| |
Chúa Thánh Thần Hiện
Xuống - Năm A
Cv 2,1-11 / 1Cr 12,3b-7.12-13 / Ga
20,19-23
An Phong op :
Ðời sống Kitô hữu là đời sống trong Thánh Thần
Như Hạ op :
Thưở trời đất nổi cơn …
Fr. Jude
Siciliano, op : Bay tới môi trường trong lành hơn
Fr. Jude Siciliano, op : Một sức sống mới chan hòa
Hội thánh
Thomas Trần Ngọc Túy, op : Sống tha thứ và hòa
giải trong Chúa Thánh
Linh
G. Nguyễn Cao
Luật op : Thày cũng sai anh em
Giacôbê Phạm
Văn Phượng op : Chúa Thánh Thần hiện diện
Dom. Lê Đức Thiện op : Lạy Chúa Thánh Thần, xin
hãy đến !
Đỗ Lực op : Nhả Ngọc Phun Châu
Fr. Jude Siciliano, op : Đón lấy ngọn lửa và sức
sống mới của Thánh Thần
Fr. Jude Siciliano,
op:
Anh em hãy tha thứ cho nhau
An Phong op
Ðời Sống Kitô Hữu Là
Ðời Sống Trong Thánh Thần
Ga
20,19-23
Kinh thánh đã dùng hình ảnh "lửa',
"gió", "hơi thở" để tượng trưng Chúa Thánh Thần và hoạt động của Ngài.
Lửa sưởi ấm những tấm lòng "nguội
lạnh" và đốt cháy những phàm tục, ích kỷ và kiêu ngạo.
Gió xua tan những oi bức, nóng nảy, ngột ngạt của một đời sống bon chen,
đấu tranh nghiệt ngã; đồng thời làm cho thanh thản, dễ chịu.
Hơi thở là chính sự sống; không còn hơi thở tức là đã chết từ lâu rồi.
Chúa Thánh Thần là chính lửa mến,
gió yêu thương và sự sống dồi dào.
Khi lửa mến Chúa chỉ còn leo lét;
khi lửa nhiệt tình hăng say đã cạn kiệt, thì :
Cuộc sống tự nhiên sẽ lấn át cuộc sống tâm linh
Những lo toan tính toán đời thường sẽ thế chỗ cho những việc đạo đức mỗi
ngày.
Và ngọn đèn cuộc đời sẽ "nguội lạnh", "khô khan".
Khi tâm hồn khép kín trước những
đau khổ của người khác; khi đời sống chỉ còn dửng dưng, vô tình và ích
kỷ, thì :
"Cuộc sống với người khác" sẽ
không còn thân thương đằm thắm;
Cuộc sống sẽ trở nên oi bức,
ngột ngạt
Và ngọn gió mát yêu thương không
đủ để làm cho cuộc sống dễ chịu hơn, nhẹ nhàng hơn.
Như thế, cuộc sống "không lửa
mến Chúa", "không gió yêu thương con người" đã lịm tắt từ lâu. Cuộc sống
mòn mỏi, thiếu sức sống và "lạnh tanh".
Cuộc sống kitô hữu là cuộc sống
trong Chúa Thánh Thần; thở bằng hơi thở của Thánh Thần; sống bằng sức
sống của Chúa Thánh Thần, và Thiên Chúa chính là sự bình an ngay tại đây,
lúc này.
Phải chăng tôi đang sống trong
Thánh Thần và được bình an?
Lạy Chúa,
chúng con là những "kitô hữu bán phần"…
chúng con chỉ là một-nửa-người, một-góc-người
Chúa biết rõ những cơn cám dỗ ám ảnh chúng con
và Chúa cũng thấy
bao lần chúng con đắm chìm
trong đại dương sự tội
bao lần chúng con ngã quị
trong vũng sâu sình lầy.
Ðiều chúng con đang tìm kiếm
không phải là Chúa,
nhưng là thế gian,
và qua thế gian
chúng con đang kiếm chính mình.
Bởi vì chúng con đã tìm cách
hoàn thiện bản thân;
Nhưng ước vọng của chúng con còn nhiều lắm
chúng rườm rà như rừng già;
chúng chằng chịt trong thân xác
một thân xác đã bắt đầu sự hư nát.
Lạy Chúa,
Chúa là hy vọng của chúng con
xin Chúa đừng để
đời sống chúng con rơi vào hư vô
Nhưng xin cho niềm khao khát sống thánh thiện
nở hoa trong chúng con
và làm vinh danh Chúa.
Amen.
(một thanh niên Châu Phi)
Như Hạ op
THUỞ TRỜI
ÐẤT NỔI CƠN …
Ga 20:19-23
Sự sống có một giá trị hết sức
lớn lao, nhưng cũng đầy huyền nhiệm. Có dành cả cuộc đời cũng không thể
khám phá hết những huyền nhiệm sự sống. Sự sống đó có một khởi điểm và
một nguồn gốc. Nguồn gốc đó chính là Thánh Linh. Hôm nay Người cũng đã
làm một cuộc tạo dựng mới khi thành lập Giáo hội trên thế giới.
HAI CUỘC TẠO DỰNG
Trong cuộc tạo dựng đầu tiên, "Ðức
Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ
mũi, và con người trở nên một sinh vặt" (St 2:7). Sinh vật này đem lại
tất cả ý nghĩa cho vũ trụ vì là "hình ảnh Thiên Chúa" (St 1:27). Thiên
Chúa đã thành công trong việc tạo dựng, vì "Thiên Chúa thấy mọi sự Người
đã làm ra quả là rất tốt đẹp !" (St 1:31). Cuộc tạo dựng thứ hai diễn ra
trong một hoàn cảnh khác hẳn, nhưng cũng bắt đầu khi Chúa Giêsu "thổi
hơi vào" (Ga 20:22) các môn đệ.
Trong cả hai cuộc tạo dựng "Thần Khí Thiên Chúa" (St 1:2) đều nắm vai
trò cực kỳ quan trọng. Bởi vậy, sau khi thổi hơi, Ðức Giêsu nói : "Anh
em hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20:22). Thế là tất cả được thay đổi !
Thánh Thần đã xuất hiện như một sức mạnh sáng tạo. Hôm nay Thánh Thần
đến như một nguồn ơn cứu độ. Thật vậy, nhờ Thánh Thần, "anh em tha tội
cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm
giữ" (Ga 20:23). Ơn cứu độ đã đến, vì Thánh Linh "tuôn tràn từ Ðức Giêsu
vinh thăng như một nguồn sống đời đời (Ga 14:17)" (The New Jerome
Biblical Commentary 1990:984). Từ nay cả vũ trụ sẽ chan hòa ánh sáng và
sức sống. Tất cả sẽ lấy lại vẻ đẹp ban đầu vượt xa mọi mong ước.
Nhân loại chỉ đạt được mộng ước khi có Thiên Chúa như nguồn hạnh phúc và
bình an. Ðã đến giờ hồng ân đó, vì thực sự Thánh Linh đến dấu chỉ "Thiên
Chúa cư ngụ trong tâm hồn" (The New Jerome Biblical Commentary
1990:984).
Hơn ai hết, các môn đệ là những
người cảm thấy và thừa hưởng được hồng ân ấy, vì chính họ là những người
trước tiên được sai đi rao giảng Tin Mừng và phải thay mặt Chúa tha tội
cho muôn dân. "Quyền tha tội này có lẽ được diễn tả trong việc ban Thánh
Linh xuống cho các tín hữu vì 'sứ mạng' các môn đệ và cho những ai gia
nhập cộng đoàn hơn là trong việc các Kitô hữu phạm tội" (The New Jerome
Biblical Commentary 1990:984). Vậy thì ai có quyền tha tội ? Cộng đoàn
hay các tông đồ ? Theo anh em Tin Lành, "tha tội là việc của toàn thể
cộng đoàn" vì "trong câu Ga 20:23, Chúa Giêsu nói với toàn thể cộng đoàn
đức tin, chứ không nói với các vị lãnh đạo tông đồ" (NIB 1995: 847). Tác
giả McBrien cũng đồng ý phần nào với quan điểm đó khi viết : "Tự bản
chất, bản văn (Ga 20:22-23) không "chứng minh" rằng Ðức Giêsu đã lập bí
tích Sám hối như chúng ta hiểu ngày nay, hay Người chỉ ban quyền tha tội
cho các Tông đồ, các người kế vị, và những người đại diện đặc biệt.
Chúng ta cũng không có nền tảng nào để kết luận rằng đây là "những lời
chính xác" của Ðức Giêsu, giả thiết có một khuynh hướng lịch sử khác
trong Tin Mừng thứ tư, ngược với Phúc âm Nhất lãm" (1994:836).
Tuy nhiên, "điểm trổi bật trong
các lời giảng của các Tông đồ là sự thứ tha tội lỗi. Mặc dù thánh Gioan
không cho biết quyền lực đó được thi hành trong cộng đồng cách nào hay
do ai, hiển nhiên tác giả cũng nhận thấy thánh sử trình bày việc thực
hành bí tích ấy trong Giáo hội" (McBrien 1994:837). Thực tế, thánh
Phaolô khẳng quyết Thiên Chúa đã "trao cho chúng tôi chức vụ hòa giải"
(2 Cr 5:18). Ðức Giêsu "đã ủy thác quyền giải tội cho thừa tác vụ tông
đồ. Người tông đồ được ủy thác 'thừa tác vụ giao hòa' (2 Cr 5:18), được
sai đi 'nhân danh Ðức Kitô'; và qua người tông đồ, 'chính Thiên Chúa'
khuyên bảo và nài nỉ : 'Hãy giao hòa với Thiên Chúa' (2 Cr 5:20)" (Giáo
lý Công Giáo 1989:362).
Khi được giao hòa với Thiên Chúa,
con người tự nhiên thấy mình lớn lên trong một chiều kích vượt ngoài
những hạn hẹp trần gian. Cả một nguồn bình an tràn ngập tâm hồn và cuộc
đời. Bình an chính là kết quả của một cuộc hòa giải. Phải mất bao nhiêu
máu và nước mắt, qua bao đau thương và cái chết, Ðức Giêsu mới nói được
một lời cầu chúc này cho các môn đệ : "Bình an cho anh em !" (Ga
20:19,21) ? Khi xuất hiện với các môn đệ, Ðức Giêsu đã cho thấy cái giá
người phải trả cho sự bình an của các môn đệ và muôn dân. Quả thực "nói
xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn" (Ga 20:20) đầy chiến tích
vẻ vang của Người. Nếu không có chiến công thập giá, Người không thể nối
kết Thiên Chúa với con người và cũng không thể hoàn thành chương trình
cứu độ của Thiên Chúa.
Chương trình cứu độ đó không chỉ
đóng khung trong thời gian Người sống tại trần gian, nhưng phải được kéo
dài mãi tới tận thế. Chính vì thế, Người đã trao sứ mệnh cứu thế cho các
môn đệ : "Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" (Ga 20:21)
làm chứng nhân cho Thầy "đến tận cùng trái đất" (Cv 1:8). Nhưng các môn
đệ chỉ có thể làm chứng trong "sức mạnh của Thánh Thần" (Cv 1:8). Chính
nhờ sức mạnh Thánh Thần, các môn đệ đã hiên ngang đi khắp nơi rao giảng
Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Ngay từ ngày khai sinh Giáo hội, các môn
đệ Ðức Giêsu đã "được tràn đầy ơn Thánh Thần" (Cv 2:4) để tiếp tục sứ
mạng cứu độ của Thầy trên trần gian. Thật là một vinh dự lớn lao khi
nhận lãnh một sứ mạng cao cả như vậy. Làm sao người môn đệ có thể chia
sẻ cũng một sứ mệnh như Thầy đã lãnh nhận từ Chúa Cha ? Làm sao họ có
khả năng như Thầy để cáng đáng một trọng trách lớn lao như vậy ? Con
người mỏng dòn và yếu đuối làm sao có thể chu toàn một sứ mệnh đem Tin
Mừng giải phóng muôn dân ? Sở dĩ Tin Mừng có sức mạnh cứu độ vì chính
Ðức Giêsu đã đổ tràn đầy Thánh Linh cho các môn đệ trong "ngày lễ Ngũ
Tuần" (Cv 2:1). Hơn nữa, "nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát" (1 Cr
15:2). Không cần phải đi tới tận cùng trái đất, các ông mới có thể rao
giảng cho muôn dân. Sức mạnh Thánh Linh đã khiến các ông có thể khiến
các dân tộc kinh ngạc trước lời "loan báo những kỳ công của Thiên Chúa"
(Cv 2:11) ngay tại Giêrusalem. Chính Thánh Linh đã làm cho các dân tộc "sửng
sốt, thán phục và nói : 'Những người đang nói đó không phải là người
Galilê cả ư ? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của
chúng ta ?'" (Cv 2:7-8). Sức mạnh Thánh Linh đã khiến Tin Mừng vượt trên
hàng rào ngôn ngữ để thấu tận lòng người.
Tin mừng hoạt động nhờ "cơ chế
của Thánh Linh" (Dictionary of Fundamental Theology 1995:459) là chính
Giáo hội. Tiếp nối tư tưởng đó của các giáo phụ, Công đồng Vatican II đã
nhận định : chính Thánh linh, "Ðấng hiện hữu duy nhất nơi Ðầu cũng như
trong các chi thể, làm sống đống, liên kết và thúc giục toàn thân, khiến
các giáo phụ đã ví tác động của Chúa Thánh Thần với công việc của linh
hồn, nguyên lý sự sống, hoàn thành nơi thân xác con người" (LG 7). Không
có Giáo hội, Thánh Linh cũng khó hoàn thành sứ mệnh Chúa Giêsu trao phó.
Ðúng hơn, Giáo hội là con đẻ của Thánh Linh, là phương tiện để Thánh
Linh cứu độ muôn dân.
Mặt khác, theo trường phái
Tubingen, nhờ Thánh Linh, "Giáo hội là Ðức Kitô tiếp tục nhập thể nơi
trần gian" (Dictionary of Fundamental Theology 1995:458). Bởi đó, "Giáo
hội phải được coi là biến cố do Thánh Linh tạo nên" (Dictionary of
Fundamental Theology 1995:459), để Ðức Giêsu trở thành nhân vật chính
trong biến cố lớn lao đó. Nói khác, "Thánh Linh là nguyên lý qui tụ và
hiệp nhất trong giáo lý của các Tông đồ, trong sự hiệp thông, bẻ bánh và
kinh nguyện" (x.Cv 2:42)" (LG 13) xoay quanh biến cố Giêsu. Chính Thánh
Linh không ngừng là sức mạnh khiến "Tin Mừng được giữ gìn toàn vẹn và
sống động mãi trong Giáo hội" (DV 7), và không bị bụi thời gian phủ lấp
như những giá trị trần gian khác. Giáo hội đã tiếp thu Lời Chúa không
như những lời trần gian. Trái lại, Giáo hội trở thành "một môi trường
sống để Lời Chúa luôn sống động và hoạt động. Chính Giáo hội là Phúc âm
sống" (Dictionary of Fundamental Theology 1995:460). Chỉ khi nhìn vào
Giáo hội, người ta có thể đọc được những nét diệu kỳ và những kỳ công
Thiên Chúa thực hiện cho nhân loại, Giáo hội mới có thể hoàn thành sứ
mạng cứu độ muôn dân.
SỨ MỆNH GIÁO HỘI
Sức sống Giáo hội vẫn không
ngừng vươn lên, vì Thánh Linh là linh hồn của Giáo hội. Sức sống đó được
thể hiện qua nhiều hình thức tác vụ khác nhau. Thực vậy, "có nhiều đặc
sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác
nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ
có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người" (1 Cr 12:4-6). Ðó làdấu
chỉ hoạt động của Thánh Linh trong lòng Giáo hội : duy nhất nhưng đa
diện. Thánh linh vừa gợi lên cả một trào sống vừa tự do vừa hiệp nhất.
