Năm A

 
 

CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM A

Is 50,4-7 / Pl 2,6-11 / Mt 26,14 - 27,66
 

An Phong op : Chúa Chịu Tử Nạn Trong Tôi

Như Hạ op : Định Mệnh An Bài

Fr. Jude Siciliano op : Người Tôi Trung và sứ mạng

Fr. Jude Sicilianô, op : Rộng lòng đón nhận Lời Chúa

G. Nguyễn Cao Luật op : Vào Thành Để Chịu Chết

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chết vì tình yêu

Giacôbê Phạm văn Phượng, op : Hoan hô- Đả đảo

Phanxicô X. Trần Đức Tuân op : Vì yêu, Chúa đã chết cho chúng ta

Đỗ Lực op : Con Đường Hòa Giải

Lm Thomas Túy, op : Chính tội lỗi con đã treo Chúa trên Thập giá

Fr. Jude Siciliano, op : Người mang thân phận con người để ta được sống

Fr. Jude Siciliano, op: Anh em hãy uống "chén" của Thầy

 

 

 
An Phong op

Chúa Chịu Tử Nạn Trong Tôi
Mt 26,14 - 27,66

Vào đầu Tuần Thánh năm 1997, nhà văn Adolto Eskivei, người Ac-hen-ti-na bị cảnh sát bắt giam vì các hoạt động bất bạo động để bênh vực giới nông dân nghèo. Trong 32 ngày liên tiếp, ông bị giam trong một cái ống - một loại củi chật hẹp. Một hôm, ông tìm cách viết được một lá thư cho các người bạn ở Sao Paolo như sau :

Các bạn thân mến, tôi không muốn nói với các bạn về nỗi khổ đau, nhưng về niềm hy vọng và về ơn mà Chúa đã ban cho tôi, đó là được chịu khổ đau và sống với những anh chị em là nạn nhân của bất công, sống với những người mà, sau hai ba năm bị giam giữ, họ cũng không biết tại sao họ phải chịu những hình phạt như vậy.

Tuy nhiên, mỗi ngày có một ánh sáng chiếu soi các đau khổ này, đó là sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi giây phút, trong mọi cử chỉ, Thiên Chúa của tình yêu thương, Ðấng tha thứ trên thập giá qua mọi thời đại : "Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm".

Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chịu chết, đây không phải là một câu chuyện xảy ra ở đâu đó, để người ta kể cho nhau nghe chơi, để bàn tán xì xào hoặc để cảm thương cho Chúa của mình.

Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chịu chết vì mỗi người chúng ta và trong mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu muốn chia sẻ trọn vẹn những khổ đau, vất vả và cái chết của cuộc sống con người.

Những đau khổ, vất vả, sỉ nhục, và cái chết vẫn còn đấy, nhưng nếu chúng ta hiệp thông vào cuộc khổ nạn và cái chết cứu độ của Chúa Giêsu; thì những khổ đau đó không còn có thể đè bẹp con người nữa; thân phận phải chết của con người không còn là điều gì phi lý nữa; những vất vả không còn là gánh nặng xiềng xích con người nữa.

Tin vào Chúa, người kitô hữu sẵn sàng chấp nhận khổ đau, vì biết rằng Thiên Chúa đã cùng chia sẻ cuộc đời với mình và đã đánh tan sức mạnh của thần chết bằng tình yêu tha thứ.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã trở thành người để đến với con người,
Chúa đã chịu bao khổ đau để cùng chia sẻ
những đau khổ chất chồng của cuộc sống con người
Chúa đã chịu chết
như bao nhiêu tội nhân,
như bao nhiêu bệnh nhân
như bao nhiêu người khác đang chết.

Và lạy Chúa Giêsu,
Ngày hôm nay Chúa lại hiện diện trong tấm bánh nhỏ bé này
để đến với con.
để chia sẻ gánh nặng của con,
để cùng con chết đi hằng ngày vì những khổ đau của con.

Con chẳng biết nói gì
hơn lời tạ ơn,
tạ ơn vì đời con có Chúa.


Như Hạ op

ÐỊNH MỆNH AN BÀI !
Mt 26,14 - 27,66

Thời gian nào cũng là thời gian. Nhưng không phải thời gian nào cũng giống thời gian nào. Mỗi người sẽ trải qua những giây phút cực kỳ quan trọng. Ðức Giêsu đã biết trước những giây phút đó. Cuối đời Người là một chuỗi vinh nhục.

TÌM MỘT CON ÐƯỜNG.

