| |
Chúa Nhật Chúa
Lên Trời - Năm A
C v 1,1-11 / Ep 1,17-23 / Mt
28,16-20
An Phong op :
Quê Hương Chúng Ta Ở Trên Trời
Như Hạ op :
Biệt ly hay hội ngộ
Fr. Jude
Siciliano, op : Lịch sử nhân loại đã sang trang
Tôma Trần Ngọc Túy op : Nối dài bàn tay cứu độ Chúa
đến mọi người
G. Nguyễn Cao
Luật, op : Ra đi trong lời hứa
Giacôbê Phạm
Văn Phượng op : Sứ mạng rao giảng Tin Mừng
Jos. Nguyễn
Văn Thuần op :
Chúa lên trời, Ngài dọn chỗ cho
chúng ta
Đỗ Lực op : Anh Đi Về Đâu ?
Fr. Jude Siciliano, op : Lạy Chúa đến bao giờ ?
... Sắp rồi.
Fr. Jude Siciliano,
op:
Hãy
chúc tụng vinh quang Thiên Chúa!
An Phong op
Quê
Hương Chúng Ta Ở Trên Trời
Mt 28,16-20
Phục Sinh và Lên Trời là hai từ
ngữ diễn tả một thực tại : Ðức Giêsu đã chỗi dậy từ giữa những người
chết và được vinh quang bên hữu Thiên Chúa Cha. Sau khi sống lại, Ngài
đã Lên Trời ngự bên hữu Chúa Cha.
Cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời
tức là cử hành "Sự hiện diện theo cách thế mới"
của Chúa Giêsu. Ðức Giêsu về trời nhưng Ngài không bỏ rơi các môn đệ.
Ngài vẫn hiện diện qua Thánh Thần, qua Bí tích Thánh Thể, qua Lời Ngài
và qua biết bao tâm hồn thành tâm thiện ý sống Ðức Tin giữa cuộc đời này
: "Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
Người cất nhắc lên cõi trời muôn
thuở, xác phàm nhân thân cát bụi yếu hèn". Vì "quê hương chúng ta ở trên
trời" (Pl 3,20) nên "anh em hãy tìm kiếm những gì trên cao" nơi Ðức
Giêsu cư ngụ (Cl 3,1).
Con người vốn "đầu đội trời,
chân đạp đất", con người là "nhân linh ư vạn vật". Niềm xác tín chúng ta
"từ trên cao" sẽ làm cho chúng ta trước hết lo tìm kiếm hạnh phúc vĩnh
cửu. Nhưng điều đó không có nghĩa là trốn tránh trần gian này. Trái lại,
chúng ta phải xây dựng một nước trời tại thế đã được khai mở cùng với sứ
vụ cứu độ của Ðức Giêsu; và nước trời đó đang chờ ngày nên viên mãn. "Thiên
Chúa là tất cả trong mọi sự". Ðừng để mình nô lệ cho vật chất, tiền bạc,
danh vọng, thành đạt, mà quên mục tiêu tối hậu của cuộc đời mình là "quê
hương chúng ta ở trên trời".
Phải chăng tôi nhận ra chúa hiện
diện trong cuộc đời cùng với tôi ; và tôi đang đi tìm "quê hương chúng ta
ở trên trời" ?
Lạy Chúa Giêsu,
Cũng như các môn đệ ngày xưa
chúng con tiếc nuối, vì :
không thấy Chúa đi lại,
không nghe thấy Chúa nói.
không thấy bàn tay Chúa can thiệp.
Chúa vắng mặt
và bao lần
chúng con than trách
Chúa như bỏ rơi chúng con
trong những khó khăn của cuộc đời.
Nhưng niềm tin cho chúng con
biết
Chúa vẫn đang hiện diện ở đây
trong tấm bánh nhỏ này,
trong tâm hồn của con,
và trong cuộc đời của con.
Lạy Chúa Giêsu
xin củng cố niềm tin đó nơi chúng con
để chúng con có thể nhận ra
Chúa vẫn đang hiện diện
hiện diện một cách khác
trong từng bước chân
của cuộc đời chúng con".
Như Hạ op
BIỆT LY
HAY HỘI NGỘ ?
Mt 28:16-20
Phúc âm hóa thế giới đang diễn
tiến ra sao ? Ðâu là "quyền lực lớn lao Người đã thi thố" (Ep 1:19)
trong công cuộc Phúc âm hóa thế giới ? Những vấn đề lớn đó sẽ được giải
đáp trong biến cố Chúa thăng thiên hôm nay.
LỜI HỨA.
Cuối cùng "mười một môn đệ đi
tới miền Galilê, đến ngọn núi cao Ðức Giêsu đã truyền cho các ông đến"
(Mt 28:16) để "được cất lên ngay trước mắt các ông và được rước lên trời."
(Cv 1:9.11) Thật là ấm cúng và cảm động, mặc dù cảnh ly biệt diễn ra
giữa trời. Ðức Giêsu "lìa bỏ các ông" (Cv 1:11) để thoát khỏi giới hạn
vật chất và hiện diện sâu xa hơn khắp vũ trụ, nhất là trong tâm hồn tín
hữu. Nhờ quyền lực Thánh Linh, Ðức Giêsu có thể thực hiện lời hứa "Thầy
ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28:20) Sự hiện diện vô cùng
sâu xa và đích thực đó như một bảo đảm vững chắc cho công cuộc Phúc âm
hóa nhân loại.
Bảo đảm đó có thể tìm thấy nơi
quyền lực của Ðức Giêsu phục sinh. Quả thực, "Thầy đã được trao toàn
quyền trên trời dưới đất" (Mt 28:18) sau khi sống lại từ cõi chết. Chính
Chúa Cha đã trao quyền bính của Nước Thiên Chúa vào tay Chúa Con. Không
một quyền lực nào lớn hơn Chúa Cha để có thể lấn át được quyền bính Chúa
Con. Nếu thế, tại sao phải sợ trước những thách đố cuộc đời ? Tại sao
chưa dấn thân vào công cuộc Phúc âm hóa ? Tại sao vẫn coi việc truyền
giáo như công trình cá nhân hay lệ thuộc vào chức tước, tài năng, tiền
bạc ? Công cuộc Phúc âm hóa hoàn toàn lệ thuộc vào một mình Ðấng nắm
trọn quyền bính vũ trụ mà thôi.
Sau khi đã củng cố niềm tin vào
quyền bính độc nhất đó, Ðức Giêsu trao sứ mệnh Phúc âm hóa cho các môn
đệ : "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ." (Mt 28:19) "Hãy
đi" ra khỏi nhà, khỏi cái tôi ích kỷ. "Hãy đi", chứ đừng nằm lì một chỗ
mà hưởng thụ. "Hãy đi" đem Tin Mừng cứu độ đến muôn dân thuộc những nền
văn hóa khác nhau. Phúc âm hóa không biên giới : "Anh em sẽ là chứng
nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho
đến tận cùng trái đất." (Cv 1:8) Phải mở rộng tầm nhìn mới mong Phúc âm
hóa thành công. Tự bản chất, Phúc âm hóa không thể đi đôi với kỳ thị.
Không biên giới nào có thể ngăn cản bước chân người rao giảng Tin Mừng.
Nói khác, Tin Mừng thúc bách người tín hữu ra đi không ngừng. Kitô hữu
là lữ khách suốt đời ra đi đến với mọi người qua con đường Giêsu. Ðó là
một sứ mệnh cao cả, cao cả như sứ mệnh Thày Chí Thánh.
Sứ mệnh đó do chính Thiên Chúa
trực tiếp trao cho tín hữu ngày lãnh bí tích thanh tẩy "nhân danh Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28:19), chứ không nhân danh bất cứ
người nào. Sứ mệnh Kitô hữu có một nguồn gốc vô cùng sâu xa nơi Thiên
Chúa và dựa trên "sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu
dương nơi Ðức Kitô, khi làm cho Ðức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt
ngự bên hữu Người trên trời." (Ep 1:19b-20) Chính nhờ sức mạnh đó, họ
mới có thể "dạy bảo muôn dân tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em."
(Mt 28:20) Sức mạnh đó đang đẩy mạnh công cuộc Phúc âm hóa thế giới, vì
Kitô hữu đã "nên một với Người, nhờ được sống lại như Người" (Rm 6:5) vì
họ đã "nhận được sức mạnh của Thánh Thần" (Cv 1:8) như một hồng ân "Chúa
Cha đã hứa." (Cv 1:4)
Hồng ân vô cùng cao cả đó khiến
họ có thể tham gia vào việc thánh hóa tha nhân vì được chia sẻ thừa tác
vụ linh mục của Ðức Giêsu khi "chịu phép rửa trong Thánh Thần." (Cv 1:5)
Việc thánh hóa đạt tới cao điểm trong thánh lễ. Tham gia vào việc thờ
phượng là làm cho lời Chúa nhập thể vào cộng đoàn và làm chứng cho Chúa.
Nhờ đó, Kitô hữu có quyền thi hành tông vụ để tích cực xây dựng cộng
đoàn Dân Chúa, theo nguồn ơn phục vụ là chính Thánh Linh Thiên Chúa đã
ban cho toàn thể Giáo Hội. Sức mạnh Thánh Thần không ngừng tăng cường sự
hợp tác trong cộng đoàn và làm cho Kitô hữu sống những giá trị Tin Mừng.
Chính vì biết lắng nghe Thánh Linh với tâm tình cầu nguyện trong nội tâm
và đời sống, Kitô hữu ngày càng có tinh thần phục vụ mạnh mẽ hơn. Càng
phục vụ càng chia sẻ vương quyền với Ðức Giêsu. Nhờ đó công cuộc Phúc âm
hóa muôn dân càng mau hoàn thành.
CHIỀU HƯỚNG PHỤC VỤ HÔM NAY.
Quả thực, phục vụ là con đường
đẹp nhất đem Tin Mừng đến cho muôn dân. Chính Ðức Giêsu cũng đã xác nhận
sứ mạng của mình khi nói : "Con Người đến không phải để được người ta
phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."
(Mt 20:28; Mc 9:35; Ga 13:4-15; Rm 5:6-21; Is 53:10-11) Bước theo Thầy
Chí Thánh, Mẹ Têrêsa Calcutta đã hành động "như một mẫu mực Phúc âm hóa,
công bố Tin Mừng bằng việc làm hơn là lời nói." Ðó là lời Ðức TGM Henry
Sebastian D'Souza thuộc giáo phận Calcutta công bố khi hân hoan nhắc lại
thông điệp Instrumentum Laboris. Mẹ Têrêsa đặt nơi mỗi cửa nhà nguyện
của Mẹ những chữ "tôi khát" Ðức Giêsu. Ðây chính là những chữ ngày xưa "đã
gợi hứng cho mẹ rời bỏ Loreto êm ấm mà liều mạng dấn thân vào những
đường phố bất ổn ở Calcutta." Công cuộc dấn thân cho người nghèo đã đáp
ứng cho cơn khát này (Zenit 21/04/ 02). Không thể giả điếc làm ngơ trước
cơn gào thét rát cổ bỏng họng của các Giáo Hội Á Châu. Bao nhiêu dân cư
trên lục địa mênh mông đó đang gào thét trước những cơn đói khát công lý
kinh niên.
Làm giảm cơn đói khát đó, Giáo
Hội sẽ hoàn thành được sứ mệnh Phúc âm hóa lục địa bao la này. Thực vậy,
Ðức TGM Calcutta nói tiếp : "Phúc âm hóa có thể mạnh lên nhờ chứng từ xã
hội, không chỉ dưới hình thức bác ái như Mẹ Têrêsa, nhưng cũng nhờ những
phương pháp phân tích quan trọng. Giáo Hội Á châu phải hành động để
chống nạn mù chữ, yểm trợ quyền phụ nữ, và bảo đảm nền y tế tốt đẹp hơn."
(Zenit 21/4/02) Ðó là những nẻo đường Phúc âm hóa rất thực tế.
Chính Ðức Giêsu đã không ra
ngoài con đường ấy khi công bố Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Noi gương
Thày Chí Thánh, Giáo Hội đang nỗ lực xây dựng "nền văn minh tình thương"
như con đường Phúc âm hóa nhân loại. Nhưng làm sao có thể hoàn thành
công cuộc lớn lao đó, nếu các Giáo Hội đàn anh Âu Mỹ cứ ngủ yên trước
những gào thét công lý và hòa bình của các Giáo Hội đàn em nghèo đói ?
Bởi thế, Ðức TGM Calcutta "kêu gọi các Giáo Hội đàn anh hãy đề cao trách
nhiệm của mình tại Á châu. Họ cần dấn thân vào việc kiểm soát thương mại
để bảo vệ những nước yếu kém; đề cao khía cạnh nhân bản trong thương mại,
và xóa bỏ hay giảm thiểu những món nợ làm cản trở bước tiến nhiều quốc
gia Á Châu." (Zenit 21/4/02) Ðó là một chiều kích lớn trong nỗ lực Phúc
âm hóa nhân loại.
