Năm A

 
 


 

Chúa nhật Lễ Chúa Ba Ngôi

Xh 34:4-9/ 2 Cr 13:11-13 / Ga 3:16-18

 

An Phong op : Huyền Nhiệm Của Sự Gắn Bó

Như Hạ op : Giao Ước Tình Thương

Fr. Jude Siciliano, op : Ân sủng, tình yêu, và hợp nhất

Fr. Jude Siciliano, op : Thiên Chúa của lòng yêu thương bền vững

Fr. Jude Sicilianô, op : Hiệp thông trọn vẹn trong Chúa Ba Ngôi

G. Nguyễn Cao Luật op : Dòng Sông Cứ Chảy Mãi

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Mầu nhiệm tình yêu

Phaolô Phạm Chung Kiên op : Cộng đoàn Ba Ngôi, cộng đoàn tình thương

Đỗ Lực op : Tìm một mô hình hòa giải dân tộc

Fr. Jude Siciliano, op : Ai tin thì được ơn cứu độ

Fr. Jude Siciliano, op: Thiên Chúa Tình Yêu trao ban

 


An Phong op

Huyền Nhiệm Của Sự Gắn Bó
Ga 3,16-18

Hôm nay, Hội thánh long trọng tuyên xưng Thiên Chúa là Cha, là Con và là Thánh Thần, một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi. Hơn nữa, nhân danh Thiên Chúa ba Ngôi, Hội thánh có sứ mạng đến với muôn dân, làm cho họ trở nên môn đệ Ðức Giêsu và lãnh nhận bí tích Thanh tẩy.

Chúa Ba Ngôi được biểu thị bằng một vòng tròn, trong đó có một tam giác đều. Biểu tượng này diễn tả sự bằng nhau, sự duy nhất : Ba nhưng là Một, Một mà lại là Ba. Bất cứ điểm nào nơi vòng tròn cũng đều là khởi điểm và là tận điểm của đường tròn. Hình tam giác, được nhìn dưới mọi góc cạnh, vẫn đều y nguyên, không có gì thay đổi hay khác nhau. Cha, Con và Thánh Thần đều bằng nhau, đều duy nhất, gắn bó mật thiết với nhau.

Quả là khả năng của con người rất giới hạn khi muốn hiểu và diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi. Dường như trong ngôn ngữ chúng ta, Cha thì hơn Con; dường như chúng ta không thể tưởng tượng ra thế nào là "một" mà lại "ba"… Nhưng dù thế nào đi nữa, điều chính yếu của mầu nhiệm Thiên Chúa ba Ngôi vẫn chỉ là mầu nhiệm Tình yêu.

Trong một Thiên Chúa, Cha - Con - Thánh Thần gắn bó yêu thương (hướng nội). Và Thiên Chúa yêu thương nhân loại, nên đã tạo dựng vũ trụ và con người (hướng ngoại). Ðó là hai chiều kích của tình yêu mà chỉ nơi Thiên Chúa mới có.

Con người chỉ có hành vi hướng ngoại, là yêu thương ai khác mình; còn nếu hướng nội thì lại là ích kỷ (yêu mình). Như thế, Kitô giáo luôn kêu gọi sống và đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng cách yêu thương đồng loại.

Hơn thế nữa, lời mời gọi đến với muôn dân, làm cho họ trở nên môn đệ của Ðức Giêsu, đó là lời mời gọi thực thi tình yêu Kitô giáo nhân danh Chúa Ba Ngôi. Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, nên luôn khát vọng được sống trong tình yêu. Mọi người cần được chìm ngập trong mầu nhệm Tình Yêu, lãnh nhận phép Rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, phép Rửa Tình yêu.

Ngày lễ Chúa ba Ngôi là dịp để chúng ta suy nghĩ lại về phép Rửa Tình yêu đã được lãnh nhận. Phép rửa đó chẳng phải là sức mạnh biến đổi đời sống người kitô hữu trong tình mến Chúa yêu người đó sao ?

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã làm người như chúng con,
để chúng con được làm con Thiên Chúa.

Nhờ Mình Thánh Chúa nuôi dưỡng,
xin cho chúng con biết góp phần xây dựng đời sống
theo hình ảnh cộng đồng yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa.


Như Hạ op

GIAO ƯỚC TÌNH THƯƠNG
Ga 3,16-18

Thế giới đang cần đến tình thương hơn bao giờ. Ðức Giêsu mạc khải cho mọi người biết tình yêu Thiên Chúa vượt mọi biên giới đến với nhân loại.

KHI TÌNH YÊU LÊN NGÔI.

Ðức Giêsu đã nói hết sự thật nơi cung lòng Thiên Chúa : "Thiên Chúa yêu thế gian." (Ga 3:16) Lời xác quyết đó vượt ngoài tưởng tượng ! Quả thực, thế gian là gì mà xứng đáng làm đối tượng của tình yêu lớn lao đó ? Chỉ một mình Ðức Giêsu mới xứng đáng với tình yêu Chúa Cha mà thôi. Nhưng "Thiên Chúa là nguồn yêu thương" (2 Cr 13:11) đã không ngần ngại "ban Con Một" (Ga 3:16) cho thế gian. Không thể tìm thấy một tình yêu nào lớn hơn ! Khi nhìn vào bản chất Thiên Chúa như thế, con người mới giác ngộ "Thiên Chúa là tình yêu," (1 Ga 4:8) một tình yêu vô cùng cần thiết cho nhân loại. Chính vì thế, thánh Phaolô cầu chúc cho giáo dân tiên khởi "đầy tình thương của Thiên Chúa," (2 Cr 13:13) để có thể đứng vững giữa bao bách hại.

Chính nhờ "đầy tình thương của Thiên Chúa," Ðức Giêsu đã vượt qua mọi thách đố và đạt tới mục đích cuộc đời. Xuống cõi hồng trần này, Người mang trên vai một sứ mệnh trọng đại. "Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ." (Ga 3:17) Thực tế rất trái ngược ! Không những từ chối ơn cứu độ, thế gian còn tìm mọi cách lên án tử hình Ðức Giêsu trên thập giá.

Phải có con mắt đức tin sâu sắc mới có thể thấy Ðức Giêsu đã hoàn thành sứ mệnh Chúa Cha nơi cái chết đó. Thật là khắc nghiệt ! Không những thế, nhân loại còn thờ ơ trước sứ mệnh trọng đại đó, mặc dù Thiên Chúa đã tìm mọi cách để chứng tỏ tất cả tình yêu nồng ấm đối với họ. Chính Ðức Giêsu là hiện thân của tình yêu đó. Nhờ cái chết, Người đã trở thành nguồn ân sủng cho toàn thể nhân loại. Ðó là lý do tại sao thánh Phaolô "cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô." (2 Cr 13:13) Không có nguồn ân sủng này, chắc chắn không ai có thể làm gì được. Chính Ðức Giêsu đã xác quyết : "Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được." (Ga 15:5) Ngược lại, nếu tràn đầy ân sủng, mọi công trình sẽ nở rộ vì "ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái." (Ga 15:5)

Nhưng hoa trái đó không thể tồn tại và phát triển, nếu thiếu "ơn hiệp thông của Thánh Thần." (2 Cr 13:13) Chính vì thiếu vắng Thánh Linh trong nhiều lãnh vực, nên Giáo Hội bị tê liệt và nhiều tổ chức tan rã. Thiếu hiệp thông không thể làm nên trò trống gì ! Nói khác, không có Thánh Linh, không thể "đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa,"(2 Cr 13:11) điều kiện cần thiết để phát triển Giáo Hội. Chính nhờ Thánh Linh, Thiên Chúa trở thành "nguồn yêu thương và bình an" (2 Cr 13:11) cho nhân loại. Ðó là lý do tại sao thế giới hôm nay cần phải cầu xin Thánh Linh ngự đến đổi mới bộ mặt trái đất.

Hơn lúc nào, nhân loại đang cần đến Thánh Linh để có thể khai thông nhiều bế tắc trong cuộc hiệp thông cần thiết cho nền hòa bình thế giới. Người chính là nguyên ủy hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con. Chẳng lẽ Người không thể tạo nổi sự hiệp thông giữa người với người ? Thực tế, Thánh Linh đã từng "liên kết mọi ngôn ngữ khác biệt lại, để họ tuyên xưng cùng một đức tin" (Kinh Tiền Tụng Chúa Nhật Hiện Xuống) trong Giáo Hội. Lý do vì "lòng mỗi người, chính Chúa dựng nên, việc họ làm, Chúa thông suốt cả." (Tv 33:15) Bởi thế, Thánh Linh là lời giải đáp cuối cùng cho những ai đang gặp bế tắc trong những lãnh vực giáo dục, hòa giải, chính trị …

Tất cả đều bắt nguồn từ mầu nhiệm Ba Ngôi. Nhưng thực tế còn đi xa hơn nữa. Quả thực, Cựu ước chỉ mới nhận thấy "Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín." (Xh 34:77) Trong khi đó, Tân Ước đã mạc khải về cái giá mắc nhất Thiên Chúa phải trả cho sự sống đích thực của con người. Không phải cho sự sống chóng qua này, nhưng "để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời," (Ga 3:16) Thiên Chúa phải hi sinh chính Con Một Cuộc sống vĩnh cửu mới đáng sống, vì hạnh phúc toàn vẹn chỉ tìm thấy nơi Thiên Chúa. "Sự sống vĩnh cửu là sự sống Thiên Chúa hiện thân nơi Ðức Giêsu bảo đảm cho tất cả các tín hữu hôm nay rằng họ sẽ sống muôn đời. Hay đón nhận sự sống mới này và hãy bắt đầu đánh giá mọi sự dưới nhãn quan vĩnh cửu này." (Life Application Study 1991:1878) Nhãn quan này không phủ màu đen trên tất cả những hoạt động hôm nay. Trái lại, nhờ tin vào Ðức Giêsu, chúng ta sẽ tìm thấy lời hằng sống và một sức mạnh thay đổi tất cả.

TÌM MỘT CON ÐƯỜNG.

Con đường hôm nay đang mở ra trước mắt mọi người tìm về sự sống đích thực là Ðức Giêsu Kitô. Chúa Thánh Linh đang khơi dậy nơi tâm hồn các bạn trẻ sức mạnh đạp đổ mọi hàng rào, để làm thành các cộng đồng tình yêu, rập khuôn cộng đồng Ba Ngôi Thiên Chúa, một cộng đồng đầy năng lực sáng tạo và hồng ân cứu độ. Năng lực đó có lẽ chỉ tìm thấy nơi tuổi trẻ mà thôi. Thực vậy, giữa bao nhiêu tranh chấp hôm nay, Chúa nhật này "9,000 bạn trẻ Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo sẽ tụ họp tại Quảng trường Roma để xác quyết rằng "có thể thực hiện được một nền hòa bình trong tương lai, bất chấp những gì đang xảy ra." (Zenit 21/05/2002) Ðó là cuộc tuần hành của các bạn trẻ, từ 12 đến 17 tuổi, đến từ 87 quốc gia, do phong trào Focolare tổ chức. "Tuần hành Chúa nhật này là phái đoàn Do thái đến từ Roma, Ba tây, và Do thái; các bạn Hồi giáo từ Trung Ðông, Hoa kỳ, và Pakistan; Phật giáo từ Nhật bản và Thái Lan; Ấn độ giáo và đạo Sikhs, và Zoroastrians từ Ấn độ, và những người theo các tôn giáo truyền thống Phi châu"(Zenit 21/05/2002) Ðó là dấu chỉ niềm hi vọng vẫn lớn mạnh trong cộng đồng nhân loại, vì sức sống luôn tuôn trào từ nguồn mạch là chính Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhân loại chỉ là một, mặc dù có nhiều khác biệt về chủng tộc và văn hóa. Quả thực, từ cung lòng Chúa Cha, Ðức Giêsu đã được sai đến như niềm hi vọng duy nhất qui tụ muôn dân. Thực tế, "chắc chắn bắt nguồn từ niềm tin nơi Ðức Giêsu, Ðấng Cứu độ duy nhất của nhân loại, Giáo Hội coi những hình thức đa diện từ những cảm nhận và truyền thống khác nhau như một nguồn tài sản lớn lao có thể diễn tả một sứ điệp duy nhất của Tin Mừng và Giáo Hội." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 20/05/2002) Lý do vì nơi các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau, con người có thể bắt gặp sự sống phong phú của Ba Ngôi Thiên Chúa, một sự sống được mạc khải trọn vẹn và dứt khoát nơi Ðức Giêsu Kitô. "Quần chúng có quyền biết đến những sự phong phú trong mầu nhiệm Ðức Kitô, sự phong phú mà toàn thể nhân loại có thể tìm thấy trọn vẹn tất cả những gì liên quan đến Thiên Chúa, con người và định mệnh, sự sống và sự chết, và sự thật mà họ đang phải mò mẫm kiếm tìm." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/2002)

Ðể đáp ứng nhu cầu lớn lao đó, Giáo Hội không ngừng nỗ lực Phúc âm hóa thế giới. "Khi theo đuổi mục đích cứu độ, Giáo Hội không những thông truyền sự sống Thiên Chúa cho muôn dân, nhưng còn tìm cách chiếu tỏa ánh sáng phản chiếu sự sống đó trên toàn thể trái đất, bằng cách chữa lành và nâng cao ảnh hưởng trên phẩm giá nhân loại." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/2002)


Fr. Jude Siciliano, op

Ân sủng, Tình yêu, và Hợp nhất
Ga 3,16-18

Thưa quý vị.

