Năm A

 
 

 

CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM A
Cv 10,34a. 37-43 / Cl 3,1-4 / Ga 20,1-9
 

An Phong op : Chúa đã Phục Sinh

Fr. Jude Siciliano op : Chúa luôn yêu thương và tha thứ (lễ vọng)

Fr. Jude Siciliano op : Dám đánh liều để yêu thương như Chúa

Fr. Jude Siciliano op : Hãy Phục Sinh với Chúa Kitô. Alleluia !

Như Hạ op : Halleluia !!!

G. Nguyễn Cao Luật op : Chúng Tôi Xin Làm Chứng

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Mộ trống

Bernard Huỳnh Hữu Phúc op : Đức Kitô Phục Sinh đã chiến thắng khải hoàn

Đỗ Lực op : Hãy Vùng Lên

Fr. Jude Siciliano, op : Phúc cho ai không thấy mà tin

Fr. Jude Siciliano, op : Phục sinh đâu chỉ là hy vọng tương lai

Fr. Jude Siciliano, op: Đừng sợ! Hãy loan tin Chúa đã Phục Sinh

 


An Phong op

Chúa đã Phục Sinh
Ga 20,1-9

Halêluia ! hãy reo lên mừng Chúa đã Phục sinh, Halêluia !
Phục sinh là chỗi dậy từ cõi chết
Phục sinh là Vượt Qua đạt đến sự sống thành toàn
Phục sinh là tháo cởi xích xiềng tội lụy
Phục sinh là đạt được tự do viên mãn
Phục sinh là Tình yêu chiến thắng
Phục sinh là trở nên mọi sự trong mọi người.

 

Bởi lẽ…
Ðức Giêsu, Chúa chúng ta
đã hạ mình tột bực,
nên Thiên Chúa đã nâng Ngưòi chỗi dậy.
Ðức Giêsu, Chúa chúng ta
đã sống kiếp người phàm cách trọn vẹn
nên Ngài đã Vượt Qua cuộc sống đến vĩnh cửu.


Ðức Giêsu, Chúa chúng ta
đã chiến thắng sự chết là hoa tái của tội lỗi.

Ðức Giêsu, Chúa chúng ta
đã vâng phục Thiên Chúa Cha
trọn vẹn.

Ðức Giêsu, Chúa chúng ta
đã hy sinh mạng sống
vì người mình yêu.

Ðức Giêsu,
Chúa chúng ta
được đặt làm Cứu Chúa
của vạn vật và nhân loại;
Ngài là chủ tể mọi sự trên trời dưới đất.

 

Như thế,
Ngài được vinh hiển.
"Ôi Ðức Kitô muôn trùng vinh hiển
Nguồn sống vô hình của vũ trụ bao la.
Trung tâm rực rỡ của trăm triệu ngân hà,
Ðiểm hội tụ của muôn hình vạn thể.

 

Ngài,
Ðấng đã sinh ra,
chết khổ đau và sống lại.
Ðể phục hồi trong tổng thể nguy nga,
Mọi vinh quang, muôn giòng lệ hải hà,
Bao hoan lạc, niềm thương và nỗi nhớ.

 

Ðức Kitô,
bến đậu của con thuyền lịch sử,
điểm dừng chân của làn sóng thời gian.
Dưới chân Ngài, con khao khát reo vang :
Chúa là Thiên Chúa của con
hôm nay và ngày mai bất tận".
Teillhard Chardin

 

Lạy Ðức Chúa
của buổi sáng Phục Sinh,
của một ngày mới, tinh khôi và huyền diệu,
của một sức sống mới, tràn trề và mãnh liệt
của một ánh sáng mới, trong suốt và êm dịu,
của một giai đoạn mới, yêu thương và tha thứ.


Xin Chúa chiếu soi cho con một chút ánh sáng của Chúa.
Xin Chúa thông ban cho con một chút sức sống của Chúa.

 

Ðể con
được sống trong ngày mới của Chúa
Và để lòng con
được ngập tràn tình yêu thương của Chúa.


Fr. Jude Siciliano
 op

Chúa luôn yêu thương và tha thứ
Ga 20,1-9

Thưa quý vị.

Hôm nay có khá nhiều bài đọc Thánh kinh. Tất cả là 9 bài. Mỗi bài nói lên một khía cạnh của ơn Thiên Chúa cứu độ. Xin kiên nhẫn lắng nghe, đừng bỏ qua bài nào. Và lưu ý đến dòng chảy của chúng. Trước hết, là trình thuật về vũ trụ và hai ông bà nguyên tổ được tạo dựng. Sau khi có mặt, hai ông bà được Chúa trao cho chức vụ "quản gia" toàn bộ những gì Ngài đã dựng nên. Bản văn này là một mẫu mực tiêu biểu để lượng giá tốt xấu công tác của loài người hiện nay trong việc "trông coi" vũ trụ. Ô nhiễm ghê gớm sông ngòi, biển khơi, đồng ruộng, núi đồi, thôn quê, thành thị. Thực vật, động vật bị tàn phá không nương tay. Ðó là những gì con người đang làm trong cương vị "quản gia" ! Thế thì tự hỏi xem lời chúc phúc nguyên thủy của Thiên Chúa trên vạn vật "mọi sự đều tốt đẹp" trong vườn địa đàng có được loài người lắng nghe ? Nếu có, tại sao chúng ta không chia sẻ tình yêu của chúng ta với vạn vật trong vũ trụ ? Chúng đang chịu khốn đốn, dưới bàn tay con người ! Do đâu vậy ? Rõ ràng là tội lỗi đã thâm nhập linh hồn con người và thế giới, phá hủy hành ảnh và họa ảnh (giống như Ta) của Thiên Chúa nơi mỗi cá nhân. Từ đấy suy ra rằng, ơn cứu độ là cần thiết, để cứu loài người, cứu thế giới khỏi sức công phá của tội lỗi.

Thượng đế đã ra tay cứu giúp và khởi sự bằng ơn gọi của Abraham (bài đọc II). Thiên Chúa chọn và gọi ông cùng vợ là Sara, bỏ cha mẹ, nhà cửa, quê hương, xứ sở, để đi đến đất Canaan cư ngụ. Hai ông bà chưa có con và chỉ vì lời "hứa" có dòng giống đông đúc như "sao trên trời, cát dưới biển" mà hai ông bà cất bước ra đi vào nơi vô định. Ðến khi có một mụn con trai là Isaac thì Chúa lại truyền phải hiến tế cho Ngài. Abraham vâng lời nhưng ruột gan như cắt. Nghi lễ hiến tế Isaac là hình ảnh rất cảm động của Chúa Giêsu sau này. Từ Isaac nảy sinh một dân tộc được chúc phúc, được tuyển chọn. Ngày nay là dân Do thái. Chúa Giêsu đã sinh ra từ dòng giống Do thái.

Bài đọc thứ III, sách Xuất hành, phản ánh công trình Thiên Chúa giải thoát dân Israel ra sao. Một biến cố hết sức kỳ bí, hùng vĩ. Nói lên quyền năng giải phóng của Thiên Chúa cứu vớt tuyển dân khỏi vòng nô lệ Ai cập. Ngày nay là nhân loại khỏi vòng tội lỗi. Ðiều này được thực hiện bằng phép lạ "nước rẽ ra", biểu tượng cho bí tích rửa tội của Hội Thánh qua mọi thời đại. Như vậy, bài đọc thứ ba mang tính cứu chuộc cao độ qua việc thanh tẩy con người khỏi ảnh hưởng tội lỗi. Thế là chúng ta được nghe Isaia, Baruch, Ezekiel rao giảng về lòng Chúa thương xót, thứ tha. Các ngài kêu gọi nhân loại trở về với Thiên Chúa một cách rất cụ thể, dùng những hình ảnh sống động đến mức khó nghe : "Ðấng đã trở nên chồng của ngươi". Nhiều tiên tri tiến xa hơn nữa làm như thể Thiên Chúa "điên khùng" vì yêu thương nhân loại. Chúng ta sẽ tìm thấy ơn tái sinh và tiến trình đối mới ở đâu ? Tiên tri Isaia chỉ rõ : " Tất cả những ai đang khát, hãy đến mà uống nước không phải trả đồng nào." (Các câu trích dẫn là từ các bài đọc).

Sứ điệp thuyết phục nhất trong các bài đọc đêm nay là lòng nhân từ, hào hiệp của Thiên Chúa. Ngài thương xót nhân loại, chẳng phải vì họ trung thành. Họ phụ bạc là điều quá hiển nhiên. Họ chẳng xứng đáng điều chi nếu lượng định trên căn bản công lênh. Hình phạt hỏa ngục là kỷ phần thích đáng nhất cho những công việc nhân loại đã làm. Tiên tri Ezekiel tuyên bố : "Họ đã làm nhơ bẩn danh Ta giữa các dân tộc". Cho nên "Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà ta hành động, nhưng vì danh Thánh Ta đã bị các ngươi xúc phạm". Ngài hằng luôn yêu thương và tha thứ, bất kể nhân loại ngang ngược ra sao. Thiên Chúa không thể làm khác được. Ðó là bản chất của Ngài. Ngài luôn luôn hành động tuân theo bản chất đó. Tự nhiên phải là như vậy.

Nước tẩy rửa đã được loan báo nhiều lần trong Kinh thánh đêm nay sẽ tuôn trào trên các tân tòng, sát nhập họ vào cộng đồng chúng ta, vào thân thể nhiệm màu Chúa Kitô. Mang thân phận con người như chúng ta, họ đã lang thang khắp nơi, quanh co khắp nẻo, lạc khỏi chương trình của Thiên Chúa, khỏi phúc lành cội rễ của Ngài. Nhưng Ngài vẫn trung thành với chúng ta. Chương trình, ước muốn của Ngài cho chúng ta, là chúng ta được tự do hạnh phúc, chứ không phải nô lệ kìm kẹp. Cho nên nước rửa tội đêm nay nhắc nhớ mọi người tín hữu công việc giải phóng của Ngài cho nhân loại. Chúng ta chẳng xứng đáng cuộc giải phóng đó, chẳng xứng đáng tình yêu "điên khùng" của Thiên Chúa. Nhưng qua tiên tri Ezekiel Ngài nói : "Vì danh thánh Ta" Ngài chẳng để chúng ta mãi mãi làm nô lệ, kẻ lưu đày. Cuối cùng các bài đọc sẽ dẫn dắt người nghe đến tư tưởng cao nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại là Ngài sai con Người đến trần gian. Cuộc đời Chúa Giêsu cứu thế chứng minh sứ điệp Thiên Chúa yêu thương chúng ta bất kể thái độ của chúng ta. Ngay cả dưới sự đe dọa tử hình, Chúa Giêsu không lùi bước khỏi sứ điệp đó. Tiên tri Isaia đã bóng gió : "Lời từ miệng Ta phán ra, sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mệnh Ta ủy thác" (bài đọc 5).

Chuyển sang bài thánh thư, trích từ lá thư dài, danh tiếng, của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Roma. Ðiều làm tôi chú ý là cụm từ : "Chúng ta đã chịu phép rửa trong cái chết của Ngài". Câu đó có nghĩa chi ? Và những hậu quả nào trong cuộc đời tín hữu ? Xưa nay, bên giếng rửa tội, chẳng mấy người dám nói lên điều đó. Có lẽ sợ rằng người ta sẽ chẳng dám xin rửa tội nữa chăng ! Người ta thích nhấn mạnh khía cạnh lạc quan hơn, tức là được sinh lại để sống cuộc sống mới. Tôi cũng thích như vậy. Nhưng xin nhớ, chúng ta đang sống trong Tam Nhật Vượt Qua. Chúa Giêsu phải qua cái chết rồi mới sống lại. Chúng ta phải chết cho con người cũ, thói quen cũ, tội lỗi cũ rồi mới có thể tiến vào cuộc sống mới.

Nói theo cách hoàn toàn nhân loại, đầu tiên, là chúng ta được rửa trong số phận loài người – nước rửa là nước ấm của dạ mẹ chúng ta. Rồi chúng ta được dìm vào thân phận con người. Ðó là cuộc sống duy nhất mà chúng ta biết được. Bên cạnh những điều vui, có biết bao hạn chế và ô nhiễm mà chúng ta vướng mắc phải khi sống với những người chung quanh. Tỷ như chúng ta mắc bệnh ho lao, là bởi đi qua những phòng lao, thở hít không khí nhiễm lao. Tội lỗi cũng ở trong bầu không khí xã hội. Chúng ta cũng hít vào ngay trong hơi thở đầu tiên của cuộc đời – ghen ghét, thù hằn, ích kỷ, độc ác, dâm ô, phân biệt chủng tộc, màu da… danh sách dài vô tận. Suốt cuộc đời chúng ta hít thở bầu khí hôi thối, ô nhiễm. Muốn được trong lành, chúng ta phải chấm dứt hít thở theo lối này. Và phải bắt đầu bằng lối khác.

Thánh Phaolô dạy chúng ta phải chết để có cuộc sống mới, hay "phải chịu phép rửa trong Ðức Kitô". Ngài nhận ra Chúa Kitô là nhân loại mới. Chúng ta phải tháp nhập vào nhân loại đó để có được không khí trong lành, không còn ô nhiễm nữa, tức đời sống mới. Thánh nhân nói rõ hơn (2 Cor 5,15) Ðức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Ðấng đã chết và sống lại vì mình. Phép thánh tẩy của mỗi người chúng ta nói lên tư tưởng đó. Sự thật cũng là như vậy.

Trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội, người ta thực hành bí tích Rửa Tội rất cụ thể : Dìm toàn thân xuống nước, rồi lại nhô lên. Dìm xuống có nghĩa là chết đi, bị chôn vùi và nhô lên tượng trưng sống lại (Cv 8,36-39). Khi dìm xuống ngưng thở, khi nhô lên chúng ta thành một người mới, hít hơi thở đầu đời như đứa trẻ sơ sinh ra khỏi lòng mẹ. Ơn thánh trong lành đã tràn ngập linh hồn chúng ta. Lúc này, xin hãy chú ý đến từ ngữ của thánh Phaolô : "Với Chúa" qua bí tích Rửa Tội, tỷ như: "Với Ngài qua cái chết giống như Ngài", "chịu đóng đinh thập giá với Ngài", "chết với Ngài", "cùng sống với Ngài". Những từ ngữ này diễn tả chúng ta liên kết chặt chẽ với Chúa Kitô. Có một thành ngữ khác thánh Phaolô dùng còn chính xác hơn : "Lớn lên trong sự hợp nhất với Ngài" dịch sát chữ là : "Lớn lên cùng với Ngài". Ðó là từ ngữ của kỹ thuật ghép cây. Như vậy khi chịu phép thánh tẩy, chúng ta được tháp vào Chúa Kitô, cùng lớn lên với Ngài. Ngài chết thì cây ghép cũng chết. Ngài sống lại thì chúng ta cũng phục sinh. Tuy nhiên, biến cố phục sinh của chúng ta vẫn còn ở trong tương lai. Cho nên đời sống kết hợp với Chúa , tháp nhập vào Ngài, chưa phải là đã hoàn hảo. Chúng ta vẫn còn chờ đợi trạng thái hoàn hảo, tiến lên trong trạng thái đó, tức phải trông mong điều mà thánh Phaolô diễn tả trong cụm từ trên : "Cùng sống với Ngài".