Sức sống Giáo hội luôn là một huyền nhiệm. Ngay cả khi ở trong Giáo hội
và đang hoạt động cho Giáo hội, cũng không thể hiểu hết được Giáo hội,
vì Giáo hội chính là thân thể huyền nhiệm của Chúa Kitô và nguyên lý chi
phối mọi hoạt động Giáo hội là chính Thánh Linh. Bao giờ hiểu thấu Thánh
Linh, mới hi vọng thấy được tất cả sức sống Giáo hội.
Thánh linh và Giáo hội cùng đón nhận một sứ mạng. Muốn chu toàn sứ mạng
đó, Giáo hội cần phải rao giảng, phục vụ và hòa giải với mọi người. Cả
ba tác vụ đó đều nhắm mục đích làm chứng cho Chúa mà thôi. Chẳng cần
phải đi đâu xa, vì chính các Tông đồ đã rao giảng cho muôn dân ngay tại
Giêrusalem. Dĩ nhiên Tin Mừng hôm nay đã lan rộng đến tận cùng trái đất
vì công lao vất vả của bao chứng nhân không chịu dừng lại một chỗ. Trái
lại, họ đã không quản ngại những khó khăn để loan Tin Mừng cho những
người hoàn toàn xa lạ về văn hóa, ngôn ngữ, phong thổ, địa dư, tập quán
v.v. "Ðẹp thay những bước chân người rao giảng Tin Mừng".
Hơn nữa sứ mạng cao cả đó lại
được thực hiện trong những việc phục vụ tầm thường và hèn mọn. Một người
mẹ phục vụ chồng con cũng có thể chu toàn sứ mạng đó một cách vẻ vang.
Không có những hi sinh âm thầm và quên mình đó, chắc chắn không bao giờ
có thể kiếm thấy một biểu tượng tuyệt vời về tình yêu Thiên Chúa trên
trần gian này ! Bàn tay Giáo hội không ngừng phục vụ những người nghèo
khổ, bệnh tật, mồ côi v.v. Chính những bàn tay đó đã tung vãi hạt giống
Tin Mừng vào những mảnh đất màu mỡ, chờ ngày mùa reo tiếng hoan ca.
Cuối cùng sứ mạng nhắm tới việc
hòa giải như một hoa trái tốt đẹp nhất của ân huệ Thánh Linh. Chỉ Thánh
Linh mới có thể nối kết các dân tộc và mọi tâm hồn bằng sức mạnh tình
yêu. Ðây là một tác vụ quan trọng nhất và cần thiết nhất. Việc hòa giải
đó không phải chỉ cần cho nhân loại, nhưng còn cho cả Giáo hội nữa. Hôm
nay các đối lực lúc nào cũng phơi bầy những trở ngại không thể vượt qua
nổi. Chính Thánh Linh sẽ cho mọi người thấy làm cách nào có thể yêu được
kẻ thù như Ðức Giêsu dạy. Hòa giải với kẻ thù đòi một nỗ lực phi thường.
Nhưng hòa giải với anh em cùng một huyết thống hay một niềm tin cũng
không phải là chuyện dễ. Mối rạn nứt hằng bao thế kỷ trong Giáo hội nói
lên những khó khăn vượt bực trước khả năng nhân loại. Bởi đấy, hơn bao
giờ hết, Giáo hội cần bám chặt vào Thánh Linh để có thể tìm được sức
mạnh chu toàn sứ mệnh trọng đại.
Ngày nay đã có nhiều dấu chỉ cho
thấy Thánh Linh đang mở ra một kỷ nguyên mới cho Giáo hội. Thánh Linh
đang thúc đẩy Giáo hội gần nhân loại và anh em mình hơn. Liệu Giáo hội
dám đi tới những miền xa lạ và khó khăn để làm chứng cho tình yêu Thiên
Chúa một cách mãnh liệt hơn không ? Nhân loại và những anh em Kitô đang
mong chờ Giáo hội. Can đảm lên, Giáo hội !
Fr. Jude Siciliano, op
Bay tới môi trường trong lành hơn
(Ga
20,19-23)
Thưa quý vị.
Bài đọc thứ nhất và bài Tin Mừng
thánh lễ hôm nay có hai cách nhìn khác nhau về biến cố hiện xuống. Hai
cách nhìn này không thể hòa hợp với nhau và cũng không cần hòa hợp, bởi
lẽ mỗi cách nhìn mang một ý nghĩa thần học đặc biệt. Thánh Luca, tác giả
Công Vụ Tông Ðồ và Thánh Gioan tác giả Phúc âm thứ 4, có những cộng đoàn
khác nhau, và những mục tiêu khác nhau khi viết về ơn Chúa Thánh Linh
được ban xuống cho Hội thánh. Như vậy hà tất họ phải mô tả giống nhau ?
Chúng ta sẽ xem xét mỗi bản văn một cách độc lập, để đưa ra được ý định
của mỗi tác giả. Khi giảng chỉ cần chọn một trong hai cách nhìn, hoặc
giả chúng ta có thể khai triển bài đọc thứ hai. Bài đọc này thánh Phaolô
đề cập đến sự hiện diện sáng tạo của Chúa Thánh Linh trong Hội thánh
tiên khởi và trong mỗi linh hồn.
Tuần trước chúng ta đã nghe
thánh Luca nhắc về lời hứa ban Thánh Linh (Cv 1,4-5,8). Khi ơn Ngài được
ban xuống thì đồng đều tất cả, chứ không riêng gì cho một số ít ỏi ở
vòng trong, những kẻ được gọi là "thâm tín". Ðó là một đặc điểm chúng ta
cần suy gẫm. Theo như tiêu chuẩn thế gian thì những ơn đặc biệt quý giá
như thế này, chỉ dành cho các nhà lãnh đạo, những người có ảnh hưởng,
những kẻ đạo đức ngoại hạng hay ở địa vị chóp bu trong Giáo hội mới có
quyền được hưởng. Ðàng này, theo như sách Tông Ðồ Công Vụ "Tất cả tề tựu
một nơi" thì Thánh Thần như hình lưỡi lửa đậu trên "mỗi người". Nghĩa là
mọi người không trừ ai đều nhận được ơn Thánh Linh. Chưa hết, những kẻ
ngoại cuộc cũng được hưởng ké ơn đó : "Lúc ấy, tại Giêrusalem, có những
người Do Thái sùng đạo từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có
nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng
bản xứ của mình." Ðây là một cộng đồng kiểu mới, chứng nhân của cuộc
sống mới, tương giao mới giữa các thành viên và ơn Thánh Thần không phân
biệt, không loại trừ một ai trong họ, tất cả đều ngang bằng, không kỳ
thị.
Nơi tư tưởng sử gia Luca, Thánh
Thần hiện xuống là một buổi lễ lớn tràn đầy vui mừng và hạnh phúc. Nói
theo ngôn ngữ tân thời là một đại hội festival hoặc một gala đầy màu
sắc. Ngài dùng hai hình ảnh cụ thể để diễn tả lễ hội đó : Lưỡi bằng lửa
và gió mạnh thổi vào. Chúng ta có thể so sánh với buổi rượu mừng. Người
phương Tây mỗi khi mừng một chiến công hay khai trương công việc làm ăn
họ xịt champagne lên hết mọi sự. Người phương Ðông thì đổ rượu hồng :
tay bưng chén rượu hồng đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thời sau. Chúa
Thánh Linh cũng bao phủ tràn ngập căn phòng các môn đệ đang tụ họp. Rượu
Thánh Linh lúc ấy không được giữ ở trong bình như trước nữa, mà đã được
mang ra xịt lên khắp các môn đồ : Họ vui mừng, hoan hỉ tưởng như say :
Họ đầy rượu rồi.
Cũng có thể là đúng. Nhưng không phải là rượu trác táng như đám đông
nghĩ tưởng mà là rượu tiệc cưới. Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là tiệc
cưới liên kết vĩnh viễn Thiên Chúa và Hội Thánh. Rượu Thánh Thần được
mang ra uống mừng một công trình vừa kết thúc tốt đẹp, công trình của
Chúa Giêsu và khởi đầu một dự án mới : Dự án của Chúa Ngôi Ba : Biến đổi
toàn thể nhân loại nên thánh thiện.
Như vậy, Rượu Thánh Linh được
mang ra uống mừng là hợp lý. Bởi có một khía cạnh độc đáo của rượu Thánh
Linh mà mọi người phải được biết đến : Khía cạnh thay đổi sự vật. Thiên
Chúa quyền phép đứng sau những chén rượu này. Những ai uống vào không
thể thất bại. Thiên Chúa sẽ làm mọi sự nên mới : Người nhút nhát trở
thành mạnh mẽ, kẻ ngu đần trở thành khôn ngoan, nghiện ngập trở nên tỉnh
táo, đĩ điếm trở nên thanh sạch. Cuộc sống nơi Thiên Chúa không phải là
thất bại hay yếu mềm. Nó luôn luôn sung mãn, giàu có và thành công.
Chẳng có chi đánh bại những kẻ được Ngài bảo trợ. Cuộc sống ấy luôn sáng
tạo và đầy quyền năng. Rượu Thánh Thần đã được bung ra khỏi bình, không
ai ngăn cản được nữa, chúng ta uống vào và được no say suốt cuộc đời như
thánh Tông Ðồ Phaolô nhận xét : "Chẳng có chi tách chúng ta ra khỏi lòng
mến Thiên Chúa trong Ðức Kitô."
Ðiều này không có nghĩa Thánh
Thần là pháo bông, lúc nào cũng tỏ hiện cho mọi người thưởng ngoạn. Tuy
rằng sáng tạo, nhưng mạnh mẽ âm thầm. Ðó là kinh nghiệm của Giáo hội,
của mỗi linh hồn chúng ta về Ngài. Một số linh hồn chẳng hề bao giờ được
trông thấy Thiên Chúa sáng tạo hoạt động rõ ràng trên cuộc sống họ.
Nhưng âm thầm thì ai ai cũng đã từng cảm nghiệm. Có lẽ đó là lý do Thánh
Gioan tường thuật trong Tin Mừng của ngài : Chúa hiện đến với các ông
trong khi các cửa nhà đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái. Chắc
chắn không khí gian phòng các Tông đồ hội họp không hề ồn ào, náo nhiệt
như thánh Luca mô tả. Hơn nữa, trong giọng văn của thánh Gioan, biến cố
Chúa ban Thánh Thần cho các môn đệ là công việc hàng ngày : "Chúa Giêsu
đến, đứng giữa các ông mà nói : bình an cho anh em… nói xong người thổi
hơi vào các ông và bảo : Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội
cho ai, thì tội người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì tội người ấy
bị cầm giữ." Ngài thổi hơi chúc bình an cho các môn đệ hai lần, như muốn
bảo đảm cho họ một tương lai vững chắc.
Ngài sắp sai họ ra đi rao giảng
Tin Mừng, làm khí cụ bình ban và yêu thương của Ngài giữa thế gian đầy
hận thù, cho nên họ cần một lời chúc kép về bình an. Hơn nữa, quá khứ
của họ là một thất bại thê thảm : nhút nhát, hèn yếu, phản bội. Họ cần
ơn tha thứ thì lời chúc của Ngài nói lên sự tha thứ đó, và Thánh Thần
đến ủi an họ. Nếu họ nhận được Thánh Thần như vậy, thì khi ra đi đến với
các dân, các nước, họ cũng mang bình an và tha thứ cho mọi người. Thánh
Thần sẽ ban cho họ khả năng biến đổi các tâm hồn thành con cái Thiên
Chúa. Thật là một điều đầy khích lệ khi nhận ra rằng ngày nay các nhà
truyền giáo đều có Thần Khí bình an và tha thứ của Chúa Giêsu khi họ đến
với các dân tộc xa xôi. Bởi họ đã nhận được cũng một thần khí ấy nơi Ðức
Kitô.
Ðối với các tín hữu kỳ cựu, các
trình thuật về Thánh Linh càng làm cho chúng ta đầy an ủi hơn nữa. Ngài
đến thanh tẩy cái không khí đã bị ô nhiễm tội lỗi nặng nề để Giáo hội
được sống thánh thiện hơn, mặc dầu đó đây, còn gương mù gương xấu của
hàng giáo sĩ mà báo đài không ngớt rêu rao. Chúng ta vẫn tin tưởng vào
sự thánh thiện của đa phần con cái Thiên Chúa, do Thánh Linh dẫn dắt :
Có một chiếc máy bay, cất cánh từ sân bay Cairô, Ai-cập, đi New-York,
Hoa Kỳ. Ðến giữa đường bay, trên biển Ðại Tây Dương viên phi công nghe
thấy tiếng lạ ở buồng lái, lúc sau tiếng lạ trở thành tiếng sột soạt lớn
hơn. Ông phi công là một tín hữu sốt sắng, ông làm dấu xin Thánh Thần
soi sáng rồi hạ thấp phi cơ đến độ an toàn cho phép, sau đó ông dồn hết
tốc lực vọt thẳng lên trời. Quả nhiên, một lúc sau, tiếng sột soạt biến
mất. Ông hoàn hồn tạ ơn Thượng Ðế đã cứu ông và hơn một trăm hành khách
trên máy bay. Nếu không, các dây điện sẽ bị chuột cắn nát và tai nạn
không thể tránh khỏi. Ðến phi trường New-York, khi hành khách đã xuống
sân bay an toàn, ông cho người lục soát máy bay và người ta đã lôi ra
khỏi khoang cuối một con chuột cống thật to, đã chết. Chuột chết là bởi
không chịu nổi bầu khí ở trên cao. Nó quen chui rúc trong các hang động
tối tăm ở mặt đất, tức môi trường sống bình thường của nó là mặt đất,
máy bay lên cao, nó chết. Do kinh nghiệm, viên phi công biết rằng các
sân bay ở Phi Châu đầy những chuột. Truyện này đã được đăng trên các báo
Hàng không và đã được tưởng thưởng.
Ở đây không nói đến môi trường
sống của họ nhà chuột, mà là của tính mê nết xấu con người. Chúng chỉ có
thể bị tiêu diệt khi người ta vọt lên cao. Bằng không, chẳng bao giờ
loài người trừ khử được chúng. Rượu chè, xì ke, ma túy, đĩ điếm, tham
lam, lừa đảo… Chỉ có thể được dập tắt thành công bằng môi trường lành
thánh hơn : ăn chay, cầu nguyện, hãm mình, bố thí, làm việc lành phúc
đức. Nếu không chỉ là nói dối, khoa trương. Ðó là nguyên tắc dẫn đến một
nếp sống thánh thiện. Kinh nghiệm thực tế ngàn đời đã chứng tỏ như vậy.
Chúa Thánh Linh hôm nay được ban xuống để giúp đỡ chúng ta làm những
công việc đó. Ngài thúc đẩy tâm hồn các tín hữu bay lên cao, tới những
môi trường trong lành hơn của cuộc sống con người : yêu thương, bác ái,
công bình, hòa thuật. Từ đấy, ơn thánh được tuôn đổ xuống linh hồn họ,
giúp họ sống thánh thiện hơn. Chúng ta đừng mơ tưởng có thể tẩy trừ dục
vọng mà không cần đến Chúa Thánh Linh và bảy ơn của Ngài. Chỉ khi nào
chúng ta năng cầu khẩn Ngài, sống ngoan ngoãn dưới sự chỉ đạo của Ngài,
lúc ấy chúng ta mới có thể hy vọng sống mùa Phục sinh đúng nghĩa. Amen.
Alleluia.
Fr. Jude Sicilianô, OP.