Mặt khác, khi xâm nhập một lục
địa đa văn hóa và tôn giáo như Á Châu, Giáo Hội chắc chắn gặp nhiều
chống đối từ các tôn giáo lớn như Phật giáo, Ấn Ðộ giáo, Hồi giáo và Do
thái giáo. Ðó là những thách đố lớn lao cho công cuộc Phúc âm hóa. Lớp
áo Tây Phương đã che mất nét hấp dẫn Tin Mừng trước cái nhìn của các dân
tộc Á Châu. "Chúng ta chỉ có thể trao cho Á Châu một sứ điệp khi các anh
em Á Châu thấy những dấu chỉ Thiên Chúa hiện thân thực sự nơi con người
chúng ta," (TGM Daniel Acharuparambil:Zenit 21/4/02) chứ không phải qua
lớp áo Tây Phương xa lạ. Chỉ khi nào tìm thấy chính mình nơi Tin Mừng,
người Á Châu mới đón nhận Chân lý như một sức mạnh giải thoát khỏi những
cơ chế bất công dưới mọi hình thức.
Fr. Jude Siciliano, OP
Lịch sử nhân
loại đã sang trang
Mt 28,16-20
Thưa quý vị.
Khởi đầu bài suy niệm lễ Lên
Trời, xin được đặt một câu hỏi : Giả dụ được làm một trong các môn đệ
đầu tiên của Chúa Giêsu, quý vị sẽ có cảm tưởng ra sao ? Nhìn theo góc
độ bây giờ thì thật là hạnh phúc. Nhưng lúc ấy chưa được như vậy. Nhưng
dầu sao cũng có vài điều phấn khởi. Ðược đi rao giảng đó đây với Chúa,
được nghe Ngài thuyết pháp hùng hồn về giáo lý mới mẻ, chứng kiến các
dấu lạ ngoạn mục, hằng hà sa số đám đông theo sau, hãnh diện vì được
thiên hạ ngưỡng mộ, ghen tị, được Chúa kể vào hàng tâm phúc…
Như thế, ngoại trừ các lần tranh
luận gắt gao với nhóm Pharisêo và Saducêo, còn thì mọi sự khá tốt đẹp.
Trước khi theo Chúa Giêsu họ chỉ là những kẻ vô danh tiểu tốt. Bây giờ
đã có chút danh vọng, là môn đệ của tôn sư Giêsu nổi tiếng. Nếu như
không có chi xảy ra, thì Thày trò chẳng bao lâu sẽ làm nên cơ đồ. Vài
nhóm chính trị quan trọng của đất nước đã đề nghị chọn Thày lãnh đạo các
cuộc nổi dậy lớn. Chí ít 5000 người đàn ông đã tính tôn Ngài làm vua.
Rồi biến cố tiến vào thành thánh Giêrusalem nhân dịp lễ vượt qua, chính
các bàn chân của họ đã giẫm lên những cành lá vinh quang, tai đã được
nghe các lời tung hô : "Vạn vạn tuế con vua Đavid". Họ sắp được làm quan
văn quan võ đến nơi rồi (Mt 20, 24). Và họ đã thực sự tranh giành nhau
ngôi thứ (Mc 9,33).
Nhưng điều gì phải đến đã đến.
Chúa Giêsu bị thế lực đền thờ lùng bắt, lên án nhanh chóng và giết chết,
rồi mai táng trong mồ. Các kẻ đi theo lo sợ, nín thở, mai phục, lẩn
tránh, tìm đường về quê. Mộng mị tan vỡ thành mây khói. Tuy nhiên mấy
ngày sau có tiếng thì thầm bàn tán trong đám môn đệ phụ nữ : Ngài vẫn
còn sống và đã hiện ra với Maria Magdala, Phêrô… Bằng chứng rành rành,
không ai chối cãi được. Lịch sử nhân loại đã lật sang trang mới. Niềm hy
vọng lại bừng lên. Ngài nói đến thiết lập vương quốc Ðức Chúa Trời. Phần
lo, phần mừng, họ chưa hẳn hoàn hồn thì lại chịu đựng một cuộc chia tay
mới. Cuộc chia tay này là vĩnh viễn : Chúa rời bỏ họ để về cùng Chúa Cha
mà Ngài nói cũng là Cha của họ !
Sự việc đổi thay nhanh chóng.
Chẳng hiểu các môn đệ nghĩ gì khi họ đăm đăm nhìn lên trời lúc đám mây
mang Ngài lên không trung ? Tại sao Ngài không ở lại với chúng ta khi
chúng ta cần đến Ngài nhất ? Tại sao Ngài rời bỏ chúng ta khi chúng ta
cần bằng chứng đức tin ? Ai sẽ chỉ bảo chúng ta đường lối phải làm nhân
chứng cho Ngài ! Ai sẽ phân giải khi chúng ta tranh cãi lý thuyết ? Ai
sẽ dạy chúng ta trả lời các vấn nạn của kẻ thù ? chúng ta phải làm gì kế
tiếp ? Chiều nay, ngày mai ? Chúng ta sẽ trở về quê hương sống một cuộc
đời bình thường hay ra đi rao giảng Tin Mừng khắp mọi nẻo đường ? Rao
giảng Tin Mừng làm làm sao ? Tin Mừng nào ?
Ðó có lẽ là những suy tư của các
môn đệ khi họ nhìn lên cao ? Phải cần đến hai người đàn ông vận áo trắng
mới thức tỉnh được họ dậy khỏi những giấc mơ. Hai người này có phải cũng
là hai thiên thần ngồi nơi mồ trống của Chúa Giêsu ? Thế thì sự việc
mang một ý nghĩa tương tự như đưa tin sống lại ? Họ không được mơ mộng
mà phải loan báo sự lên trời của Con Người xác thịt ! Cũng như họ không
thể tìm kẻ sống trong cõi chết ! Cái xem ra là kết thúc thì lại là khởi
đầu của một thực tại mới. Họ xuống núi trở về Giêrusalem. Ngỡ ngàng vì
những điều mình mục kích.
Công việc kế tiếp là
chi ? Họ chưa xác định được câu trả lời thì Thần Khí Ðức Kitô đã dẫn đưa
vào các công tác mới. Sự lên Trời của Chúa không phải là chấm dứt quá
trình sống của Ngài ở trần gian mà là chiếc cầu nối tới việc rao giảng mới
: Nước Thiên Chúa phải được loan truyền khắp mặt đất : "Anh em hãy ra đi
và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thày". Dĩ nhiên họ cảm nhận
tương lai hoàn toàn là bất trắc, chẳng có chi bảo đảm, ngoài những lời hứa
của Ðức Kitô. Thánh Thần chưa được ban xuống. Nhưng họ không hành động một
mình : "Này đây, Thày ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Như thế,
cuộc đời của Chúa Giêsu nơi Thiên Chúa sẽ là nguồn mạch các ơn lành để họ
sinh hoạt.
Họ chờ đợi sức mạnh mới
như lời Chúa Giêsu căn dặn. Thánh Thần sẽ đến, thúc bách họ loan truyền
một thực tại hoàn toàn mới mẻ. Ðức tin Do Thái dạy bảo rằng : Thiên Cung
là nơi Thượng Ðế ngự trị, không ai được bén mảng tới. Elia và Enốc đã được
đưa lên các tầng mây. Nhưng đó là ngoại lệ, thông lệ chưa ai được như vậy
cả. Hôm nay Ðức Kitô đã mở đường thông lệ cho mọi kẻ theo Ngài. Ngài
không chỉ trỗi dậy từ cõi chết mà chủ yếu là được cuộc sống mới nơi
Thiên Chúa. Ðó là hy vọng của nhân loại, để tất cả chúng ta sau này cũng
được như vậy : "Lên trời".
Và bởi vì Chúa Giêsu
hiện hữu nơi Thiên Chúa, là Thiên Chúa, cho nên Ngài có mặt khắp mọi nơi,
trong mọi giây phút và ở với mọi người. Ðó là ý nghĩa lời nói của Ngài :
"Thày ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế". Ngài vắng mặt nhưng thực tế
lại có mặt thật đầy đủ, thật sung mãn như Thiên Chúa ở trong vạn vật vậy.
Cho nên chúng ta hành động không phải là tự thân một mình mà có Chúa
Giêsu cùng hành động với chúng ta, để thực hiện mọi chương trình của Thượng
Ðế, cho thế giới và cho mỗi con người.
Xin đừng bao giờ lãng
quên điều đó. Bởi vì nó quan trọng để chúng ta sống, sinh hoạt như một
Kitô hữu. Chúng ta hành động miệt mài trên thế gian này trong sự cộng
tác với Ngài, thì Ngài ở đâu, mai này chúng ta cũng sẽ ở nơi đó. Bởi vậy,
Ngài sẽ lại đến với Hội Thánh nhưng trong một hình thức khác. Trước hết
Ngài gởi Thánh Thần xuống để tái tạo mọi sự nên mới, mạc khải Thiên Chúa
cho mọi người, thánh hóa mọi người để Chúa Giêsu cai trị mọi tạo vật
trên trời và dưới đất cũng như trong âm phủ. Lễ Thăng Thiên thực sự ban
cho chúng ta hy vọng lớn. Hy vọng vào một vương quốc thánh thiện, vương
quốc của Chúa Giêsu.
Sau khi Ngài đã thăng
thiên, các Tông đồ làm chi ? Sách Công vụ thuật lại vô số việc làm : Rao
giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh tật, thi hành bác ái, thương cảm… nghĩa
là chính những việc Chúa Giêsu đã thực hiện khi còn ở dương gian. Ngày
nay Hội Thánh cũng phải làm những công việc đó, rõ ràng và dứt khoát,
không giả tảng, không hậu ý, nếu muốn còn là hiền thê của Ðấng Cứu thế.
Thật là xấu hổ khi chúng ta lợi dụng Danh Thánh Ngài mà thăng tiến bản
thân, thu tích của cải, tiếng tăm riêng ! Xưa nay đã từng xảy ra như vậy
và còn tiếp tục hoài hoài. Người ta xây cất nhà thờ, đền đài nguy nga lộng
lẫy nhưng lại cố tình bỏ quên những người nghèo khổ, đói khát. Người ta
cố gắng chiếm đoạt quyền cao chức trọng nhưng lại bê trễ bổn phận đối với
những con chiên ghẻ lở. Luân lý lưỡng giá (double morality) đang phổ biến
trong hàng giáo sĩ, giảng giải những điều thánh thiện nhưng lại sống bê
tha, phóng túng ; Nghèo khổ nhưng lại sử dụng xe hơi, nhà lầu sang trọng
nhất. Chắc chắn lối sống đó mâu thuẫn với Tông Ðồ Công vụ, với Phúc âm của
Chúa Thánh Linh. Các Tông đồ vâng theo chỉ thị của Thiên Chúa, can đảm
đón nhận nếp sống thanh đạm, để mọi sự làm của chung, siêng năng cầu
nguyện và hăng say tuyên xưng Chúa Phục sinh. Họ đã học hỏi rất nhiều từ
Chúa Giêsu, được Ngài huấn luyện kỹ lưỡng và nhất là được tiếp xúc thân
tình với Ngài sau khi Ngài trỗi dậy từ cõi chết, những kinh nghiệm ấy
thúc giục họ phải ra tay hành động vì Nước Trời, thay đổi hoàn toàn bộ mặt
thế giới. Với thời gian, họ đã thành công, một đế quốc rộng lớn đã tiếp
nhận đức tin.
Nhưng hiện thời họ phải
học chờ đợi, vì Chúa Thánh Thần chưa được ban xuống. Họ phải sửa soạn
mình để đón nhận ảnh hưởng từ Thiên Chúa đổ trên mình, thay đổi họ từ
nhút nhát đến mạnh bạo, từ ngu dốt đến thông thái, sáng suốt. Thời gian
thăng thiên là thời gian đợi chờ. Nếu không có thời gian này thì các hoạt
động của họ chắc chắn gặp thất bại. Lý do là thiếu sự trợ lực từ Thiên
Chúa. Ðây là một bài học quý giá cho các nhà hoạt động tông đồ. Do kiêu
ngạo, tự ái, do quá hăng hái mà chúng ta quên mất Chúa Thánh Thần, Ðấng
bảo trợ cho mọi thành công. Chúng ta hội họp, cầu nguyện vội vàng qua lần
chiếu lệ để lao vào công việc mà không nhớ rằng chỉ khi nào liên kết với
Thánh Thần thì lúc ấy công việc mới có hiệu quả. Thời gian mẹ Têrêsa
thành Calcutta bỏ ra để cầu nguyện nhiều hơn gấp bội so với thời gian hoạt
động bác ái, đi khắp năm châu bốn bể để lập Dòng Thừa Sai bác ái. Ai dám
nhận định công việc của mẹ không mang hiệu quả?