Dù khi vinh quang vào thành Giêrusalem hay tơi tả dưới làn mưa roi, Ðức Giêsu chỉ biết vâng theo thánh ý Chúa Cha mà thôi. Ðó là con đường dẫn tới vinh quang. Con đường phục vụ luôn sáng chói giữa những tương quan chằng chịt và biến cố bất ngờ. Tương quan trần gian thật mỏng manh. Có ai đáng tin cậy hơn các môn đệ ? Thế mà ông Phêrô "chối Chúa trước mặt mọi người" (Mt 26:71). Giuđa "nộp Ðức Giêsu." (Mt 26:16.48) "Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết" (Mt 26:56). Cháy nhà mới ra mặt chuột ! Nhưng Ðức Giêsu không lệ thuộc vào con người dòn mỏng. Chỗ dựa không phải là con người. Sức mạnh cũng không phải là gươm giáo gậy gộc, nhưng là "Cha Thầy" với "mười hai đạo binh thiên thần" (Mt 26:53) Bởi vậy, Người mới có thể đứng vững trước bao thử thách. Qua bao đoạn đường gập ghềnh, Người vẫn thẳng bước, vì mục tiêu đã được xác định dứt khoát.

Mục tiêu đó chính là vinh quang Thiên Chúa. Có lúc vinh danh Chúa Cha và Chúa Con không tách lìa. Chính lúc vào thành Giêrusalem, Ðức Giêsu tưởng như đã lên chín tầng mây với Chúa Cha khi dân chúng tung hô : "Hoan Hô Con vua Ðavít ! Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa ! Hoan hô trên các tầng trời." (Mt 21: 9) Nhưng Người cũng thấy vinh quang Chúa Cha tràn ngập ngay cả lúc nghe những lời nhục mạ : "Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi : ai đánh ông đó ?" (Mt 26: 68) hay khi "lính của tổng trấn quì gối trước mặt Người mà nhạo rằng : 'Vạn tuế Ðức Vua dân Do thái !'" (Mt 26:29) Một nguồn bình an khôn tả khỏa lấp con tim ngay giữa cảnh "kẻ qua người lại đều nhục mạ Người." (Mt 27:39) Vinh quang vẫn lóe lên ngay trong đêm đen hận thù: "Nếu mi là Con Thiên Chúa… Hắn là Vua Ítraen ! Hắn đã nói : 'Ta là Con Thiên Chúa !'" (Mt 27: 40.42.43) Ðã đến lúc Cha làm vinh danh Con. Ðứng trước các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Ðồng, Người vẫn khẳng quyết mình "là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa." (Mt 26:65) và trước mặt tổng trấn Philatô, Người xác nhận mình là "vua dân Do thái." (Mt 27:11) Ðứng giữa đám đông khát máu đang gào thét : "Ðóng đinh nó vào thập giá !" (Mt 27:23.25.26), Ðức Giêsu vẫn nghiễm nhiên vươn lên như Ðấng "Kitô" (Mt 27:22)

Tất cả xảy ra không ngoài "ý cha" (Mt 26:39). Những lúc "làm thinh" (Mt 26:63) hay "không trả lời một tiếng" (Mt 27:12) là những lúc Ðức Giêsu kiên cường bất khuất trước cường lực đối phương. Người như chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa để tìm một lối thoát cho những bế tắc hiện tại. Càng nhìn lên cao, Người càng không thấy lý do phải đối đầu với những toan tính thấp hèn như thế. Chấp nhận cái chết nhục nhã để thi hành thánh ý Cha, chứ không chịu uốn cong ba tấc lưỡi để tìm đường chạy trốn khỏi định mệnh. Nếu chối bỏ sự thật về mình, chắc chắn Người đã không khơi bùng ngọn lửa căm hờn trong lòng các thượng tế và dân chúng. Nhưng Ðức Giêsu đã không hèn nhát đi tìm một con đường dễ dãi như thế. Ngay cả khi giang tay trên thập giá, Người cũng không chấp nhận những thách thức rẻ tiền để chứng minh mình là "Con Thiên Chúa" (Mt 27:43). Không thể tìm thấy chân lý nơi những ồn ào phức tạp đó. Chính trong thinh lặng và cầu nguyện, Ðức Giêsu đã khám phá được tất cả nét hào hùng và dịu ngọt của tình yêu Thiên Chúa.

Tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ðức Giêsu đã có thể mạc khải mầu nhiệm Thiên Chúa tình yêu ngay giữa lúc tâm hồn đang cay đắng vì cảnh Giuđa "nộp Người" (Mt 26:48) và "tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy." (Mt 26:31) Chính khi mọi tương giao nhân loại bị bứt tung, Ðức Giêsu lại mạc khải "đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội." (Mt 26:28) Máu Thầy đem lại sự giải thoát cho toàn thể nhân loại. Tất cả kế hoạch thâm hiểm của con người vô tình đã làm cho máu Thầy đổ ra theo đúng chương trình tình yêu của Thiên Chúa.

Khám phá và chấp nhận tất cả chương trình tình yêu Thiên Chúa đòi nhiều sáng suốt và can đảm. Chính vì vậy, trước khi nộp mình vào tay các quân lính thượng tế và kỳ mục, Ðức Giêsu đã cầu nguyện ba lần trong vườn Ghếtsêmani. Trước giờ phút cực kỳ quan trọng đó, các môn đệ vẫn vô tình như đã vô tình từ trước đến nay. Lúc nào họ cũng chỉ quan tâm đến quyền lợi riêng. Họ có thể dùng chính những mỹ từ thân thương và cử chỉ âu yếm để che dấu sự phản bội (x. Mt 26:49). Những dấu chỉ tình yêu đó và những lời khẳng quyết "không chối Thầy" (Mt 26:35) đều mất hết ý nghĩa. Có nhiều lúc ngôn từ không mang nổi nội dung diễn đạt. Nhưng nếu cố tình phản bội nội dung ngôn từ, con người sẽ phải trả giá. Sau khi nuốt lời hứa, ông Phêrô "ra ngoài, khóc lóc thảm thiết." (Mt 26:75) Giuđa cũng hối hận không kém : "Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan." (Mt 27:4) rồi "Giuđa ném số bạc vào Ðền Thờ và ra đi thắt cổ." (Mt 27:5) Hối hận đến thế vẫn chưa đủ sao ? Tại sao phải thắt cổ mới xứng với việc đền bù ? Thật là một mầu nhiệm. Giuđa đã trả giá quá mắc ! Chúa có đòi vậy đâu !

NGƯỜI MÔN ÐỆ CHÂN CHÍNH.

Ðiều Chúa đòi là người môn đệ phải chân thành với chính mình. Sau khi chối Chúa, ông Phêrô đã "khóc lóc thảm thiết" vì thấy mình quá yếu đuối. Còn ông Giuđa không hề khóc lóc, chỉ giận dữ lên án chính mình và tự xử cho mình, không kiên nhẫn đợi giây phút trở về với Cha nhân lành. Từ chỗ ồn ào hăm hở trả giá Thầy, ông đã đụng đầu một cái tôi rối loạn đến nỗi không còn nhận ra sự thật về mình. Muốn tránh được tai họa thảm khốc đó, "trên hết trong xã hội tục hóa ngày nay, cần phải có một mục tiêu rõ ràng và một ý chí kiên vững, trực tiếp phát sinh từ những nguồn mạch Phúc âm chân chính." (ÐGH Gioan Phaolô II, Zenit : 18/03/2002) Sống với Thầy suốt một quãng đường dài, nhưng ông Giuđa không hề một lần kinh ngạc về thực tại trước mắt. Thói quen và lối sống hằng ngày đã bưng mắt không cho người môn đệ thấy sự thật về Thầy. Mọi sự đương nhiên phải như thế !

Thực tế mọi sự chẳng sẵn sàng như ta tưởng. Chính Thầy cũng không hiện diện đấy như một thực thể nằm sẵn trong tầm tay. Không coi Thầy như một giá trị tuyệt đối, không thể khám phá Thầy như một chân lý giải thoát. Nhất là trong thế giới ngày càng xa lạ với Thiên Chúa hôm nay, con người không biết mình là ai và tại sao mình sống. Triết lý sẽ giúp con người khám phá ra chiều kích sâu xa đó. Nhưng chỉ "khi triết lý gặp gỡ Ðức Kitô trong Tin Mừng, thì Tin Mừng thực sự mới bắt đầu lan tỏa khắp thế giới." (ÐGH Gioan Phaolô II, Zenit : 19/03/2002) Hiện nay, công bố Phúc âm ngày càng gặp nhiều khó khăn vì hoàn cảnh văn hóa phức tạp (ÐGH Gioan Phaolô II, Zenit : 19/03/2002). Trong thế giới quá ồn ào hôm nay con người không còn thời giờ khám phá những giá trị vô cùng quan trọng và cần thiết cho cuộc sống. Nếu không thấy mình có "bổn phận nặng nề phải chuyển đạt những giá trị nhân bản, tinh thần và thiêng liêng cho các thế hệ trẻ," (ÐGH Gioan Phaolô II, Zenit : 19/03/2002) cha mẹ và nhà giáo sẽ không thể cung cấp cho xã hội tương lai những con người chân chính và đầy trách nhiệm đối với xã hội.