Thơ thánh Phaolô gởi giáo đoàn Corintô giúp chúng ta tập trung vào chủ đề của thánh lễ hôm nay. Chúng ta không cử hành một học thuyết Ba Ngôi khô khan, cứng nhắc và vô hồn. Nhưng một thực tại vô cùng sống động, là nguồn mạch mọi sự trong vũ trụ, hữu cơ và uyển chuyển, là Thần Linh duy nhất muôn loài muôn vật phải phụng thờ. Các câu Kinh thánh đọc trong thánh lễ hôm nay là ba câu cuối cùng của lá thơ, trong đó có công thức chúc bình an nhân danh Chúa Ba Ngôi của các cộng đoàn tín hữu tiên khởi. Thánh Phaolô đã sử dụng công thức đó, không phải để dạy một giáo lý mà để chào thăm cộng đoàn. Ngài thay đổi thứ tự chúng ta quen nói : Chúa cha, Chúa con và Thánh Thần thành : "Ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình thương của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần." Ðể cho thấy hiệu quả của ơn Chúa Ba Ngôi trên nhân loại. Chúa Giêsu giữ vị trí đầu tiên, là quà tặng của tình yêu Thiên Chúa cho cộng đoàn. Quà tặng này hoàn toàn nhưng không, do lòng hào hiệp Thiên Chúa ban, chúng ta chẳng xứng đáng và cũng chẳng có công lênh gì.

Tác giả Fred Craddock nhận xét : Trong câu văn này thánh Phaolô không có chủ ý định nghĩa Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu là Con, nhưng Ngài nhấn mạnh về khía cạnh tích cực của Ba Ngôi tức vai trò năng động của Thiên tính. Ðó là lý do để "anh em vui mừng và gắng nên hoàn thiện, khuyến khích nhau, đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa". Như vậy thánh Phaolô không kêu gọi cộng đoàn tự thân nên thánh, mà phải dựa vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Học thuyết này là một trong các tư tưởng chủ yếu của thánh nhân, ngài nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các thơ của mình. Ở đây thánh Phaolô lôi kéo sự chú ý của chúng ta tới Ba Ngôi Thiên Chúa để nhắc nhớ rằng chúng ta có một Thiên Chúa vô cùng tích cực, hằng luôn hoạt động vì lợi ích của chúng ta. Ngài kêu gọi các tín hữu sống thành cộng đoàn, yêu thương, bác ái, một trí một lòng, nhưng ngài cũng nhắc nhớ rằng chỉ Thiên Chúa Ba Ngôi mới có thể ban cho khả năng sống như vậy.

Ngoài Chúa Ba Ngôi không ai có khả năng sống kiểu đó. Bởi duy chỉ có Ba Ngôi mới ban cho chúng ta "ân sủng, tình yêu, và hợp nhất", thánh Gioan hôm nay cũng khai triển cùng một tư tưởng " Thiên Chúa tình yêu đã hào hiệp yêu thương chúng ta trong Chúa Kitô, ban cho chúng ta sống thành cộng đoàn để chúng ta thương mến nhau. Ở đây, tôi muốn đặt câu hỏi cùng thánh Phaolô : Giáo hội địa phương chúng con đang chán nản, rã rời thế này vì gương xấu của hàng giáo sĩ, thì chúng con đoàn kết thế nào được ? Thánh Phaolô trả lời : Ðược, Thiên Chúa không ngừng ban cho anh chị em: "ân sủng, tình yêu và thông hiệp" không bỏ rơi cộng đoàn anh chị em đâu. Ngài khích lệ anh chị em sống yêu thương, bác ái là để triệt tiêu các gương mù đó. Ngài hằng chúc lành cho các cố gắng của anh chị em để kiến tạo sức sống mới trong cộng đoàn, sức sống thánh thiện và trong sạch !

Nơi Chúa Kitô, chúng ta nhận được dấu chỉ rất cụ thể của tình yêu Thiên Chúa. Ngài là hiện thân bằng xương bằng thịt của tình yêu đó. Trong Ngài chúng ta đã được chọn làm các thành viên của ơn thông hiệp (koinonia), không phải chỉ bằng cách ghi tên vào sổ sách là đủ, nhưng rất hữu cơ với nhau. Chúng ta được sinh ra trong tình hiệp thông đó (bí tích rửa tội). Bất cứ ai cũng dễ dàng phân biệt được hai loại thành viên : thành viên của một đội bóng đá khác hẳn với thành viên của một gia đình. Một bên hoàn toàn bề ngoài, chỉ cần ghi tên là xong. Bên khác đầy đủ và hữu cơ hơn nhiều : phải được sinh ra trong gia đình hoặc gia tộc đó. Làm sao chúng ta có thể thực hiện được như vậy khi chúng ta thuộc về các thành phần khác nhau : giàu nghèo, sang hèn, màu da, tiếng nói, văn hóa, tuổi tác, quê quán…

Làm sao chúng ta có thể : "Khuyến khích nhau, đồng tâm nhất trí, ăn ở thuận hòa" khi chúng ta thuộc về đảng phái chính trị khác nhau, tầng lớp xã hội khác nhau ? kình địch và đối kháng nhau ? Chỉ có ơn Chúa Ba Ngôi mới làm được như vậy mà thôi. Thánh Phaolô đòi buộc chúng ta phải sống như thế để phản ánh sự hiện diện tích cực của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cộng đoàn tín hữu. Bằng không chỉ là lý thuyết khô khan và vô hồn. Không, hôm nay chúng ta không mừng lễ một giáo điều, chúng ta mừng Chúa Ba Ngôi hiện diện và luôn tuôn đổ hồng ân cho Giáo hội, cho gia đình, cho mỗi người chúng ta !

Tác giả Robert Farrar Capon nói rằng nhân loại mà cố gắng mô tả Thiên Chúa thì giống như một bầy ốc hến bắt chước các điệu múa của một vũ nữ ba-let, vụng về và ngớ ngẩn. Các nhà thần bí hoặc chọn yên lặng hoặc dùng các hình ảnh ngoạn mục để nói lên những cuộc gặp gỡ của họ với Thần linh. Thiên Chúa mà Môsê đối diện ở trên núi Sinai tự mạc khải mình là "nhân hậu, từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" (Xh 34,6). Nhưng chính Thiên Chúa này cũng ngự trên mây xanh. Mặc dầu những hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa Ba Ngôi rất thô thiển, thiếu sót. Nhưng Kinh thánh đã cố gắng mạc khải về mầu nhiệm đó cho nhân loại u tối, để chúng ta có chút ánh sáng đức tin.

Vì thế, Phúc âm hôm nay đã cố tìm cách vẽ nên một Thiên Chúa yêu thương để nhân loại có khả năng đi vào mầu nhiệm đó : "Ðức Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời…" (Ga 3,16). Tuy nhiên chẳng mấy linh hồn nhận ra rằng lời lẽ quan trọng đó có liên hệ gì đến cuộc sống mình. Ngay cả các tín hữu nhiệt thành cũng vẫn có thể làm ngơ trước sứ điệp mà Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô. Họ không mấy bức xúc về nội dung của nó, giả dụ chúng ta quảng cáo thật "nổ" về Gioan 3,16 trước các đám đông, trong các đường phố, đại hội thì cũng chỉ nhận được phản ứng khiêm tốn mà thôi. Tuyệt đại đa số bất quá coi như một điều gây khó chịu, phiền hà và chẳng quan trọng chi.

Nhưng chính câu văn này lại là toát yếu Phúc âm Gioan : Thiên Chúa đã đến với nhân loại qua Ðức Giêsu. Ngài là dấu chỉ hoàn hảo nhất của tình yêu Thiên Chúa ban cho "thế gian". Có lẽ trong thánh lễ hôm nay chúng ta chẳng thể diễn tả hết về Thiên Chúa và các thuộc tính của Ngài, nhưng chí ít những điều Xuất hành và Tin Mừng dạy đã tương đối đầy đủ. Thiên Chúa của Xuất hành là thương xót, nhân hậu và chậm nổi giận. Thiên Chúa của Gioan 3,16 đã ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống. Ngần ấy đủ cho nhân loại vững tin. Liệu tôi có sẵn lòng phó thác cho Thiên Chúa đó không ? Liệu tôi có thực sự tin vào mạc khải Sinai ? Liệu tôi có dám khẳng định chứng cứ của Gioan : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi… ? Và hoàn toàn tin tưởng và tình yêu của Ngài không những cho thế gian khách quan mà còn cho chính tấm thân bé nhỏ của tôi : Thiên Chúa yêu tôi, lúc này, trong hoàn cảnh cụ thể tôi đang sống : bạn bè, gia đình, công việc làm ăn ?

Khi tự mạc khải cho Môsê mình là Ðấng đầy xót thương, Thiên Chúa dùng một từ rất cụ thể. Từ đó mô tả cảm giác của một phụ nữ mang thai yêu con còn nằm trong dạ, hoặc những đứa trẻ mà bà đã sinh ra. Ðó là tình yêu thắm thiết Thiên Chúa Ba Ngôi dành cho chúng ta trong thánh lễ hôm nay. Nó là cảm giác mến yêu mạnh mẽ đến độ Ngài đã sai Con Một của Ngài giáng trần để chúng ta có thể nhìn thấy, nghe hiểu và sờ được tình yêu ấy. Tất cả chúng ta, toàn thể thế giới là đối tượng thụ hưởng. Như vậy, Ngài chẳng chừa lại chi cả. Ban Con một mình vào tay chúng ta chưa đủ sao ? Còn chi quý giá hơn ? Con của Ngài chính là bản thân Ngài vì Cha với Con là một, Con ở trong Cha và Cha ở trong con (Ga 17,21). Ôi tình yêu nhiệm mầu, nhân loại chẳng sao hiểu nổi ! Thiên Chúa đã đến thế giới, nên một với chúng ta đế cứu vớt chúng ta khỏi bùn lầy tội lỗi ! Tình yêu nhập thể này có thể la cà với bất cứ ai trong xã hội loài người vì Ngài là anh em với họ, ruột thịt của họ ! Không ai bị loại trừ khỏi vòng tay thương xót của Thiên Chúa tỏ hiện nơi Ðức Kitô ! Như vậy chấp nhận tình yêu Thiên Chúa là chấp nhận chính bản thân, từ chối Thiên Chúa là từ chối chính bản thân ! Chúa không đày ải trầm luân ai cả, đó là quyết định của mỗi người, vì xa rời Thiên Chúa là xa rời sự sống ! Vì thế, thánh Phaolô đã quả quyết : Phạm tội là vong thân, bán mình cho ma quỷ !

Thế thì chúng ta giải quyết ra sao số phận của những kẻ chẳng tha thiết gì đến nội dung Ga 3,16 ? Cho dù chúng ta cắm bảng quảng cáo ở giữa sân bóng đá, họ vẫn lạnh lùng làm bàn, hoặc giữa phố chợ, họ vẫn buôn gian bán lận, hoặc ở giữa chiến trường, họ vẫn tiếp tục chém giết nhau ? Hoặc trong tu viện thì họ ngoảnh nhìn nơi khác hấp dẫn hơn ? Xác định của Tin Mừng hôm nay trả lời câu hỏi : "Thiên Chúa đã thương yêu thế gian…" tức là Ngài đã có phương tiện để thu gom họ vào tình yêu của Ngài. Bữa tiệc Thánh Thể chúng ta sắp cử hành là một dấu chỉ. Thiên Chúa đã dùng dấu này để nói cho mọi người biết Ngài chẳng loại trừ ai. Tấm bảng Ga 3,16 là vĩnh viễn. Ngài chú ý đến từng người và hết mọi người. Ngài ban ơn để nối kết toàn thể nhân loại trong sự thông hiệp của Thánh Thần. Cho nên thánh Tông đồ Phaolô có lý khi viết : "Thưa anh chị em hãy vui mừng, cố gắng nên hoàn hảo, khuyến khích nhau, đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa." Amen.


Fr. Jude Sicilianô, op

Thiên Chúa của lòng yêu thương bền vững
(Ga 3, 16-18)

Thưa quý vị,

Chúng ta đang trong các mùa lễ lớn. Tuần trước là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Hôm nay lễ Chúa Ba ngôi. Tuần sau lễ Mình và Máu thánh Chúa. Trong năm phụng vụ, Hội thánh còn cử hành những lễ trọng khác nữa của cuộc đời Chúa Giêsu, như giáng sinh, phục sinh, lên trời. Lễ hôm nay nhiều ý nghĩa lý thuyết thần học. Cho nên, các nhà giảng thuyết có khuynh hướng trừu tượng hoá bài suy niệm của mình, làm cho đầy những giáo điều, học thuyết cao siêu khó hiểu đối với giáo dân, mà tuyệt đại đa số chi thủ đắc được vài kiến thức trung bình. Họ biến đổi buổi phụng vụ thành lớp học giáo lý, thánh khoa, tựa như trong các chủng viện. Một điều đáng tiếc, ít nhà giảng thuyết để ý tới.

