
Ðể chúng con nhận ra
Chúa vẫn đang đồng hành trên đường đời
và vận dụng Lời Ngài mà bảo ban dạy dỗ;
Ðể chúng con nhận ra đời mình
không phải là một sự thất bại thảm thương,
nhưng được vui mừng là sứ giả loan báo
sức sống Phục sinh của Chúa.
Như Hạ op
ÐỒNG HÀNH
Lc 24,13-35
Nếu vắng bóng Thiên Chúa, hành
trình trần gian còn ý nghĩa gì không ? Bởi thế, Giáo Hội không ngừng
đồng hành với Ðức Giêsu phục sinh trong cuộc hành trình hôm nay để phục
hồi tất cả những giá trị đã mất cho nhân loại.
GẶP MÀ KHÔNG GẶP.
Hành trình về Emmau, hai môn đệ
đang xa lìa dần Giêrusalem như xa lìa niềm tin ban đầu. Niềm tin vào
thầy chí thánh đã tan thành mây khói khi Ðức Giêsu như giang tay thua
cuộc trên thập giá. Niềm hi vọng cũng chìm vào nấm mồ hoang lạnh. Bằng
chứng, hai ông đang lầm lũi bước đi với "vẻ mặt buồn rầu." (Lc 24:17)
Thất vọng tràn trề. Niềm tin băng hoại. Vì thế, "mắt họ bị ngăn cản,
không nhận ra Người," (Lc 24:16) dù "chính Ðức Giêsu tiến đến gần và
cùng đi với họ." (Lc 24:15) Thế mới hay, Ðức Giêsu phục sinh là đối
tượng của đức tin chứ không phải của giác quan.
Thực tế, đức tin các môn đệ
Emmaus mới chỉ dừng lại ở một giới hạn nào thôi. Cao lắm họ cũng mới chỉ
tin Ðức Giêsu "là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói
trước mặt Thiên Chúa và toàn dân." (Lc 24:19) Niềm hi vọng của họ vẫn
chưa vượt khỏi biên giới Do thái : "Phần chúng tôi, trước đây vẫn hi
vọng rằng chính Người là Ðấng sẽ cứu chuộc Ítraen." (Lc 24:21) Chính vì
giới hạn quá lớn như thế, nên họ mới không tin nổi lời chứng phục sinh
của các môn đệ khác, vì "chính Người thì họ không thấy," (Lc 24:24) Lời
chứng của các phụ nữ cũng chỉ dựa trên lời "thiên thần hiện ra bảo rằng
Người vẫn sống." (Lc 24:23) Cũng như ông Tôma, các ông không thể tin nổi
Ðức Giêsu phục sinh cho tới khi giáp mặt.
Ðể phá tung giới hạn và nâng cao
niềm tin các môn đệ, Ðức Giêsu đã "bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các
ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong
tất cả Sách Thánh," (Lc 24:27) để chứng minh rằng "Ðấng Kitô phải chịu
khổ hình, rồi mới vào trong vinh quang của Người." (Lc 24:26) Ðức Giêsu
đã kiên nhẫn đưa các môn đệ lần ra sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ Kinh
thánh. Sợi chỉ xuyên suốt đó chính là Ðức Giêsu phục sinh. Người chính
là trung tâm qui tụ mọi tầm nhìn của Môsê và các ngôn sứ. Không có
Người, Kinh thánh mất hẳn ý nghĩa. Nói khác, Người là ngọn lửa soi sáng
cho ta thấy tất cả những nét đậm nhạt trong Thánh kinh. Ngọn lửa ấy cũng
khơi bùng lên cả một đám cháy lớn trong con tim nhân loại. Chính vì thế,
các môn đệ mới thú nhận : "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích
Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?" (Lc
24:32)
Dầu sao các môn đệ mới cảm nhận
trong con tim chứ chưa nhận ra Người đang hiện diện ngoài thực tế. Nhưng
"khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra
trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người." (Lc 24:31) Niềm tin
lên tới cao điểm, sau khi đã trải qua đêm đen thất vọng. Từ cao điểm
lòng tin, các ông mới thấy tất cả mạc khải sung mãn chỉ tìm được trong
những cử chỉ thân thương trong bữa tiệc ly. Ðức Giêsu đã lặp lại những
giây phút lịch sử đó như một nghĩa cử đáp lại lòng hiếu khách của các
môn đệ. Bữa ăn thân ái đó đã mạc khải cho các môn đệ dung nhan đích thực
của Thầy Chí Thánh. Không có cuộc chia sẻ thân tình đó, chắc chắn mắt
đức tin các ông đã không mở ra. Ðó chính là bữa ăn cánh chung giúp các
môn đệ nhận ra thời điểm Nước Chúa đã đến. Chính Ðức Giêsu đã báo trước
thời điểm đó trong đêm Vượt Qua (Lc 22:16, 18).
Không còn niềm vui nào lớn hơn.
Con tim trào lên niềm hi vọng. "Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại
Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó." (Lc
24:33) Niềm tin đã quay trở lại với các môn đệ. Cuộc gặp gỡ hôm đó là
cuộc gặp gỡ của niềm tin và niềm hi vọng bùng vỡ. Họ sung sướng nói cho
nhau về biến cố Ðức Giêsu phục sinh : "Chúa trỗi dậy rồi, và đã hiện ra
với ông Simôn." (Lc 24:35) Chứng từ này khác hẳn với chứng từ các phụ nữ
và các môn đệ họ đã từng nghe trước đây. "Còn hai ông thì thuật lại
những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi
Người bẻ bánh." (Lc 24:35) Chứng từ phục sinh vô cùng sống động và cụ
thể. Phục sinh đã trở thành sự kiện cảm nghiệm thiết thân của từng cá
nhân, chứ không phải kết quả của dư luận thêu dệt.
Thánh Phêrô cũng mạnh mẽ làm
chứng sự kiện đó : "Chính Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại ;
về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng." (Cv 2:32) Chính Thánh Linh
đã nâng Ðức Giêsu dậy. Chính "nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Ðấng
đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để
anh em đặt niềm tin và hi vọng vào Thiên Chúa." (1 Pr 1:21) Nói khác,
nếu Ðức Giêsu không phục sinh, nhân loại không thể tìm được niềm hi vọng
nào nơi Thiên Chúa nữa !
NIỀM HI VỌNG HÔM NAY
Chỉ một mình Ðức Giêsu phục sinh
mới có thể đem lại niềm hi vọng cho nhân loại hôm nay. Người là động lực
thúc đẩy Giáo Hội không ngừng tranh đấu cho sự sống và đồng hành với
nhân loại trong nỗ lực bảo vệ sự sống. Nhân dịp lễ kỷ niệm ngày Ðức Phật
nhập Niết Bàn vào ngày 9/4 tại các quốc gia theo phái Ðại Thừa vào 19/5
tại các quốc gia theo phái Tiểu thừa, ÐHY Francis Arinze, chủ tịch Hội
đồng Giáo hoàng về đối thoại liên tôn, đã gởi một thông điệp đề nghị
cùng hợp tác bảo vệ sự sống con người chống lại vô số phương cách văn
hóa sự chết đe dọa nhân loại. ÐHY mời gọi các Phật tử nhập cuộc với các
người Công giáo tranh đấu chống lại "một nền văn hóa sự chết đầy dẫy
những cảnh phá thai, an tử, và những thí nghiệm về di truyền trên con
người đã hay sắp được pháp lý công nhận." (CWNews 9/4/02) "Quyền sống
đang bị kỹ thuật tân tiến vượt bực ngày nay đe dọa." Tất cả đều phát
xuất từ "sự khinh thường sự sống con người." (ÐHY Francis Arinze : Zenit
9/4/02)
ÐHY nhấn mạnh Kitô hữu và Phật
tử cần phải hợp tác để cổ động một nền văn hóa tôn trọng sự sống. Lý do
vì "chúng ta đều tin tưởng rằng tôn trọng sự sống con người phải bắt đầu
từ trong tâm hồn con người, trước khi trở thành thực tế ngoài xã hội." (ÐHY
Francis Arinze : CWNews 9/4/02) Ngài kêu gọi dồn nỗ lực giáo dục giới
trẻ về chân giá trị của sự sống con người (CWNews 9/4/02) "để họ xác tín
mạnh mẽ về một nền luân lý và văn hóa sự sống. Giáo dục giới trẻ phải là
vấn đề ưu tiên." (ÐHY Francis Arinze : Zenit 9/4/02)
Giáo Hội sẵn sàng cộng tác với
các tôn giáo bạn để hướng dẫn giới trẻ bước vào nền văn minh tình thương
và văn hóa sự sống. Như Thầy chí thánh, Giáo Hội phải đồng hành với nhân
loại mới có thể hoàn thành sứ mạng cứu độ. Nhân loại hôm nay chỉ có thể
tìm lại được niềm hi vọng trong Ðức Giêsu phục sinh mà thôi. Thật vậy,
Giáo Hội xác tín "nhờ mầu nhiêm Vượt Qua, Chúa đã phục hồi phẩm giá
nguyên thủy của nhân loại." (Các Giờ Kinh Phụng vụ 1999 : 511)
Tất cả sứ mạng Giáo Hội đều nhằm
phục hồi phẩm giá nhân loại. Nhưng Giáo Hội không thể hoàn thành sứ mạng
đó, nếu không đồng hành với Ðức Giêsu phục sinh. Giáo Hội có thể giải
thích cho nhân loại "những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách
Thánh." (Lc 24:27) Nhưng chỉ khi nào Giáo Hội mời con người vào đồng bàn
với Người, họ mới có thể "nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh." (Lc 24:35)
Fr. Jude Sicilianô, op
Trái tim
ta bừng cháy khi hành động như Ngài
(Lc 24,13-35)
Thưa quý vị.
Giáo hội phải trường kỳ đấu
tranh với các thế lực tối tăm để sống còn. Các thế lực đến từ phía trong
và phía ngoài Giáo hội luôn tìm mọi cơ hội để tiêu diệt niềm tin của các
tín hữu. Trong giai đoạn hiện tại ngày nay có lẽ thế lực đen tối nhất là
thái độ coi Hội thánh như một cơ cấu ngây thơ, lỗi thời, cổ hủ, chậm
tiến, sơ cứng, không theo kịp trào lưu văn minh của con người hiện đại.
Thêm vào đó là những gương xấu của hàng giáo sĩ. Những gương xấu này về
lâu về dài làm xói mòn lòng đạo đức của những tâm hồn vô tội và những
gia đình ngay thật. Thời thánh Luca cũng có những thế lực như vậy, nhưng
dưới hình thức khác. Cộng đoàn của ngài cũng đã phải vật lộn với các
phần tử cực đoan. Ða phần họ là những tín hữu gốc Do thái, đòi hỏi phải
tuân theo các luật lệ nghiêm ngặt của giao ước cũ. Lý luận của họ như
sau : Hội Thánh là dân tộc Israel mới, nhiệt thành, do đó mọi lề thói cũ
phải được tôn trọng bất luận là ai, kể cả những tín hữu gốc dân ngoại,
nếu muốn được coi là trung thật với Thiên Chúa, Ðấng đã trao lề luật cho
Moisen, để dân được cứu độ. Dân tộc canh tân là ở chỗ trung thành tuyệt
đối với lề luật của cha ông. Cuộc tranh luận này gây ra chia rẽ trầm
trọng trong Giáo hội còn quá non trẻ.
Thái độ thù nghịch từ phía ngoài
Giáo hội, như thánh Luca viết ở Antiokia, là dân xứ Syria. Tôn giáo của
họ là đa thần. Không có ý niệm gì về ơn cứu chuộc, sống lại và sự sống
đời sau. Do đó, họ coi niềm tin của Kitô giáo là huyền hoặc. Lại còn
những lãnh đạo tôn giáo Do thái cực lực chống lại Chúa Giêsu như ứng
nghiệm Thiên sai của các lời hứa tiên tri. Như thế rõ ràng có nhiều ý
kiến trái ngược nhau trong Giáo hội mới được thành lập. Thực ra đa phần
các tín hữu coi mình là một giáo phái cải cách trong giáo hội chung của
dân tộc Do thái, chứ không phải là một tôn giáo hoàn toàn tách biệt khỏi
Do thái giáo. Họ vẫn lên đền thờ cầu nguyện theo thói tục chung (Cv
2,46), tuân giữ các lề luật Do thái giáo. Mãi sau này, sự thoát ly dứt
khoát mới xảy ra (Cv 15,23). Cái giáo hội non trẻ này (nếu ta được phép
gọi như thế) cảm thấy mỏng manh biết bao khi phải đối mặt với những áp
lực nội, ngoại luôn gây căng thẳng để tiêu diệt nó ? Chắc hẳn thánh Luca
đã có những tư tưởng như vậy khi ngài viết Phúc âm thứ 3. Trong trình
thuật Chúa Nhật hôm nay, thánh nhân đã vô tình bày tỏ cảm tưởng của mình
qua hai môn đệ đi thành Emmaus và ngày nay cũng là lời cầu khẩn của Hội
thánh : “Xin Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp
tàn” (Lc 24,29). Dịch sát nguyên bản thì : “Trời đã xẩm tối”. Câu sau
này gọi ý một điều chi tối tăm hơn là thời khắc của một ngày. Và thánh
Luca muốn bày tỏ những nỗi khó khăn của cộng đoàn ngài và của từng cá
nhân, van xin Chúa Giêsu trợ giúp trên con đường lữ hành trần gian ! Nói
một cách tổng quát, mỗi khi gặp gian nan thử thách, tình cảnh trở nên
buồn thảm, Tin Mừng phục sinh vẫn chỉ là lời đồn đại, thì thánh Luca
dùng câu nói đó để khích lệ chúng ta đi gặp Chúa sống lại trong lời Ngài
và các bí tích.
Nên để ý đến kiểu cách thánh
Luca thuật truyện. Cái chi đã ngăn cản hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu ?
Bản văn xem ra muốn nói đến một ngoại lực khách quan : “Mắt họ bị che
phủ không nhận ra Ngài”. Ngoại lực thực sự đôi khi đã làm cho chúng ta
không nhìn thấy Chúa sống lại. Ðây cũng là một lối nói khác của Kinh
thánh, chỉ rằng họ thiếu đức tin. Họ không nhận ra Ngài vì họ mù về đàng
thiêng liêng, chẳng nhìn ra những sự việc Kinh thánh đã từng đề cập tới.
Chúng ta cũng vậy. Khi Thiên Chúa cất người thân về, khi phải thay đổi
mục tiêu đã định, khi tuổi già ập tới, khi sự chết đã gần, chúng ta cũng
cảm thấy như bị bỏ rơi, cô đơn trên đường đời, Chúa sống lại chỉ là tin
đồn mơ hồ, là truyện ma quái do nhu cầu tưởng tượng vẽ ra chứ chẳng phải
là một nhân vật thực sự sánh bước với chúng ta trên dương gian đầy khổ
ải ! Lúc ấy chúng ta cần đọc lại câu chuyện của Luca !
Một vấn đề khác của trình thuật
Tin Mừng hôm nay. Ðó là nó có những dòng mở đầu gần như công thức : Các
môn đồ bất chợt nhận ra Chúa sống lại. Họ rất đỗi ngạc nhiên ! Chúng ta
chẳng thể đổ lỗi cho họ. Chúa phục sinh có những tính cách rất khác đời
thường trong các câu chuyện sống lại. Maria Macđala đâu có tức khắc nhận
ra Chúa ? Bà chỉ nhận ra bác làm vườn ! Các môn đệ chỉ nhận ra Chúa sau
mẻ lước lạ lùng còn trước đó chỉ là người đàn ông đứng trên bờ (Ga
21,4). Các môn đệ đi làng Emmaus cũng vậy. Thêm vào đó, những chi tiết
của truyện sống lại cũng tỏ ra lộn xộn : Ở ngôi mộ trống là người làm
vườn hay hai Thiên thần ? Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ ở đâu ?
