Năm A

 
 

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH NĂM A
Cv 2,42-47 / 1Pr 1,3-9 / Ga 20,19-31

 

An Phong op : Mối Phúc Thứ Chín

Như Hạ op : Một chiều kích lạ lùng

Fr. Jude Siciliano op : Cộng đoàn phục sinh, hiệp nhất - yêu thương

Fr. Jude Siciliano, op : Kiến tạo cộng đoàn phục sinh trong Đức Kitô

G. Nguyễn Cao Luật op : Gặp gỡ với Đấng phục sinh

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra

Giuse Nguyễn Hải Phương op : Phúc cho ai không thấy mà tin

Đỗ Lực op : Trời Cao Đất Dầy

Fr. Jude Siciliano, op : Ở lại với nhau trong sợ hãi không thể là chứng tá 

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy mang lấy thương tích của nhau

 


An Phong op

Mối Phúc Thứ Chín
Ga 20,19-31

Phúc cho những ai không thấy mà tin, có lẽ đây là mối phúc thứ chín của Ðức Giêsu. Ðức Giêsu Phục sinh là một sự kiện được chứng thực bằng nhiều lần hiện ra với các môn đệ và nhất là được chứng thực bằng chính cộng đoàn kitô hữu tiên khởi : cộng đoàn này "đã thấy", "đã tin" và "đã nhận được".

Họ "đã thấy" Chúa đến viếng thăm khi cửa nhà họ vẫn im ỉm đóng kín.

Họ "đã tin" khi Ðấng Phục sinh hiện diện giữa họ, thân ái và dịu hiền.

Họ "đã nhận được" bình an và hoan lạc.

Khi Ðấng Phục sinh giải thoát họ khỏi nỗi sợ hãi, bất an.

Nhưng có một người đã chưa thấy, đã chưa tin và đã chưa nhận được, đó là Tôma.

Tôma, một trong những môn đệ không ở với các môn đệ khi Ðức Giêsu đến, và ông đã không chấp nhận lời chứng của các môn đệ bạn bè. Tôma đã tạo nên một khoảng cách bên ngoài với cộng đoàn, và hơn nữa, ông đã tự tách lìa với niềm tin của cộng đoàn. Chính việc đó đã đẩy ông tới chỗ ngờ vực, đa nghi.

Hình ảnh Tôma được xem là biểu trưng cho những người kém lòng tin; ông không ở với Giáo hội nên ông đã không thấy; ông không thông hiệp với cộng đoàn nên đã không tin; ông tự hào với nhận định của mình nên đã không nhận được hồng ân của niềm tin.

Nhưng chẳng sao cả, vì Ðức Giêsu giải quyết mọi khó khăn đó khi Ngài hiện đến vào tám ngày sau. Một chút bối rối, rồi một chút bất an… và sau đó, mọi sự vụt tan biến. Tôma đã mở miệng thốt lên : "Lạy Chúa, lạy Chúa tôi !". Lòng ông đã mở ra, ông đã tin và đón nhận được niềm vui, sự bình an.

Có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng giống như Tôma. Ta xa cách cộng đoàn Giáo hội trong lễ nghi phượng tự… theo suy nghĩ và tính toán của mình, ta chấp nê và nghi kỵ mọi điều, và việc sống đạo của ta không đem lại niềm vui và sự bình an của người môn đệ đã được đón nhận Tin mừng Phục sinh.

Lạy Chúa Giêsu,

Xin mở lòng chúng con.

để chúng con nhận ra Chúa đã sống lại;

Xin uốn nắn lòng cứng tin của chúng con

để chúng con tin tưởng nơi Chúa

là Ðấng Cứu độ duy nhất của cuộc đời.

Xin soi sáng con mắt chúng con

để chúng con nhận ra

Chúa vẫn đang đồng hành trên đường đời.

Và xin thêm lòng yêu thương cho chúng con

để chúng con có được niềm vui, sự bình an

và hạnh phúc vì được làm con cái Chúa.


Như Hạ op

MỘT CHIỀU KÍCH LẠ LÙNG
Ga 20,19-31

Còn gì vui hơn đối với một nhà khoa học khi thấy thành quả sau nhiều năm nghiên cứu ?! Ðức Giêsu sẽ chứng minh niềm vui phát xuất từ niềm tin còn lao hơn nhiều.

NHỮNG NẺO ÐƯỜNG.

Niềm tin Phục sinh đã đến với các tông đồ rất dễ dàng khi "Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói : 'Bình an cho anh em !'" (Ga 20:19) Nhìn thấy tận mắt Ðức Giêsu Phục sinh, các môn đệ tràn ngập niềm vui. Ðó là dấu chứng đầu tiên và hiển nhiên nhất từ ánh sáng Phục sinh. Thực ra, niềm tin đó không phát xuất từ giác quan. Nếu không, chắc chắn ông Tôma đã bị thuyết phục khi các ông chứng minh : "Chúng tôi đã được thấy Chúa !" (Ga 20:25) Chính niềm tin Phục sinh đã cho ông xác tín giới hạn của giác quan và sức mạnh vô biên của niềm tin. Thực vậy, làm sao giác quan có thể khiến ông Tôma mở miệng tuyện xưng : "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !" (Ga 20:28) ? Nhưng giác quan chỉ trợ lực, chứ không thể thay thế mạc khải. Chính vì thế, Ðức Giêsu đã từng nói với ông Phêrô : "Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Ðấng ngự trên trời." (Mt 16:17)

Kinh nghiệm về Ðấng Phục sinh phải vượt lên trên mọi giới hạn giác quan. Chính Ðức Giêsu đã quả quyết : "Phúc thay người không thấy mà tin." (Ga 20:29) Ông Phêrô đã nói lên cảm nghiệm về một thực tại rất chính xác nơi cộng đoàn tín hữu : "Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin." (1 Pr 1:8) Ðó là một điều bí hiểm hay ngớ ngẩn đối với những người không tin. Nhưng trái lại, đối với những người tin, đó lại là tất cả nguồn hi vọng. Thực thế, chính vì tin vào Ðức Giêsu Phục sinh, "anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người." (1 Pr 1:8b-9)

Giác quan không thể thay thế niềm tin. Ðức Giêsu không có ý phủ nhận hạnh phúc của những người vừa thấy vừa tin nơi Người. Bằng chứng, mặc dù xác quyết "chúng tôi đã được thấy Thầy" (Ga 20:25), các tông đồ vẫn không giảm bớt hạnh phúc chút nào ! Thực vậy, "các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa." (Ga 20:20) Niềm vui phát xuất từ sự bình an của Ðấng Phục sinh. Bình an đồng nghĩa với ơn cứu độ. Ơn cứu độ trước tiên phải đến với các tông đồ, trong tư cách cá nhân hay cộng đồng.

Phải có cuộc gặp gỡ đích thân giữa Ðức Giêsu và ông Tôma, chúng ta mới có thể xác định đâu là tầm quan trọng cá nhân trong công cuộc cứu độ. Không gặp gỡ cá nhân với Ðấng Phục sinh, con người không thể xác tín sâu xa và vững mạnh đến thế ! Chiều kích cá nhân không thể bị lãng quên trong công cuộc cứu độ. Chính vì thế, vì "không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến", ông Tôma đã khẳng quyết : "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 20:26) Không phải ông Tôma tin tưởng vào giác quan hơn chứng từ các tông đồ. Trái lại, "ông Tôma yêu cầu được nhận chứng cứ hiển nhiên Chúa phục sinh và Ðức Giêsu chịu đóng đinh cũng là một." (Encycyclopedia of Catholicism 1995:1109) Nếu cá nhân không quan trọng, Ðức Giêsu đã không thỏa mãn đòi hỏi của ông Tôma làm chi !

Khi nhận được ơn cứu độ đó, các tông đồ không thể khư khư giữ lấy cho mình hay cộng đoàn mình. Nhưng họ phải chia sẻ cho người khác. Nhưng làm sao chia sẻ cho người khác, nếu họ không được sai đi ? Bởi thế, "Thầy lại nói với các ông : 'Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." (Ga 20:21) Ơn cứu độ chỉ được ban cho nhân loại khi Ðức Giêsu Phục sinh từ cõi chết. Sứ mệnh cứu độ đã hoàn thành trên thập giá, nhưng phải được tiếp nối nơi các môn đệ. Sứ mệnh cứu độ đồng nghĩa với việc tha thứ tội lỗi cho muôn dân. Nhưng không thể tha thứ nếu không có quyền lực Thánh Linh. Bởi thế, Ðức Giêsu mới "thổi hơi vào các ông và bảo : 'Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha.'" (Ga 20:22-23)

PHỤC SINH THẾ GIỚI.

Thánh Thần là quyền năng Thiên Chúa vừa để tha tội vừa để phục sinh thân xác Ðức Giêsu. Nói khác, tha tội chính là phục sinh con người từ khỏi quyền lực tử thần và tội lỗi. Nhờ thế, con người bước vào một đời sống mới. Thực thế, tôi chỉ có thể sống và lớn lên theo đúng kích thước sung mãn trong thân xác Ðức Giêsu phục sinh. Ơn cứu độ cũng chỉ được thực hiện trong nhiệm thể Ðức Giêsu mà thôi. Ngoài Ðức Giêsu không có ơn cứu độ !

Làm sao người môn đệ có thể làm chứng cho mọi người nhận ra chân lý đó ? Giống như Tôma, nhiều người cũng đang khao khát có một cảm nghiệm về Ðức Giêsu phục sinh. Chính các môn đệ tin rằng Thánh Thần chính là tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con. Nói khác, chính tình yêu đã phục sinh thân xác Ðức Giêsu. Nhân loại hôm nay đau khổ chỉ vì không đủ sức mạnh tình yêu phục sinh. Sứ mệnh làm chứng là sứ mệnh đem tình yêu phục sinh nhân loại. Người môn đệ có thể làm được chuyện đó không ?

Thực tế, các Kitô hữu thời kỳ Giáo Hội sơ khai đã làm được chuyện đó. Bằng chứng, "Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ." (Cv 2:47) Ðó là một hồng ân, nhưng cũng là kết quả nỗ lực của cộng đoàn. Quả thế, "tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung." (Cv 2:44) Ðời sống là cả một chuỗi ngày dài làm chứng. Bầu khí thật hồ hởi. "Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Ðền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ." (Cv 2:46) Cộng đoàn đã có một sức hút rất mạnh vì "được toàn dân thương mến." (Cv 2:47) Không thể phủ nhận chiều kích cộng đoàn trong việc làm chứng cho Ðức Giêsu phục sinh.

Cộng đoàn tiên khởi đã mạnh dạn làm chứng. Chứng từ đó được củng cố bằng lời cầu nguyện, học hỏi lời Chúa và sống hiệp thông. Quả thực, "thời bấy giờ, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Ðồ giảng dạy. Luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng." (Cv 2:42) Mọi người đều hãnh diện vì được làm con Thiên Chúa do hồng ân Ðức Giêsu phục sinh. Họ tin rằng "cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới." (Rm 6:4) Trong đời sống mới, họ có thể phục sinh toàn thể nhân loại nhờ quyền năng Thiên Chúa tức là Thánh Linh, Ðấng đã phục sinh Ðức Giêsu từ cõi chết. Nếu Thần Khí đã phục sinh thân xác Ðức Giêsu, chắc chắn Kitô hữu cũng có thể biến cải nhân loại nhờ sức mạnh Thần Khí. Thực vậy, "Thần Khí Thiên Chúa có quyền làm cho con người trở thành những người đồng sáng tạo sự sống mới trong vương quốc Thiên Chúa ở mỗi giai đoạn lịch sử hiện tại." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:826)

Hiện tại thế giới đang chìm ngập trong đau khổ vì bất công. Nếu thực sự phục sinh với Ðức Giêsu, chúng ta phải cam kết tranh đấu cho người nghèo và những người đau khổ. Ðã phục sinh với Chúa, không đứng ngoài lề cuộc vận hành của Ðấng phục sinh trong cuộc biến cải thế giới thành vương quốc Thiên Chúa, tràn ngập "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17)


Fr. Jude Siciliano op

Cộng đoàn phục sinh : hiệp nhất - yêu thương
Ga 20,19-31

Thưa quý vị.