Như vậy, chúng ta vẫn còn phải tiếp tục đấu tranh chống "bầu khí ô nhiễm (bad air)" trong môi trường chung quanh. Thật rất khó để làm được như vậy, hít không khí vào mà không khí bị ô nhiễm ! Tuy nhiên, chúng ta không cô độc trong đời sống mới này. Chúa Giêsu hằng ngự trong linh hồn chúng ta. Người là bạn đồng hành, là đại tướng chỉ huy. "Ngài đã chết một lần cho tội là đủ". Nghĩa là tội lỗi có thể giết chết Ngài, nhưng không thể thắng được Ngài. Chiến thắng đã là kỷ phần của chúng ta, chỉ còn việc là chiếm lấy và thời gian chẳng còn bao xa. Amen. Alleluia.


Fr. Jude Siciliano
 op 

Dám đánh liều để yêu thương như Chúa
Ga 20,1-9

Thưa quý vị.

Bởi lẽ lịch giảng phòng mùa Chay quá bận rộn, cho nên tôi phải viết bài diễn giải này tuần thứ nhất mùa hãm mình, đền tội. Tôi thật ngỡ ngàng, cảm thấy mình lạc điệu. Lúc này chẳng phải là thời gian thuận tiện để nói về niềm vui Phục sinh. Hầu hết chúng ta, các tín hữu chuẩn mực, đọc các trình thuật thương khó vào giờ này. Mùa Phục sinh, các trình thuật sống lại. Chỉ một mình tôi là ra ngoài lệ thường, cho nên tôi phải suy tư trái mùa, dĩ nhiên có ảnh hưởng đến ý nghĩa câu chuyện.

Ðiểm thứ nhất tôi lưu tâm đến là câu chuyện không hề miêu tả chi về cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh như các trình thuật Phúc âm khác. Vì thế câu chuyện xem ra rất thật. Nó kể lại mọi sự khá bình thường như tôi hằng kinh nghiệm ngày này qua ngày khác. Tôi chưa hề xem thấy Chúa Kitô Phục Sinh trong đời sống thường nhật của tôi. Mà cũng chẳng hề xem thấy một ai khác từ cõi chết sống lại. Ðây là đầu mùa Chay, nhu cầu của tôi bây giờ là Thiên Chúa. Tôi phải vật lộn thường xuyên chống lại tội lỗi, đam mê, cám dỗ, các khuynh hướng xấu xa để có thể sống nghiêm chỉnh như một tín hữu tốt. Ðiều đó cho tôi cảm giác mọi sự bình thường, đâu có chi lạ ? Niềm vui, niềm hoan hỉ Phục Sinh còn quá xa vời, mãi tận đâu phía sau của trí óc. Từ tuần lễ đầu tiên của mùa Chay mà nhìn Phục Sinh thì quả là lạc lõng. Thấy đấy, nhưng chẳng cảm nhận được gì !

Tôi lại phải nhìn vào bản văn Phục Sinh để tìm xem có điều chi khác thường ? Vẫn cái giọng văn kể chuyện đều đều, không có biến cố nào hùng vĩ với kèn đồng, trống phách, chẳng có ai hô lớn : "Ngài đã trỗi dậy !" Nói cho công bằng thì cũng có một vài chi tiết nhỏ, rất nhỏ báo hiệu điều gì bất thường đã xảy ra. Tuy rất nhỏ, nhưng nó có thể gây ngạc nhiên, thắc mắc cho người môn đệ nào buồn sầu, thất vọng nhất. Mãi sau này chúng ta mới biết rằng cô Maria Mađala đã được gặp Chúa Phục Sinh và Chúa truyền cho cô phải đi nói với các môn đệ Ngài, lúc này thì chưa, ngoài chi tiết quan trọng nói trên thôi.

Cơ sự như thế này : Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, khi trời còn tối, Maria Mađala ra thăm mồ, nơi để xác Chúa Giêsu. Chủ đích của bà là xức thuốc thơm. Khi tới nơi bà thấy ngôi mộ trống, không thấy xác Chúa đâu. Lập tức bà trở về báo cáo cho ông Simon Phêrô và các môn đệ khác hay. Bà thêm "người ta đã lấy xác Thầy khỏi mộ, và chúng tôi không biết người ta để Thầy ở đâu". Ngỡ ngàng, Phêrô và người môn đệ kia chạy ra mộ. Chẳng ai có tư tưởng Chúa đã sống lại. Họ chỉ nghĩ rằng thêm vào cái chết nhục nhã, người ta còn tiếp tục xúc phạm đến thân xác Chúa. Một sự sỉ nhục khác nữa. Thật là cay đắng ! Nhưng khi tới mộ họ nhận ra ngôi mộ không phải hoàn toàn trống : Khăn liệm và dây băng còn đó, xếp gọn gàng để vào một nơi. Lạ lùng. Ăn trộm chi mà lại lột đồ mai táng để lại, mang thân xác đi không. Có lẽ là một thứ ăn trộm "ấm" đầu ! Lại còn xếp dây băng và vải liệm gọn gàng mỗi thứ một nơi, phạm tội ác mà lại còn có biểu hiện lịch sự con nhà tử tế ? Các Tông đồ chẳng nghĩ đến sự Phục Sinh của Chúa. Bởi xưa nay chưa từng xảy ra một trường hợp nào cả trong cõi nhân gian. Nhưng quang cảnh vô lý ở trước mắt, đòi hỏi họ phải suy nghĩ. Gioan đã suy nghĩ và đã đưa ra một câu giải thích, mà cũng là một ánh sáng bởi trời : "Theo Thánh kinh, thì Người phải sống lại từ cõi chết". Ông đã thấy và ông đã tin. Quang cảnh trước mắt ông là dấu hiệu của một cuộc sống mới. Cuộc sống Phục Sinh !

Tuy nhiên Phục Sinh không phải là một tiến trình tự nhiên tỷ như cây tàn mùa Ðông, rồi lại đâm chồi mùa Xuân. Nó không phải là biến cố hợp logic của thiên nhiên. Chết là chết. Một thân xác đã chết chẳng có hạt giống nào để cho nó nẩy mầm sống lại - ít là tự thân. Xưa nay vẫn thế. Chết là mục rữa, thối tha vĩnh viễn dù người ta có bôi môi son, má phấn, ướp xác, lập mồ cho thân nhân, cũng chẳng hy vọng có ai sống lại. Bên cạnh nấm mồ, hay trong nhà tang gia, Thần chết vẫn là kẻ chiến thắng dứt khoát - Cuối cùng thì mọi người phải đặt hoa lên mộ và trở về cay đắng, nhớ nhung thân nhân đã qua đời. Nhiều lắm thì cúng bái hay cầu kinh mà thôi.

Nhưng tại sao Phêrô lại chậm trễ hơn "người môn đệ kia" ? Có khuynh hướng giải thích rằng ông già hơn nên chạy chậm hơn. Ðiều đó có lý. Nhưng ông ta chưa chắc đã đến ba mươi tuổi. Ông mới có mỗi đứa con gái nhỏ và bà mẹ vợ còn nhanh nhẩu phục vụ Chúa Giêsu ! Có thể rằng kỷ niệm về tội cũ chối Chúa làm khựng chân ông. Dù thế nào đi nữa nó vẫn còn nặng nề trong trí óc ông, lương tâm ông. Ông chẳng có thể chạy nhanh được. Gioan nhẹ nhàng hơn, nên chạy nhanh hơn. Ðó là một kinh nghiệm, một bài học chung cho chúng ta ! Nếu chúng ta muốn được nhạy cảm trong tình yêu Thiên Chúa. Trong sạch thì vẫn tốt, vẫn quý hơn phạm tội rồi xin Chúa thứ tha. Nhưng thái độ thứ hai xưa nay phổ thông hơn ! Tức thái độ của Phêrô. Bất hạnh thay cho nhân loại !

Sau khi gặp Chúa sống lại, Phêrô sẽ hoàn toàn thay đổi. Việc đó không xa lắm. Ánh sáng của Chúa Phục Sinh sẽ biến đổi Phêrô. Ông vui mừng đón nhận sự tha thứ của Ngài, và nồng nàn yêu mến Ngài hơn. "Lạy Thày, Thày biết con yêu mến Thày" (Ga 21,15). Ông cảm thấy không xứng đáng. Nhưng Chúa đã đặt ông làm thủ lãnh các Tông đồ, dẫn dắt Giáo Hội qua mọi thử thách khó khăn, bởi ông đã có kinh nghiệm về sự yếu đuối của mình, cho nên mọi thành công là phải trông cậy vào Chúa. Phêrô đã biết rõ điều ấy. Ông đã vượt được quá khứ của mình mà can trường đi theo Chúa Phục sinh. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng có thể bỏ lại quá khứ đàng sau, nếu như tâm hồn chúng ta trong sạch mà đón nhận Chúa sống lại ngự vào lòng. Bằng không mọi nghi lễ đều vô ích, chỉ thêm bôi bác. Hãy nhìn vào những ngôi mộ trống của quá khứ và nhận ra Chúa đã sống lại. Chúng ta còn hạnh phúc hơn Phêrô ở giai đoạn này của câu chuyện, bởi lẽ đối với ông ta, câu chuyện còn bấp bênh, chưa sáng tỏ. Còn chúng ta đã có tới hơn hai ngàn năm danh Chúa được rao truyền. Chúng ta thực sự đã "nhìn" thấy Chúa sống lại trong lịch sử Giáo Hội và trong cuộc đời các thánh. Chúng ta có sẵn lòng chấp nhận sự tha thứ của Ngài ? Trung kiên với Ngài và quên đi lỗi lầm của kẻ khác ?

Về phần người "môn đệ kia" được Chúa yêu mến. Ông có một kinh nghiệm khác về Chúa Giêsu. Tên của ông nói lên tính chất của ông : Con của Thiên lôi (Mc 3,17), và thiên hạ biết ông nhiều qua tính cách đó. Ngày nay, cứ đọc những gì ông viết ra thì quá rõ. Ông ý thức vững chắc mình được Chúa yêu mến, điều này đã làm ông hối hả chạy ra mồ. Tình yêu thúc bách ông. Và khi Chúa đã về trời ông lãnh chức vụ "Sứ giả của tình yêu". Ở ngôi mộ trống ông chẳng cần bằng chứng nào cả, tình yêu đã mở mắt cho ông. Ông thấy và ông tin. Ông là người tín hữu đầu tiên trong Hội Thánh về sự kiện Chúa sống lại. Như vậy ông khích lệ chúng ta nhìn vào những mộ chết của quá khứ, mà nhận ra khả năng một cuộc sống mới. Cuộc sống phục sinh. Biết rằng mình luôn được Chúa xót thương. Chúng ta tin cậy vào tình yêu Ngài, vào cuộc sống mai sau.

Lúc này, bài đọc Tin Mừng khơi dậy trong tâm hồn chúng ta những tình cảm phấn khởi, thiêng liêng. Chúng ta cũng là những "môn đệ khác" được Chúa yêu mến, cứu chuộc. Tình yêu của Ngài thật no tròn, phong phú và chữa lành. Chúng ta chẳng xứng đáng, chẳng có công lênh gì trong tình yêu ấy. Nhưng Chúa Phục Sinh vẫn tưới gội trên mỗi người chúng ta, trong cộng đoàn này ! Vậy thì, trở lại từ ngôi mộ trống rỗng của Ngài, chúng ta phải suy nghĩ nên sống thế nào cho xứng người môn đệ Chúa ? Yêu thương thế nào cho tốt đẹp hơn ? Biết chắc là những linh hồn được Chúa yêu mến, chúng ta phải luôn đặt cho mình những câu hỏi thích đáng : Tôi có hằng đón nhận tình yêu của Ngài xứng hợp không ? Tôi có dám "đánh liều" yêu thương thiên hạ như Chúa đã yêu tôi không ? Tôi có đủ can đảm "đánh đổi" cuộc đời của mình cho những kẻ nghèo khổ, lang thang, xì ke, ma túy, đĩ điếm, rượu chè… như Chúa dám thực hiện trong tuần thương khó vừa qua vì tôi không ? Văn Minh tình thương sẽ chỉ được nảy sinh từ những quyết định lành thánh đó. Xin Chúa Kitô Phục Sinh bảo trợ cho chúng ta thành công để nhân loại có thể được nhìn thấy ơn sống lại. Amen. Alleluia.


Fr. Jude Sicilianô, op

Hãy Phục Sinh với Chúa Kitô. Alleluia !
(Ga 20, 1-9)

Thưa quý vị, Chúng ta có năm lựa chọn cho Phúc âm tuần này. Tuy nhiên, các bài đều mở đầu giống nhau : “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần” (Ga). “Chiều ngày Sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng”(Mt)… Tuần tới thánh Gioan cũng dùng giọng văn tương tự để thuật chuyện Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở phòng trên lầu của nhà tiệc ly : “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì sợ người Do thái.”(Ga 20, 19) Thường thường các tác giả Phúc âm không quan tâm đến ngày tháng chính xác, chỉ kể chung chung. Thí dụ : “Sau đó Chúa vào thành Giêrusalem” hoặc “Sáng sớm Chúa lên đền thờ”. Nếu ai hỏi lý do tại sao thì các thánh sử trả lời : Việc đó không quan trọng. Điều quan trọng là sự kiện. Vậy hôm nay là ngoại lệ và chắc chắn phải có lý do.

Mặc dù chi tiết trong các bài Tin Mừng hôm nay rất lộn xộn, không bài nào ghi lại đầy đủ những lần Chúa hiện ra, hoặc theo một thứ tự hợp lý. Thí dụ, có mấy thanh niên mặc áo trắng trong mồ ? Hai thiên thần hay chỉ một ? Marcô viết : “Vào trong mộ các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải mặc áo trắng.” Luca lại nói : “Họ còn đang phân vân thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói đứng bên họ.” Gioan rõ hơn : “Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mồ thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.” Bà Maria Macdala ra mộ một mình hay còn các phụ nữ khác cùng đi ? Tuy nhiên, về thời gian Chúa sống lại thì các thánh sử đều rõ ràng, không phải bất cứ ngày nào trong tuần mà là ngày thứ nhất. Các vị có dụng ý cho độc giả thấy việc Chúa phục sinh là một khởi đầu mới, giống như việc tạo dựng vũ trụ.

Cho nên Tân Ước ưa dùng cụm từ “trời mới đất mới” để mô tả Hội thánh trong kỷ nguyên phục sinh. Tín hữu không còn thuộc về thế giới cũ, nô lệ cho tội lỗi, mà thuộc về vương quốc tái sinh, tràn đầy ơn thánh. Ngày tạo dựng, Thiên Chúa đã làm cho ánh sáng chiếu thâu qua bóng tối để soi sáng vũ trụ, thì ngày hôm nay, Chúa phục sinh cũng xuyên qua tối tăm của sự chết để mang hy vọng cho nhân loại. Hai biến cố đều do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa . Cho nên chúng ta không còn lý do để sợ hãi, không còn lý do làm tôi dục vọng, nhưng phải sống tinh tuyền theo ánh sáng Chúa soi đường.