Galilêa hay Giêrusalem ? Có tác giả dựa vào những chi tiết này mà nói
rằng, câu chuyện phục sinh không có thật, nó chỉ là những hư cấu. Nhưng
các chứng nhân tiên khởi chẳng phải là những kẻ câm, không biết nói lên
sự thật. Họ cũng dễ dàng khám phá ra các chi tiết khác biệt như chúng
ta. Không phải chúng ta tỉnh táo hơn họ. Các nhà chú giải Thánh kinh có
ý kiến rằng những trình thuật sống lại được truyền miệng từ thế hệ này
sang thế hệ khác trước khi được viết trên giấy tờ, do đó tam sao thất
bản là chuyện thường tình. Ðiều này có thể chấp nhận được. Các cộng đoàn
tín hữu đầu tiên quan tâm không phải chi tiết, mà là kinh nghiệm sống về
Chúa phục sinh. Cho nên chi tiết có thể khác nhau. Giống nhau y hệt lại
có tính giả tạo, bởi không phải là kinh nghiệm của nhiều người đã được
chứng kiến, mà chỉ một người. Người đó có thể bịa đặt. Ðiều mà Giáo hội
tiên khởi cần nhớ và cần có, để nuôi dưỡng lòng tin của mình là tính
thuyết phục của những chứng nhân chân chất, đã từng xem thấy, nghe thấy,
nói với và chia sẻ các bữa ăn với Chúa phục sinh. Những câu chuyện của
họ được ghi lại cho lợi ích chúng ta, như tuần trước thánh Gioan đã viết
: “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Ðức Giêsu là
Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ Danh Người”
(Ga 20,13).
Sau cuộc tử nạn đẫm máu của lãnh
tụ Giêsu, hai môn đệ thất vọng rời Giêrusalem để trở về Emmaus, chắc
chắn họ đã nghe tin về ngôi một trống do mấy phụ nữ và Phêrô kể lại.
Nhưng ý kiến chung thì cho đó là chuyện vớ vẩn, chưa đủ bằng chứng để
tin (Lc 24,11). Trên đường họ gặp một khác lạ, có lẽ cũng là khách hành
hương lễ Vượt qua trở về. Họ chẳng thể nhận ra Chúa Giêsu. Ngài đã hoàn
toàn thay đổi diện mạo. Các trình thuật phục sinh khác cũng có hiện
tượng tương tự. Những ai đã từng quen biết Ngài trước kia bây giờ chẳng
thể nhận ra Ngài theo lối cũ được nữa. Con mắt trần xác thịt, con mắt
hợp logic loài người bây giờ bị che phủ. Phải nhìn bằng con mắt khác,
bởi Ngài đã thay đổi. Ngài là vị thần linh mầu nhiệm trỗi dậy từ cõi
chết. Không phải bất cứ ai cũng có thể nhìn ra, mà chỉ những người được
ơn riêng, được thần khí Ngài soi sáng và cho phép. Ngài làm chuyện này
qua việc mở trí cho hai môn đệ hiểu Kinh thánh và bữa ăn Thánh Thể.
Ðó phải là kinh nghiệm của chúng
ta, các tín hữu sống sau biến cố Phục sinh đã hơn 2000 năm. Chúng ta
phải học hỏi Thánh kinh và tham dự các bí tích để có thể nhận ra Ngài
trong cuộc sống đời thường. Chẳng cần nói quý vị nào có kinh nghiệm phục
vụ lời Chúa đều nhận thấy như vậy. Ở trong các giáo xứ, những nhóm học
hỏi Thánh kinh nghiêm chỉnh đều đã vượt qua được các tối tăm, thử thách
và nhìn thấy Chúa sống lại qua những nỗ lực học hỏi và cầu nguyện của
mình. Nhiều người khác có lẽ còn phải mò mẫm tìm ra con đường phải đi để
gặp được Chúa phục sinh. Ước vọng của họ sẽ được Chúa thương đáp ứng. Ðể
rồi tất cả đều có thể tự nhủ mình : “Dọc đường, khi người nói chuyện và
giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên
sao ?”.
Giây phút mở mắt là phút giây bẻ
bánh đối với hai môn đệ đi làng Emmaus. Thánh Luca đã mô tả hành động
này của Chúa Giêsu tương tự như khi Ngài nhân bánh lên nhiều (9,16) hoặc
trong bữa Tiệc ly (22,19). Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra,
trao cho hai ông. Các ông nhận ra cử chỉ quen thuộc, nhờ đó nhận ra Ngài.
Tinh thần của mỗi người ở trong phong thái của họ. Tinh thần của Chúa
Giêsu ở trong cử chỉ bẻ bánh của Ngài. Ngài chia sẻ với họ tấm bánh, tức
cuộc đời của Ngài, thân xác Ngài như Ngài đã tuyên bố trong bữa tiệc ly.
Mỗi khi chúng ta chia sẻ với ai của cải, tình cảm là chúng ta đi vào bữa
Agapê của tình yêu, lòng bác ái và nhờ đó, chúng ta nhận ra Chúa hiện
diện. Cha mẹ chia sẻ cuộc sống với con cái, vợ chồng chia sẻ tình yêu
với nhau, hàng xóm láng giềng chia sẻ tình nhân ái, giàu có chia sẻ của
cải với kẻ nghèo khó, người công dân chia sẻ tự do với hạng tù đày… đều
có thể nhận ra Chúa phục sinh hiện diện. Trái tim mọi người đều bừng
cháy khi hành động như Ngài, và cảm nghiệm được những đau khổ của Ngài ở
Giêrusalem ý nghĩa ra sao ! Chúa đã dùng Thánh kinh để mở mắt cho hai
môn đệ đi làng Emmaus. Ngài cũng dùng Kinh thánh để mở linh hồn chúng ta
hôm nay đón nhận ơn phục sinh. Amen. Alleluia.
Fr. Jude Sicilianô, OP.
Thiên Chúa
vẫn luôn ở gần kề
(Lc 24, 13-35)
Thưa quý vị,
Bài đọc 1 hôm nay tiếp theo
biến cố Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các tông đồ trong ngày lễ Ngũ
tuần. Thánh Phêrô công khai rao giảng cho người Do thái về Chúa Giêsu
Phục sinh. Xin nhớ bản chất ông nhút nhát, đã chối Thầy ba lần ở sân nhà
Thượng tế Caipha và biến mất khi tình thế xấu đi. Nhưng lúc này Thánh
Linh đã ban cho ông can đảm và miệng lưỡi. Ông là con người hoàn toàn
đổi mới, chứng tỏ Chúa thực sự phục sinh và ban Thần khí Ngài cho các
tông đồ. Một cuộc biến đổi ngoạn mục. Hầu hết dân thành Giêrusalem và
các khách hành hương đều ngạc nhiên (2, 5). Bỗng dưng Phêrô trở thành
con người khôn ngoan, thông thái. Ông biết phải bắt đầu bài giảng ra sao
và trình bày nội dung như thế nào cho có thứ tự, xác thực và đầy tính
thuyết phục : “Thưa anh em miền Giuđea và tất cả những người cư ngụ
tại Giêrusalem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời mà tôi nói
đây.” Thánh Phêrô đã lợi dụng bổn phận tôn giáo căn bản của dân tộc
Do thái : “Lắng nghe và học biết Lời Thiên Chúa.”Rồi đem ra thực hành,
đúng như các sách Lề luật chỉ định.
Thí dụ, ông Môsê khi truyền
lệnh 10 giới răn cho dân Do thái đã hô lớn : “Hỡi
Israel, hãy lắng nghe
những thánh chỉ và quyết định mà hôm nay tôi nói cho anh em nghe ; anh
em phải học cho biết những điều ấy, và lo đem ra thực hành.”
(Đnl 5, 1) Tới đoạn ông chính thức ban giới
răn, ông lại nói : “Nghe đây, hỡi
Israel ! Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta,
là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết
lòng, hết dạ, hết sức anh em.”
(Đnl 6, 4) Rõ ràng nhiệm vụ
đầu tiên của dân tộc Do thái đối với Thiên Chúa là lắng nghe Ngài phán
bảo và thi hành ý định của Ngài. Nhiệm vụ này bây giờ chuyển sang Hội
thánh. Chúng ta phải lo lắng tìm kiếm tiếng Chúa và toàn tâm toàn ý lắng
nghe những điều Ngài truyền đạt cho mỗi linh hồn. Thiên Chúa là Đấng
luôn luôn đề xuất sáng kiến và thông báo cho những tôi tớ Ngài tuuyển
chọn. Bỏ qua tiếng gọi của Ngài là tội thiếu xót nghiêm trọng. Nhưng
thường khi giáo dân lại coi nhẹ việc này. Chúa phục sinh có nhiều điều
phải truyền đạt cho chúng ta ngày nay để cải tạo con người và xã hội.
Cho nên lắng nghe lời Ngài vào mùa này là nghĩa vụ hàng đầu của mỗi tín
hữu.
Nhìn
vào lịch sử dân tộc Do thái, chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm
vụ đó. Thiên Chúa thấu hiểu hoàn cảnh trầm luân khốn khổ của dân Do thái
trong kiếp nô lệ Ai cập và Ngài đã chọn Môsê để nói với ông, chỉ thị cho
ông dẫn dắt dân ra khỏi kiếp sống lầm than. Qua Môsê, Ngài liên tục nói
với họ, lãnh đạo họ suốt hành trình vượt sa mạc, thì hôm nay thánh Phêrô
nhắc đến vua David và gọi ông là ngôn sứ, truyền đạt ý định của Đức Chúa
và như vậy nhiệm vụ lắng nghe lời Chúa lại một lần nữa được khẳng định
và trở thành mệnh lệnh đối với dân chúng Do thái. Phêrô cho họ biết,
trước khi là kẻ thi hành ý Chúa, họ phải lắng nghe lời Ngài. Họ lắng
nghe David nói về Đức Kitô : “Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên
Chúa đã thề với Ngài là sẽ đặt một người trong dòng dõi lên ngai vàng
của người. Nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức
Kitô...” Chúng ta cũng vậy, phải biết lắng nghe Tin Mừng về Đấng Cứu
Thế, các công việc vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện vì chúng ta nơi Đức
Giêsu Ki-tô và đáp trả bằng việc thay đổi nếp sống của mình. Do đó trên
thực tế, thánh Phêrô kêu gọi dân thành Giêrusalem trờ về với truyền
thống tốt đẹp nhất của cha ông : Lắng nghe sứ điệp của Thiên Chúa nói
qua các ngôn sứ và tin vào Đức Ki-tô phục sinh. Phêrô không làm gì khác
hơn là nhắc lại những điều Kinh Thánh cựu ước chỉ dạy.
Mở đầu như thế rồi, thánh
Phêrô đi vào nội dung của bài giảng. Chúng ta sẽ lắng nghe điều gì từ
thánh nhân ? Dân thành Giêrusalem phải đón nhận lời nào ? Tin Mừng Đức
Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết. Đức Ki-tô mà các đầu mục đền thờ đang tâm
đóng đinh vào thập tự mấy ngày trước đây. Ngài đã thực hiện nhiều điều
kỳ diệu trước mắt dân chúng. Toàn dân đều biết và đặt hy vọng vào Ngài.
Thế mà vì lòng ghen tương, các thượng tế và biệt phái, kỳ lão đã trao
Ngài vào tay quân vô lại Rôma mà giết đi. Tuy nhiên sự kiện đó không
phải là tận cùng. Lịch sử
Israel không phải đã chấm dứt với vị ngôn
sứ đầy quyền năng này. Ngài đã chết giống như nhiều vị tiên tri xưa kia
đã bị giết dã man. Nhưng (một chữ “nhưng” quan trọng) Thiên Chúa đã can
thiệp để Ngài trỗi dậy, ban ơn cứu độ cho tất cả những ai tin cậy vào
Ngài. Sự kiện này tất cả chúng tôi xin làm chứng. Dù rằng các thượng tế,
luật sĩ, kỳ lão, kẻ thù của Chúa Giêsu xem ra thắng thế. Cái chết trên
thập tự ghi dấu sự thất bại chua cay của Ngài. Nhưng Thiên Chúa đã nâng
Ngài dậy, ban cho Ngài quyền năng trên trời dưới đất. Như vậy mục tiêu
của Thiên Chúa đã đạt tới. Thánh Phêrô củng cố quan điểm của mình bằng
cách trích đọc thánh vịnh 16 : “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con
trong cõi âm ty. Cũng không để vị thánh của Ngài phải hư nát. Chúa sẽ
dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề, khi
ở trước thánh nhan”. Lời cầu nguyện của vua David hy vọng Thiên Chúa
không bỏ rơi tôi tớ Ngài sau cái chết. Hy vọng này được thực hiện nơi
Chúa Giêsu. Thánh Phêrô sử dụng nó để tuyên bố Đức Giêsu phục sinh sẽ
cứu vớt nhân loại khỏi cái chết đời đời. Thiên Chúa trung tín với lời
hứa giải thoát Israel khỏi kiếp nô lệ Ai cập, thì cũng không chai đá
trước những nhu cầu của chúng ta. Dù rằng hiện thời xem ra thần chết
thắng thế trên nhân loại. Nó reo rắc kinh hoàng khắp nơi. Hằng ngày hằng
giờ chúng ta mất đi người thân yêu và cũng cảm nghiệm cái chết riêng
đang dần dà tới gần. Chẳng ai thoát khỏi tay tử thần, dù cố gắng biết
mấy đi nữa thì vẫn thất bại. Lúc nhắm mắt xuôi tay, mọi toan tính,
chương trình, hy vọng đều tan biến. Những cố gắng tranh đấu cho bình
đẳng, công bằng xã hội, hoà bình lâu dài, chấm dứt nghèo đói, chiến
tranh, áp bức đều tan thành mây khói. Đúng là tử thần đang thắng thế
trong những cuộc vật lộn với chúng ta. Hình như hai môn đệ đi làng Emmau
trong Phúc âm hôm nay cũng ở trong tâm trạng này. Họ đã hy vọng nhiều
vào thầy Giêsu. Nhưng cái chết tất tưởi trên thập tự đã làm tiêu tan mọi
sự. Họ rời bỏ Giêrusalem với lòng nặng chĩu. Họ thổ lộ tâm can cho một
khách lạ đồng hành : “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng
chính Người là Đấng cứu chuộc
Israel.”
Liệu
có ai trong chúng ta không từng cảm nghiệm như vậy trong cuộc đời ? Liệu
chúng ta không từng đặt câu hỏi về những thất bại của mình ? Hai vợ
chồng cao niên dự tính xây một căn nhà về hưu, bỗng nhiên bà vợ mất. Bây
giờ cô đơn quá, biết tính toán sao đây ? Đứa con yêu quý vừa cai nghiện
sì ke, cả nhà mừng rỡ, bao nhiêu dự định cho tương lai. Bỗng nhiên được
tin nó lại hút ! Chúng ta hy vọng mang hoà bình dân chủ cho Iraq. Nhưng
bây giờ xem ra không thực hiện nổi, mặc dù đã tốn nhiều tỷ đôla. Chúng
ta hy vọng triển khai tốt đẹp dự án trẻ em đường phố, bảo đảm cho chúng
những tương lai rực rỡ. Nhưng chính phủ đột nhiên cắt đứt tài chánh,
chẳng còn biết cậy nhờ vào đâu ? Chúng ta dùng từ “nhưng” cho những hoàn
cảnh tương tự, những thất bại nửa chừng : “Nhưng chúng tôi trước đây vẫn
hy vọng Người sẽ cứu chuộc Israel”.
Tuy nhiên chúng ta thấy ở
bài đọc 1, lời thánh Phêrô nói với dân thành Giêrusalem, Thiên Chúa vẫn
có điều gây ngạc nhiên cho niềm thất vọng của chúng ta : “Ngài đã nâng
Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, giải thoát Người khỏi tay tử thần.” Nhiên
hậu tất cả nhân loại đều được hưởng ân huệ đó. Thiên Chúa trao ban sự
sống vào những nơi xem ra là lãnh địa của tử thần, ban hy vọng cho chính
lúc thất vọng nhất. Cho nên hai môn đệ đi làng Emmau, một tên là
Cléophas, còn người kia là mỗi tín hữu. Chúng ta cũng rời bỏ Giêrusalem
trong tâm trạng đau buồn vì thất bại hằng ngày. Chúa Giêsu cũng hiện ra
đồng hành với chúng ta. Ngài tỏ lộ tính hạnh tốt đẹp nhất của người Do
thái ngoan đạo. Đó là lắng nghe, mặc dù Ngài thấu rõ mọi sự. Hai môn đệ
không nhận ra Ngài, trách Ngài chẳng hiểu những biến cố vừa xẩy ra tại
thành thánh trong mấy ngày vừa qua. Chúng ta cũng làm Chúa phiền lòng vì
những đổ vỡ của mình. Chúa kiên nhẫn chờ đợi cho câu chuyện nguôi đi.