Tôi để ý từ Chúa Nhật này tới lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống vào giữa tháng 5, các bài đọc I đều trích từ sách Tông đồ Công vụ. Như thế cuốn sách được trích đọc rất nhiều. Nhưng suy niệm và rao giảng chẳng được bao nhiêu ! Vậy thì tại sao chúng ta không dành một ngày cho cuốn sách quan trọng này ? Tôi hy vọng chúng ta đồng ý hôm nay suy niệm về nó.

Ðiều nổi bật nhất trong Tông đồ Công vụ là tính đoàn kết của cộng đồng các tín hữu tiên khởi. Ðời sống của họ còn thách đố chúng ta mãi tới hôm nay. Ðó là một cộng đồng thẩm nhận mà tiên tri Isaia đã nhìn thấy từ 6 thế kỷ trước (chương 56). Dân Israel đổi mới này sẽ đón nhận mọi người nam nữ, già trẻ, trai gái, giàu nghèo, ngoại kiều, vô lại v.v. Công lý là tính tiêu biểu của cộng đồng như tiên tri Isaia đã loan báo. Tất cả mọi thành viên, giàu nghèo, sang hèn cùng nhau chia sẻ của cải vật chất, cùng đồng bàn trong một thời đại mới của cách sống hoàn toàn mới. Trong cộng đồng, những biểu hiện của tính hiệp nhất, thương yêu được mọi thành viên trân trọng. Triều đại Thiên Chúa đã khởi sự. Một cộng đoàn tin Chúa Kitô phục sinh chẳng thể sống khác được ! Như vậy bài đọc hôm nay cho hay cuộc sống hàng ngày của các tín hữu phải làm sao trong các sinh hoạt cầu nguyện, ăn uống, lao động để được gọi là cộng đồng thương yêu, có Chúa cùng hiện diện (câu 42).

Từ "Koinonia" (hiệp thông, cộng đoàn) xuất hiện nhiều nhất trong sách Công vụ Tông đồ. Các Tín hữu tiên khởi luôn cố gắng lôi kéo những người chung quanh gia nhập cộng đoàn, bằng nghi lễ khai tâm gọi là Thánh tẩy. Họ đánh giá cao tính hiệp nhất để đáp ứng ước vọng của Chúa Giêsu (Ga 17,11). Mặc dầu những khác biệt có khi rất lớn, Chúa Thánh Thần vẫn liên kết họ hiệp nhất trong tinh thần và thể xác. Họ ý thức phải sống chung với nhau như một cộng đồng để dễ bề phục vụ nhau : "Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung (2,44)". Tác giả Raymond Brown, nghi ngờ sự hiệp nhất này và có ý kiến rằng "Việc để mọi sự làm của chung" chỉ là sự phóng đại của Thánh Luca. Sự để mọi sự làm của chung, nếu có, chỉ xảy ra cho một nhóm nhỏ các người Do thái tân tòng. Họ tin rằng Chúa sắp trở lại, thời kỳ cuối cùng sắp tới, cho nên mọi sự giàu sang đều là vô nghĩa. Của cải vật chất đã mất hẳn sức lôi cuốn trước viễn tượng Chúa trở lại !

Tuy nhiên đó chỉ là suy đoán cá nhân, không phải là ý kiến phổ thông của các nhà chú giải, dầu nó có hợp lý đi nữa, nhưng không có bằng chứng nào nâng đỡ, cho nên chẳng buộc ai phải chấp nhận hay phủ nhận, bản văn vẫn là bản văn. Một điều rõ ràng là trong sách Công Vụ, những người không có quyền lực bây giờ được Thánh Thần ban cho quyền lực. Xin nhớ trong ngày lễ Ngũ tuần, những tín hữu này đã được gọi lầm tất cả là người Galilê : "Những người đang nói đó, không phải là người Galilê cả ư ? (2,7)". Mà người Galilê về mặt tôn giáo cũng như xã hội vẫn được đánh giá là hạng thấp hèn trong con mắt của cơ chế đền thờ. Thế nhưng, lúc này, chính những người Galilê đó lại được Thiên Chúa ban ơn, dám hiên ngang rao giảng cho các học giả uyên thâm và các cấp lãnh đạo tài giỏi. Toàn thể thế giới định chế cổ truyền bị đảo ngược : Khôn thành dại, dại thành khôn, uyên bác thành ngu đần, và ngu đần thành uyên bác… Tất cả đều do sự có mặt của một cộng đồng mới, tin vào sự sống lại của Chúa Giêsu. Những người xưa nay bị coi là ngoài rìa xã hội, nay trở thành trung tâm, quan trọng, và những ai quan trọng ra rìa.

Cho nên không thể tránh khỏi áp bức, bách hại. Cộng đồng tin kính Ðức Kitô không thể được yên ổn. Ðó là điều Công vụ nói đến kế tiếp. Stephanô đã bị lôi ra ngoài thành Giêrusalem ném đá. Dầu vậy cộng đồng vẫn cứ lớn mạnh. Họ vẫn thu hút anh em đồng bào tin cậy vào Ðức Kitô. Các cơn bách hại chỉ như các trận bão lớn, tung vãi hạt giống Ðức tin ra khắp miền Tiểu Á. Thánh Luca thỉnh thoảng dừng các trình thuật của ngài lại, để ghi nhận về con số ngày càng lớn mạnh của Hội Thánh tiên khởi (2,41-47.6,7). Nhờ việc các Tông đồ hằng thực hiện các phép lạ như Ðức Kitô đã làm khi Ngài còn sống "Nhiều việc diệu kỳ và dấu lạ của các Tông đồ…" mà các thành viên của cộng đồng cảm nghiệm được rằng Chúa Giêsu không hề rời bỏ họ. Ngài còn luôn hiện diện với họ. Họ chăm chỉ nghe giáo huấn các Tông đồ, cầu nguyện nơi đền thờ và dự lễ bẻ bánh ở nhà. Chẳng phải vì hoài niệm Ðức Kitô mà thôi. Nhìn lại phía sau để tưởng nhớ những thời gian đã qua. Họ cũng nhìn về phía trước, cử hành ngày Chúa sống lại, dự Agapê chung với nhau trong viễn tượng hy vọng ngày nào đó họ cùng dự tiệc với Ðức Kitô trên nước trời.

Ðọc Tông đồ Công vụ, chúng ta có chút cảm giác bình an, thanh thản, và cũng có kiến thức về cuộc sống cộng đoàn mà Chúa Kitô phục sinh đã quy tụ. Cộng đoàn này khá hoàn hảo, cùng nhau chia sẻ của cải, tài năng và phụng vụ. Các thánh Tông đồ tiếp tục thực hiện những dấu lạ và kỳ quan như Chúa Giêsu đã làm. Suy nghĩ sâu hơn chúng ta có thể nhìn ra những "Phép lạ" như thế trong Hội Thánh và trong các cộng đồng tín hữu ngày nay. Có lẽ thánh Luca đã dùng giọng văn thanh bình như vậy để khích lệ cộng đoàn của ngài và chúng ta ngày nay hoạt động nhân danh Chúa Kitô. Ngài muốn nói : "Xem đó, đây là một mẫu mực lý tưởng. Anh chị em hãy sống theo mẫu mực đó."

Nhưng tôi lại không dám dùng giọng điệu "cha, chú" trách móc anh chị em trong cộng đoàn rằng : "Ngày xưa các tín hữu như vậy đó, còn chúng ta thật quá tệ hại". Sự thực thì thời nào cũng vậy thôi. Họ cũng là người và chúng ta cũng là người. Họ có những vấn đề của họ, và ngày nay chúng ta cũng có những vấn đề của chúng ta. Có lẽ bài đọc II trích từ thơ thứ nhất của thánh Phêrô thực tế hơn : Lá thơ ca ngợi Thiên Chúa vì đức tin chúng ta đã nhận được và hy vọng từ cuộc sống lại của Ðức Kitô. Chúng ta được hân hoan vui mừng nhưng vẫn còn chịu thử thách trăm chiều để đức tin đó được tôi luyện tinh tuyền y như vàng chịu thử lửa để tẩy sạch mọi vết nhơ bẩn.

Tóm lại, các bài đọc từ sách Công vụ của các Chúa Nhật Phục sinh loan báo triều đại Thiên Chúa đang xuất hiện, qua lời rao giảng và việc làm của các môn đệ Chúa Giêsu, qua đời sống chung của các cộng đoàn tiên khởi. Ngày nay, qua đời sống Giáo hội, triều đại đó luôn luôn tồn tại, dù rằng chúng ta là thành viên hay không, dù rằng chúng ta về phe với những phần tử bị xã hội ruồng bỏ, những hoạn quan, người Galilê, dân ngoại, hay chúng ta về phe với xã hội định chế cũ chối bỏ ơn Phục sinh của Chúa Giêsu. Có thể rằng lý thuyết chúng ta chấp nhận, nhưng việc làm thì không. Ðó là thái độ rất phổ biến hiện nay, kể cả trong hàng ngũ gọi là đạo đức gương mẫu. Chúng ta đứng về phe "phạm thượng" Stêphanô hay hàng ngũ nghiêm chỉnh của tôn giáo truyền thống, ngay cả tên Thiên Chúa cũng phải kiêng không dám nói đến ? Rào cản đã được Ánh sáng Chúa Phục sinh phá đổ. Công vụ đã tuyên bố như vậy bằng nghi thức Thánh tẩy liên kết mọi loại người trong Ðức Kitô và Thần Khí của Ngài.

Nếp sống lý tưởng thánh Luca mô tả trong Công vụ đòi hỏi mỗi người phải có sáng kiến thiêng liêng trong cộng đồng giáo xứ, tu hội. Trên bình diện toàn cầu Giáo Hội cũng phải tỏ ra nhạy cảm với những hoàn cảnh đòi hỏi chứng tá của Chúa Giêsu. Dầu phải hy sinh cũng không thể tránh né. Chúng ta giống hoặc không giống cộng đoàn tiên khởi Giêrusalem ở điểm này, tức sống thế nào cho thế gian nhận biết Chúa đã sống lại. Liệu những người thất học, ngu muội, những người bất hạnh, nghèo đói, tàn tật cảm thấy thoải mái vì sự chăm lo của chúng ta ? Liệu còn có những người tuy vẫn lui tới nhà thờ, nhưng không hề thuộc về cộng đồng giáo xứ ? Họ vẫn đứng ngoài sinh hoạt của giáo xứ, và giờ kinh lễ là những thời khắc không thuộc nếp sống chung của gia đình họ ? Liệu những nhóm thiểu số, dân di dư, thất nghiệp, các tù nhân, bệnh tật có cảm thấy là thành viên của cộng đoàn ? Chỉ khi nào tất cả mọi người đều được trân trọng, thương yêu, hiệp nhất lúc ấy mới có ơn phục sinh đích thật của Chúa Giêsu. Amen. Alleluia.


Fr. Jude Sicilianô, OP.