Chúng ta nên suy gẫm thấu đáo hơn về các bài đọc hôm nay. Và lấy chuyện của ba môn đệ trong biến cố Chúa sống lại (Maria Macdala, Phêrô, Gioan) làm thầy dạy. Trước hết, bà Maria đi ra mồ trong tâm trạng giống hệt mọi người trước đau thương : Khóc lóc, thở than, thất vọng, tôn kính người quá cố, gợi nhớ các kỷ niệm, cái chết bất ưng không lường trước. Chắc chắn bà không có tư tưởng thầy sẽ sống lại. Thánh Gioan ký thuật : “Lúc trời còn tối bà Maria Macdala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ.” Bà chẳng hiểu điều chi đã xảy đến cho xác Thầy. Bà hoàn toàn ngỡ ngàng, vì vẫn ở trong vòng tăm tối, chưa được đức tin soi sáng. Ngôi mộ trống không đủ thuyết phục bà Chúa đã chỗi dậy. Tư tưởng của bà vẫn bình thường như mọi người : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu.” Bà chỉ biết có thế và đã báo tin cho hai tông đồ Phêrô và Gioan có vậy. Chúng ta không thể gán cho bà tội giả tạo, sắp xếp sự việc rồi loan tin thất thiệt. Cũng chẳng thể tưởng tượng ra điều chi phức tạp hơn. Có chăng thì cố gắng nhìn vào thế giới thiên nhiên để tìm ra vài hình thức của sự hồi sinh.

Thí dụ, tổ kén sẽ trở thành bươm bướm nhờ ơn huệ của trời đất và di truyền. Ở miền Bắc địa cầu, mùa đông chỉ thấy đất giá lạnh, trơ trụi, cây cối trơ cành như chết, nhưng mùa xuân ấm áp tới, thiên nhiên hồi sinh, cảnh vật trở thành nâu, rồi xanh và hoa lá bắt đầu trổ bông. Chúng ta có thể tưởng tượng đó là những dấu hiệu của sự hồi sinh, những chỉ dẫn cho thấy sự sống có thể phát xuất bất ưng từ cõi chết. Tuy nhiên, với những bằng chứng chết chóc hằng ngày không đủ để thuyết phục nhân loại là có hy vọng phục sinh. Thí dụ tai hoạ sóng thần ở Đông Nam Á, ôm bom tự sát ở Palestin, Iraq, sập mỏ ở Trung quốc, chết đói hằng triệu ở Phi châu, buôn bán phụ nữ trẻ con trên thế giới, chạy đua nguyên tử, tai nạn xe hơi, máy bay, xe lửa, xảy ra hầu như hằng ngày khắp nơi. Những biến cố đó và nhiều sự kiện chết chóc tương tự, chứng tỏ dù tổ kén biến thành bươm bướm, dù cành khô trổ bông tươi tốt cũng không đủ bằng chứng cống hiến cho nhân loại tình cảnh hồi sinh. Gần đây, một người họ hàng có chồng mới qua đời nói với tôi : “Anh ấy là toàn bộ đời con và các cháu. Anh ấy qua đi đột ngột chúng con làm thế nào đây ?” Những nỗi đau thương như vậy làm sao vượt qua ? Cái kén trở thành con bươm bướm không đủ. Cho nên lý luận biện chứng tự nhiên, chết đi để nảy sinh đời sống mới, vẫn chỉ là một ẩn số, cần bằng chứng lớn hơn, vững chãi hơn, ngõ hầu thiên hạ có thể tin.

Tạ ơn Thiên Chúa. Hôm nay chúng ta được bằng chứng đó. Các thánh sử thuật : bà Maria Macdala thực sự đã được gặp Chúa phục sinh và bà nhanh chóng loan truyền cho các môn đệ sợ hãi đang tụ họp ở căn phòng trên lầu : “Tôi đã xem thấy Chúa.” (20, 18) Một khi đã lãnh nhận ơn này, chúng ta cũng phải biết noi gương bà đem Tin Mừng cho mọi người. Nếu không thì là ích kỷ.

Tôi tự hỏi điều gì khiến ông Phêrô chạy chậm lại khi cùng người môn đệ khác hối hả đến mồ. Người ta thường giải thích là vì tuổi già sức yếu. Nhưng lúc ấy có lẽ ông chưa đầy 30. Vậy thì phải loại bỏ vấn đề tuổi tác. Thánh Gioan, người cùng chạy với ông, ngầm cho hay đó là do tâm lý. Phêrô nhớ lại mình chối thầy chỉ mới mấy ngày trước. Sự kiện còn quá mới mẻ để trực diện với ngôi mộ của Thầy. Gánh nặng quá khứ đeo đuổi lương tâm ông. Nếu đúng như vậy thì sự tha thứ của Chúa rất cần thiết cho ông. Đức tin vào Chúa phục sinh sẽ hoàn toàn thay đổi ông. Đức tin ấy ông không đạt đến được mà là ơn huệ nhưng không của Đấng phục sinh. Vì vậy ông cũng phải sẵn sàng ban cho kẻ khác. Xin nhớ có lần ông đã hỏi thầy phải tha thứ đến 7 lần chăng ? Chúa trả lời tới bảy mươi lần bảy. Lúc này ông cảm nghiệm điều đó một cách cụ thể, áp dụng vào chính bản thân mình. Cho nên, việc tha thứ không còn là lý thuyết mà là điều ông phải thực hành. Đây là bài học quý giá cho mỗi chúng ta, những kẻ đã nghe phúc âm nhiều lần, nhưng thực hành quá ít. Nếu như thời Trung cổ người ta hoả thiêu nhau vì hận thù thành kiến, thì bây giờ người ta cũng không kém độc ác. Phải chăng chúng ta là môn đệ Đức Kitô ? Câu trả lời tích cực xem ra gượng ép.

Nếu như chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống với các tông đồ hôm nay và bày tỏ đức tin vào Chúa sống lại, thì chúng ta phải sẵn lòng tha thứ cho bất cứ ai xúc phạm đến mình. Có thể chúng ta không nặng nề lương tâm vì phản bội Chúa đến nỗi phải chậm lại bước chân khi đến gần mồ Chúa. Nhưng phẩm chất người tín hữu nơi chúng ta thật nghèo nàn, tình yêu chúng ta dâng cho Chúa thường khi yếu ớt. Chúng ta không dám dấn thân như Ngài đòi hỏi, không dám phục vụ những kẻ nghèo nàn, xấu số, bơ vơ, ngoài lề như đức ái thúc giục, chúng ta tìm kiếm tiện nghi dễ dãi cho bản thân, quên bẵng những nhu cầu của hàng xóm láng giềng. Tệ hơn nữa, lánh xa không dám tiến đến gần “ngôi mộ trống” của đức tin chân thành, tức các hy sinh hãm mình, từ bỏ đam mê tội lỗi, các ưa thích riêng tư, tivi, đầu máy, các băng đĩa khiêu dâm đồi bại, các giải trí “lành mạnh” nơi hộp đêm, hồ tắm ; nói chung “đi sung sướng” như kiểu nói bóng bảy của một số tu sĩ trẻ.

Nhưng nếu chúng ta vì gánh nặng quá khứ mà chậm bước như Phêrô thì có nguy cơ chẳng bao giờ được trông thấy Chúa phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần sẽ bình thường như các Chúa nhật khác, chẳng có chi để mà “mừng vui hân hoan” cất cao bài “Alleluia”. Ngược lại, nếu tông đồ Phêrô đã tin vào ơn sống lại, ông sẽ nhìn thế giới bằng quan điểm khác, qua lăng kính của Chúa Giêsu. Đối với ông không còn tiêu chuẩn đạo đức nào ngoài tiêu chuẩn Chúa Giêsu đã dạy, không còn thế giới quan nào ngoài giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Ông sẽ hoàn toàn gắn bó với Chúa, đi theo con đường hẹp của Ngài, từ bỏ mọi quyền lực trái nghịch với cây thập tự. Thực tế Phêrô đã làm như vậy. Chuyện này đã rõ ràng mọi tín hữu đều thông suốt cả. Phần chúng ta nếu tin vào sự sống lại, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều vấn đề của thế giới. Và hành động để thay đổi các quyền lực sự dữ, ngõ hầu bày tỏ công lý và tình yêu như Chúa dạy bảo. Thí dụ, tại sao trong một nước giàu có nhất thế giới như nước Hoa Kỳ lại có đến 25 % trẻ con sống trong cảnh nghèo khổ ? Tại sao dân chủ như nước Mỹ mà phần lớn phụ nữ chưa được hưởng quyền bình đẳng ? Tại sao nữ giới trong Giáo hội Công giáo chưa có tiếng nói ? Mặc dù Tin Mừng Chúa sống lại được một phụ nữ loan báo đầu tiên ? Làm thế nào đức tin vào Đấng phục sinh ban cam đảm và khả năng để chúng ta đối mặt với thế giới sa đoạ ngày nay, “ngày thứ nhất trong tuần” ?

Nếu lúc này đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” thì thánh Gioan nhắc nhở toàn thể nhân loại, đặc biệt là Giáo hội rằng có một điều gì hoàn toàn mới, hoàn toàn không biết trước đang xảy ra và chúng ta có lý do để phấn khởi. Một người nào đó được ơn soi sáng đã nhận ra. Thánh Gioan không tiết lộ rõ tên người ấy, chỉ nói “người môn đệ được Chúa yêu mến”. Xưa nay người ta vẫn gán cho chính ông. Nhưng thánh nhân để trống chỗ cho mỗi tín hữu được phép điền tên mình vào. Thật là một dụng ý tốt đẹp ! Chúng ta nên nhanh chóng thi hành kẻo lỡ vận hội trong mùa này : “Người môn đệ Chúa yêu mến nhìn vào trong mồ, ông đã thấy và ông đã tin”. Tình yêu mở mắt cho ông. Chúng ta cũng được đức tin mở mắt linh hồn và hãy tự gọi mình : “Người môn đệ được Chúa mến thương”. Hạnh phúc và hy vọng của mỗi tín hữu nằm ở đây. Kinh nghiệm về tình yêu Chúa mở ra cho chúng ta cơ hội lành thánh để thấy được bổn phận ơn gọi của mình “ngày thứ nhất trong tuần” ở không gian phục sinh. Khi nhìn vào trong mồ, các tín hữu cũng được mở mắt. Tình yêu Chúa đã ban tặng ơn đó, không do công nghiệp, tài khéo hay khôn ngoan của mình. Nó hoàn toàn là một ơn huệ nhưng không. Nhờ đó chúng ta chẳng còn sợ hãi thần chết trong muôn vàn thể hiện. Nó kêu mời mỗi người nhìn về tương lai, không còn nhìn lại quá khứ xem mình là ai, đã làm gì. Bởi vì quá khứ làm chúng ta nhát đảm. Đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ mới, với những thực tại và khả năng mới cho các môn đệ Chúa. Tình yêu Chúa phục sinh là căn bản của nếp sống mới này.

Chúng ta sẽ khởi sự hành động như những người được Thiên Chúa yêu thương, không còn mang trong lòng thù hận, ghét ghen; không tẩy chay, loại trừ nhau, không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi. Bởi vì Chúa đã cứu chuộc hết thảy mọi người. Làm thế nào những người được cứu chuộc lại có thể chia rẽ ? Làm thế nào họ không hợp lại thành một gia đình nhân loại yêu thương ? Tôi hy vọng chúng ta sẽ không rơi ra ngoài vòng tay thương yêu của Thiên Chúa. Chúng ta hoàn toàn liên kết với Đức Ki-tô trong cuộc sống của Ngài. Các mầu nhiệm của Ngài cũng là các mầu nhiệm của chúng ta. Cái chết của Ngài trên đồi Calvariô cũng là cái chết của các tín hữu. Ngài chịu thương khó không phải riêng lẻ mà như đại biểu của toàn thể nhân loại tội lỗi mà Ngài đã nhận lấy thân phận khi nhập thể làm người. Ngài nhân cách hoá nơi mình mọi lợi ích của chúng ta và có năng lực trả nợ cho mọi người. Ngài đã gánh chịu cái án tử hình mà tội lỗi chúng ta gây ra, còn Ngài hoàn toàn trong trắng.

Cho nên khi Ngài sống lại là mọi người đều được phục sinh trong Ngài. Thánh Phaolô ở bài đọc 2 quả quyết như vậy. Sự trỗi dậy của Ngài nhất thiết kéo theo sự phục sinh của toàn thể nhân loại. Chúng ta có thể tự hào mình đã sống lại và ngự bên hữu Thiên Chúa trên các tầng trời cao : “Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang ẩn tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa.” Trong lúc kỷ niệm cuộc khổ nạn, phục sinh và thăng thiên của Chúa Giêsu, chúng ta không chỉ nhớ lại quá khứ, nhưng là cử hành những mầu nhiệm hiện tại, tức là sự khổ nạn, phục sinh và lên trời thiêng liêng của mỗi linh hồn. Chính bí tích rửa tội nói lên tất cả thực tại đó. Vì thế, mọi người nhắc lại lời thề trong đêm vọng phục sinh. Lời thề không phải là hình thức nghi lễ mà có nội dung nghiêm trọng kèm theo. Chúng ta buộc phải thi hành, nếu muốn là môn đệ Chúa. Ước chi hôm nay đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” của mỗi cuộc đời tín hữu trong nếp sống mới, nếp sống phục sinh nơi Đức Kitô. Amen. Allêluia.


Như Hạ op

Halleluia !!!
Ga 20,1-9

Niềm vui chỉ là mấy phút phù du hay là điểm quan trọng làm nên cuộc đời ? Ðức Giêsu sẽ mạc khải cao điểm cuộc đời chính là niềm vui, chứ không phải đau khổ trong thân phận con người.

NIỀM VUI PHỤC SINH.

Ðức Giêsu đã tìm thấy ý nghĩa khổ đau khi đối diện với cái chết. Nhưng nếu không dẫn đến Phục sinh, chắc chắn cái chết đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Bởi vậy, Phục sinh phải đem ý nghĩa cho cuộc đời. Tự bản chất, đau khổ thật là phi lý. Chính vì thế, Phục sinh trở thành một biến cố vĩ đại nhất, vì trả lại cho đời tất cả những nét tươi mát và trong sáng nhất.

Có ánh sáng Phục sinh, tất cả đêm đen sẽ tan biến. Làm chứng cho ánh sáng Phục sinh có cả đội ngũ ngôn sứ và tông đồ. Quả thực, "tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội." (Cv 10:43). Sứ mệnh cứu độ đó chỉ được hoàn thành trong biến cố Phục sinh. Chính các tông đồ là chứng nhân Phục sinh đã xác quyết : "Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại." (Cv 10:40-41)

Người vẫn hiện diện âm thầm như thế trong đời thường. Những kinh nghiệm cụ thể đó đã bù đắp vào những thiếu sót trong hiện tượng mồ trống, một kinh nghiệm vừa ẩn vừa hiện.