Cho nên Chúa Giêsu
căn dặn các môn đệ : "Phải chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa mà anh em đã
nghe Thầy nói tới" là chí phải. Chúng ta cần thiết phải vâng theo. Hội
thánh cần thiết phải tuân thủ để có thể trung thành với ơn gọi của mình.
Vội vã huấn luyện các "cán bộ vườn nho", vội vã tung họ vào các cánh đồng
truyền giáo là đi ngược lại với lời căn dặn của Chúa Giêsu. Họ chưa được
sửa soạn chín mùi thì thất bại là điều hiển nhiên. Nói một cách tổng
quát, mọi người bất kỳ ai, luôn phải có tinh thần chờ đợi để lắng nghe
tiếng Chúa phán dạy mỗi ngày, buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều hay trong
đêm tối : "Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe" (1
Sm 3,10). Chỉ khi ấy đời sống thiêng liêng mới có bảo đảm. Bởi vì chỉ
khi ấy chúng ta mới sinh hoạt theo ơn Chúa Thánh Thần : "Lạy Chúa, này
con đây sẵn sàng để thực thi ý Ngài".
Amen. Alleluia.
Lm Thomas Trần Ngọc Túy, OP- Tổng
hợp theo: Sicilianô, OP.
Nối dài bàn tay cứu độ Chúa đến mọi người
(Mt 28,16-20)
Thưa qúi vị,
Sách Sáng Thế Ký kể rằng : Thiên Chúa tạo
dựng con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (St 1,26). Sau đó
con người phạm tội chống lại Thiên Chúa. Rõ ràng chương trình của Ngài
bị con người làm hư hỏng. Vậy thì Thiên Chúa thất bại chăng? Các ngôn sứ
và thần học giáo lý trả lời rằng “không”. Thiên Chúa chẳng hề thất bại
trong ý định và việc làm của Ngài. Chúng ta lý giải ra sao đây? Vấn đề
thật hóc búa.
May thay Tin Mừng hôm nay cung cấp chìa
khóa để giải quyết khó khăn: “Thày đã được trao toàn quyền trên trời
dưới đất”. Tức là Thày được Thiên Chúa đặt làm ông chủ trên trời và dưới
đất. Trước đó, trong bài đọc một, các môn đệ hỏi Người rằng: “Thưa Thày,
có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục nước Israel không? “câu trả lời tỏ
rõ lòng khao khát của các tông đồ về quyền bính của chúa Giêsu và tương
lai của dân tộc Do thái. Nhưng chúa Giêsu mở rộng tầm nhìn của họ xa hơn
nhiều. Và như chúng ta hiểu ngày nay, thì không phải chỉ có thế thôi mà
là toàn bộ chương trình của Thiên Chúa cho nhân loại, chúng ta cần suy
nghĩ kỹ để có cơ sở cử hành lễ lên trời cho sốt sắng và đúng hướng.
Cách đây hơn bốn mươi năm, chính xác là
vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Con người đã đặt chân lên mặt
trăng, họ nhìn về trái đất, tức ngước mắt “lên trời” để nhìn xem địa cầu
và thấy nó là một hành tinh tuyệt đẹp, màu xanh vàng đỏ như viên ngọc
bích. Tương tự như hôm nay các môn đệ nhìn lên đám mây khi chúa Giêsu
rời xa họ. Vậy thì “trời đất” ở đâu? Và biến cố “lên trời “ là gì và hứa
hẹn cho nhân loại những chi ?
Đọc kỹ các bài đọc Chúa nhật này chúng ta
có cảm tưởng câu trả lời này rất gắn gọn: “Đức Mêsia đã dến, Ngài rời bỏ
trái đất ra đi và hứa sẽ trở lại”. Tuy lòng các môn đệ buồn sầu vì cảm
thấy như bị bỏ rơi, nhưng được Chúa trao phó nhiệm vụ: Đi khắp thế gian
làm chứng cho Chúa và thâu thập các linh hồn cho Ngài. Nghĩa là đấng
Mêsia trở về trời cùng Cha Ngài nhưng sẽ trở lại đón nhân loại, trong
khi các môn đệ phải tiếp tục công việc cứu thế của Ngài “ Tạo dựng một
thế giới mới.
Như vậy chúng ta có thể quyết đoán không
cần suy nghĩ việc lên trời phần xác của Chúa Giêsu chỉ có tính biểu
tượng vì chúng ta chẳng biết trời ở đâu và Cha Ngài ngự chốn nào? Việc
vắng mặt của Ngài chỉ trong không gian và thời gian, còn sự hiện diện
thì vĩnh viễn: “Này đây Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế”
. Tức Chúa vượt ra khỏi thế gian hữu hình mà đi vào cõi vĩnh hằng với
đức Chúa Cha để chia sẻ vinh quang đời đời.
Chúng ta có thể hiểu biến cố “lên trời”
trong hai mặt: chiều kích tiêu cực thể lý và chiều kích tích cực siêu
nhiên. Về tiêu cực, lên trời là vắng mặt thân xác và linh hồn đức Giêsu.
Các môn đệ không còn được thấy nữa từ lúc ấy về sau, tương tự như tín
hữu ngày nay. Các công việc phần xác của Ngài kể như chấm dứt, không cần
một công trình nào khác. Nhưng về thiêng liêng tức mặt tích cực trong
nhân loại thì Ngài vẫn hiện diện. Chính Ngài bày tỏ trong bữa giã từ:
“Thày nói thật với chúng con, Thày ra đi thì ích lợi hơn cho các con, vì
nếu Thày không ra đi, thì Đấng bảo trợ không đến với các con. Còn nếu
Thày ra đi, Thày sẽ sai Ngài đến với các con.” Sự ra đi vật lý của Chúa
Giêsu là điều kiện cần thiết để Đức Thánh Linh ngự đến với nhân loại.
Chúng ta hãy vào vai các phi hành gia
ngước mắt “lên trời” xem trên mặt đất Đức Chúa Cha đã tạo dựng nhân loại
mới thế nào nơi Con của Ngài là đức Giêsu Kitô. Xin nhớ Ngài đã “thất
bại” nơi Ađam, Evà. Hình ảnh và họa ảnh của Ngài không chiếu sáng nữa
khi hai ông bà phạm tội. Sự thật về hình ảnh và họa ảnh của Đấng tạo hóa
bị lu mờ, thì nay, sự thật ấy lại được khôi phục trong đức Giêsu Kitô.
Linh hồn và thể xác đức Giêsu lại giãi sáng huy hoàng trong Đấng phục
sinh. Như thế, hình ảnh và họa ảnh của tạo hóa nguyên vẹn như cũ, và
trong Ngài ơn biến đổi nhân loại thành tạo vật mới giống Thiên Chúa và
như Thiên Chúa thật dồi dào. Chúng ta chỉ còn việc mặc lấy và chiếm hữu
như lời khuyên của thánh Phaolô (Rm 13,14). Như vậy Tạo Hoá đâu có thất
bại, bất chấp con người phản bội.
Hôm nay Chúa lên trời là trong ý nghĩa ấy.
Xin tưởng tượng tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con của mình cao độ
biết bao. Và ngược lại tình yêu của Đấng phục sinh và lên trời đối với
Cha Ngài thắm thiết biết mấy! Do đó mà phát xuất Ngôi Thánh Thần và được
sai đến trần gian làm Đấng bảo trợ. Các tông đồ sẽ được kinh nghiệm ấy
trong ngày lễ ngũ tuần. Họ sẽ được biến đổi hoàn toàn và những ai tin
vào đức Kitô cũng được như vậy. Phải chăng họ là những tạo vật mới và
thế gian này sẽ dần dần trở nên trời mới đất mới? Đó là nhiệm vụ đức
Giêsu trao cho các môn đệ. Ở ý nghĩa này tỏ rõ tính tích cực của việc
thăng thiên. Thánh Thần sẽ đến với Hội Thánh và ngự trên những kẻ tin
kính đức Giêsu, chỉ dẫn họ trở nên những tạo vật hoàn toàn giống Thiên
Chúa và như Thiên Chúa, ngõ hầu ngày nào đó cũng được hưởng vinh quang.
Cho nên không lạ gì sách Tông Đồ Công Vụ
liên kết biến cố thăng thiên với việc trông đợi và đi rao giảng. Thật
khó mà tin rằng những người hoạt động trong Giáo Hội tiên khởi không cảm
thấy thất vọng với mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Anh em không được rời khỏi
Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa!” đợi điều
gì đây? Họ không có một tư tưởng nào trong đầu óc. Sự đơn sơ của họ chỉ
có thể cho rằng Thày sẽ khôi phục lại Israel. Nhưng Ngài ra đi thì lấy
ai ra làm việc đó? Dĩ nhiên khôi phục lại Israel có nghĩa đánh đuổi quân
Rôma bằng binh hùng tướng mạnh. Đất nước sẽ có vua chúa, ngôn sứ, tư tế,
chính trị, kinh tế như thời còn độc lập. Nhưng ý Chúa Giêsu là trông đợi
phép rửa của Thánh Thần và đi ra làm chứng về Ngài. Thật khó mà tưởng
tượng những ngư phủ Galilêa chân chính hiểu được lệnh truyền đó, nếu
không có trợ giúp của Thần Khí.
Và họ đã trông đợi, rồi làm chứng, không
những ở Giêrusalem mà còn khắp Giuđêa, Samaria, cho đến tận cùng trái
đất. Thiên Chúa đã tưới gội họ bằng sức mạnh thiêng liêng. Họ nhận ra
mình hoàn toàn lệ thuộc vào trời cao để chu toàn sứ vụ.
Tâm lý loài người là chúng ta không ưa
đợi chờ. Cái chi cũng phải có lập tức, mì ăn liền, cafê instant,
fastfood, hỏa tiễn, máy bay phản lực, Honda phân khối lớn. Ngày nay, mấy
ai chịu khó đi bộ đâu? Vài bước cũng phải cưỡi xe máy. Nhất nhất đều
phải có kết qủa tức thời, thí dụ: vé cào. Xô lấn, tranh giành là chuyện
bình thường. Hai người cũng tranh nhau. Nếu không là cảm thấy thất vọng,
chán chường. Tai nạn giao thông phần lớn đều mong mỏi giải phóng nhanh
chóng. Chiến tranh Iraq, Afghanistan, Phi Châu, Trung Đông, đều đòi hỏi
tốc độ phi mã. Loài người không mấy ưa đợi chờ.
Nhưng đức Kitô lại bắt các môn đệ: “Chờ
đợi điều Chúa Cha hứa” họ không thể đi rao giảng điều mắt thấy tai nghe
tức thời, do sức riêng mình. Cho nên phúc âm cho hay họ có khuynh hướng
hiểu sai Lời Chúa: “Thưa Thày đã đến lúc Thày khôi phục nước Israel
chăng? Ngày nay cũng vậy, không đủ kiên nhẫn để chịu huấn luyện, không
đủ kiên trì tiêu hóa giáo lý thần học. Phải thực tập ngay. Chẳng lạ gì
gặp bao nhiêu vấp váp, sai lầm. Cho nên đức Giêsu căn dặn môn đệ phải
biết chờ đợi, phải biết suy đi nghĩ lại những biến cố họ vừa trải qua để
nhận ra ý nghĩa thực của nó. Nhất là không kiêu căng cậy sức riêng. Các
hiền triết xưa nay đều bắt học trò phải kiên nhẫn đợi chờ là vì vậy. Tự
chế, tự chủ là đức tính cần thiết để thành công.
Cho nên cũng như các tông đồ, chúng ta
phải học kiềm chế tính nông nổi của mình, cầu nguyện và chờ đợi ơn Chúa.
Thiên Chúa làm tròn lời hứa của Ngài theo chương trình và thời gian Ngài
ấn định. Không phải chúng ta ấn định. Chúng ta thường có khuynh hướng
hành động vội vàng. Có những dự án, chương trình muốn thi hành ngay mà
không suy nghĩ cho chín chắn, chúng ta muốn gạt ý Chúa ra khỏi suy nghĩ
của mình, tự quyền, tự quyết hết thảy. Nói tắt, độc tài chuyên chính,
chẳng cần thăm hỏi ý ai, nhất là cầu xin Ý Thiên Chúa. Cứ quan sát thiên
hạ hành động, tự khắc rõ điều này.
Làm việc theo Thần Khí đức Giêsu đòi hỏi
thái độ ngược lại, thận trọng và khôn ngoan. Sứ vụ rao giảng đến tận
cùng trái đất không phải một sớm một chiều mà hoàn thành. Cũng không
phải “Đứng đấy mà nhìn lên trời” cứ để sự việc tự nhiên thành công.
Chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa, làm dụng cụ cho quyền năng Ngài.
Chương trình của Thiên Chúa là: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành
môn đệ Thày”.