Kiến tạo cộng đoàn phục sinh trong Đức Kitô
(Ga 20, 19-31)

Thưa quý vị,

Năm 2002 chúng ta đã suy niệm kỹ về cộng đoàn tín hữu tiên khởi đúng như thánh Luca mô tả trong sách Tông đồ công vụ : “Họ đồng tâm nhất trí để mọi sự làm của chung, ngày ngày chuyên cần cầu nguyện trong đền thờ, dự lễ bẻ bánh tại tư gia, dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến.” Hôm nay chúng ta nhìn họ từ khía cạnh khác, nhân bản hơn và sát với thực tế hiện nay ở các giáo xứ của chúng ta hơn. Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận, có điều gì đó đặc biệt nơi họ, và mức độ nào đó nơi cộng đồng chúng ta. Nếu cứ theo quan điểm loài người thì khó mà tin các tín hữu tiên khởi có sự đoàn kết nhất trí như vậy, trừ phi họ là những vị thánh sống hoặc từ hành tinh khác đến. Họ toàn thiện toàn bích đến độ “không tì ố, không vết nhơ” như thánh Phaolô miêu tả hội thánh trên trời. Thực tế, họ cũng chỉ là những tín hữu bình thường, chịu đựng trăm ngàn căng thẳng nội bộ và bách hại từ tay các lãnh đạo tôn giáo Do thái và quyền bính Rôma. Về phương diện nội bộ, họ thuộc thành phần những nhóm khác nhau : Pharisêu , Zelot, Tư tế, kiều bào Do thái, Hy lạp, Ponto, Tiểu A như thánh Luca liệt kê trước đó ở chương 2. Về địa vị xã hội, họ thuộc nhiều giai cấp khác nhau như thương mại, nông dân, công chức, văn hoá Hy lạp, văn hoá Do thái, giàu có, nghèo hèn v.v. Tôi có thể tưởng tượng dù họ thuộc về một làng hay một thành phố đi nữa, thì vẫn có những căng thẳng trong cộng đoàn vì những khác biệt ý kiến, cá tính, mục tiêu, như chúng ta từng kinh nghiệm trong các giáo xứ. Cho nên tôi rút ra kết luận là thánh Luca cố gắng chọn lựa điều chi tốt nhất trong họ mà thôi, ngõ hầu làm gương mẫu cho các cộng đoàn tín hữu khác mà ông cộng tác với thánh Phaolô thành lập trên các hành trình truyền giáo. Đặc biệt ông nhấn mạnh ơn Thần khí hoạt động để cho thấy Chúa đã sống lại. Ngài là men chính yếu trong họ, đủ khả năng thay đổi cuộc sống của mỗi người, làm cho cộng đoàn trở nên dấu chỉ về sự phục sinh của Chúa. Nếu suy luận như vậy là đúng thì hiện nay chúng ta cũng phải cố gắng sống thánh thiện, sao cho thế gian cảm nghiệm được Chúa đang sống giữa chúng ta ! Nếu không, đối với họ, Chúa chưa sống lại, và chúng ta phải chịu trách nhiệm nặng nề về điểm này.

Suốt trong phần còn lại của sách Công vụ, thánh Luca cho thấy rõ ràng những vật lộn nội bộ của Giáo hội tiên khởi để duy trì hiệp nhất và giáo lý tinh tuyền. Chúng ta phải lưu ý đến điểm này khi đọc sách, kẻo lãng quên cố gắng của họ hoặc coi họ như lý tưởng xa rời thực tế của các cộng đoàn tín hữu ngày nay. Ông mô tả họ như hoàn toàn đồng tâm nhất trí, để mọi sự làm của chung, phân phát cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu, có thể khiến cho các tín hữu tân thời cảm thấy bất lực, tội lỗi, nếu đem so sánh với nếp sống của họ. Thực ra ngay trong nếp sống tu viện, đan tu nam nữ bây giờ cũng chưa đạt tới mức hoàn hảo như vậy, nói chi ở trình độ giáo dân với bao nhu cầu của con cái gia đình. Nhận định như vậy xong, chúng ta được phép đi xa hơn vào những viễn tượng của Tông đồ công vụ. Thực ra cộng đoàn tiên khởi có sức thu hút tân tòng rất mạnh mẽ. Thánh Luca thường dừng lại trong khi viết, để kiểm điểm số các giáo dân. Thí dụ 2, 41 : “Vậy những ai đón nhận lời ông đều chịu phép rửa. Và hôm ấy có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.” 6,7 : “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.” Họ thường xuyên hội họp để nghe các tông đồ rao giảng Lời Chúa, sốt sắng cầu nguyện, bẻ bánh ở nhà và chăm sóc các nhu cầu tha nhân (4, 32).

Lối sống đạo đức, bác ái của họ tương phản với cuộc sống bê tha của các người đồng thời. Giàu có, địa vị, ích kỷ, văn hoá địa phương, thói tục dị đoan là những điều người ta ưa thích tìm kiếm, thành thử trong bất cứ xã hội nào yếu tố chia rẽ vẫn nhiều hơn là đoàn kết. Thế giới của loài người là như vậy. Chúng ta vẫn được chứng kiến ngày hôm nay. Tuy rằng người ta hô hào bao dung, liên đới nhưng chia rẽ vẫn rõ nét hơn, chiến tranh chưa bao giờ chấm dứt, hoà bình ít có cơ hội tồn tại. Những cộng đồng tín hữu cũng không tránh khỏi các áp lực đó. Cho nên hằng ngày chúng ta phải cố gắng hiệp nhất như Đức Kitô đòi hỏi. Điểm son của thánh Luca là ông luôn đi theo chiều hướng hiệp nhất. Sau khi Chúa chịu chết và sống lại ông luôn chỉ ra cho chúng ta Thần khí Chúa hoạt động giữa các tín hữu tiên khởi, thúc đẩy họ sống một nếp sống hoàn toàn mới, chân thành và thánh khiết. Họ được thiên hạ nhận ra dễ dàng nhờ nếp sống đặc biệt mà đức tin đào tạo nên. Họ là hy vọng giữa thế giới đồi truỵ chết chóc.

Cho nên không lạ gì họ thu hút được nhiều tâm hồn thiện chí đi tìm Thiên Chúa. Thiên hạ nhận ra rất rõ họ không phải là phe phái khép kín kiểu Phariseô, Zelot, tư tế, ký lục, trưởng lão. Ngược lại họ hoàn toàn cởi mở, sẵn sàng đón nhận những hội viên mới, thuộc đủ mọi sắc dân, thành phần xã hội. Kết quả như thánh Luca mô tả là nếp sống của các tín hữu tiên khởi có tác động mạnh mẽ trên các người xung quanh : “Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (2, 47). Ngày nay chúng ta chẳng được như vậy nên phải học hỏi ở họ rất nhiều, phải thực sự thi hành đức tin để làm chứng cho Tin Mừng mà chúng ta đã lãnh nhận. Với lòng tin kính đổi mới trong đêm lễ Phục sinh, chúng ta hạ quyết tâm dấn thân hơn nữa vào các nội dung mà anh chị em tiên khởi đã làm gương : Lắng nghe giáo lý các tông đồ, cầu nguyện tập thể và tham dự nghi lễ bẻ bánh.

Ngoài ra phải chia sẻ gánh nặng cho nhau và chăm sóc nhu cầu của hàng xóm láng giềng. Có thể nói rằng, xét theo trình thuật của Tông đồ công vụ, các tín hữu tiên khởi không thánh thiện hơn chúng ta, không được nhiều Thánh Thần hơn chúng ta, không hẳn cao cấp hơn chúng ta. Nhưng rõ ràng họ tích cực hơn trong việc rao truyền Chúa phục sinh và biểu lộ các ơn huệ của Người cho tha nhân.

Những điều kiện mà họ có được thì ngày hôm nay chúng ta cũng có. Thí dụ : nếp sống mới trong Thiên Chúa qua Đức Kitô. Thánh thần thúc đẩy và hướng dẫn qua những nhiêu khê của thế giới. Trước bài đọc hôm nay, thánh Luca thuật lại biến cố Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các tông đồ tại nhà tiệc ly vào ngày lễ Ngũ tuần và chúng ta cũng cảm nghiệm sự kiện ấy nếu đời sống đầy lòng sốt sắng như các ngài. Trong bản văn, thánh nhân tỉ mỉ mô tả đời sống các tín hữu lúc ấy. Tuy chỉ là người phàm nhưng họ được Thần khí đào tạo thành một cộng đoàn bác ái, yêu thương và sùng mộ. Những điều này vẫn là dấu chỉ một cộng đoàn đầy Thánh Thần cho thế hệ ngày nay. Chúng ta chẳng thể chối cãi được. Chính cuộc sống các tín hữu bày tỏ sự hiện diện của Thánh Linh. Ngược lại, ích kỷ, chia rẽ, co cụm là tình trạng thiếu thốn ơn Thánh Linh trong cộng đoàn.

Cho nên, chúng ta có cơ sở để lượng định mình trong buổi phụng vụ hôm nay. Có sẵn lòng tha thứ những lỗi lầm cho nhau hay không ? Có cố gắng hàn gắn các bất hoà quá khứ, cảnh giác những chia rẽ tương lai ? Củng cố các mối dây ràng buộc bằng hy sinh hãm mình ? Hay cố tình vi phạm lề luật chung ngõ hầu các dục vọng được thoả mãn ? Những câu hỏi tương tự sẽ cật vấn lương tâm mỗi thành viên của cộng đoàn một cách mạnh mẽ, nhờ đó cộng đoàn có thể sửa sai và thăng tiến. Chúa Thánh Linh nuôi dưỡng chúng ta bằng ân huệ của Ngài, ngõ hầu chúng ta can đảm làm chứng cho Chúa Kitô trong nếp sống thương yêu, bác ái, chăm lo những nhu cầu thiêng liêng cho nhau. Trong một thế giới đầy dẫy mâu thuẫn, cạnh tranh, cộng đoàn tín hữu thực sự là phản chứng của tinh thần thế tục, là dấu chỉ của triều đại Thiên Chúa giữa thế gian. Chúng ta sống khác biệt mọi người vì đức tin vào Đấng Phục Sinh. Lễ mừng Chúa sống lại chỉ cách đây một tuần, ảnh hưởng của nó còn mạnh mẽ.

Trong Công vụ tông đồ, thánh Luca cho thấy các tín hữu tiên khởi bị choáng ngợp hoàn toàn bởi sự hiện diện Chúa trỗi dậy. Họ hành động theo ân huệ Chúa Thánh Linh thúc giục và can đảm bung ra khỏi tổ kén để rao giảng ơn này cho thế gian. Chúng ta ngày nay cũng phải có tinh thần đó. Nó là lý do tồn tại của Hội thánh. Ông già Noel, lễ hội Giáng sinh, là những yếu tố không thể thiếu để nhân loại mừng Đấng Emmanuel ra đời, thì các quả trứng màu, những con thỏ con tinh nghịch cũng là phần căn bản để những người ngoài Công giáo nhận ra đại lễ Chúa phục sinh. Tuy nhiên, có điều khác biệt là các tín hữu tiên khởi đón nhận Chúa sống lại một cách trịnh trọng và sống theo các đòi hỏi của Ngài thật nghiêm túc. Nghĩa là, Chúa đã sống lại và Ngài đã thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống Kitô hữu. Họ sinh hoạt đúng theo sự dẫn dắt của Thần khí Ngài. Đáng lý, chúng ta phải hành động tương tự bởi cũng đuợc lãnh bí tích rửa tội trong đêm Phục sinh. Nhưng thực tế không được như vậy. Chúng ta chỉ mừng lễ với dáng vẻ bên ngoài, các sinh hoạt ồn ào. Còn tâm hồn rỗng tuếch. Sự kiện phục sinh của Chúa chẳng ảnh hưởng đến nếp sống chúng ta bao nhiêu, vẫn tìm kiếm lợi lộc bất chính, danh vọng hão huyền, ganh đua bẩn thỉu. Tóm lại, chẳng có thay đổi chi hết trong cách ăn nết ở.

Một điểm khác cần lưu ý : Chúng ta cử hành mầu nhiệm Chúa sống lại không chỉ theo tính cách cá nhân. Nhưng chính xác hơn theo tiêu chuẩn cộng đoàn các kẻ tin kính. Nói kiểu khác, không chỉ từng người mà tập thể. Không ai mừng lễ một mình, mà cùng với anh chị em đồng đạo. Đức tin vào Chúa sống lại khiến chúng ta dấn thân xây dựng một cộng đoàn hiệp nhất trong Chúa Kitô. Tuy không hy vọng toàn hảo toàn bích, nhưng chứng tỏ Chúa đang hiện diện giữa chúng ta. Nhưng xin đừng hiệp nhất theo tính cách giả hình, đeo mặt nạ để cho thế gian xem thấy và tin rằng chúng ta yêu thương nhau. Nhưng kỳ thực ghen ghét, chia rẽ, tẩy chay. Hãy thành thực tự trong tâm hồn và đừng hy vọng các khác biệt tự dưng biến mất. Sự hiệp nhất không có nghĩa là đồng nhất. Cho nên phải cố gắng xây dựng cộng đoàn bằng sự thật khách quan, không “cả vú lấp miệng em” hay thái độ cha chú đối với các thành viên thấp cổ bé miệng. Chúng ta phải kiên nhẫn lắng nghe những ý kiến đối nghịch. Sự thật có thể được một con trẻ nói lên, như trường hợp Đaniel xử án mấy lão già Do thái sa đoạ (Đn 13, 46).