Đau khổ nào chẳng cần thời gian để chữa lành ? Chúa phục sinh không hề
xa chúng ta mặc dù Ngài ẩn dấu. Trước mặt Ngài không có thời gian và
không gian. Hai mươi thế kỷ đối với Ngài vẫn là hiện tại. Ngàn dặm để
tới xứ Palestin không hề xa xăm. Chúng ta vẫn đồng hành với Đức Giêsu,
người khách lạ.
Thất vọng hằng ngày của
chúng ta Ngài vẫn thấu hiểu. Nhưng đức tin và lòng mến của chúng ta cần
thời gian để trưởng thành. Chúng ta cần tẩy não tư tưởng hiếu thắng,
mong đợi chiến công vang dội mà Chúa chẳng hề muốn. Ngài để mình tự thất
bại trên thập tự. Giống như vậy, Hội thánh và mỗi tín hữu cần học hỏi
bài học của Ngài : Khiêm nhường, bác ái, thất bại, chịu đóng đinh, chịu
chê cười, chịu thử thách để biến đổi thế giới và các tâm hồn. Xin luôn
nhớ Thiên Chúa hoà giải với nhân loại qua các nạn nhân, và nạn nhân vĩ
đại nhất là Đức Ki-tô trên thập giá. Ơn thánh tác động linh hồn loài
người không ồn ào náo nhiệt mà nhẹ nhàng, êm dịu, thấm nhuần vào chiều
thẳm sâu nhất của tâm lý con người. Chúa Giêsu chuyện vãn với hai môn đệ
đi làng Emmau hôm nay là một thí dụ rõ ràng : “Lòng chúng ta đã chẳng
bừng cháy lên đó sao ?” Chúng ta cần chôn vùi quá khứ và mở lòng ra đón
nhận tương lai mới mà Chúa phục sinh mang lại cho mỗi người. Hai môn đệ
đi làng Emmau sai lầm ở chỗ giam hãm mình trong nhà tù quá khứ : “Chúng
tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu chuộc Israel.” Cho nên không nhìn thấy cuộc
sống tương lai của mình. Vậy thì điều chi giúp đỡ họ (và chúng ta nữa) ?
Câu trả lời sẵn trong truyền thống tôn giáo Do thái : Hãy trở nên những
kẻ lắng nghe và để tâm đến lời Thiên Chúa như Đức Ki-tô đã giải thích
cho họ. Đây là lăng kính duy nhất và chính xác, qua đó chúng ta nhìn xem
thế giới trong các biến cố hằng ngày. Trước hết chẳng có chi thay đổi.
Đấng họ hy vọng là Mesia đã bị kết án tử hình và chết trên thập tự.
Nhưng khi Chúa Giêsu mở mắt để hiểu Kinh Thánh thì họ nhận ra mình quá u
tối. Thiên Chúa cứu chuộc Israel vượt xa quan niệm và hy vọng của toàn
dân. Chúa Giêsu phục sinh luôn hiện diện cho mọi tín hữu, mỗi khi có
điều thất vọng, ngõ hầu giúp lắng nghe lời Thiên Chúa trong các buổi
phụng vụ. Các thừa tác viên phải ý thức điều này, khi công bố lời Chúa,
không lơ đễnh, không máy móc, kẻo thiệt hại nặng nề cho cộng đoàn.
Chúa phục sinh luôn luôn
hiện diện bên các môn đệ và tiếp tục giải phóng họ khỏi các lầm lạc của
quá khứ bằng cử chỉ bẻ bánh. Mỗi khi họ tụ họp quanh bàn tiệc Thánh thể
họ đều được bảo đảm tha thứ, hy vọng được sống lại và đổi mới, tương lai
rực rỡ với lời hứa sống mãi vinh quang, văng vẳng bên tai lời Tin Mừng
hôm nay : “Chúa đã trỗi dậy thực rồi và đã hiện ra với ông Simon”. Nhờ
câu chuyện của thánh Luca, cộng đoàn chúng ta và từng người tín hữu được
vững lòng xem thấy Chúa cùng đồng hành với mình trên bước đường trần
gian. Chắc chắn chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khó khăn ở các niềm đất
lạ, nhưng thánh Luca cam đoan Chúa chẳng xa, Ngài luôn gần kề (Dieu est
si proche), dẫn dắt chúng ta đến những hiểu biết mới về Nước trời, về
những tương quan thân thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi mà chỉ Đấng phục sinh
mới mạc khải được. Bởi giống như hai môn đệ đi làng Emmau, chúng ta có
khuynh hướng rời bỏ Giêrusalem, trốn tránh các đau khổ, những cái giá
phải trả để làm môn đệ Chúa. Chúng ta ưa thích cuộc sống dễ dãi, với các
tiện nghi sang trọng. Nhưng Phúc âm Luca cho hay Chúa nhất quyết đi lên Giêrusalem với các môn đệ, chịu thương khó (9, 51). Ngài chai mặt trơ
như đá, chấp nhận các thử thách của cuộc đời sứ vụ. Ngài không trốn
tránh Giêrusalem. Ngược lại, dọc đường Ngài còn giải thích cho các ông
mình sẽ chịu nạn chịu chết trong thành ấy. Ngài kêu gọi các ông vác
thánh giá hằng ngày mà theo. Hai môn đệ trên đường Emmau đã chóng quên
sứ điệp này của Chúa và rời bỏ Giêrusalem u sầu. Chẳng hiểu mấy người
trong chúng ta còn ghi nhớ lời Ngài ? Sự đau khổ hai ông chứng kiến làm
mù loà đôi mắt họ. May thay việc chăm chú nghe người khách lạ đã làm họ
tỉnh dậy. Mắt họ được mở ra và họ nhìn thấy Chúa lúc bẻ bánh. Đúng như
thánh vịnh 16 hứa : “Chúa chẳng đành bỏ mặc
linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để vị thánh của Ngài phải hư
nát trong phần mộ.”
Chúng ta có rất nhiều phương
án áp dụng Tin Mừng hôm nay. Một trong các phương án đó là đừng khinh rẻ
một ai trên hành trình cuộc đời. Chúng ta thường ưa thích những khuôn
mặt thân quen, bởi nó làm chúng ta vững lòng trên các nẻo đường xa lạ.
Nhưng xin nhớ khách lạ có thể hữu ích cho chúng ta hơn. Tuy nhiều khi
cảm thấy dị biệt, không ưa, khó chịu, nhưng lại là những cơ hội Chúa
dùng để mạc khải về chính mình, về thế giới, về Thiên Chúa. Họ có thể là
những món quà quý báu Chúa ban để chúng ta khôn ngoan hơn, hiểu biết
hơn. Cho nên di dân, ngoại kiều, vô lại, bên lề phải được chúng ta trân
trọng đón nhận. Chúng ta chẳng bao giờ biết được sự giàu có, trí tuệ,
nhân cách, ân thiêng đến từ đâu ? Vậy xin học từ các bài đọc hôm nay,
hãy trở nên những linh hồn biết lắng nghe, và mọi sự sẽ xảy đến như Chúa
se định. Chúa Ki-tô xuất hiện, dạy dỗ và nuôi dưỡng chúng ta qua những
nẻo đường chúng ta chẳng hề biết.
Có thể, một lời nói, một câu
chuyện của người không quen khiến chúng ta suy nghĩ hằng tuần, hàng
tháng. Cho nên, đúng như thánh Luca gợi ý trong Tin Mừng hôm nay : Hãy
mở to đôi mắt, đôi tai trên mọi nẻo đường dương gian, bởi bạn chẳng thể
biết được khi nào, ở đâu bạn sẽ gặp Chúa phục sinh. Amen. Halleluia.
G. Nguyễn Cao Luật op
Con đường trở về
Lc 24,13-35
Từ Giêrusalem, hai người lnôn
đệ buồn bã trở về Em-mau. Trước đây, các ông đã rời bỏ ngôi làng để đi
theo Ðức Giêsu, vì các ông nghĩ rằng Ðức Giêsu là một vị ''ngôn sứ đầy
uy thế xét về việc làm cũng như lời nói'' và các ông hi vọng chính Người
là Ðấng sẽ giải thoát Ít-ra-en''. Thế nhưng, những sự kiện bi thảm diễn
ra ngày thứ Sáu vừa qua đã làm cho niềm hi vọng của họ bị lung lay, nếu
không nói là vỡ tan. Họ cảm thấy mình bị vỡ mộng, chẳng còn chút hi
vọng. Thế là họ lên đường trở về quê nhà. Chút hi vọng vừa bừng lên chỉ
còn là giấc mộng, giấc mộng thoáng qua.
Ðang khi các ông quanh quẩn với
những câu chuyện buồn thảm của quá khứ, đang khi các ông rời xa
Giêrusalem để trở về quê nhà, Ðức Giêsu đã đến bên cạnh và cùng đi
với các ông, nhưng họ không nhận ra Người. Các ông đã từng gặp Ðức
Giêsu, đã từng bi vọng Người sẽ mở ra một tương lai huy hoàng, nhưng họ
không thể nào hiểu nổi một vị cứu thế lại phải chịu khổ nạn. Các ông
không hể tin vào biến cố Phục Sinh, mặc dù các phụ nữ và một vài người
trong số các môn đệ đã kể cho các ông nghe về ngôi mộ trống. Nếu như các
ông chờ đợi Ðấng Phục Sinh, có lẽ các ông đã nhận ra Người ...
Tuy không nhận ra Ðức
Giêsu,
nhưng các ông vẫn sẵn sàng nói chuyện với người khách lạ. Người khách lạ
đã khôn khéo gợi lại câu chuyện và hai người môn đệ đã kể hết nỗi lòng
của mình. Các ông đã có những ước mơ, nhưng Thiên Chúa lại không đáp ứng
như các ông vẫn mong đợi. Ðúng ra không phải vì Thiên Chúa không đáp
ứng, nhưng thật ra, phải nói rằng những ước mơ đó quá nhỏ bé, quá tầm
thường. Thiên Chúa còn đi xa hơn, Người thực hiện những điểu kì diệu,
ngoài sức tưởng tượng của con người.
Thật vậy, các môn đệ nghĩ rằng
họ đã gặp được Ðấng Cứu Thế trước khi Người chịu đóng đinh, nhưng họ lại
tìm thấy Ðấng Cứu Thế đích thực đã chịu đóng đinh. Họ đã từng mong đợi
một Ðấng giải thoát dân Ít-ra-en, nhưng lại không chờ mong Ðấng cũng
giải thoát cả dân ngoại. Họ đã từng nghe Ðức Giêsu nói về cái chết và sự
phục sinh của Người, nhưng họ không thể nào chấp nhận điều khủng khiếp
ấy xảy đến cho vị Thầy của mình. Họ có thể tin rằng Ðức Giêsu là một vị
Thông Thái, một Ðấng Mê-si-a về phương diện chính trị, một vị cải cách
các tập tục... nhưng họ không thể nào tin nổi sự điên rồ của Thập giá.
Và vì thế, họ không nhận ra Ðức Giêsu đang đi bên cạnh họ.
Như thế, con đường từ
Giêrusalem về Em-mau là con đường của thất vọng, của buồn sầu. Ðó là
con đường rút lui sau khi đã hi vọng quá nhiều.
Vẫn là một con đường
Sau đó, Ðức Giêsu đã ngỏ lời,
không phải để thay đổi dự tính nhân loại của các môn đệ, nhưng là để đem
lại cho niềm hi vọng đó một ý nghĩa đích thực. Người lần lượt giải thích
cho các ông về Kinh Thánh, qua đó các ông hiểu được kế hoạch của Thiên
Chúa cũng như sứ mạng của Ðức Kitô. Ðức Giêsu đã bắt đầu bằng cuộc sống
của hai môn đệ, bằng kinh nghiệm sống của họ, và Người đã đặt để cuộc
sống đó vào trong chương trình lớn lao của Thiên Chúa, được diễn tả qua
Kinh Thánh. Niềm hi vọng của họ được Ðức Giêsu diễn tả qua ngôn ngữ Kinh
Thánh, và con tim của họ bừng nóng khi nghe Ðức Giêsu giải thích, vì họ
thấy dự tính của mình được lồng vào một chương trình sinh động trải dài
trong suốt lịch trình Kinh Thánh và dẫn đến Ðức Kitô (x Linh Tiến Khải,
Chúa Kitô đã sống lại, trang 13).
Qua cách giải thích của Ðức
Giêsu, các môn đệ - cũng như mọi tín hữu sau này - hiểu rằng Ðức Kitô
là trọng tâm của lịch sử, một Ðức Kitô chịu đóng đinh thập giá. Chỉ dưới
cái nhìn ấy mới hiểu được ý nghĩa đích xác của Kinh Thánh. Bất cứ lối
giải thích nào chỉ căn cứ vào nghĩa chữ bên ngoài, sẽ không thể nào hiểu
được mầu nhiệm sâu xa cũng như tinh thần đậm đà nhất của Kinh Thánh.
Ðến đây, hai môn đệ vẫn chưa
hoàn toàn nhận ra Ðức Giêsu. Các ông chỉ lờ mờ hiểu ra rằng người khách
lạ đã xoá tan những nghi ngại, giải thoát các ông khỏi nỗi buồn sầu đang
đè nặng tâm trí. Chỉ mãi đến khi Ðức Giêsu bẻ bánh, các ông mới nhận ra
người khách lạ chính là Ðức Giêsu.
Thật vậy, hình ảnh Ðức
Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các ông gợi cho các ông
nhớ lại bữa ăn cuối cùng của các ông với vị Thầy khả kính. Các ông đón
nhận bánh và mắt các ông cũng bừng sáng. Cả một loạt hình ảnh quá khứ ùa
về, các ông nhận ra Ðức Giê -su và tin vào mầu nhiệm Phục Sinh.
Thế là các ông vội vã quay trở lại Giêrusalem, lòng đầy hân hoan và
tin tưởng, khác hẳn với tâm trạng lúc ra đi. Ánh sáng phục sinh đã thấm
nhập, đã làm thay đồi hoàn toàn : từ những người buồn sầu thất vọng, các
ông đã trở thành những người hăng hái nhiệt thành, đang là nhứng người
chán nản, rút lui khỏi Giêrusalem, các ông lại mau mắn quay trở lại
đó, để báo tin cho các môn đệ khác ...
Con dường của chúng ta
Con đường trở về Em-mau của hai
người môn đệ cũng chính là con đường của các Kitô hữu.
Một ngày nào đó, chúng ta lại
không nhận thấy mình đang đi trên đường với những vấn đề về Ðức
Giêsu,
về những hi vọng của chúng ta cũng như về Giáo Hội ? Ngày nay, đôi lúc
chúng ta cảm thấy mình bị giao động khi thấy thế giới loại bỏ dần ý
nghĩa về Thiên Chúa, khi đa số người Kitô hữu không còn tin vào các cử
hành phụng vụ, không còn muốn lãnh nhận bí tích, và quay sang thần phục
những ngẫu tượng mới. Nếu như quyền năng Thiên Chúa chịu lép vế dưới áp
lực của tiền bạc, của khoa học kĩ thuật, thì tất cả nhứng gì chúng ta
nghe kể lại về Ðức Giêsu Na-da-rét, về sức mạnh đem lại ơn giải thoát và
sự phục sinh của Người, tất cả nào có ý nghĩa gì ?
Ðường Em-mau của chúng ta xem ra
cũng dài lê thê, cũng quanh co. Nhưng đó là con đường cần phải đi qua,
đi từ thất vọng đến đức tin, đi với nhịp độ chậm rãi, đi trong bóng
chiều khi màn đêm sắp phủ xuống. Chính trên những con đường như thế mà
chúng ta gặp lại Người khách lạ. Người sẽ đến bên chúng ta, hỏi han,
khơi lại niềm hi vọng. Người có rất nhiều điều để nói với chúng ta về
thân phận của chúng ta cũng như của Người. Người sẽ nhắc lại với chúng
ta rằng: phải đi qua thập giá mới có thể đạt tới vinh quang. Và Người
cũng sẽ cùng bẻ bánh cho chúng ta, giúp chúng ta nhận ra ý nghĩa của lời
Kinh Thánh cũng như hiểu được trọng tâm của tất cả mọi niềm hi vọng.