Một tác giả đạo đức đã viết: “Hãy đi và
giảng dạy muôn dân, đó là mệnh lệnh từ giã của đức Giêsu Kitô. Nhưng lúc
này Ngài chẳng còn tai, mắt mũi, họng, chân tay, lời nói, việc làm. Ngài
nhờ vả chúng ta cả. Ngài chẳng còn tay mà nâng đỡ người vấp ngã… nhưng
chúng ta còn. Ngài chẳng còn mắt mà trông xem những giọt lệ đang rơi vì
đau khổ. Nhưng chúng ta có. Ngài chẳng còn miệng lưỡi đễ khuyên nhủ nói
năng. Ngài chẳng còn trái tim để thương cảm những kiếp cô đơn. Nhưng
chúng ta có. Vậy thì Ngài hành động nhờ thân thể chúng ta, nhưng Ngài
thường săn sóc những số phận bất hạnh khổ đau. Ngài dùng những phương
tiện hèn mọn để làm việc lớn. Nghĩa là Ngài sử dụng chúng ta để hoàn
thành kế hoạch của Đức Chúa Cha. Bổn phận của mỗi tín hữu là gieo vãi
Tin Mừng.
Phải làm thế nào ? Sách Tông Đồ Công Vụ
kể lại các môn đệ đã hiểu lầm nhiệm vụ này, tức khôi phục lại nước Do
Thái. Nhưng đó không phải là chương trình của Đức Chúa Cha. Chương trình
của Ngài là xây dựng nhân loại thành tạo vật mới theo hình ảnh và họa
ảnh nguyên thuỷ của Ngài. Ngày nay thiên hạ thường rơi vào một trong hai
cực đoan: chẳng làm gì hoặc hành động qúa mức và rỗng tuếch, hành động
vì hành động. Thí dụ họ cố gắng sắp xếp để Giáo Hội Chúa Kitô trở thành
đảng xã hội thiên tả hay thiên hữu, trong khi Giáo Hội là đoàn người
tiến bước về nước trời. Khuynh hướng thứ hai là khuyên người ta ăn bánh
vẽ, toàn những hứa hẹn siêu hình, trong khi thực tế Giáo Hội lữ hành
ngay trên mặt trái đất này.
Chúng ta không thể rao giảng nguyên chỉ
đạo lý của Ngài suông. Chúng ta còn phải thực hiện những công việc yêu
thương Ngài đã làm nữa. Giáo Hội không chỉ là đức tin mà còn là đức ái.
Người ta có khuynh hướng thất bại trong đức ái nhân danh đức tin như xẩy
ra trong thời cổ. Ngày nay trái ngược lại: thất bại trong đức tin nhân
danh đức ái. Thí dụ vấn đề phá thai, nghiên cứu tế bào gốc, chết tự tử…
thánh Augustinô đã trông thấy các sai lầm ấy khi viết: “Sự khác biệt
giữa người tốt và người xấu là ở chỗ này: người tốt sử dụng thế giới để
hưởng mặt Thiên Chúa. Người xấu lợi dụng Ngài để hưởng thụ thế gian”.
Nghĩa là cả hai đều sử dụng trái đất, nhưng với mục tiêu khác nhau.
Chúng ta không phải chỉ là những người hoạt động xã hội. Chúa lên trời
mở rộng tầm nhìn cho nhân loại. Chúng ta phải nhìn qua không gian, thời
gian hiện tại vào vĩnh cửu và siêu nhiên. Hành động bằng quyền năng của
một tạo vật mới. Đức Kitô phục sinh đang ngự trong mỗi người như lời cầu
nguyện hiệp lễ nói: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu. Chúa cho chúng
con ngay khi còn ở dưới thế đã được nếm thử phúc lộc quê trời. Xin cho
lòng chúng con luôn hướng về bên Chúa, là nơi đức Kitô, thủ lĩnh chúng
con đang hiển trị”. Chúng ta đụng chạm đến màu nhiệm tạo vật mới. Chương
trình của Thiên Chúa bao gồm công tác phục vụ của chúng ta cho thế gian.
Hãy giúp đỡ thiên hạ phát triển đầy đủ khả năng nên giống Chúa Kitô, chứ
không đứng đấy ngó nhìn lên trời. Công việc đòi hỏi đức tin và đức ái
trong thế cân bằng. Như vậy nhân loại mới có hy vọng tiến bước về Chúa
Kitô phục sinh và lên trời. Amen.
G. Nguyễn Cao Luật, op
RA ÐI
TRONG LỜI HỨA
Mt 28,16-20
Một sự hiện diện mới
Ở phần đầu sách Tin Mừng, thánh
Mátthêu đã nhắc lại lời ngôn sứ Isaia để loan báo sự xuất hiện của
người con thuộc dòng họ Ðavít, Ðấng được gọi là "Emmanuen", có nghĩa
là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta". Tất cả các phần sau của Tin Mừng
Mátthêu đều nhắc đến sự hiện diện này, một sự hiện diện mà người ta có
thể cảm thấy, sờ thấy, nhìn thấy ...
Nhưng đã đến lúc chấm dứt sự hiện diện này, không phải là tan biến đi,
nhưng là mang một hình thức mới còn sâu xa, còn mãnh liệt và cụ thể hơn
sự hiện diện trước kia : "Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
Thế nào là sự hiện diện đích
thực ? Khi nào thì sự sống của một hữu thể khác thấm nhập vào một người
đến nỗi cả hai biến thành một ? Theo một ngôn ngữ khác với thánh Gio-an,
thánh Mát-thêu làm nỗ bùng những sự kiện hữu hình để dẫn đưa độc giả vào
một cái nhìn khác về thực tại.
Ðức Giêsu hẹn gặp các môn đệ tại
một ngọn núi ở miền Ga-li-lê. Theo tác giả sách Tin Mừng thứ nhất,
Ga-li-lê là vùng đất của dân ngoại, là điểm tiếp xúc của những biên giới.
Ðây là miền đất biểu tượng cho thế giới ngoại đạo, đồng thời cũng tiêu
biểu cho việc rao giảng Tin Mừng. Chính tại đây, giữa lòng nhân loại mà
các môn đệ - cũng như người Kitô hữu sau này - khám phá ra ý nghĩa sự
hiện diện của Ðức Giêsu.
Ðàng khác, sau cuộc gặp gỡ cuối
cùng này, Ðức Giêsu không còn xuất hiện hữu hình với các môn đệ nữa.
Nhưng sự hiện diện vô hình của Người đạt tới chiều sâu và chiều rộng mà
thân xác của Người nơi trần gian không cho phép đạt tới. Nhờ Thần Khí,
sự hiện diện này không chỉ giới hạn ở đây ở đó, vào những cách thức
thông thường, nhưng được mở rộng đến mọi nơi và theo nhiều cách thức
khác nhau. Ðức Giêsu sẽ mãi mãi ở cùng con người qua lời của Người, qua
các bí tích, qua người thân cận, và nhất là qua sứ vụ tông đồ.
Quả thế, Ðức Giêsu được Chúa Cha
phục sinh và tôn vinh, đặt làm Chúa vũ trụ và làm nguồn mạch thông ban
sự sống, được đặt ngự bên hữu Chúa Cha, tức là trong một tình trạng hoàn
toàn mới. Qua nhân tính được Thần Khí điều động, Ðức Giêsu hiện diện và
hoạt động trong Giáo Hội, trong thế giới, nơi mỗi người, qua mọi thời
đại, như nguyên nhân cứu rỗi duy nhất. Sự thăng thiên của Ðức Giêsu đưa
Người ra khỏi một góc trời, khuất khỏi tầm mắt của một nhóm người để làm
cho Người có mặt và hoạt động trên khắp thế giới và nơi mọi con người.
Ðó là cuộc ra đi cần thiết và hữu hiệu như Ðức Giêsu đã báo trước. Cuộc
ra đi làm cho Ðức Giêsu trở nên rộng lớn hơn, cũng như cộng đoàn các môn
đệ thêm rộng lớn. Rộng lớn như vũ trụ, như vương quyền của Ðức Giêsu.
Vì thế, ngay từ bây giờ, không
phải là lúc đứng một chôỵ mà đăm đăm nhìn lên bầu trời, nhưng là lúc
phải lên đường, phải trở thành chứng nhân về Ðấng Phục Sinh, phải loan
báo cho mọi người, phải trở nên kẻ cộng tác với Người để mở rộng vương
quốc.
Cuộc ra đi mở đầu
Trong tường thuật về thăng thiên,
thay vì dừng lại ở những chi tiết, dù rất đơn giản, về cuộc ra đi thể lý
của Ðức Giêsu, các độc giả sách Tin Mừng nên nhấn mạnh về ý nghĩa cuộc
ra đi của Ðức Giêsu cũng như về sứ mệnh Ðức Giêsu trao lại cho các môn
đệ.
Cuộc ra đi của Ðức Giêsu thật
bất ngờ. Như một tia sáng vụt qua bầu trời, lần hiện ra cuối cùng của
Ðức Giêsu là chứng cớ, đúng hơn là dấu khả giác về việc Người đi vào
luôn mãi trong vinh quang của Chúa Cha, tức là trở vế với điểm xuất phát
của Người. Nhưng Người không trở lại nơi đó một mình. Người lôi kéo theo
cả nhân loại, mặc dù còn trong hy vọng, nhưng là một niềm hy vọng có
thực, không phải là ảo tưởng.
Và điều quan trọng hơn, đó là
trước khi biến đi, Ðức Giêsu đã đặt các tông đồ làm những người "tiếp
nối" công việc cứu độ của Người trong thế giới. Ðể thực hiện sự liên tục
này, Người đã sai Thần Khí của Người đến trên các ông. Sự tuôn đỗ Thần
Khí một cách viên mãn ấy sẽ được mô tả vào ngày lễ Ngũ Tuần. Thần Khí
biến nhóm môn đệ nhỏ nhoi này thành Giáo Hội của Ðức Kitô với sứ mạng
làm chứng về sự phục sinh của Người cho toàn thế giới. Như trên một cây
cầu mà móng cắm sâu vào dòng sông, đối với các môn đệ, kể từ nay các môn
đệ sẽ phải rời bỏ bờ sông quen thuộc với những lần hiện diện thân thương
để đi đến những miền đất còn xa lạ. Tại những miền đất đó, chính Thánh
Thần của Ðấng Phục Sinh sẽ nắm lấy các ông và hướng dẫn các ông.
Ðó quả là một kinh nghiệm lớn mà
dần dần các môn đệ sẽ hiểu ra. Nhưng ngay lúc này, khi chứng kiến việc
Ðức Giêsu biến đi, các ông vẫn tràn ngập niềm vui "trở về Giê-ru-sa-lem,
lòng đầy hoan hỷ".
Do đó, với tư cách là cộng đoàn
kế tục cộng đoàn tông đồ, Giáo Hội và mỗi Kitô hữu sẽ luôn kiểm điểm đời
sống của mình xem có phù hợp với sứ mạng đã lãnh nhận từ Ðức Giêsu. Theo
đúng lời bảo của Ðức Giêsu, Giáo Hội sẽ phải trung thành thực hiện sứ
mạng này trong suốt chiều dài của lịch sử, cho đến ngày Người trở lại,
với niềm tin chắc chắn vào sự hiện diện đầy năng động của Vị Thủ Lãnh,
Ðấng luôn gìn giữ và hướng dẫn Giáo Hội qua ân sủng Thần Khí.
Như vậy, cuộc ra đi của Ðức
Giêsu là khởi đầu cho những cuộc ra đi khác, bắt đầu là các tông đồ, sau
đó là Giáo Hội cho đến ngày tận thế.
Chúa chúng ta ở đâu ?
Ðối với chúng ta ngày nay, một
câu hỏi vẫn thường được đặt ra : ""Ðức Giêsu, Chúa của bạn, đang ở đâu
?"" Câu hỏi này càng trở nên gay gắt hơn trong những hoàn cảnh bi đát và
buồn phiền, đến nỗi ngay cả những người bình tĩnh nhất cũng cảm thấy
lúng túng.
Quả thất, trước một câu hỏi như
vậy, những câu trả lời chúng ta đã nghe khi học giáo lý thời nhỏ không
làm chúng ta thoả mãn. Ðức Giêsu không chỉ ngự "trên trời" hay "khắp mọi
nơi", và cũng không phải chỉ "ở trong tâm hồn những em bé ngoan ngoãn".
Ðối với chúng ta cũng như với
các môn đệ, niềm xác tín duy nhất chính là Ðức Giêsu ở với chúng ta mọi
ngày cho đến tận thế.
Nếu chúng ta tin vào lời hứa đó,
để rồi trong mọi hoàn cảnh, giữa những thăng trầm của cuộc sống, chúng
ta vẫn sẵn sàng quả quyết : ""Vâng, Ðức Kitô đang sống, Người ở đây, mặc
dù tôi không thấy Người, cũng chẳng biết Người như thế nào"", thì câu
hỏi chẳng còn ý nghĩa gì.
Bởi vì, vấn đề ở đây không phải là "biết" Chúa ở đâu, nhưng là "thấy"
Chúa ở đâu.