Hiện trường mồ trống hoàn toàn vắng bóng nhân vật chính. Ðức Giêsu chỉ hiện diện một cách vô hình nơi nấm mồ trống với những băng vải và khăn che đầu, cũng như nơi các môn đệ với những trao đổi qua lại. Nhưng Người hiện diện mãnh liệt nhất qua niềm tin của môn đệ : "Ông đã thấy và đã tin" (Ga 20:8) Ðức Giêsu Phục sinh. Mãnh liệt đến nỗi hầu như ông thấy toàn bộ Kinh thánh đều hướng về biến cố Phục sinh và củng cố niềm tin ấy. Thực vậy, "theo Kinh Thánh, Ðức Giêsu phải trỗi dậy tự cõi chết." (Ga 20:9). Quả thực, làm sao ơn cứu độ có thể mở ra với cái chết như một bế tắc của định mệnh khắc nghiệt ? Nếu Ðức Giêsu kết thúc sứ mệnh nơi cái chết, làm sao có thể thấy được bằng chứng Chúa Cha đã nhận lời Chúa Con ? Nếu Ðức Giêsu không Phục sinh, bao lời Người hứa chỉ là hão huyền và niềm tin thành hư không. Nếu không sống lại, chắc chắn Ðức Giêsu đã không thể làm cho cuộc đời thành một Tin Mừng lớn lao đến thế.

Quả thực, sau khi Phục sinh, Ðức Giêsu đã làm vang lên khắp vũ trụ lời ca Halleluia. Chính nhờ Ðức Giêsu Phục sinh, thánh Phaolô mới có lý do để hô hào : "Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa ! Tôi nhắc lại : vui lên anh em !" (Pl 4:4) Bất cứ ai khi đã gặp Ðức Giêsu Phục sinh đều không che dấu nổi niềm vui bùng vỡ. Quả thế, khi ra khỏi mộ, các phụ nữ "rất đỗi vui mừng." (Mt 28:8). Khi xem thấy chân tay Ðức Giêsu, các tông đồ "mừng quá" (Lc 24:41) vì vượt quá sức tưởng tượng. Niềm vui bùng bỡ vì Ðức Giêsu đã sống lại để hoàn thành tất cả công trình cứu độ vĩ đại như Người đã hứa.

Niềm vui từ đầu tỏa xuống toàn thân. Ngày nay nhiệm thể Ðức Giêsu vẫn giữ được trọn vẹn niềm vui đó. Bằng chứng Giáo Hội vẫn có khả năng rao truyền Tin Mừng Phục sinh cho toàn thể nhân loại. Sở dĩ Giáo Hội có khả năng đó vì "Thần Khí của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí làm cho thân xác của anh em được sự sống mới." (Rm 8:11) Ðó là lý do tại sao thánh Phaolô dám quả quyết : "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Ðức Kitô nơi Thiên Chúa." (Cl 3:3). Sự sống mới tràn ngập "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Ðó là những sức mạnh nâng cao vũ trụ. Ðó là những giá trị thuộc thương giới, nơi Ðức Kitô "đang ngự bên hữu Thiên Chúa." (Cl 3:1) Muốn canh tân bộ mặt trái đất và xây dựng một cuộc sống thực sự hạnh phúc, "anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới," (Cl 3:2) tức là những bất công, ích kỷ, hận thù, tham lam, v.v. Tuy thế, "nếu Ðức Kitô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính." (Rm 8:10) Vì chính Thần Khí sẽ làm cho mọi người sám hối như bước đầu niềm hi vọng, bắt nguồn từ niềm tin vào Ðức Giêsu Phục sinh.

NIỀM VUI PHỤC SINH HÔM NAY.

Ðó là lý do tại sao trong cuộc giảng tĩnh tâm cho giáo triều Roma, cha Raniero Cantalamessa kêu gọi mọi người hãy chiêm ngắm đúng dung nhan Ðấng Phục sinh. Theo cha, "người ta đã có cơ hội Phúc âm hóa và thánh hóa sự đau khổ, nhưng "niềm vui" không được Phúc âm hóa cho đủ. Dung nhan Ðức Kitô đôi khi đã không được chiêm ngắm thỏa đáng vì truyền thống dồn mọi sáng kiến mục vụ vào "thời kỳ cao độ" và tập trung vào việc cử hành các nghi thức mùa chay (Zenit 22/03/2002). Mười bốn đàng Thánh Giá kết thúc nơi nấm mồ lạnh lẽo. Làm sao Ðức Giêsu có thể mở ra chiều hướng khá hơn cho nhân loại khi đi vào ngõ cụt như thế ? Cần phải thêm vào nơi thứ mười lăm với hình ảnh Phục sinh huy hoàng mới nói lên trọn vẹn công cuộc cứu độ. Nếu không, cái chết chỉ đem lại những bế tắc cho cuộc đời vốn đã quá nhiều bế tắc hôm nay.

Theo cha Cantalamessa, những thế kỷ đầu, trước khi thiết lập Mùa Chay, Phục sinh đã là một thời gian đặc biệt để chịu các bí tích, học giáo lý và cử hành các nghi thức phụng vụ. Ngày nay, trái lại, các chủ đề Khổ nạn trổi vượt hơn các chủ đề Phục sinh. "Trong thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng tôi nhận thấy Phúc âm hóa hạnh phúc và niềm vui cũng quan trọng không kém việc Phúc âm hóa sự đau khổ. Việc Phúc âm hóa đau khổ sẽ làm cho các bạn trẻ và cả những người khác nghĩ rằng Thiên Chúa là kẻ thù của niềm vui, và tưởng rằng đối với Thiên Chúa, mọi thứ hạnh phúc, lễ lạc, niềm vui bộc phát đều là tội lỗi." (Cantalamessa : Zenit 22/03/02) Khuynh hướng tự nhiên ai cũng cho đời là bể khổ. Nhưng nếu nhìn đời theo nhãn quan đó, làm sao Ðức Giêsu có thể trở thành Tin Mừng cho trần gian ?

Chính ánh sáng Phục sinh sẽ đem Tin Mừng đến cho trần gian đau khổ. "Phục sinh của Ðức Kitô phải là lời khẳng định quyết liệt nhất cho mọi người biết rằng vào cuối đời không còn đau khổ và từ bỏ, nhưng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Ðức Giêsu đã đập tan xích xiềng của thứ hạnh phúc sinh đau khổ và đã thay thế bằng thứ đau khổ sinh hạnh phúc." (Cantalamessa :Zenit 22/03/02) Lúc lên tới tột điểm khổ đau, Ðức Giêsu vẫn không đánh mất hạnh phúc. Giữa lúc mọi sự đều tan rã, Người bám chặt vào tình yêu Thiên Chúa, Ðấng sẽ trả lại sự sống cho Người trong vinh quang Phục sinh. Hơn lúc nào, khi cả nhân loại đang bên bờ diệt vong, Ðức Giêsu Phục sinh phải được rao giảng như niềm vui lớn lao nhất. "Niềm vui phải là tiếng nói cuối cùng, chứ không phải đau khổ. Phải cấp thiết làm cho dung nhan Ðấng Phục sinh chiếu sáng trước mắt người thời nay." (Cantalamessa : Zenit 22/03/02) Nếu không, thế giới vẫn mãi mãi tiêu điều như "sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối Maria Mácđala đi đến mộ." (Ga 20:1) Hôm nay, Maria và các môn đệ Ðức Giêsu đã hăng hái rao giảng Ðức Giêsu Phục sinh cho toàn thể nhân loại. Không còn lý do gì để trở lại cảnh hoang lạnh như nấm mồ trước mắt Maria nữa !


G. Nguyễn Cao Luật op

Chúng Tôi Xin Làm Chứng
Ga 20,1-9

Buổi sáng vội vã

Vào buổi sáng ngày lễ Vượt Qua này, theo các trình thuật Tin Mừng, dường như mọi người đều ở trong tâm trạng bồn chồn, có vẻ rất vội vã. Ngay từ sáng sớm, đã có nhiều người tìm đến một ngôi mộ, mỗi người có hoàn cảnh và mục đích riêng.

Theo Tin Mừng Mác-cô, "sáng tinh sương, ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc ...", các phụ nữ đã chứng kiến việc an táng Ðức Giêsu vào ngày thứ sáu, đã ra mộ, mang theo dầu thơm để ướp xác Ðức Giêsu ... Sau đấy, khi đã nhìn thấy ngôi mộ trống, và gặp một nhân vật lạ, các bà đã rời nơi ấy, "cắm đầu chạy, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía".

Còn theo Tin Mừng Gioan, cô Maria Mác-đa-la ra thăm mộ và "thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ". Mấy ngày trước đây, cô đã trải qua những giờ phút đầy phiền muộn khi chứng kiến Vị Thầy yêu quý của mình chịu chết và được an táng trong mộ. Lúc này, cô cảm thấy sợ hãi : cô nghĩ rằng ai đó đã lấy cắp thi thể của Ðức Giêsu và đem đi mất. Trong đầu cô xuất hiện một mối hoài nghi : Ðức Giêsu đã là nạn nhân của lòng thù ghét, phải chăng Người còn bị truy đuỗi ngay cả khi đã nằm trong mộ ? Thế là cô chạy về báo tin cho những người bạn của Ðấng đã từng giải thoát cho cô.

Nghe lời thuật lại của cô Maria Mác-đa-la, hai ông Phêrô và Gioan liền đi ra mộ. Cả hai người đều chạy. Tới mộ, các ông đã nhìn thấy "những băng vải, và khăn che đầu Ðức Giêsu, được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi". Trước bằng chứng này, các ông gạt bỏ giả thuyết thi thể Ðức Giêsu bị đánh cắp.

Nhưng trong khi ông Phêrô còn phân vân, chưa hiểu được sự kiện xảy ra có ý nghĩa gì, thì người môn đệ Ðức Giêsu yêu quý đã hiểu rõ : ông nhận ra rằng không có chuyện đánh cắp thi thể Ðức Giêsu. Qua các tấm khăn được xếp lại và để riêng, ông đọc thấy những dấu chỉ về một cuộc Phục Sinh đích thực ; sự sống đã đánh bại vương quốc tử thần. Chỉ có tình yêu mới đem lại cho người môn đệ ấy cặp mắt sáng ngời, biết nhìn ra mầu nhiệm giấu ẩn đằng sau những sự kiện. Nhờ tình yêu ấy, ông đã nhìn và đã tin, đổng thời khám phá ý nghĩa trọn vẹn của con người Giêsu - Ðấng đang sống.

Trở lại chuyện với cô Maria Mác-đa-la, cũng do tình yêu thúc đẩy, cô đã tìm đến mộ mà than khóc. Nhờ đó, cô là người đầu tiên được gặp gỡ Ðức Giêsu Phục Sinh, và sau đó trở thành người đầu tiên loan báo Tin Mừng Phục Sinh.

Quả là một buổi sáng nhiều vội vã, dổn dập sự kiện quanh một ngôi mộ. Nhiều người đã tìm đến ngôi mộ, và rổi lại từ đó ra đi, bắt đầu một hành trình mới, tin tưởng hơn, hăng hái hơn.

Phục Sinh, một hứng khởi kỳ diệu

Nếu không có Phục Sinh thì cuộc đời Ðức Giêsu đã chấm dứt với một thất bại rõ ràng : chết trên thập giá, những người bạn thân tín bỏ trốn hết.

Tuy nhiên, vấn đề được nêu lên là làm sao có thể giải thích được cái chết ấy là khởi đầu cho một hứng khởi kỳ diệu là niềm tin Kitô giáo ? Trong thế kỷ đầu, mặc dù những cuộc bách hại khốc liệt diễn ra khắp nơi, nhưng Ðức Giêsu đã được biết đến, được yêu mến, được tiếp nối và thờ kính ở khắp vùng ven Ðịa Trung Hải và cả những miền lân cận.

Về vấn nạn này, các tông đồ và các môn đệ đã giải thích : "Ðức Kitô đã sống lại. Chúng tôi xin làm chứng." Cụ thể như trường hợp ông Gioan : "ông đã thấy và đã tin". Khởi đầu từ những yếu tố khác nhau như ngôi mộ trống và những lần Ðức Giêsu hiện ra, tất cả trở nên sáng tỏ trước mắt ông : ông nhớ lại những điều Ðức Giêsu nói, những việc Người làm, và ông tin. Nhờ ánh sáng của Thần Khí, ông cảm nghiệm được rằng : Ðức Giêsu đã chỗi dậy, Người đang sống.

Với tất cả các tông đồ khác cũng vậy. Các ông xác tín vào mầu nhiệm Phục Sinh và xác tín này làm thay đỗi cuộc đời các ông : thái độ sợ hãi được nhường chôỵ cho thái độ can đảm trong lòng tin. Các ông sẵn sàng làm chứng về Ðức Giêsu Phục Sinh dù phải hy sinh tính mạng. Cũng nhờ xác tín đó, nhờ thái độ can đảm và kiên quyết, các ông đã lôi kéo cả một đám người, mỗi ngày một đông hơn, Do-thái lẫn dân ngoại, đi theo các ông và cùng tin như các ông. Sau đó, đến lượt mình, những người này cũng quả quyết Ðức Giêsu đã sống lại, Người là Chúa.

Thật thế, sự chỗi dậy từ cõi chết là đỉnh cao trong cuộc đời Ðức Giêsu, giúp cho các tông đồ thấy rõ cuộc đời và con người Ðức Giêsu. Ðối với các ông, những lời Người nói, những việc Người làm, lời Người cầu nguyện, nhất là cái chết của Người, tất cả đều có ý nghĩa thâm sâu và phong phú. Sự Phục Sinh này đã mở mắt các ông, cho các ông nhận ra Ðức Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa, Người là ánh sáng trần gian.

Do đó, cái chết của Người trên thập giá có ý nghĩa đặc biệt : đó không phải là dấu chứng về thất bại, nhưng là chứng tá tuyệt vời về tình yêu. "Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" (Ga 15,13). Trước mắt các ông, Ðức Giêsu thật là Ðấng Cứu Thế.

Mở đường hướng tới tương lai

Cuộc Phục Sinh của Ðức Giêsu cũng soi chiếu cuộc đời chúng ta và lôi kéo chúng ta. Ðức Giêsu, Ðấng đã trải qua cái chết, chính Người là Thiên Chúa, đổng thời cũng vẫn là một người như chúng ta, là anh em của chúng ta. Lễ Phục Sinh đem lại cho chúng ta biết bao hứng khởi để cố gắng bênh vực con người, để mỗi người cũng được phục sinh như Ðức Kitô.

Quả thế, lễ Phục Sinh cho thấy tất cả mọi khía cạnh trong câu nói của Ðức Giêsu : "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở trong tình thương của Thầy ... hãy yêu thương nhau ..."