Thực ra, nếu nhìn kỹ các bài đọc, chúng ta sẽ thấy chúng không chú tâm nhiều vào lý thuyết, mà những hành động Thiên Chúa thực hiện giữa nhân loại. Ngài là diễn viên chính trên sân khấu thế gian. Ngài thực hiện những công việc ích lợi cho nhân loại chứ không chỉ lý thuyết trừu tượng mà thôi. Các công việc ấy đã có từ thời Cựu ước, tới Tân ước và cho đến ngày nay. Chúng ta là những đối tượng được hưởng tình yêu, phúc lành, sự tha thứ của Ba ngôi Thiên Chúa, liên tục đổ xuống loài người. Hôm nay là ngày lễ Giáo hội kêu gọi chúng ta đáp trả, bằng lòng biết ơn, vui mừng và thánh thiện trong thánh lễ này và suốt cuộc sống của mình. Các bài đọc không cố gắng “giải nghĩa” Thiên Chúa Ba ngôi là gì, nhưng đơn giản chỉ tỏ lộ Ngài hoạt động và nếu dùng ngôn ngữ bình dân thì “xem quả tự khắc biết cây”, bạn muốn biết Thiên Chúa là gì thì hãy suy gẫm các công việc Ngài thực hiện trong vũ trụ. Kinh thánh biểu lộ rằng khi Ngài giơ tay về phía bạn, bênh vực che chở bạn, bạn sẽ hiểu Ngài là ai ? Không phải các học thuyết lý lẽ nhưng chính kinh nghiệm cụ thể về lòng yêu thương của Thiên Chúa mà chúng ta hiểu được phần nào bản chất của Ngài. Ngài là đấng muôn đời trung tín, không khi nào bỏ rơi chúng ta, ngay cả khi chúng ta từ chối Ngài, từ chối chính bản thân mình, bằng cách sống lưu vong, sa lầy tội lỗi, tính hư nết xấu, xì ke ma tuý, lừa đảo, trộm cướp, âm mưu mánh khoé.

Bài đọc thứ nhất, trích sách Xuất hành (34, 1-35), Thiên Chúa canh tân giao ước với dân Do thái. Môisê từ trên núi Sinai xuống, ông giận dữ đập vỡ hai bia đá giao ước ghi 10 điều răn ở chân núi khi hay biết dân chúng đã phản loạn thờ lạy bò vàng (các chương 32 và 33 là những bản văn rất đẹp vì nhiều lý do, nhưng đặc biệt chúng mô tả tương quan thân thích giữa Môisê và Thiên Chúa). Mười điều răn được viết lại, bất chấp lòng thất trung và phản nghịch của tuyển dân. Thiên Chúa vẫn trung tín với chính mình, đi bước trước với dân Do thái và canh tân giao ước mà họ đã bẻ gãy vì dục vọng. Trong thói tục cổ xưa miền Trung đông, khi một giao ước được ký kết giữa lãnh chúa và các bầy tôi, thì tên của lãnh chúa được nêu lên trước, sau đó đến tên của các bầy tôi. Theo đúng phong tục này, tên của Thiên Chúa phải được tỏ lộ, rồi đến danh tánh của tuyển dân. Nhờ việc này mà chúng ta biết Thiên Chúa là ai ? Tên của Ngài có ý nghĩa ra sao ? Kẻo chúng ta lầm lạc về bản chất đích thực của Thiên Chúa, lãnh chúa mà dân Do thái ký giao ước.

Kinh thánh viết : “Khi ấy, ông Môisê thức dậy và lên núi Sinai theo lệnh của Đức Chúa, tay mang hai bia đá. Đức Chúa ngự xuống trên đám mây và đứng tại đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. Đức Chúa đi ngang qua mặt ông và xướng : ‘Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.” Đó là tên của Thiên Chúa, Đấng nhân hậu và từ bi. Thiên Chúa của lòng yêu thương bền vững. Trung tâm của đoạn Kinh thánh này là mặc khải về quyền năng tha thứ của Thiên Chúa, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.

Bài đọc này được chọn song song với Tin mừng bởi lẽ nó mặc khải mạnh mẽ về danh xưng và bản chất của Thiên Chúa. Nó khai sáng cho ý nghĩa của bài Tin mừng, làm rọ những điều mà Chúa Giêsu tuyên bố với Nicôđêmô : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Mặc dù ông Môsê không hỏi nhưng Thiên Chúa đã mặc khải tên của Ngài là Giavê. Thường tình, danh xưng biểu lộ căn tính hay cốt yếu của một người. Thiên Chúa giải thích ý nghĩa của Ngài : “Giavê ! Giavê ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.”

Ở đây, chúng ta không quan tâm lắm đến định nghĩa văn chương mà chỉ chú tâm đến giải thích danh xưng của Thiên Chúa. Nó mặc khải mối liên hệ giữa Ngài và tuyển dân Do thái, những việc Thiên Chúa làm cho họ và cho chúng ta ngày nay : Thiên Chúa nhân hậu và hay thương xót. Tác giả Dianne Bergant truy tìm nguyên nghĩa của các tiếng dùng trong bản văn Xuất hành thì thấy rằng chúng mang hình thức rất mộc mạc. Từ “từ bi” (merciful) chỉ tình yêu của cái dạ mẹ. Tức tình cảm của người mẹ yêu thương đứa con còn trong bụng hoặc của các anh chị em ruột thịt. Từ “nhân hậu” (gratious) chỉ lòng thương xót dấu yêu và từ “tín trung” gợi lên tính bền vững không thay đổi. Nghĩa là Thiên Chúa chẳng bao giờ thay lòng đổi dạ mà từ bỏ tuyển dân Ngài đã ký kết giao ước. Nhờ ý nghĩa cụ thể như vậy mà ông Môisê hiểu được thông điệp của Thiên Chúa. Ông vội vàng phục xuống đất thờ lạy, và thưa với Ngài : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con.” Được Thiên Chúa cùng đi là một bảo đảm vững chắc đối với tuyển dân và hôm nay trước bí tích Thánh thể trên bàn thờ, chúng ta cũng phục xuống đất thờ lạy đấng đã tự tỏ mình ra cho dân Israel, Ngài cũng tự mặc khải cho chúng ta.

Ngài liên kết với dân tộc Do thái và Môisê trong một giao ước vĩnh cửu để đưa họ về đất hứa, thì cũng liên kết với Hội thánh và chúng ta, ngõ hầu chúng ta là tuyển dân mới của Ngài và dẫn đưa chúng ta tới cõi phúc ngàn thu. Thiên Chúa mà hôm nay chúng ta thờ lạy và được nghĩa với Ngài thì cũng chính là Thiên Chúa che chở dân Israel thuở xưa. Không có chi khác biệt. Nhưng cái khó khăn là từ thời Môisê tới nay, loài người không mấy thay đổi ? Chúng ta vẫn là dân “cứng cổ” thì làm thế nào trung thành với giao ước ? Làm thế nào để Ngài dẫn đưa mình ? Xét cho thấu đáo, Thiên Chúa không ký kết với tuyển dân vì họ đạo đức hơn các dân tộc chung quanh thời bấy giờ. Đúng hơn, giao ước được khởi sự từ phía Thiên Chúa. Ngài đã chọn và thiết lập tình bằng hữu với Apraham, tổ phụ của họ, lúc này Ngài vẫn trung tín với mình và canh tân giao ước với con cháu ông, bởi lòng Ngài thương xót nhân loại, ban Đấng thiên sai để cứu độ họ khỏi mê lầm tội lỗi. Cho nên, Moisê đã xin Ngài cùng đi với dân mình.

Suy gẫm đến đây, tôi thấy Thiên Chúa thật cao cả đúng như tên của Ngài mặc khải cho Môisê : Đấng giàu lòng nhân hậu từ bi. Ngược lại, sự đáp trả của chúng ta quá tệ bạc, thậm chí phản bội trong nếp sống sa đoạ. Tuy nhiên, ai có thể chống lại ứơc muốn được Thiên Chúa cùng đi ? Trong buổi phụng vụ thánh lễ hôm nay, chúng ta cử hành việc Thiên Chúa đến với nhân loại trong giao ước vĩnh cữu qua sự hy sinh của Chúa Kitô. Thực tế, Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa đồng hành với nhân loại theo nghĩa chữ đen khi Ngài sống ở Palestin với các môn đệ, và theo nghĩa bí tích, khi hiện diện trong phép Thánh thể với chúng ta ngày nay. Hai hình thức nhưng cùng một thực tại : Thiên Chúa cùng đi với nhân loại.

Trong bài đọc thứ ba hôm nay, khi nói chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu tuyên bố Thiên Chúa yêu thế gian và vẫn tiếp tục yêu nó và bằng chứng tích cực là sai Con Một ngài đến để nhờ người con đó mà thế gian được cứu. Ngay cả trường hợp loài người quay mặt đi không chấp nhận tình yêu ấy. Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện những công việc Ngài đã làm xưa cho Môisê và dân tộc ông. Ngài ban ơn tha thứ và cho cơ hội để đổi mới quan hệ với Ngài. Rõ ràng, Thiên Chúa không hề rời bỏ nhân loại, dù họ phản bội.

Bài đọc thứ hai được chọn vì câu cuối cùng mang tính chất Ba ngôi : “Cầu chúc toàn thể anh em được tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu thương của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Amen.” Đây cũng là viễn ảnh của thánh Phaolô về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nó là một lời chúc tụng. Tuy nhiên, nhân vật được nhắc tới trước tiên không phải là Ngôi Cha mà là Ngôi Hai nhập thể, Đức Giêsu Kitô. Hẳn thánh nhân có dụng ý. Ngài chủ tâm nhấn mạnh vào hành động của Thiên Chúa phân chia cho từng Ngôi. Ân sủng của Đức Kitô được kể đến trước hết bởi nhờ ân sủng này mà chúng ta có ý niệm về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngôi Con đã xuống thế làm người, sống chết vì chúng ta và chúng ta nhận được gương lành của Ngài để thay đổi nếp sống tội lỗi. Dĩ nhiên, đây là một món quà vĩ đại và nhưng không mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại qua Đức Giêsu Kitô. Sau đó tình yêu của Chúa Cha được nhắc tới, tình yêu này cụ thể hoá nơi Chúa Kitô, sự sống và cái chết của Ngài. Cuối cùng, “ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần” đó là tình yêu tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con.

Chúng ta được hiệp thông vào tình yêu này qua ơn Chúa Thánh linh. Như vậy, Ngài là nguồn mạch sự sống hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa và với các thành phần khác của nhân loại. Một sự hiệp thông bền vững và hạnh phúc. Nhờ nó chúng ta được lên thiên đàng ngay ở trên trần gian. Cho nên, phải ăn ở thánh thiện để không đánh vỡ kho báu quý giá này nơi mỗi linh hồn. Than ôi, nhiều giáo sĩ, giáo dân không ý thức nổi sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần, ăn ở bừa bãi theo dục vọng và sự lừa dối của ma quỷ, làm thiệt hại Hội thánh và linh hồn mình. Hằng ngày khi rước lễ, chúng ta được nhắc nhớ sự hiệp thông thánh thiện. Nó là hoa quả của tình yêu thương Thiên Chúa đổ xuống linh hồn mỗi người qua Chúa Giêsu Kitô.

Cho nên, thánh tông đồ Phaolô nhắn nhủ cộng đoàn Côrintô rằng hoa quả này phải được biểu lộ ra bên ngoài, chứ không “im lìm’ bên trong “gắng nên hoàn thiện, hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở hoà thuận.” Đường lối sống hoà thuận chỉ có thể thực hiện khi chúng ta hãm mình, ép xác, ngõ hầu lãnh nhận “ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và bạn hữu với Chúa Thánh Thần.” Như vậy, chúng ta lần nữa được biết Chúa Ba ngôi qua công vịêc Ngài thi hành cho mình, chứ không phải qua lý thuyết trừu tượng. Câu mở đầu của bài đọc Tin mừng hôm nay chắc chắn là câu danh tiếng nhất trong toàn bộ Tân ước và là câu được thuộc lòng nhiều nhất : “Khi ấy, Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng : ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16)

Tuy nhiên, nếu bạn đi xem thể thao hay một trận bóng đá trên tivi mà ai đó cầm bảng hiệu ghi những dòng chữ trên, tôi cược với bạn chẳng ai thèm nhìn và chẳng hiểu ý nghĩa của nó ra sao. Ngay cả trong tu viện, nhà thờ có bảng hiệu tương tự, người ta sẽ nhìn đi nơi khác, tìm các đối tượng hấp dẫn hơn. Thế mới biết, thiên hạ thờ phượng Chúa bằng môi miệng mà thôi, còn lòng trí tìm khoái lạc thế gian, chứ đâu phải là mặc khải của Thiên Chúa ! Nói chi đến việc chiêm ngưỡng nội dung của nó. Nhưng vào Chúa nhật này với sự kêu gọi của Hội thánh, chắc chắn chúng ta phải nhận ra câu nói đó muốn nói gì bằng chính kinh nghiệm của mình.

Chúng ta mừng kính tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho mình ngay cả khi còn là tội nhân, lòng tha thứ của Ngài và sự sống mới Ngài ban. Câu trích được lấy ra từ bản văn dài Chúa Giêsu trả lời Nicôđêmô. Ông là thành viên quan trọng của phái Pharisêu. Ông đến yết kiến Chúa vào ban đêm. Có thể, ông có ấn tượng nhiều về hành vi của Chúa Giêsu (tẩy rửa đền thờ Ga 2, 13-22) và muốn biết thêm về Ngài. Cũng có thể ông được sai đến để dò xét giáo lý của Chúa. Bất cứ thế nào đi nữa, Chúa Giêsu truyền ông phải sinh lại từ trời cao, và nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nicôđêmô ngỡ ngàng, nói lắp bắp và đặt nghi vấn : “Việc ấy làm sao có thể xảy ra được ? Một người già cả như tôi ?”