Cũng không phải là học một câu trả lời, nhưng là hướng cái nhìn của
chúng ta để nhận ra Ðức Kitô ở bất cứ nơi nào có sự sống, bất cứ nơi nào
sự sống đang phát triển.
Như thế, Ðức Giêsu không có mặt
trong những nơi sự chết đang hoành hành. Và ngược lại, ở bất cứ nơi nào
có sự sống, chúng ta có cơ may được nghe thấy tiếng của Người, được nhìn
thấy Người đang bước đi trên những nẻo đường đầy hy vọng.
Do đó, chúng ta không chỉ bằng
lòng với việc quả quyết : ""Ðức Kitô đang ở đây"", nhưng còn phải mở to
đôi mắt, phải lắng tai để nhận ra Người.
Và chúng ta cũng nhận ra rằng ở
đâu có Tình Yêu làm sức mạnh cho đời sống, ở đó có Chúa ngự trị, và tại
đó chúng ta sẽ gặp Người.
Hơn nữa, chúng ta sẽ không buồn
phiền vì sự vắng mặt của Ðức Giêsu, trái lại chúng ta hân hoan làm chứng
về Người. Bởi vì từ cuộc ra đi của Người, chính chúng ta cũng được mời
gọi ra đi trên những nẻo đường khác nhau, trong ân huệ Thần Khí, để công
bố về lời quả quyết "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta".
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Sứ mạng rao giảng Tin
Mừng
(Mt 28,16-20)
Có những cuốn sách khi khép lại,
chính là lúc mở ra: mở ra cho suy tư, mở ra cho trách nhiệm, mở ra cho
hành động. Sách Tin Mừng là cuốn sách như thế, theo ý nghĩa trọn vẹn
nhất. Nếu Tin Mừng khép lại cuộc đời Chúa Giêsu, thì đồng thời lại mở ra
cho một trang sử mới. Nếu biến cố Thăng Thiên khép lại cuộc đời tại thế
của Chúa Giêsu, thì đồng thời lại mở ra cho một mệnh lệnh mới phải được
thực thi, một trách nhiệm mới phải được hoàn thành, một hiện diện mới
phải được đón nhận. Chính trong sự đan kết đó mà phụng vụ lời Chúa hôm
nay vừa mời gọi chúng ta suy niệm mầu nhiệm Thăng Thiên, lại vừa đòi hỏi chúng ta đào sâu trách nhiệm truyền giáo, trach nhiệm rao giảng Tin
Mừng, trách nhiệm tông đồ trong đời người Kitô hữu. Đó là hai điều chúng
ta tìm hiểu sau đây.
Trước hết, về mầu nhiệm Thăng
Thiên, tức là mầu nhiệm Chúa Giêsu lên trời. Trong bốn sách Tin Mừng,
chỉ có hai sách nói đến việc Chúa Giêsu lên trời, đó là Tin Mừng Máccô
và Tin Mừng Luca. Thánh Máccô nói rất vắn tắt, chỉ nói Chúa Giêsu lên
trời và ngự bên hữu Chúa Cha, chứ không nói Chúa lên trời ở đâu và sau
khi sống lại được bao lâu. Còn thánh Luca, đọc Tin Mừng của ngài chúng
ta có cảm tưởng Chúa Giêsu lên trời ngay ngày Chúa sống lại và ở gần
Bê-ta-ni-a. Nhưng theo sách Công vụ Tông đồ, cũng của thánh Luca, thì
Chúa Giêsu lên trời sau khi sống lại được bốn mươi ngày, và chỗ Chúa lên
trời là núi cây dầu. Còn Tin Mừng thánh Mat-thêu chúng ta nghe đọc hôm
nay chỉ kể lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trên một ngọn núi
Chúa đã truyền cho các ông đến và truyền lệnh cho các ông đi rao giảng
cho muôn dân mà không nói gì đến việc lên trời.
Chúa Giêsu lên trời là một điều
chắc chắn. Đây là một mầu nhiệm, một tín điều chúng ta tuyên xưng trong
kinh Tin Kính : “Ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh, Người
lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha”. Vậy ý nghĩa của mầu nhiệm này thế
nào ? Việc Chúa Giêsu lên trời là một sự kiện tất yếu của quá trình nhập
thể và cứu chuộc của Ngài. Nghĩa là Ngài là con Thiên Chúa, từ trời
xuống trần gian để thực hiện chương trình cứu chuộc của Chúa Cha. Ngài
đã giảng dạy, phục vụ và cống hiến cả mạng sống, nên sau khi sống lại từ
cõi chết, Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh, được đặt bên hữu Thiên
Chúa và ban cho quyền xét xử vũ trụ. Chúa Giêsu lên trời là một câu trả
lời vô cùng phấn khởi cho chúng ta, nếu chúng ta trung thành tin theo
Chúa, chúng ta cũng sẽ được về trời, chúng ta sẽ được Chúa Giêsu đón vào
trong nhà Cha, để cùng với Ngài hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời.
Tuy nhiên, để đạt được Nước Trời
đòi hỏi chúng ta phải trả giá. Cũng như không có thành công nào hay hạnh
phúc nào ở đời này mà lại đạt được quá dễ dàng, thì hạnh phúc Nước Trời
lại càng khó hơn biết bao, đòi hỏi chúng ta phải kiên trì và cố gắng về
mọi phương diện. Những ngày sống lữ thứ trần gian là để đi vào Nước Trời,
chúng ta phải cố công đi cho tới đích, không bao giờ được bỏ cuộc, không
trẽ ngang, không đi lui, phải đi tới mãi. Đường vào Nước Trời thiên nan
vạn nan, chứ không phải dễ dàng ra vào như đi chợ hay đi bát phố. Kinh
Thánh nói : “Người ta phải dùng sức mạnh sấn sả mà đi vào, đi vào con
đường hẹp, phải ra đi trong nức nở, mới trở về trong hân hoan”. Cũng thế,
ai cũng biết bài học “nước chảy đá mòn”, “kiến tha lâu đầy tổ, “có công
mài sắt có ngày nên kim”, “có khó mới có miếng ăn”, thì trên phạm vi
siêu nhiên cũng vậy, Chúa dạy : “Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi”,
vì Nước Trời đòi hỏi rất nhiều cố gắng, rất nhiều công lao khó nhọc.
Nhưng làm sao người ta có thể
biết Chúa, tin theo Chúa, sống theo những lời Chúa giảng dạy, để rồi
cũng được về trời với Chúa ? Chính vì thắc mắc đó mà trước khi về trời,
Chúa Giêsu đã ra chỉ thị cho các môn đệ của Ngài. Ngài đã sai các ông ra
đi trên vạn nẻo đường thế giới, ban cho các ông nhiều quyền năng để rao
giảng Tin Mừng và đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Chính nhờ các tông đồ
đầu tiên ấy, rồi các tông đồ khác, lại các tông đồ khác nữa kế tiếp nhau
trung thành thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng ấy mà người ta biết Chúa,
tin theo Chúa, được cứu rỗi và rồi sẽ được về trời.
Nói khác đi, Chúa Giêsu đã dùng
Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu chuộc của Ngài, nghĩa là
Giáo Hội như một nối dài của Chúa Giêsu. Cách đây hai ngàn năm, Chúa
Giêsu đã đi lại, đã giảng dạy, đã làm nhiều điều tốt đẹp. Ngày nay, Ngài
cũng muốn cho các hoạt động của Ngài được tiếp tục qua Giáo Hội. Sứ mệnh
của Chúa Giêsu là một sứ mệnh thiêng liêng, nhưng sứ mệnh đó cần phải
được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Vì thế, không có
gì đáng ngạc nhiên khi trao phó sứ mạng đó cho Giáo Hội, Chúa Giêsu muốn
nó được thực thi trong một khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ
thể. Chính nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội
mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống và dẫn đưa
nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
Là chi thể của Giáo Hội, thân
mình mầu nhiệm Chúa Kitô, mỗi người Kitô hữu là cánh tay rộng mở của
Chúa Kitô, nhờ đó Ngài không ngừng giãi tỏa ánh sáng, trao tặng tình
thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người. Để được như thế, cách tốt
nhất là chúng ta hãy sống tốt, với mọi người trong gia đình, với xóm ngõ,
với bạn bè, trong nơi làm việc và với những người chung quanh, bất cứ
lương hay giáo. Sống tốt có nghĩa là sống cởi mở, sống hòa đồng, sống
vui tươi, sống bác ái, sống chan hòa tình yêu thương với mọi người.
Tóm lại, lễ Chúa Giêsu lên trời
hôm nay nhắc nhở chúng ta : Chúa đã lên trời, chúng ta cũng sẽ về trời,
đó là cùng đích của hạnh phúc đời người. Vì thế, chúng ta hãy sống cho
thật tốt, thật tròn đầy những bổn phận hàng ngày để đạt được hạnh phúc
ấy. Đồng thời, ngày lễ hôm nay cũng mời gọi chúng ta hãy ra đi vào thế
giới, vào môi trường mình đang sống, để làm chứng cho Chúa, để giới
thiệu Chúa cho anh em bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta.
Jos. Nguyễn Văn Thuần op
Chúa
lên trời, Ngài dọn chỗ cho chúng ta
(Mt 28,16-20)
Biến cố Chúa Thăng Thiên đánh
dấu lần chia tay sau cùng giữa Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài. Đây
chính là lúc Đức Giêsu trở về ngự bên hữu Thiên Chúa Cha sau khi đã hoàn
tất sứ mệnh của Ngài ở trần gian. Vì thế, các môn đệ rất buồn. Nhưng tâm
hồn các ông lại tràn đầy hy vọng vì lời hứa của Đức Giêsu vẫn còn văng
vẳng bên tai : “Thầy đi để dọn chỗ cho các con... và Thầy sẽ trở lại đón
các con, để Thầy ở đâu các con cũng sẽ ở đó với Thầy. Đừng sợ, Thầy sẽ
không bỏ các con mồ côi đâu” (Ga 14, 3.18).
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng
con biết thế gian này chỉ là quán trọ chúng con đang tạm trú. Quê trời
mới là ngôi nhà vĩnh cửu đích thực của chúng con. Vì thế, chúng con đang
sống rất lạc quan, tràn đầy hy vọng và đặt hết niềm tin tưởng cậy trông
vào Chúa. Vì chúng con đã tìm thấy được ý nghĩa của cuộc sống, đã nhìn
thấy được tương lai tươi sáng và biết chắc rằng Đức Giêsu sẽ chẳng bao
giờ lừa dối và bỏ rơi chúng con.
Để dọn chỗ cho chúng con ở trên
trời, Đức Giêsu đã phải hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc. Vì thế,
để vào được chỗ đã dọn sẵn đó, Chúa mời gọi chúng con cộng tác với Chúa
bằng việc “ra đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian cho mọi loài thọ tạo”
(Mc16,15).
Nhưng khi kiểm chứng lại cuộc
sống thường ngày chúng con nhận thấy mình chưa sống trọn vẹn với di chúc
của Đức Giêsu để lại. Vẫn biết rằng thế gian chỉ là quán trọ nhưng chúng
con lại dành quá nhiều thời giờ và công sức để xây đắp và tích lũy cho
những gì thuộc về thế gian ; có khi chúng con lại coi những trạm nghỉ
bên đường là nơi sẽ ăn đời ở kiếp chứ không phải là quê trời.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Hôm nay chính Chúa đang mời gọi
chúng con phải có bổn phận với những vấn nạn của xã hội. Là người Kitô
hữu đích thực, chúng con không thể làm ngơ, lạnh nhạt và không hay biết,
hoặc không cố gắng làm một điều gì đó để giải quyết những vấn nạn của xã
hội đang xảy ra chung quanh mình như bất công, đói khổ, thất nghiệp,
luân lý suy đồi; và các tệ nạn xã hội như tham ô, trộm cướp, giết người,
ma túy, dịch bệnh,… Vì thế, Chúa mời gọi chúng con sống gắn bó, quan tâm
và ý thức được trách nhiệm của mình trước những vấn nạn của xã hội đang
diễn ra hằng ngày.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể là Đấng Phục Sinh và Thăng Thiên, chúng con
chúc mừng Chúa đã được Chúa Cha thưởng công xứng đáng với vinh quang
trên trời, vì công lao to lớn mà Chúa đã thực hiện. Chúng con cảm tạ
Chúa đã chỉ dạy cho chúng con ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ
tạo. Nhưng chúng con cảm thấy xấu hổ mỗi khi nghe lại lời di chúc của
Chúa. Chúng con chưa dám từ bỏ chính mình để đến với tha nhân. Chúng con
chưa trau dồi tinh thần, kiến thức và kỹ năng truyền giáo để làm cho
Nước Chúa được thể hiện. Quả thật, chúng con chưa xứng đáng với sự tin
tưởng của Chúa. Xin Chúa thương giúp chúng con đổi mới tư duy và hành
động để thực thi lệnh truyền của Chúa. Và cho chúng con mai ngày được
hưởng niềm vui đích thực với Chúa trên quê trời. Amen.