Ở đời thường, người ta hay lấp liếm sự thật để được lợi cho mình. Nhưng chúng ta hãy can đảm bênh vực sự thật và lẽ phải, bởi sự thật sẽ giải phóng chúng ta (Ga 17, 17). Mặt khác, chúng ta phải sẵn lòng tha thứ cho nhau vì không ai tránh khỏi lầm lỗi. Tiếng La-tinh có câu ngạn ngữ “Errare humanum est” (sai lầm thuộc bản chất con ngươi). Cho nên tha thứ đòi hỏi lòng can đảm và kiên trì vượt bậc. Có tác giả nói nó thuộc quyền năng của Thượng Đế. Cần một phép lạ để có thể tha thứ hoàn toàn. Sự thật, tha thứ nằm trong phạm vi của tình yêu. Không có tình yêu, không thể tha thứ. Ví dụ, cha mẹ dễ dàng tha thứ cho con cái bởi họ yêu thương chúng. Như vậy, trong cộng đoàn phải vun trồng yêu thương bác ái, ngõ hầu có khả năng tha thứ cho nhau. Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ điều răn yêu thương cũng là vì mục tiêu ấy, để họ tha thứ cho nhau. Lúc đó, họ mới được tham dự nghi lễ bẻ bánh, cầu nguyện chung và đáp ứng những nhu cầu của kẻ khác. Ngoài ra, việc là phần tử của cộng đoàn phục sinh còn giúp tín hữu vượt qua khó khăn trong cuộc đời họ, kiện cường đức tin khi thử thách ập tới. Bởi biết mình không cô đơn trong những cơn cám dỗ, đã có những anh chị em đồng đạo khác cùng chịu đựng với mình. Họ khích lệ chúng ta vững bền trên bước đường theo Chúa. Thánh Phêrô ở bài đọc 2 quả quyết như vậy : “Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội. Vàng là của phù vân mà còn phải thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời ngợi khen và đem lại vinh quang, danh dự.” Nghĩa là những thử thách của các tín hữu sinh ích lợi cho toàn thể Hội thánh chứ không cho một mình đương sự. Còn chi danh dự hơn ?

Viết đến đây tôi lại nhớ câu truyện “Ba chàng ngự lâm pháo thủ”. Trong lúc khó khăn không biết quay vào đâu để cầu cứu, ba chàng lính đã nói với nhau : “Mọi người vì một người và một người vì mọi người”. Chúng ta phải lợi dụng nó để xây dựng Hội thánh, nếu thực sự tin vào chân lý của nó. Những thực tại siêu nhiên quí báu hơn vật chất bội phần. Chúng ta được phúc lãnh nhận chúng đầy đủ trong Mùa này. Nhất là sự kiện Chúa đã trỗi dậy từ cõi chết bảo đảm cho sự sống vĩnh cửu của mỗi người. Chúng ta sẽ vì Hội thánh mà kiến tạo cộng đoàn, có Chúa Giêsu phục sinh ngự giữa. Ước chi, vì thế mà nhiều linh hồn sẽ quy tụ về bên Đấng ban sự sống đời đời cho họ. Amen. Allêluia.


G. Nguyễn Cao Luật op

Gặp gỡ với Đấng phục sinh
Ga 20,19-31

Chúc anh em được bình an

Câu chuyện xảy ra vào buỗi chiều ngày Phục Sinh. Cho đến lúc này, cái chết đau thương của Ðức Giêsu vẫn là ám ảnh lớn nhất trong tâm trí các tông đổ. Các ông buổn bã, thất vọng, và hơn thế nữa, các ông sợ người Do-thái trả thù. Các ông tụ họp nhau tại một căn phòng -có lẽ là căn phòng ở đó các ông đã cử hành bữa tiệc vượt qua. Như là để tóm lại những kỷ niệm thân thương, êm đềm nhất của Vị Thầy đã từng chia sẻ với các ông biết bao nhiêu buổn vui. Các ông tụ họp nhau như để sống lại những biến cố, những hình ảnh của Vị Thầy mà các ông đã gửi trọn niềm hy vọng, đã trao phó cả cuộc đời. Và các ông tụ họp bên nhau như là để tìm một sức mạnh, để cùng nhau chia sẻ nỗi sợ hãi đang đè nặng trên mỗi người.

Thình lình, tại căn phòng ấy, khi các cửa đều đóng kín, Ðức Giêsu đã xuất hiện giữa các môn đệ và ngõ lời chào : "Chúc anh em được bình an".

Thật là một lời chào ý nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh bi đát của các môn đệ. Tuy vậy, lời chào được kể ra ba lần trong hai lần gặp gỡ không chỉ có mục đích trấn an các môn đệ. Lời chào ấy cũng không chỉ có tính cách xã giao, không chỉ là một lời cầu chúc, một lời hứa ; trái lại, đó là một thực tại, một ân huệ.

Ngay sau lời chào, Ðức Giêsu đã cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người mà các ông đã tận mắt nhìn thấy đã chết trên thập giá, đã bị đâm thấu cạnh sườn. Trước mặt các môn đệ là con người đã từng sống với các ông, đã giảng dạy, đã làm nhiều phép lạ ... Người hiện diện giữa các ông để trao tặng cho các ông ân sủng phong phú của mầu nhiệm Phục Sinh. Người đã trải qua cái chết, đã chiến thắng nó, và giờ đây, Người không còn bị giới hạn bởi những điều kiện không gian và thời gian. Người hiện diện ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào và trao tặng hổng ân của con người đã vượt qua cái chết.

Cũng ngay sau lời chào, Ðức Giêsu thổi hơi vào các môn đệ và bảo : "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần". Hình ảnh này nhắc lại câu chuyện xa xưa, khi Thiên Chúa sáng tạo con người. Lúc khởi đầu vũ trụ, Thiên Chúa đã thổi hơi vào lỗ mũi của A-đam và ban cho ông sự sống. Nhưng lần này, hơi thở Ðức Giêsu thổi trên các môn đệ là một ngôi vị, đó là Thánh Thần, mà một trong những hoa quả của Thánh Thần là bình an (x. Gl 5,22).

Rổi, liền sau đó, Ðức Giêsu trao quyền cho các môn đệ để các ông tiếp tục công trình của Người. Các ông đã được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, đã đón nhận bình an, đã lãnh nhận Thánh Thần, các ông sẽ phải ra đi để loan báo, để làm chứng, trước hết cho người môn đệ vắng mặt : ông Tô-ma.

Phúc thay những người không thấy mà tin

Khi ông Tô-ma vắng mặt, Ðấng Phục Sinh đã hiện ra với các môn đệ khác, đã cho các ông nhìn thấy những vết thương để minh chứng cho các ông hiểu Người đã sống lại, đã hoàn tất công trình cứu độ.

Khi các môn đệ nói với ông Tô-ma : "Chúng tôi đã được thấy Chúa", ông đã không tin. Ông nghĩ rằng mình cũng phải có kinh nghiệm như các môn đệ kia : "Nếu tôi không thấy ... nếu tôi không xỏ ngón tay ...". Không phải rằng Tô-ma không muốn tin, nhưng ông mong muốn có bằng chứng cụ thể, muốn có một kinh nghiệm trực tiếp, kinh nghiệm cá nhân về Ðức Giêsu. Chính vì thế, trong lần gặp gỡ thứ hai, Ðức Giêsu đã nói với ông Tô-ma : "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy".

Như vậy, đức tin Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ cá nhân với Ðức Giêsu Kitô. Ðức tin đó không khởi đầu từ bất cứ điều gì khác, dù đó là Sách Thánh hay truyền thống tôn giáo, nhưng khởi đầu từ một con người sống động : Ðức Giêsu là Chúa.

Trong câu chuyện này, có thể các môn đệ đã đi trước Tô-ma một bước. Thế nhưng, để tin vào mầu nhiệm Phục Sinh, các ông vẫn cần có những chứng cớ. Nói cách khác, các ông không thể tin rằng Ðức Kitô đã phục sinh nếu như Người không hiện ra cho các ông. Các ông cần có kinh nghiệm cụ thể, hữu hình để rổi các ông sẽ là chứng nhân cho các thế hệ mai sau. Không nên hiểu câu nói của Ðức Giêsu với ông Tô-ma như là một lời trách móc, trái lại nên coi đó như một lời khuyến khích, động viên không phải ai cũng có diễm phúc được nhìn thấy Ðấng Phục Sinh, nhưng ai cũng phải tin vào Người, dựa trên lời chứng của những người đã nhìn thấy, tức là các môn đệ.

"Lạy Chúa, là Thiên Chúa của tôi"

Làm sao có được niềm tin chân thực khi mà ngay cả ông Tô-ma cũng chưa nhận ra Ðức Giêsu Phục Sinh đang hiện diện cách thể lý.

Nghi ngờ ! Một thái độ quen thuộc.

Con người dường như luôn chìm trong thái độ nghi ngờ. Trong các biến chuyển của xã hội, trên khuôn mặt của đám đông dân chúng, dường như chẳng có gì là thần thiêng, chẳng có gì chứng tỏ sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh.

Tuy vậy, chính đức tin cho chúng ta hiểu rằng Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện giữa nhân loại. Cần phải ghi nhớ điều này : hoạt động của Người càng âm thầm, thì hoạt động ấy càng mãnh liệt. Ðấng Phục Sinh vẫn đang hiện diện cách sâu xa và hiệu quả hơn khi Người mang thân xác con người. Ðó chính là điều người Kitô hữu phải khám phá, phải sống và loan báo.

Kinh nghiệm của môn đệ Tô-ma thực là gương mẫu cho chúng ta, đó là khao khát quyền năng của mầu nhiệm Phục Sinh thể hiện trong cuộc đời của mình cũng như của cộng đổng. Chúng ta không chỉ mong đụng chạm với Ðấng Phục Sinh cho bằng muốn Người bày tỏ sức mạnh của Người để giải thoát chúng ta khỏi những nghi ngờ. Chính lúc ấy, và chỉ vào lúc ấy, Ðức Giêsu mới thực sự là "Chúa, là Thiên Chúa của tôi".

* * *

Ôi Ðức Kitô Phục Sinh,
Chúa là Ðấng Hằng Sống.
Nhờ Thánh Thần của Chúa Cha,
Chúa đã phục sinh vinh hiển,
xin đến và mở toang cánh cửa tâm hổn
của mỗi người cũng như của cộng đoàn chúng con.

Xin ánh sáng rạng ngời của Chúa
xua tan bóng tối sợ hãi đang vây phủ chúng con.

Ôi Ðức Kitô Phục Sinh,
Chúa là ân huệ đầu tiên,
là ân sủng cao quý nhất do Chúa Cha trao tặng,
xin ban cho chúng con
nhũng ân huệ có sức cứu độ :
đó là niềm vui, sự tha thứ.

Xin nói với chúng con :
"Chúc anh em được bình an".
Ước gì chiến thắng của Chúa trên sự dữ
giải thoát chúng con
khỏi những chia rẽ và hận thù,
và ban cho chúng con
ơn cứu độ và niềm vui.

Ôi Ðức Kitô vinh hiển,
xin cho chúng con được chạm đến
những dấu hiệu cho thấy sự hiện diện mới của Chúa
đó là cộng đoàn Thánh Thể,
là việc chia sẻ Bánh Thánh và Tình Thương
để như môn đệ Tô-ma
chúng con đủ tin để tuyên xưng rằng :
"Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi".


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra
(Ga 20,19-31)

Khi Chúa Giêsu Phục Sinh, Ngài đã hiện ra nhiều lần, một trong những lần đó là Chúa đã hiện ra với các môn đệ đang tụ họp nhau trong phòng tiệc ly, cửa đóng kín, vào buổi chiều ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Chúa cho họ xem các thương tích ở tay và cạnh sườn Ngài, để chứng thực Ngài đã sống lại, nhưng hôm ấy không có mặt ông Tô-ma. Vì thế, khi nghe các bạn kể lại, ông nhất định không tin và cho rằng chính khi mắt ông nhìn thấy và tay ông kiểm chứng ông mới tin. Tám ngày sau, tức là vào Chúa Nhật một tuần sau đó, như bài Tin Mừng hôm nay thuật lại, Chúa Giêsu hiện đến lần nữa và gọi ông Tô-ma ra kiểm chứng tay và cạnh sườn Ngài, lúc ấy ông Tô-ma mới tin. Nhân dịp này Chúa bảo cho các môn đệ biết : “Phúc thay những người không thấy mà tin”.