Không giống như bậc vị vọng Do thái, chúng ta chẳng phải mò mẫm trong tối tăm thiêng liêng. Chúng ta được mặc khải Chúa soi sáng. Chúng ta được sinh lại trong bí tích Rửa tội. Thực sự đã có đời sống mới. Nó cần tăng trưởng và phát triển trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Đức Thánh linh được gửi đến để thi hành việc này. Ngài thổi hơi trên họ để tập hợp họ thành dân mới của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta còn đầy yếu đuối, tội lỗi và bất trung. Nhưng sáng kiến là từ phía Thiên Chúa. Ngài ban cho chúng ta can đảm và ơn thánh để trung thành với Ngài và anh em. Thánh Phaolô xác nhận như vậy : “Nguyện xin ân sủng của Chúa Giêsu, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em luôn mãi.”

Cho nên, chúng ta có quyền nói đến sự hiệp nhất trong cộng đoàn bình đẳng mang tính Ba ngôi. Không còn phân biệt nam nữ, già trẻ, sắc tộc, cấp bậc, quốc tịch, học vấn, nghề nghiệp. Chúa Thánh Thần đã tái tạo chúng ta theo hình ảnh và hoạ ảnh Chúa Ba ngôi. Chúng ta có trách nhiệm bày tỏ đặc tính ấy cho thế giới bằng cuộc sống mới của mình. Để thiên hạ nhận ra rằng sự đa dạng trong Hội thánh quả thật là ơn vĩ đại của Thiên Chúa tạo thành, chứ không phải là nhân tố chia rẽ. Ước chi mỗi tín hữu, nhất là các tu sĩ nam nữ, nhận ra bổn phận này, ngõ hầu Hội thánh trở thành “rượu mới” của niềm vui cho thế giới hôm nay. Amen.


Fr. Jude Sicilianô, op

Hiệp thông trọn vẹn trong Chúa Ba Ngôi
Ga 3:16-18

Thưa quý vị,

Một linh mục đồng nghiệp kể cho tôi nghe rằng, hồi ông còn là sinh viên thần học, tham dự một khóa thần học về Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo sư thỉnh giảng chỉ định cho sinh viên một tập sách dày để nghiên cứu. Giữa khóa học, bà giáo sư rời khỏi vaị trò đứng lớp chính khóa và chuyển sang lãnh vực chia sẽ. Bà nói với các sinh viên rằng, khi làm linh mục và được trao trách nhiệm giảng giải về lễ Chúa Ba Ngôi, thì tốt hơn nên giả đò mình bị cảm cúm.

Bà giáo sư ý thức được sự khó khăn trong việc giải nghĩa ngày lễ hôm nay. Thực vậy, làm thế nào chúng ta hiểu được mầu nhiệm đang cử hành ? Thánh Augustinô có ý kiến như sau: “Anh chị em thân mến, vậy thì chúng ta có thể nói chi về Thiên Chúa ? Nếu anh chị em hiểu điều mình nói, thì điều đó không phải là Thiên Chúa. Nếu hiểu được thì thực ra chúng ta hiểu cái chi khác, chứ không phải Thiên Chúa. Nếu bạn quả quyết nắm bắt được Ngài, bạn đang lừa dối mình đó. Nếu chúng ta muốn tìm một cái tên xứng đáng để đặt cho Ngài, chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm ra. Vậy thì chúng ta làm sao nói được điều mình chẳng hiểu ?” (Sermo 52, 6,16). Vậy làm thế nào chúng ta rút ra được bài học cho ngày lễ hôm nay ?

May thay, các bài đọc rất sống động và cụ thể, và chìa khóa là tập trung vào chúng và giảng về chúng. Đừng lý thuyết lôi thôi. Tin mừng thánh Gioan bảo rằng Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã sai con một của Ngài đến thế gian, chia sẻ thân phận với chúng ta và ban Thánh Thần để cứu rỗi nhân loại. Nếu suy nghĩ kỹ về những điều trên đây, thì người ta có thể ngộ ra Thiên Chúa là một gia đình (God is a family). Gia đình ấy đựng nên và cứu rỗi nhân loại. Qua bí tích Thánh Tẩy, mọi người được sáp nhập vào gia đình hạnh phúc ấy. Sau này Chúa Giêsu nói rõ hơn khi sai các môn đệ đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,18). Như thế gia đình Thiên Chúa gồm ba ngôi vị: Cha, Con và Thần Khí. Hạnh phúc và hy vọng của nhân loại là được gia nhập gia đình ấy. Cho nên lễ Chúa Ba Ngôi là căn bản của đạo, là ngày lễ đẹp nhất trong năm, lễ vượt qua mọi nhỏ nhen, vụn vặt của cuộc đời và sống thân mật với Thiên Chúa Tình Yêu: Cha, Con và Thánh Thần.

Bài đọc 1 trích sách xuất hành, kể lại việc Thiên Chúa hiện ra trên núi Sinai với ông Môisê lần thứ hai, tay ông cầm hai bia đá mới, hai bia cũ ông đã đập nát rồi vì tức giận con cái Israel thờ con bò vàng. Thiên Chúa lại làm giao ước mới với Môisê, và Môisê vâng lời Thiên Chúa tổ chức một dân riêng cho Ngài. Nhưng cũng như chúng ta, Môisê chẳng biết Đấng kêu gọi mình là ai ? Ông xin cho được xem thấy mặt Thiên Chúa. Bài đọc viết: “Đức Chúa ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. Đức Chúa đi qua trước mặt ông và xướng: Đức Chúa! Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín. Ông Môisê vội vàng phục xuống đất thờ lạy”.

Vậy thì Đức Chúa này là ai mà năng tỏ mình ra cùng Môisê, là Đấng nào mà chọn một dân tan tác, cứng cổ, lỳ lợm làm dân riêng để xây dựng thành cơ nghiệp? Ngài chính là Đức Chúa đã chọn chúng ta, ở với chúng ta bất chấp những thiếu sót và bất xứng của chúng ta để dựng nên thành nhân loại mới! Thiên Chúa này chúng ta cũng không thể hiểu, không thể nắm bắt, vì Ngài luôn hành động trong đường lối yêu thương, lạ lùng và mầu nhiệm. Ngay cả khi chúng ta phản bội và bất trung. Thiên Chúa ấy luôn ngự trong đám mây, không thấy được nhưng luôn cảm nghiệm được. Tuy nhiên, cảm nghiệm thế nào? Câu chuyện hôm nay tỏ rõ điều đó: “Ta là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín”. Môisê đã cảm nghiệm như thế, dân Do Thái thấy rõ điều đó, thì nhất định ngày nay cũng như vậy thôi. Ngài luôn kiên trì, thương xót, luôn đi bước trước để đến với nhân loại. Không khi nào nản chí vì tội lỗi của họ. Ngài trung thành với chúng ta ngay cả khi chúng ta thiết lập những ngẫu tượng như tiền tài, sắc dục, tiếng tăm. Ngài dùng quyền năng để thu gom những tộc tan nát và xây dựng lại thành dân thánh thiện, an lành. Trước tình thế sa đọa và vô đạo hiện nay của thế giới, liệu chúng ta có được phép thất vọng? Chắc chắn là không, và mỗi lần mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta phải khơi dậy niềm hy vọng vĩ đại. Chẳng ai được phép nghi nan, chán nản. Vì Thiên Chúa của Môisê, của Đức Giêsu, của Hội thánh là Thiên Chúa tích cực và duyên dáng. Đúng không nào? Không ai có khả năng chống lại Ngài. Cho nên Môisê sau khi nhận thức dân ông mỏng giòn, phản bội và Thiên Chúa kiên trì xót thương thì đã quyết định hành động như chúng ta thường làm khi cảm nhận nhu cầu của mình và sự rộng lượng của Thiên Chúa, là kêu nài: “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Ngài, thì xin Chúa cùng đi với chúng con”. Chúng ta có thể không xứng đáng được Thiên Chúa ưu ái, nhưng cứ mạnh dạn kêu cầu Thiên Chúa cùng đồng hành trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Thiết nghĩ Chúa chẳng nỡ chối từ vì bản chất Ngài là hay cứu giúp.

Nếu chúng ta chú tâm đọc Kinh Thánh và ngẫm nghĩ sự phát triển của nó, thì dễ nhận ra rằng Thiên Chúa của Tân Ước không chỉ “đi qua” như Cựu Ước mà còn cắm lều giữa nhân loại, vì Emmanuel là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, với loài người. Nếu Lời Chúa đáp trả Môisê là đồng hành với dân tộc Do Thái về Đất Hứa, thì trong Tân Ước, Ngài mặc lấy xác thịt loài người, lăn lộn với thân phận con người cho đến cái chết, thì liệu ai còn dám nghi ngờ mình không có Chúa ở cùng ? Mình cô đơn giữa trường đời ? Quả thực Tân Ước mạc khải Thiên Chúa rõ ràng trong con người đức Giêsu Kitô. Nên chúng ta phải tin lời Kinh Thánh và sống lời Thánh Kinh chỉ dạy, nếu không, thì chỉ là tên giả hình, lừa đảo bàn dân thiên hạ vì tự xưng là môn đệ Chúa, dân riêng của Ngài, mà trên thực tế thì không phải.

Gương Thánh Phaolô còn y nguyên giá trị. Ngài viết cho tín hữu thành Côrintô hai lá thư, vạch mặt những kẻ giả hình. Lúc ấy tín hữu trong thành cãi cọ và tranh giành nhau. Một phe theo xác thịt sống buông thả và câu nệ vào luật cũ như cắt bì, kiêng khem. Phe thứ hai sống theo tinh thần Phaolô, tin Đức Kitô không những như Đấng thực hiện các dấu lạ, mà còn như Đấng giải phóng qua khổ nạn, chịu chết và phục sinh của mình. Ông tin Đức Giêsu chính là Thiên Chúa mạc khải mình trong Đức Giêsu Kitô.

Hậu quả là một dân tộc mới, hợp nhất và bình an trong Thiên Chúa: “Nguyện xin ơn sủng của Đức Kitô, Chúa chúng ta. Tình yêu của Chúa Cha. Ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” ở cùng các tín hữu. Câu chúc này là kết thúc lá thư thứ hai trong bài đọc hôm nay. Nếu như Phaolô ở vị trí Môisê thì dân thành Côrintô phản ứng ra sao? Liệu họ có phản ánh là dân riêng được Chúa tuyển chọn và xây dựng? Cái chi sẽ duy trì họ trong nếp sống làm chứng nhân cho cuộc đời khổ nạn và cái chết của Chúa? Đó là nội dung của câu chúc vừa nêu: ơn sủng của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính ân sủng của Ba Ngôi mà Giáo Hội hiện tại được đoàn kết, bình an và rao giảng Tin Mừng. Cho nên các thành viên của Giáo Hội, nhất là hàng giáo sĩ, tu sĩ phải phản ánh ân sủng ấy qua nếp sống của mình. Chúng ta là dân Israel mới cư ngụ dưới chân núi Sinai, bây giờ là đồi Calvariô, tuy mỏng giòn và tranh giành, nhưng phải noi gương Môisê: “Lạy Chúa, nếu quả thật chúng con được nghĩa với Chúa, thì xin đi cùng chúng con”. Xin tha thứ những yếu đuối và xúc phạm của chúng con, và nhận chúng con như dân riêng Ngài.

Do đó, chúng ta hiểu tại sao không như trong Cựu Ước, Chúa không ở trong đám mây, bay cao trên núi Sinai và Môisê chỉ cảm nghiệm như Chúa “đi qua”. Bài Tin Mừng cho chúng ta thấy Thiên Chúa bằng xương bằng thịt dạy bảo Nicôđêmô trông đợi điều gì, sống làm sao, hành động thế nào để được Chúa cứu rỗi. Nếu như Ngài ở trên mây cao, chúng ta dính vào trái đất, thì có ly do khiến chúng ta không nghe lời Thiên Chúa. Chúng ta sẽ vật lộn với thế gian, ma quỷ, tình dục một mình và chắc chắn bị bại trận. Nhưng đàng này Thiên Chúa xuống sống giữa nhân loại, chỉ bảo và ban Thánh Thần đến giúp đỡ, chúng ta không còn lý do chối từ. Đúng như đức Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một để thế gian nhờ Người Con ấy mà được vào Nước Trời”. Khi yêu, người ta làm những việc ngoại thường để chứng tỏ tình yêu. Bản tính của yêu mến là như vậy. Thế thì chúng ta chẳng thể nghi ngờ tình yêu của Chúa Ba Ngôi dành cho mình. Bổn phận mỗi người là đáp trả tình yêu ấy. Lễ Chúa Ba Ngôi là cơ hội tốt để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn.

Lòng biết ơn là sống xứng đáng với danh hiệu Con Thiên Chúa. Ngài là một vị thần linh rất thực tế. Chúng ta chẳng thể làm con Ngài trừ phi ăn ở thánh thiện. Cầu nguyện suông chưa đủ, còn phải sống đời sống như Chúa Giêsu, tuân giữ các lời Chúa truyền dạy. Thông thạo lời Ngài không đủ, nhưng còn phải khu trừ tội lỗi nữa. Thánh Phaolô chúc lành cho tín hữu Côrintô nhân danh Chúa Ba Ngôi, như trước đó ông truyền cho họ phải sửa chữa lại nếp sống. Bởi lẽ nếp sống thánh thiện đòi hỏi tinh thần thờ phượng giống như Chúa Giêsu, luôn tôn thờ Đức Chúa Cha. Làm thế nào chúng ta cầu nguyện: “sáng danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần” cho chân thật, nếu nếp sống xấu xa? Chúng ta không thể giả đò trước mặt Chúa. Vậy thì sống tốt lành là căn bản để mừng lễ Ba Ngôi, một lễ đã có từ lâu đời.