Những việc Ðức Giêsu làm, những lời Người nói giúp chúng ta nhìn cuộc đời theo một cách thức mới ; chính Người là Thầy, nhưng lại sống trong thân phận một tôi tớ. Người đã nói : "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó ... ai hiền hoà ... xây dựng hoà bình ..." và Người đã sống đến cùng. Chính Thiên Chúa nói trong Ðức Giêsu Kitô và thúc đẩy chúng ta bước theo Người, hành động như Người.

Lễ Phục Sinh còn mở ra cho chúng ta những cánh cửa hướng tới tương lai. Phục Sinh, đó là vượt qua. Ðức Giêsu là người đầu tiên vượt qua để làm cho chúng ta cũng vượt qua với Người. Phục Sinh, đó là cánh cửa hướng đến sự sống không bao giờ tận : từ nay cuộc đời trần thế của chúng ta đã có một chiều kích mới, chiều kích vĩnh cửu.

Với Ðức Giêsu Phục Sinh, không có con đường nào là con đường cùng, không lối ra ; cái chết không còn phải là rào cản ; tội lỗi có thể được thứ tha và tội nhân có thể được giải thoát. Chúng ta luôn có thể lên đường lại, và không bao giờ thất vọng về chính mình cũng như người khác, bởi vì từ nay, Ðức Giêsu đã làm nảy sinh tình yêu, khởi đầu từ những hận thù đỗ xuống trên chính Người.

"Này Maria,

hãy mau tìm các môn đệ của Thầy,

hãy cất tiếng hát đem lại bình an

cho những người bạn của Thầy đang sợ hãi,

để họ thức dậy và đến gặp Thầy,

để họ thắp lên những ngọn đuốc.

 

Này các Tông Ðồ, hãy xua đi mọi ưu sầu phiền muộn,

vì Thầy đã chỗi dậy và đem lại sự sống

cho loài người đang tuyệt vọng ..."

(theo Romanos le Melode)


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Mộ trống
Ga 20,1-9

Hôm nay, không riêng gì Giáo Hội Công giáo, mà tất cả những người tin Chúa Giêsu trên khắp thế giới, đều hân hoan mừng kính cuộc hiển thắng khải hoàn của Đấng chí thánh trên tội lỗi và sự chết. Chúa Giêsu đã bị giết chết trên thập giá, được an táng trong mộ đá, nhưng ngày thứ ba sau khi chết, Ngài đã sống lại.

Chúa đã sống lại thế nào ? Ai đã khám phá ra điều này ? Cả bốn sách Tin Mừng đều tường thuật biến cố này, nhưng đều không cho biết Chúa Giêsu sống lại như thế nào, vì thực sự không ai có mặt để chứng kiến biến cố lịch sử quan trọng đó. Nhưng cả bốn sách Tin Mừng khi kể về biến cố này đều nhất trí bốn điều sau đây :

Thứ nhất, thời gian Chúa sống lại là sáng ngày thứ nhất trong tuần, thứ hai, sự việc xảy ra là mộ trống, xác Chúa không còn trong mộ, thứ ba, nhân vật chứng kiến mộ trống là bà Maria Mác-đa-la, hai tông đồ Phêrô và Gioan, thứ tư, Tin Mừng được loan báo : Chúa Giêsu đã sống lại.

Chẳng hạn bài Tin Mừng hôm nay, theo thánh Gioan kể lại, thì sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, theo cách tính bây giờ là sáng sớm ngày Chúa Nhật, bà Maria Mác-đa-la đã đến thăm mồ Chúa trước hết, bà thấy tảng đá che cửa mộ đã được lăn ra một bên và Chúa Giêsu không còn ở đó nữa. Thấy mộ trống, bà chạy ngay về báo cho các môn đệ của Chúa biết. Được báo tin, tuy chưa hiểu ất giáp gì và cũng chẳng tin, nhưng hai ông Phêrô và Gioan cũng chạy đến mộ xem sao. Vào bên trong mộ, hai ông chỉ thấy mộ trống và khăn liệm, khăn che đầu được xếp lại hẳn hoi. Sự kiện mộ trống, Chúa Giêsu không còn ở trong mộ vẫn được coi như một bằng chứng cụ thể để chứng minh Chúa đã sống lại.

Tuy nhiên, sự kiện mộ trống đã được giải thích rất khác nhau. Thứ nhất, có người cho rằng : xác Chúa Giêsu không còn trong mộ, là do cơn động đất đã nuốt xác Chúa vào lòng đất. Có đúng như vậy không ? Hẳn là không. Nếu thực sự có động đất ở ngay chính ngôi mộ của Chúa, thì phải giải thích thế nào về những vấn nạn sau đây : trước hết, nếu động đất thì ngôi mộ này phải sập, thế mà ngôi mộ vẫn còn nguyên, chính Phêrô và Gioan đã chui vào trong mộ đó bình an. Tiếp đến, nếu động đất mất xác, thì phải mất luôn khăn liệm và khăn che đầu, tại sao hai khăn đó vẫn còn lại, không nhàu nát hay bị rách mà lại được gấp xếp lại hẳn hoi? Do đó, vấn đề động đất mất xác Chúa, làm mộ trống là không có cơ sở, thiếu bằng cớ vững chắc.

Thứ hai, có người lại cho rằng : xác Chúa Giêsu không còn trong mộ là vì đã bị ăn cắp. Ai ăn cắp ? Người Do Thái hay môn đệ của Chúa ? Chúng ta có thể trả lời dễ dàng: xác Chúa không thể bị người Do Thái ăn cắp, vì đang là mùa lễ Vượt Qua của người Do Thái, rất đông khách thập phương tới Giê-ru-sa-lem dự lễ, nên cần phải có nhiều lính canh phòng an ninh. Nhất là trường hợp của Chúa càng quan trọng hơn, họ đã từng nghe Chúa nói “Chúa chết rồi, nội trong ba ngày Ngài sẽ sống lại”, dù không tin hay hồ nghi thì họ càng canh giữ cẩn thận hơn, nên không dễ gì mà ai ăn cắp xác Chúa được. Nếu như người Do Thái ăn cắp xác Chúa thực sự, thì lúc ấy tại sao họ không đem xác Chúa ra mà phản đối, hay ít ra họ chỉ chỗ họ giấu xác Chúa để làm bằng chứng mà phản đối. Trong khi đó, thánh Phêrô đã giảng dạy và làm cho nhiều người tin và trở lại qua sự kiện Chúa sống lại.

Đàng khác, xác Chúa cũng không thể do các môn đệ ăn cắp, bởi vì có người cho rằng : các môn đệ đã tổ chức ăn cắp xác Chúa lúc lính canh ngủ. Có đúng không ? Các tông đồ là những người nhút nhát, sợ hãi mà lại dám ăn cắp xác Chúa sao ? bằng chứng : khi Chúa chết, các ông bỏ chạy trốn hết, rồi ở lại trong phòng cửa đóng then cài, không dám đi đâu cả; và sự kiện mộ trống là do các bà phát giác ra, chứ đâu phải do các tông đồ. Nếu các ông ăn cắp xác Chúa thì tại sao khi nghe các bà báo tin, ông Phêrô và Gioan còn chạy ra mộ kiểm chứng làm chi ? Đàng khác, mộ có lính canh cẩn thận, nếu mất xác, lính canh sẽ bị phạt theo luật định, nhưng thực tế không có người lính nào bị phạt. Hơn nữa, Tin Mừng còn cho biết : họ ăn tiền đút lót của giới lãnh đạo rồi phịa tin xác Chúa bị các môn đệ lấy cắp. Cũng thế, nếu xác Chúa mất thật, thì phải có trát tòa ra lệnh đi tìm và lính canh mộ sẽ bị phạt, hoặc chính người ăn cắp sẽ bị phạt, nhưng tất cả đều không có gì hết.

Như vậy, các lý lẽ đưa ra để bác bỏ sự kiện mộ trống và phủ nhận việc Chúa sống lại đều không đúng sự thật và không hợp lý. Đối với chúng ta, sự kiện mộ trống là một bằng chứng hiển nhiên, rõ ràng minh chứng Chúa Giêsu đã sống lại thực sự. Và cả bốn sách Tin Mừng đều ghi lại sự kiện này, và giáo lý của các tông đồ đầu tiên, đều dùng sự kiện mộ trống làm bằng chứng cho việc Chúa sống lại.

Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu không chỉ liên hệ đến cuộc đời Ngài, mà con ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của toàn thể nhân loại, cũng như ảnh hưởng mật thiết đến cuộc sống, đến lòng tin và niềm hy vọng của tất cả chúng ta. Thực vậy, Chúa Giêsu đã hy sinh chết thay cho loài người để loài người được sống, không phải cuộc sống mau qua ở đời tạm này, mà là cuộc sống bất diệt trên cõi trường sinh. Sự sống lại của Chúa là bằng chứng cụ thể cho niềm tin đó, nghĩa là chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin chúng ta được cứu chuộc, bởi vì Chúa sống lại Chúa mới cứu chuộc được loài người. Nếu như Ngài chết luôn thì Ngài không có quyền gì cứu chuộc chúng ta, nhưng Ngài đã sống lại, để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa và Ngài có quyền cứu chuộc được tất cả chúng ta. Cũng thế, Chúa sống lại còn là niềm hy vọng cho chúng ta : tất cả chúng ta cũng sẽ sống lại, thân xác chúng ta sẽ sống lại. Do đó, đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu Phục Sinh không phải là điều hão huyền mà là một bảo đảm có giá trị to lớn tuyệt vời.

Xin Chúa cho chúng ta biết sống tốt đẹp để hy vọng cũng sẽ được sống lại để cùng Ngài hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời. Al-lê-lu-ia.


Bernard Huỳnh Hữu Phúc op

Đức Kitô Phục Sinh đã chiến thắng khải hoàn
(Ga 20, 1-9)

Nếu không có đức tin, cái chết là một phi lý: Cuộc đời trở nên bi đát, cuộc sống đi vào ngõ cụt. Nhưng thực tế chứng minh cái chết đã bị thay đổi trong cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, nó ngược hẳn với những hiện tượng bên ngoài. Nhìn bề ngoài, chết là chấm dứt sự sống, nhưng trong Đức Giêsu Phục Sinh, chết là sự sinh nở, là bước vào cuộc thông hiệp trọn hảo với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đức Giêsu sống lại, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ số phận con người được nâng lên làm con cái Thiên Chúa. Thực vậy, cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu đã giao hoà con người với Thiên Chúa, kể từ đây, con người thực sự có quyền để trở thành công dân Nước Trời. Thế nhưng, điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải có một tình yêu xác quyết đối với Thiên Chúa để đáp trả tình yêu của Người đối với thế nhân.

Trình thuật Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay kể lại rằng: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, cả 3 người: Maria Mác-đa-la, Simôn Phêrô và Gioan tất tả chạy ra mộ. Họ chạy ra mộ để làm gì ? Phải chăng để tìm hiểu nguyên nhân vì sao xác Thầy Giêsu không còn trong mộ ? Điều này xét ra cũng hợp lý khi Maria Mác-đa-la hớt hãi chạy kể cho Phêrô và Gioan: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” (Ga 20, 2) Thực vậy, khi bước vào bên trong phần mộ, họ quan sát thấy khăn liệm xác còn đó, dây băng nhỏ còn đây, chiếc khăn che đầu để riêng một chỗ, nhưng người chết không còn đó nữa. Cuối cùng, họ đã tin: Chúa đã sống lại. Và sau biến cố Chúa sống lại, Phêrô đã mạnh dạn làm chứng rằng:“Đức Giê-su ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi.” (Cv 2, 23-24) Đó là niềm tin của Phêrô và các tông đồ. Đó là niềm tin của Giáo Hội và của chúng ta hết thảy.

Mầu nhiệm Phục Sinh là mầu nhiệm căn bản của Đức Tin Kitô hữu. Tín hữu là những người có Đức Tin, chúng ta tin chắc rằng Đức Giêsu đã mai táng sự chết trong cuộc Phục Sinh vinh quang của Ngài. Ngày hôm nay, chúng ta vui mừng và cám ơn Đức Giêsu đã sống lại, đã ban cho ta niềm tin vào Chúa là Thiên Chúa có quyền năng trên sự sống và sự chết. Phục Sinh không chỉ là một niềm tin mà còn là niềm hy vọng của tín hữu. Chúa Kitô đã trải qua con đường đau khổ và chết trên thập giá để đến vinh quang khải hoàn sống lại bằng một cuộc sống mới, mà cái chết không còn quyền lực gì trên Người nữa. Vì thế, mỗi Kitô hữu có quyền trông cậy vào công cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa để vững tin rằng: không gian lao đau khổ nào có thể làm cho ta mất niềm hy vọng vào Đức Kitô. Qua mọi thời đại, các Thánh Tử Đạo luôn là những chứng nhân cho niềm tin Đức Kitô Phục Sinh, các vị không chỉ làm chứng bằng lời nói mà còn bằng cả lòng can đảm, bằng chính mạng sống của mình.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể !

Chúa đã sống lại là niềm cậy trông của chúng con. Chúa đã sống lại thì chúng con chắc sẽ sống lại như Chúa. Xin Chúa luôn đổ tràn Thần Khí Chúa trên mỗi tín hữu, để chúng con giữ vững niềm tin Kitô giáo và sẵn sàng trở nên nhân chứng trung thành cho Chúa ngay trong lòng Giáo Hội lữ hành trần gian. Amen.


Đỗ Lực op

Hãy Vùng Lên
(Ga 20:1-9)

Mầu nhiệm sự ác lộng hành khắp nơi. Dưới sức mạnh kinh hồn đó, làm sao con người có thể vượt thoát ? Hơn nửa thế kỷ qua, sự ác đã mượn cánh tay “Bắc Kinh 'cai trị bằng khủng bố' và 'diệt chủng văn hóa'” [1] Tây Tạng. Nhưng “bất chấp áp lực đến từ phía công an, khoảng từ 300 đến 400 nhà sư Tây Tạng cũng đã rời tu viện tiếp tục cuộc tuần hành phản đối chính quyền Trung Quốc.” [2] Hàng chục ngàn người dân đã nhập đoàn với đoàn tăng lữ. Kết quả “ít nhất 80 người biểu tình bị thiệt mạng.” [3]

Vượt qua nỗi sợ, dân Tây Tạng vùng lên tranh đấu và mở đường cho quê hương vào kỷ nguyên độc lập và tự do. Nỗi thống khổ của dân tộc Tây Tạng tiêu biểu cho số phận nhân loại suốt mấy ngàn năm dưới ách thống trị của Satan. Nếu Chúa Giêsu không can đảm đương đầu với tử thần, chắc chắn nhân loại không bao giờ có thể thoát khỏi vòng kiềm tỏa của mầu nhiệm sự ác. Hơn nữa, Chúa đã phá tan âm phủ để phục sinh và dẫn đưa mỗi người chúng ta vào cuộc sống mới.