Chúng ta thấy, ông Tô-ma là người có óc thực tế, có vẻ chậm hiểu và chậm tin hơn các môn đệ khác. Điều đó cũng bình thường thôi, ông có đủ lý do chính đáng để nghi ngờ như vậy, vì ông chưa được thấy Chúa như các môn đệ khác. Và sự kiện ông đòi chính mình phải kiểm chứng mới tin, lại có lợi cho chúng ta, vì là dịp Chúa Giêsu liên tưởng đến đông đảo những Kitô hữu, từ đó cho đến ngày cánh chung sẽ tin vào Ngài. Chúa chúc phúc cho họ, vì họ là những người, dù không thấy tận mắt biến cố Phục Sinh, nhưng vẫn tin vào Ngài, tin Ngài là con Thiên Chúa, đã làm người, chịu chết và sống lại để cứu chuộc họ. Chúa chúc phúc cho họ, vì họ không được cái cơ may trực tiếp đối diện sống chung với Chúa Giêsu Na-da-rét và Đức Kitô Phục Sinh như các môn đệ, mà họ phải qua những quá trình tìm kiếm đức tin bằng nhiều ngả khác nhau. Nói khác đi, từ sau thánh Tô-ma sấp lên, việc sờ mó vào thân xác Chúa như Tô-ma sẽ không bao giờ được nữa. Từ đó người ta tin vào Chúa qua thế giá của Kinh Thánh, của Giáo Hội, của các bậc tiền nhân. Cũng như chúng ta biết một sự kiện lịch sử hay một nhân vật lịch sử nào đó, là do sách vở ghi chép lại hay do cha ông kể lại. Thì cũng vậy, từ đây việc Chúa Phục Sinh được Kinh Thánh ghi lại, và nhờ vào thế giá của bao nhiêu thánh nhân, của chính Giáo Hội hiện hữu, ai tin qua đó là diễm phúc.

Quả thực, tin là biết một cách gián tiếp, điều gì chính chúng ta đã thấy, đã chứng kiến thì chúng ta biết, không cần phải tin. Tin là chấp nhận điều chính mình không thấy, nhưng dựa vào lời chứng của một người khác đáng tín nhiệm. Trong đức tin, chúng ta chấp nhận có Thiên Chúa và chấp nhận các chân lý của Ngài, mặc dầu chúng ta không thấy Ngài và không thấu hiểu các chân lý đó. Chúng ta chấp nhận vì tin nhiệm vào Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa, và vào Giáo Hội, là trung gian truyền giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chúng ta không thể hiểu thấu những điều chúng ta tin, không phải vì chúng phi lý, nhưng chỉ vì lý trí chúng ta có giới hạn. Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối và vô biên, lý trí của chung ta trong giới hạn chật hẹp của nó, làm sao có thể hiểu thấu về Ngài. Vì chúng ta không thể hiểu thấu về Thiên Chúa và các chân lý của Ngài, nên chúng ta không thể chứng minh một cách hiển nhiên và đầy đủ được. Tôn giáo và khoa học khác nhau ở chỗ đó. Các định luật khoa học có thể kiểm chứng được bằng thí nghiệm. Trái lại, các chân lý tôn giáo vượt lên trên tầm hiểu biết của giác quan và lý trí, nên không thể chứng minh nguyên bằng lý luận. Các bằng chứng đưa ra chỉ giúp dễ hiểu hơn phần nào, chứ không thể thay thế được cảm nghiệm trong tâm hồn và sự tự do chọn lựa của mỗi người. Do đó, muốn hiểu được khoa học chỉ cần thông minh, còn muốn tin, thì phải có lòng thành và ơn Chúa.

Đã nói đến vấn đề tin, thì bao giờ cũng là chấp nhận một cái gì đó không đủ hiển nhiên, không thể kiểm chứng được, giống như hai người nam nữ hứa trọn đời yêu nhau, họ buộc phải tin nhau điều đó, không có gì đảm bào là anh sẽ trung thành với em trọn đời, nhưng em đã tin, và có thế mới là tình yêu. Thật ra, hai người hứa yêu nhau, cũng phải chắc chắn một cách nào đó, là người kia sẽ trung thành chung thủy với mình. Nhưng cái chắc chắn đó là cái chắc chắn của niềm tin, nó không phải là chắc chắn của khoa học. Vậy chúng ta phải nhìn nhận : có một sự chắc chắn khác với sự chắc chắn của khoa học, một thứ chắc chắn bấp bênh vì dựa trên những ngôi vị ý thức và tự do. Đó là thứ chắc chắn của lòng tin của chúng ta đới với Thiên Chúa, và các chân lý, các mầu nhiệm trong đạo.

Sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh là một trong các chân lý đó. Phục Sinh là một mầu nhiệm. Hơn nữa Chúa Giêsu Phục Sinh là một mầu nhiệm tuyệt vời mà khoa học không tài nào kiểm chứng được, như người ta kiểm chứng một cuộc chiến thắng hay một biến cố lịch sử nào khác. Sự kiện Phục Sinh không diễn ra theo định luật tự nhiên, nên chỉ những người tin hữu Chúa Giêsu, tức là người được hưởng nhờ hồng ân đặc biệt của đức tin Kitô giáo, mới nhận ra được mà thôi. Vì thế, tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, thì chúng ta hãy sống an vui, ngược lại đừng sống như Chúa đang chết hay là chúng ta đang chết. Nhưng nhớ rằng Chúa Phục Sinh đang sống và sống cạnh chúng ta, sẵn sàng giúp chúng ta trên mọi cảnh ngộ. Tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh nên ta có hy vọng và trách nhiệm : hy vọng vì chúng ta cũng sẽ được phục sinh như Chúa. Trách nhiệm của chúng ta là tiếp tục loan truyền sự phục sinh cho mọi người. Chúng ta phải có Chúa Phục Sinh trong lòng để đi loan truyền cho tới khi Chúa lại đến.

Tóm lại, Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết, để sống lại vinh quang và truyền sức sống cho Giáo Hội. Giáo Hội là tập hợp mọi kẻ tin, thuộc mọi nòi giống, dân tộc, mầu da, tiếng nói … cũng đã sống kết hợp mật thiết và nối tiếp mầu nhiệm khổ nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô. Xin Chúa cho mọi người và mỗi ngưởi chúng ta ý thức rõ rệt để cùng chấp nhận thân phận con người gặp nhiều khổ đau và mong manh, nhưng luôn hăng say làm việc và tin tưởng vào Chúa Kitô Phục Sinh.


Giuse Nguyễn Hải Phương op

Phúc cho ai không thấy mà tin
Ga 20,19-31

Sau khi Phục sinh, Đức Giêsu được Thiên Chúa Cha trao toàn quyền trên trời dưới đất. Nhưng Ngài vẫn yêu thương các môn đệ, “vì các ông sợ người Do Thái” (Ga 20,19). Ngài yêu thương các môn đệ vì các ông như đàn chiên không người chăn dắt, đang hoang mang lo sợ, dù đã được bà Maria Mađalêna cho biết Đức Giêsu đã sống lại. Đức tin của các môn đệ đang bị lung lay. Trong hoàn cảnh buồn thảm như vậy, Đức Giêsu hiện ra, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa sống lại. Các ông vui mừng vì được Chúa viếng thăm và ban bình an. Chúa Giêsu đã đưa các môn đệ ra khỏi sự sợ hãi co quắp, ra khỏi căn nhà đóng kín cửa âm u. Chúa còn ban bình an cho các môn đệ, để các ông kiên vững trong hoàn cảnh khó khăn, đầy thử thách, bất an và dao động. Chúa ban bình an cho các môn đệ để các ông can đảm lãnh nhận sứ vụ được sai đi. Không chỉ ban bình an cho các ông, Chúa Giêsu còn ban cho họ Thánh Thần. Chính Thánh Thần sẽ củng cố và phát triển đức tin của họ. Đồng thời qua các tông đồ, mọi người sẽ lãnh nhận được đức tin và ơn sủng Chúa Thánh Thần.

Thế nhưng, khi Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ thì không có sự hiện diện của ông Tôma. Tôma là môn đệ có suy nghĩ rất thực tế, “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20,25). Điều này cho thấy Tôma rất tin vào chính mình, vào các giác quan. Ông không chịu nghe các môn đệ, nhưng dựa trên những kinh nghiệm thực tế và những suy luận, nên khó đón nhận việc Chúa sống lại và hiện ra với những người khác. Có thể nói rằng, đức tin của ông đã dựa trên những cảm giác nhận thấy được, có thể nghe được, đụng chạm đến được. Ngoài ra còn một lý do khác, vì ông đã tự tách ra khỏi cộng đoàn như Đức Giêsu đã nói: “Và ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Một tuần sau, khi Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ, có cả ông Tôma thì Chúa muốn Tôma được toại nguyện khi Người nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27).

Ngày nay, đức tin của chúng ta dựa trên niềm tin của các tông đồ, là những người đã sống với Chúa Giêsu, đã chứng kiến sự phục sinh của Người và dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin ấy. Chúng ta không chứng kiến tận mắt Chúa sống lại, không “đụng chạm” tới thân thể của Chúa khi Người phục sinh. Dường như để bù đắp cho sự thiếu hụt đó, Chúa đã ban bí tích Thánh Thể để chúng ta cảm nghiệm được tình yêu Chúa, hưởng nếm sự ngọt ngào của Mình và Máu Thánh Người.

“Phúc cho ai không thấy mà tin”, Chúa Giêsu không muốn chúng ta tin cách mù quáng, nhưng Chúa muốn chúng ta tin và sống niềm tin đó trước mặt mọi người. Thánh Giacôbê nói: “Đàng khác, có người sẽ bảo : "Bạn, bạn có đức tin ; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18). Đức tin của chúng ta cần gắn chặt với hành động và cuộc sống của mỗi người. Nhưng trong cuộc sống thường ngày, chúng ta đã hành động thế nào để gìn giữ và phát triển đức tin của mình. Đức tin của chúng ta muốn phát triển phải được Lời Chúa soi sáng và sống Lời Chân Lý đó. Nhìn lại bản thân và tự hỏi, chúng ta đã đón nhận và sống theo lời Chúa chưa ? Nhiều khi chúng ta chỉ mới đón nhận Lời Chúa, còn sống lời Chúa thì dành cho người khác. Nói khác đi, đó là những lúc chúng ta sống niềm tin chỉ ở trên môi miệng, còn tâm hồn thì đầy những suy tính hơn thua, thậm chí còn chối bỏ đức tin.

Niềm tin vào Chúa Phục Sinh là một mối phúc. Mối phúc này không của riêng ai. Nhưng mối phúc này phải được loan báo và chia sẻ cho tất cả mọi người trên thế giới. Chia sẻ niềm tin với những anh chị em chưa có đức tin hoặc còn thiếu đức tin là nhiệm vụ của mọi Kitô hữu.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúng con xin cúi đầu tạ tội và tôn thờ Chúa, vì nhiều lần chúng con đã chối bỏ đức tin của mình và thậm chí dám thử thách cả Chúa. Xin củng cố đức tin cho chúng con, cho chúng con niềm vui thấy Chúa Phục sinh trong mỗi hoàn cảnh sống của mình. Cho chúng con hân hoan sống Tin mừng Phục sinh qua từng nếp suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng con. Xin biến chúng con thành những chứng nhân nhiệt thành giữa lòng thế giới hôm nay. Amen.


Đỗ Lực op

Trời Cao Đất Dầy
(Ga 20:19-31)

Lễ Vọng Phục Sinh 2008, tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, ÐGH Bênêđictô XVI đã rửa tội cho ông Magdi Allam, một tác giả Hồi giáo và nhà phê bình chủ nghĩa chính thống Hồi giáo cực đoan. Trong lá thư gởi giám đốc Báo Il Corriere della Sera ngày lễ Phục Sinh 23-3-2008, Magdi Allam viết : “Phép lạ phục sinh của Chúa Kitô đã soi chiếu trên tâm hồn tôi và giải thoát hồn tôi khỏi bóng tối của một giáo thuyết đầy sự thù ghét và bất bao dung với “người khác” thay vì đặt lên hàng đầu tình yêu và sự kính trọng đối với tha nhân như một nhân vị. Thế là tâm trí tôi được thanh thoát khỏi một thứ ý thức hệ luôn hợp thức hóa sự dối trá và giấu giếm, sự chết chóc bạo lực vốn dẫn đến việc sát nhân và tự sát, sự tùng phục mù quáng và độc đoán. Tôi được tháp nhập vào một tôn giáo đúng thực của Chân lý, của Sự sống và Tự do.”[1]

Không có nhân chứng nào hơn Madgi Allam nói mạnh về sự khác biệt tự bản chất giữa Hồi giáo và Kitô giáo. Nếu lòng bao dung là bản chất của Kitô giáo, thì lòng bao dung đó phát xuất từ đâu ? Tại sao Giáo Hội chọn Chúa Nhật này để kính nhớ về Lòng Chúa Thương xót ?