Đỗ Lực op
Anh
Đi Về Đâu ?
(Mt 28:16-20)
Trước giờ đọc kinh “Lạy Nữ Vương” với
hàng ngàn tín hữu tại Quảng trường Phêrô, ngày 27.04.2008, ÐGH Bênêđictô
XVI nói : “Ở đâu Chúa Kitô được rao giảng với quyền lực Thánh Linh và
được đón nhận với một tâm hồn rộng mở, thì dù có đầy những vấn đề, xã
hội cũng trở thành một ‘thành tràn ngập niềm vui’ (Cv 8:8). Ðây là ý
nghĩa của những sứ mệnh Giáo hội và đặc biệt sứ mệnh của các linh mục là
gieo rắc niềm vui Tin Mừng khắp thế giới !” (1)
Ðó chính là sứ mệnh Chúa trao cho các môn
đệ trước khi được vinh thăng cõi trời. Ngày nay, sau hơn 2.000 năm, sứ
mệnh đó còn được tiếp tục không ? Nếu có, nhờ đâu Giáo Hội có thể hoàn
thành sứ mệnh giữa một thế giới đầy những trở ngại hôm nay?
THĂNG THIÊN
Sau bao nhiêu biến động, Chúa Giêsu đã
lấy lại được sự bình an cho cộng đoàn tông đồ. Người còn ở với các ông
bốn mươi ngày trước khi cất bước về Trời. Thời gian đã điểm. Tất cả Thày
trò đều tập trung tại một ngọn đồi. Giữa lúc đang cầu nguyện và trao đổi,
bỗng Thày cất mình lên khỏi mặt đất trước sự ngỡ ngàng của các môn đệ.
Ðó là cảnh có thực hay chỉ là một ảo
tưởng ? Chuyện đó không quan trọng. Ðiều quan trọng là Chúa đã được vinh
thăng nắm quyền cai trị cả trời đất. Nếu quá chú tâm tới việc Chúa xa
lìa khỏi mặt đất, chúng ta có thể đánh mất ý nghĩa chính của biến cố
thăng thiên. Chúa vinh thắng khải hoàn không phải để xa lìa trái đất.
Người vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Người về Trời với cả Thiên
tính và nhân tính. Mặc dù về với Chúa Cha, nhưng Người vẫn đồng hành với
chúng ta. Về mặt thiêng liêng, chúng ta cũng hiện diện trên trời với
Người.
Trước khi về Trời, Chúa Giêsu cho biết
Thiên Chúa đã ban cho Người mọi quyền hành trên trời dưới đất. Nhờ quyền
bính đó, Người truyền cho các môn đệ rao giảng, thanh tẩy và dạy dỗ để
quy tụ muôn dân vào Nước Thiên Chúa. Tin Mừng chính là sức mạnh đưa mọi
người về với Chúa. Nếu Tin Mừng thấm sâu vào lòng người, đương nhiên
Chúa Kitô đã được tôn sùng làm Ðấng Cứu Ðộ, là Vua và Chúa. Nói khác,
theo lời Chúa, các môn đệ phải đi quy nạp các môn đệ mới vâng nghe và
quy phục Chúa Kitô.
Có như thế, cuộc vinh thăng quê trời hôm
nay mới thật sự có ý nghĩa, vì nói lên tất cả sức mạnh của sự công chính
trên sự bất chính. Cuộc tử nạn bất công đã gìm cả thân xác Chúa xuống hố
thẳm bao nhiêu, thì cuộc vinh thắng đưa Người lên cao và biểu dương cho
mọi người thấy tất cả chiến thắng của lẽ phải. Nước Thiên Chúa đã là một
thực tế không một kẻ thù nào có thể phủ nhận được. Một khi Nước Thiên
Chúa đã xuất hiện với tất cả sức mạnh của Ðấng Phục Sinh, công lý và hòa
bình phải có mặt trên trần gian.
Làm sao Kitô hữu dám tin tưởng vào sự
chiến thắng của Nước Thiên Chúa trên trần gian ? Thưa, vì Chúa đã quả
quyết "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.”( Mt 28:18) Với
quyền năng Chúa, họ mạnh dạn ra đi thanh tẩy muôn dân. Phép thanh tẩy có
sức hiệp nhất tín hữu với Chúa Giêsu Kitô trong cái chết cho tội lỗi và
phục sinh cho đời sống mới. Bí tích thanh tẩy tượng trưng cho việc vâng
phục Chúa Kitô, ý muốn sống theo đường lối công chính của Thiên Chúa và
đồng hóa với dân giao ước của Thiên Chúa.
Như thế, càng tin tưởng vào quyền năng
Chúa, người môn đệ càng có sức quy tụ muôn dân. Quyền năng đó không ở xa
họ, nhưng thực sự ở ngay trong chính tâm hồn và Giáo hội. Cụ thể quyền
năng đó là chính Thánh Linh, Ðấng sẽ được Chúa Giêsu sai đến từ Chúa
Cha. Trong quyền bính lớn lao này, một thời kỳ mới của Giáo hội đã bắt
đầu. Chính vì thế, Giáo hội đã có những bước phát triển ngoạn mục ngay
từ đầu và vẫn tồn tại qua bao sóng gió.
Sứ mệnh rao giảng Tin Mừng vừa thiêng
liêng cao cả, vừa vô cùng cần thiết cho cuộc sống nhân loại. Càng gặp
khó khăn, sứ mệnh càng cho thấy phải cần đến sức mạnh của Thiên Chúa.
Một khi đã vượt trên mọi quyền bính, quyền lực và quyền thống trị trên
trần gian, Chúa Giêsu bảo đảm cho các môn đệ cuộc chiến thắng cuối cùng.
Vấn đề là có đủ đức tin để kiên nhẫn đợi chờ ngày đó hay không. Các nhà
cai trị hay chính quyền trần thế gian ác hay những cơ chế bất công chỉ
là những biểu hiện của những thần dữ đang muốn nắm bá quyền trên cuộc
sống và số phận con người.
Nhưng quyền lực Chúa bao giờ cũng đưa đến
những chiến thắng phi thường. Bằng chứng, theo Hiệp sĩ Tối cao Carl
Anderson, kết quả cuộc thăm dò “cho thấy Đức giáo hoàng Bênêđictô đã
trao tặng cho người Công giáo Hoa kỳ một vận hội lớn lao. Người Mỹ là
một dân tộc đạo hạnh, và họ đáp ứng rất tích cực thông điệp về đức tin,
lòng trông cậy và yêu mến mà Đức thánh cha ban ra suốt cuộc thăm viếng
của ngài. Bây giờ thì tùy thuộc vào mọi người chúng ta trong cộng đồng
Công giáo, hãy đi qua cánh cửa ngài đã mở ra cho chúng ta, và cùng nhau
hoạt động để xây dựng một nền văn mình tình thương.” (2)
Dù ở đâu, Kitô hữu luôn nắm chắc niềm hy
vọng, vì Chúa luôn ban ơn khôn ngoan và mạc khải để họ nhận biết sức
mạnh Chúa Kitô. Thật vậy, thánh Phaolô sốt sắng cầu nguyện và xác tín :
“Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh
em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang
phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng
lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức
mạnh toàn năng đầy hiệu lực,” (Ep 1:18-19) để chiến thắng ác thần.
QUYỀN BÍNH VÀ NHÂN QUYỀN
Khi lên trời, Chúa Giêsu đã được Chúa Cha
trao toàn quyền trên vũ trụ. Quyền bính đó nhằm phục vụ và xây dựng Nước
Trời. Nói khác quyền bính Chúa dùng để đem lại “sự công chính, bình an
và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) Ðó là những thiện ích chung
cho hạnh phúc con người. Ðạt được mục đích đó, Nước Trời trở thành khuôn
mẫu xây dựng nước trần thế.
Vậy phải chăng Nước Trời và nước trần thế
có chung một mục đích ? Dĩ nhiên, mục đích chung là con người, nhưng với
những phương tiện khác nhau. Nước nào cũng cần quyền bính. Nhưng nếu
không còn nhắm phục vụ nhân quyền, quyền bính chính trị sẽ hoàn toàn vô
nghĩa và vô ích, “vì công ích là lý do giải thích tại sao quyền bính
chính trị hiện hữu.” (3) Bởi thế, khi chà đạp nhân quyền, chính quyền
phá hủy chính nền tảng của mình. Bản chất của chính quyền là đầy tớ nhân
dân. “Chúa Kitô mạc khải cho chính quyền biết sự phục vụ làm cho chính
quyền có ý nghĩa và nên hoàn toàn, mặc dù nó luôn bị cám dỗ muốn thống
trị … Thiên Chúa nắm quyền tối thượng. Tuy nhiên, Chúa ủy thác cho mỗi
tạo vật những phận sự, tùy khả năng theo bản tính riêng. Ðời sống xã hội
nên theo kiểu cai trị này. Cách Thiên Chúa cai quản thế giới, làm chứng
Chúa rất coi trọng tự do của con người. Các người cai trị các cộng đồng
nhân loại nên học sự khôn ngoan đó. Họ nên hành xử như những người phục
vụ Thiên Chúa quan phòng.” (4)
Kinh thánh cũng nhắc cho mọi người biết
rằng “quyền lực chính trị phát xuất từ Thiên Chúa và là một thành phần
của trật tự do Người tạo thành. Lương tâm con người nhận thức được trật
tự này. Trong đời sống xã hội, trật tự đó trở nên trọn hảo trong chân lý,
công lý, tự do và tình liên đới, đem lại hòa bình.” (5) Khi không tuân
theo trật tự này, quyền lực chính trị không biết giới hạn của mình. Bởi
thế, công lý, tự do và hòa bình hoàn toàn vắng bóng. Bạo lực và bất công
hoành hành.
Muốn đem lại hạnh phúc cho nhân loại,
chính quyền cần dành thời giờ suy tư về ý nghĩa và giới hạn của quyền
bính. “Một quyền bính mẫu mực phải đặt nền tảng trên bản chất xã hội của
con người. ‘Vì Thiên Chúa tạo dựng con người có bản tính xã hội, và vì
không xã hội nào có thể được quy tụ nếu không nỗ lực đạt đến công ích.
Mỗi cộng đồng văn minh phải có một chính quyền. Cũng như xã hội, chính
quyền này phải bắt nguồn từ thiên nhiên, và bởi đó, do Thiên Chúa tạo
dựng.’ Bởi vậy, cần có chính quyền, vì những trách nhiệm đã được giao
phó. Chính quyền là và phải là một thành phần đời sống xã hội đáng được
tin cậy và không thể thay thế.” (6) Cần nhận ra nguồn gốc, mới có thể
xác định được hướng đi và những cách hành xử. Nếu không, sẽ lạc mục tiêu.
Trong một xã hội đang bị tục hóa và vô
thần, muốn nhìn về tận nguồn gốc và xác định được cứu cánh, chính quyền
gặp rất nhiều trở ngại. Trở ngại lớn nhất nằm ngay trong chính lòng mình.
Hơn nữa, cả một nền văn hóa vô thần bao bọc chung quanh, làm sao người
ta nhìn ra Ðấng Tạo Hóa là tác giả của mình ? Làm sao nhìn ra con người
là cứu cánh của mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế v.v. ? Càng khó hơn nữa
khi phải hòa hợp giữa công ích và tư hữu. Họ vẫn bị cám dỗ phủ nhận
quyền tư hữu mỗi khi cần bảo vệ những quyền lợi phe đảng mình. Nhưng
khách quan mà nói, “chính quyền phải bảo đảm cuộc sống cộng đồng sao cho
có trật tự và chính đáng mà không xâm phạm đến hoạt động tư do của cá
nhân hay nhóm, nhưng khuôn nắn và hương dẫn sự tự do này, bằng cách kính
trọng và bảo vệ sự độc lập của các cá nhân và xã hội, để đạt đến công
ích.” (7) Ðó là một việc rất khó khăn. Nhưng càng thực hiện được việc
khó càng chứng tỏ sức mạnh của chính quyền.
Muốn củng cố sức mạnh, chính quyền không
nên quên các quy luật đạo đức. Quả thực, “quyền bính phải được luật luân
lý hướng dẫn. Tất cả chân giá trị của quyền bính đều do việc thực thi
trong khung cảnh trật tự luân lý, mà nguồn gốc và cứu cánh là Thiên Chúa.
Không phải do ý chí độc đoán hay do khát vọng quyền lực, nhưng do trật
tự luân lý đó, quyền bính được công nhận hợp pháp và có quyền buộc người
dân gánh vác nghĩa vụ.” (8) Có như thế, chính quyền mới bảo vệ cho quyền
lợi chính đáng của người dân.