CHIẾN THẮNG THẦN CHẾT

Chúng ta không chối bỏ sự dữ hay làm ngơ trước những khốn cùng của nhân loại. Vì tin Chúa Kitô đã phục sinh, chúng ta không đầu hàng trước quyền lực sự dữ. Người phục sinh để chiến thắng thần chết, minh oan cho những ai đau khổ, đưa lại sự sống mới. Ðó là sứ điệp Phục sinh của mầu nhiệm vượt qua. Phải trải qua cái chết, Chúa mới trở thành Chiên Vượt Qua đem lại sự sống đích thực cho nhân loại.

Chúa Cha đã sai Chúa Con đến trần gian để mời gọi mọi người xây dựng Nước Trời. Ðây là một công trình đòi mọi người phải thay đổi hoàn toàn : “Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Quả vậy, Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ.” (1 Cr 5:7-8) Lòng gian tà và độc ác hiện nguyên hình trong những cơ chế bất công lan rộng khắp nơi. Chính Chúa đã đối mặt với những sức mạnh ghê hồn đó. Không những không bị thứ men cũ đó lây nhiễm, Chúa còn vượt qua nỗi sợ và đem lại sự sống mới cho nhân loại.

Trong Tân Ước, men là biểu tượng sự mục nát. Sự thối nát bắt nguồn từ sự sợ hãi của chúng ta. Dân chúng không dám đối diện với sự thật, vì họ bị đe dọa. Họ dấu giếm sự thật. Sự thối nát có thể ở trong các cơ chế như Giáo hội, gia đình, chính trường hay bất cứ loại cơ chế nào. Một khi dân chúng ngoảnh mặt với chân lý, họ sẽ chùn bước trước thực tế và bắt đầu nói dối, lừa đảo, giấu diếm. Ðó là cách khiến mọi sự nhiễm độc. Theo thánh Phaolô, Chúa kêu gọi chúng ta bước vào cuộc sống mới với Chúa Phục sinh, thoát khỏi men cũ. Ðó là một lối sống phi thường, vượt qua nỗi sợ, nhất là cái chết.

Chúa Giêsu phục sinh để đem lại sự sống mới, đó là Nước Thiên Chúa. Nơi đây chỉ những ai có “lòng tinh tuyền và chân thật” mới có thể sống. Như thế, Phục sinh đã chiếu vào trần gian ánh sáng chân lý, công lý và bình an.

MÃNH LỰC TÀ THẦN Ở ÐÂU ?

Nhưng trong vương quốc Satan vẫn đầy dẫy những con người “gian tà và độc ác.” Lòng họ đầy ghen tương, đố kỵ và tranh chấp. Mọi hình thức bạo động có thể được dùng để đàn áp dân oan. Trong hệ thống xã hội đạo đời thời Chúa Giêsu, ai không chu toàn bổn phận đều bị tử hình. Nếu luật bắt ném đá, cộng đoàn không một chút cảm thông. Ðể phản đối luật lệ phi nhân này, Chúa Giêsu đã tìm cách cứu sống một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chỉ cần một câu hỏi ngắn gọn, Chúa Giêsu đã làm cho mọi người giật mình về tình trạng xấu xa trong tâm hồn mình. Tội lỗi đã làm họ lùi bước …

Nhưng khi chính mình bị sa vào tay kẻ gian ác, Người đã không tìm cách kháng cự. Khi làm như thế, Chúa Giêsu đã trưng ra cho mọi người thấy bộ mặt thật của những con người gian ác. Nói khác, Người đã để cho sự ác phơi bày bản chất đích thực của nó. Nếu có bản cáo trạng nào tố cáo các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu, thì đó phải là việc họ đã giết Ðấng Thiên Sai.

Chúa không dùng cùng một thủ đoạn của sự ác để chiến đấu hay tiêu diệt nó. Nhưng Người chỉ hành động để chiếu sáng. Chúa Giêsu mở ra trước lương tâm và ý thức con người tất cả những gì đang xảy ra trong thực tế. Chúa Giêsu đã cố gắng dạy chúng ta một điều tốt đẹp, kỳ diệu và mạnh mẽ nhất, đó là một lối sống mới giữa một thế giới đầy ắp sự dữ. Người muốn chúng ta học cách đối xử với sự ác mà không làm cho thế giới tăng thêm sự ác, đó là sự tha thứ.

Chúng ta được kêu gọi để hiểu biết tâm điểm trong lời Chúa giảng dạy là sự tha thứ. Tha thứ là hy sinh mạng sống để đánh thức mọi người trước thực tế và sự thật. Tha thứ cho tha nhân là không tham dự vào men Pharisêu, tức là sự ghen tương, đố kỵ, công kích và phá hoại, những dấu chứng một tâm hồn kiêu ngạo. Càng kiêu ngạo càng không thấy được sự thật và càng tự nhốt trong chính mình. Mọi gian ác đều bắt nguồn từ sự kiêu ngạo. Bởi vậy, muốn phá sự gian ác, phải vượt qua lòng tự kiêu.

Nhưng lấy sức mạnh nơi đâu để có thể vượt qua chính mình ? Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu chiếu sáng niềm hy vọng cho con người đang ngụp lặn trong vực thẳm tội lỗi. Người đã tiêu diệt thần chết và tội lỗi trên thập giá (x. Rm 5:18-21; 1 Cr 15:56-57). Niềm hy vọng nơi Chúa phục sinh là tất cả sức mạnh của con người. Khi phục sinh, Chúa Giêsu “tỏa sáng tràn ngập và làm cho hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa nơi con người nên hoàn hảo.”[4] Nhờ đó, con người thoát khỏi vòng kiềm tỏa của sự ác để tới bến bờ tự do.

Chính nhờ Ðức Kitô phục sinh, “Thiên Chúa cho con người thực sự có khả năng thắng vượt điều ác và đạt tới điều thiện. Chúa ‘đã trả giá đắt’ (1 Cr 6:20) mà cứu chuộc nhân loại. Nhờ đó, niềm hy vọng trào dâng, mặc dù tội lỗi ghi đậm nét trong lịch sử nhân loại. Lời hứa của Thiên Chúa bảo đảm thế giới không còn tự khép kín, nhưng mở ra đón nhận Nước Thiên Chúa, vì Chúa Kitô đã liên kết với mỗi người cách nào đó, và vì Chúa Thánh Thần hành động tích cực để ‘phủ đầy mặt đất.’ (Kn 1:7)”[5] Làm sao tà thần còn giữ nguyên mãnh lực trước sức mạnh đó của Thiên Chúa ?

CHIẾN THẮNG VỀ TAY AI ?

Dĩ nhiên, cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt giữa thiện ác. Khi suy gẫm về chặng đường Thánh giá ở Colossêô Roma, ÐHY Joseph Zen, giám mục Hồng Kông viết : “Vì bị giết chết, nên chỉ một mình Con Chiên Thiên Chúa mới có thể loại bỏ dấu ấn của ‘mầu nhiệm sự ác.’ Nhiều nơi trên thế giới, Hôn thê Ðức Kitô đang trải qua giờ phút bách hại trong tối tăm ...

Bên ngoài, Philatô có vẻ đầy quyền lực. Ông ta ở một vị thế có quyền sinh sát đối với Chúa Giêsu. Ông ta thích diễu cợt khi nhắc đến danh hiệu ‘Vua dân Do thái,’ nhưng sự thật ông ta yếu đuối, đáng thương và hoàn toàn lệ thuộc. Ông ta sợ Hoàng đế Tibêriô, sợ quần chúng, sợ các thượng tế, trong khi tận thâm tâm ông khinh miệt họ. Ông trao Chúa Giêsu cho quân lính đóng đinh, mặc dù biết Người vô tội.

Nỗ lực mà không cứu được Chúa Giêsu, kết cục ông đã phó mặc cho tên đồ tể nguy hiểm. Việc rửa tay của ông chẳng có ích gì, khi đổ máu người vô tội. Philatô là hình ảnh của những ai xử dụng quyền bính như một vũ lực đàn áp, bất kể công lý.”[6]

Philatô đúng là tiêu biểu cho những con người đang nắm quyền ở Trung quốc và Việt Nam. Bao giờ họ mới có thể học thuộc bài học của Liên xô năm xưa ? Những gì đang xảy ra tại Trung quốc hiện nay cũng đã từng diễn ra tại Liên xô ngày xưa. Mầm mống phân hóa đã bắt đầu trỗi dậy. Không có gì nguy hiểm bằng xung đột văn hóa, tôn giáo, chủng tộc. Chỉ nhà nước chuyên chính vô sản dám đối đầu với các lực lượng ấy.

Cuộc xung đột văn hóa và tôn giáo đang xảy ra tại Trung quốc. Trước cuộc Trung quốc đàn áp Tây tạng hiện nay, bà Dân biểu Nancy Polisi, Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ, phát biểu : “Nhân danh cá nhân tôi, tôi có thể nói, nếu những người yêu chuông tự do khắp thế giới không lên tiếng chống lại Trung quốc đàn áp Tây Tạng, chúng ta đã đánh mất thẩm quyền tinh thần nhân danh nhân quyền ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Tình thế tại Tây Tạng là một thách đố đối với lương tâm thế giới. Thế giới cần biết những gì đang xảy ra.” [7] Tiếng nói lương tâm đã gióng lên. Những kẻ chà đạp lương tâm có nghe thấy gì không ?

Mới đây, trong cuộc hành hương Assisi, sau khi quỳ cầu nguyện trước mộ thánh Phanxicô, ông Gorbachev, cựu tổng bí thư cộng sản, đã tường thuật lại cuộc gặp gỡ lịch sử đó như sau: “Bức Màn Sắt không thể sụp đổ, nếu không có Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thật vậy, tháng 12 năm 1989, chúng tôi đã có một buổi nói chuyện rất thú vị, mặc dù có lẽ rất cảm động. Ngài bảo thẳng với tôi là ngài ghét cay ghét đắng cái chủ nghĩa cộng sản. Ngài cũng mạnh mẽ phê phán chủ nghĩa tư bản rừng rú. Ngài nói với tôi: ‘Tôi không phục vụ chính trị đảng phái, tôi phục vụ Thiên Chúa.’” [8]

Chắc chắn không thể phủ nhận sức mạnh lòng tin nơi ông Gorbachev trong việc giật sập chế độ cộng sản tại Liên xô và Ðông Âu. Ông thổ lộ với linh mục Miroslavo Anuskevic, trong tờ La Stampa: “Ông ta đã nói rất nhiều về nước Nga và tính chất quan trọng của việc chuyển sang nền dân chủ không chỉ cho nước Nga mà còn cho toàn thế giới. Ông lấy làm tiếc là nước Nga một nước có lịch sử và một truyền thống tinh thần vĩ đại đã phải trải qua một thời kỳ cộng sản quá lâu dài.”[9] Nhìn lại những thời gian tăm tối khi thần ác đang hoành hành trên quê hương, chắc chắn thấy những nọc độc nguy hại của cộng sản, ông mới thở dài và nuối tiếc như vậy. Nếu không bị cộng sản thống trị trong một thời gian dài như thế, chắc chắn quê hương ông đã tiến xa về mọi mặt rồi và dân tộc của ông đã không phải trả giá quá mắc mỏ và phi lý như vậy !

Cuối thế kỷ 20, niềm tin Kitô giáo đã hạ bệ kinh thành ác thần tại Liên xô và các nước Ðông Âu. Thế kỷ này, có lẽ Phật giáo sẽ tạo nên lịch sử tương tự bên Á châu ?

Tóm lại, sống dưới chế độ bất công, Chúa Giêsu đã trở thành nạn nhân bi thương nhất để cứu độ toàn thể nhân loại. Nhưng Người đã phục sinh để mở lối cho mỗi người chúng ta vào cuộc sống hạnh phúc và chia sẻ vinh quang với Thiên Chúa. Người đã bẻ tan gông cùm của lực lượng thần ác. Nhờ đó mọi người được hoàn toàn tự do làm người và làm con cái Chúa.

Lạy Chúa, xin Chúa thương đến dân tộc Tây Tạng hôm nay. Xin Chúa chiếu soi ánh sáng phục sinh của Con Chúa vào những nơi đang đau khổ vì bất công hận thù. Amen.

đỗ lực - 23.03.2008

 


[4] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 121.

[5] ibid., 578.


Lm. Jude Siciliano, OP

PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN
Matthêu 28: 1-10

Mỗi khi anh chị em nghe một đoạn phúc âm thử hỏi bạn có biết tác giả là ai không? (Đừng nhìn tên tựa đoạn sách). Bài phúc âm về sự sống lại hôm nay do một người đã chết nói (không chơi chữ đâu nhé). Đó là phúc âm thánh Matthêu. Các bản văn về phục sinh trong các phúc âm đều khác nhau. Thật ra thì phúc âm được viết mấy chục năm sau khi sự việc đã xảy ra. Đáng lẽ giáo hội dồn các bài viết về phục sinh thành một bài thôi cho câu chuyện không lệch lạc, nhưng giáo hội để các tác giả trình bày sự việc theo ý và mục đích từng người một. Đó là sự khôn ngoan của giáo hội. Vì chính nhờ những sự khác biệt đó, chúng ta hiểu thêm sâu đậm hơn về mầu nhiệm Phục Sinh và ý nghỉa của nó ảnh hưởng đến đức tin của chúng ta.

Phúc âm được rao giảng bằng lời nói trước khi được viết ra. Các Kitô hữu tiên khởi truyền miệng tin mừng phúc âm trong những buổi họp mặt với nhau để nói với những người chưa có đức tin, và để mời gọi họ vào cộng đòan giáo hội. Tín điều về Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời xuống thế làm người, Ngài chịu chết vì chúng ta và đã sống lại từ cỏi chết, và Ngài đã hiện ra gặp các tông đồ v.v… Những lời truyền miệng như thế cần được viết ra thành các phúc âm. Tác giả từng phúc âm viết ra tuỳ theo sự rao giảng của cộng đoàn họ, nên phúc âm viết theo cuộc sống của tác giả trong cộng đoàn của họ. Nhờ thế, họ viết phù hợp với cộng đoàn mình đang sinh hoạt.

Tôi không muốn giảng về sự Phục Sinh như là một đề tài để suy gẫm. Tôi sẽ nói sát hơn về sự Phục Sinh mà thánh Matthêu đã viết trong tin mừng mà chúng ta nghe hôm nay. Phúc âm thánh Máccô là phúc âm viết đầu tiên. Matthêu dựa vào phúc âm Máccô mà viết. Nhưng Máccô không viết về việc Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ. Matthêu lại viết điều đó.

Đó là “sau ngày sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló dạng”. Sự việc xảy ra vào một ngày thường trong tuần, sau khi mọi người đã chấm dứt nghỉ ngày sabat, và đã trở lại làm việc và sống đời sống hàng ngày của họ - nghĩa là họ trở lại lận đận làm ăn để nuôi gia đình. Họ không nghĩ đến sự hiện ra của người đã chết. Điều đó họ nghĩ chỉ xảy ra vào những ngày lễ lớn, trong những nơi như ở đền thờ và trong những hiện tượng đặc biệt. Hay tìm những nơi “đất rung chuyển dữ dội” trong ngày thường, trong khi làm công việc hàng ngày. Nếu Chúa Giêsu phục sinh không đến với chúng ta trong những hoạt động thường nhật thì Ngài vẫn ở trong mồ, với nắp đá đóng kín, và có lính canh gác.