CUỘC HỘI NGỘ THẦN KỲ

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã xuất hiện giữa cộng đoàn các môn đệ nhiều lần. Ðây là thời gian Chúa mạc khải tất cả lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người qua những dấu đinh vẫn còn in hằn trên thân xác phục sinh. Lúc trước, những dấu đinh đã đóng chặt thân xác Chúa vào khổ giá và khoét sâu nỗi bi thương trong cõi lòng các môn đệ. Nhưng nay, các ông lại thấy đó là những nguồn mạch tuôn chảy dạt dào tình thương vô cùng lớn lao của Thiên Chúa. Ðó là lý do tại sao các môn đệ vui mừng cực độ khi gặp Chúa (x. Ga 20:20).

Càng gặp gỡ Chúa, các ông nhận ra lòng thương xót nơi Chúa Phục Sinh. Chính Thần Khí đã mạc khải cho các ông điều đó. Từ hơi Chúa thở , Thánh Thần sẽ tạo dựng một nhân loại mới trong công chính, bình an và hoan lạc của Chúa phục sinh. Bầu khí bao dung bao trùm toàn thể nhân loại mới. Ðó là lý do tại sao lúc nào hiện ra với các tông đồ, Chúa cũng đều chúc lành : "Bình an cho anh em! " (Ga 20:19.26)

Hầu như Chúa không hiện ra với từng cá nhân, nhưng luôn hiện diện giữa cộng đoàn. Cuộc phục sinh tiêm một sức sống mới vào cộng đoàn. Chúa muốn cho mọi người thấy đạo Chúa mang chiều kích cộng đoàn, từ lời cầu nguyện đến cách sống. Chính trong cộng đoàn, Chúa đã mạc khải tất cả lòng thương xót của Chúa. Dù chỉ để chiều theo ý của Thomas, Chúa cũng không mạc khải riêng với ông trong phòng kín, nhưng Người đã cho ông thấy Chúa giữa cộng đoàn. Chúa muốn cho thấy tầm quan trọng của cộng đoàn trong việc làm chứng cho lòng Chúa thương xót đối với nhân loại.

Lòng thương xót ấy được thể hiện cụ thể nơi quyền tha tội Chúa ban cho các tông đồ. Dĩ nhiên, chỉ có thể thực thi quyền hạn này trong một cộng đoàn những người tin Chúa. Thánh Thomas Aquinas nhận thấy tác giả Phúc Âm liên kết lòng thương xót với lẽ công bình. Khi tha thứ cho con người, Chúa thiết lập công lý cần thiết cho Nước Thiên Chúa. Vì “vắng bóng từ bi, công lý sẽ tàn bạo. Trong khi đó, nếu không có công lý, từ bi là nguyên nhân sinh ra mọi băng hoại tinh thần.”[2] Công lý và từ bi như hình với bóng để bảo đảm hạnh phúc cho con người. Con người yếu đuối, nên cần lượng từ bi, mới có thể sống sót. Nhưng nếu chỉ sống dựa vào lòng từ bi, con người dễ buông thả và ỷ lại. Bởi thế, lòng từ bi và công lý cần đến nhau để lập lại thế quân bình cho cuộc đời. Không nơi nào tìm được thế quân bình tuyệt vời như trong Chúa Phục Sinh.

Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ một khí cụ vô cùng cần thiết để thiết lập công lý và hòa giải con người với Thiên Chúa. Nghĩa vụ đó thật nặng nề. Nếu không có Thần Khí, Giáo hội không thể chu toàn nổi. Nhờ Thần khí, mỗi lần thi hành quyền tha tội, Giáo hội tuyên xưng đức tin nơi lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Ðức Kitô Phục Sinh. Chính Thần Khí đã tạo nên đức tin trong Giáo hội.

Từ đức tin này, Giáo hội ra đi làm chứng cho mọi người bằng lượng từ bi chính Chúa Phục Sinh đã đổ đầy vào lòng Giáo Hội. Diễn tiến đức tin nơi ông Thomas cho thấy rõ lòng thương xót đó. Từ chỗ ông không thể chấp nhận và hiểu được Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, đến lời tuyên xưng vững chắc vào uy quyền và bản tính của Chúa, ông đã trải qua một tiến trình dài của lòng thương xót. Nhưng ông đến với đức tin, không phải do kinh nghiệm cá nhân, nhưng do cộng đồng Giáo hội sơ khai. Khi tuyên xưng như thế, ông đã trở nên người công chính. Nhờ đó, ông đã góp phần xây dựng Giáo hội tiên khởi cùng với các bạn tông đồ khác.

Lịch sử Giáo hội ghi lại thời bấy giờ, “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.” (Cv 2:42) Tất cả được nhào luyện trong Thần Khí để cuộc đời “chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.” (1 Pr 1:8-9) Kết quả, các giáo hữu tiên khởi “được toàn dân thương mến.” (Cv 2:47)

Khi thấy những thay đổi tuyệt đối do đức tin, dân chúng sẽ thấy một sứ điệp mãnh liệt từ Kitô giáo. Sứ điệp phát ra từ một cộng đoàn đầy ắp chứng từ về lòng thương xót do một đức tin vào Chúa Phục Sinh sẽ lôi kéo mọi người đến với Chúa. Ðức tin sinh đức tin.

ÐIỂM KHÁC BIỆT

Những giáo hữu thời Giáo hội sơ khai đích thực là những sứ giả hòa bình, vì họ thực hiện trọn vẹn sứ vụ Chúa Giêsu ủy thác cho các môn đệ và lấy lòng nhân ái đem tin bình an đến cho mọi người. “Bình an của Chúa Kitô trước hết là sự hòa giải với Chúa Cha. Kế đến, bình an là hòa giải với anh chị em, vì trong Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta tha thứ cho nhau. Sự tha thứ chúng ta xin Chúa Cha liên quan tới sự tha thứ chúng ta làm cho anh chị em chúng ta (x. Lc 10:5; Rm 1:7).”[3] Sở dĩ Chúa tha thứ cho chúng ta vì Người đầy lòng thương xót. Chẳng lẽ đón nhận được lòng thương xót vô bờ ấy, chúng ta lại có thể vô tâm hay vô cảm trước những nỗi khốn cùng của anh chị em ? Trái lại, nếu biết tha thứ và cảm thông với tha nhân, chúng ta sẽ “trở nên những người kiến tạo hòa bình và tham dự vào Nước Thiên Chúa.”[4] Như vậy, lòng thương xót có liên hệ sâu xa với công lý và hòa bình.

Thực vậy, “Giáo hội dạy rằng hòa bình đích thực chỉ có thể đạt được qua việc tha thứ và hòa giải.”[5] Nhìn vào cục diện thế giới hôm nay, chúng ta thấy biết bao cuộc chiến không thể chấm dứt chỉ vì con người không đủ bao dung để tha thứ và làm hòa với nhau. Kết quả hàng triệu nạn nhân vô tội đã phải hy sinh vì những tấm lòng đầy hẹp hòi và ác độc của con người. Dĩ nhiên, “không dễ tha thứ khi đứng trước những hậu quả chiến tranh và xung đột, vì bạo động để lại một gánh nặng đau thương, nhất là khi nó đưa ‘tới sự vô nhân và đau khổ sâu xa nhất.’”[6] Ðó là những bế tắc hay những con đường cùng. Nhiều người hoàn toàn tuyệt vọng, vì không thể tìm được giải pháp hay lối thoát cho tương lai nhân loại.

Nhưng dưới ánh sáng Phục Sinh, Giáo hội tin tưởng “nỗi đau khổ đó chỉ có thể hóa giải khi mọi phía đều có lòng tin tưởng và can đảm, suy nghĩ sâu xa, đối diện với những khó khăn hiện tại với một thái độ đã được thanh tẩy nhờ lòng sám hối. Dù không quên được, nhưng gánh nặng quá khứ có thể được chấp nhận khi người ta tha thứ cho nhau. Ðây là một tiến trình dài và phức tạp, nhưng không phải không thực hiện được.”[7] Nếu không thực hiện được, hòa bình sẽ muôn đời vắng bóng, con người sẽ bị lôi hút vào cơn xoáy bạo lực và bất công ngày càng chồng chất. Quả thực, “sự tha thứ cho nhau bắt buộc phải có công lý và càng không ngăn chặn con đường dẫn tới chân lý. Trái lại, công lý và chân lý là những đòi hỏi cụ thể để mọi người có thể hòa giải.”[8]

Có ý thức về những điều kiện hòa giải đó, con người mới thấy cần phải tha thứ cho nhau. Hơn ai hết, Chúa Giêsu đã thấy rõ con đường hòa giải xuyên qua công lý và chân lý. Nói khác, vì muốn xây dựng Nước Trời, Người đã khởi sự từ con đường tha thứ cho loài người. Chỉ vì thương xót nhân loại, Người đã tha thứ tất cả để thiết lập công lý và chân lý cho Nước Trời xuất hiện trên mặt đất. Quả thực, “những lời Ngài phán quyết đều chân thật công minh,” (Kh 16:7) cần thiết cho việc xây dựng Vương Quốc Thiên Chúa. Những ai muốn gia nhập Nước Trời, cần phải theo con đường Người đã đi. Ðó là lý do tại sao Kitô hữu không thể không tha thứ cho anh em. Nói khác, không tha thứ không thể là Kitô hữu đích thực. Có tha thứ mới được cứu độ. Lý do càng tha thứ, càng “hoàn thiện, như Cha trên trời là Ðấng hoàn thiện.” (Mt 5:48)

Ðó là lý do nhưng cũng là lý tưởng Kitô hữu. Dĩ nhiên, không dễ đạt đến lý tưởng đó. Nhưng khi chịu treo trên thập giá, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy “mặc dù tràn ngập mâu thuẫn và tối tăm, thế giới chất chứa sự sống và niềm hy vọng. Ðó là dấu chỉ ân sủng dành cho mọi người mọi lúc và đó là một lời mời gọi lên cao hơn và dấn thân hơn vào các hình thức chia sẻ với mọi người.”[9] Chúa Giêsu đã liên đới chặt chẽ với chúng ta trong kiếp người đến nỗi chết trên thập giá, để bảo đảm chúng ta có thể đạt tới lý tưởng ấy. Thực vậy, “dưới ánh sáng đức tin, tình liên đới tìm cách vượt qua chính mình, mặc lấy những chiều kích đặc biệt Kitô giáo như tính vô vị lợi, sự tha thứ và hòa giải. Như thế, tha nhân không những là một con người với những quyền riêng và bình đẳng với người khác tận cơ bản, nhưng họ còn là hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được cứu chuộc bằng Máu Chúa Giêsu Kitô và sống dưới sức tác động liên tục của Chúa Thánh Thần. Bởi đó, phải yêu mến tha nhân, bằng cùng tình yêu Chúa đang yêu họ, ngay cả khi họ là kẻ thù. Vì họ, phải sẵn sàng hy sinh tới cùng : hiến thân vì anh em (x. 1 Ga 3:16).”[10] Từ đó, người ta có thể nhận ra đâu là điểm khác biệt giữa Kitô giáo và Hồi giáo.

BAO DUNG VÀ BẤT BAO DUNG

Ðến đây câu hỏi được đặt ra : tại sao Kitô giáo lại theo đuổi đường lối bao dung, trong khi Hồi giáo và các chế độ cộng sản lại không ? Vì Kitô giáo muốn thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian. Nói khác, Kitô giáo muốn tranh đấu cho công lý và chân lý ngự trị trong cuộc sống con người. Giáo hội chỉ rao giảng Lời Chúa để khơi dậy ý thức nơi những người thiện chí muốn xây dựng hòa bình và cuộc sống hạnh phúc.