Một sức
sống mới chan hòa Hội thánh
(Ga 20, 14-23)
Thưa quý vị,
Một người bạn kể lại sự cố nhỏ khi ông
đang dùng bữa trưa tại tiệm ăn. Một con chim sâu miền Carolina bay qua
cửa sổ vào phòng ăn đầy khách. Nó biết mình lạc đường nên hoảng hốt bay
lung tung trong phòng. Nó đậu chỗ này, dừng lại chỗ khác để tìm lối ra,
đến khi trông thấy ô cửa số lớn, nó lao đầu về phía đó, chẳng may cửa sổ
bằng kính trong và hãy còn chốt chặt. Nó đụng mạnh vào kiếng, và rơi
xuống đất, tưởng chừng như chết. Một người phụ nữ nhặt lên để trên bàn
tay nõn nà của mình. Nó vẫy cánh, dẫy dụa, rồi bay đi, được vài mét lại
rơi xuống đất. Ông bạn tôi chạy tới nhặt lên. Nó run lẩy bẩy sợ hãi, mỏ
há to, ngáp ngáp lấy hơi thở. Ông bạn tôi mang nó ra ngoài chỗ không có
mèo hoang qua lại, đặt nó trên một cái giá sắt an toàn. Con chim khốn
nạn nằm yên lấy sức, ức nó đập dồn dập trông thấy. Lúc sau nó tỉnh hẳn
và cất cánh bay đi.
Lễ Hiện xuống cũng từng chứng
kiến chúng
ta khốn nạn như con chim đó. Nếu không lúc này thì khi khác. Ai mà biết
được ở một quãng đời nào đó chúng ta cũng giống như con chim sâu lạc lối,
bối rối, sợ hãi, lo âu trong một không gian chẳng mấy thân thiện. Chúng
ta sẽ lạc vào đất lạ, tinh thần, cảm súc, tâm lý và địa dư. Rồi tự hỏi
tại sao lại xảy ra như thế này ? Tại sao tôi có mặt ở đây ? Để làm gì ?
Làm thế nào thoát khỏi chỗ này ? Và tôi sẽ đi đâu ? Chúng ta sẽ bay vòng
vòng trong bối rối lo âu, sẽ đâm bổ vào lỗi lầm này, sơ suất khác. Cái
xem ra rõ ràng và là lối thoát nhanh chóng thì lại trở nên tối tăm và
khó khăn. Điều xem ra tự do thì lại là ngục tù giam giữ, cho nên chẳng
còn biết cậy dựa vào đâu để tìm thấy tự do hạnh phúc. Thánh vịnh đã
chẳng từng nhận xét : “Người đời chỉ biết theo nhau làm chuyện suy
đồi, nói dối nói gian. Chẳng có một ai làm điều thiện, dẫu một người
cũng không”. Trong hoàn cảnh như vậy kẻ chân chính chịu trăm bề khốn
khổ : hụt hơi, lồng ngực đập mạnh, bối rối, hoảng loạn, một tiếng động
nhỏ cũng gây ra sợ hãi.
Tuy nhiên đối với người tin Chúa, không
phải quá sợ sệt như vậy. Chúng ta không giống như con chim trên kia khi
đi tìm kiếm tự do hạnh phúc. Chúng ta không việc chi phải đập cánh, dẫy
chân, ngẩng mỏ. Những hiện tượng đó dành cho những kẻ vô tín, không cần
đến Chúa tới trợ giúp. Chúng không phải là đặc tính của tín hữu, cá nhân
hay cộng đồng giáo xứ, quốc gia, toàn cầu. Chúng ta phải luôn vượt lên
trên hoàn cảnh thử thách của giây phút khó khăn. Dĩ nhiên chúng ta làm
việc này không do sức riêng. Tự thân chúng ta chỉ có thể đâm đầu vào
những bức tường rào cản vật lý hay vô hình.
Hôm nay là lễ Chúa Thánh Thần ngự xuống
trên các tông đồ, trên Giáo hội và từng tín hữu. Biến cố xảy ra một lần
xưa kia ở nhà tiệc ly, nhưng còn kéo dài mãi cho đến tận cùng thời gian.
Chúng ta mừng việc Thiên Chúa không để một ai mồ côi. Ngài làm trọn lời
Chúa Giêsu hứa là ban Đấng Bảo Trợ tới, tức Đấng làm trạng sư cho loài
người. Mấy tuần trước đây, chúng ta thường được nghe rằng Ngài ở với
chúng ta luôn mãi bằng Thần khí, thì nay lời hứa đó đã trở thành hiện
thực. Thần khí của Ngài đã xuất hiện trên các môn đệ và toàn thể Giáo
hội trong suốt mọi thời. Thiên Chúa như gà mẹ ấp ủ đàn con dưới cánh.
Ngài che chở chúng ta trong quyền năng của mình và thở hơi sự sống để
chúng ta luôn được đổi mới, ăn ở thánh thiện, làm chứng cho sự hiện diện
của Chúa Giêsu giữa thế gian. Tuy nhiên, không có nghĩa rằng chúng ta
vĩnh viễn lánh khỏi môi trường thế giới. Ngược lại, Thần khí Chúa thúc
giục mọi tín hữu ra đi rao giảng Đức Kitô bằng chính đời sống của mình.
Cho nên, chúng ta phải thánh thiện trước
đã. Ồn ào mà không trọn lành trước thì chỉ như chiếc thùng rỗng, kêu
vang mà không có nội dung. Cựu ước lập ra lễ này gọi là lễ ngũ tuần để
kỷ niệm giao ước Thiên Chúa đã ký kết với Mosê khi ban lề luật cho dân
Do thái tại núi Sinai (Xh 24, 1). Lề luật được ghi trên hai bia đá đặt
trong hòm giao ước. Lề luật của giao ước mới được Chúa Thánh Thần ngự
xuống ghi vào tâm trí và trái tim con người, làm tràn đầy toàn thể chúng
ta bằng ánh sáng, tình yêu và sức mạnh thiêng liêng. “Anh em sẽ nhận
được sức mạnh của Thánh thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ,
anh em sẽ là chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp niềm Giudea,
Samaria và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1, 8)
Tự phong là sứ giả của Chúa Giêsu mà
không để Thần khí Chúa chiếm đoạt thì quả là truyện nực cười. Nhưng thực
tế vẫn có như vậy. An chơi trác táng mà vẫn tự xưng mình là nhà truyền
giáo chuyên nghiệp. Cho nên, chúng ta cần Chúa Thánh Thần thổi hơi canh
tân mỗi ngày, khuyến khích chúng ta cất cánh trên đường thiêng liêng,
bay vào những không gian lành mạnh hơn, để giảm bớt tính “lừa đảo” (giả
hình) vẫn thường giam hãm mình.
Giáo hội ngày nay cũng giống như thời các
tông đồ. Công vụ kể : “Mọi người đang tề tựu ở một nơi”. Tuy
không nói rõ nơi nào, nhưng ai ai cũng hiểu là nhà Tiệc ly. Thánh thần
lấy hình lưỡi lửa đậu trên tất cả mọi người, không thấy nói trừ ra một
ai. Có lẽ nhóm môn đệ này rất lớn, gồm thánh Phêrô, Đức Maria, mẹ Chúa
Giêsu, các phụ nữ đạo đức khác đã từng theo Chúa từ Galilea và khoảng
120 người nữa (Cv 1, 4). Như vậy, họ không đồng nhất là Do thái, mà gồm
đủ mọi thành phần. Chúng ta cũng vậy trong Giáo hội, không đồng nhất về
văn hoá, ngôn ngữ, phụng vụ, sắc tộc. Nhiều địa phương còn có nghi lễ
riêng, lịch phụng vụ riêng. Thật đa dạng. Những ai có nhiều cơ hội di
chuyển nơi này chốn khác trên thế giới, hẳn nhận ra sự thật.
Tuy nhiên, về căn bản, chúng ta cùng tề
tựu trong một đức tin vào Chúa Kitô. Chúng ta có một sự hiệp nhất sâu
sắc hơn, cùng được rửa tội nhân danh Ba ngôi Thiên Chúa để là thành phần
của một cộng đồng phổ quát : Hội thánh. Chúa Thánh Thần đã ban cho tất
cả các tín hữu đôi cánh và hơi sức để bay cao xa trên con đường thiêng
liêng. Ngài ban rộng lượng cho mọi người chứ không phải số nhỏ. Tất cả
đều có chỗ trong nhà tiệc ly để nhận lấy Thánh thần. Mọi người đều được
no thoả : “Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh thần. Họ bắt đầu nói
các thứ tiếng lạ, tuỳ theo khả năng Thánh thần ban cho.” Như vậy,
không phải Phêrô được bốn lít, Thomas hai lít, các tông đồ khác một lít
và các phụ nữ chỉ được nửa lít Thánh linh. Suy rộng ra, xin đừng ghen tỵ
vì Giáo hoàng được nhiều hơn các giám mục, giám mục nhiều hơn linh mục,
linh mục nhiều hơn giáo dân trong nhà tiệc ly. Ngược lại, tất cả đều
được no đầy. Tất cả đều được ơn Thánh thần như nhau. Chúng ta phải ganh
đua phát triển để được hạnh phúc đời đời và nêu gương sáng cho nhau. Một
nữ tu suốt ngày lo lắng vì chị em đạo đức hơn mình. Ban đêm, chị trằn
trọc không ngủ, mơ màng chị thấy Chúa hiện ra. Chị hỏi Chúa : “Thưa
Chúa, bao giờ con được lên thiên đàng ?” Chúa trả lời : “Khi các
chị em khác lên hết đã, bởi con cứ ganh tỵ với họ. Con sẽ là người cuối
cùng được vào chốn nghỉ ngơi.” Chị thở dài não nuột : “Trời ! Thế
thì phải đến tận thế. Con không chịu đâu !” Chúa nói : “Vậy thì
con hãy bỏ tính ghen tương của con mà ăn ở thương yêu, bác ái, con sẽ
cùng lên với họ.” Ơn Thánh thần được ban cho chúng ta như hơi thở
hồi sinh, như gió mát hay như cơn bão ào ào là để thúc giục chúng ta
thoát khỏi không gian hẹp hòi của mình, bay đến bác ái yêu thương. Thiên
Chúa sẽ nhờ Thánh thần mở rộng trí tưởng tượng của chúng ta ngõ hầu
chúng ta nhìn thấy những khả năng mới, lạ lùng của cuộc sống và tự do
của ngày cất cánh hôm nay.
Liệu chúng ta có khả năng nhận ra Thần
khí của Đức Kitô nhập thể thân xác trong cuộc đời mỗi người ? Đó là khi
chúng ta tìm ra những đường lối để giúp đỡ gia đình mình thực hiện những
điều tốt đẹp hơn trong Thánh ý Thiên Chúa, hoặc cứu giúp bà con láng
giềng trong những cơn gian nan khốn khó. Đó là quyết định khó khăn và
bền vững bẻ gãy tính hư, nết xấu, nếp sống bê tha trác táng. Đó là khi
cảm thấy bị xúc phạm bởi hiểu lầm, ghen tỵ, ác tâm mà vẫn còn đủ can đảm
đến thánh đường với các giáo dân khác làm việc phụng thờ Thiên Chúa. Đó
là khi đứng lên tố cáo bất công, bênh vực quyền lợi của những kẻ thấp cổ
bé miệng. Đó là khi hy sinh tiền của, bao bọc những người cơ nhỡ, trẻ mồ
côi, đồng nghiệp mất việc, các bệnh nhân không thuốc men. Đó là khi thấy
mình lợi khẩu trong công việc chung mà thường ngày rụt rè, không dám bày
tỏ ý kiến. Đây là Hội thánh của chúng ta. Hội thánh luôn được Chúa Thánh
Thần hướng dẫn, không phải Hội thánh chung chung mà là Hội thánh địa
phương cụ thể nơi chúng ta sống và làm việc, nơi chúng ta tề tựu để thi
hành Thánh ý Thiên Chúa. Vậy xin đừng làm ngơ trước những thực tại trần
thế. Thực tại chúng ta tề tự một nơi, thể hiện những công việc của Thiên
Chúa, được Thần khí của Đức Giêsu thúc giục. Mặc dù làng xóm có những
bất đồng, cãi cọ, tranh giành, vật lộn, xúc phạm, giận dữ, đau khổ.
Chúng ta khao khát những thực tại đó không phải của mình, của giáo xứ
mình. Nhưng mỗi lần “tề tựu ở một nơi” thì Thần khí Chúa hiện diện chỉ
đường giải quyết vấn đề.
Chúng ta dâng lên Chúa những khó khăn này
và nhiều khó khăn khác để Ngài giúp đỡ vượt qua. Ngài chúc bình an cho
các tông đồ và lời chúc ấy không phải một lần, nhưng tới hai lần. Vậy
chúng ta không nên nhát đảm. Bình an của Chúa cuối cùng vẫn ở lại với
cộng đoàn giáo xứ. Mọi khó khăn sẽ được vượt qua. Giáo hội hoàn vũ vừa
được Chúa ban cho một vị chủ chăn mới. Chúng ta hy vọng ngài đủ ơn Thần
khí để lãnh đạo tốt đẹp con thuyền Hội thánh như vẫn được hướng dẫn từ
xưa tới nay. Bởi Thánh thần được hứa ban cho Hội thánh là để hoàn thành
sứ vụ Chúa Giêsu trao cho các tông đồ khi Ngài từ giã các ông về trời :
“Bình an cho anh em, như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”(c 21)
Thần khí luôn trung thành với Chúa Giêsu, thấm nhuần vào hết mọi thế hệ,
trong mọi chiều kích để ban ơn cứu độ đến cho mọi người, mọi dân tộc.
Chúng ta dám nói Thánh thần kéo dài nhiệm cục cứu chuộc của Chúa Giêsu,
hoàn thành nhiệm cục ấy trong thời sau hết.
Hội thánh luôn cần đến Chúa Thánh Thần
không những để thấu hiểu chân lý của Thiên Chúa mà còn phiên dịch các
chân lý ấy một cách chân thực cho các tín hữu. Theo tiến trình của tư
tương loài người và tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm thế nào Hội thánh
không tụt hậu hoặc lý luận ngây ngô ? Chỉ còn cậy nhờ vào ơn soi sáng
của Chúa Thánh Thần, bởi Ngài là nguyên lý làm cho Hội thánh tươi trẻ và
đổi mới không ngừng, đồng thời kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, bạn
trăm năm của mình. Để thực hiện công việc này, Thánh thần luôn hiện diện
giữa lòng Giáo hội, hướng dẫn và linh hoạt Giáo hội bằng hành động nội
tại, âm thầm và thường hằng trong tâm hồn người tín hữu, từ giáo hoàng,
giám mục, linh mục đến giáo dân. Chúng ta thường dùng từ phổ thông là
thánh hoá họ. Xin đừng nghĩ thời quá khứ mới có các vị thánh, thời hiện
đại vẫn có những bậc anh hùng trong các nhân đức, hoa quả của Chúa Thánh
Thần. Cho nên, ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần hiện xuống không phải
chỉ có tính nhất thời như vị khách vãng lai. Nhưng Ngài thiết lập chỗ ở
vĩnh viễn trong Giáo hội cho đến tận cùng thời gian. Đó là lời hứa của
Chúa Giêsu và sự thật là như vậy nếu chúng ta chịu khó suy gẫm về lịch
sử Giáo hội : “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn
của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng bảo
trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.”(Ga 14, 15)
Thánh thần ở với chúng ta để dẫn dắt vào
đời sống gia đình của Ba ngôi Thiên Chúa, tức chia sẻ sự sống của gia
đình ấy. Giống như người con nuôi của một gia đình. Khi hắn được nhận
vào, hắn phải tự điều chỉnh não trạng, nếp sống, tinh thần, tư tưởng của
mình theo nếp sống của gia đình. Chúa Thánh Thần cũng hướng dẫn chúng ta
vào đời sống gia đình Ba ngôi, thay đổi tư duy, não trạng, thói quen của
chúng ta để có khả năng thâm nhập vào thế giới siêu nhiên như những
người con của Thiên Chúa, suy nghĩ và hành động như Chúa Kitô. Nói cách
khác, sứ vụ của Chúa Thánh Thần là hành động để hiện thực hoá định mệnh
hạnh phúc của chúng ta mà Chúa Giêsu đã chuộc lại bằng cuộc sống, cái
chết và sự phục sinh của Ngài.