Như thế, đau khổ và thất vọng sẽ
là cơ hội giúp chúng ta khám phá ra rằng tình yêu có thể vượt thắng.
Tình trạng rối loạn sẽ là môi
trường để chúng ta có thể nhận được những lời giải thích đầy sức nóng
của Người. Và khi đó chúng ta hiểu rằng giao ước không phải chỉ được kí
kết một lần, trái lại đó là một giao ước mới, một giao ước không ngừng
được lập lại. Tuy vậy, có một điều kiện : không nên muốn nắm giứ Ðức
Kitô. Tâm tình được gợi lên trong chúng ta là để yêu mến, cũng như đức
tin được trao ban cho ta là để tiến bước. Chính vì thế, Ðức Giêsu đã
biến mất. Ðức Giêsu không muốn ta ngồi lại để chiêm ngắm Người, trái lại
Người mời chúng ta trở thành những người loan báo về Ðấng Phục Sinh :
Chúa là Ðấng Hằng Sống, vượt trên cả sự chết.
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra
(Ga 20,19-31)
Khi Chúa Giêsu Phục Sinh, Ngài
đã hiện ra nhiều lần, một trong những lần đó là Chúa đã hiện ra với các
môn đệ đang tụ họp nhau trong phòng tiệc ly, cửa đóng kín, vào buổi
chiều ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Chúa cho họ xem các thương tích ở tay và
cạnh sườn Ngài, để chứng thực Ngài đã sống lại, nhưng hôm ấy không có
mặt ông Tô-ma. Vì thế, khi nghe các bạn kể lại, ông nhất định không tin
và cho rằng chính khi mắt ông nhìn thấy và tay ông kiểm chứng ông mới
tin. Tám ngày sau, tức là vào Chúa Nhật một tuần sau đó, như bài Tin
Mừng hôm nay thuật lại, Chúa Giêsu hiện đến lần nữa và gọi ông Tô-ma ra
kiểm chứng tay và cạnh sườn Ngài, lúc ấy ông Tô-ma mới tin. Nhân dịp này
Chúa bảo cho các môn đệ biết : “Phúc thay những người không thấy mà
tin”.
Chúng ta thấy, ông Tô-ma là
người có óc thực tế, có vẻ chậm hiểu và chậm tin hơn các môn đệ khác.
Điều đó cũng bình thường thôi, ông có đủ lý do chính đáng để nghi ngờ
như vậy, vì ông chưa được thấy Chúa như các môn đệ khác. Và sự kiện ông
đòi chính mình phải kiểm chứng mới tin, lại có lợi cho chúng ta, vì là
dịp Chúa Giêsu liên tưởng đến đông đảo những Kitô hữu, từ đó cho đến
ngày cánh chung sẽ tin vào Ngài. Chúa chúc phúc cho họ, vì họ là những
người, dù không thấy tận mắt biến cố Phục Sinh, nhưng vẫn tin vào Ngài,
tin Ngài là con Thiên Chúa, đã làm người, chịu chết và sống lại để cứu
chuộc họ. Chúa chúc phúc cho họ, vì họ không được cái cơ may trực tiếp
đối diện sống chung với Chúa Giêsu Na-da-rét và Đức Kitô Phục Sinh như
các môn đệ, mà họ phải qua những quá trình tìm kiếm đức tin bằng nhiều
ngả khác nhau. Nói khác đi, từ sau thánh Tô-ma sấp lên, việc sờ mó vào
thân xác Chúa như Tô-ma sẽ không bao giờ được nữa. Từ đó người ta tin
vào Chúa qua thế giá của Kinh Thánh, của Giáo Hội, của các bậc tiền
nhân. Cũng như chúng ta biết một sự kiện lịch sử hay một nhân vật lịch
sử nào đó, là do sách vở ghi chép lại hay do cha ông kể lại. Thì cũng
vậy, từ đây việc Chúa Phục Sinh được Kinh Thánh ghi lại, và nhờ vào thế
giá của bao nhiêu thánh nhân, của chính Giáo Hội hiện hữu, ai tin qua đó
là diễm phúc.
Quả thực, tin là biết một cách
gián tiếp, điều gì chính chúng ta đã thấy, đã chứng kiến thì chúng ta
biết, không cần phải tin. Tin là chấp nhận điều chính mình không thấy,
nhưng dựa vào lời chứng của một người khác đáng tín nhiệm. Trong đức
tin, chúng ta chấp nhận có Thiên Chúa và chấp nhận các chân lý của Ngài,
mặc dầu chúng ta không thấy Ngài và không thấu hiểu các chân lý đó.
Chúng ta chấp nhận vì tin nhiệm vào Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa,
và vào Giáo Hội, là trung gian truyền giảng Tin Mừng của Chúa
Giêsu.
Tuy nhiên, chúng ta không thể hiểu thấu những điều chúng ta tin, không
phải vì chúng phi lý, nhưng chỉ vì lý trí chúng ta có giới hạn. Thiên
Chúa là Đấng tuyệt đối và vô biên, lý trí của chung ta trong giới hạn
chật hẹp của nó, làm sao có thể hiểu thấu về Ngài. Vì chúng ta không thể
hiểu thấu về Thiên Chúa và các chân lý của Ngài, nên chúng ta không thể
chứng minh một cách hiển nhiên và đầy đủ được. Tôn giáo và khoa học khác
nhau ở chỗ đó. Các định luật khoa học có thể kiểm chứng được bằng thí
nghiệm. Trái lại, các chân lý tôn giáo vượt lên trên tầm hiểu biết của
giác quan và lý trí, nên không thể chứng minh nguyên bằng lý luận. Các
bằng chứng đưa ra chỉ giúp dễ hiểu hơn phần nào, chứ không thể thay thế
được cảm nghiệm trong tâm hồn và sự tự do chọn lựa của mỗi người. Do đó,
muốn hiểu được khoa học chỉ cần thông minh, còn muốn tin, thì phải có
lòng thành và ơn Chúa.
Đã nói đến vấn đề tin, thì bao
giờ cũng là chấp nhận một cái gì đó không đủ hiển nhiên, không thể kiểm
chứng được, giống như hai người nam nữ hứa trọn đời yêu nhau, họ buộc
phải tin nhau điều đó, không có gì đảm bào là anh sẽ trung thành với em
trọn đời, nhưng em đã tin, và có thế mới là tình yêu. Thật ra, hai người
hứa yêu nhau, cũng phải chắc chắn một cách nào đó, là người kia sẽ trung
thành chung thủy với mình. Nhưng cái chắc chắn đó là cái chắc chắn của
niềm tin, nó không phải là chắc chắn của khoa học. Vậy chúng ta phải
nhìn nhận : có một sự chắc chắn khác với sự chắc chắn của khoa học, một
thứ chắc chắn bấp bênh vì dựa trên những ngôi vị ý thức và tự do. Đó là
thứ chắc chắn của lòng tin của chúng ta đới với Thiên Chúa, và các chân
lý, các mầu nhiệm trong đạo.
Sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh là
một trong các chân lý đó. Phục Sinh là một mầu nhiệm. Hơn nữa Chúa Giêsu
Phục Sinh là một mầu nhiệm tuyệt vời mà khoa học không tài nào kiểm
chứng được, như người ta kiểm chứng một cuộc chiến thắng hay một biến cố
lịch sử nào khác. Sự kiện Phục Sinh không diễn ra theo định luật tự
nhiên, nên chỉ những người tin hữu Chúa
Giêsu, tức là người được hưởng
nhờ hồng ân đặc biệt của đức tin Kitô giáo, mới nhận ra được mà thôi. Vì
thế, tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, thì chúng ta hãy sống an vui, ngược
lại đừng sống như Chúa đang chết hay là chúng ta đang chết. Nhưng nhớ
rằng Chúa Phục Sinh đang sống và sống cạnh chúng ta, sẵn sàng giúp chúng
ta trên mọi cảnh ngộ. Tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh nên ta có hy vọng và
trách nhiệm : hy vọng vì chúng ta cũng sẽ được phục sinh như Chúa. Trách
nhiệm của chúng ta là tiếp tục loan truyền sự phục sinh cho mọi người.
Chúng ta phải có Chúa Phục Sinh trong lòng để đi loan truyền cho tới khi
Chúa lại đến.
Tóm lại, Chúa Giêsu đã chấp nhận
cái chết, để sống lại vinh quang và truyền sức sống cho Giáo Hội. Giáo
Hội là tập hợp mọi kẻ tin, thuộc mọi nòi giống, dân tộc, mầu da, tiếng
nói … cũng đã sống kết hợp mật thiết và nối tiếp mầu nhiệm khổ nạn và
Phục Sinh của Chúa Kitô. Xin Chúa cho mọi người và mỗi ngưởi chúng ta ý
thức rõ rệt để cùng chấp nhận thân phận con người gặp nhiều khổ đau và
mong manh, nhưng luôn hăng say làm việc và tin tưởng vào Chúa Kitô Phục
Sinh.
Lm Thomas Trần Ngọc Túy, OP
Tổng hợp từ: Flor McCarthy – Sicilianô, OP
Chúa Kitô Thánh Thể và
hành trình Emmaus của chúng ta
Lc:24,13-35.
Thưa quí vị.
Mỗi con ngừơi đều có một câu
truyện đời mình để mà kể. Nhưng kể được rành rẽ, chúng ta phải làm chủ
về mọi mặt: sáng tối, vui buồn, tốt xấu, ngọt ngào, đắng cay. Tuy nhiên
về mặt tích cực dễ kể hơn, còn mặt tiêu cực thật khó nói, trừ phi có
những người biết lắng nghe và thông cảm. Nhiều trường hợp quá đau xót
khiến đương sự phát triển bệnh tâm lý. Những ai giầu kinh nghiệm về cuộc
sống biết rõ điều này. Câu truyện sau đây có thể minh họa chút ít.
Một người đàn ông trung niên
phỏng 35 tuổi, ăn vận lịch sự, tay sách một chiếc vali còn tương đối mới,
bước vào một khách sạn ở Luân Đôn. Ông hỏi thuê một căn phòng nhỏ, nói
là trú ngụ vài ngày. Cô tiếp viên hỏi tên tuổi để ghi vào sổ. Lạ lùng
người đàn ông đỏ mặt bối rối. Cô thơ ký ngạc nhiên hỏi lại: “Xin cho cháu
biết quí danh?” Người khách ngơ ngác: “Cô thông cảm, tôi không nhớ rõ ?”
Cô gái trẻ càng sửng sốt hơn: “Vậy làm sao cháu ghi số phòng cho ông ?”
Người đàn ông ấp úng: “Cô làm ơn thông cảm, ghi là Jeanne Brown đựơc
không ?”. “Nhưng thưa ông, đó là tên phụ nữ”. Rồi cô gái giúp đỡ người
khách lục lọi các túi áo, mở cả vali nữa, nhưng chẳng tìm thấy chi hết.
Ông ta không nhớ tên mình là gì, từ thành phố nào tới, quá khứ của ông
hòan tòan bị xóa bỏ. Ông đang mặc bệnh mất trí nhớ (amnesia).
Người ta đưa người khách lạ vào
nhà thương. Một bác sĩ tâm lý cố gắng chữa trị cho ông. Sau những tuần
lễ kiên nhẫn và với kỹ thuật tinh tế, người bác sĩ đã thành công mở lại
quá khứ cho người đàn ông. Ông là một đứa trẻ mồ côi, được một gia đình
tốt bụng đưa về nuôi. Lớn lên ông kết hôn với một thiếu nữ xinh đẹp, con
nhà thượng lưu giầu có. Cô ta chẳng cần đến đồng lương còm cõi của người
chồng làm nghề ống nước. Dân hàng xóm láng giềng giầu có khinh thường vợ
chồng ông. Dần dà người vợ cũng chán anh chồng thuộc tầng lớp hạ lưu.
Ông ta phát triển căn bệnh tự ti mặc cảm, cố quên đi những bất hạnh của
mình. Cuối cùng hai vợ chồng lâm vào khủng hỏang. Cô ta có nhân tình
mới, và người đàn ông cũng kiếm được nhân ngãi trẻ đẹp hơn, tuy thuộc
tầng lớp tiện dân. Vừa khi hai vợ chồng bàn tính ly dị thì người vợ ngã
bệnh nặng. Người chồng âu lo, cố quên đi tất cả. Đó là con đường duy
nhất ông ta có thể làm để đối phó với hòan cảnh. Hậu quả bi thảm là ông
mất trí nhớ.
Câu truyện điển hình này là của
mỗi người chúng ta. Có những linh hồn chịu đựng quá nhiều buồn đau hoặc
lo lắng và cảm thấy hòan tòan bị bỏ rơi, thất vọng nếu không có người
khác biết tới. Nghe chuyện của chúng ta là nghe cuộc đời chúng ta đã
trải qua. Từ chối nghe là từ chối chính chúng ta. Lắng nghe là người ta
đã chia sớt nỗi khổ tâm của kẻ khác và chữa lành về phần tâm lý. Mỗi
người đều có một câu truyện để nói, nếu không gặp tri âm thì kể như
chúng ta đã chôn quá khứ vào nấm mồ.
Hai môn đệ đi làng Emmaus của
Phúc âm hôm nay cũng rơi vào trường hợp này. Họ đang bị dầy vò vì cuộc
vỡ mộng quá lớn. Biến cố thày chết làm cho họ hòan tòan thất vọng. Chính
miệng họ đã thố lộ điều đó:
“Chúng tôi đã những hy vọng, người sẽ cứu vớt
Israel”. Hy vọng của họ là dân tộc được giải phóng, tôn giáo được tự do
và bản thân được vinh hoa phú quí với địa vị cao. Nhưng lúc này thì tan
nát tất cả. Thày đã chết và mọi hy vọng được chôn chặt trong mồ cùng với
thày. Chẳng còn chi để mà tin tưởng. Vỡ mộng và hổ thẹn đầy ắp với tâm
trí họ, họ thầm thì to nhỏ về biến cố trên đường trở về làng cũ Emmaus,
bây giờ là El Qubeiba, chừng 10 cây số đông bắc Giêrusalem.
Đúng là Phúc âm có câu truyện để
kể, hai môn đệ vỡ mộng có câu chuyện để nói và câu truyện làm cho họ rối
lòng. Một khách lạ tế nhị áp sát họ lắng nghe. Tâm lý thường tình cho
hay dốc bầu tâm sự cho người lạ dễ dàng biết bao! Bạn chẳng cần ý tứ, dè
dặt. Kiểu như người ta đi xa về tha hồ mà khoác lác, chẳng ai có khả
năng kiểm chứng thật hay bịa. Phần người lạ cũng rất tế nhị, ông lắng
nghe, đi sâu vào chi tiết câu truyện và giải thích ý nghĩa Kinh thánh
cho họ. Ông tạo cho họ bầu khí thuận lợi để họ bộc bạch tâm can, những
đau buồn, những thất vọng.
Rồi người khách lạ làm chi ? Ông
cũng kể câu truyện đời ông cho họ nghe. Đời của ông chứ không phải của
người khác. Đối với hai môn đệ thập tự là một thất bại hòan tòan, một
cản trở không thể vượt qua. Nhưng đối khách lạ không nhất thiết phải như
vậy, rồi ông giải thích cho họ, bắt đầu từ Môsê và các ngôn sứ, những
nội dung mà họ đã từng học tập, nhưng không hiểu: “Nào Đấng Kitô lại
chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào vinh quang của Người
sao ?”. Vị khách lạ chỉ dẫn cho họ hay khổ giá không hẳn là kết thúc của
một giấc mơ, nhưng là khởi điểm của một thực tại mới. Ông giúp đỡ hai
môn đệ tìm ra ý nghĩa trong câu truyện của họ bằng cách cho họ biết ý
nghĩa câu truyện của riêng ông. Nhờ đó họ có khả năng xem lại sự thật mà
họ vừa trải qua ở Giêrusalem. Phúc âm kể : “Họ bảo nhau: Dọc đường khi
Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã
chẳng bừng cháy lên sao?”. Lòng họ sốt sắng vì đó là câu truyện của
chính họ chứ không phải của người khác.