Tự bản chất công lý và chân lý không cần bạo lực, nhưng luôn cống hiến đường lối bất bạo động để giải quyết những mâu thuẫn. Ngược lại, vì không muốn sống theo công lý và chân lý, những chế độ độc tài phải dùng mọi biện pháp bất công và dối trá để tồn tại. Làm gì có bao dung trong những chế độ sắt máu đó ?!

Nhưng làm sao các chế độ độc tài có thể thắng thế mãi ? Tự bản chất công lý và chân lý là sức mạnh, nên không ai có thể trù dập. Tận thâm tâm, con người hướng về công lý và chân lý. Ngay cả khi đàn áp công lý và chân lý, con người cũng phải mạo danh những giá trị đó để hành xử với đồng loại. Tiếng nói của công lý và chân lý vẫn là tiếng nói cuối cùng. Theo dõi tình hình Tây Tạng hiện tại, chúng ta có thể nghe được tiếng nói đó. Thật vậy, “sáng nay, 27/3, một nhóm nhà sư Tây Tạng đã bất ngờ nhào tới trước mặt một nhóm 26 ký giả ngoại quốc đang được các viên chức trong chính quyền Trung quốc dẫn đi tham quan vòng quanh Lhasa để tuyên truyền. Các nhà sư nước mắt đầm đìa nói với các ký giả nước ngoài rằng Tây Tạng không hề có tự do tôn giáo.”[11] Trung quốc cứ tưởng có thể nhờ các nhà báo gióng lên tiếng nói cuối cùng để chứng minh cho thế giới không hề có đàn áp tôn giáo tại Tây Tạng. Nhưng không ngờ thái độ bất bao dung của họ đã bị các vị sư can đảm vạch trần trước ống kính các ký giả.

Còn trên quê hương ta thì sao ? Thượng Toạ Thích Thiện Minh cho biết : “Hiện tại họ nói là cho tự do tín ngưỡng và tự do sinh hoạt, nhưng mà rất tiếc là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chúng tôi luôn bị kềm kẹp, luôn bị sách nhiễu và bị đe doạ.

Lời chứng thật hùng hồn và can đảm ! Chính quyền bất chấp mọi người. Họ vận dụng mọi phương tiện bạo lực để đè bẹp quyền căn bản nhất của con người. Ôi những con người bất bao dung ! Họ có thắng nổi sức mạnh công lý và chân lý không?! Từ bi không đồng nghĩa với hèn nhát. Từ bi nhà Phật đã gặp gỡ lòng thương xót Kitô giáo !

Tóm lại, khi hiện ra với cộng đoàn tông đồ, Chúa đã ban quyền tha tội cho các ông. Chính khi tha thứ, Chúa tỏ tất cả lòng thương xót của Người. Ðó là lý do tại sao Giáo Hội kinh lòng thương xót Chúa vào Chúa Nhật này. Khi hiện diện giữa các ông, Chúa cho thấy một thân xác vừa phục sinh vừa in sâu vết đinh. Càng nhìn vào những dấu đinh, các ông càng nhận ra tình yêu bao dung của Chúa. Ðồng thời, từ dung nhan Chúa Phục Sinh, công lý và chân lý tỏa sáng để giải thoát nhân loại khỏi vùng tăm tối.

Lạy Chúa, xin cho chúng con tin tưởng tuyệt đối vào lòng Chúa thương xót. Xin cho chúng con ngày càng nên giống Con Chúa để sống bao dung với mọi người. Amen.

đỗ lực 30.03.2008

 

[2] Pinckaers, S., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes 2005:111.

[3] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 492.

[4] ibid.

[5] ibid., 517; x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Ngày Hòa Bình Thế giới 2002, 9: AAS 94 (2002), 136-137; Gioan Phaolô II, Thông điệp Ngày Hòa Bình Thế giới 2004, 10: AAS 96 (2004), 121.

[6] ibid., 517.

[7] ibid.

[8] ibid., 518.

[9] ibid., 196.

[10] ibid.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Anh em nhà học Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ.)

Ở lại với nhau trong sợ hãi
không thể là chứng tá cho thế giới

Ga 20,19-31

Thưa quý vị. Tôi được hứng khởi từ những người tôi đã gặp nơi các giáo xứ. Sau mùa giảng tĩnh tâm Mùa chay vừa qua, tôi có thể ghi nhận hình ảnh những nhân chứng đức tin và nhiệt tình công việc của hội đồng giáo xứ, các tình nguyện viên và giáo dân mà tôi đã gặp nơi các xứ đạo trong nhiều miền khác nhau của đất nước.   

Ấy thế mà, tôi không được chứng kiến bất cứ xứ đạo nào giống như những ý tưởng về thế hệ các Kitô hữu tiên khởi được miêu tả cách sinh động trong bài đọc trích từ sách Công vụ tông đồ hôm nay. Nếu thấy, tôi có lẽ đã dừng chân và ở lại xứ đạo đó – đó có thể đấy là hương vị của thiên đàng! Thử hình dung một cộng đoàn tín hữu hết lòng vì (1) lời dạy của các tông đồ; (2) sống hiệp thông; (3) cử hành các bữa tiệc thánh; (4) cầu nguyện; (5) chia sẻ của cải, với sự quan tâm đến những thành viên thiếu thốn. Nghĩ xem bao nhiêu người sẽ tham gia làm thành viên của một xứ đạo như thế!

Các học giả kinh thánh đồng ý rằng thánh sử Luca đã lý tưởng hoá cộng đoàn tín hữu đầu tiên –rốt cuộc có Ananias và Sapphira không trung thực đã phải chết vì đã giấu một phần tiền khi nộp vào tài sản cộng đoàn (Cv 5,1-11). Vì thế, lý tưởng hoá Hội thánh sơ khai xét cho cùng không hẳn là một cộng đoàn hoàn hảo–chúng ta hiện tại cũng thế.

Vậy mà phải có những chứng tá đáng kể về Đức Kitô Phục Sinh nơi những Kitô hữu mới này, bởi vì sách Công vụ tông đồ thực sự diễn tả lại sự trưởng thành tiệm tiến của Hội thánh sơ khai. “Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”. Cuộc sống của họ hấp dẫn lôi cuốn những người xung quanh.

Đây là lý do để chúng ta suy nghĩ về cách làm chứng cho niềm tin của chúng ta. Sách Công vụ tông đồ nói rằng những người chứng kiến “sợ hãi” Giáo hội non trẻ. Nhưng các tín hữu đầu tiên này không là những biểu tượng hay những bảng chỉ dẫn thánh thiện, họ đã sống trong thế giới thực – đúng như chúng ta sống. Cuộc sống của chúng ta phản ánh Tin Mừng Đức Giêsu bao nhiêu? Chúng ta có thể hiện những việc làm từ bi trắc ẩn cụ thể đối với nhu cầu tha nhân như là nét đặc trưng của cộng đoàn Kitô giáo thời sơ khai chăng?

Đời sống xứ đạo nơi địa phương của chúng ta thì sao? Cứ cho là có những cách thờ phượng riêng tư chúng ta thích và chúng ta có tham gia các sinh hoạt giáo xứ; nhưng ngay cả trong những khác biệt này, phải chăng chúng ta vẫn diễn tả niềm tin căn bản và sống cùng với nhau như những người “một lòng một ý” hợp nhất nhờ Thần Khí của Đức Kitô? Bài đọc Công vụ tông đồ diễn tả sự viên mãn mà các Kitô hữu mong ước, nhưng phải công nhận là chưa hẳn đúng ở Giáo hội địa phương và hoàn vũ. Lời cầu nguyện của chúng ta hôm nay là cùng một Thần khí, Đấng đã mang lại sự sống cho những môn đệ nhát đảm, khép kín đang qui tụ trong phòng, cũng tiếp tục khích lệ và giúp chúng ta đạt được ước mơ mà Đức Kitô dành cho chúng ta – cuộc sống chung của chúng ta làm chứng cho sự hiện diện và sứ vụ đang tiếp diễn của Chúa Phục Sinh giữa chúng ta.

Thánh Tôma đóng vai trò người ngã lòng trong số các tông đồ. Ông là người hoài nghi (Tôma Hoài Nghi), người mà chúng ta thích chỉ trích là yếu lòng tin. Nhưng hãy nhìn lại xem, chẳng phải chúng ta sẽ vui mừng khi thấy thánh Tôma và nói lên mọi nỗi nghi ngờ mà bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể đặt ra? Sau hết, chưa bao giờ có quá nhiều người làm chứng về một người trỗi dậy từ cõi chết như thế. chúng ta thường cho rằng “Chết là chết”, “đó là dấu chấm hết”.

Tôi thắc mắc không biết thánh Tôma làm gì mà vắng mặt khi Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ đang trạng sợ hãi và lẩn trốn? Ông có thu gom của cải, chia tay bạn bè hay tuyệt vọng bởi ông thấy mong ước cuộc đời đã tan thành mây khói khi mà Đức Giêsu đóng đinh vào thập giá chăng? Các môn đệ khác cũng chán nản thất vọng về cái chết của Đức Giêsu. Nhưng ít ra là họ đã ở với nhau. Giống như những gì người Công giáo chúng ta đang thực hiện trong những ngày này, khi chấn động bởi những hành động tai tiếng của giáo sĩ; chúng ta cố gắng ở lại cùng nhau và trông cậy vững vàng Đức Giêsu làm một cuộc hiện ra mới ở giữa chúng ta và lại nói lời khích lệ cho những anh chị em đã mất định hướng, “bình an cho anh chị em”.

Chỉ ở lại với nhau trong sợ hãi thì không thể là chứng tá hữu hiệu cho thế giới bên ngoài. Ai muốn gia nhập nhóm những người bị loại trừ, buồn phiền, nhát đảm? Điều khác biệt là Đức Giêsu đến giữa các ông, không một lời trách móc về những sai lỗi trong quá khứ, nhưng với lời chữa lành, “Bình an cho anh em”.

Quá khứ đã qua. Nhưng tương lai thì sao? Rõ ràng trước đây chẳng gì có thể đưa các ông rời khỏi căn phòng đóng kín và ra đi vào thế giới hiểm nguy. Nhưng, Đức Giêsu không sai các ông đi tay không; Ngài ban cho các ông Thần Khí. Với thần khí đó, các ông khai mở sứ vụ hoà giải mà Đức Giêsu ban cho. Đầu tiên các ông đến với người anh em đã bỏ đi là Tôma. Họ chia sẻ những kinh nghiệm với Tôma, nhưng ông đòi hỏi bằng chứng cụ thể hơn nữa – chạm vào vết thương của Đức Giêsu.

Chúng ta không biết liệu Tôma có thực sự đụng chạm đến những vết thương hay không. Điều chúng ta biết là Đức Giêsu mời gọi ông tin. Có lẽ sờ vào vết thương chẳng phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là những đòi hỏi vượt quá niềm tin; ngay cả bất chấp lý luận và “hành động hợp lý”.

Vâng, tạ ơn Chúa vì thánh Tôma! Chúng ta mừng vì ông đã ở đó nói lên những nghi ngờ của lý trí. Chúng ta cũng vui mừng vì Giáo hội cũng ở đó, những môn đệ mới và tràn đầy Thánh Thần đã không từ bỏ thành viên cứng lòng tin của họ. Hãy hy vọng vì chúng ta là những Kitô hữu thời đại mới ở lại thực sự trong lời mời gọi trở thành cộng đoàn hoà giải và cũng là cộng đoàn chữa lành cho những anh chị em đau khổ tinh thần và thể xác.

Khi họp nhau cầu nguyện hôm nay, chúng ta có thể nghĩ về chính mình như các môn đệ trong phòng trên lầu xưa. Vì giây phút ngắn ngủi này, giống như các ông, chúng ta cùng nhau ở trong một căn phòng. Chúng ta mang đến đây những lỗi lầm và thiếu sót trong quá khứ và nhận lời hoà giải của Đức Giêsu, “bình an cho anh chị em”. Chúng ta tạ ơn vì những người đầu tiên làm chứng tá cho sự phục sinh. Nhờ lời chứng thực của họ, lời chứng ấy cùng với chứng tá của những người mà chúng ta biết, đã khích lệ niềm tin cho chúng ta – đó là những người giảng thuyết, các thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, v.v.. Chúng ta bây giờ được Đức Giêsu gọi là “người có phúc”, là “những người không thấy mà tin”. Vì vậy, chúng ta có thể dâng những lời cầu nguyện tạ ơn cho những người dẫn đưa chúng ta đến niềm tin hôm nay – người giúp chúng ta tin dù không thấy.