Lòng tin của chúng ta phải được triển khai ra hành động. Vì thế Chúa Giêsu nói: “Ai tin vào Con Người họ sẽ sống đời đời”. Làm thế nào được sống vĩnh cửu nếu không thánh thiện ? Nhiều người lầm tưởng rằng kiếp sống đời đời là thế giới tương lai và người ta chiếm được nhờ công lao đầy mình. Đó là một sai lầm nguy hiểm. Thánh Gioan không nghĩ thế. Phúc Âm của ông viết rằng sự sống đời đời hoặc không phải chết, hệ tại vào việc tin vào Chúa Giêsu ngay lúc này. Tức là biết mình được Thiên Chúa kêu gọi làm con và dần dần được tình yêu Thiên Chúa biến đổi. Chúng ta sẽ trở nên ngày càng kiên nhẫn hơn, biết thứ tha hơn, rộng lượng bác ái hơn, chịu đựng gian khổ hơn, đáng yêu hơn, vv… Tất cả những tính nết đó biến đổi chúng ta nên giống Chúa Giêsu, nhiên hậu sẽ sống muôn đời.

Người ta thường chỉ nghe được tiếng họ quen, còn các tiếng khác họ “điếc”. Còn bạn có quen nghe tiếng Chúa Ba Ngôi mời gọi hay không ? Hay chỉ nghe tiếng tiền bạc, hận thù, sắc dục ? Hy vọng bạn luôn nghe thấy tiếng Chúa. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op 

DÒNG SÔNG CỨ CHẢY MÃI
Ga 3,16-18

Một mầu nhiệm khó diễn tả

Làm sao có thể nói về Thiên Chúa và có thể hiểu về Người ? Trước Thiên Chúa, con người giống như đứa trẻ đứng trước dòng sông luôn chảy, trước biển cả mênh mông luôn khởi đầu lại, như chẳng bao giờ đỗi thay. Ðứa trẻ múc nước lên, và cũng chẳng nhìn thấy chỗ của nước. Ðứa trẻ đỗ nước trên cát, nước bị thấm đi và biến mất.

Làm sao có thể diễn tả được điều vượt khỏi mọi bến bờ ? Làm sao có thể làm được điều đó nếu chưa một lần, ít ra chỉ một lần, kinh nghiệm về dòng nước chảy mãi, về biển cả mênh mông ? Làm sao hiểu được dòng nước, nếu không bước vào và chìm ngập trong đó ?

Không thể nói về Thiên Chúa nếu trước đó không học cách nói về Người. Nhiều gương mặt vĩ đại về sự cầu nguyện đã minh chứng điều này. Con người sẽ chẳng bao giờ có thể là người đáp ứng sáng kiến của một vị Thiên Chúa, Ðấng luôn mặc khải trong các tâm hồn tràn đầy niềm tin, để nói đến danh Người. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới diễn tả chính xác về Thiên Chúa.

Dầu vậy, với khả năng và khát vọng của mình, con người vẫn nỗ lực khám phá và diễn tả về Thiên Chúa. Người Hồi giáo nêu lên 99 danh hiệu để nói về Thiên Chúa - con số nói lên sự vô tận. Còn người Kitô hữu vẫn thường nghe hay dùng những danh hiệu : Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa công chính, Thiên Chúa toàn năng ...

Những danh hiệu này là kết quả của mặc khải và cũng là hình ảnh về Thiên Chúa qua sự diễn tả của con người.

Song song với những danh hiệu trên, có những danh hiệu khác gây sợ hãi và buồn phiền : Thiên Chúa là Thẩm Phán, Thiên Chúa là Ðấng sẽ trừng phạt, Thiên Chúa tách người lành ra khỏi người dữ ...

Con người thường có khuynh hướng đóng khung Thiên Chúa vào vai trò của vị Thẩm Phán khó tính, bởi vì như thế, họ sẽ dễ dàng biện minh cho những khát vọng ngang ngạnh của mình. Thế nhưng, Thiên Chúa là Ðấng Từ Bi và hay thương xót, luôn yêu thương và trung tín. Thiên Chúa luôn mời gọi con người trở nên giống như Người, đồng thời nên những người làm chứng về sự ân cần và tình yêu của Người. Họ được mời gọi để loan báo một sứ điệp quan trọng : tất cả những ai tin đều được cứu. Ðiều đó, quả chẳng dễ dàng với mỗi người.

Con người sẽ chẳng khi nào thấu hiểu trọn vẹn về mầu nhiệm Thiên Chúa, nhưng nhờ Tình Yêu của Ðức Kitô, nhờ ân sủng của Thánh Thần, họ có thể gọi Thiên Chúa là Cha của mình. Ðó cũng là nét đặc trưng của Kitô giáo.

Cơn lốc tình yêu

Ðây đó trong Tin Mừng, vẫn có những đoạn nói về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Tuy vậy, trong Tin Mừng không hề có một khẳng định rõ ràng về Ba Ngôi. Phải qua nhiều thế kỷ tìm kiếm, bàn luận và cả đấu tranh, đôi khi rất khốc liệt, người Kitô hữu mới có được kinh Tin Kính (Công Ðồng Nica-Constantinople). Phải chăng chỉ là những tranh giành về từ ngữ ? Hoàn toàn không phải, nhưng đó là quá trình để tìm hiểu và cô đọng lại tất cả những gì Thiên Chúa đã mặc khải về thực tại sâu xa của chính Người, một thực tại đã được bày tỏ xuyên qua các hoạt động của Người nơi nhân loại.

Thật là một khoảng cách khá xa giữa một bên là quan niệm về Thiên Chúa, Ðấng luôn can thiệp vào lịch sử nhân loại, nhất là qua cuộc giải thoát và dẫn đưa dân Do-thái ra khỏi đất Ai-cập (và do đó, Người kêu gọi con người quan tâm đến sự hiện hữu của chính mình) và một bên là quan niệm về thần tính rất trừu tượng của các triết gia, quan niệm mà con người vẫn thốt lên Nếu có Thiên Chúa ... nếu Thiên Chúa hiện hữu.

Thực ra, từ Ðức Giêsu, Thiên Chúa mới tỏ rõ cho con người về đời sống sâu xa của Người. Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, đã cho nhân loại hiểu rằng đời sống của Thiên Chúa là một cơn lốc tình yêu, một cơn lốc vĩ đại. Cơn lốc ấy không ngừng cuốn hút tất cả vạn vật vào bên trong, biến đỗi vạn vật để tất cả trở thành Tình Yêu như Thiên Chúa là Tình Yêu. Con người cũng được cuốn hút vào trong cơn lốc ấy và vì vậy, đời sống của họ có được ý nghĩa thực sự. Ai muốn thoát ra ngoài, muốn sống bên ngoài cơn lốc tình yêu của Thiên Chúa, người ấy sẽ chẳng là mình, và đương nhiên, không thể nào hiểu được Thiên Chúa, bởi vì đó là cơn lốc của sự trao đổi và ban tặng, là cơn lốc của sự sống tròn đầy.

Quả thật, chỉ một mình Thiên Chúa mới diễn tả chính xác về Thiên Chúa. Và Người đã thực hiện điều này khi Ðức Giêsu làm người. Ðức Giêsu là khuôn mặt nhân loại của tình yêu Thiên Chúa. Trong Ðức Giêsu, thần tính viên mãn đã đến ở với con người, chia sẻ cuộc sống của họ, và Thần Khí của Người đã thì thầm trong tâm hồn con người một danh hiệu đặc biệt : Abba - Cha ơi !.

Như thế, trong Cựu Ước, dân Do-thái đã dần dần khám phá và học hỏi để trở thành Danh hiệu của Thiên Chúa. Lịch sử ấy đã được triển nở hoàn toàn trong Tin Mừng cứu độ của Ðức Giêsu Kitô. Con người sẽ luôn phải sống lại lịch sử này. Họ sẽ dần dần khám phá ra ý nghĩa sâu sắc của câu nói : Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ... (Ga 3,16).

Trong Ðức Giêsu Kitô, con người hướng đến một Thiên Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm không phải là công thức lý thuyết, nhưng là một sự năng động, sự hiệp thông, một thực tại khó có thể diễn tả bằng lời.

Ðắm mình trong dòng sông

Xưa kia, ba người lạ đã đến thăm ông Áp-ra-ham tại cây sồi ở Mam-rê và đã được ông đón tiếp như những vị khách (St 18,1-18) ; cũng vậy, Thiên Chúa biến chúng ta thành những người bạn, cho chúng ta được tham dự vào sự vĩnh cửu của Người, cùng được bẻ bánh với Người trong tình thân mật.

Trong cuộc đời, nếu ta nói với ai Tôi yêu bạn, điều ấy có nghĩa là Bạn sẽ không bao giờ chết (G.Marcel). Ðó cũng là lời tâm sự Thiên Chúa gửi đến chúng ta trong Ðức Giêsu : Thiên Chúa yêu thương nhân loại, và chương trình của tình yêu ấy là : tất cả những ai tin nơi Ðức Giêsu Kitô đều được hưởng sự sống đời đời.

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ (Ga 3,17).


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Mầu nhiệm tình yêu
(Ga 3,16-18)

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo. Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc tưởng tượng của con người, cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này ? Chính Chúa Kitô, nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể biết được. Cho đến trước khi Chúa Kitô đến, loài người không có một ý niệm nào, dân Do Thái cũng không biết gì về mầu nhiệm này. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Kitô trong đời sống công khai đã mạc khải dần dần, tức là Ngài đã dần dần vén lên bức màn của mầu nhiệm này, khi loan báo rằng: Thiên Chúa cao cả của chúng ta vừa là duy nhất vừa là Ba Ngôi, nghĩa là chỉ có một Chúa duy nhất nhưng trong Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần .

Tại sao Chúa Kitô đã mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm này ? Vì Ngài muốn cho chúng ta hiểu biết đích thực về bản tính Thiên Chúa, hiểu biết đích thực đời sống nội tại của Thiên Chúa , đó là TÌNH YÊU. Thiên Chúa là tình yêu. Thật vậy, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chúng ta long trọng mừng kính hôm nay nói lên điều đó : Chúa Cha yêu thương Con, từ tình yêu đó đã nhiệm xuất Chúa Thánh Thần, và tất cả là vì yêu thương loài người chúng ta.

Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, và trong suốt lịch sử của nhân loại, Thiên Chúa đã không ngừng bày tỏ cho con người thấu hiểu tình yêu mà Thiên Chúa đã dành tặng cho con người. Dầu con người phạm tội phản nghịch, Thiên Chúa vẫn không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con yêu dấu của Ngài để cứu chuộc.

Và Đức Kitô, cũng vì yêu con người, nên đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian, để hiến thân phục vụ và chấp nhận cái chết nhục nhã trên thập giá làm giá cứu chuộc cho con người. Và cả cuộc đời làm người của Đức Kitô đã không ngớt bày tỏ cho con người biết tình yêu của Chúa Cha, được diễn tả qua cuộc đời yêu thương, đến nỗi hy sinh mạng sống cho người mình yêu.

Và Chúa Thánh Thần, được gọi là tình yêu của Thiên Chúa, Ngài được sai đến để tiếp tục công việc của Đức Kitô, công việc yêu thương. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà các môn đệ và những kẻ tin vào Đức Kitô, tiếp tục công việc cứu chuộc của Đức Kitô qua đời sống hiến thân phục vụ anh em mình. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được tỏ bày từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Cho nên, khi cử hành mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi hôm nay, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa không khép kín lại trong Ba Ngôi, nhưng đã trào tràn trên mọi thụ tạo thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Bởi đó, đi vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, mời gọi chúng ta hãy sống với, sống vì và sống cho người khác.

Nói khác đi, Thiên Chúa hằng mời gọi chúng ta tham dự vào cuộc sống của Ngài, cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, một cuộc sống của tình yêu thương, tức là Ngài kêu gọi chúng ta hãy sống hiến thân cho anh em chúng ta, đừng sống ích kỷ cho riêng mình, nhưng hãy mở rộng đôi tay, mở rộng tầm nhìn, nới dài đôi chân, và mở rộng tấm lòng đến với mọi người chung quanh. Có như vậy chúng ta mới diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa của mình, đồng thời cũng là diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi : yêu thương và hiệp nhất.

Xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, bằng cách sống yêu thương nhau. Và sống yêu thương nhau là cách thế tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.


Phaolô Phạm Chung Kiên op

Cộng đoàn Ba Ngôi – cộng đoàn tình thương
(Ga 3,16-18)

Ba Ngôi Thiên Chúa là một gia đình yêu thương gương mẫu cho mọi gia đình, và cho cộng đoàn nhân loại, vì Ba Ngôi Thiên Chúa chính là tình yêu (1 Ga 4:8). Tình yêu không khép kín. Tình yêu đòi phải hướng về tha nhân.

Tự bản chất, sự sống Thiên Chúa là chia sẻ. Ba Ngôi liên hệ trao đổi sự sống cho nhau. Vì thế, có thể nói chúng ta được kêu gọi để sống chia sẻ với Ba Ngôi Thiên Chúa, và với tha nhân. Chúng ta được kêu gọi để tìm sự hiệp nhất và hòa hợp giữa chúng ta với những người khác. Muốn thế, chúng ta cần quay về với gia đình gương mẫu là cộng đoàn Ba Ngôi Thiên Chúa, một cộng đoàn luôn biết chia sẻ và sống bình đẳng. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được kêu gọi trở nên giống hình ảnh ấy không ngừng. Đó là lời kêu gọi tạo lập một cuộc sống hòa bình và tràn đầy niềm vui.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúa muốn thông chia sự sống cho chúng con để chúng con sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong tình liên đới, hiệp thông với tha nhân. Khi chúng con tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng con cần hiện thực hóa mầu nhiệm ấy trong cuộc sống hằng ngày của chúng con. Một chút quan tâm, một chút lòng trắc ẩn, một chút hy sinh, nhẫn nại… tất cả đều nằm trong khả năng của mỗi người chúng con. Có thể nói, sống mầu nhiệm hiệp thông và xây dựng tình yêu thương không phải là một việc xa vời và vượt ngoài sức của mỗi người chúng con.