Cho nên, trong ngày lễ Ngũ tuần hôm nay,
chúng ta cử hành đức tin của mình vào Thiên Chúa, mặc dù chúng ta có thể
co cụm vì sợ hãi vào một gian phòng như các môn đệ thuở xưa. Mặc dù
chúng ta phải khoá chặt các cửa và thiếu không khí trong lành. Nhưng
chẳng ai ngăn cản được Thánh Thần, chẳng ai không cho Ngài thâm nhập vào
thực tế cuộc sống mỗi người, không cho Ngài thúc đẩy các con tim. Chúng
ta mừng kính Ngài hiện diện để thanh tẩy và đốt nóng tấm lòng mọi người,
thúc giục Hội thánh tề tựu về một nơi, nói các thứ tiếng mới lạ, loan
báo những kỳ công của Thiên Chúa, ngợi khen Đấng hoá công và Người Con
chí tôn chí ái của Ngài đến muôn thuở muôn đời. Chúng ta sốt sắng kính
mừng cuộc sống mới chan hoà Hội thánh trong ngày lễ Ngũ tuần hôm nay.
Amen.
Lm Thomas Trần Ngọc Túy, OP
Tổng hợp theo: Smith & Jude Sicilianô
Sống
tha thứ và hòa giải trong Chúa Thánh Linh
Gioan 20: 19-23
Thưa quý vị,
Nói về quan hệ với miền Trung Đông, đặc
biệt với thế giới Hồi Giáo, một nhà báo, bình luận gia của một tờ báo
lớn phương Tây đã viết: “Làm thế nào chúng ta có thể nói chuyện với
các dân tộc nhận mình có quan hệ trực tiếp với Thượng Đế?”. Nhà báo
vô tình nhận xét về hiện trạng của các tín hữu Kitô. Chúng ta cũng có
quan hệ ấy. Đó là Đức Thánh Linh mà hôm nay là lễ của Ngài. Lễ của Thiên
Chúa tình yêu đích thực và duy nhất.
Nhưng xin hãy tưởng tượng: tình yêu sẽ
như thế nào khi thể hiện hữu hình cho người ta thấy? Tông đồ công vụ kể:
“Khi đến ngày lễ ngũ tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ
trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà,
nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi
lửa, tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được đầy tràn ơn
Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác nhau, tuỳ theo khả năng
Thánh Thần ban cho ”. Như vậy hình dáng của Tình Yêu là cái lưỡi,
lưỡi bày tỏ trái tim ra bên ngoài. Trước hết chỉ có một lưỡi, sau đó
phân tán thành nhiều và cư ngụ trên mỗi người. Phải chăng đó là thần khí
của sự thật mà Đức Kitô đã hứa? Như vậy tình yêu là sự thật trong hành
động mà chúng ta đã suy niệm ở CN V Phục Sinh vừa qua về bổn phận của
các tín hữu phải chuyển tải cho thiên hạ qua dây siêu dẫn
(superconductor). Dây siêu dẫn không làm hao hụt năng lượng khi phân
phối điện năng (tức hiệu suất điện trở bằng zero từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu thụ). Người tín hữu chuyển tải sự thật và tìnhh yêu Thiên Chúa cho
thế giới cũng phải trong trạng thái tuyệt đối như vậy.
Cho nên Thánh Thần ngự xuống bằng tiếng
gió mạnh và xuất hiện như hình lưỡi lửa. Gió mạnh là năng lượng không
trông thấy được, nhưng thổi đến đâu là hiệu quả đến đó. Lưỡi lửa tượng
trưng cho tình yêu nồng cháy diễn tả cảm tình yêu mến của con tim. Liệu
người tín hữu nào lại không khao khát hiện diện trong ngày lễ ngũ tuần?
Năm 1987, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II xuất hiện trên truyền hình toàn
cầu buổi chiều hôm trước ngày lễ ngũ tuần và khắp mọi ngôn ngữ đều có
thể nghe Ngài cầu nguyện. Một hình ảnh tuyệt đẹp diễn tả lại lễ hiện
xuống ngày khởi đầu giáo hội.
Cả ba bài đọc Chúa Nhật hôm nay đều diễn
tả hành động của Chúa Thánh Linh trong vai trò hướng dẫn sự thật và tình
yêu. Bài công vụ tiếp tục viết: “Nào là những người Roma đến đây, nào
là người Do Thái cũng như người đạo theo, là người đảo Creta hay người Ả
Rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo
những kỳ công của Thiên Chúa”. Kỳ công nào nếu không phải là việc làm
của tình yêu và sự thật về Thiên Chúa, và thân phận con người nơi
Đức Giêsu Kitô? Nghĩa là Thánh Thần ngự xuống trên họ, làm thay đổi,
kiện cường và sai họ đi khắp thế gian thu nhận môn đệ về cho Thiên Chúa.
Đức Thánh Linh cư ngụ trong linh hồn mỗi tín hữu tiên khởi, như trong
chúng ta hôm nay, chia sẻ cho họ đoàn sủng, sứ vụ và phục vụ. Biến họ
thành các dây điện siêu dẫn, tức không điện trở. Chẳng lạ gì họ thâu
lượm được nhiều kết quả.
Hãy để thánh thần tỏ rõ Đức Giêsu trong
mỗi người rao giảng, linh mục cũng như tu sĩ, giáo dân để thiên hạ trông
thấy những kỳ công của Thiên Chúa và khâm phục, cảm tạ Ngài. Vì thế, bài
Phúc Âm thuật lại Chúa Giêsu thổi hơi trên các môn đệ để họ nhận lấy
thần khí, mạnh dạn rao giảng cho thế gian: “Đến đây chúng ta thấy rõ
câu trả lời cho nghi vấn trên: tình yêu khả thị sẽ như thế nào?”.
Chúa Cha tỏ tình yêu và sự thật và tình yêu của Ngài cụ thể nơi Đức
Giêsu Kitô. Đức Kitô hứa sai Thánh Thần để hướng dẫn chúng ta sống sự
thật và tình yêu ấy. Thánh Thần linh hứng cho Hội Thánh viết Phúc Âm,
dạy dỗ chân lý mạc khải. Hôm nay Thánh Thần hiện hình để cho biết Ngài
có mặt trong Giáo Hội, trong từng linh hồn tín hữu tin kính Đức Kitô,
biến toàn bộ thành dây siêu dẫn của Thiên Chúa.
Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng
ta nghĩ sao đây? Vấn đề đúng là như vậy. Vì khi sống gió nổi lên trong
lòng hội thánh về đức tin. Các tông đồ đã cho hay sự hướng dẫn của Thần
Khí Đức Kitô trong công nghị đầu tiên ở Giêrusalem: “Thánh Thần và chúng
tôi quyết định rằng: không nên đặt thêm gánh nặng ngoài những chi cần
thiết trên vai họ, gánh nặng mà cha ông chúng ta cũng không mang nổi”.
Rõ ràng các tông đồ đã khẳng định Thánh Thần đang dẫn dắt Hội Thánh
Chúa, chúng ta dám xác tín như vậy không? Thánh Thần là thần khí của sự
thật và tình yêu, luôn âm thầm hướng dẫn hội thánh trong suy nghĩ, học
thuyết một cách không sai lầm, chứ không nông nổi tuyên bố lung tung như
các diễn giả thời nay. Thánh Irênêo viết về Hội Thánh tiên khởi: “Ở đâu
có Hội Thánh, ở đấy có Thánh Thần, ở đâu có Thánh Thần, ở đấy có Giáo
Hội”. Chúng ta nên suy nghĩ câu nói ấy để hành xử cho tốt, kẻo gây
nhiều thiệt hại cho Giáo Hội.
Ở miền nam Hoa Kỳ, giáo dân có câu châm
ngôn: “God has no grandchildren” (Thiên Chúa không có cháu chắt). Ý
nói đức tin không phải là của gia bảo, hay đơn thuốc gia truyền, đời
nọ thừa kế đời kia, từ đời ông cho đến đời cha, rồi con cái cháu chắt.
Dĩ nhiên chúng ta phải giáo dục đức tin cho các thế hệ kế tiếp. Nhưng
các tín hữu thời nay không phải là các hậu duệ của các tín hữu tiên khởi,
của thế hệ Hội Thánh trực tiếp lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Không phải vậy.
Hội Thánh bây giờ vẫn là Giáo Hội “tiên khởi” được Chúa Thánh Thần sinh
ra qua bí tích rửa tội và được sai đi rao giảng tin mừng cho thế hệ mình.
Chỉ khác nhau về thời gian. Chúng ta không được phép nuối tiếc: giả như
tôi có mặt lúc bấy giờ. Phép thanh tẩy, các bí tích mà tín hữu lãnh nhận,
Chúa Thánh Linh ngự xuống trong ngày hôm nay vẫn y nguyên như thời các
tông đồ, mới mẻ và tinh tuyền, đầy sức sống và ơn thánh. Thiên Chúa
không có cháu chắt, toàn bộ là con, là thế hệ tiên khởi, sinh ra trong
thần khí Chúa.
Điều rõ nét là phúc âm hôm nay, Gioan cho
chúng ta hay: “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở,
các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đế, đứng
giữa các ông và nói: bình an cho anh em … Nói xong Người thổi hơi vào
các ông và nói: anh em hãy lãnh nhận Thánh Thần”. Cả một sự tạo dựng mới.
Nhân loại lại trở về ân huệ cũ: hình ảnh và hoạ ảnh của Thiên Chúa.
Lần này thì không ai làm hư hỏng được nữa, vì Adam chính là Con Thiên
Chúa, đức Giêsu Kitô. Các tông đồ, mặc dù được trao sứ mệnh ra đi rao
giảng tin mừng cho nhân loại, nhưng vẫn sợ sệt, phần vì lãnh đạo Do Thái
đe doạ, phần vì xấu hổ đã phản bội thầy. Vì thế Chúa làm hoà trước: bình
an cho anh em. Ngài nói tới hai lần trong một đoạn văn ngắn, để đảm bảo
với các ông sự tha thứ của Ngài. Sau đó Ngài sai các ông đi rao giảng
cho thế gian. Nhưng chẳng thể tha thứ được nếu không có tình yêu. Ở đây
là vai trò của Thánh Linh. Và hơn thở của Thiên Chúa chính là Thánh Linh:
“Chúng con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người
ấy được tha”. Thánh Linh không loại trừ ai, ngoài những kẻ từ chối tình
yêu của Thiên Chúa.
Ngày nay chúng ta cũng cần Chúa tha thứ:
bình an cho anh em. Vì chúng ta cũng đã phản bội. Lòng chúng ta cũng đầy
xao xuyến lo âu vì tội lỗi cũ, những tội còn ghê gớm hơn là các tội của
các tông đồ, vì dầu sao các ông hèn nhát là do không đủ kiến thức. Còn
chúng ta, được học hỏi, biết rõ Chúa, nhưng vẫn chối bỏ tình yêu của
Ngài vì dục tình, vì chạy theo thế gian, rồi biện minh bằng những lý lẽ
ngô nghê. Bình an cho anh em. Chúng ta cũng cần Chúa tha thứ và đảm bảo
như vậy. Ngõ hầu cảm thấy được làm hoà với Thượng Đế, được tạo dựng lại.
Làm những thụ tạo mới qua lời Chúa như các tông đồ. Con người đầy tội
lỗi, hèn nhát, mù tối, nguội lạnh, thoả hiệp với thế gian, bây giờ được
tha thứ và can đảm để bắt đầu một cuộc sống mới trong “ngày thứ nhất”
như các môn đệ xưa mà nhận lãnh Thánh Thần qua hơi thở của Đức Kitô.
Xin lưu ý, Chúa bao giờ cũng làm gương
trước rồi mới dạy dỗ sau: Ngài rửa chân cho các môn đệ rồi mới nói: anh
em cũng phải rửa chân cho nhau, phải thương yêu và phục vụ lẫn nhau.
Phúc Âm hôm nay cũng vậy. Ngài tha thứ và làm hoà với các ông: bình an
cho anh em, rồi mới sai các ông đi rao giảng thứ tha. Các tông đồ y hệt
chúng ta: yếu đuối và hèn nhát, nhưng có thể tha thứ và rao giảng thứ
tha vì họ được hơi thở của Đức Giêsu tạo dựng mới: Thiên Chúa không có
cháu chắt, chúng ta không thuộc hàng cháu chắt của đức tin. Chúng ta là
con trực tiếp. Vậy thì cũng phải làm như vậy: tha thứ và rao giảng hoà
giải cho thế giới đầy những bất ổn, tranh chấp, chia rẽ, đánh nhau, chém
giết.
Lưu ý thứ hai là theo như Gioan trong
Phúc Âm hôm nay, Chúa không trì hoãn việc tha thứ và hoà giải với các
môn đệ. Ngài thực hiện ngay chiều ngày thứ nhất trong tuần, khi vừa trỗi
dậy từ cõi chết. Ngài ban cho họ thần khí tha thứ để họ tiếp tục ngay
công việc của Ngài: anh em hãy đi rao giảng và thu thập môn đệ cho thầy.
Chúng ta nghĩ thế nào về thái độ của mình; tẩy rửa và làm dây siêu dẫn
cho Ngài hay chìm sâu trong nết xấu và đam mê tiện nghi thế gian?
Lưu ý thứ ba là Chúa cho các ông xem các
vết thương chân tay và cạnh sườn Ngài. Rao giảng không đơn giản đâu. Nó
cũng gây nên các vết thương cho người xây dựng hoà bình. Dĩ nhiên việc
xem thấy Chúa phục sinh mang đến cho các tông đồ niềm vui khôn tả, nhưng
đi rao giảng, thi hành sứ vụ Ngài trao cũng có nghĩa chịu thương tích.
Xin đừng trốn tránh, hoặc lựa chọn những dễ dãi, mà phải cắm mắt nhìn
vào các vết thương nơi chân tay và cạnh sườn Chúa. Chúng ta phải trả giá
cho việc rao giảng tha thứ và hoà giải. Thực tế đã có nhiều môn đệ trả
giá bằng cái chết của mình như xưa nay vẫn thường xảy ra. Chúng ta phải
noi gương các vị, ít là từ bỏ những phù phiếm hàng ngày để làm gương.
Dĩ nhiên có những người từ chối tha thứ
và hoà giải, và nhiều nữa là khác. Thậm chí cả một quốc gia, một dân tộc.
Nhưng chính những quốc gia, dân tộc ấy sẽ lãnh nhận bản án cho mình vì
quay mặt đi khỏi tha thứ hoà giải của Chúa. Phần mình, chúng ta phải cố
gắng trở nên những dây siêu dẫn (super conductors) không làm hư hao năng
lượng thứ tha và hoà giải, tình yêu và sự thật của Thiên Chúa qua tính
mê nết xấu của mình. Có như vậy, chúng ta mới xứng đáng mừng lễ Chúa
Thánh Thần hiện xuống. Amen.
G. Nguyễn Cao Luật op
THẦY CŨNG
SAI ANH EM
Ga 20,19-23
Mới chỉ là khởi đầu
Trình thuật về lễ Hiện Xuống là
một trình thuật quan trọng. Bản văn này không chỉ thuật lại mốc khởi đầu
của Giáo Hội, nhưng cả việc kết thúc của sách Tin Mừng. Vậy mà, một câu
hỏi làm chúng ta ngạc nhiên : tại sao trình thuật này không được các
sách Tin Mừng thuật lại, nhưng chỉ được kể đến trong sách Công Vụ Tông
Ðổ ?
Trong thực tế, sách Công Vụ Tông
Ðổ chỉ tường thuật, hoạ lại truyền thống Do-thái, "một điều đã được
khẳng định", xét như là một thực tại, vốn đã có trong Tin Mừng.