Ai đến mồ? Matthêu viết:“Bà Maria Macdala và một bà khác cũng tên là Maria đi viếng mồ”. “ngày thứ nhất trong tuần vừa ló dạng” nghĩa là có điều gì mới lạ sẽ xảy ra. Hai người phụ nữ trở lại mồ để khóc người chết, như chúng ta thường làm trong đời chúng ta. Nơi mồ cũng có lính canh gác. Bài phúc âm này viết trái với điều các Kitô hữu tiên khởi và các người lãnh đạo tôn giáo tin, vì Chúa Giêsu đã tiên đoán về việc Ngài Phục Sinh. Trước đoạn phúc âm này có câu chuyện các thượng tế và những người Pharisêu kéo nhau đến Philatô để xin lính canh gác vì sợ môn đệ Chúa Giêsu đến lấy trộm xác Ngài rồi đi phao với dân là Chúa Giêsu đã “từ cõi chết chỗi dậy” (Mt 27:62-6)

Khi thiên thần hiện ra “người lính canh khiếp sợ, run rẩy chết khiếp”. Sức mạnh của Thiên Chúa lớn hơn tất cả quyền uy của con người đang cố ý dẹp bỏ tin mừng. Người đã sống lại từ cõi chết và người lính canh đang sống lại hoá ra như chết. Một sự trái ngược đời đã xảy ra. Sự hiện diện người lính canh là biểu hiện cho sự chống đối của các tín hữu sẽ gặp sau này khi tinh mừng Phục Sinh bắt đầu được rao giảng cho toàn thể nhân loại. Những người lính canh gác ở mồ là phải cầm chắc không có sự gì đột xuất mới sẽ xảy ra - ở bất kỳ mồ nào của chúng ta. Matthêu viết là không nên sợ vì quyền uy Thiên Chúa có thể lăn hòn đá che cửa mồ ra và cho người chết sống lại, đánh bại sự chết và sống lại đời sống mới. Thiên Chúa có quyền uy thật sự và quyền uy thế gian “khiếp sợ run rẩy và hoá ra như chết”.

Trong bài phục sinh Matthêu viết có một số điều không được rõ ràng: “đất rung chuyển dữ dội” có tiếng rầm như báo tin sự việc. “Thiên thần Chúa từ trời xuống, diện mạo người sáng chói, và y phục trắng như tuyết, lăn tảng đá ra khỏi cửa mồ, người lính canh khiếp sợ” Chúa Giêsu hiện ra và bảo các bà về báo tin cho các môn đệ. Matthêu như muốn để chút thắc mặ về những điều đã xảy ra: Chúa Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết.

Tìm Chúa Giêsu ở đâu bây giờ? “Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ, Hãy mau về nói với môn đệ Người … Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa người đến Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy Người”. Rồi các phụ nữ gặp Chúa Giêsu. Ngài cũng nói với các bà “Các con đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.”

Sao lại Galilê? Chúa Giêsu là người Galilê, và Matthêu nhấn mạnh sự liên hệ giữa Chúa Giêsu với trần gian và Chúa Kitô đã sống lại. Người sống lại không phải là điều tưởng tượng, hay hồn ma. Chính Người mà các ông đã theo ở Galilê. Đó cũng là nơi mà Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ: là nơi mà Ngài rao giảng, chữa lành, và mời gọi các môn đệ. Các anh chị em còn nhớ, sau khi Chúa Giêsu bị bắt, có người đầy tớ gái nhận ra Phêrô: “Cả bác nữa, bác cũng đã theo ông Giêsu người Galilê đó chứ gì?”. Và một người tớ gái khác cũng nhận ra Phêrô: “Bác này cũng theo ông Giêsu người Nadaret đấy”. Khi Phêrô thề chối bỏ, có người khác đứng gần đó. Tiến tới Phêrô mà nói: “Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay” (26:69-75). Chúa Giêsu và các môn đệ là người Galilê, sứ vụ của Ngài bắt đầu từ đó. Các môn đệ trở lại đó để nối tiếp việc Chúa Giêsu đã làm và bảo các ông làm như vậy. Khởi sự từ Galile đi rao giảng tin mừng Chúa Kitô đã sống lại khắp cùng trái đất.

Galilê cũng là nơi đô hội, có nhiều người Do Thái và người ngoại. Các con đường thương mại lớn đều đi qua Galilê. Và vì thế người Galilê tiếp xúc được với nhiều tôn giáo, và nhiều nền văn hoá khác nhau. Người Do Thái ở Galilê được xem là không “trong sạch” như người Do Thái ở Jerusalem – Vì đó là nơi có Đền Thờ, là trung tâm thờ phượng và “tôn giáo thật sự”. Chúa Giêsu vẫn đưa tay đón rước những người ngoại, và bảo các môn đệ Ngài cũng làm như vậy. Các ông nên rao giảng cho bất kỳ ai muốn lắng nghe tin mừng, không để ý xem họ có xứng đáng hay không đối với các lãnh đạo tôn giáo. Đã bao lần chúng ta cảm thấy muốn đáp lại Thiên Chúa giữa trần gian trong qua những người “Galilê” đương thời? Đối với Chúa Giêsu, cũng như đối với chúng ta, đó là những người bị các lãnh đạo tôn giáo ruồng bỏ, những người sống trên “xa lộ hay bên lề đường” là những người lãnh nhận tin mừng về Đức Kitô trước hơn ai cả.

Cả Thiên thần và Chúa Kitô bảo các phụ nữ đi viếng mộ đừng sợ hãi. Sợ hãi việc gì thế? Có phải cần nhiều người can đảm hơn để tin Đấng Cứu Thế Phục Sinhhay là tin một người lãnh đạo tôn giáo được kính trọng đã chết? Lễ Phục Sinh là một lễ quan trọng với ý nghĩa các con thỏ, kẹo chocolate, trứng luộc nhuộm đủ màu và những thiệp mừng. Nhưng Matthêu lại nói đến động đất, sự hiện diện từ trời xuống của các Thiên thần mặc áo sáng chói đẩy lăn hòn đá nơi bia mộ, khắc phục các lính canh, sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh.

Chúng ta có thể mừng lễ Phục Sinh với cuộc diễu hành với áo mới, chúng ta có thể thể nhận được từ lễ này sự can đảm mà chúng ta đã nghe “đừng sợ”. Những điều đó có ý nghĩa gì trong việc thay đổi đời sống chúng ta? Điều đó giúp chúng ta không cần phải phục tùng quyền uy đã chế ngự chúng ta; hay chúng ta không còn bị ảnh hưởng của quyền uy chính trị hay quân phiệt đã giam giữ chúng ta trong các ngôi mộ kín; hay bị các nghi lễ phụng giáo hội trói buộc; làm lay chuyển đời sống nên không thể sống lại cuộc sống mới? Nói cách khác, đừng sợ, hãy cứ tin là “ngày thứ nhất trong tuần” vừa ló dạng cho chúng ta nghĩa là gì? Như đối với các phụ nữ và các môn đệ Chúa Giêsu ở Giêrusalem? Chúa Giêsu lại một lần nữa là tìm đến nơi sự chết đang ngự trị để ban sự sống lại nơi đó. Hãy đi báo tin mừng ở Galilê của chúng ta. Khi chúng ta nói và hành động theo tin mừng, dân chúng sẽ nói với chúng ta những điều mà họ đã nói với Phêrô ở sân trong đêm Chúa chịu nạn như là tin dữ cho Phêrô. “Bác đã theo ông Giêsu người Nadaret kia mà… Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay…"


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp)

Phục sinh đâu chỉ là hy vọng tương lai
Gioan 20: 1-9

Câu chuyện Phục Sinh bắt đầu với ngôi mộ trống. Không phải cách tôi hay làm! Nếu là tôi, tôi sẽ kể có đám đông hàng ngàn người, thậm chí chục ngàn người đứng chờ đợi ngay ngôi mộ. Nên chuẩn bị sẵn pháo hoa để bắn mừng giây phút ấn tượng khi tảng đá lấp cửa mồ bắt đấu kọt kẹt và từ từ lăn ra khỏi lối vào ngôi mộ.

Tôi sẽ mướn nhạc công, đặc biệt là phải có kèn trống, sẵn sàng tấu lên khúc nhạc chiến thắng khi Đức Giêsu xuất hiện sáng chói trong ánh nắng ban mai. Và sẽ thật thiếu sót nếu không có camera, tôi sẽ ghi hình giây phút này để lại cho thế hệ tín hữu mai sau, như một bằng chứng xác thực. Tôi cũng muốn làm một đĩa DVD để gửi cho những kẻ hoài nghi, đặc biệt là các Pharisêu và tư tế ; cũng đừng quên Hêrôđê và những tên lính đã đóng đinh Đức Giêsu. Tôi sẽ nói với họ thế này: “Đó, ngươi thấy không, đúng như lời Người nói! Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết”. Nhưng không biết camera của chúng ta có thể chụp được hình các thiên thần mà các Tin mừng khác nhắc tới không nhỉ?

Còn nữa: tại sao những lại chọn bài đọc này cho Lễ Sáng Chúa Nhật Phục Sinh? Hôm nay, tất cả các nhà thờ của chúng ta đều chật ních. Cả những người hiếm khi đến nhà thờ thì hôm nay cũng ở với chúng ta, còn có nhiều trẻ em mặc những bộ đồ phục sinh bảnh bao. Chẳng lẽ chúng ta không có những bài đọc hoành tráng hơn bài Tin mừng nhẹ nhàng này của thánh Gioan? Chẳng lẽ chúng ta không gây ấn tượng cho khách tham quan và cả những người thỉnh thoảng đến nhà thờ, như chủ kênh truyền hình Ed Sullivan từng gọi là “một chương trình thực sự lớn” hay sao? Thậm chí bài Tin mừng hôm nay cũng chẳng mảy may có đến một cảnh thoáng qua của Đức Kitô phục sinh.

Có lẽ thánh Phêrô có thể giúp chúng ta tìm kiếm Đức Kitô phục sinh, không phải quay lại quá khứ, nhưng là ngay bây giờ. Trong bài trích sách Công vụ Tông đồ, ngài cho chúng ta một cái nhìn khái quát về cuộc đời Đức Giêsu, bắt đầu với sứ vụ của Người ở Galilê, và việc Thiên Chúa xức dầu Thánh Thần cho Người khi Người chịu phép rửa. Điều đánh động tôi trong lời chứng của Phêrô và điều giúp tôi thấy được cái thiếu hoàng tráng của bài Tin mừng hôm nay là sự xác nhận của thánh Phêrô: “Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại”

Thánh Phêrô cho rằng những ai được Thiên Chúa chọn thì có thể “thấy” Đức Giêsu và những chứng nhân đó được Thiên Chúa kêu gọi để “rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng…” Tin mừng Phục sinh không chỉ dành riêng cho một số người được chọn hay những người ưu tú trên thế giới. Nhưng công việc của những tín hữu đầu tiên và cả chúng ta nữa là rao truyền lời đó cho tất cả thế giới biết những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta trong Đức Giêsu. Kế hoạch của Thiên Chúa là những ai chứng kiến Đức Giêsu phục sinh thì sẽ rao truyền tin đó để những tâm hồn và tâm tưởng sẽ được biến đổi. Vì thế mà không có một DvD hay hình ảnh nào ghi lại biến cố này – chỉ những chứng nhân sống động được Thiên Chúa kêu gọi chuyển trao những gì họ cảm nghiệm về Đức Kitô phục sinh, cho những ai chưa được nghe Tin mừng mà chúng ta cử hành hôm nay: “Đức Kitô đã phục sinh.”

Ngày nay, nhiều người hay nói rằng: “Nếu chỉ mình tôi ở đó lúc Đức Giêsu phục sinh, tôi có lẽ đã rất hăng hái làm chứng những gì tôi nhìn thấy”. Vâng, thánh Gioan đã cho chúng ta thấy cái trước tiên mà Maria Magdala, thánh Phêrô và “môn đệ Đức Giêsu yêu mến” nhìn thấy là một ngôi mộ trống! Ít nhất là những gì xảy ra cho Maria và thánh Phêrô là sự hiểu lầm và bối rối. Maria ra mộ lúc “trời còn tối” – vẫn còn tối tăm cách khác đối cả Maria và Phêrô. Maria kết luận như bất cứ người nào cũng có thể nghĩ thế, “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

Chúng ta không biết thánh Phêrô nghĩ gì khi nhìn thấy ngôi mộ trống: chắc chắn không phải nghĩ về việc Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết. Không ai nghĩ như thế, ngay cả thánh Phêrô và những người thân thiết với Đức Giêsu nhất; điều đó quả là phi lý. Tạ ơn trời vì còn có một người môn đệ khác cũng có mặt ở ngôi mộ, “người môn đệ được thương mến”. Dù không thấy Đức Kitô phục sinh, ông nhìn vào trong mộ, thấy khăn niệm và khăn che đầu được cuộn lại ngay ngắn, thánh Gioan cho chúng ta biết, “Ông đã thấy và đã tin”

Thân phận của Người Môn Đệ Được Yêu là đề tài đã được tranh luận và bàn thảo từ rất lâu. Thánh Gioan nói với chúng ta người ấy cũng đã ở dưới chân thập giá (19:35) với Mẹ của Đức Giêsu, với Maria vợ của ông Clopas và Maria Magdala, còn các môn đệ khác lúc đó đã bỏ trốn hết. Khoảng một thế kỷ sau, giáo phụ Irênê xác định người đó là một trong nhóm mười hai – có thể là Gioan? Nhưng thánh Irênê không có mặt ở đó. Một vài người cho rằng người môn đệ vô danh đó là Lazarô, có người lại bảo đó là Tôma. Nhưng chúng ta không chắc chắn.

Nhưng có thể thánh Gioan sử dụng danh từ Người Môn Đệ Được Yêu như một biểu tượng cho kiểu mẫu của người môn đệ hoàn hảo. Như một người mên đệ, ngài có lẽ cũng đã đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu và đi theo Người. Môn đệ này không chỉ làm môn đệ của Đức Giêsu trong suốt thời gian tốt đẹp; mà còn đứng dưới chân thập giá nữa, chứng kiến những khổ hình mà Đức Giêsu phải chịu. Ngài không hề ảo tưởng về những gì mà người môn đệ phải đón nhận. Ngài không bỏ chạy nhưng ở lại đó, hiện diện với cộng đoàn và nghe tường thuật đầu tiên của Maria về ngôi mộ trống. “Môn đệ mẫu mực” này, người đã chứng kiến tất cả, hôm nay cũng có mặt ở nơi ngôi mộ trống. Giờ đây, nhìn vào trong mồ, ngài thấy mọi sự được tỏ tường; ngài tin tưởng mà không cần nhìn thấy chứng cứ cụ thể - như chúng ta cũng được mời gọi nên như thế.