Thế nhưng trong thực trạng cuộc sống, chúng con thường mải chạy theo nhịp sống vội vã và quên mất bên cạnh mình còn có những anh em, bà con thân thuộc, những người vẫn đang âm thầm yêu thương giúp đỡ chúng con, những người mà chúng con mắc nợ họ về tình thương. Ngược lại, nhiều khi chúng con thiếu sự quan tâm, chia sẻ và đồng cảm với những người kém may mắn trong cuộc sống.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Đời sống nhân loại là một phản chiếu của mầu nhiệm “Nên Một”. Tất cả chúng con sẽ được kết hợp với Ngài để nên một trong Chúa Cha và được hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần khi chúng con ý thức rằng cuộc sống mỗi người chúng con có liên hệ và ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác; khi chúng con biết rằng tất cả đang thông chia một nguồn sống duy nhất phát xuất nơi Thánh Thể Ngài.

Vì vậy, Làm sao chúng con có thể coi mình là anh em với nhau, nếu không cùng nhìn nhận một Cha ? Làm sao chúng con có thể nói mình là con Thiên Chúa nếu không tham dự sự sống của Người Con duy nhất của Chúa Cha ? Làm sao sống với nhau như bạn hữu, nếu không đón nhận cùng một Thần Khí đang sống và hít thở trong chúng con?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Ước gì cuộc sống của chúng con sẽ không còn chia rẽ, hận thù, và ganh ghét ; chớ gì cuộc sống là cơ hội và dịp thuận tiện để chúng con nhận ra Chúa hiện diện thật sự nơi tha nhân, nơi những người chúng con chưa yêu mến, nơi những người chúng con chưa thể tha thứ, cảm thông… Xin cho chúng con nhận biết rằng họ thật sự được liên kết với mỗi người chúng con trong Ngài.

Khi chúng con được cùng nhau thông phần sự sống nơi Thánh Thể Chúa, xin cho chúng con cảm nghiệm sâu sắc hơn rằng chúng con được mời gọi để trở nên những người anh em, bạn hữu của nhau và thuộc về nhau.

Xin cho chúng con trong cuộc sống hằng ngày, luôn biết quan tâm và mau mắn giúp đỡ những ai đang gặp khó khắn vì chúng con luôn được Cha trên trời hằng yêu thương chúng con như vậy.

Xin cho tất cả chúng con luôn được hiệp nhất trong tình yêu của Ngài cùng với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần để cộng đoàn chúng con là cộng đoàn của tình yêu thương. Amen.


Đỗ Lực op

Tìm một mô hình hòa giải dân tộc
(Ga 3:16-18)

Năm nay Ðại Lễ Vesak được nhà nước Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà Nội. Ngày 16.05.2008, Ðại Lễ tập trung thảo luận về vai trò của Phật giáo trong việc giải quyết xung đột và ngăn ngừa chiến tranh. Tinh thần khởi thủy nhân bản nhất của Ðại lễ Vesak là tôn vinh những giá trị tư tưởng sâu sắc của Ðức Thích Ca Mâu Ni về hòa bình, hòa hợp, hoà giải, vị tha, nhân ái. Nếu đây chỉ là một vấn đề thuần túy tôn giáo, Ðại lễ Phật Ðản đã nêu lên một điểm son rất lớn của Ðức Phật trong lịch sử tôn giáo thế giới.

Trong sứ điệp chúc mừng các Phật tử trên khắp thế giới, Tòa Thánh Vatican cũng trân trọng đưa ra nhận định : “Trong thế giới này – nơi mà danh từ tình yêu được quen sử dụng và dùng sai – thì có phải là điều hữu dụng cho tín đồ Phật giáo và tín hữu Kitô giáo tái phám phá lại ý nghĩa nguyên thủy của nó theo những truyền thống tôn giáo của chúng ta, hầu có thể chia sẻ những hiểu biết cho nhau sao ? Điều này sẽ khuyến khích những tín đồ của cả hai truyền thống tôn giáo chúng ta chung nhau làm việc hầu xây dựng những mối liên hệ dựa trên tình yêu và sự thật, để quảng bá sự tương kính, khuyếch trương việc đối thoại và đẩy mạnh sự hợp tác trong việc phục vụ cho những ai cần đến.” (1)

Trước tình thế hôm nay, một nhận thức như thế thật là khẩn thiết và hữu ích cho công cuộc hòa hợp hòa giải. Nhưng từ nhận thức tới thực tế vẫn còn một khoảng cách khá xa. Ðể thu ngắn khoảng cách đó, thiết tưởng chúng ta cần phải tìm kiếm một mô hình. Còn mô hình nào tuyệt vời hơn mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ?

MỘT MẦU NHIỆM

Chúa Giêsu mạc khải chân lý vô cùng quan trọng về bản chất Thiên Chúa. Tự bản chất, Thiên Chúa là Ba Ngôi. Cũng như thánh Augustin, chúng ta làm sao hiểu nổi mầu nhiệm cao cả và vĩ đại này. Nhưng tại sao Chúa lại mạc khải bản tính của Ðấng Tối Cao, một mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu biết chúng ta ? Vì chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên càng hiểu biết Thiên Chúa, càng hiểu biết chính mình. Theo các nhà chuyên môn về tôn giáo, quần chúng luôn cố gắng trở nên giống thần minh họ tôn thờ. Những người thờ thần chiến tranh có khuynh hướng trở thành lái buôn vũ khí. Những người thờ thần khoái lạc, có khuynh hướng tìm kiếm kiếm thú vui thể xác. Thần nào có dân tôn sùng đó. Bởi vậy, chúng ta tự hỏi : giáo lý Thiên Chúa Ba Ngôi nói gì về loại Thần chúng ta tôn thờ ? Chúng ta thuộc loại người nào ?

Trước hết, Thiên Chúa không hiện hữu đơn độc, nhưng sống yêu thương và chia sẻ trong một cộng đoàn. Thiên Chúa tràn đầy ân sủng và tình yêu. Nếu muốn tìm kiếm những gì thuộc về Thiên Chúa, Kitô hữu phải tránh xa mọi khuynh hướng cô lập. Tình yêu Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta không được chạy trốn thế gian, nhưng phải tiếp xúc và dấn thân với con người và xã hội.

Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa khi sống trong tương quan Ba Ngôi. Vì là hình ảnh Thiên Chúa, nên chúng ta cũng chỉ là người khi sống trong tương quan chiều ngang với tha nhân và chiều dọc với Thiên Chúa. Tương quan ba chiều đó luôn chiếu sáng lên vinh quang ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, nếu Kitô hữu sống trong sự công chính. Quả thực, họ cần hy sinh mọi sự để “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người.” (Mt 6:33)

Trong tương quan với tha nhân, đức công chính mang chiều kích cụ thể của lẽ công bình xã hội. Dĩ nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể sống ngay chính. Nhưng Thiên Chúa luôn hiện diện để trợ lực và an ủi chúng ta. Khi chúng ta thất bại cay đắng, Thiên Chúa ở bên ta. Ðó là phương diện phi thường của tình yêu Thiên Chúa. Người ở với chúng ta để thách đố và tiếp tục làm việc với chúng ta. Người tiếp tục làm cho chúng ta đối mặt với những thất bại và yếu đuối, nhất là với những bất công xã hội. Không gì đau khổ và khó khăn hơn khi thấy chính những người cùng cảnh ngộ lại ngoảnh mặt và xa lánh chúng ta.

Nhưng Thiên Chúa tình yêu luôn mạc khải về chính mình và bản chất con người chúng ta. Ðường lối Thiên Chúa mạc khải thật tuyệt vời. Ðó chính là Ðức Giêsu. Nói khác, Ðức Giêsu trực tiếp cho thấy ngôi vị Thiên Chúa một cách rất rõ ràng. Không những Người tự mạc khải vừa là con người và Thiên Chúa một cách trọn vẹn, nhưng còn chỉ cho chúng ta cách sống nữa. Cách sống của Người vô cùng hấp dẫn vì đã tuyệt đối tin tưởng và hy vọng vào chương trình cứu độ của Chúa Cha. Người đã chết để tỏ lòng thần phục. Nhờ đó, chúng ta mới biết ân sủng và tình yêu Thiên Chúa là gì đối với nhân loại.

“Tình yêu Thiên Chúa không gục ngã hay tĩnh tại. Trái lại, tình yêu ấy luôn vươn tới và lôi kéo người khác nhập cuộc. Ở đây Thiên Chúa đưa ra khuôn mẫu tình yêu đích thực, nền tảng cho mọi tương quan tình yêu. Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã trả giá bằng chính mạng sống của Người Con yêu quý. Ðó là giá mắc nhất Người có thể trả. Chúa Giêsu chịu phạt vì tội lỗi chúng ta và cống hiến cho chúng ta sự sống mới” (2) của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Ðó cũng là nguồn ân sủng phi thường Chúa Giêsu cống hiến cho nhân loại. Nhờ đó, chúng ta mới biết mình được Chúa kêu gọi hy sinh mạng sống cho anh em. Nhưng nếu không hiệp thông với Chúa Thánh Thần, chúng ta không biết làm cách nào hy sinh giống như Chúa Giêsu. Như các môn đệ, có lắng nghe Chúa Giêsu, chúng ta mới được Chúa Thánh Linh hướng dẫn mà dõi theo gương Thày Chí Thánh. Quả thực, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể hướng dẫn chúng ta vào sự thật toàn vẹn là Chúa Giêsu, để hy sinh tất cả cho Người.

Thần Khí sáng tạo cùng với thần trí của ta làm chứng chúng ta là con cái Thiên Chúa và là người đồng thừa tự với Ðức Kitô. Bởi thế, ngay từ trần gian, chúng ta không thể làm ngơ trước sứ mệnh xây dựng Nước Thiên Chúa.

Nước Thiên Chúa được xây dựng bằng “ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần.” (Lời chúc đầu lễ) Với sức mạnh ân sủng, tình yêu và ơn thông hiệp, Ba Ngôi thực hiện công cuộc cứu độ, thánh hóa và hòa giải con người với nhau và với Thiên Chúa. Bởi thế, Ba Ngôi là khuôn mẫu tuyệt vời cho bất cứ công cuộc hòa giải nào giữa loài người.

MÔ HÌNH HÒA GIẢI

Trong công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa, khuôn mẫu cho mọi cộng đồng nhân loại, hòa giải là công việc bức thiết và quan trọng nhất. Không hòa giải với Thiên Chúa và với nhau, con người không thể bắt đầu làm bất cứ điều gì. Nói khác, vì “Thày ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thày” (Ga 14:10) và “Thần Khí Thày sai đến từ Chúa Cha” luôn hiện diện để tha thứ hòa giải con cái loài người.

Hòa giải là một công trình vĩ đại nhất Chúa Giêsu đã thực hiện cho nhân loại trong tình yêu Chúa Cha và sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nhờ cuộc hòa giải đó, con người không còn xa lạ và thù nghịch với cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Họ được Chúa Cha nhận làm dưỡng tử, Chúa Con gọi là bạn hữu, Chúa Thánh Thần coi là đền thờ riêng của Người. Nếu thực thi giới răn của Thày, họ sẽ được cả Ba Ngôi Thiên Chúa đến cư ngụ trong tâm hồn. “Giới răn của Thày là chúng con hãy yêu thương nhau.” Muốn yêu thương nhau, cần tha thứ cho nhau. Có tha thứ cho nhau mới có thể tham dự vào sự sống Thiên Chúa và hòa giải và hòa hợp với nhau.

“Với cái nhìn thực tế, Kitô hữu thấy những vực thẳm đầy tội lỗi. Nhưng nhờ công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, ánh sáng niềm hy vọng sẽ tiêu diệt tội lỗi và sự chết (x. Rm 5:18-21; 1 Cr 15:56-57) : ‘Trong Người, Thiên Chúa đã hòa giải con người với chính mình.’ Chính Ðức Kitô, hình ảnh Thiên Chúa (x. 2 Cr 4:4; Cl 1:15) chiếu sáng trọn vẹn và hoàn thành hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa nơi con người. Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người nơi một trung gian độc nhất là Ðức Giêsu Kitô (x. 1 Cr 15:47-49; Rm 5: 14).” (3) Chính vì thế, Chúa Giêsu mới nói : “Không có Thày, chúng con chẳng làm gì được.” (Ga 15:5) Bởi đó, khởi điểm và tận điểm của công cuộc hòa giải đều phải được thực hiện trong Chúa Giêsu mà thôi.

Từ cuộc hòa giải đó, con người mới có thể tiến đến hòa bình và xây dựng một xã hội tốt đẹp để chung sống với nhau. Thực thế, “Ðức Giêsu ‘là hòa bình của chúng ta.’ (Ep 2:14) Người đã giật sập bức tường thù địch ngăn cách dân chúng và hòa giải họ với Thiên Chúa (x. Ep 2:14-16).” (4) Trong Ðức Kitô, mọi người đều gặp gỡ nhau và tìm được giải pháp tốt đẹp nhất làm vui lòng Thiên Chúa và hoạt động hữu hiệu cho lợi ích chung.