Ðối với người Do-thái, lễ Ngũ
Tuần là dịp kỷ niệm hổng ân được ban tặng qua Lề Luật. Với biến cố tại
núi Xi-nai, người Do-thái được giải thoát khỏi tình trạng nô lệ, nhất là
được quy tụ thành một dân có liên đới và trách nhiệm với nhau. Họ cùng
hướng tới một mục đích và chấp nhận cùng đi với nhau trên một con đường.
Một số tác giả Do-thái không thuộc lãnh vực Kinh Thánh đã sử dụng hình
ảnh lửa, gió, tiếng nỗ lớn để mô tả tính cách đảo lộn của biến cố Xi-nai.
Thánh Lu-ca cũng sử dụng lại cách diễn tả này.
Tuy vậy, các tác giả sách Tin
Mừng cảm thấy không cần phải thuật lại, theo một hình thức đặc biệt, sự
đỗi mới từ căn bản mà các ông đã luôn diễn tả trong suốt cả sách Tin
Mừng.
Sứ điệp của thánh Gio-an tóm tắt
điều cốt yếu này : các tông đổ - sau này là các tín hữu - đều được thông
dự vào sự sống của Ðức Giêsu, cũng như vào sự bình an của Người. Các ông
là những người được đỗ tràn Thần Khí : các ông sẽ sống giữa trần gian,
sẽ đi đến mọi nơi để đem lại ơn tha thứ và lòng thương xót. Sứ mệnh của
các ông được tóm lại trong mệnh lệnh đơn giản sau đây : Hãy đi công bố
Tin Mừng về ơn hoà giải và tha thứ. Nhờ sứ mệnh của các tông đổ, nhân
loại được tái tạo, và đó chính là lễ Ngũ Tuần của tất cả nhân loại.
Lễ Ngũ Tuần không thể tách rời
khỏi lễ Vượt Qua. Xưa kia, đây là ngày lễ đánh dấu việc hưởng dùng những
hoa trái đầu tiên nơi đất hứa, sau khi đã trải qua những chặng đường
gian lao đầy thử thách. Sự kiện này mới chỉ là khởi đầu cho những ân huệ
sau này : tất cả đều phát xuất từ cuộc Vượt Qua.
Ngày nay, lễ Ngũ Tuần, tức là lễ
Hiện Xuống, cũng gắn liền với lễ Phục Sinh. Mặc dù mới chỉ là khởi đầu,
chưa phải là hoàn thành, nhưng toàn bộ hoa trái của lễ Phục Sinh đã được
trao tặng trong Thần Khí của Ðức Giêsu : chính Thần Khí sẽ bao phủ cả vũ
trụ, khởi đầu từ các tông đổ, để rổi sẽ lan đến mọi nơi.
Tất cả mới chỉ là khởi đầu - và
ngọn lửa, ngọn gió thần linh vẫn có đó ...
Thầy sai anh em đi
Kể từ ngày kêu gọi các môn đệ
đầu tiên, Ðức Giêsu đã chuẩn bị cho các ông đón nhận mệnh lệnh này. Toàn
bộ cử chỉ, hành động, lời nói, lời cầu nguyện cũng như sự hiện diện của
Người đều nhằm huấn luyện các môn đệ đón nhận biến cố hôm nay.
Cũng như Ðức Giêsu, các môn đệ
có một sứ mạng phải chu toàn, có một sứ điệp phải loan báo. Công trình
do Người khơi mào (và được đóng ấn trong máu Người) không thể bị gián
đoạn. Công trình biến đỗi, tái tạo cuộc sống con người cần phải được
thực hiện tới cùng. Muôn dân muôn nước thuộc mọi thời cần phải, và được
quyền biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ. Chính vì thế, mặc dù các tông
đổ đang trong tình trạng sợ hãi, Ðức Giêsu vẫn sai các ông đi.
Một khởi đầu có vẻ quá khiêm tốn,
quá âm thầm. Thiên Chúa vẫn hành động như thế. Ðức Giêsu sai một nhóm
người, quá ít, lại kém hiểu biết để thực hiện một công trình vĩ đại :
chinh phục cả thế giới về cho Người. Ðã có nhiều người lấy làm ngạc
nhiên về việc sai đi này : Với nhóm người nhỏ nhoi như thế mà Tin Mừng
được loan báo cho toàn thế giới sao ? Việc cứu độ cả nhân loại lại tuỳ
thuộc vào nhóm người tầm thường này sao ? Làm sao các tông đổ có thể làm
được ? Mặc dù Ðức Giêsu đã kể dụ ngôn về "men trong bột", nhưng làm sao
có thể tin rằng những con người như thế kia lại có thể làm đảo lộn cả
thế giới ? Khó tin quá !
Thế nhưng, chính Ðức Giêsu cũng
đã nói về "chiên đi vào giữa bầy sói" (Mt 10,16). Người biết rõ thái độ
thù nghịch, không muốn đón nhận cũng như sự thờ ơ của con người đối với
các sứ giả, và với sứ điệp của Người. Người sai các tông đổ đi, không
phải với bàn tay trắng. Các môn đệ cũng có những "vũ khí" như Ðức Giêsu
đã có. Những "vũ khí" này không nhằm giết hại ai, nhưng là để làm cho
sống. Ðó là Bình An, Vui Mừng và Tha Thứ.
Những điều này có ý nghĩa
gì ?
"Ơn Bình An" không phải là không
có chiến tranh hay xung đột. Bình an của Thiên Chúa là sức mạnh giúp chế
ngự, lướt thắng những nghi ngờ và sợ hãi. Bình an của Thiên Chúa giúp
con người biết mở rộng lòng để đón nhận tình yêu.
"Ơn Vui Mừng" do Thiên Chúa ban
tặng vượt xa mọi thứ hạnh phúc thông thường. Ngay giữa những khó khăn,
những vất vả nhằm kiến tạo một thế giới công bình hơn, con người vẫn cảm
nhận được niềm vui vì xác tin rằng Thiên Chúa không bao giờ quên lãng
công trình sáng tạo của Người.
Cuối cùng, "ơn Tha Thứ" của
Thiên Chúa : đây là điều con người vẫn thiếu. Ơn sủng này giúp con người
có khả năng hiểu biết, đón nhận và hoà giải với người khác cũng như với
chính mình. Ơn sủng này sẽ chữa lành và tái tạo tất cả những gì đã bị
thương tỗn, bị lệch lạc trong con người cũng như trong các mối tương
giao ...
Như vậy, với Thần Khí của Thiên
Chúa, con người được giải thoát khỏi sợ hãi, khỏi thái độ khép kín nơi
chính mình, để hướng đến những biên cương mới, nơi Thiên Chúa chờ đợi họ.
Ngày lễ của Hội Thánh
Lễ Ngũ Tuần là ngày giáng sinh
của Hội Thánh. Thần Khí được ban xuống, không phải trên những cá nhân
riêng lẻ, nhưng trên một cộng đoàn đã được quy tụ và tỗ chức. Ðây chính
là cộng đoàn mà Ðức Giêsu đã kiên trì đào tạo để sai đi. Chính trên cộng
đoàn này, Thần Khí, qua lửa và gió, đáp xuống như trận cuổng phong, để
bắt lấy họ, đốt cháy họ, nhào nặn họ, biến họ thành một dân mới tức là
Hội Thánh.
Ðược khai sinh trong Thần Khí,
Hội Thánh sẽ phải luôn lắng nghe Thần Khí để kiểm lại sự hiện diện của
mình giữa trần gian, đổng thời nhìn lại sứ mạng của mình đã lãnh nhận,
nhận được sức mạnh để chu toàn sứ mạng ấy.
Về phần mình, mỗi Kitô hữu cũng
phải ý thức rằng mình thuộc về Hội Thánh, thuộc về Thần Khí của Thiên
Chúa. Những ân huệ đã lãnh nhận không phải chỉ để mưu ích cho cá nhân
mình, nhưng là để cho toàn thể Hội Thánh thêm phong phú. Mỗi người sẽ
góp phần riêng của mình giúp Hội Thánh luôn sống đúng với ý nghĩa mà
Thiên Chúa mong muốn. Mỗi người sẽ cộng tác với người khác để làm cho
Hội Thánh luôn tươi trẻ, để loan báo cho thế giới về mầu nhiệm Phục Sinh.
"Như Chúa Cha đã sai Thầy,
"thì Thầy cũng sai anh em". (Ga 20,21)
"Ai tin vào Thầy
"thì người đó sẽ cũng làm được những việc Thầy làm,
"người đó còn làm những việc lớn hơn nữa". (Ga 14,12)
Chúng ta nghĩ gì về điều này ?
Có phải là một sứ mạng không thể thi hành,
hay : "Lạy Chúa, này con đây, xin cũng sai con đi. "
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Chúa
Thánh Thần hiện diện
(Ga, 20,19-23)
Hôm nay chúng ta long trọng mừng
lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Đối với Giáo Hội nói riêng, và đối với
toàn thể nhân loại nói chung, ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống thật là
quan trọng, vì đánh dấu bắt đầu một kỷ nguyên mới : kỷ nguyên của Chúa
Thánh Thần, kỷ nguyên áp dụng ơn cứu độ. Bởi vì như Chúa Giêsu đã xác
quyết với các môn đệ : Ngài van tiếp tục ở với các ông, Ngài ở với các
ông không bằng thân xác hữu hình nữa, nhưng cách thiêng liêng, tức là
bằng Chúa Thánh Thần. Như vậy, Chúa Thánh Thần nối dài sự hiện diện của
Chúa Giêsu nơi trần gian, nên Ngài cũng tiếp nối công trình của Chúa
Giêsu , và đưa công trình ấy đến chỗ hoàn thành, tức là công trình cứu
chuộc của Chúa Giêsu vẫn được tiếp tục thực hiện dưới sự hướng dẫn và
thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.
Quả thực, chúng ta thấy lịch sử
Giáo Hội là một chuỗi dài những tác động của Chúa Thánh Thần. Khởi đầu
với các tông đồ, ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, các ông đã lãnh
nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Sức mạnh ấy đã giúp các ông ra
khỏi bản thân khép kín và sợ hãi để đi khắp nơi loan báo Tin Mừng và lấy
cái chết của mình làm chứng cho Tin Mừng. Trước đây, ai cũng nghĩ rằng :
các môn đệ tầm thường đó không thể làm nên trò trống gì, nhưng lịch sử
cho thấy các ông đã thực sự làm thay đổi thế giới. Rồi xuyên suốt hai
ngàn năm qua, biết bao người đã tiếp nối sứ mạng của các tông đồ để Giáo
Hội được đứng vững và phát triển, tất cả cũng đều nhờ vào sức mạnh của
Chúa Thánh Thần.
Cho tới ngày hôm nay, giờ phút
này, sức mạnh của Chúa Thánh Thần vẫn còn được ban cho Giáo Hội và cho
mỗi người chúng ta, vẫn còn là sức sống của Giáo Hội và mỗi người chúng
ta, không phải là sức mạnh chuyển núi dời sông, chuyện này từ xưa, vua
Pha-ra-on của Ai Cập đã làm được, khi trưng dụng hàng ngàn nô lệ vào
công việc phá núi, chuyển đá, dựng lên các kim tự tháp. Và ngày nay,
người ta dùng mìn nổ, máy xúc đất, máy hút bùn, cần trục…..thừa sức làm
hơn các Pha-ra-on.
Nhưng không có một sức mạnh nào
của khoa học kỹ thuật, của quyền lực thế gian, làm mềm được trái tim con
người đã thành sắt đá, hay chuyển đổi lòng dạ con người từ cõi âm u của
lạnh nhạt, ghen ghét, hận thù qua miền ánh sáng của tình nghĩa, của yêu
thương. Chỉ “quyền năng của Chúa Thánh Thần”, chỉ sức mạnh của lòng tin
bằng hạt cải ngày hôm qua cũng như ngày hôm nay có thể đẩy một cha
Kôn-bê bước lên mấy bước để tình nguyện chết thay cho một bạn tù còn
trách nhiệm với một vợ và bảy con. Hoặc là có thể đưa một bà cụ trên 80
tuổi như mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta tiếp tục đi hết nước này đến nước khác,
kể cả Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, để phục vụ những con người khốn
khổ nhất. Hoặc là có thể khiến một Dì Hai Bến Sắn, chỉ nắm lấy tay, nói
một lời, là đưa được anh người phong nào đó “dữ lắm”, không vừa ý ai là
anh cắn, ngay cả đến công an cũng chịu thua anh, từ chợ Bến Thành trở về
trại phong Bến Sắn.
Chỉ quyền năng Chúa Thánh Thần,
chỉ sức mạnh của lòng tin, ngày hôm nay, cũng có thể khiến từng em bé bẻ
đôi chiếc bánh ngọt chia cho bạn mình ở sân trường, hoặc là đẩy được
người hàng xóm vượt qua được khoảng đường hẻm, chỉ rộng không quá hai
mét nhưng sẵn hiềm tỵ cao hơn núi, nghi kỵ sâu hơn sông, để chào hỏi
người hàng xóm ở đối diện nhà mình. Chính sức mạnh của Chúa Thánh Thần
đã giúp cho lòng chung thủy thầm kín của vợ chồng với nhau, đã giúp cho
các bà mẹ gia đình chu toàn bổn phận trong âm thầm, đã tăng nghị lực cho
người bạn trẻ can đảm chống lại các cám dỗ, đã giúp cho người tín hữu
ham thích cầu nguyện trong thinh lặng, kiên nhẫn trong lúc đau khổ và
vui mừng vì có lương tâm ngay thẳng. Chúng ta có thể kéo dài bảng thống
kê này thành một bài mô tả tất cả đời sống Kitô hữu. Đó là công trình
của Chúa Thánh Thần đang tác động trong thế giới và nơi mỗi người chúng
ta.
Tóm lại, trong mạch sống Giáo
Hội, tác động của Chúa Thánh Thần thật vô cùng quan trọng cho Giáo Hội
cũng như mỗi người chúng ta để sống đức tin và bác ái. Nhưng chúng ta
hãy nhớ : Chúa Thánh Thần là Đấng phù trợ. Phù trợ có nghĩa là nâng đỡ,
trợ giúp chúng ta, chứ không làm thay chúng ta, chúng ta phải làm hết
sức mình, hết khả năng mình, phải học hỏi, phải nghiên cứu, phải thực
hiện hết sức mình, Chúa Thánh Thần sẽ phù trợ thiện chí của chúng ta,
Ngài không bao cấp làm thay chúng ta. Chúng ta không thể ngồi thụ động
chờ Chúa làm phép lạ, mà phải dùng tất cả mọi phương tiện thông thường
Chúa ban để tự giúp mình trước đã. Nói cách khác, chúng ta phải hợp tác
với Chúa và sử dụng mọi phương tiện thông thường Ngài ban trước khi
chúng ta cầu xin Ngài can thiệp vào một số trường hợp đặc biệt. Ai trong
chúng ta cũng biết câu châm ngôn cổ xưa : “Hãy tự giúp mình trước, rồi
Trời sẽ giúp mình sau”, và như thế, chúng ta có thể nói : chúng ta phải
tự mình làm việc, rồi Chúa Thánh Thần sẽ trợ giúp cho.
Dom. Lê Đức Thiện op
Lạy
Chúa Thánh Thần, xin hãy đến !
(Ga 20, 19-23)
Chương trình cứu độ của Thiên
Chúa được bắt đầu từ việc tạo dựng : nhờ Hơi Thở quyền năng của mình,
Thiên Chúa đã dựng nên con người từ trong bụi đất. Chương trình ấy tiếp
tục xuyên qua một lịch sử đầy biến động, nhưng lịch sử ấy vẫn luôn được
sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa : Thần Khí đã tác động trên các vua,
các ngôn sứ,… để biến họ thành những tác nhân của Người. Và đặc biệt,
nơi Đức Giêsu Kitô, từ khi được thụ thai trong lòng Trinh nữ Maria (Lc
1,35) cho đến cuộc vượt qua với cái chết và sự phục của Người (Rm 8,11),
luôn có sự tác động của Thần Khí. Cuối cùng, lịch sử của Thần Khí xuyên
qua lịch sử của con người được thành tựu trong ngày Lễ Ngũ Tuần, ngày mà
Thần Khí được thông ban dồi dào cho các Tông Đồ, để từ đây, từ cộng đoàn
bé nhỏ này, Thần Khí sẽ được lan toả trên toàn cõi đất và trong mỗi một
con người qua Giáo Hội.