Sở dĩ người đàn ông mất trí nhớ
có thể trở lại trạng thái bình thường là vì vị bác sĩ lắng nghe câu
truyện của ông ta. Những rắc rối, những tối tăm, đau khổ của ông ta được
tự do giãi bày. Nhờ đó cơn bệnh biến mất. Bệnh tật thiêng liêng của
chúng ta cũng được chữa trị tương tự. Xin đừng kiêu căng cho mình chẳng
hề mắc bệnh. Thực tế, chúng ta nhiều bệnh lắm, và còn nặng hơn ông khách
thuê khách sạn: Bệnh điếc, bệnh mù, bệnh giả hình, thôi thì đủ cả, thậm
chí cả những bệnh đưa đến cái chết. Vậy mà vẫn cứ nhởn nhơ coi mình là
thánh thiện, lại còn sẵn sàng lên lớp cho thêin hạ. Mỗi người có một câu
truyện cần phải được bộc bạch. Nếu như không gặp khách lạ thì chẳng bao
giờ nói ra. Nếu khiêm tốn nhận ra vấn đề của mình, thì chẳng bao giờ còn
tâm lý tự cao tự đại, ăn vận diêm dúa, trang hòang lãng phí để đánh bóng
danh tiếng mình, tổ chức mình. Chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận phần tối
tăm của linh hồn mình mà nhận ra thiếu thốn ơn Chúa soi sáng. Thực ra,
xét cho cùng, thì chỉ câu truyện của Đức Kitô qua khổ nạn và cái chết
rồi mới được vinh quang, chúng ta mới hiểu ra ý nghĩa trọn vẹn của cuộc
sống mình. Mọi sự khác đều không thỏa đáng. Hai môn đệ chỉ nhận Chúa
Phục sinh khi dùng bữa tối với Ngài. Lý do nằm ở chỗ, theo tục lệ Do
thái, giai đọan cúôi cùng của tế lễ hy sinh là một bữa tiệc thánh thiện.
Sách Lêvi ký thuật lại rất nhiều lần kết thúc của các hy lễ là chia sẻ
bữa ăn với Đức Chúa tại bàn tiệc hy tếtsúc vật mà thày tư tế vừa thực
hiện. Chắc chắn những tín hữu đầu tiên (đa số là Do thái) nghỉ rằng họ
sẽ mất gốc nế không biết liên hệ với truyền thống này. Vì thế lễ bẻ bánh
của họ là sau bữa ăn để tưởng niệm Đức Kitô. Truy6èn thống này còn mãi
đến ngày hôm nay. Những ai không nhận ra ý nghĩa của nó, thì quả thật
không phải là tín hữu chân chính.
Khi Chúa vào dùng bữa với họ và
Ngài vừa cầm bánh bẻ thì họ nhận ra Ngài. Chúng ta cũng chỉ nhận được ân
huệ ấy sau khi đã đồng lao cộng khổ với Chúa. Đức Phaolô VI
đã mô tả thánh lễ bằng ba chữ: “Một hy lễ, một tưởng niệm và một bữa
tiệc” là ở trong ý nghĩa ấy. Đức tin chúng ta sẽ không nhận ra Chúa
trong thánh lễ nếu trước hết không suy niệm về khổ nạn, cái chết và phục
sinh của Ngài. Đây là tư tưởng của thánh Augustinô và nhiều vị khác
trong Gíao Hội. Làm ngược là chúng ta thất bại không nhận ra Chúa.
Nhiều người nói rằng việc sống
lại của Chúa, chỉ là suy nghĩ viển vông của các tín hữu. Họ không muốn
chấp nhận thày mình đã chết, sự nghiệp đã tiêu tan. Họ ước ao mãnh liệt
Ngài vẫn sống với họ, cho nên tạo ra những ảo ảnh rằng Ngài hiện ra đó
đây nhiều lần. Họ “trông” thấy ngài đúng như lòng mong ước và đặt tên là
Đức Kitô Phục sinh. Kỳ thật chẳng có chi là thực tế cả. Dân chúng chẳng
bao giờ được chứng kiến “nội dung” họ từng kể lại. Đúng là đám môn đệ đã
ở tận cùng hất vọng. Câu chuyện của các ông tỏ lộ một sự mất mát tòan
diện và các ông đang làm chuyện mà ngày nay các người thất bại thường
làm: Co cụm lại để băng bó vết thương, trở về công việc cũ, xây dựng lại
tương lai. Một vài người trong bọn trở lại nấm mồ, như người ta thường
làm, thăm viếng chỗ chôn cất và đau đớn khóc than. Có vậy thôi.
Hai môn đệ đi làng Emmaus nói là
gặp khách lạ thì chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng quá mạnh mẽ và ký ức
còn quá sống động. Họ kể lại cho ông khách “ảo” điều mà các phụ nữ đồn
thổi về thày đã trỗi dậy, thì chính họ cũng không tin. Đúng là câu
truyện hoang đường mà ngày nay vẫn thừơng nghe thấy. Về phần Giáo hội
tiên khởi cũng cùng một ruộc âm mưu lừa dối thiên hạ. Nhưng làm sao lừa
được cả thiên hạ, cấp lãnh đạo Do thái, cho tới nay, có tin đâu? Xét
trong tư tưởng của hai ông, thì họ đã kết thúc một quãng đời mộng mơ và
trở về cuộc sống đời thường.
“Chúng tôi những tưởng người sẽ
cứu Israel”. Câu nói rất phổ thông giữa chúng ta ngày nay: Chúng tôi
những tưởng công trình này rất thành công. Những tưởng cuộc hôn nhân này
hạnh phúc, con cái rất ngoan ngõan, dịch vụ này mang lại nhiều lợi ích,
viên thuốc này rất hiệu nghiệm, ông nọ ba kia rất tốt bụng….ai dè! Hy
vọng và mơ ước của chúng ta thường gặp thất bại. Thất bại này kế tiếp
thất bại khác, khiến chúng ta nhát đảm, rụt rè, chột dạ, nghi nan không
tin tưởng vào mình nữa, nản chí trong bất cứ công việc nào, kể cả đàng
thiêng liêng. Nhưng có một thực tại không thể chối cãi được, là hai môn
đệ ngay đêm hôm ấy trở về Giêrussalem để gặp các tông đồ, thuật lại cho
họ ngay kinh nghiệm xem thấy thày của mình. Các ông cũng ngỡ ngàng nghe
kể lại cùng một câu truyện: Họ cũng nói với hai ông:
“Chúa trỗi dậy thật
rồi và đã hiện ra với Simon”. Simon là tên cũ của Phêrô, đứng làm biểu
tưởng cho đạo cũ. Tức Kinh Thánh đã được ứng nghiệm mà Kinh thánh thì
không thể sai lầm. Cho nên lương tri ngay chính buộc phải công nhận sự
Phục sinh của Chúa là chân lý. Và khi nhận lãnh chân lý thì không thể
giấu kín. Cleopha và bạn đồng hành trở về Giêrusalem báo tin cho các
tông đồ và những môn đệ khác đang tụ họp.
Câu truyện Emmaus là câu truyện
của mỗi tín hữu. Nó thường xẩy ra với chúng ta mỗi khi rước lễ. Nếu thực
sự chúng ta gặp gỡ Chúa trong thánh thể, chúng ta chẳng thể giữ Tin Mừng
ấy cho riêng mình. Nó phải được loan ra bằng hành động, lời nói, trừ phi
chẳng gặp Ngài mà chỉ giả đò gặp mà thôi. Cùng với Giáo Hội, chúng ta
làm những cuộc hành trình giữa trần gian, cuộc hành trình súôt cả cuộc
đời. Chúa Giêsu luôn đi sát bên mỗi người, giải thích, hướng dẫn mỗi
linh hồn về quê Trời ngay cả khi không nhận ra Ngài. Chúng ta là thành
phần của Dân Thiên Chúa, cần sống xứng đáng với những chi mình tin tưởng.
Vì mỗi người đều phải kể lại câu chuyện đời mình. Câu chuyện đó có ý
nghĩa hay không tùy thuộc vào thái độ sống của chúng ta. Amen, Alleluia.
Giuse Vũ Hải Bằng op
Chúa
vẫn đồng hành bên cạnh đời ta
Lc 24, 13-35
“Đang lúc họ trò chuyện và bàn
tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ.”
Bài Tin mừng hôm nay hé mở cho
chúng ta thấy một khía cạnh rất tâm lý của Chúa Giêsu. Trên đường Emmau,
hai môn đệ chán nản bước đi, lòng trĩu nặng ưu tư và thất vọng vì bao
nhiêu dự định, hoài bão về một tương lai tươi sáng khi theo làm môn đệ
Chúa, bỗng nhiên sụp đổ, khiến các ông mất phương hướng, buông xuôi tất
cả, để rồi lại ê chề nặng nhọc trên con đường trở về với cuộc sống đời
thường, trở về với công việc mà các ông đã làm trước khi theo Chúa.
Tác giả Luca đã có dụng ý rõ khi
chỉ nêu tên một môn đệ là Clê-ô-pat, người còn lại là mỗi người chúng ta
khi sống tin mừng trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay.
Chúa không hiện ra và cho các
môn đệ nhận ra Người liền. Người muốn các ông đi dần từ sự tối tăm đến
niềm vui cảm nghiệm nhận ra Chúa đang đồng hành với mình. Chúa cũng
không đề nghị ở lại với các ông. Với tính cách người Châu Á (Tây Á),
Chúa cũng “giả bộ” như muốn đi tiếp để các ông phải lên tiếng mời Người
ở lại dùng bữa chung. Tính cách này rất gần gũi với người Việt nam chúng
ta. Nhiều lúc, cha mẹ hay các bậc hướng dẫn đường tâm linh muốn chúng ta
sống tốt hơn, tích cực hơn … nhưng các Vị không trực tiếp cầm tay chỉ
việc, hay ép chúng ta phải sống thế này, hành xử như thế nọ… Các vị chỉ
gợi ý xa xa, hay “giả bộ” không quan tâm, không tỏ thái độ lên lớp … để
chúng ta tự nhận ra nhu cầu của mình, và tự nói lên ước muốn được thọ
giáo, được có tương giao thân tình trong quan hệ “cha- con”, “thầy-trò”,
“bạn hữu”…
Chúa tỏ ý muốn đi xa hơn, nhưng
khi được mời thì Chúa nhận lời. Lúc ngồi vào bàn ăn, Chúa cầm lấy bánh
tạ ơn rồi bẻ ra trao cho các ông. Ngay lúc đó, như mắt các ông được mở
ra để nhận biết Người thì Người liền biến mất. Những giờ phút trò chuyện
thân mật với Chúa đã khiến lòng các môn đệ vốn lạnh như đồng, trở nên
nóng như lửa, đang đau buồn thất vọng trở nên vui vẻ và đầy hi vọng.
Những điều này cho thấy, trong
cuộc sống chúng ta, Chúa vẫn đang đồng hành, nhưng chúng ta có nhận ra
Người và có chủ động mời Người ở lại với chúng ta không ? Chúng ta phải
tha thiết mời Chúa ở lại và ở trong chúng ta luôn mãi. Chúa chỉ mong có
thế, nhưng với điều kiện là chúng ta phải mời. Người không bao giờ phá
cửa mà vào. Chúa sẵn sàng đến với chúng ta trong giờ phút hoang mang,
dao động để thăm viếng và ủi an chúng ta. Hãy cố dành nhiều thời giờ tâm
giao với Người thì bao nhiêu khó khăn của chúng ta sẽ được giải quyết
hết.
Sau khi sống lại, thân thể của
Chúa có phần thay đổi, hoặc Chúa chưa muốn các môn đệ biết Người trong
lúc đó nên làm cho mắt các ông bị che khuất. Chúa đến gần gợi chuyện để
các ông tâm sự cùng Người, mặc dầu Người đã biết hết rồi . Người muốn
nghe các ông nói. Đang bực bội, các ông tưởng ai cũng biết như mình, nên
trong câu trả lời có ý trách người đồng hành rằng những biến cố trọng
đại như vậy mà không biết.
Chúa nói : "Anh em thật dại dột,
chậm tin lời tiên tri trong Thánh Kinh. Các tiên tri chẳng nói Chúa Cứu
Thế phải chịu khổ hình, rồi mới đến ngày quang vinh sao ?" Rồi Người lần
lượt giải nghĩa cả Kinh Thánh nói về Người. Dại đột vì chậm hiểu và hiểu
sai những điều Kinh thánh nói. Vì chậm tin, chậm hiểu và hiểu sai nên
lòng các môn đệ bối rối thất vọng. Ngày nay cũng thế, cũng vì ngu dại,
chậm tin và chậm hiểu Kinh Thánh mà chúng ta thường bối rối, vấp ngã khi
có những bất trắc xảy ra cho mình.
Không có câu chuyện nào cảm kích
hơn câu chuyện “trên đường Emmau” có thể cho ta thấy thực sự Chúa phục
sinh luôn đi bên cạnh trong cuộc lữ hành trần gian. Điều đáng buồn là vì
thiếu lòng tin nên mắt chúng ta thường bị mờ không nhận biết sự hiện
diện của Người. Chúng ta bước đi rầu rĩ, trong khi đáng lẽ ra phải hớn
hở vì được đồng hành với Người. Tin và theo Chúa là phải biết đón nhận
khổ giá trong cuộc sống. Theo Chúa, phải biết từ bỏ mình, phải hi sinh
và đi con đường Chúa đã đi. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ không hề vấp ngã.
Biết như vậy là biết một nguyên tắc bất di bất dịch: đau đớn phải đi
trước vinh hiển mới theo sau, phải đổ mồ hôi và máu trên thao trường mới
giành được vòng nguyệt quế chiến thắng.
Lạy Chúa Giêsu Thánh thể, trong
cuộc sống nhiều khó khăn thử thách, Xin cho chúng con biết xác tín “Chúa
vẫn luôn đồng hành bên cạnh cuộc đời chúng con”; Xin cho chúng con luôn
biết sống trong ánh sáng Phục Sinh của Chúa, không bao giờ xa Chúa, luôn
duy trì mối giao hảo hạnh phúc với Chúa; Xin dạy chúng con biết cách “đi
đường” cùng với Chúa trong cuộc sống hành ngày, biết nhận ra tiếng nói
của Chúa qua những người chúng con gặp gỡ, để khi Ngài đến, chúng con
luôn được đầy lòng tin tưởng, không phải hổ thẹn và bị quở trách : "Ôi
những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin..”, để cuộc đời chúng con luôn tràn
ngập tiếng ca Halleluia : "Chúa sống lại thật rồi”. Amen. Halleluia.
Ts. Sylvester Nguyễn Ngọc Minh, O.P.
Bản
trường ca ngắn ngủi
Lc 24, 13-35
Thông thường, chúng ta vẫn nghĩ: đã là
trường ca thì phải dài, phải có nhiều chương hồi được đan kết nhau bởi
nhiều hình ảnh, tiết tấu, thanh âm… hùng tráng hầu có thể chuyển tải hết
những ý tưởng, nội dung mà tác giả muốn gởi gắm. Nội dung của một trường
ca có thể kể về câu chuyện của một nhân vật phi thường, hay hình ảnh của
một con người kỳ vĩ, với những phẩm cách trổi vượt xứng đáng làm khuôn
mẫu cho đời. Thế nhưng, thực tế cuộc sống vẫn có những hình ảnh về lối
sống rất cụ thể, đơn sơ của những con người rất bình dị, đời thường
nhưng lại chuyển tải những nội dung, tư tưởng nhân văn phong phú, sâu xa
và có thể hình thành nên những bản trường ca bất hủ cho muôn ngàn thế hệ.