Nhưng nên nhớ “tại trung tâm của ‘Tin mừng hòa bình’ (Ep 6:15) vẫn có mầu nhiệm thập giá, vì hòa bình sinh ra từ sự hy sinh của Ðức Kitô (x. Is 53:5). Khi bị đóng đinh, Chúa Giêsu đã thắng vượt mọi điều chia rẽ, tái thiết hòa bình và hòa giải qua thập giá, ‘kết thúc mọi sự thù nghịch’ (Ep 2:16) và đem ơn cứu độ của Ðấng Phục Sinh cho nhân loại.” (5) Nói khác, sau khi chết, Chúa Giêsu đã phục sinh để làm cho mọi người nên công chính và trả lại công lý cho mọi tương quan xã hội. Người đã phục vụ đến nỗi hy sinh chính mạng sống cho công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa để mọi người có thể sống trong hòa bình và hạnh phúc.

Như thế, rõ ràng trong tình yêu của Chúa Cha và hiệp thông với Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã đổ tràn ân sủng cho toàn thể nhân loại. Qua đó, dù bị thử thách, chúng ta cũng được Thiên Chúa chỉ cho cách đối phó với những đau khổ và thất bại. Thánh Linh sẽ cho chúng ta thấy cách thức Thiên Chúa đối xử với chúng ta. Người cho thấy lòng từ bi và sự tha thứ vượt quá sức tưởng tượng. Khác hẳn với nhóm người Pharisêu, Chúa Giêsu đã cố gắng giúp dân chúng tin tưởng vào những gì tốt lành, chân thật và đúng đắn. Người hoàn toàn tha thứ cho con người. Ðó là nét đáng yêu nhất và cũng là yếu tố cần thiết nhất để bắt đầu cuộc hòa giải chân thật.

Chính vì thế, không ai đáng tin cậy và yêu mến bằng Chúa Giêsu. Niềm tin sẽ giúp khai thông mọi vấn đề và nối kết mọi phe thù nghịch. “Tin nơi Chúa Giêsu Kitô sẽ làm cho chúng ta có thể hiểu biết đúng đắn về sự phát triển xã hội, trong bối cảnh nhân bản toàn vẹn và liên đới. Về phương diện này, Giáo huấn Giáo Hội về xã hội đã góp phần rất hữu hiệu qua những suy tư thần học : ‘Trong khi soi sáng tận bên trong về bản chất của sự phát triển, đức tin nơi Chúa Kitô Cứu thế cũng hướng dẫn chúng ta hành động để hợp tác với nhau.’” (6) Ðức tin có liên quan và ảnh hưởng sâu xa tới những quy luật chi phối xã hội.

Càng tin nơi Chúa Kitô, càng thấy Ba Ngôi là một mô hình tuyệt vời cho sự hòa hợp hòa giải đích thực. Chúa Cha là suối nguồn tình yêu. Chúa Con chan hòa ân sủng và chân lý. Chúa Thánh Thần khiến Chúa Cha và Chúa Con thông hiệp với nhau. Một cuộc hòa hợp hòa giải kỳ diệu giữa Ba Ngôi. Nhờ đó Ba Ngôi liên kết thành một thực tại duy nhất là Thiên Chúa.

THỰC TẾ PHŨ PHÀNG

Sau khi được mạc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta khám phá thấy mô hình vĩ đại và lý tưởng cho công cuộc hòa giải và hòa hợp dân tộc. Ðã là một mầu nhiệm cao cả cần phải có những con người thích hợp mới có thể cử hành và đem lại những ích lợi thực tiễn cho cuộc sống. Chân lý tôn giáo là đỉnh cao của con người không thể dùng những phương tiện trần thế mà vươn tới được.

Nhưng ngay cả những ý niệm và truyền thống tôn giáo cũng có thể vượt qua những năng lực và giới hạn của những thực tại trần thế. Ý niệm về tình yêu chẳng hạn. Nếu đầu óc đặc sệt vật chất, làm sao thấu hiểu những ý niệm siêu thoát về tình yêu. Thực thế, Tòa Thánh cũng thú nhận : “Qua đối thoại, chúng tôi nhận chân ra tầm quan trọng là qúi vị, những Phật tử, hiến dâng tình yêu cho đồng loại, được diễn tả bằng danh từ ‘metta’, thứ tình yêu không muốn chiếm hữu mà là chỉ muốn giúp tha nhân mà thôi. Một thứ tình yêu được hiểu là chỉ muốn tự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của chúng sinh. Như vậy tình yêu metta, theo Phật pháp không đóng khung trong ý niệm nhân hậu mà thôi, nhưng được trải dài ra vào việc làm phúc thiện, vào sự phục vụ tất cả. Như vậy nó là sự từ tâm đại chúng toàn cầu. Ngoài ra cũng không thể bỏ qua một nhân đức khác, đó là karuna, qua đó lòng thương cảm yêu mến được thể hiện cho khắp chúng sinh.” (7)

Nhìn lại mô hình hòa giải và hòa hợp nơi mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta mới thấy rõ con đường đi tới lý tưởng đó. Quả thực, nếu là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, con người cũng phải sống như Ba Ngôi mới có thể hòa giải và hòa hợp với nhau. Muốn hiệp thông với nhau, cần đối thoại để tìm ra chân lý. Càng nhận ra chân lý, càng biết tôn trọng và yêu thương nhau. Ðó là con đường hòa giải đích thực.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin cho chúng con được bước vào cuộc thông hiệp với Chúa để chúng con có thể hòa giải và hòa hợp với nhau trong nỗ lực xây dựng cuộc sống hôm nay. Amen.

đỗ lực 18.05.2008

 

1. http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=34603

2. Life Application Study Bible : New International Version, 1991:1878.

3. Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 121.

4. Ibid., 491.

5. Ibid. 493.

6. Ibid., 327.

7. http://www.vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=34603


Lm. Jude Siciliano, OP (
Anh Em Nhà Học Đa Minh chuyển ngữ)

Ai tin thì được ơn cứu độ
Ga 3:16-18

Thưa quý vị,

Làm sao Thiên Chúa có thể một mà lại ba được? Làm sao có thể ba và lại là một được? Làm thế nào Đức Giêsu hoạt động trong chính mình? Đấng nào là Thánh Thần; có phải là thần khí của Thiên Chúa? Hay thần khí của Đức Giêsu? Làm sao một Đấng đến với chúng ta, rồi ra đi và gửi một Đấng khác đến, như Đức Giêsu hứa sai Thánh Thần đến sau khi Người về trời? Đừng để cho những câu hỏi này làm nản nòng chúng ta. Bởi vì ngay từ ban đầu những vị thánh vĩ đại nhất và các học giả đã cố gắng tìm lời gải đáp cho những vấn đề này, và cũng đã tìm ra những chứng lý.

Chúng ta sẽ thật sự thất vọng nếu như chúng ta nghĩ rằng những đoạn Sách Thánh được chọn trong dịp lễ này giúp chúng ta “giải thích” Chúa Ba Ngôi. Lễ này không nhằm giải quyết một vấn đề; nhưng là cử hành mầu nhiệm của những cách thức tuyệt vời Thiên Chúa dùng để liên đới với chúng ta. Những cách thức đó rất nhiều, nhiều hơn cả những gì mà Sách Thánh có thể liệt kê ra. Nhưng tất cả những điều đó chưa bao giờ khiến các nhà Kinh thánh thôi tìm kiếm! Hôm nay, chúng ta có thể vẫn chưa giải thích được Chúa Ba Ngôi, nhưng chúng ta được Kinh thánh trợ giúp nên có thể ý thức hơn được Thiên Chúa của chúng ta là Đấng nào, Thiên Chúa liên đới với chúng ta ra sao và chúng ta làm thế nào để đáp trả trong mỗi ngày sống của chúng ta.

Tôi đã soạn bài giảng này sớm hai tuần. Tôi đang tận hưởng thời gian nghỉ ngơi tuyệt vời sau chuyến đi du thuyết nên có giờ để xem trước về đại lễ này. Sáng nay, như thường lệ, tôi bật rađiô lên nghe trong khi thay đồ. Toàn tin xấu: 14 dân thường của Afghanistan bị thiệt mạng trong một đợt đánh bom của NATO; một nữ khủng bố bị giết khi đang cố ném lựu đạn vào đám đông; tình trạng hôi của, cướp bóc xảy ra tại một thành phố bị tàn phá bởi trận bão ác nghiệt ở Mỹ; những cuộc chiến của băng đảng ma túy ở Mexicô đã lan rộng xuống phía Nam đến Honduras và Guatemala,… Khi quý vị đọc tin tức, những chi tiết này sẽ còn thay đổi nhưng tiếc thay sẽ còn những tin xấu tương tự như thế.

Chúng ta, những thọ tạo trần tục, dựng nên những chướng ngại vật cách này hay cách khác. Chúng ta đặt những người đó sang một bên, còn chính chúng ta và những người như chúng ta sang một bên khác. Chúng ta để “họ” ở bên kia, như chúng ta thấy trong bản tin trong nước và tin quốc tế hôm nay. Chúng ta tránh xa những con người ấy, ghét bỏ và thậm chí giết chết họ. Sau hết, một kết luận hợp lý, họ đáng chết vì họ là những con quá xấu xa.

Nếu điều đó xảy đến với tôi và tôi có sức mạnh của Thiên Chúa, tôi sẽ trút giận lên tất cả những kẻ xấu xa trên đời này. “Thế là xong!”. Tôi sẽ giáng mạnh cái búa thần thiêng của công lý. Martin Luther có ý hướng như thế. Ông nói nếu ông là Chúa và biết những gì Thiên Chúa biết về thế giới, ông sẽ kết liễu tất cả và tống chúng vào lửa hỏa ngục. Nhưng ông không phải là Chúa, tôi cũng thế. Trong lễ kính Chúa Ba Ngôi chúng ta cần học lại xem Chúa là Đấng nào, và Chúa hoạt động ra sao. Chúng ta làm thế bằng cách hướng đôi tai đức tin lắng nghe Lời Chúa. Khác với cách nghĩ của chúng ta, Thiên Chúa hành động không giống chúng ta. Ngôi Lời dạy chúng ta rằng chúng ta được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa và vì thế, chúng ta được mời gọi bắt chước Thiên Chúa mà Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta.

Ngay buổi đầu của cuộc xuất hành, Môisê đã nài xin Chúa, “Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài” (Xh 33,18). Chúa đáp lại: “"Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là ĐỨC CHÚA… Nhưng ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống" (33,19-20). Thiên Chúa giấu Môisê vào trong một khe đá và che mắt ông khi Chúa băng qua. Môisê chỉ được phép xem thấy phía lưng của Đức Chúa (33,23). Rồi Thiên Chúa phán, và chúng ta cũng cần lắng nghe mô tả về Thiên Chúa, “ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín”. Vì thế, bên cạnh Môisê, chúng ta còn nghe nhiều lần Kinh Thánh nói về Đức Chúa. Đó chẳng phải là cách mà Tin mừng hôm nay nói với chúng ta về Thiên Chúa đó sao, “Thiên Chúa quá yêu thế gian…”? Tình yêu của Thiên Chúa vẫn luôn như thế và trung tín, bằng chứng là Người đã tặng ban Người Con cho chúng ta. Đây là lúc thuận tiện để cật vấn xem hình ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta và nơi các hành động của chúng ta thế nào rồi, so với mạc khải của Thiên Chúa mà Kinh thánh trình bày với chúng ta hôm nay và trong suốt hai bản Hipri trong Tân Ước?

Trong thư thứ II Côrintô, thánh Phaolô đã khích lệ cộng đoàn, “hãy sửa đổi lối sống của anh em”. Ngài hướng dẫn họ cách sống cùng nhau trong bình an và yêu thương. Mối quan tâm của ngài là vì sự hiệp nhất của giáo hội. Ngài biết rõ những bất đồng giữa các tín hữu Côrintô, những ngăn cách giữa giàu với nghèo, những người đạo gốc và những người mới theo. Tự mình họ không thể phản ảnh được bình an và sự hiệp nhất mà thánh nhân muốn nơi một cộng đoàn tín hữu. Nhưng ân sủng có thể giúp họ đạt được điều đó, nên ngài “cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần”.

Giáo hội của chúng ta ngày nay cũng có những căng thẳng mang tính con người như thánh Phaolô chứng kiến giữa các tín hữu Côrintô. Vì thế, khi nghe lời cầu nguyện của ngài, chúng ta cũng cầu nguyện như thế cho chính chúng ta. Thiên Chúa, Đấng mà thánh Phaolô khẩn cầu để chúc lành cho cộng đoàn Côrintô đang bị chia rẽ kia là ai? Thánh Phaolô xác tín rõ ràng rằng đó là Chúa Ba Ngôi hằng yêu thương chúng ta, không ngừng tuôn đổ hồng ân của Người trong Đức Giêsu, và qua Thánh Thần, là cội nguồn của sự thông hiệp của chúng ta với người tha nhân.

Bài Tin mừng hôm nay trình bày lại sứ điệp cốt lõi của Kinh Thánh: Thiên Chúa yêu trần gian. Thay vì giáng phạt con người vì tội lỗi của chúng ta, Thiên Chúa yêu chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu. Câu mở đầu của (3,16) là một tóm tắt toàn bộ sứ điệp Tin mừng, “Thiên Chúa quá yêu thế gian…” Chỉ trong vài từ ít ỏi, chúng ta diện đối diện với mầu nhiệm của việc Thiên Chúa là Đấng nào và ngày nay Thiên Chúa hoạt động hướng về chúng ta ra sao. Nếu quý vị có thể nhìn quả biết cây, thì chúng ta có thể học biết về Thiên Chúa nhờ những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta: Người yêu chúng ta và minh chứng tình yêu ấy bằng dấu chỉ cụ thể của cuộc đời Đức Giêsu. Tình yêu là cái khiến Thiên Chúa cảm thương và liên lụy với chúng ta. Và hơn thế nữa, Đức Giêsu cho chúng ta biết, Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta sự sống đời đời ngay từ bây giờ.