Căn cứ vào đâu chính quyền đòi cho mình
quyền bính cai trị dân ? Theo tgm Migliore, Quan sát viên thường trực
của Tòa Thánh tại Liên hiệp quốc, ÐGH Bênêđictô XVI chủ trương, ““Dựa
trên nền tảng đạo đức của tinh thần trách nhiệm, sự sẵn sàng và hiệu
năng trong công cuộc bảo vệ dân chúng khỏi những vi phạm nhân quyền,
chính quyền khẳng định về quyền lực và quyền tối cao của mình. Không
những bao gồm cái gọi là can thiệp nhân đạo, can thiệp quân sự, nhưng
bổn phận bảo vệ này có thể được sử dụng dưới một danh hiệu mới : quyền
bính tối cao. Ðây không phải chỉ là một quyền, nhưng trên hết, quyền tối
cao này là trách nhiệm bảo vệ và thăng tiến dân chúng trong cuộc sống
hàng ngày.” (9) Nói khác, không bảo đảm cuộc sống bình an và hạnh phúc
cho người dân, chính quyền không còn cơ sở tồn tại nữa. Tất cả nền tảng
sức mạnh của chính quyền đã bị lung lay, nếu không nói là bị phá hủy.
CHỦ QUYỀN
Cuộc sống hôm nay của dân tộc có bình an
và hạnh phúc không ? Ðây là câu hỏi nền tảng và cũng là tiêu chuẩn đánh
giá một chính quyền. Nhìn vào những sự kiện đang xảy ra trên đất nước,
chúng ta có thể thấy được câu trả lời và từ đó có thể đánh giá chính
quyền hiện tại.
Sau bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ, máu
đổ thành sông, xương chất thành núi để giành lại độc lập, bây giờ thật
sự dân tộc ta có chủ quyền chưa ? Với những diễn biến ngày rước đuốc
Olympic 29/4 ở Việt Nam, Quần đảo Hòang Sa-Trường Sa bây giời thuộc về
ai ?
Ðàng sau tình hình lúa gạo trong nước,
chúng ta có thấy cuộc sống người dân có hạnh phúc không ? Tình hình có
đúng như những báo cáo và tin tức đưa ra không ? Bên cạnh nền kinh tế
phát triển ở mức độ rất ấn tượng là 8.5 phần trăm, lạm phát tăng phi mã.
Vật giá trong tháng 3 tăng 20 phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Công
nhân bất bình, đình công đòi tăng lương để bù đắp cho giá sinh hoạt cao.
Sự thâm thủng trong cán cân ngoại thương
phình lên đến 7.3 tỷ đô la trong ba tháng đầu của năm 2008, so với 12.4
tỷ đô la cho cả năm 2007.” (10)
Cuộc sống vật chất không thoải mái, còn
tinh thần thì sao ? Ðây là câu trả lời chính xác : “Trong phần nói về
Việt Nam, đưa ra tại cuộc họp báo ngày 2 tháng 5 ở Washington, Uỷ ban Tự
do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ cho biết tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam
năm qua vẫn tệ hại. Số tín đồ bị trù dập tuy có giảm nhưng các hành động
sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm, và phạt vẫn thường xuyên diễn ra, cho thấy
nhà cầm quyền tiếp tục giới hạn tự do tôn giáo của dân chúng.” (11)
Những hậu quả về luân lý, xã hội, gia đình sẽ như thế nào ?
Tóm lại, trước khi về Trời, Chúa Giêsu đã
trao cho các môn đệ một sứ mệnh trọng đại. Ðể bảo đảm cho các ông sức
mạnh thi hành sứ mệnh ấy, Chúa đã cho thấy Người đã nắm mọi quyền hành
trên trời dưới đất. Quyền hành sẽ giúp các ông rao giảng Tin Mừng, quy
tụ muôn dân để làm thành Nước Trời trên trần thế. Quyền hành đó nhằm
phục vụ và giải thoát, chứ không phải để thống trị. Kết quả con người sẽ
hoàn toàn hạnh phúc vì được sống trong “công chính, bình an và hoan lạc
trong Thánh Thần.”
Lạy Chúa, xin cho con vững tin
vào sứ mệnh Chúa đã trao phó cho con. Xin tăng cường Thần Khí trong con
để con ra đi đem niềm vui cho mọi người. Amen.
đỗ lực 04.05.2008
----------
1.
http://www.zenit.org/article-22426?l=english
2.http://www.kofc.org/un/cmf/resources/Communications/documents/ americans_reflect.pdf
3. Toát Yếu Học
Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 168.
4. Ibid., 383.
5. Ibid.
6. ibid., 393.
7. ibid., 394.
8. Ibid., 396.
9.
http://www.zenit.org/article-22440?l=english
10 .
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4983
11.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/USCIRF-Vietnam-Religious-CPC-list-Ntran-05022008125948.html
Lm. Jude Siciliano, OP (Anh
Em Nhà Học Đaminh chuyển ngữ.)
Lạy Chúa đến bao giờ ?... Sắp rồi.
Mt 28:
16-20
Thưa quý vị,
Tôi từng nghe người ta cầu nguyện lớn tiếng với Đức Giêsu. Tất cả chúng
ta khi tham dự các nghi thức phụng vụ hay tụ họp cùng nhau cầu nguyện
thì ai cũng có những nhu cầu đặc biệt – bình an, những người bệnh, và
những ai túng thiếu,… Tôi không có ý nói đến những khi chúng ta cầu
nguyện trong cộng đoàn, nhưng là những lời cầu nguyện mà người ta thốt
lên trong những giây phút cụ thể trong cuộc sống; lời nguyện khi bị áp
bức, và trong lúc bị thử thách. Dì của tôi phải chấp nhận cái chết rất
chậm chạp và đau đớn vì bị khí thũng. Nhiều lần dì tôi cầu nguyện thảm
thiết khi thở hắt ra: “Lạy Chúa tôi, còn đến bao giờ nữa?”
Cách đây vài tuần một chiếc tàu chở những người tị nạn Lybi bị lật úp
trong cơn bão ngoài Địa Trung Hải và 600 người bị nhận chìm. Nhiều người
cảm động khi xem thấy trên tivi cảnh tượng này, “Ôi lạy Chúa, còn đến
bao giờ nữa?” Một báo cáo khác về tình trạng lạm dụng tình dục và những
che đậy khác trong Giáo hội, và tôi phải lớn tiếng cầu xin khi nghe bản
tin trên rađiô: “Lạy Chúa, còn đến bao giờ nữa?”Chúng ta thốt lên lời
cầu xin đó vì chúng ta đang bị kẹt cứng giữa buổi giao thời: giữa khoảng
thời gian Đức Giêsu rời khỏi các Môn đệ và thời mà Người hứa sẽ quay trở
lại. Chúng ta muốn Người đến thật nhanh, nhất là khi cuộc sống đè nặng
trên chúng ta hay những người xung quanh.
Các môn đệ quy tụ quanh Đức Giêsu ngay trước lúc Người chuẩn bị rời khỏi.
Các ngài cũng cầu nguyện bằng một cách khác: “Thưa Thầy, có phải bây giờ
là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?” Ai dám khiển trách các
ông vì sự nôn nóng mà các ông bộc lộ trong câu hỏi của mình?Các ông muốn
Đức Giêsu kết thúc mọi chuyện cho xong. Nhưng rồi, các ông lại chẳng
được Người ở cùng như trước nữa, nhất là trong khoảng thời gian 40 ngày
sau khi Người phục sinh. Các ông và cả chúng ta nữa sẽ phải chờ ngày
Người trở lại để hoàn tất những gì Người đã mạc khải cho chúng ta.
Nói thì dễ hơn là làm. Chính việc chờ đợi trong “buổi giao thời” kiểm
chứng niềm tin, niềm hy vọng và tình yêu của các môn đệ cũng như chúng
ta, hậu duệ của các ngài trong niềm tin. Giáo hội cho đến nay, vẫn cầu
nguyện trong suốt thời gian khó khăn với cũng một lời nguyện giống như
thế, “Ôi lạy Chúa, còn đến bao giờ nữa?” Chúng ta còn phải chịu đựng
thời gian thử thách niềm tin của chúng ta với những bách hại từ chính
những thành viên của chúng ta và cả chúng ta đến bao giờ nữa?
Đức Giêsu khởi xướng lên một thời đại mới, nhưng chúng ta thường không
cảm thấy sự tồn tại của nó khi chúng ta chờ đợi, băn khoăn và cầu nguyện.
Người môn đệ đặt câu hỏi với Đức Giêsu có phải “đây là lúc” người “khôi
phục vương quốc It-ra-en không” thì không thấy được nhắc tên. Có vẻ như
không phải là một người cụ thể nào. Công vụ Tông đồ nói: “Họ hỏi Người”
– đó là câu hỏi của Giáo hội. Cộng đoàn tín hữu đã đặt câu hỏi và rồi
cho đến nay vẫn tiếp tục thắc mắc “Khi nào Ngài sẽ hoàn tất công trình
của mình? Chúng ta còn phải đợi Ngài bao lâu nữa để Ngài hoàn tất công
trình đó?”
Đức Giêsu không đưa ra câu trả lời cho mối quan tâm của các môn đệ về
việc khi nào Người sẽ trở lại để hoàn tất niềm mong chờ của họ. Điều đó
sẽ xảy ra vào một ngày nào đó; trong lúc đó thì Người rời khỏi họ. Quả
là họ rất sợ hãi và cảm thấy bi đát! Người nói họ phải tiếp tục sứ mạng
của Người mà không có Người ở bên giúp đỡ. Viễn cảnh phải gánh vác trách
nhiệm quả thật khiến họ thấy hết sức nặng nề.
Hôm rồi, tôi xem thời sự nói về một đội leo núi chuẩn bị trèo lên đỉnh
Everest. Đoạn phim cho thấy họ chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước khi bắt đầu
xuất phát. Họ cần trang phục đặc biệt, bình ôxy, lều, dây thừng, hệ
thống thông tin, bản đồ, dụng cụ kiểm tra hướng gió và dĩ nhiên cần đến
một đội hướng dẫn leo núi chuyên nghiệp Sherpas để bảo vệ cũng như dạy
họ cách leo lên và xuống khỏi đỉnh Everest. Những người leo núi có lẽ đã
phải chuẩn bị, hết sức có thể, cho những tình huống bất ngờ - mà chắc
chắn sẽ xảy ra. Tôi chắc rằng những gì quý giá nhất mà họ có được hẳn
phải là những người leo núi chuyên nghiệp Sherpas. Tất cả chúng ta cũng
có thể cần đến sự giúp đỡ của những người khỏe hơn, thông minh hơn, và
dày dạn kinh nghiệm hơn để giúp chúng ta hoàn tất cuộc đời Kitô hữu của
mình.
Đức Giêsu đã hứa trợ lực cho các Kitô hữu tiên khởi này. Người biết
trách nhiệm mà Người đã trao lại cho họ. Người cũng biết những thất bại
trước đây của họ, những mâu thuẫn nội bộ, và cuối cùng là cả sự phản bội
của họ. Họ cần được trợ giúp để đối diện với những ngọn núi của chống
đối và vấn nạn mà thế giới này đem đặt trước mặt họ. Người cũng biết rõ
họ đến độ có thể thấy trước những mâu thuẫn và chia rẽ sẽ nảy sinh giữa
họ. Vì thế, Người hứa sẽ sai Thánh Thần đến với họ. Thánh Thần có thể
hướng dẫn, kiện cường và canh tân họ bằng nhiều cách. Họ sẽ được kêu mời
làm chứng cho Đức Giêsu – “tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê,
Samari và cho đến tận cùng trái đất”.
Trình thuật về việc Đức Giêsu Thăng Thiên trong Công vụ Tông đồ là cách
mà thánh Luca dùng để khép lại những lần hiện ra của Đức Giêsu với các
môn đệ sau Phục sinh. Thánh Luca mô tả Đức Giêsu Phục Sinh chỉ dạy các
môn đệ về Nước Chúa. Giờ đây, với sự ra đi của Người, các ông sẽ nói và
hành động nhân danh Người và Nước của Người. Nhưng trước tiên họ có việc
phải làm. Họ phải chờ đợi – đợi Thần Khí mà Đức Giêsu sẽ gửi đến cho họ
để họ có thể ra đi và rao giảng về triều đại mới mà Đức Giêsu đã loan
báo.
Chúng ta đang sống trong “buổi giao thời” – một khoảng dừng giữa hai lần
ngự đến của Đức Giêsu: lần đầu tiên và ngày Người trở lại. Đó hẳn là một
quãng dừng dài! Có những nguy hiểm trong mỗi thế hệ mà Giáo hội chờ đợi
sẽ mất đi niềm háo hức mong mỏi Đức Giêsu, Đấng ra như vắng bóng từ rất
lâu trong quá khứ. Chúng ta có thể luyến tiếc quá khứ. Giáo hội của
chúng ta không phải là nơi tưởng nhớ một vị lãnh đạo chết từ lâu. Thông
điệp của Thiên Thần nói với các môn đệ đang nhìn về trời đã rất rõ ràng,
rằng chúng ta không chỉ là những câu lạc bộ những người hâm mộ, gặp gỡ
định kỳ để hâm nóng nỗi nhớ mong.