Thực vậy, làm thế nào chúng ta có thể
diễn tả, truyền tải hết những nội dung, những cảm xúc về hình ảnh của
một người mẹ ôm đứa con đang bệnh nặng trên tay, gào thét xin mọi người
mở đường để đưa con đến bệnh viện, trong không gian của một cuộc ùng tắc
giao thông, và trên đầu mưa như trút nước? Hay hình ảnh của một người
cha với mái tóc điểm bạc, quần quật, miệt mài trên những cánh đồng dù
mưa hay nắng để tìm phương cách mưu sinh cho gia đình, cho những đứa
con. Và cũng có khi, chỉ là hình ảnh đơn sơ của một nữ tu cuối xuống,
nâng niu, ủi an một thân thể còm cõi, với rất nhiều vết thương của một
bệnh nhân cũng có thể đọng lại trong chúng ta những ý nghĩa nhân sinh
cao quí… Và còn nhiều nữa hình ảnh về những con người thầm lặng hy sinh,
trao tặng đời mình để cưu mang bao nỗi niềm cuộc đời… cũng có thể trở
thành những giá trị đáng lưu truyền, những bản trường ca vắn gọn nhưng
bất hữu. Dẫu chưa có nhân chứng, chưa có bút mực nào chuyển tải. Thế
nhưng, những hy sinh ấy, những sẻ chia vẫn có thể làm nên những giá trị
vang vọng mãi trong lòng cuộc đời như những bản trường ca. Chỉ cần chúng
ta chú ý một chút thôi, định tâm một chút thôi là sẽ nhận ra ngay đấy mà
! Đức Kitô trong bài Tin mừng theo thánh Luca 24, 13-35 cũng đã cho
chúng ta một bản trường ca như thế.
Bài Tin mừng hôm nay, đưa chúng ta đến
câu chuyện của Đức Kitô, với những hình ảnh, những thanh âm tuy ngắn
ngủi, thế nhưng lại có giá trị trường cửu cho muôn ngàn thế hệ. Đó là
hình ảnh Đức Kitô lặp lại nghi thức bẻ bánh. Đó là âm thanh từ những lời
giảng dạy của Đức Kitô có giá trị làm thức tỉnh lòng người. Và trên hết,
đó là cả một nội dung mặc khải phong phú dành cho tất cả những ai tin
vào Đức Kitô và đang thực thi sức mệnh người môn đệ. Chính mặc khải này
có sức thu hút mạnh mẽ, thiết thực và thật sự hào hùng như những bản
trường ca dành cho tất cả mọi người, mọi dân tộc, và mọi thời đại.
Hành trình đi đến làng Emmau của hai môn
đệ, có thể xem như là một cuộc trốn tránh sau một thất bại. Bởi vì tất
cả những kỳ vọng, những dự phóng của hai môn đệ này vào vị Tôn sư, vị
Thầy của mình dường như không còn nữa. Giờ đây, trong họ chỉ còn là sự
thất vọng, u sầu và bế tắc thể hiện qua “vẻ mặt buồn rầu”. Thế
nhưng, khi Đức Kitô hiện diện cũng là lúc bản trường ca được cất lên
bằng những thanh âm, bằng hình ảnh của một con người cụ thể và cũng là
khởi đầu cho một câu chuyện. Câu chuyện này trước hết là dành cho hai
môn đệ, một người có tên là Cleopas. Chính Đức Kitô là người kể chuyện.
Người đã đồng hành với hai môn đệ suốt đoạn đường bằng một dáng vóc, một
sức sống mới mẻ, đến nỗi hai môn đệ không nhận ra Thầy mình. Hai môn đệ
vẫn còn bị dấu ấn từ cuộc xử án và tử nạn của Thầy làm cho choáng cả tâm
trí. Trên đường đi cũng là dịp họ lại kể cho nhau nghe về biến cố đó. Và
họ không thể ngờ được rằng, Thầy của họ, nhân vật chính của câu chuyện
đang ở bên cạnh họ, rất gần. Chỉ đến khi, bằng sự hiếu khách của hai môn
đệ, Đức Giêsu ở lại và thực thi trước mắt họ nghi thức Bẻ bánh, một nghi
thức mà Người vẫn thường làm với các ông, đặc biệt trong ngày bữa tiệc
Ly mừng lễ Vượt Qua, họ mới thực sự được mở trí “Mắt họ liền mở ra và
họ nhận ra Người” (c 31). Và chính những lời giảng dạy của Đức Kitô
cũng đã mở lòng cho họ: “Khi Người nói chuyện và giải thích Kinh
Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta chẳng bừng sáng lên sao?” (c 32).
Bản trường ca hôm nay, không cần nhiều
chương hồi, nhưng chính hình ảnh Đức Kitô khi “Đồng bàn với họ, Người
cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (c 30), là
đoạn điệp khúc hào hùng nhất, kỳ vĩ nhất để muôn đời sau không ngớt lặp
lại với cùng một thể thức ấy. Đức Kitô thực thi nghi thức bẻ bánh, không
chỉ để cho các môn đệ nhận ra Người, mà còn như là lời mời gọi các môn
đệ phải tiếp tục cử hành nghi thức ấy để có thể nhận ra nhau. Người cử
hành nghi thức ấy, không chỉ nói lên bổn phận của chính mình là trở nên
lễ tế cho Thiên Chúa, nhưng còn là lời mời gọi các môn đệ, và chính
chúng ta nữa, sự cần thiết phải trở thành lễ tế dâng lên Chúa Cha. Và
khi thực thi nghi thức bẻ bánh, một lần nữa, Đức Kitô nhắc nhớ cho chúng
ta chính Người là chủ tế, đồng thời cũng là hy lễ dâng tiến Chúa Cha. Hy
lễ ấy là Mình và Máu Người đổ ra trong cuộc Tử nạn, để muôn người được
trở nên giao hoà với Thiên Chúa. Điều kỳ vĩ ở đây chính là giá trị sự
kiện Đức Kitô đã dâng hiến, trao tặng cuộc đời một cách nhưng không,
thông qua một nghi thức tưởng chừng như đơn giản. Điều trường cửu ở đây
chính là sự kiện, bằng giá máu, cái chết và sự Phục sinh, Đức Kitô đã
đưa những linh hồn bị giam hãm trong tội lỗi và sự chết được giải thoát,
tìm lại sự sống và sống viên mãn.
Và từ nghi thức ấy, sự kiện ấy đã trở
thành một câu chuyện, nhưng không phải một câu chuyện cổ tích, hay thần
thoại thường được mở đầu bằng từ ngữ: “ngày xửa, ngày xưa…”, nhưng là
một câu chuyện có sức tái hiện ngay ngày hôm nay, được tiếp diễn từ Đức
Kitô đến hôm nay. Những tâm hồn cần được Đức Kitô thức tỉnh là các môn
đệ ngày xưa, nhưng cũng là chúng ta, là con người của ngày hôm nay và cả
tương lai. Đức Kitô là tác giả của câu chuyện, Người cũng là nhân vật
làm sinh động câu chuyện, đồng thời, Người cũng chính là sức mạnh nuôi
sống và tái diễn câu chuyện đó trong hiện tại. Cụ thể là thông qua vai
trò của những vị thừa tác, các linh mục mỗi khi các ngài thực thi sứ
mệnh dâng lễ tế, và nghi thức Bẻ bánh.
Chỉ cần một khoảng thời gian nhất định,
một không gian cụ thể, Thánh sử Luca đã làm nên một câu chuyện với những
hình ảnh, những thanh âm sống động, có giá trị như một bản trường ca.
Bản trường ca ấy, tuy không dài nhưng có sức sống mãnh liệt khi đem lại
sự sống cho bao con người. Bản trường ca ấy, ngày nay, chúng ta vẫn
thường được hát mỗi khi kỷ niệm lại biến cố Phục sinh, và ngân vang
trong lòng người bằng những thanh âm muôn thuở của một ca khúc khải hoàn
“Trên đường Emmau, hai người lữ khách bước đi bên nhau, mộng vàng tan
mây…”. Khúc ca ấy thường nhắc nhở chúng ta rằng: “có những lúc
chúng ta vô tâm không thấy được Ngài, chẳng biết Ngài, trong những kẻ
nghèo đói…”. Quả thực, rất có thể, nhiều lúc trên dòng đời xuôi
ngược, chúng ta không nhận ra Đức Kitô đang đồng hành với chúng, trong
thân phận những người lữ hành đơn sơ, âm thầm. Và cũng rất nhiều lần
chúng ta, vì lơ đễnh, vì u tối… đã không nhận ra Chúa, tiếp rước Chúa mà
vô tình để người bước đi như một người lữ hành đơn độc và xa lạ.
Bản trường ca từ bài Phúc âm hôm nay, tuy
ngắn ngủi nhưng lại chuyển tải nên một thông điệp, một sứ mệnh có giá
trị cứu độ cho mọi thời đại. Bản trường ca ấy cất lên không chỉ cho hai
người môn đệ trên bước đường về Emmau, nhưng là cho chúng ta, những
người đang sống và thực thi sứ mệnh của Đức Kitô. Chính chúng ta phải
thức tỉnh bản thân mình, đời sống mình để sẵn sàng tiếp đón Chúa, nhận
ra Chúa trong những người anh em chung quanh. Hơn nữa, chính chúng ta
phải có bổn phận thi hành nghi thức mà Đức Kitô đã thực thi là tiếp tục
bẻ bánh, là sẻ chia chính cuộc đời, tâm tình, khả năng, thời gian… của
mình cho người khác. Biến chính mình thành hy lễ để tưởng nhớ đến Đức
Kitô và không ngừng nhắc lại sứ mệnh rao giảng, truyền thông ơn cứu độ.
Xin Đức Kitô Phục sinh luôn đồng hành và tiếp sức mạnh cho chúng ta, để
lòng trí của chúng ta luôn được mở rộng ra, hầu có thể nhận ra Chúa
trong mọi biến cố, mọi con người chung quanh.
Đỗ Lực op
Cuộc đời : một ẩn số
(Lc 24:13-35)
Hiện nay, tình hình suy thoái kinh tế
đang đe dọa thế giới. Việt Nam cũng đang “đương đầu với giá tăng vọt
trên đa số mặt hàng, từ lương thực, thực
phẩm đến nhiên liệu và hàng tiêu dùng, ngừơi dân nói chung đều cảm thấy
bị ảnh hưởng không nhiều thì ít. Mức sống của nhiều gia đình bị tác động
từ sau Tết đến nay. Trừ giới giàu có hoặc dư giả, những gia đình thu
nhập không cao và những gia đình công nhân với đồng lương đói đang rên
xiết vì cuộc sống ngày càng khó khăn.”
[i]
Trước tình trạng
đó, nhà nước Việt Nam đang tìm mọi biện pháp để ngăn cản đà lạm phát.
Các chuyên gia đang xúm lại hiến kế giúp kinh tế Việt Nam khỏi cảnh sụp
đổ. Ngoài những giải pháp kinh tế, còn cần giải pháp nào không ? Có thể
tìm thấy lối thoát cho tình thế hiện nay qua nẻo đường Emmaus ngày xưa,
khi Ðức Giêsu cố giải thích Kinh thánh cho hai môn đệ.
GIẢI MÃ
Chưa bao giờ con người cảm thấy đau khổ
và cô đơn như hôm nay. Rất nhiều người chán nản và thất vọng vì không
tìm được lối thoát. Ðó cũng là tình trạng của hai môn đệ trên đường
Emmaus, “cách Giêrusalem chừng mười một cây số.” (Lc 24:13) Ðoạn
đường dài vừa đủ cho Chúa giải thích Kinh thánh cho họ thoát ra khỏi bế
tắc cuộc đời.
Quả thực, trước khi gặp Chúa, suốt quãng
đường về Emmaus, họ đã không tìm được lời giải đáp cho bài toán hắc búa
về thân phận Thày mình và tương lai của mình. Cái chết nhục nhã và tất
tưởi của Thày đã để lại trong tâm trí những tháng ngày nặng trĩu và cuộc
sống đầy thất vọng. Trong khi Thày được toàn dân mến chuộng, tại sao
những người cầm quyền lại giết Người cách dữ dằn như vậy ? Thật là một
bất công vô cùng lớn lao. Nếu là Ðấng Thiên Sai, tại sao không thể giải
phóng dân tộc khỏi ách đô hộ ngoại bang ? Phải chăng Người không có một
lựa chọn nào khi sự dữ ập tới ?
Trong khi các môn đệ đang quay cuồng với
những câu hỏi như vậy, “chính Đức
Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ”
(Lc 24:15) để tìm một lối thoát cho họ. Trước hết, Chúa nhận xét về tình
trạng “bí lù” của các ông : "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh
thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ !” (Lc 24:25) Như thế, cả trí khôn
và tâm hồn các ông đều trống rỗng. Niềm tin là số không. Ðó là nguyên
nhân tại sao các ông không tìm được giải đáp trong ẩn số cuộc đời Chúa
Giêsu và không tìm được lối thoát cho những bế tắc trên đường đời. Nếu
Chúa không giải thích Kinh Thánh đó, chắc chắn tâm trí họ còn chìm mãi
trong những thất vọng, mù tối và đảo điên. Cuộc đời vẫn còn là một ẩn số
khổng lồ ! Ðúng hơn, chỉ Tin Mừng mới có thể đem lại ánh sáng cho các
môn đệ. Chắc chắn trước khi mở ra con đường giải thoát, Chúa đã phải
kiên nhẫn lắng nghe và chấp nhận những chống đối và tăm tối của các môn
đệ.
Dần dà trên đường về quê nhà Emmaus, hai
môn đệ như bị cuốn hút vào những lời giải thích của Chúa. Chúa dùng
chính lời Kinh thánh để cho họ thấy một sợi chỉ xuyên suốt dẫn đến ánh
sáng cuối đường hầm. Từ nhỏ, dù đọc Kinh thánh hàng ngày, họ vẫn không
thấy mối liên lạc giữa các sự kiện. Khi chìm vào từng sự kiện trước mắt,
họ chỉ thấy bất công trong những đau khổ Thày đã gánh chịu. Bởi vậy,
Chúa cần một đoạn đường dài như cuộc đời để giúp họ vượt lên trên những
đau khổ bất công ấy. Chúa đưa ra lý do Người phải chấp nhận đau khổ hay
sự dữ : “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào
trong vinh quang của Người sao? (Lc 24:26) Toàn bộ Kinh Thánh đều yểm
trợ cho cái nhìn đó.
Vinh quang của Chúa là gì, nếu không phải
là “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14:16) ?
Nói khác, đó là vinh quang Nước Thiên Chúa. Như một chiến sĩ, Chúa phải
liều chết mới có thể giải thoát và đưa con người tới bến bờ tự do. Tự do
là giá trị lớn nhất Chúa phải giật lại cho nhân loại bằng chính mạng
sống của mình. Không nhìn thấy giá trị đó, không thể hiểu được lý do tại
sao Chúa phải đau khổ và chết đi như vậy. Nói khác, chỉ vì muốn nhân
loại được sống tự do như con cái Chúa, Chúa đã loan báo một cách đầy ý
thức và quyết liệt về thân phận đau khổ của Ðấng Kitô. Chính vì tự do,
Chúa đã cương quyết thực hiện tới cùng những gì Người đã nhận thức và
nắm bắt được qua lương tâm, trí óc và giác quan. Khi quả quyết mình
“phải chịu khổ hình,” Chúa nối kết quá khứ với hiện tại để hoàn thành
tất cả hầu mở ra cho nhân loại một tương lai. Nếu không đưa tới tương
lai đầy những giá trị như tự do, hiệp nhất v.v., đau khổ quả là phi lý
và bất công. Chỉ đức tin, chứ không phải lý trí, mới cho ta “thấy” tương
lai đó.
Hơn nữa, Ðấng Phục Sinh khiến chúng ta
khám phá và nhận biết những gì vượt ngoài tầm nhận thức, thực tại vô
hình, sự sống Thiên Chúa hiện diện. Nhờ đức tin, chúng ta biết Thiên
Chúa đang hiện diện trong những thực tại trần thế. Ðó là nghịch lý đối
với các môn đệ : có thể xem thấy Chúa mà họ lại không thấy. Nhưng khi
nhận ra Người, họ mới thấy ẩn số đã được giải đáp nơi dung nhan Chúa
Kitô, Ðấng “phải chịu đau khổ … mới vào trong vinh quang của Người.”
BƯỚC THEO THÀY
“Vinh quang của Người” không phát xuất từ
một thứ thiên đàng hạ giới. Ðó là một giá trị tuyệt đối giúp con người
có thể đọc thấy ý nghĩa đau khổ. Trong xã hội ngày nay, nếu không vững
tin vào “Vinh quang của Người,” chúng ta không đủ sức phấn đấu chống lại
bất công.