Đoạn Tin mừng hôm nay là từ một cuộc hội thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô. Đức Giêsu nói với Nicôđêmô rằng chúng ta có thể tin tưởng nơi Đức Giêsu và những gì Người tỏ bày cho chúng ta về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta – hoặc chúng ta tự kết án chính mình nếu loại trừ Đức Giêsu. Nếu chúng ta đặt lòng tin nơi Đức Giêsu chúng ta có sự sống đời đời. Chúng ta thường nghĩ “sự sống đời đời” như là một thứ gì đó bắt đầu từ lúc chúng ta qua đời và kéo dài mãi mãi. Nhưng đó không phải là sự sống đời đời như được mô tả trong Tin mừng Gioan. Đức Giêsu nói rằng ai tin thì “có sự sống đời đời”. Người nói ở thì hiện tại, và Người đang ban sự sống đời đời cho chúng ta ngay từ bây giờ.

Quà tặng “sự sống đời đời” trong cuộc sống của chúng ta thì như thế nào? Trước hết, đó là kết hiệp trong chính sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta có sự mật thiết đó với Thiên Chúa nhờ việc kết hợp với Đức Kitô và Thánh Thần trong bí tích Rửa tội. Chính sự liên kết này giải thoát chúng ta khỏi phải bị luận phạt. Trong Đức Giêsu, chúng ta có thể thấy được bản tính đích thực của Thiên Chúa – Đấng đã yêu thương chúng ta. Giờ đây chúng ta sống trong một thời đại mới, và đã vượt qua cái chết đến với sự sống. Đối với Gioan, Đức Giêsu là hồng ân cứu độ của chúng ta trong giây phút hiện tại và qua Thánh Thần, những người tin có thể nhận ra ân huệ của Thiên Chúa đã tặng ban cho chúng ta. Không phải nhờ vào những nỗ lực của con người chúng ta, nhưng nhờ tin, chúng ta có được sự lạc quan, bình an và lòng biết ơn đối với Thiên Chúa. Chúng ta cũng có đón nhận những thử thách mà đức tin đặt ra trước mặt chúng ta – trở thành khí cụ bình an và hòa giải cho tha nhân như Đức Giêsu đã từng ban cho chúng ta.

Đức Giêsu đã không muốn thấy bất kỳ ai bị luận phạt. Bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy rằng một khi chúng ta nhận biết Đức Giêsu như Đấng quyết định phương hướng cuộc đời chúng ta, thì chúng ta sẽ xây dựng cuộc đời chúng ta dựa trên cuộc đời và các giáo huấn của Người. Người cho thấy trong chính cuộc sống của mình kết quả của việc tín thác vào Thiên Chúa. Nếu chúng ta loại trừ Người chúng ta sẽ tự chuốc lấy án phạt (“Kẻ không tin, thì bị lên án rồi”). Được Thiên Chúa gửi đến, Đức Giêsu liên kết thời của chúng ta với vĩnh cửu. Trong Người tương lai của chúng ta được biến thành hiện tại.

Không hình ảnh nào có thể ghi lại hay diễn tả hết được sự thánh thiện và vĩ đại của Thiên Chúa chúng ta. Câu chữ nào có thể mô tả được Thiên Chúa? Thiên Chúa hiện hữu với chúng ta hơn cả chính chúng ta hiện hữu với mình. Thiên Chúa ở ngay tâm điểm của hiện hữu của chúng ta; là nguồn cội mọi sự của việc chúng ta làm ai và những gì chúng ta có thể thực hiện. Một nghịch lý mà hôm nay chúng ta phải chấp nhận trong Lễ kính Chúa Ba Ngôi này là: càng gần Thiên Chúa, chúng ta càng thấy mình xa lạ với thế giới và những cách thức của nó. Càng gần gũi và cảm thấy thoải mái với thế giới của mình, chúng ta càng xa lạ với Thiên Chúa mà Sách Thánh tỏ bày cho chúng ta.

 

 

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

Thiên Chúa Tình Yêu Trao Ban

Xh 34, 4b-6.8-9; 2Cor 13,11-13; Ga 3,16-18

Kính thưa quý vị,

Vợ chồng đứa cháu gái của tôi đã chuẩn bị đón chào đứa con của mình bằng việc chuẩn bị một loạt những tên gọi có thể đặt cho đứa trẻ, dù trai hay gái. Gia đình tôi chẳng ngại gì trong những vấn đề như thế này, nên mọi người cùng bàn luận. Một vài cái tên được nêu ra nhưng lại không phải là những tên gọi gia đình thường dùng. Hẳn quý vị còn nhớ cách đây vài năm, các tên gọi được ưa dùng là Emma, Heather, Jeremy và Jacob không? Nhưng chẳng cái tên nào trong số này được chọn. Có người đề nghị đặt theo tên một người dì dễ mến, nếu là bé gái, hoặc theo tên của một người cậu, nếu là bé trai. Mỗi cái tên trong gia đình đều mang nhiều ý nghĩa, kỷ niệm, tầm ảnh hưởng cũng như những yêu thương gửi gắm vào đó.

Tên gọi trong Kinh Thánh cũng thế. Chúng còn hơn là một danh xưng, một cách để phân biệt giữa người này với người khác. Biết tên của một người là đã thiết lập mối tương quan với người ấy, và thậm chí có ảnh hưởng trên họ. Mỗi tên gọi đều có ý nghĩa và thường nói lên đôi điều về nhân tánh đó. Thường người ta cho rằng tên gọi chất chứa sức mạnh của người mang nó. Tuy nhiên, Thiên Chúa quyền năng trổi vượt tất cả mọi người, và do đó, một dấu cho thấy Thiên Chúa Toàn Năng là khi Người thay tên đổi họ cho người ta. Abram được đổi thành Abraham (St 17,5); Giacop đổi thành Israel (St 35,10),…

Nếu danh xưng chứa đựng năng lực và tầm quan trọng của một người, thì Danh Thiên Chúa còn quan trọng hơn biết nhường nào? Biết Danh Thiên Chúa là biết bản tính của Người. Danh mà Thiên Chúa mạc khải cho ông Môsê là “Giavê”, “Đức Chúa”. Kêu cầu tên của một người là làm cho họ hiện diện cách nào đó. Vì thế, biết Danh Thiên Chúa và cầu khẩn Danh đó nói lên sự hiện diện cùng với quyền năng và sự bảo trợ của Đức Chúa. Thiên Chúa chủ động mạc khải Danh Thánh cho ông Môsê. Biết và kêu cầu Danh Thiên Chúa là cảm nghiệm được thực tại Thiên Chúa. Đâu là thực tại về Thiên Chúa của ông Môsê và của dân Do Thái? Câu sau đây nói lên điều đó: Thiên Chúa nhân từ và rất mực xót thương. Người chậm giận, giàu tình thương và lòng thành tín. Đây là bản tính của Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính hôm nay – vị Thiên Chúa trong Kinh Thánh Do Thái và trong Tân Ước. Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa này trong Điệp ca hôm nay:

“Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng con, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

Chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.”

Thông thường, Điệp ca được lấy từ Thánh vịnh. Tuy nhiên, Điệp ca hôm nay được lấy từ sách ngôn sứ Đaniel (3,52-56). Đó là bài thánh ca mà ba trẻ hát trong lò lửa đang bừng cháy. Họ bị trừng phạt vì từ chối thờ lạy tượng vua.Thay vào đó, họ tuyên xưng niềm tin của cha ông họ. Thiên Chúa, Đấng chúng ta mừng kính trong bài đọc thứ nhất (“Thiên Chúa nhân từ và rất mực xót thương, chậm giận, giàu tình thương và lòng thành tín”) không phải là một Thiên Chúa trừu tượng hay được cất giữ trong các khảo luận thần học. Quả thực, ba trẻ nhỏ đã có một trải nghiệm rất cụ thể về Thiên Chúa của mình: Họ được cứu khỏi cái chết cận kề nhờ Thiên Chúa sai một thiên thần đến bảo vệ họ.

Những trẻ nhỏ từ chối thờ lạy biểu tượng sức mạnh được đặt ngay trước mặt. Thay vào đó, những trẻ này  chọn trung thành với Thiên Chúa. Đối với ba người ấy và cả ta nữa, hậu duệ thiêng liêng của họ, Thiên Chúa là Thiên Chúa trung tín, Người yêu thương, cứu vớt và ban cho chúng ta hơi thở trong từng giây phút mỗi ngày.

Chúng ta cố giữ vững niềm tin trong bất kỳ lò lửa nào ta gặp thấy trong chính cuộc đời của mình – khi niềm tín thác nơi Thiên Chúa Tình Yêu của chúng ta bị thử thách. Ba trẻ nhỏ được cứu, không phải tự sức họ, nhưng nhờ sức uy hùng từ Thiên Chúa – Đấng mà chúng ta thờ hôm nay, đã được Đức Giêsu xác định cách rõ ràng là Thiên Chúa Tình Yêu trổi vượt  tuyệt vời. Thiên Chúa, Đấng mà ông Môsê gặp trên núi Sinai cũng chính là Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta. Chính Thiên Chúa đã ban cho chúng ta cuộc sống của Đức Giêsu, như dấu chỉ cụ thể về tình yêu trung tín của Thiên Chúa.

Hôm nay, chúng ta ca tụng Thiên Chúa được nhắc đến trong tín biểu Ba Ngôi khi ta lãnh nhận Phép rửa: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Mỗi khi chúng ta bước vào thánh đường và dùng nước phép để làm dấu thánh trên mình, ta lặp lại tín biểu đó. Khi thánh lễ kết thúc, ta lại được chúc lành nhân danh Chúa và được sai vào thế giới nơi nhắc cho chúng ta về thực tại của Thiên Chúa. Chúng ta cũng nhớ rằng những lời đó chỉ mang tính loại suy. Thiên Chúa không thể bị giới hạn nơi con tim và trí óc chúng ta bằng những từ ngữ đó. Tuy nhiên, những câu chữ này gợi cho ta về Thiên Chúa, nơi Người, chúng ta sống trong mối tương quan cha – con và Thần Khí Sáng Tạo của Người sẽ tiếp tục uốn nắn chúng ta trở thành những môn đệ của Đức Kitô.

Mọi cố gắng nhằm giới hạn Thiên Chúa vào một tín biểu hay một định nghĩa đều thất bại. Trọng tâm của đại lễ hôm nay nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa là Mầu Nhiệm. Chúng ta không thể nắm bắt hay hiểu thấu Mầu Nhiệm đó. John Shea lưu ý rằng “bản chất của Mầu Nhiệm là tình yêu tự hiến được dành cho nhân loại cách trọn vẹn. Điều này chi phối mọi sự”.

Shea tiếp rằng Thiên Chúa không chấp nhận để cho con người chịu đau khổ và diệt vong. Vì thế, Thiên Chúa Tình Yêu đã sai Người Con vào thế gian “để ban cho chúng ta cuộc sống không bao giờ hư mất.” Cho dù thế gian phạm tội và ngoảnh mặt làm ngơ, Thiên Chúa vẫn không trừng phạt nhưng kiếm tìm và ban ơn cứu độ. Thiên Chúa đã không phán xét nhưng chọn cho chúng ta sự sống và tình yêu.

Chúng ta ở đâu trong kế hoạch cứu độ này? Chắc chắn chúng ta không được gọi để vào lụy phục. Chúng ta không phải là những nô lệ luôn cố gắng làm vui lòng Thiên Chúa bằng lễ tế. Nếu chúng ta tìm kiếm một định nghĩa về Thiên Chúa, thì không cần đi xa hơn những gì Kinh Thánh mạc khải. Mạc khải hôm nay không phải là mạc khải về một Thiên Chúa phán xét và trừng phạt. Bản tính của Thiên Chúa là ân sủng. Người không ngừng trao ban chính mình cho thế giới này.

Thật khó để rũ bỏ hình ảnh trước đây khỏi trí tưởng của chúng ta, nó đã ăn sâu vào tâm trí. Đối với nhiều người, mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa được dựa trên sự thưởng phạt. Nhưng hôm nay, một lần nữa, Kinh Thánh kéo chúng ta ra khỏi việc thờ lạy các tà thần để tôn thờ cách đích thực một Thiên Chúa Tình Yêu Vô Hạn.

Hôm nay, chúng ta không có thêm một định nghĩa hay giải thích mới mẻ nào về Chúa Ba Ngôi. Nhưng, chúng ta lại được nghe công bố bản tính thật sự của Thiên Chúa, Người “quá yêu thế gian”. Đây là Thiên Chúa của chúng ta, Đấng thấy chúng ta đang bấn loạn, thờ lạy các tà thần, và trong Đức Giêsu, Người đã đưa tay cứu vớt chúng ta. Ân sủng của tình yêu Thiên Chúa ban không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng vì lòng nhân ái của Người. Nếu cảm nhận của chúng ta về tình yêu nhân loại chỉ dựa trên sự thành công, bề ngoài và sự cần mẫn, thì chúng ta không thể hiểu chút gì về ngày lễ hôm nay. Tuy nhiên, nếu đã từng thích thú trước quà tặng nhưng không của tình yêu, thì chúng ta sẽ hiểu được phần nào trong ngày đại lễ hôm nay.