Song, như Đức Giêsu hứa, chúng ta được ban tặng cũng một Thánh Thần
quyền năng, Đấng làm cho Đức Giêsu sống động và tiếp tục hiện diện không
chỉ qua sứ vụ rao giảng và chữa lành của Người mà còn qua cuộc khổ nạn
và cái chết của Người nữa. Cũng một Thần Khí ấy giúp chúng ta tránh khỏi
sự tù hãm và hiếu kỳ, khỏi những hạnh tích cổ xưa trong quá khứ. Nhờ
Thánh Thần người ta sẽ không còn nói với chúng ta: “Chẳng phải họ kỳ
quặc sao? Chẳng phải niềm tin và những thực hành của họ quá cổ kính và
hoang sơ đó sao?” Nhờ Thánh Thần, chúng ta được mời gọi và tăng thêm sức
mạnh để trở thành những chứng nhân hiện đại làm chứng cho Đức Kitô sống
động vẫn đang hiện hữu với chúng ta, Đấng đang rao giảng về một thời đại
mới qua chúng ta, những gì Người thực hiện trong cuộc đời mình – rao
giảng Tin mừng, chữa lành kẻ bệnh hoạn và đưa con người về với Thiên
Chúa.
Quý vị còn nhớ những người leo núi chuẩn bị kỹ lưỡng như thế nào để lên
đỉnh Everest chứ? Đức Giêsu quan tâm đặc biệt để trang bị cho các môn đệ
những gì các ông cần cho những khi phải đối diện với những dốc núi trong
cuộc đời và sứ vụ của các ông. Đến khi thích hợp Người sẽ gửi Thánh Thần
của Người đến. Làm thế nào các Môn đệ và cả chúng ta nữa có thể bước vào
thế giới nếu không được trang bị một Thánh Thần như thế?
Thánh Luca không cho thấy Thánh Thần đến ngay khi Đức Giêsu ra đi. Nhưng
các Môn đệ phải tin tưởng vào lời của Người và chờ đợi. Đó là việc đầu
tiên Đức Giêsu yêu cầu các ông thực hiện – chờ đợi. Khi người môn đệ như
chúng ta đợi chờ Thiên Chúa, chúng ta cũng làm như thế trong lời nguyện
của mình. Vì thế, các ông quy tụ cùng với Đức Maria và với các môn đệ
nam nữ trong phòng trên lầu, chờ đợi và cầu nguyện.
Chúa Nhật tới chúng ta sẽ mừng lễ Hiện Xuống, khi Thánh Thần được đổ
tràn xuống trên các môn đệ đang họp nhau. Chúng ta và giáo hội luôn cần
được canh tân trong Thánh Thần như thế. Có thể chúng ta không được sai
đi “khắp thế gian” để làm chứng cho Đức Giêsu; nhưng được sai đến những
nơi gần hơn – đến với gia đình mình, với trường học, công sở của mình,…
Cũng thế, chúng ta được kêu mời để đến với những người này và đặt niềm
tin của mình cho Thánh Thần tăng sức.
Trong suốt tuần tới, chúng ta lại làm những gì Đức Giêsu hướng dẫn các
môn đệ của Người – chúng ta chờ đợi. Trong khi chờ đợi, chúng ta đưa vào
lời nguyện của mình những nhu cầu cá nhân để được canh tân niềm tin
trong Đức Kitô Phục sinh. Chúng ta cũng cầu nguyện cho những ai không
còn dấn thân trong cộng đoàn giáo hội, cũng như cầu nguyện cho những ai
đang bị tra tấn tinh thần dưới nhiều hình thức như cô đơn, nghèo khổ,
bạo hành và đau ốm…
Tuần này chúng ta cầu xin. “Lạy Chúa, còn đến bao giờ?” Và chúng ta nghe
thấy Đức Kitô, sẵn sàng đổ tràn Thánh Thần của Người để trả lời cho
chúng ta, “Sẽ sớm thôi, sắp rồi!”
Lm.
Jude Siciliano, O.P.
Hãy chúc tụng vinh quang
Thiên Chúa!
Cv
1,12-14; Tv 27; 1 Pr 4,13-16; Ga 17,1-11
Kính thưa quý vị,
Cách đây không lâu,
thân phụ một người bạn của tôi qua đời. Ông là người chồng, người cha
mẫu mực và là trụ cột vững chắc trong gia đình. Ông lâm trọng bệnh một
thời gian và bạn tôi nghĩ bố mình vẫn còn trăn trở, lo lắng về gia đình,
đặc biệt là vợ mình hay đau yếu. Liệu rằng bà ấy có được chăm sóc sau
khi ông qua đời hay không? Bạn tôi nghĩ bố anh cần sự đồng ý và lời hứa
(của người thân) để có thể ra đi. Vì thế, trong một đêm bên cạnh bố, bạn
tôi đã nói với ông rằng: “Thưa bố, chúng con hứa sẽ chăm sóc cho mẹ. Giờ
đây bố có thể yên tâm ra đi.” Sáng hôm sau, bố anh qua đời.
Đôi khi, những
người đang hấp hối cần được đồng ý để họ bình an ra đi. Một số người cố
níu kéo cuộc sống do sợ hãi những điều còn ở phía trước. Một số khác,
nhìn những người thân yêu đang vây quanh, lại vẫn chưa muốn rời bỏ họ mà
đi. Đôi khi, giống như điều bạn tôi nghĩ về thân phụ anh, có những người
còn lo lắng cho tình trạng sức khỏe của người thân. Ai sẽ chăm lo cho
những người này sau khi tôi qua đời?
Mối dây yêu thương
liên kết chúng ta với những người thân một cách bền chặt. Chúng ta tin
rằng thời gian đổi thay, nhưng tình yêu thì còn mãi, vượt trên cả sự
chết. Chúng ta cầu nguyện cho những người quá cố, và tin tưởng rằng họ
cũng cầu nguyện cho chúng ta. Làm sao họ không thể cầu nguyện cho chúng
ta bởi vì tình yêu luôn trường tồn và là một nhân đức mạnh mẽ cơ mà?
Chúng ta vẫn biết rằng những quan hệ máu mủ không phải lúc nào cũng liên
kết chúng ta được. Các sợi dây liên kết như thế cũng có thể xuất hiện
giữa bạn bè với nhau, giữa thầy/cô giáo và học sinh, giữa những vị thầy
tâm linh và những môn đệ, v.v..
Vào lúc lâm chung,
Thánh Đa Minh, Đấng sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã khuyên các anh
em đang vây quanh ngài đừng đau buồn, vì ngài sắp đi đến một nơi, ở đó
ngài có thể làm được nhiều điều hơn cho các anh em trước nhan Chúa. Có
cùng một âm hưởng như vậy, Tin Mừng hôm nay nói đến những thời khắc và
những lời trăng trối cuối cùng. Đức Giêsu không ra đi trên giường bệnh,
nhưng cái chết đối với Người không còn xa nữa. Đức Giêsu không lo cho
chính mình, nhưng lo lắng cho những bạn hữu đang đồng bàn với Người.
Ngay giờ phút thân mật và trang trọng này, Người cầu nguyện cùng Thiên
Chúa. Chúng ta được diễm phúc lắng nghe những lời của Người.
Người cầu nguyện
rằng: “Lạy Cha! Giờ đã đến, xin tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh
Cha…” Có gì là vinh quang trong cái chết của ông Giêsu lành thánh này?
Có điều gì để vui mừng và hân hoan đây? Có lẽ, bởi trong cái chết của
Đức Giêsu, người ta nhận thấy Người đã hoàn toàn tín thác vào Thiên
Chúa. Người luôn trung tín dù phải chịu đau khổ và phải chịu chết. Đây
chẳng phải là niềm hân hoan sao! Xin tôn vinh Thiên Chúa!
Trong cái chết của
Đức Giêsu, người ta hiểu được Thiên Chúa yêu thương Người đến dường nào,
hiện diện bên cạnh Người và tăng sức cho Người. Đây chính là một lời hứa
cho chúng ta: Thiên Chúa cũng yêu thương và hiện diện bên cạnh chúng ta
trong đau khổ và thất vọng. Đây chẳng phải là điều đáng vui mừng hay sao!
Xin tôn vinh Thiên Chúa! Sau khi Đức Giêsu chịu chết, Thiên Chúa không
bỏ rơi Người nơi huyệt mộ, nhưng đã nâng Người lên một đời sống mới. Đây
cũng là một lời hứa cho chúng ta: Thiên Chúa sẽ không rời bỏ chúng ta
trong sự chết, nhưng sẽ nâng chúng ta lên một đời sống mới. Đây chẳng
phải là điều đáng vui mừng hay sao! Xin tôn vinh Thiên Chúa!
Lời cầu nguyện của
Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly đã được hoàn tất. Vinh quang Thiên Chúa
chiếu toả nơi Đức Giêsu. Thiên Chúa chứng tỏ sự tin tưởng, thuỷ chung và
mạnh mẽ trong đau khổ và cái chết của Đức Giêsu. Ngoài Thiên Chúa ra, ai
có thể khuất phục hoàn toàn và đánh bại sự chết? Nếu Thiên Chúa đã chinh
phục được sự chết, thì không ai phải sống mà không có niềm hy vọng. Sẽ
chẳng còn một hoàn cảnh hay nơi nào vượt khỏi tầm với của Thiên Chúa;
chẳng một ai lạc hướng mà Thiên Chúa lại không trao ban sự sống cho họ.
Đây chẳng phải là điều đáng vui mừng hay sao! Xin tôn vinh Thiên Chúa!
Các cuộc chiến
thắng và những khoảnh khắc vinh quang trong cuộc sống chỉ là nhất thời.
Năm trước, đội Red Sox đã thắng giải World Series trên sân Fenway. Những
người hâm mộ đội bóng rất phấn kích và ăn mừng chiến thắng trong nhiều
ngày. Đây là vinh quang của năm ngoái. Nhưng năm nay, họ thắng 20 trận
và để thua 21 trận. Vinh quang thế gian thật chóng qua! Từ nơi Đức Giêsu,
chúng ta học biết rằng vinh quang Thiên Chúa biểu lộ chính là việc Người
hiện diện bên cạnh chúng ta ngay cả trong thất bại, và hứa ban cho chúng
ta sự sống mới. Thiên Chúa có thể giúp chúng ta bắt đầu lại khi mọi sự
dường như không thể. Chúng ta có thể sử dụng một từ để miêu tả tất cả
điều này, tóm gọn vinh quang Thiên Chúa, đó là “Phục sinh”
Chúng ta tôn vinh
sự phục sinh không chỉ trong Lễ Phục Sinh hoặc những tuần sau lễ này,
nhưng là mỗi khi chúng ta quy tụ nơi đây để thờ phượng. Chúng ta tôn
vinh điều sứ thần Gabriel nói với Đức Maria: “Đối với Thiên Chúa, không
có gì là không thể.”
Đôi lúc, thật khó
để giữ lấy niềm hy vọng: dù đã biết lường trước hết mọi cách, nhưng mọi
việc vẫn cứ rạn nứt ở những nơi vết thương sắp lành; khi khả năng của lý
trí cám dỗ chúng ta hãy từ bỏ và thúc giục chúng ta: “Hãy quên đi”; khi
chúng ta dồn hết tâm lực vào một vấn đề khó khăn nào đó, và chúng ta
không chắc mình có thể thành công hay không. Chúng ta cần những điều đã
mang đến cho Đức Giêsu, đó là sức mạnh, hy vọng và niềm tin tưởng vào
Thiên Chúa. Tắt một lời, chúng ta cần Thánh Thần.
Trong bữa Tiệc Ly,
Thiên Chúa đã hứa với các tông đồ rằng Người sẽ không để các ông mồ côi,
cũng chẳng để chúng ta lẻ loi một mình, nhưng sẽ sai Thần Khí đến với
chúng ta. Và Người đã giữ lời hứa.
Tuần sau, chúng ta
sẽ mừng kính Thần Khí ngự đến. Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống không chỉ
là một trong những ngày lễ lớn của Giáo hội. Đó là lễ chúng ta chúc tụng
vinh quang Thiên Chúa: Thiên Chúa chúng ta, Đấng luôn quý trọng chúng ta,
Đấng không bỏ rơi chúng ta trong những lúc khó khăn, và khi chúng ta
thấy mình như đã chết, thì Đấng ấy lại ban cho chúng ta sự sống mới.
Giờ đây, liệu rằng
đội Red Sox sẽ chiến thắng trong mùa giải khác, sẽ giành giải World
Series một lần nữa và mang vinh quang về cho Boston hay không? Trừ phi
họ cải thiện những cú đánh bóng và ném bóng!
|