Khi lắng nghe Lời Chúa, chúng ta không chỉ nghe tin mừng cho chính mình, mà còn đem đến cho người khác như được diễn tả trong sách Công vụ tông đồ hôm nay. Khi rời khỏi đây chúng ta sẽ ra đi, với những ngôn từ và cách sống trong cộng đoàn, chúng ta rao truyền tin mừng về Vương Quốc Mới mà Đức Giêsu khai mở. Nhưng trước khi rời “phòng tiệc” này chúng ta sẽ nuôi dưỡng để thi hành những phận vụ đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta sẽ ăn mừng lễ cùng những anh chị em khác nữa và với Đức Chúa Phục Sinh của chúng ta.

Lm. Jude Siciliano, OP (Anh em Nhà Học Đa Minh chuyển ngữ)

 Hãy mang lấy thương tích của nhau!

Cv  2: 42-47; Tv 117; 1 Phêrô 1: 3-9; Gioan 20: 19-31

 

Kính thưa quý vị,

Một hôm, trong lớp Triết học tại một trường Đại học, chủ đề được đưa ra là: “Điều gì khiến con người phân biệt với động vật?” Câu trả lời của lớp đưa ra là con người biết làm ra công cụ. Vâng, người ta vẫn lầm tưởng như thế mãi cho tới thời của Jane Good thì tất cả các nhà nghiên cứu về hành vi của động vật đều nhận thấy rằng động vật cũng có khả năng làm ra công cụ. Gần đây, tôi được xem một đoạn phim tài liệu nói về một con tinh tinh biết cắt gọt một cành cây mỏng và sau đó sử dụng nó như một thứ công cụ. Nó chọc cành cây xuống một tổ kiến cho kiến bám vào và rút cành cây đầy kiến lên mà ăn, sau đó nó lặp lại như thế nhiều lần, thật ngon lành, ít nhất là đối với một con tinh tinh. Với tôi, chắc chắn con tinh tinh ấy cũng giống như là một nhà sản xuất ra công cụ vậy.

Một số sinh viên trong lớp lại cho rằng điều phân biệt chúng ta với động vật là khả năng biết cười, vì chúng ta có thể thấy sự tương phản này. Cách đây không lâu, bìa của cuốn tạp chí “New Yorker” có in hình các hành khách trên một chuyến bay đang nhồi nhét hành lý vào ngăn tủ ở phía trên đầu của họ. Một hành khách khác lại đang cố gắng đưa xe hơi vào khoang! Hãy xem nào, chúng ta thì cười khúc khích, còn con tinh tinh thì cứ thản nhiên ăn kiến trên cành cây của nó mà thôi.

Tôi để lại cho các nhà triết học đưa ra câu trả lời: điều gì giúp con người chúng ta khác biệt so với động vật. Bên cạnh khả năng biết cười trước những điều hài hước, tôi muốn thêm rằng điều làm cho chúng ta thành con người là khả năng bị tổn thương và có thể gây ra thương tổn cho người khác. Loài động vật có thể gây ra vết thương và để lại vết sẹo cho nhau, nhưng con người còn có thể gây ra thương tích và gánh chịu những thương tổn, đôi khi là trong suốt cuộc đời. Chúng ta có ký ức về niềm hạnh phúc và những khoảnh khắc hân hoan; nhưng ta cũng có thể tìm thấy dấu vết của những đau thương trong miền ký ức ấy mà mình đã phải gánh chịu hay đã gây ra cho người khác.

Bạo lực thể lý đe doạ chúng ta và những lời nói ném vào chúng ta chẳng khác nào những viên đá nhọn sắc bén. Theo lẽ thường, những lời nói gây thương tổn thì đau nhiều hơn và kéo dài lâu hơn những vết thương thể lý. Có lúc hai người từng nói với nhau: “Anh yêu em”, “Em yêu anh”. Một luật sư chuyên về ly hôn đã kể cho tôi nghe về những đôi hôn nhân đổ vỡ có những lời lẽ gây thương tổn nhau ngay trước tòa.

Hãy xem những vết thương và những nguồn gốc khác nhau phát sinh ra chúng. Ví dụ, thế giới đã dạy chúng ta cạnh tranh với người khác, luôn phấn đấu để giành chiến thắng trong các cuộc tranh luận, thể thao và tại nơi làm việc. Vince Lombardi đã tổng kết những điều mà chúng ta đã học được: “Chiến thắng không phải là tất cả, mà chỉ là một điều gì đó thôi”. Chúng ta cũng đã được dạy rằng các chuẩn mực của cái đẹp sẽ tác động tới những tâm trí nhạy cảm. Đã có bao nhiêu học sinh hoặc bạn trẻ đã bị rối loạn trong ăn uống khi nỗ lực điên cuồng để được giống như những người mẫu mà họ thấy trên các tạp chí hay truyền hình?

Là con người, chúng ta có điểm chung là biết cười trước câu chuyện vui. Tiếng cười khiến chúng ta xích lại gần nhau bên bánh pizza và lon bia. Thế nhưng những nỗi đau tâm hồn có thể khiến chúng ta giấu mình phía sau những cánh cửa bị khóa, sợ rằng có ai đó đụng chạm vào chúng; chúng ta không muốn người khác biết về những nỗi đau ấy, hoặc thậm chí không dám nhìn vào bản thân mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể xích lại gần nhau hơn nhờ chia sẻ những nỗi đau ấy.

Cộng đoàn trong trình thuật Tin Mừng hôm nay cũng có những vết thương của mình. Có lúc họ được ở trên chín tầng mây cao. Họ là những người sống gần gũi nhất với một nhà giảng thuyết đầy lôi cuốn, một người lương y chữa bệnh và một nhà cải cách. Có lẽ Người chính là vua của Israel! Là Đấng Mêsia! Nhưng sau đó họ đã chứng kiến sự dữ đã đánh bại Người, nghiền nát niềm hy vọng của họ, đập tan những giấc mơ và để lại cho họ những tổn thương. Còn có những vết thương khác như: ký ức về sự phản bội của họ với Đấng mà họ đã từng thề thốt đi theo cho đến chết. Họ đã hứa và đã phản bội.

Chỉ còn một điều họ nhớ lại; đó là những gì mà Đức Giêsu đã làm và dạy cho họ phải thi hành. Người thiết lập một cộng đoàn xung quanh mình cùng với dự định của Người. Vì vậy, những cá nhân bị thương tổn và đầy đau đớn này đã xích lại gần nhau và thành một cộng đoàn – một cộng đoàn đóng chặt vì sợ hãi – nhưng dẫu sao đó vẫn là một cộng đoàn. Chính trong cộng đoàn bị thương tích, đau đớn và vỡ mộng này, Đức Giêsu đã đến, mang theo những lời tha thứ và chữa lành: “Shalom”, nghĩa là “Bình an cho anh em”.

Trong Kinh Thánh, khi Đức Giêsu ban bình an, đó không phải là một lời chào bình thường, không phải là “con người của hòa bình” (Peace man) như người ta quan niệm vào thập niên 60. Khi Đức Giêsu chào bình an, lời của Người mang đến thực tại đã được loan báo, đó là sự tha thứ, chữa lành và sự phục hồi. Lời của Người được hiện thực hóa. Một điểm quan trọng đối với các môn đệ là khi Người cho các ông xem các vết thương của mình. Trình thuật Tin Mừng này không cho thấy Người đã xin bánh hay cá. Đức Giêsu không thuyết phục các môn đệ rằng Người vẫn còn sống bằng cách ăn uống. Vết thương của Người đã chứng tỏ cho các môn đệ biết Người là ai.

Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường; không chỉ để chia sẻ một bữa ăn và một cuộc trò chuyện thân tình. Như chúng ta, Thiên Chúa biết được việc ra đi của những người thân yêu, những lời hứa bị tan biến và những dự định bị thất bại. Đức Giêsu đã đón nhận những vết thương mà người ta cho là đã đưa cuộc đời của Người đến hồi kết thúc. Những vết thương đó đã bị khuất phục và Người đã chiến thắng. Qua trình thuật hôm nay, chúng ta được nhắc nhớ rằng Đức Giêsu không bao giờ quên những vết thương của Người, cũng như các vết thương của chúng ta.

Cũng như các môn đệ, chúng ta tập hợp lại trong cộng đoàn ngày hôm nay. Chúng ta được Đức Giêsu mời gọi mang lấy những phần thương tổn và những thất bại của đời mình để tiếp tục sống, tựa như người môn đệ xưa của Người. Nhưng không chỉ mang lấy những vết thương của mình, mà chúng ta còn cưu mang những thương tổn của những người ta yêu mến, những người gặp hoạn nạn và bệnh tật. Chúng ta cũng chú ý đến những đau khổ của thế giới – ở Syria, Ukraine, Trung Đông, những người nghèo, những người bị xâm hại bởi những giáo sĩ, các nạn nhân của vụ nổ súng bài người Do Thái ở Kansas, những người bị thương do đánh bom ở Boston năm ngoái – họ vừa tập trung để tưởng nhớ sự kiện này, v.v…

Thật lấy làm an ủi biết bao khi biết rằng Đức Giêsu chia sẻ số phận của chúng ta. Nhưng còn nhiều hơn thế nữa, Người thở hơi trao ban Thánh Thần cho chúng ta. Hôm nay, chúng ta cùng hợp nhau cầu nguyện với tư cách cộng đoàn của Người. Giờ đây, chúng ta sẽ dâng lễ vật lên bàn thờ và cầu khẩn Chúa Thánh Thần ngự xuống, biến đổi lễ vật ấy. Nhưng chúng ta cũng cầu xin Thần Khí thổi hơi chữa lành và ban ơn tha thứ cho chúng ta, và cả thế giới đang bị tổn thương nữa. Chúng ta cầu xin sự tha thứ cho tất cả những vết thương ta đã gây ra cho người khác, và xin cho chúng ta ngày càng có khả năng biết cho đi và tha thứ anh chị em mình.

Các bài đọc trong dịp Lễ Phục Sinh có phần mở đầu tương tự nhau, “vào ngày thứ nhất trong tuần”. Ví dụ, tuần tới tác giả Luca sẽ thuật lại cho chúng ta về các môn đệ trên đường đi Emmau vào ngày “thứ nhất trong tuần”. Thông thường các sách Tin Mừng không hề có cách nói cầu kỳ về những ngày và giờ trong ngày. Các câu chuyện thường xuyên bắt đầu với hạn từ “Sau đó, Đức Giêsu đi đến…” “Vào lúc sáng sớm Đức Giêsu đi vào Đền thờ”, v.v… Thời nay, chúng ta thắc mắc rằng: “Ngày nào trong tuần vậy?” “Vào năm nào?” “Và lúc mấy giờ?” Nếu ta cố tìm kiếm sự chính xác trong các câu chuyện thì hầu như chúng ta sẽ luôn nản chí. Ra như tác giả sách Tin Mừng muốn nói rằng: “Điều đó không quan trọng”.

Thế nhưng, các bài đọc trong dịp Lễ Phục Sinh này, mặc dù có nhiều chi tiết gây nhầm lẫn (Đã có hai hay một thiên thần ở ngôi mộ? Bà Maria Mađalêna đi một mình hay đi với hai người phụ nữ khác?) chúng ta nói, đó là “ngày thứ nhất trong tuần”. Không phải là một ngày sau ngày Sabát, không phải là ngày Chúa Nhật. Nhưng là “ngày thứ nhất trong tuần”. Các tác giả sách Kinh Thánh không chỉ có một chút mơ hồ về các ngày và xác định cách chính xác hơn. Họ đang ám chỉ tới ngày đầu tiên của công trình sáng tạo khi Thiên Chúa làm ra ánh sáng. Vì vậy, tác giả Gioan nói với chúng ta hôm nay rằng Đức Giêsu đã hiện ra “vào chiều ngày thứ nhất trong tuần”. Giờ đây, ánh sáng của Thiên Chúa đã chiếu sáng xuyên qua bóng tối của ngôi mộ, chúng ta không còn phải lo sợ về cái chết cuối cùng nữa.