Nhiều người tưởng thần học Công giáo là
“thần học về đau khổ”. Theo họ, Giáo Hội khuyến khích dân chúng cam chịu
gian khổ thay vì cố gắng làm cho thế giới nên ngay chính. Không thiếu
những người coi Giáo Hội như tập thể đang hết sức biến con người thành
con chiên chỉ biết vâng lời.
Thực tế, Giáo hội luôn khuyến khích dân
chúng chống lại cơ chế bất công. Những gương mẫu sống động vẫn còn chiếu
sáng trong Giáo hội : Tgm Oscar Romero, Dorothy Day, Đgh Gioan Phaolô II
… v.v. Toàn thể các thánh tử đạo Việt Nam đều là những anh hùng chống
lại những chế độ chà đạp quyền sống con người.
Ngược lại, những ai chủ trương mọi đau
khổ đều vô nghĩa, vô mục đích, vô phương hướng, mới thấy mọi đau khổ là
phi lý. Dưới con mắt trần thế, đau khổ là sự dữ lớn nhất, chỉ nên thinh
lặng một cách vô vọng mỗi khi nghĩ tới đau khổ. Bởi đó họ chủ trương
giết người đau khổ bằng lối chết êm dịu.
“Ðau khổ khiến nhiều người chối bỏ Thiên
Chúa. Nhưng phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa cũng không giải quyết
hay làm nhẹ bớt vấn đề đau khổ. Trái lại, đau khổ càng trở thành một vấn
đề bất công không ai có thể giải thích được. Ðau khổ vẫn còn đó. Nếu
Thiên Chúa không hiện hữu, loài người hết hy vọng giải quyết các vấn đề
rắc rối, cả trên thực tế lẫn lý thuyết. Hơn nữa, nếu chỉ có thế giới bất
công hiện hữu mà thôi, sẽ không có thưởng phạt cho mọi việc thiện ác; và
công lý chỉ do con người tạo ra hay ảo tưởng. Nói cho cùng, công lý
không thể không thuộc về ai đó, vì con người phải bị xét đoán và ân
thưởng về ý hướng cũng như hành động của mình. Chỉ có một Ðấng toàn tri,
toàn năng mới có thể thực thi công lý như thế mà thôi.”[ii]
Dựa trên đức tin vào Chúa Kitô Chịu
Ðóng Ðinh, Giáo Hội nhìn đau khổ quả quyết ngay cả những anh chị em
đau khổ cũng cống hiến cho Giáo hội một cái gì giá trị. Chính vì thế,
thánh Phaolô mới nói : “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh
em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy
vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh.” (Cl
1:24) Chính ý hướng này đã giúp thánh Phaolô không bị sụp đổ tinh thần
và thăng tiến trên mọi nẻo đường theo Chúa. Không những ông thoát được
gánh nặng quá khứ, nhưng còn vượt qua những thách đố trước mặt. Ông xác
định rõ : “Ðối với tôi, sống là Ðức Kitô.”
Trong thông điệp Phục Sinh 2008, ÐGH
Bênêđictô nói : “Khi linh hồn chiêm ngắm ‘những vết thương vinh quang'
mà Ðấng Phục Sinh mang trên thân thể đã được tôn vinh của Người,’ chúng
ta có thể hiểu ý nghĩa và giá trị đau khổ, cũng như có thể làm dịu bớt
nhiều vết thương nhân loại ngày nay còn tiếp tục rỉ máu”
[iii].
Chính vì thế, dù đã phục sinh, Người vẫn không xóa đi những dấu đinh
trên thân xác để mọi người thấy giá trị cao cả và ý nghĩa đích thực của
đau khổ.
Linh mục Federico Lombardi, giám đốc văn
phòng báo chí Vatican, ghi nhận trong thông điệp này, ÐGH đã dừng lại
trước “những vết thương nhân loại đang mở toang và đau khổ có mặt khắp
nơi trên tinh cầu này, mặc dù đôi khi người ta lãng quên hay cố ý dấu
nhẹm; những vết thương đang xé nát linh hồn và thân xác của muôn vàn anh
chị em chúng ta. Nên nhớ tình liên đới giữa cá nhân, nhóm và dân tộc ghi
đậm nét ích kỷ, thù hằn và bạo động. Trong khi đó, nhân vị thường bị bôi
nhọ và tổn thương.”
[iv]
Ðứng trước tình trạng đó, chúng ta có
những nhận định và suy nghĩ gì ? Chắc chắn công lý đã bị chà đạp khắp
nơi, nên mới sinh ra những đau khổ cùng cực như thế. Nhưng Kitô hữu
“biết rằng Chúa Phục sinh đang ở với chúng ta và việc chiêm ngắm những
vết thương vinh hiển của Chúa có nghĩa là cam kết hoạt động cho công lý,
để đưa ra những dấu chỉ hy vọng. Hãy sống hiền lành và tha thứ để làm
chứng cho Chúa. Hãy sống trong tình liên đới và bình an với mọi người.”
[v]
Tin Chúa Phục sinh, Kitô hữu phải hoạt động cho công lý. Tranh đấu cho
công lý dĩ nhiên mình sẽ phải đau khổ như Chúa Kitô. Nhưng không có đau
khổ, không thể bước vào vinh quang. Vinh quang của công lý giải thoát
mọi người khỏi cảnh bất công, bạo loạn và chà đạp nhân quyền.
GIẢI PHÁP NÀO CHO TÌNH THẾ HÔM NAY ?
Trước tình trạng khủng hoảng kinh tế hiện
nay, chúng ta tự hỏi : Ai là thủ phạm gây nên tình trạng khốn cùng hôm
nay ? “Trong một tài liệu do các giáo sư thuộc chương trình Việt Nam của
Đại Học Harvard thực hiện và phổ biến gần đây, các tác giả chỉ ra rằng,
sự yếu kém trong đầu tư công là một trong các nguyên nhân đưa đến lạm
phát. Điều đáng nói, cho đến nay, một tỷ lệ rất lớn của tín dụng vẫn
được dành riêng cho các xí nghiệp quốc doanh kém hiệu quả. Các giáo sư
đại học Harvard cũng nhắc đến việc, Việt Nam hiện nay có quá nhiều sự
tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi.”[vi]
Rõ ràng túi tham của các quan chức lớn
nhỏ đang phình to, khiến người dân phải thắt lưng buộc bụng. “Nhiều ý
thức hệ và niềm tin Thiên Sai vẫn ảo tưởng rằng vấn đề nghèo đói có thể
bị loại trừ hoàn toàn khỏi thế giới này. Ðiều này chỉ xảy ra khi Chúa
Kitô trở lại, khi Người sẽ lại ở với chúng ta mãi mãi. Trong khi đó,
người nghèo vẫn được giao phó cho chúng ta và chính vì trách nhiệm này,
chúng ta sẽ bị phán xét vào thời cánh chung (x. Mt 25:31-46) : Chúa cảnh
cáo, nếu không đáp ứng những nhu cầu nghiêm trọng của người nghèo và
những người nhỏ bé là anh em Chúa, chúng ta sẽ bị lìa xa Chúa.”[vii]
Có bao nhiêu người nghe thấy và lo sợ
trước lời cảnh cáo ấy ? Làm cách nào Lời Chúa có thể thấm sâu vào lòng
người ? Nếu sống trong cảnh lộng lẫy xa hoa, có lẽ con người khó có cơ
hội cho Lời Chúa thấm sâu và biến đổi tâm hồn. Thật vậy, họ có mắt mà
không thấy, có tai mà không nghe (x. 8:18), như Chúa đã nói.
Giữa những bế tắc hôm nay, người nghèo là
nạn nhân đáng thương nhất. Chúa Giêsu đã cảm thông và đồng hóa với những
người nghèo khổ nhất (x. Mt 25:40,45). “Chính nhờ những gì người ta làm
cho người nghèo mà Chúa Giêsu nhận ra những người được tuyển chọn. Khi
‘người nghèo được nghe giảng Tin Mừng,’ (Mt 11:5) đó là dấu chỉ Chúa
Kitô hiện diện.”[viii]
Thật vậy, “đau khổ dọn đường cho lời Thiên Chúa, góp phần bảo đảm Tin
Mừng được rao giảng khắp nơi. Nhờ Thánh Linh hoạt động tận lương tâm mỗi
người, Lời Tin Mừng tìm được con đường đi sâu vào tâm hồn con người, và
tiếng nói của các tông đồ có thể đi tới ‘mọi miền trái đất, và lời họ
vang đến tận cùng thế giới.’”[ix]
Lời Chúa sẽ giải thoát lòng người khỏi “những ý định gian tà, những tội
giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống.”
(Mt 15:19) Lời Chúa là một giải pháp tuyệt vời cho những ẩn số trong
cuộc sống hôm nay.
Tóm lại, giữa cơn đau khổ và thất vọng
cùng cực vì mất Chúa, hai môn đệ trên đường Emmaus đã “may mắn gặp lại
Chúa Phục Sinh. Chúa đã lấy Kinh Thánh giải thích cho các ông hiểu biết
ý nghĩa và giá trị của đau khổ trong công cuộc cứu độ nhân loại. Trong
đau khổ, con người mới thấy được tất cả sức mạnh giải thoát của Lời Chúa.
Thiên Chúa luôn gần gũi mỗi người, nhất là những ai đang đau khổ và cô
đơn.
Lạy Chúa, xin đoái nhìn đến nhân loại
đang lâm vào cơn suy thoái về mọi mặt hôm nay. Xin cho chúng con thấy
tất cả giá trị và ý nghĩa của đau khổ trong cuộc đời. Amen.
đỗ lực 06.04.2008
[ii]
Dictionary of Fundamental Theology, eds. Latourelle, R. &
Fisichella, R., tr. 1015.
[vii]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 183.
[viii]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 183.
[ix]
Pinckaers, S., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living
the Beatitudes, 2005:82-83.
Lm. Jude Siciliano, OP (Chuyển
ngữ
Anh Em
HV Đaminh Gò Vấp)
Đức Giêsu luôn
đồng hành với chúng ta
Lc 24: 13-35
Trong thời gian thi hành sứ vụ
trước đây, khi đó tôi sống ở vùng ngoại ô Nam Carolina và
Virginia và thuyết giảng trong phạm vi vài trăm dặm quanh cộng
đoàn của tôi, hầu như tôi phải di chuyển bằng xe hơi. Hiện nay,
tôi quen với các phi trường hơn là các trạm dừng chân trên đường
quốc lộ. Vì chúng tôi là một nhóm anh em giảng thuyết và cố gắng
làm theo hướng dẫn của tin mừng, nên chúng tôi luôn đi giảng
“hai người một”
Đi xe ôtô có thể buồn tẻ, nhất là
trong các vùng ngoại ô nơi sóng rađiô lại không được tốt. Nhưng
trò chuyện với người cộng sự và người anh em trong cộng đoàn lại
có vẻ tốt hơn khi chúng tôi ở cộng đoàn, có lẽ là vì chúng tôi
có nhiều thời gian hơn cho cuộc trò chuyện không huyên thuyên
hay thinh lặng cùng nhau.
Hầu như, những cuộc trò chuyện
này luôn có phần quan trọng là bàn về các sự kiện trong cộng
đoàn hay trong gia đình chúng tôi: các buổi lễ gần đây, những
mối quan tâm đến sức khoẻ của một anh em nào đó, những căng
thẳng trong cộng đoàn, chất lượng của giờ kinh nguyện hàng ngày
của cộng đoàn, một anh em mới gia nhập hay một thầy rời khỏi
Dòng, sự từ trần của cha mẹ… Tôi luôn nhìn ra từ những cuộc
trò chuyện nghiêm túc này có cả sự soi dẫn lẫn sự hiểu biết. Tôi
nhận ra, từ cái nhìn của một cá nhân khác, tầm quan trọng của
những sự kiện gần đây mà chúng tôi cùng trải qua. Những cuộc trò
chuyện này cho tôi một viễn cảnh, một cách thức mới để nhìn vào
người anh em thân thuộc này và để nhận ra điều mà lúc đầu tôi đã
không đủ trân trọng.
Thánh Luca cho chúng ta biết hai
môn đệ của Đức Giêsu đang trên đường về Emmaus, cách Giêrusalem
khoảng 11 cây số. Một người là Cleopas và người kia rất có thể
là vợ anh ta. Đại lễ Vượt qua đã kết thúc, không phải với tin
vui vì Đức Giêsu được tôn lên làm vua Do thái và những người
Rôma bị tống ra khỏi đất nước, nhưng là một cái chết nhục nhã
của Đức Giêsu. Có nhiều điều để nói và đường cũng đủ dài để hai
người này bày tỏ những hy vọng đã vụn vỡ của mình. Họ kể cho một
“người lạ” cùng đi với họ điều đã xảy ra cho Đức Giêsu, và thêm:
“chúng tôi hy vọng Người sẽ là Đấng cứu chuộc Israel…”.
Xem ra đại từ “chúng tôi” không
chỉ nói họ mà thôi, nhưng còn nhắm đến cả cộng đoàn các môn đệ
đã đặt hy vọng vào Đức Giêsu và bây giờ đã hoàn toàn thất vọng.
Hai người đang mô tả về một cộng đoàn bị đổ vỡ vì mất đi vị thủ
lãnh đầy thần tính và, theo nhận xét từ hai môn đệ này thì những
người một thời làm môn đệ của Đức Giêsu hiện đang bị phân tán,
họ đang trở về gia đình để nhặt nhạnh những mảnh đời còn sót của
mình.
Những môn đệ này đang đi cùng
nhau và cùng nhau nói đến câu chuyện ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc
đời họ. Thánh Luca mô tả vắn tắt về cuộc trò chuyện đang diễn ra
cũng như hành động của họ vào lúc Đức Giêsu đi bên cạnh – họ
đang “bàn tán, tranh luận”
Khi còn là những đứa trẻ, chúng
tôi được dạy là không nên bàn về tôn giáo và chính trị khi đại
gia đình qui tu lại vào mỗi trưa Chúa nhật. Nhưng sự răn dạy đó
thường bị phá vỡ và các cuộc nói chuyện trở nên “hấp dẫn” – đôi
khi nóng bỏng ! Tôi còn nhớ một cuộc tranh cãi của hai người chú:
một người là chủ cửa hàng nhỏ bán các loại ống nước, và người
kia là một công nhân liên hiệp. Tôi đã nghe họ tranh cãi về các
ưu điểm và những bất lợi của các liên hiệp và tôi học hỏi được
nhiều điều từ hai lối nhìn khác biệt này.
Các môn đệ đang “bàn tán, tranh
luận” và rồi, sau khi trình bày những “sự kiện” cho người đồng
hành mới này, họ đã im lặng lắng nghe những gì Đức Giêsu nói.
Kết quả là họ đã biết nhìn lại những điều đã xảy ra trong cuộc
sống từ một khía cạnh mới. Ở đây có một bài học về cuộc sống tốt
đẹp cho chúng ta; hoặc chúng ta tiếp tục cuộc tranh luận với
chính mình hoặc với người khác. (có lẽ, chúng ta có thể đưa ra
ngay cả sự than vãn với Chúa về những điều “chúng ta đã hy vọng”).
Sau khi chúng ta nói ra hết mọi
điều trong lòng, thì chúng ta cũng làm như môn đệ đã làm – ngừng
nói và lắng nghe. Ai mà biết được chúng ta sẽ ngộ ra điều gì
trong niềm tin của mình !
Trước hết, điều mà hai môn đệ xem
như một thảm kịch cuộc sống đối với họ và cộng đoàn các môn đệ
của Đức Giêsu, thì sau khi lắng nghe quan điểm của người đồng
hành mới này, mắt họ được mở ra với một cuộc sống mới mà Thiên
Chúa ban cho họ. Thiên Chúa đã mang lại sự sống từ trong cái
chết – điều mà chỉ Thiên Chúa mới có thể làm được. Làm như thế
thì quả là một điều bất thường! – qua khổ nạn và cái chết của
Đức Giêsu. Mắt hai môn đệ được mở ra khi Đức Giêsu giải thích
Kinh thánh cho họ và rồi khi Người “cầm lấy bánh, dâng lời chúc
tụng, bẻ ra và trao cho họ”.
Việc bẻ bánh. Khi các Kitô hữu
tiên khởi qui tụ nhau vào các ngày Chúa nhật để làm việc thờ
phượng, họ đã không diễn tả cho những người láng giềng về việc
họ làm như chúng ta mô tả ngày nay: “tôi đang đi dự lễ”, hay
“tôi sẽ đến nhà thờ”. Hầu như họ nói là: “tôi đang đi dự lễ bẻ
bánh”.