Lễ Hiện Xuống chính là ngày khai
sinh của Giáo Hội. Chúa Thánh Linh ngự đến, không phải trên những cá
nhân riêng lẻ, nhưng trên một cộng đoàn đã được xác định và tổ chức, một
cộng đoàn do chính Đức Giêsu thiết lập, đào tạo. Và cũng chính cộng đoàn
này, đã được Người giao cho một sứ mệnh vĩ đại : “Hãy đi và làm cho muôn
dân trở thành môn đệ Thầy” (Mt 28,19), “Hãy đi loan báo Tin Mừng cho mọi
loài thọ tạo” (Mc 16,15). Nhưng họ chưa có sức mạnh lẫn ý chí để bắt đầu
thực hiện trọng trách đó, cho đến khi Chúa Thánh Thần ngự đến. Thật vậy,
nếu trước đây, các Tông đồ sống ẩn trốn trong hoang mang, lo sợ, thì
nay, nhờ Chúa Thánh Thần tác động, họ đã rời chỗ ẩn trốn của mình, và
can đảm ra đi loan báo Tin Mừng. Như vậy, lời Đức Giêsu nói với các Tông
đồ khi hứa ban Thánh Thần cho họ đã được thực hiện : “Anh em sẽ nhận
được sức mạnh của Thánh Thần, khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ,
anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê,
Samari, và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1,8)
Vâng, Chúa Thánh Thần đã ngự đến
và đã đem lại sức mạnh cho các Tông đồ. Người đến với các ông dưới hình
thức của gió và lửa, là biểu trưng cho sức mạnh và quyền năng của Thiên
Chúa. “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người
ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).
Chúa Thánh Thần ngự xuống ban cho các Tông đồ niềm tin, năng lực, sự
hứng khởi, lòng can đảm, tình yêu và niềm đam mê để các ông và sẵn sàng
làm chứng cho Đức Kitô, dù phải đối diện với những khó khăn nhất.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin
ban Thánh Thần trên chúng con, để Người ngự đến và thâm nhập vào lòng
trí chúng con, để nhờ sức mạnh của Người, chúng con có khả năng đảm nhận
cuộc sống của mình và sống cuộc đời của chúng con một cách có trách
nhiệm, đồng thời chúng con biết can đảm làm chứng cho đức tin của mình,
cho Nước Trời, như Thánh Phaolô nói : “Nước của Thiên Chúa không phải là
việc ăn uống, nhưng là công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.”
(Rm 14,17)
Lạy Chúa Giêsu, một hạt giống
dầu tốt nhưng sẽ không sinh ích và có ngày sẽ hư mất nếu cứ để mãi trong
kho. Nó cần phải được đam ra gieo trồng, phải thối đi, phải chết đi mới
sinh nhiều hoa trái. Xin cho chúng con cũng biết sử dụng những ân huệ
của Thánh Thần Chúa để sinh nhiều hoa trái, làm phong phú cho mình và
cho người khác. Xin cho chúng con được hiệp nhất với nhau trong một
nhiệm thể là chính Chúa (Cl 3,15), mà sự bình an là hạnh phúc của sự
sống đời đời mà chúng con được nếm hưởng ngay bây giờ là nhờ sự hiện
diện của Chúa Thánh Thần, vì “ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng
lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn
là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy…Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là
Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong
cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy
tràn một Thần Khí duy nhất.” (1 Cr 12,12-13).
Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến
!
Xin hãy đến sưởi ấm lòng chúng
con.
Xin hãy đến làm ánh sáng hướng
dẫn cuộc đời chúng con.
Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ
chúng con.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến
!
Xin hãy đến đổi mới bộ mặt địa
cầu này.
Amen.
Đỗ Lực op
Nhả Ngọc Phun Châu
(Ga 20:19-23)
Sau khi Chúa về trời, một biến cố vô cùng
ngoạn mục đã diễn ra và ảnh hưởng tới toàn thể Giáo Hội. Những ngày quây
quần bên Mẹ Maria, các tông đồ cầu nguyện đón chờ điều Chúa hứa. Khi
Thánh Linh hiện xuống, “ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt
đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho, mà
loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!” (Cv 2:4.11) Một cộng đoàn truyền
thông đã ra đời !
Giờ đây, chúng ta thử nhìn lại bản chất,
cứu cánh, sứ vụ và những phương tiện truyền thông đang thịnh hành ngày
nay. Ðã đến lúc cần phải làm cho linh hồn của truyền thông sống lại. Ai
có thể thổi Thần Khí vào truyền thông, nếu không phải là Ðức Kitô ?
Tại sao ? Câu trả lời có thể tìm thấy trong ngày Chúa ban Thần Khí cho
cộng đoàn Tông đồ và Giáo Hội.
NGÔN NGỮ TÌNH YÊU
Lễ Hiện Xuống đúng vào ngày lễ Ngũ Tuần.
Trong lịch sử Do thái, Lễ Ngũ Tuần nguyên là một lễ hội của nhà nông.
Nhưng vào thời cuối cùng của Cựu Ước, Lễ Ngũ Tuần biến thành lễ kỷ niệm
ông Môsê nhận Mười Ðiều Răn trên núi Sinai. Ðây là một trong các lễ lớn
nhất, quy tụ nhiều người Do thái từ các xứ thuộc vùng Ðịa Trung Hải về
hành hương Giêrusalem. “Chính trong ngày tưởng niệm Thiên Chúa ban lề
luật trên núi Xinai, ngày Thiên Chúa ký kết Giao Ước với dân Israel, mà
hôm nay Thiên Chúa ban Thần Khí của Người cho ‘Israel của Thiên Chúa,’ (Gl
6:16), nghĩa là Hội Thánh.”[1]
Khi nhận được “Thần Khí Sự Thật,” (Ga
14:17) cộng đoàn tông đồ được giải thoát khỏi sự sợ hãi và hoàn toàn
bình an như Chúa Phục Sinh đã hứa (x. Ga 20:19, 21). “Thần Khí Sự Thật”
không ngự đến, rồi nằm im bất động. Trái lại, Người sẽ dùng các ngài như
một khí cụ đem lại ơn tha thứ và giải thoát cho nhân loại. “Khả năng tha
thứ là sức mạnh duy nhất có thể giải quyết hết những mối căng thẳng
trong thế giới loài người. Cho dù trái tim chúng ta không dễ dàng vươn
tới độ lượng tha thứ, nhưng thái độ dung thứ là bí quyết vô cùng quý giá
mà Giáo Hội phải xem là tài sản độc đáo của mình.”[2]
Sự tha thứ nhằm giải thoát con người khỏi
chính thân phận yếu đuối và dễ lầm lạc của mình. Nhưng nếu không được
“Thần Khí Sự Thật” giải thoát trước, làm sao Giáo Hội có thể giải thoát
nhân loại ? Bởi đó, trước tiên cần phải tràn đầy “Thần Khí Sự Thật,”
Giáo hội mới có thể thi hành sứ vụ Chúa đã trao phó trước khi về trời
(x. Mt 28:19-20).
Ở đây không bàn đến bí tích giải tội dành
cho các thừa tác viên, nhưng chỉ muốn đề cập đến sức mạnh giải thoát của
Giáo Hội nói chung trong công cuộc cứu độ nhân loại mà thôi. Dù thuộc
bất cứ Giáo Hội nào, một khi đón nhận được “Thần Khí Sự Thật,” ai cũng
có thể đem Tin Mừng giải thoát đến cho nhân loại. Ðó là điều cần thiết
để thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian, nơi các thần dữ đang hoành
hành và giam hãm con người. Nếu không được giải thoát, làm sao con người
có thể hưởng “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm
14:17) ?
Bởi vậy, ngày “Thần Khí Sự Thật” hiện
xuống, tất cả Giáo hội vô cùng hân hoan. Các môn đệ Chúa Kitô biến thành
khí cụ đem bình an của Chúa đến toàn thể nhân loại. Chúa ban cho họ khả
năng đặc biệt để rao giảng Tin Mừng cho mọi người thuộc mọi nền văn hóa
và dân tộc. Thật vậy, khi nghe các tông đồ giảng, “ai nấy đều nghe các
ông nói tiếng bản xứ của mình.” (Cv 2:6) Tin Mừng đã trở thành tiếng nói
chung của toàn thể nhân loại. Bởi thế, “những người được kêu gọi đón
nhận đức tin không bị buộc phải từ bỏ ngôn ngữ hay văn hóa của mình để
gia nhập Hội Thánh, như các tân tòng Do thái giáo. Trái lại, Thiên Chúa
muốn được tôn vinh và chúc tụng bằng mọi thứ ngôn ngữ, mọi nền văn hóa.
Như thế mới hiển thị rõ nét sự đa dạng đa năng giữa các chi thể trong
Thân Thể Chúa Kitô (1 Cr 12:12-13) cũng như hiển thị rõ nét công trình
của Chúa Giêsu và Thần Khí của Người là quy tụ về một mối những con cái
Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi.”[3]
Nói khác, Giáo Hội duy nhất nhưng vẫn có những khác biệt. Ðó là công
trình kỳ diệu của Thiên Chúa.
Chính vì thế, Giáo hội không sợ sự thật
đến từ bất cứ nơi đâu. Khi được gieo tới nền văn hóa nào, hạt giống Tin
Mừng luôn gặp những mảnh đất màu mỡ. Dĩ nhiên cũng không thiếu những gai
góc và sỏi đá, nhưng không phải vì Tin Mừng xa lạ với các dân tộc. Tin
Mừng là ngôn ngữ của tình yêu. Một khi đã đón nhận được Tin Mừng giải
thoát, họ sẽ nhận ra sự thật và không sợ phải đối đầu với những lực
lượng thần ác đang rắc gieo kinh hãi khắp nơi.
THẦN CHÂN LÝ
Giữa thế giới đang khủng hoảng về tình
yêu, con người cần lắng nghe ngôn ngữ sự thật và tình yêu, đó là Tin
Mừng. Chỉ có thứ ngôn ngữ này mới có thể quy tụ mọi người và mở ra một
hướng giải thoát đích thực cho nhân loại.
Muốn có ích cho nhân loại, truyền thông
hôm nay cũng cần đi theo đường hướng đó. Quả thực, trong Ngày Truyền
Thông Thế Giới năm nay, ÐGH Bênêđictô XVI nói, sứ mệnh của truyền thông
là “Tìm kiếm Sự Thật để Chia sẻ với Người khác. Chủ đề này cho thấy rõ
vai trò của truyền thông trong đời sống cá nhân và xã hội.”
[4]
Nhưng thực tế, truyền thông có tìm kiếm Sự Thật để phục vụ nhu cầu đích
thực của con người không ?
Nếu cứ ồn ào chạy theo thị hiếu và lợi
nhuận, truyền thông sẽ đánh mất mục tiêu và trở thành một phương tiện
phá hoại cuộc sống con người và xã hội. “Thật thế, nói chung, truyền
thông không những là những phương tiện quảng bá tư tưởng, nhưng có thể
và nên là những phương tiện phục vụ cho một thế giới công bình và liên
đới hơn. Tiếc thay, truyền thông đang có nguy cơ biến thành các hệ thống
nhằm bắt nhân loại phải làm những việc do những sở thích ngày nay áp chế.
Hiện tại người ta đang xử dụng truyền thông cho những mục tiêu ý thức hệ
hay để quảng các các sản phẩm tiêu thụ.”[5]
Chính vì thế, nhiều quyền lợi chính đáng và cần thiết cho cuộc sống bị
lãng quên và sự rạn nứt giữa cộng đồng nhân loại ngày càng mở rộng.
Ðể cứu vãn tình thế, trước hết nên nhớ
“tin tức do truyền thông cung cấp phải phục vụ công ích. Xã hội có quyền
đòi hỏi tin tức dựa trên sự thật, tự do, công lý và liên đới.”[6]
Xem thế, muốn có khả năng làm truyền thông, ngoài phần kỹ thuật, các nhà
chuyên môn cần phải có lương tâm và trách nhiệm. Càng chạy theo
lợi nhuận hay theo các khuynh hướng xã hội, càng lạc xa chân lý. Không
thể nào nói sự thật dưới một cơ chế đàn áp nhân quyền. Khi hoàn toàn nằm
trong tay tài phiệt hay độc tài, các phương tiện truyền thông có thể
loan truyền sự thật trái với quyền lợi của họ được không ? Kết quả con
người lâm vào tình trạng ấu trĩ và xã hội không thể phát triển. “Vấn đề
chủ yếu là xem hệ thống thông tin hiện thời có góp phần thăng tiến con
người không. Nghĩa là, liệu hệ thống đó có làm cho dân chúng trưởng
thành về tinh thần, ý thức hơn về nhân phẩm, trách nhiệm hay cởi mở hơn
với tha nhân, đặc biệt với những người nghèo đói và yếu kém nhất không
?”[7]
Như thế, rõ ràng con người phải là đối tượng cho truyền thông phục vụ.
Nếu gạt con người sang một bên, tất cả cơ chế và phương tiện đều trở
thành vô nghĩa và vô ích.
Nơi đâu có con người, truyền thông đều có
mặt. “Thực vậy, không có một lãnh vực nào trong đời sống con người, nhất
là giữa hiện tượng toàn cầu hóa rộng lớn hôm nay, mà truyền thông không
góp phần làm hoàn hảo các mối liên hệ giữa con người và tăng triển các
lãnh vực xã hội, kinh tế, chính trị và tôn giáo. Ðặc biệt, vì có tiềm
năng giáo dục, các phương tiện truyền thông xã hội có một trách nhiệm
đặc biệt trong việc cổ võ lòng tôn trọng gia đình, làm sáng tỏ các ước
vọng và quyền lợi, và trình bày tất cả nét đẹp của gia đình.”[8]
Phạm vi phục vụ của truyền thông thật rộng lớn.
Như Chúa Kitô, những người làm truyền
thông được sai đi để “phục vụ con người và công ích, đào tạo tinh thần
con người … tăng trưởng nội tâm con người. Phải nhìn nhận tầm ảnh hưởng
của truyền thông trên đời sống cá nhân và xã hội. Hiện nay, càng ngày
không những truyền thông hình như đòi diễn tả thực tại, nhưng còn đòi
quyết định về thực tại đó, vì có khả năng đề xuất ý kiến. Ví dụ, rõ ràng
trong một vài hoàn cảnh, truyền thông được xử dụng không phải để loan
truyền tin tức, nhưng để ‘tạo ra’ các biến cố.”[9]
Làm sao có thể tin tưởng giới truyền thông vô trách nhiệm như vậy ?
Truyền thông đã không đóng đúng vai trò, vì quá lệ thuộc vào những lợi
nhuận hay bị kềm kẹp trong chế độ độc tài. Khi không dám nói lên sự thật,
truyền thông đã đánh mất linh hồn.
“Trong thế giới truyền thông, những khó
khăn nội tại của truyền thông thường bị tồi tệ thêm vì ý thức hệ, lòng
ham lợi nhuận và kiểm soát chính trị, sự cạnh tranh và xung đột giữa các
phe nhóm, và những tai hại về mặt xã hội khác. Các giá trị và các nguyên
tắc đạo đức cũng phải áp dụng vào các phương tiện truyền thông. Một
nguyên tắc đạo đức căn bản luôn áp dụng trong cả ba lãnh vực truyền
thông (sứ điệp, phương pháp và cấu trúc) : cá nhân và cộng đoàn con
ngươi là cứu cánh và tiêu chuẩn đánh giá việc xử dụng truyền thông.