Thật chẳng có cảnh tưởng nào thuyết phục những người lần đầu tiên chứng kiến ngôi mộ trống tin tin rằng Đức Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết. Nhưng cuối cùng thì đây quả thật là một câu chuyện Phục Sinh rất hay cho chúng ta ngày nay, vì chúng ta được đòi hỏi phải tin sự chứng kiến của những chứng nhân đầu tiên và hậu duệ của họ mà không cần phải thực sự nhìn thấy, vì chúng ta cũng đang nhìn chằm chằm vào ngôi mộ trống của cuộc đời chúng ta và được mời gọi để tin rằng có một cuộc sống mới ở đó.

Cách đây hai tuần, chúng ta được nghe về câu chuyện Đức Giêsu làm cho Lazarô sống lại. Người chết từ trong mộ đi ra, trên mình còn cuốn vải niệm. Đức Giêsu ra lệnh, “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.” Nhưng ngày nào đó, Lazarô cũng sẽ chết, và lại bị cuốn vào vải niệm.

Khi Người Môn Đệ Được Yêu nhìn vào trong ngôi mộ trống thì thấy vải niệm của Đức Giêsu còn để lại. Không thể tìm thấy Đức Giêsu sẽ trong mớ khăn niệm đó nữa, vì giờ đây đã phục sinh. Nhờ vào sự sinh của Người, cả chúng ta nữa cũng sẽ được trỗi dậy khỏi mồ và bỏ sự chết lại phía sau – như hình ảnh những khăn niệm trong Tin mừng hôm nay biểu trưng.

Tình yêu mà người môn đệ cảm nghiệm từ nơi Đức Giêsu đã chuẩn bị cho ngài thấy được đời sống mới mà Đức Giêsu đã bước vào. Với chúng ta, những người hôm nay lắng nghe Lời Chúa và chia sẻ Bàn Tiệc Thánh cũng biết được tình yêu mà Đức Giêsu dành cho chúng ta – giờ đây chúng ta là “các môn đệ được yêu”. Chúng ta nhìn vào những nơi chết chóc của mình với niềm tin phục sinh và hy vọng rằng Thiên Chúa có thể làm ra sự sống mới nơi mà giờ đây chúng ta nhìn thấy sự chết và những hệ lụy của nó.

Chúng ta nhớ lại những cảm nghiệm riêng tư về sự phục sinh, khi chúng ta nhìn vào một ngôi mộ, một nơi chết chóc trong cuộc sống của chúng ta và cảm nghiệm sự sống mới. Chính kỷ niệm đó cho chúng ta niềm hy vọng. Chẳng hạn như, với đôi mắt và trí nhớ được điểm tô bằng niềm tin của chúng ta vào sự phục sinh của Đức Giêsu, chúng ta nhớ lại:

- Khi chúng ta gần như bỏ cuộc với một người bạn nghiện nghập thì họ lại hồi tỉnh, nhờ giúp đỡ và rồi sống lại.

- Khi chúng ta chịu đựng sự mất mát một người thân yêu và thế giới như sựp đổ, và rồi sau đó ta bước ra khỏi ngôi mồ đau đớn và sống lại.

- Khi chúng ta phải gánh chịu những khủng hoảng tài chánh và chúng ta sát cánh với nhau như một gia đình, thực hiện những điều chỉnh nghiêm túc và cần thiết trong lối sống của mình và sau đó chúng ta lại sống.

- Khi chúng ta lạc mất đức tin, nhưng lại cảm thấy sự trống trải vì mất đi cộng đoàn của những người tin và nghi lễ quan trọng, chúng ta ta trở lại với những thực hành tôn giáo và rồi chúng ta sống lại.

Với các tín hữu, phục sinh không chỉ là niềm hy vọng cho tương lai, nơi chốn và thời gian tốt hơn. Chúng ta đã nhìn vào trong rất nhiều ngôi mộ của chúng ta. Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến là mẫu gương cho chúng ta. Ngài biết tình yêu mà Đức Giêsu dành cho mình; một tình yêu mà ngay cả đau khổ hay sự chết cũng không làm lay chuyển. Không nhìn thấy Đức Giêsu nhưng ngài vẫn tin, và ngày nay ngài là sự khích lệ cho mỗi chúng ta, giúp chúng ta nhìn những cái chết của mình với nét mặt không hề sợ hãi.

Trong thánh lễ Phục sinh này, chúng ta, “những người môn đệ được yêu”, hãy mở to đôi mắt và đôi tai đức tin để nhìn và nghe Chúa Phục sinh đang ở giữa chúng ta. Người ở cùng chúng ta khi chúng ta họp nhau nhân danh Người; Người ở với chúng ta qua bánh rượu Thánh Thể. Chúng ta nhớ lại kinh nghiệm ohục sinh mà chúng ta có trong quá khứ, khi chúng ta cảm nghiệm cuộc sống mới sau cái chết. Với những kinh nghiệm được làm mới lại trong Thánh lễ này, chúng ta được tràn trề hy vọng khi chúng ta đối diện với những cái chết ngay hiện tại cũng như trong tương lai. 

 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

Đừng sợ, hãy loan tin những điều mắt thấy tai nghe!

St 1,1-2,2;  St 22,1-18;  Xh 14,15-15,1a;  Is 54,5-14;  Is 55,1-11;

Br 3,9-15.32-4,4; Ed 36,16-17a.18-28; Rm 6,3-11; Mt 28,1-10

Kính thưa quý vị,

Hôm nay, các đọc giả của Tin Mừng thánh Mátthêu vui mừng vì hình ảnh sứ thần xuất hiện trở lại. Đọc giả nào chú ý sẽ nhận ra tầm quan trọng của trình thuật Tin Mừng hôm nay. Bởi vì thánh Mátthêu dành những lần xuất hiện của sứ thần cho những thời điểm quan trọng nhất trong Tin Mừng. Chúng ta nhớ lại hình ảnh sứ thần trong hai trình thuật về biến cố Chúa Giáng Sinh và chịu cám dỗ trong sa mạc. Ở biến cố biến hình trên núi, có hai nhân vật khác từ trời hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu, đó là ông Môsê và ông Êlia. Ba biến cố này là những khoảnh khắc quan trọng trong trình thuật của thánh Mátthêu - trong đó đều có sự xuất hiện của những nhân vật từ trời. 

Hôm nay, một thiên thần xuất hiện tại ngôi mộ trống để trấn an hai phụ nữ cùng tên là Maria, và sai hai bà đi báo tin cho các môn đệ biết Đức Kitô đã Phục Sinh. Những nhà soạn kịch hẳn sẽ làm nổi bật cảnh tượng tại ngôi mộ trống cùng với tiếng kèn trumpet. Còn thánh Mátthêu thì làm nổi bật cảnh tượng này bằng hình ảnh một sứ thần với diện mạo như ánh chớp và y phục trắng như tuyết. Những lính canh đại diện cho chính quyền từng hành hình Đức Giêsu như một tên tội phạm, nay lại khiếp sợ, run rẩy “chết ngất đi”. Quyền lực của quốc gia áp bức và hùng mạnh nhất lúc bấy giờ là Rôma cũng phải chùn bước trong nỗi sợ hãi và bất lực. Sứ điệp đã rõ ràng: không có bất cứ sức mạnh hay quyền lực sự ác nào có thể thắng nổi Thiên Chúa chúng ta, Đấng đã cho kẻ chết sống lại. Các thiên thần lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên, tựa như đang ngồi trên toà chiến thắng. Thiên Chúa là Đấng chiến thắng, Người đã đánh bại sự chết.

Một câu chuyện về hồng ân được ban tặng. Ai có thể thắng nổi ác tà và sự chết? Người Mỹ là một “dân tộc dám làm”. Ông John F. Kennedy (29/05/1917 – 22/11/1963, tổng thống thứ 35 của nước Mỹ) hứa với đất nước rằng trong vòng mười năm nữa, chúng ta sẽ đưa một người Mỹ lên mặt trăng, và chúng ta đã làm được điều đó. Vào ngày 11/09/2001, Toà tháp đôi bị phá huỷ hoàn toàn, và hiện giờ đã có một Trung tâm Thương mại mới được xây cất và khánh thành. Sự lao động vất vả và quyết tâm của chúng ta đã mang lại những kết quả thật ấn tượng.

Tuy nhiên, dù cố gắng thế nào, chúng ta cũng không thể đánh bại sự chết. Đó là việc của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã thực hiện điều không ngờ và thiên thần Chúa ở đó để công bố điều không ngờ này. Tại ngôi mộ trống, hai người phụ nữ được cắt cử làm những người đầu tiên loan báo Tin Mừng. Thiên sứ sai hai bà “Mau về báo tin cho các môn đệ Người hay”.

Trước khi sai hai bà đi báo tin phục sinh, thiên thần bảo họ rằng: “Này các bà, các bà đừng sợ”. Cả các bà và chúng ta còn phải sợ gì nữa? Chúng ta sống trong một thế giới, nơi đó sự sợ hãi có thể khiến người ta không dám nói sự thật và không dám vượt ra khỏi những chia cắt về chủng tộc, kinh tế và quốc gia. Con người “thời xưa” xem ra không cảm thấy e ngại khi họ là những tín hữu. Rất ít người thừa nhận là vô thần hoặc không thuộc bất cứ tín ngưỡng truyền thống nào. Trong dòng họ của tôi, có một người anh con bác tuyên bố rằng mình là người vô thần. Mỗi khi gia đình hội họp mà có mặt anh ta, chắc chắn sẽ có người thách thức anh và lần nào cũng chất vấn anh rằng: “Tại sao anh không đi Lễ”.

Ngày nay, cảm quan (tôn giáo) ấy bị đảo ngược. Người ta không ngại ngùng thừa nhận mình là vô thần và dường như những người vô thần tỏ ra kiên định hơn. Họ gọi chúng ta là “ngây thơ” vì biểu lộ niềm tin vào Đấng Cứu thế đã phục sinh và sự sống đời sau. Người ta cảm phục chúng ta vì những việc bác ái của chúng ta, nhưng họ có xem trọng niềm tin của chúng ta vào sự phục sinh không? Đừng quên vấn nạn này!

Những lời trấn an của thiên thần “Đừng sợ” cũng được nói với chúng ta khi chúng ta cử hành biến cố Đức Kitô phục sinh. Các phụ nữ không còn sợ hãi vì Đấng lãnh đạo của các bà đã bị đóng đinh, nhưng nay không còn ở trong mồ nữa, Người đã trỗi dậy. Thiên thần loan tin và mời gọi các bà đích thân đến xem ngôi mộ trống. Tuy nhiên, không chỉ có thân xác sống lại. Hơn thế nữa, Đức Giêsu “đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người”.

Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhớ rằng chúng ta là Giáo hội truyền giáo. Mỗi Kitô hữu đã được rửa tội đều có cùng chức năng giống như các phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay được thiên thần trao cho, đó là “Đừng sợ…mau về báo tin cho…” Mặc dù bề ngoài tỏ ra kinh ngạc, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp đón những người láng giềng sành đời và hiện đại. Chúng ta vẫn có bổn phận làm chứng cho niềm tin của mình vào Chúa Phục Sinh bằng lời nói và hành động. Trong nhiều cách thức khác nhau, cuộc sống của chúng ta phải phản ánh niềm tin như chúng ta tuyên xưng trong Thánh Lễ hôm nay rằng: “Đức Kitô đã chết! Người đã trỗi dậy! Người sẽ lại đến”.

Nếu như ngôi mộ không trống và thân xác Đức Giêsu vẫn còn ở đó, thì các bà sẽ đến viếng mộ, và đau buồn kể lại những kỷ niệm của mình trước đó về người Thầy đã chết. Thế rồi, thất vọng và buồn bã, các bà trở lại với cuộc sống của mình trước kia, tìm lại những mảnh vỡ hy vọng để rồi tiếp tục sống. Đó là điều chúng ta thường làm đối với người quá cố mà chúng ta yêu thương. Xét về thời gian, họ không còn nữa. Cuộc sống vẫn tiếp diễn mà không cần có họ. Nếu trước kia họ đã đau khổ, thì giờ đây chúng ta an lòng vì họ không còn chịu đau khổ nữa. Lúc này, chúng ta phải trở lại với cuộc sống thường ngày, đồng thời thực hiện điều tốt nhất có thể dù không có họ.

Tuy nhiên, đối với những phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay và với cả chúng ta nữa, vẫn có vị thiên thần đó tại ngôi mộ trống. Là những tín hữu, chúng ta không thể phớt lờ sứ điệp đã nghe biết: “Đừng sợ!... Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói… mau về báo tin cho các môn đệ Người hay”.

Các phụ nữ này không thể trở lại với cuộc sống như trước kia được nữa. Nếu có ai bảo họ: “Hãy quên điều đó đi”, thì họ sẽ đáp lại rằng: “Chúng tôi không thể nào quên được. Đức Giêsu đã trỗi dậy và chúng tôi phải chia sẻ tin vui này với những ai chưa được nghe biết!” Hai người phụ nữ giảng thuyết tiên khởi này cũng biện hộ cho chúng ta như thế.

Đức Giêsu đã trỗi dậy và chúng ta phải nghiêm chỉnh thi hành những điều Người đã nói với chúng ta, đó là: “Hãy vác thập giá mình mà theo Thầy… Cho kẻ đói ăn… Mặc áo cho kẻ mình trần… Tha thứ cho những ai xúc phạm anh em… Hãy xây dựng hoà bình… Đừng báo oán… Hãy yêu thương kẻ thù… Chia sẻ của cải anh em cho người nghèo…” Chúng ta đang ở phần cuối của Tin Mừng Mátthêu. Vì Đức Kitô đã trỗi dậy, nên chúng ta có thể trở lại nghe lần nữa những gì Đức Giêsu đã bảo các môn đệ của Người thi hành - đừng sợ phải nói hay thi hành điều đó.

Nếu tôi có mặt tại ngôi mộ trống đó, tôi sẽ trả lời thiên thần rằng: “Ngài có ý gì khi nói ‘Đừng sợ!’ Tất nhiên là tôi phải sợ rồi. Vậy, tôi có thể sống ra sao với cách thế mà Đức Giêsu đang mời gọi tôi sống trên đời này? Người ta bày ra những chiêu bài chống lại tôi và tôi thường không có được sự khích lệ ngay cả phía gia đình và bạn bè – ít nhiều tôi cũng có kẻ thù. Tôi không đủ can đảm chống lại đám đông để trở nên giống như Đức Kitô. Tôi cần người giúp đỡ!”

Thiên thần sẽ trả lời và bảo chúng ta cũng như các đọc giả khác của Tin Mừng Mátthêu rằng: “Hãy kiên nhẫn đọc thêm chút nữa đến cuối chương và tin vào những gì Đức Kitô phục sinh nói với các môn đệ khi Người sai các ông ra đi: ‘Và anh em biết rằng Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’” (20,28).