Điều này cũng giống như câu
chuyện Emmaus hôm nay. Hai môn đệ thuật lại cho người bạn đồng
hành mới của họ cuộc khổ nạn Đức Giêsu đã trải qua mà họ đã
chứng kiến và tâm trạng chán nản của họ về điều đó. Điều chúng
ta học được từ toàn bộ câu chuyện Tin mừng và nhấn mạnh cho
chúng ta trong suốt Tuần Thánh là: Đức Giêsu đã không đến như
một du khách để đi dạo quanh, trò chuyện với “dân địa phương”,
ngắm các cảnh quan tự nhiên và các kì quan kiến trúc của
Giêrusalem – và rồi bỏ đi trước khi nỗi đau và sự sụp của đổ của
kế hoạch của Người bắt đầu.
Thay vì thế, Người đã đi trọn vẹn
hành trình nhân loại, giống như chúng ta, tất cả con đường qua
đau khổ và cái chết. Nếu như tôi đặt niềm tin vào Đức Giêsu,
Thiên Chúa làm người, thì đó sẽ phải là Đấng không chỉ biết đến
niềm vui của con người, nhưng còn biết cả những khó khăn của tôi
– cách trọn vẹn. Đó là điều tôi nghĩ đến trong nghi thức “bẻ
bánh” trong Thánh lễ của chúng ta hôm nay, Đức Giêsu ở với chúng
ta – trên suốt cả hành trình!
Nếu như tôi không nhớ đối với tôi
Đức Giêsu là ai và Thiên Chúa đã yêu thương tôi như thế nào, thì
tôi hy vọng mắt tôi sẽ lại được mở ra ở lễ bẻ bánh. Tôi hy vọng,
như hai môn đệ trên đường, nếu mắt tôi “nhìn xuống”, khi tôi
thấy tấm bánh được bẻ ra tôi sẽ lại cảm nghiệm Đức Giêsu phục
sinh đang bước đi với tôi trong nỗi đau của tôi, mở mắt tôi để
tôi thấy cuộc sống nơi mà tôi chỉ thấy sự chết.
Khi mắt họ được mở ra, hai môn đệ
đã quay trở lại với các môn đệ khác ở Giêrusalem, những người mà
Thánh Luca cho chúng ta biết họ “cùng nhau qui tụ lại”. Ở đó,
trong cộng đoàn, họ được biết rằng Đức Giêsu đã thực sự sống lại.
Câu chuyện Emmaus này sẽ mở mắt chúng ta để thấy điều đang xảy
ra tại cộng đoàn phụng vụ hôm nay. Chúng ta, những khách bộ hành
cùng nhau: có lẽ, trong cuộc sống mắt chúng ta cũng nhìn xuống
bởi vì, cách này hay cách khác, niềm hy vọng của chúng ta đã bị
tan vỡ do sự mất mát, bị bạn bè hay người yêu ruồng bỏ, khủng
hoảng tài chính, thất vọng về Giáo hội của chta, hay một cảm
nhận về sự vắng bóng Chúa trong cuộc đời.
Chúng ta qui tụ với cộng đoàn, trong đó có một số người là gương mẫu về đức tin cho chúng ta,
dẫu cho họ gặp những hoàn cảnh khó khăn. Nếu chúng ta đã nhìn
xuống, thì nhờ vào nhân chứng của cuộc sống và lời của những
người trong cộng đoàn đức tin, niềm hy vọng của chúng ta sẽ lóe
sáng, khi nó bắt đầu trở lại với cuộc sống. Chúng ta mừng lễ
giống như khung cảnh Tin mừng hôm nay: các thành viên của cộng
đoàn là những nhân chứng cho cuộc sống của Đức Kitô ở giữa họ;
chúng ta cũng nghe Lời được loan báo và mở ra cho chúng ta. (chúng
ta hy vọng các anh em giảng thuyết đã làm công ở việc nhà và cầu
nguyện trước !).
Sau khi nghe Lời nói với cuộc đời
của mình, chúng ta khẩn thiết cầu xin những nhu cầu của thế giới
và của Giáo hội. Tiếp đến, chúng ta đến trước bàn thánh để chúc
tụng Chúa về những điều chúng ta đã nghe. Một lần nữa, chúng ta
nhìn ngắm Chúa Kitô trong lễ “bẻ bánh”.
Lm. Jude Siciliano, O.P. (Anh em Nhà học Đa Minh chuyển ngữ)
Hãy can
đảm lên đường loan báo tin mừng phục sinh
Cv 2,14.22-33; Tv 15; 1 Pr 1,17-21; Lc 24,13-35
Kính thưa quý vị,
Trình tự thời gian trong các bài
đọc hôm nay đòi hỏi chúng ta phải gạt lối suy nghĩ thông thường
của mình sang một bên, như người ta thường nói: “Để gió cuốn đi.”
Vì đây là Chúa Nhật thứ ba mùa Phục Sinh, nên chúng ta cho rằng
các bài đọc hôm nay sẽ nối kết trực tiếp đến biến cố phục sinh.
Ngay cả bài Tin Mừng cũng vậy, chứ không chỉ riêng các bài đọc
trong sách Công vụ Tông đồ.
Quý vị hiểu được đoạn mở đầu
trong bài đọc thứ nhất chứ? “Khi ấy, ông Phêrô đứng lên…” Ôi, đó
là một sự thay đổi lớn nơi tông đồ Phêrô nếu so với hành động
của ông vào đêm Đức Giêsu bị bắt. Trong khi Đức Giêsu đang bị
xét xử trước Thượng Hội đồng, thì ở ngoài sân, ông Phêrô lại
chối Thầy đến ba lần (Mt 26,57-75). Song, hôm nay chúng ta được
nghe kể lại rằng: “Ông Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một, lớn
tiếng nói với dân chúng rằng…” Có phải cũng là ông Phêrô hôm đó
chăng? Người môn đệ nhát đảm hôm nào đã trở thành một nhà giảng
thuyết dũng cảm. Ông kể cho đám đông đang tụ họp rằng họ đã giết
“Đức Giêsu Nadarét, Đấng đã được Thiên Chúa sai đến.” Điều gì đã
thâm nhập vào ông Phêrô, một ngư dân mỏng giòn? Ông và các môn
đệ khác, những kẻ đã quả quyết theo Đức Giêsu đến cùng, nhưng
tất cả lại bỏ chạy khi thời điểm thử thách xảy đến?
Đó là lý do chúng ta phải linh
động về trình tự thời gian cho các bài đọc hôm nay. Ông Phêrô
chưa rao giảng ngay sau biến cố phục sinh, nhưng khi Chúa Thánh
Thần hiện xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần, ông lập tức thi hành
điều đó. Không phải là cái gì đã thâm nhập ông Phêrô, mà là một
Đấng nào đó. Chính trong ngày Chúa Nhật lễ Hiện Xuống, ông Phêrô
và những môn đệ khác đã được đầy tràn Thánh Thần và điều đó đã
làm nên mọi sự khác biệt.
Thánh Luca thuật lại: kết quả sau
bài giảng của ông Phêrô (bài đọc hôm nay chỉ là một phần) là
“Hôm ấy, đã có thêm khoảng 3000 người theo đạo” (Cv 2,41). Thử
tưởng tượng xem 3000 người nhờ phép rửa, mà lãnh nhận Thánh Thần
chắc hẳn là thuộc nhiều thành phần xã hội, cũng như khác nhau về
tuổi tác. Một số có thể là đang thực sự tìm kiếm sự hiệp thông
sâu xa hơn đời sống với Thiên Chúa, đang khi một số khác chỉ
tình cờ vì những nhu cầu tôn giáo. Trong số họ, có cả những
người tội lỗi. Những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền chắc chắn cũng có
mặt ở đó; cả đàn ông lẫn đàn bà; nô lệ cũng như tự do; hạng phú
gia hay kẻ cơ bần; dân thành Giêrusalem và khách ngoại kiều,
những người vào thành để ăn mừng đại lễ (2,8-12).
Đó là những gì “đã xảy ra lúc đó”,
còn hôm nay là Chúa Nhật thứ ba mùa Phục Sinh, chứ chưa phải là
Chúa Nhật lễ Hiện Xuống. Tuy nhiên, thông điệp của thánh Phêrô
vẫn lay động lương tâm và khơi dậy niềm khao khát của chúng ta.
Hôm nay, thánh Phêrô nhắc nhớ chúng ta rằng chính Thiên Chúa đã
làm cho Đức Giêsu chỗi dậy. Chúng ta cũng được ban cho cuộc sống
mới và cuộc sống này khơi dậy nơi chúng ta một nhận thức về biến
cố Ngũ Tuần đang kéo dài. Chúng ta ao ước nhận được ân huệ nào
của Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ Tuần này? Đây là lúc để suy
nghĩ về điều đó.
Liệu có điều gì sai trái khi
chúng ta khao khát ngọn lửa của Chúa Thánh Thần thanh tẩy? Một
cuộc chữa trị tinh thần hay thể xác? Ơn được can đảm chăng, như
một ông Phêrô đầy Thần Khí, đã can đảm bày tỏ đức tin của mình?
Một nghị lực mới mẻ cho việc cầu nguyện chăng? Trở nên một chứng
nhân dũng cảm hơn cho gia đình và bè bạn có được không? Một ngọn
lửa công lý được nhóm lên chăng? Lễ Ngũ Tuần là một đại lễ xa
xưa và cũng là một đại lễ mới mẻ hôm nay! Lời chứng của ông
Phêrô hôm nay nhắc nhớ chúng ta về những gì có thể thực hiện,
khi Thần Khí ngự xuống trên các môn đệ đang mong mỏi đợi chờ.
Chúng ta mong ước Thánh Thần sẽ thực hiện điều mới mẻ nào cho
tinh thần đầy mệt mỏi và đóng chặt bởi các thói quen? Chúng ta
có một tháng cầu nguyện xin ơn khôn ngoan để nhận ra nhu cầu của
mình, và cầu xin Chúa Thánh Thần đến mang theo các ân sủng để
thỏa lòng mong ngóng của chúng ta.
Quý vị có để ý xem có bao nhiêu
câu chuyện Tin Mừng diễn ra trên những chặng đường, trong khi
người ta đang đến hay rời khỏi nơi nào đó không? Câu chuyện trên
đường Emmau phù hợp với những trình thuật di chuyển như thế. Một
người là Clêôpát và người kia rất có thể là vợ ông ta (Ga
19,25), đã rời khỏi Giêrusalem, nơi những hy vọng về Đức Giêsu
và về chính họ đã chết trên thập giá. Tin Mừng kể lại cho chúng
ta rằng, họ đang trên đường đến Emmau, có lẽ họ đang quay về với
lối sống trước kia. Tuy nhiên, quý vị có cảm nhận rằng nơi họ
đang đến không quan trọng. Sắp đến bước đường cùng, hai môn đệ
này sẽ cố quên đi những giấc mơ mà họ đã từng có với Đức Giêsu
và sống nốt phần đời còn lại.
Hai môn đệ này đang trên đường đi,
nhưng họ không biết mình đi về đâu, cho đến khi có một người lạ
cùng đi với họ, lắng nghe nỗi đau buồn và sau đó khích lệ họ
thực hiện một cuộc hành trình đầy kinh ngạc, đó là trở về
Giêrusalem. Ở đó, hai môn đệ này sẽ kể lại hành trình của mình,
kể về cách thức họ đã được gặp Đấng Phục Sinh trên đường đi.
Thánh Luca và các tác giả sách
Tin Mừng khác đã khai mở cho chúng ta thấy Thiên Chúa đang đi về
phía chúng ta. Qua Đức Giêsu, chúng ta cũng được mời gọi lên
đường. Từ lúc khởi đầu Tin Mừng, lời kêu gọi các môn đệ được
hiểu như việc bỏ lại mọi thứ sau lưng và tiến lên phía trước để
theo Đức Kitô. Đức Giêsu đã dẫn đường đến thành Giêrusalem và
những kẻ khác đã theo Người. Sau biến cố phục sinh và biến cố
Chúa Thánh Thần hiện xuống, họ sẽ lại trở thành những nhà lữ
hành, đi đến tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng Cứu độ. Đấng
Phục Sinh lôi cuốn từng người chúng ta và ban ân sủng để chúng
ta tiến lên phía trước. Cũng như hai môn đệ trên đường Emmau,
chúng ta được mời gọi để chia sẻ với người khác về một Thiên
Chúa mà chúng ta đã khám phá ra trên chuyến lữ hành của mình.
Các môn đệ rời Giêrusalem kia
không thuộc thành phần những người nổi trội, không thuộc nhóm
nòng cốt của Đức Giêsu. Họ cũng giống như rất nhiều người trong
chúng ta, những Kitô hữu tiến bước mỗi ngày, bận tâm với những
nỗi thất vọng. Họ kể cho người lạ mặt đã nhập cuộc với họ về cái
chết của Đức Giêsu và về những niềm hy vọng đã vụt tắt nơi họ.
“Nhưng chúng tôi vẫn đang hy vọng…” Dù là họ đã được nghe những
người phụ nữ báo rằng Đức Giêsu đã sống lại, nhưng họ vẫn không
cảm thấy vui sướng. Đức Giêsu cần hướng dẫn và nhắc nhớ họ rằng,
các ngôn sứ đã tiên báo cuộc khổ nạn của Đấng Mêsia.
Họ đến làng Emmau và đã mời Đức
Giêsu ở lại cùng. Đang khi Người bẻ bánh và trao cho họ, thì
“mắt họ được mở ra.” Những sự kiện trong Bữa Ăn Cuối Cùng đang
được tái hiện. Sau khi giáp mặt với Đấng Phục Sinh, ông Clêôpát
và người bạn đồng hành lại lên đường lần nữa, với một thông điệp
vốn đã làm con tim họ bừng cháy. Những gì họ đã thấy như một lời
kết thì giờ đây chính là sự khởi đầu, một khởi đầu mà chỉ có
Thiên Chúa mới thực hiện, đó là mang lại sự sống từ trong cái
chết.
Khi người lạ mặt nhập đoàn cùng
hai môn đệ trên đường đi và hỏi xem họ đang thảo luận về điều gì,
thánh Luca kể lại cho chúng ta rằng: “Họ dừng lại, vẻ mặt buồn
rầu.” Hành trình của hai con người ấy đã dừng lại, họ không còn
biết nơi nào để đi và phải làm gì nữa. Nhưng Thiên Chúa đã nhập
cuộc vào hoàn cảnh ấy, và khoảnh khắc ấy đã được thay đổi với
những triển vọng. Có lẽ ngày nay chúng ta đang đặt câu hỏi rằng:
“Phải làm gì tiếp đây? Đi đâu bây giờ?” Chúng ta dừng lại trên
chuyến hành trình của mình. Ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng ta
thực hiện những gì mà các môn đệ đầu tiên đã làm, đó là chúng ta
“quy tụ với nhau.” Chúng ta là một giáo hội và Đức Kitô Phục
Sinh cùng Thánh Thần của Người hằng ở cùng chúng ta. Chúng ta
gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh khi các bài đọc Kinh Thánh được công
bố và quảng diễn cho chúng ta. Chúng ta gặp gỡ Đức Kitô trong
cộng đoàn của mình, trong lời cầu nguyện và trong việc bẻ bánh.
Như khi Đức Giêsu chủ tọa bữa ăn với hai môn đệ trên đường Emmau
thế nào, thì Người vẫn chủ tọa nơi bàn tiệc của chúng ta ngày
nay như vậy.
Và rồi chúng ta sẽ rời nơi tụ họp
này để lên đường nói cho người khác biết về Đức Kitô Phục Sinh.
Chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được Người như hai môn đệ trên đường
Emmau, nơi những người lạ mặt mà chúng ta gặp gỡ trên hành trình
đời mình, nhất là trong số những người đang phải chịu đau khổ và
vụt tắt niềm hy vọng. Với họ, chúng ta sẽ nên như những dấu chỉ
của niềm hy vọng vì chúng ta đã được gặp gỡ Đức Giêsu khi chúng
ta lên đường, và được nuôi dưỡng bởi chính Người qua lời và các
Bí tích.
|