Nguyên tắc thứ hai bổ túc cho nguyên tắc thứ nhất : lợi ích của con
người không thể đạt được nếu tách rời khỏi công ích của cộng đoàn họ
đang sống.”[10]
Khi công ích không được nhắm tới, chắc chắn truyền thông chỉ còn là công
cụ để đàn áp con người và bảo vệ chế độ mà thôi.
Truyền thông đang cố sức bịt mắt, bịt tai
người dân trước những vấn đề liên quan tới vận mệnh đất nước, như vụ
Trường Sa, Hoàng Sa v.v. Thay vì giải thoát, truyền thông cố tình giam
hãm con người trong sự sợ hãi và u mê. Kết quả cuộc sống ngày càng ngộp
thở. Căng thẳng đủ mặt, nhất là về kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn
giáo v.v. Hiện nay, qua những phương tiện truyền thông, nhiều người hô
hào quên đi những chuyện chính trị để hòa hợp và hòa giải dân tộc. Nhưng
chính khi hô hào quên những chuyện chính trị cũng là một lựa chọn chính
trị rồi.
Muốn phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy, truyền
thông cần phải có một thái độ trung thực và tìm lại cho mình một linh
hồn. Linh hồn ấy các nhà truyền thông có thể tìm thấy, khi nhìn vào cộng
đoàn truyền thông Chúa đã thiết lập trong ngày lễ Ngũ Tuần. Từ đó, họ có
thể rút ra những bài học cần thiết cho sứ mệnh đặc biệt của mình giữa
cộng đồng nhân loại và dân tộc.
SỨ MỆNH PHỤC SINH
Sau khi Chúa chịu khổ hình,
cộng đoàn Tông đồ tan tác. Dù có tụ hội một nơi, tinh thần các ông cũng
chưa ổn định và còn đầy sợ hãi (x.Ga 20:19). Sinh khí đã lụn bại. Tinh
thần đã chết. Bởi thế, sau khi phục sinh, Chúa đã tìm mọi cách để phục
hồi tinh thần của các tông đồ để họ rao truyền sứ điệp Tin Mừng cho muôn
dân. Ðó là một cộng đoàn truyền thông đầu tiên Chúa thiết lập để chinh
phục các linh hồn.
Ðể có thể lên đường thi hành
nhiệm vụ truyền thông Tin Mừng khắp nơi, trước tiên họ cần phải tìm lại
được sự bình an trong tâm hồn và xác tín về nội dung Tin Mừng. Bởi đó,
sau phục sinh, lần nào hiện ra với các tông đồ, Chúa cũng cầu chúc :
“Bình an cho anh em !” (Ga 20:19, 21) Khi đã thắng vượt được sự sợ hãi
và xác tín sự kiện Chúa Phục sinh, họ mới có thể đón nhận Thần Khí và sứ
mệnh giải thoát nhân loại (x. Ga 20: 19-22). Họ đã hoàn thành sứ mệnh và
để lại một mẫu gương truyền thông tuyệt vời cho hậu thế.
Quả thực, muốn thi hành sứ
mệnh của mình, truyền thông cũng cần thắng vượt sự sợ hãi và phải xác
tín về vai trò của mình giữa nhân loại. Bao lâu còn bị kìm kẹp, truyền
thông không thể nói lên điều trung thực. Nếu chỉ là cái loa phóng thanh,
truyền thông không có nghĩa gì cả. Truyền thông luôn mang tính con người,
chứ không chỉ là bộ máy vô hồn hay chỉ là phương tiện thuần túy. Nếu chỉ
là phương tiện, truyền thông dễ biến thành công cụ đàn áp và phá hoại.
Không còn gì phi lý và trơ
trẽn hơn loại truyền thông vô hồn như thế. Một sư kiện điển hình vừa xảy
ra tại Việt Nam. “Công việc
đưa tin buổi lễ rước đuốc Olympics Bắc Kinh tại Sài Gòn ngày 29 tháng Tư
vừa qua là một ví dụ về sự kiểm soát báo chí Việt Nam. Gần như không một
tờ báo nào của Việt Nam đưa tin về việc rước đuốc. Rồi bỗng nhiên, đến
ngày 29 tháng Tư, tất cả các báo cùng đưa tin, với nội dung và mức độ
gần như giống hệt nhau. Cũng trong ngày hôm đó, tại Hà Nội, một số người
Việt Nam tổ chức biểu tình chống Trung Quốc. Họ bị bắt, bị đánh đập,
nhưng không hề thấy báo chí lên tiếng.”[11]
Truyền thông như thế còn có nghĩa gì không ? Sứ mệnh truyền thông là gì
trong chế độ độc tài đảng trị ? Truyền thông chỉ còn là công cụ đàn áp
chứ không thể giải thoát con người. Truyền thông không phải là tiếng nói
của con người nữa !
Ðiểm chung của các nhà độc tài là tìm mọi
cách ngăn cản người dân tiếp xúc với những nguồn thông tin khác nhau.
Càng bưng bít tin tức, chế độ càng bền vững.
“Tổ chức Freedom House vừa công bố bản
phúc trình thường niên về tự do báo chí trên toàn thế giới năm 2007.
Nhận định chung là mức độ tự do báo chí toàn cầu giảm dần trong 6 năm
liền. Theo phúc trình này, Việt Nam xếp hạng 178 trên 195 quốc gia được
khảo sát, và thuộc vào nhóm ‘không có tự do.’ Trong khu vực Châu Á Thái
Bình Dương với 40 quốc gia, Tân Tây Lan được xếp đầu bảng và Bắc Hàn xếp
cuối bảng. Việt Nam thuộc nhóm “không có tự do,” đứng hàng thứ 36, ngay
trên nước Lào và dưới Brunei.”[12]
Không biết căn cứ vào đâu, Việt Nam còn đứng trên một vài nước về tự do
báo chí ?! Lạ nhỉ !
Tóm lại, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã
đến đem bình an và Thần Khí cho các tông đồ. Tới ngày Chúa Thánh Thần
hiện xuống, Chúa đã ban cho ông tất cả sức mạnh cần thiết để loan báo
Tin Mừng và làm chứng cho Chúa Phục sinh. Các tông đồ đã hoàn thành sứ
mệnh cao cả và hy sinh cả tính mạng để rao truyền Tin Mừng cho muôn dân.
Các ngài đã phải trả một giá rất mắc để lưu lại cho hậu thế tấm gương
lớn cho những ai đang lãnh trách nhiệm truyền thông, nhất là truyền
thông Lời Chúa trong Giáo hội.
Lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho giới
truyền thông hôm nay để họ dám nói lên sự thật cho nhân loại được giải
thoát và tự do. Amen.
đỗ lực 11.05.2008
[1]
Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh Thánh Tân Ước :
Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:528.
[6]
Giáo Lý Công Giáo, 2494; x. Công Ðồng Vatican II, Hiến Chế
InterMirifica, 11: AAS 56(1964), 148-9.
[7]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 415.
[10]
Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 416.
Lm. Jude Siciliano, OP (Anh
Em Nhà Học Đaminh chuyển ngữ.)
Đón
lấy ngọn lửa và sức sống mới của Thánh Thần
Ga 20: 19-23
Thưa quý vị,
Khi tôi còn nhỏ tôi là một hướng đạo sinh.
Những đứa trẻ thành thị chúng tôi thường gói gém hành trang lên đường đi
đến đất trại ngay bên ngoài ranh giới của thành phố. (Một trong những
buổi cắm trại đó là trên Đảo Staten, bên trong ranh giới của thành phố.
Hãy tưởng tượng đến cảnh cắm trại trong những khu rừng của thành phố New
York!) Một trong những đặc trưng của những chuyến đi cuối tuần là đêm
lửa trại vào tối thứ Bảy. Chúng tôi luôn đốt một đống lửa sáng rực và
khoảng 20 – 30 hướng đạo sinh cùng với huynh trưởng ngồi thật khuya
quanh đống lửa cho đến khi chỉ còn những mẩu than hồng sót lại. Chúng
tôi nói về các nhóm lửa trại đó trên đường về và vài tuần kế tiếp vẫn
còn nhắc đến chúng.
Chúng tôi nhắc lại câu chuyện của huyng
trưởng kể về Jesse Owens, một ngôi sao của điền kinh Olympic và những
tranh đấu của anh chống lại việc phân biệt chủng tộc. Chúng tôi có thể
tập hát cho những ai đã không thể cùng hiện diện với chúng tôi. Chúng
tôi cũng có thể giúp các bạn ấy cách thắt nút dây mà chúng mà chúng tôi
mới học được, và chỉ cho chúng biết cách làm thế nào để bắt đầu buổi lửa
trại khi trời bỗng đổ mưa… Dĩ nhiên, trừ ngọn lửa trại ấy (!), còn lại
những việc khác chúng ta vẫn có thể thực hiện trong buổi họp mặt hàng
tuần dưới tầng hầm của nhà thờ, nhưng quả thật vẫn có cái gì đó đặc biệt
về ngọn lửa trong rừng cũng như bầu khí mà ngọn lửa chúng ta ngồi quanh
ấy tạo ra.
Có lẽ đó là lý do trong những đêm giá
lạnh người ta thắp lên ngọn lửa trong lò sưởi, không chỉ để sưởi ấm mà
còn là chính vì bầu khí mà chính ngọn lửa tạo nên. Và cũng có thể vì thế
mà lửa là một trong những biểu tượng chính yếu của Thánh Thần trong ngày
lễ Hiện Xuống cũng như trong Sách Thánh. Ơn huệ của Thánh Thần quy tụ
chúng ta lại thành một Giáo hội, giống như ngọn lửa trại quy tụ các
hướng đạo sinh chúng tôi. Không có Thánh Thần, các môn đệ bị phân tán và
sợ hãi, giống như hai môn đệ trên đường Em-mau. Hoặc như họ có thể ở
cùng nhau nhưng trốn trong căn phòng đóng kín các cửa vì sợ. Thật khó có
thể là một cộng đoàn ra đi thi hành sứ vụ như Đức Giêsu đã mường tượng
ra mà lại khép kín và sợ hãi.
Theo Công vụ Tông đồ, Hiện Xuống bắt đầu
bằng lửa với các môn đệ đang ở cùng nhau. Đó mới là biểu tượng cho quy
tụ của các môn đệ Đức Giêsu, vì lửa làm ấm lên, thêm sức lực, thanh tẩy
và chiếu sáng. Đó chỉ là một ít trong số những gì lửa Thánh Thần có thể
làm được, không chỉ ngày ấy mà ngay cả bây giờ. Giáo chức trong Giáo hội
và cả cộng đoàn phụng vụ của chúng ta ngày nay cũng có thể hưởng dùng
không chỉ một vài mà tất cả những ân huệ của Thánh Thần. Trong Giáo hội
sơ khai, cũng như hôm nay, vẫn có đó những bất đồng, ngờ vực, bảo thủ,
tội lỗi và sợ hãi, …
Lễ Phục Sinh và Giáng Sinh thì hoành
tráng và hào hứng hơn là Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, đặc biệt là đối
với các bạn trẻ. Dịp Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống ta không thấy có
những trang hoàng trong nhà thờ, ngoài đường phố hay trong các cửa hiệu
như hai dịp lễ Phục Sinh và Giáng Sinh. Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
không làm cho các em nhỏ hào hứng, mà có lẽ cả người lớn cũng chẳng mấy
hứng thú gì. Làm gì có những món quà trao tay, các bữa ăn gia đình hay
tiệc tùng ở công ty, trường học? Việc tham dự thánh lễ ở nhà thờ này
không làm cho Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống nổi bật lên như hai dịp lễ
kia. Trong thế giới trần tục, nhất là trong nền công nghiệp quảng cáo,
người ta bỏ qua Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Họ có thể bán gì cho
chúng ta đây? Hầu hết mọi người ngồi trong nhà thờ hôm nay có thể cũng
nghĩ Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống chỉ như bất kỳ Thánh lễ Chúa Nhật nào
khác trong năm thôi, chẳng hơn kém gì.
Quá tệ phải không! Vì Lễ Chúa Thánh Thần
Hiện Xuống là mừng năng lực, sức mạnh và sự hiện diện của Thiên Chúa,
Đấng ban sự sống cho Giáo hội và cho cả đời sống tinh thần của chúng ta
nữa. Có lẽ sự thiếu vắng những dây kim tuyến lấp lánh của Lễ Giáng Sinh
hay việc săn trứng Phục Sinh có thể giúp nhấn mạnh hơn những gì chúng ta
cử hành hôm nay: sự hiện diện sinh động của Thánh Thần Chúa giữa chúng
ta. Cứ bình tĩnh, chúng ta có thể thấy được dấu hiệu của Thánh Thần vẫn
đang hiện hữu sống động giữa chúng ta.
Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, từ “Ruah” được
dùng để nói về Thánh Thần, quả không dễ gì dịch qua tiếng Anh hay tiếng
Việt. Đôi khi nó có nghĩa là gió, là hơi thở, thần linh,… Nhưng từ những
dòng mở đầu của Sách Thánh bản Hi-pri, sự hiện diện của Thánh Thần đã
rất rõ ràng và giữ vai trò then chốt. Thánh Thần hiện diện ngay chương
đầu của Sáng Thế Ký, bay lượn trên cái hỗn mang thuở ban đầu. Việc sáng
tạo nên con người được mô tả khi Đức Chúa thổi vào cục đất sét hơi thở
của sự sống và con người bắt đầu sinh động. Khi những người một nào đó
được kêu gọi đi thi hành sứ vụ, chẳng hạn như Môi-sê, thì cũng được ban
Thần Khí của Chúa. Thần Khí được đổ tràn trên các ngôn sứ để đốt lên
trong họ nhiệt tâm vì Thiên Chúa và Lời Chúa. Ngay giây phút thụ thai,
Đức Giêsu đã được đổ tràn Thần Khí. Trong suốt cuộc đời của Người, chúng
ta thấy được dấu hiệu sức mạnh của của Thần Khí hiện diện trong việc
chữa lành và rao giảng của Người. Toàn bộ sách Công vụ Tông đồ tỏ bày
cho chúng ta biết về thành quả của sự hiện diện của Thần Khí giữa các
tín hữu đầu tiên. Hôm nay, chúng ta mừng kính, cử hành hồng ân của Thần
Khí dành cho các môn đệ của Người – như Người đã hứa với họ. Cho đến
ngày nay, Thiên Chúa không ngừng thổi hơi vào cục đất sét và ban cho nó
sự sống.
Trong trình thuật của Tin mừng, Đức Giêsu
đi bước vào trong căn phòng bị khóa kín nơi các mộn đệ sợ sệt đang tụ
họp. Người thổi hơi trên các ông, nói lời chúc bình an và hòa giải với
các ông như một sự đảm bảo chắc chắn rằng các ông đã được hòa giải và
vẫn ở trong tương quan tốt đẹp với Người. Rồi Người sai các ông mang
bình an và ơn tha thứ đến với những người khác. Nhưng các ông biết rõ là
tự mình không thể làm được điều này, vì các ông vẫn chỉ là cục đất sét.
Vì thế, trong Tin mừng Gio-an, nếu như Chúa thổi hơi vào cục đất sét
trong Sách Sáng Thế và làm cho con người đầu tiên nhận được hơi thở sự
sống thế nào thì Đức Giêsu thổi hơi trên các môn đệ của Người cũng giúp
họ có thể thực hiện những gì mà tự sức mình con người không thể làm
được. Đất sét là Giáo hội thời đầu đã nhận được hơi thở của Thiên Chúa
và trở nên một Giáo hội sinh động với nhiệt tâm rao giảng Đức Giêsu bằng
mọi thứ ngôn ngữ trên thế giới! Ai mà có thể ngờ được các môn đệ được
Đức Giêsu thổi Thần Khí của người trên họ lại có một đời sống mới như
thế!
Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức,
chúng ta được ban cho cũng một Thần Khí ấy. Chúng ta không lãnh một
lượng Thần Khí ít hơn, như thể các môn đệ ở trong căn phòng trên lầu đã
lãnh “đồ thật” còn chúng ta thì lãnh cái gì khác, một phiên bản đổ nước.
Những khốn khó mà chúng ta đón nhận để trung thành làm chứng cho Đức
Giêsu và Tin mừng của Ngưới thì cũng khủng khiếp không kém hơn nơi các
môn đệ, những người đã rời căn phòng khi đã lãnh nhận hơi thở của Chúa
và bước ra làm chứng với đám đông dân chúng đang quy tụ ở đó vì “tiếng
động như tiếng gió mạnh”.
Đám đông bị thu hút bởi sự náo nhiệt đó
thuộc nhiều thành phần khác nhau: dân địa phương cũng có và cả những
người từ phương xa đến; kẻ phú gia cũng như hạng cơ bần; người gốc Do-thái
giáo cũng như người mới cải đạo. Trong trình thuật ở Công vụ Tông đồ,
thánh Lu-ca đã làm sáng tỏ rằng chướng ngại cũ của những phân biệt, chia
rẽ bắt đầu sụp đổ. Sự hỗn độn của tháp Babel nay được đảo lại, và với ân
huệ của Thần Khí cho tất cả mọi người, bình minh của một thời đại mới đã
ló dạng. Một giáo xứ ở phía Nam có treo một biển báo ở lối ra của bãi
đậu xe. Biển báo quay về hướng các giáo dân đang chuẩn bị lăn bánh. Trên
đó viết rằng: “Bạn đang tiến vào sứ vụ của miền”.
Điều đó khiến bạn muốn ở lại trong nhà
thờ, đúng không? Ngoài kia là cả một thế giới rộng lớn đáng sợ. Và nó
cũng đủ để kiểm chứng sự dấn thân của chúng ta cho Đức Kitô trong những
cách thức tài tình và chu đáo. Tại sao lại không cắm trại ngay bãi đậu
xe hay trong hành lang của nhà thờ ấm cúng và an toàn? Chúng ta không
thể làm thế, vì chúng ta có một hơi thở mới trong mình. Đó chính là hơi
thở của riêng Đức Kitô đã đưa Người vào trong trần gian để thi hành sứ
vụ. Nó không miễn cho Người khỏi phải mệt mỏi, đau đớn, và bị chửi rủa
cũng như phê phán. Chúng ta cũng đừng mong mình chịu đựng ít hơn thế vì
chưng chúng ta cũng có những gì Người đã có – hơi thở và ngọn lửa của
Thánh Thần.
Trong Công vụ Tông đồ, thánh Phao-lô và
thánh Gio-an cho chúng ta biết về những hình dáng đầu tiên của Thánh
Thần. Nhưng, trừ khi chúng ta có những câu chuyện hiện đại để kể, Thánh
Thần là thì quá khứ, chỉ là một kỷ niệm từ một “thì đơn giản hơn” trong
đời sống Giáo hội. Liệu chúng ta có thể nghĩ đến những câu chuyện hiện
đại của những người bình dân tỏ ra cho thấy dấu hiệu của việc đón nhận
hơi thở của sự sống của Thần Khí hay không? Một nữ tu 75 tuổi mở một nơi
cư trú cho những gia đình bị ngược đãi; một người mẹ đơn thân nuôi nấng
hai đứa con của mình, vậy mà vẫn tình nguyện nấu cơm cho nhà xứ; một cha
xứ luôn sẵn sàng giảng cho chúng ta; thanh thiếu niên và cha mẹ của
chúng tham gia hát trong ca đoàn; các sinh viên hy sinh kỳ nghỉ Lễ Phục
Sinh của mình để đi giúp sửa lại những ngôi nhà ở Appalachia; Huynh
Trưởng Hướng Đạo dành thời gian rảnh rỗi để đi cắm trại với giới trẻ của
giáo xứ, một chủ doanh nghiệp nhỏ đảm bảo các công nhân của mình làm
việc an toàn và được bảo hiểm sức khỏe, dù chị phải chi trả đến cạn vốn,…
Đó, quý vị đã thấy chưa.
Chúng ta cũng cần phải dùng đúng về văn
phạm: Thánh Thần không chỉ là thì quá khứ nhưng cũng là thì hiện tại nữa.
Về toán học cũng cần chính xác: Thánh Thần của Tân Ước cũng bằng với
Thánh Thần của thời đại và những hoàn cảnh hiện nay của chúng ta. Về mặt
màu sắc: Thánh Thần không thuộc về duy một sắc tộc nào, nhưng là cho mọi
màu da. Về ngôn ngữ: Thánh Thần không chỉ nói một thứ tiếng nhưng nhiều
ngôn ngữ khác nhau. Về nơi chốn chúng ta cũng phải chắc chắn: Thánh Thần
không chỉ thuộc về nơi nằm phía sau cánh của bị đóng kín, nhưng còn ào
ra khắp thế giới. Nếu Thánh Thần không bị giới hạn, vậy làm sao chúng ta
có thể biết Thánh Thần đang hiện hữu nơi nào? Hãy giữ cho đôi tai và cặp
mắt luôn mở rộng để đón ngọn lửa và hơi thở của sức sống mới.
Lm.
Jude Siciliano, O.P.
Anh em hãy tha thứ cho
nhau
Cv
2,1-11; 1Cor 12,3b -7, 12-13; Ga 20,19-23
Kính thưa quý vị,
Trong lớp triết học của một trường cao
đẳng nọ, vấn đề được đưa ra bàn luận như sau: “Điều gì giúp phân biệt
con người chúng ta với các loài động vật?” Một sinh viên đưa ra câu trả
lời khá quen thuộc rằng con người có khả năng chế tạo công cụ. Đó là câu
trả lời tôi đã nghe được trong một lớp học tương tự khi ở trường cao
đẳng. Tuy nhiên cách đây vài tuần, tôi xem phim tài liệu nói về loài
tinh tinh. Con tinh tinh lấy cọng rơm dài như chiếc que, chọc xuống tổ
kiến rồi kéo ra. Những con kiến bu kín cọng rơm, thế là tinh tinh bắt
đầu ăn. Theo tôi, xem ra tinh tinh đã tạo ra một công cụ khá ích lợi.
Một số học viên khác cho rằng điều phân
biệt chúng ta với những động vật khác là chúng ta biết cười. Trang bìa
của tạp chí “New Yorker” cho thấy những hành khách đang xếp hành lý vào
khoang trên của một chiếc máy bay. Một hành khách đang nhét cả chiếc xe
hơi vào khoang đó! Quý vị thử nghĩ xem điều tôi muốn nói là gì? Tôi
không nghĩ rằng con tinh tinh có thể hiểu được điều đó.
Tôi xin nhường vấn đề đó cho các triết
gia để họ kết luận xem điều gì giúp phân biệt con người chúng ta với các
loài động vật. Tuy nhiên, ngoài việc biết cười, tôi cho rằng con người
còn có khả năng bị tổn thương, đồng thời gây ra tổn thương. Không chỉ
gây ra những đau đớn thể xác mà còn gây ra những nỗi đau tinh thần kéo
dài sau khi vết thương bên ngoài đã lành. Chúng ta có những ký ức về
hạnh phúc và những khoảnh khắc vui sướng.
Tuy nhiên, chúng ta cũng có những ký ức
về những tổn thương người khác gây ra cho chúng ta. Nhiều người trong số
chúng ta đã chịu đựng cơn bạo hành thể xác. Có những người đã dùng lời
nói chửi mắng chúng ta, nhất là những lời nói gây nên muộn phiền khi
những lời ấy xuất phát từ người trước đây đã từng nói với chúng ta rằng:
“Tôi yêu mến bạn”. Thử hỏi một luật sư chuyên về vấn đề ly hôn xem cô ấy
đã nghe được gì giữa hai người trước kia đã từng nói với nhau “anh yêu
em” và “em yêu anh”.
Thế gian cũng không tử tế với chúng ta.
Nó đòi chúng ta cạnh tranh và “phải thắng” trong những cuộc tranh luận,
thi đấu và công việc. Như ông Vince Lombardi từng nói: “Chiến thắng
không phải là điều quan trọng bậc nhất, nó là điều duy nhất.” Đó là bài
học không cần phải được lặp lại cho những ai đã từng thường xuyên biết
đến nó trong cuộc sống. Thử hỏi xem những “bài học” như thế đã gây ảnh
hưởng đau đớn nào trên chúng ta? Thái độ đó đã làm nên một phần các mối
tương quan và gặp gỡ hằng ngày của chúng ta với người khác ở mức độ nào?
Và những tổn thương do nó gây ra là gì?
Thế gian cũng dạy chúng ta biết những
tiêu chuẩn về cái đẹp vốn ảnh hưởng đến cách thức chúng ta quan sát
người khác và quan sát bản thân mình. Tu viện Dòng Đa Minh chúng tôi nằm
ngay cạnh trường đại học và tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu trong số
những sinh viên tham dự Thánh lễ hằng ngày trong tu viện này bị quấy
nhiễu bởi thông tin từ phương tiện truyền thông, gia đình và bạn bè là
làm sao để có một trọng lượng lý tưởng? Điều đó gây tổn thương đến hình
ảnh tự thân của họ như thế nào?
Là con người nghĩa là chúng ta có thể
cười với một câu chuyện tiếu lâm; nhưng chúng ta cũng có một điểm chung
là “chia sẻ những giọt nước mắt”. Đang khi tiếng cười có thể lôi kéo
chúng ta đến với nhau bên bánh pizza và bia, thì những nỗi đau lại có
thể khiến chúng ta tự giam mình sau cánh cửa đóng kín.
Cộng đoàn trong bài Tin Mừng hôm nay biết
được những tổn thương của mình. Trong lúc họ đang ở chín tầng mây cao,
bởi họ là những người đồng hành thân thiết nhất với một nhà giảng thuyết
lôi cuốn, một lương y tài ba. Đấng mà họ tin hẳn phải là Vua Israel, là
Đấng Mêsia. Nhưng rồi, họ chứng kiến những đau thương đã đánh bại Người
và làm tiêu tan mọi hy vọng và ước mơ của họ – những đau thương đã quật
ngã cả họ nữa. Còn có những đau thương khác như: ký ức về sự phản bội
của họ đối với Đấng họ từng nói là sẽ đi theo suốt đời. Những lời hứa và
những bội ước.
Có một điều họ luôn ghi nhớ, điều Đức
Giêsu đã làm cho họ và dạy bảo họ. Người lập nên một cộng đoàn quy tụ
quanh Người và Người chia sẻ với họ một viễn kiến. Vì thế, những cá nhân
bị thương tổn và đầy đau đớn này đã xích lại gần nhau và thành một cộng
đoàn – một cộng đoàn gồm những người đang còn sợ hãi và khép kín. Nhưng
dẫu sao đó là một cộng đoàn! Chính trong cộng đoàn này, Đức Giêsu đã đến,
mang theo những lời tha thứ và chữa lành: “Shalom”, nghĩa là “Bình an
cho anh em”.
Trong các sách Tin Mừng, khi Đức Giêsu
ban bình an, đó không chỉ là một lời chào bình thường. Không phải là lời
chào của dân híppi vào thập niên 60: “chào bình an.” (peace man!) Lời
của Đức Kitô nói ra thì sinh kết quả. Đó là lời tha thứ, chữa lành, hợp
nhất và phục hồi. Khi cho họ xem những vết thương, Người khai mở cho họ
nhận ra điều ấy. Trong câu chuyện hậu phục sinh này, Người không xin
bánh hay cá. Người không cần phải ăn uống để thuyết phục họ, mà chỉ cần
chỉ cho họ các vết thương. Như vậy đã đủ để thuyết phục họ và cả chúng
ta nữa.
Những thương tích của Người cho chúng ta
thấy rằng Thiên Chúa ở với chúng ta mọi ngày, chứ không chỉ viếng thăm
chúng ta chốc lát để chia sẻ một bữa ăn và trò chuyện thân mật. Thiên
Chúa ở với chúng ta theo mọi cách thức: Người biết được cái chết của
người thân chúng ta, nếm trải những bội ước và cam chịu những tổn thương.
Đó là những vết thương gây nhiều đau đớn, nhưng Người đã chiến thắng.
Trình thuật Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rằng Đức Giêsu đã không
quên những vết thương của Người và không quên những vết thương của chúng
ta.
Hôm nay, chúng ta quy tụ nơi đây thành
một cộng đoàn. Chúng ta mang theo mình những phần thương tích, không chỉ
của chúng ta mà còn là những vết thương của những người chúng ta yêu mến.
Cũng chính nơi đây, chúng ta mang theo những vết thương của cả thế giới:
nghĩ đến những người tỵ nạn Syria, những nữ sinh Nigiêria bị bắt cóc,
hàng triệu trẻ em mồ côi ở châu Phi bị Sida, những người nghiện ma tuý
và các bậc cha mẹ của họ đang đau khổ ở quê hương chúng ta. Chúng ta
chia sẻ những nỗi đau của họ và đồng cảm với họ.
Thật là điều an ủi khi biết rằng Đức
Giêsu đã chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều. Nhưng còn hơn thế nữa –
Người thổi Thần Khí của Người vào chúng ta. Hãy xem điều gì xảy ra tiếp
theo trong buổi lễ của chúng ta hôm nay. Chúng ta sẽ đặt những của lễ
trên bàn thờ. Những của lễ tượng trưng cho chúng ta. Hãy quan sát khi
chúng ta khẩn cầu Chúa Thánh Thần ngự đến trên những lễ vật và biến đổi
những của lễ ấy. Chúng ta cũng cầu khẩn Thánh Thần thổi hơi ban ơn chữa
lành và tha thứ cho chúng ta. Chữa lành vì chúng ta đã bị tổn thương.
Tha thứ vì chúng ta đã làm tổn thương người khác bằng lời nói và hành
động của mình. Chúng ta cũng cầu xin hơi thở mới của Thánh Thần giúp
chúng ta dần biết tha thứ cho người khác. “Anh em tha tội cho ai thì
người ấy được tha…”
Một người đàn ông trong giáo xứ nơi tôi
thuyết giảng ở tiểu bang Massachusetts nói rằng: “Tôi kìm ném sự oán hận
đối với người anh trai và tôi nghĩ rằng làm như thế là chính đáng bởi
những gì anh ấy đã gây ra cho tôi. Tôi cảm thấy mình mạnh mẽ hơn anh ấy.
Thế nhưng, tôi nhận ra rằng việc không tha thứ cho anh ấy không chỉ gây
trở ngại cho anh ấy, mà còn gây trở ngại cho chính tôi nữa. Vì thế, tôi
dành thời gian để tĩnh tâm và trong cuộc tĩnh tâm đó, tận đáy lòng tôi
đã tha thứ cho anh ấy rồi. Sau khi trở về nhà, rốt cuộc tôi đã nói với
anh điều đó và cảm thấy mình được giải thoát. Thật tuyệt vời khi khiến
cho anh tôi trở lại.” “Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.”
Giờ đây, tha thứ không xảy ra chỉ vì
người đàn ông đó nghiến răng và kiên quyết thực hiện sự tha thứ ấy. Đúng
hơn, tha thứ chính là điều bài Tin Mừng hôm nay diễn tả. Trước hết, với
những vết thương của mình, Đức Giêsu đến với người đàn ông đó, vốn đang
tự giam hãm mình. Đức Giêsu nói với anh ta rằng: “Bình an cho anh.” Rồi
Người thổi hơi vào người đàn ông đang tự giam hãm mình và ban cho anh ân
sủng của Chúa Thánh Thần, tựa như ân sủng các môn đệ đã lãnh nhận khi
Đức Giêsu đến với cộng đoàn đang ẩn náu.
Dường như mang thân phận con người là để
gánh chịu những tổn thương, đồng thời cũng có thể làm tổn thương người
khác. Nhờ Đức Kitô phục sinh, chúng ta được chữa lành khỏi những vết
thương và có khả năng mang lại sự chữa lành qua việc tha thứ cho tha
nhân.
|