Chỉ trong xã hội đầy những con người như thế mới có thể loan báo Tin Mừng về Ðức Giêsu như Ðấng cứu độ duy nhất cho toàn thể nhân loại.


Fr. Jude Siciliano op 

Người Tôi Trung và sứ mạng
Mt 26,14 - 27,66

Thưa quý vị.

Theo nghĩa thông thường, khi chúng ta gọi ai là tiên tri, tức ám chỉ khả năng dự đoán tương lai của người đó. Sách Isaia hôm nay phản ánh đúng bản chất của một tiên tri chân thật. Nghĩa là những việc ông làm, những hậu quả ông chịu. Ðó là đau khổ và đôi khi là cái chết thê thảm. Mỗi câu, mỗi đoạn mô tả một khía cạnh của cuộc đời tiên tri. Ðiều này thật am hợp khi Hội Thánh khởi sự một tuần lễ đặc biệt. Tuần lễ tập trung suy gẫm về đau khổ Chúa Giêsu phải gánh chịu vì nhân loại, vì chúng ta. Cho nên bài đọc liên quan trực tiếp đến số phận của Ngài. Nói cách khác Chúa Giêsu ứng nghiệm đầy đủ và hoàn toàn đời sống tiên tri mà Isaia đã mô tả trong Cựu ước.

Trong phần thứ nhì của sách tiên tri Isaia, từ chương 40 đến chương 55, quen gọi là Isaia đệ nhị, có tất cả 4 bài ca về người tôi tớ trung tín của Giavê. Những bài ca này mô tả số phận của một người tôi tớ Thiên Chúa đã chọn một cách đặc biệt. Các chuyên viên Thánh kinh đặt tên là "Các bài ca người tôi tớ đau khổ của Giavê". Bài đọc hôm nay là bài ca thứ ba. Chúng ta đã đọc hai bài trước ở các tuần lễ thứ 4 và thứ 5 mùa Chay. Tiên tri đã cho chúng ta hay, Thiên Chúa tuyển chọn một con người đặc biệt. Trao cho ông nhiệm vụ nói tiên tri, tức an ủi, khích lệ một dân tộc đang trong số phận nguy khốn. Người này cũng phải chịu khổ đau, chịu cực hình bởi nhiệm vụ của mình như các tiên tri khác trong lịch sử. Tuy nhiên ông đã hoàn toàn tự hiến cho thánh ý Thiên Chúa và trung thành trong ơn gọi của mình bất kể mọi hy sinh. Ai là người tiên tri đó ? Có thể là dân tộc Do thái khi dân tộc đó làm tròn ơn gọi "ánh sáng cho muôn dân". Cũng có thể là một lãnh tụ vĩ đại nào đó hay một hiền nhân quân tử đứng ra lãnh đạo tuyển dân trở về với Thiên Chúa. Người tôi tớ này thánh thiện nổi bật, cho nên thường được giải thích là một nhân vật Thiên sai. Ðó là lý do Hội Thánh đồng hóa với Chúa Giêsu và nhìn nhận Ngài như nhân vật ứng nghiệm lời tiên tri của Isaia.

Như vậy song song với bài thương khó hôm nay, người tôi tớ vô tội và dịu dàng này phải chịu đau khổ. Ðau khổ không một lời oán trách. Bởi vì người tôi trung đã được chọn để nói "lời nâng đỡ những ai rã rời, kiệt sức". Tuy trong Thánh kinh không thấy bằng chứng nào là người tôi tớ thay đổi được tình trạng của các kẻ rã rời, nhưng rõ ràng ông đã trung tín với ơn gọi của mình. Ông đã can đảm nói lên "một lời" với những kẻ kiệt sức. Tác giả Isaia đệ nhị hơn bất cứ tiên tri nào khác tin tưởng vào quyền năng của Lời Thiên Chúa. Và những lời đó được ban cho các kẻ đang rã rời. Có sự khác biệt rất rõ giữa phần một và phần hai của Isaia : Phần một nói với cư dân Giêrusalem, cảnh cáo họ, thúc giục họ sửa đổi lối sống. Phần hai nói với những người Do thái đang lưu đầy ở Babilon, yên ủi họ và đầy giọng hy vọng tiên đoán sự khôi phục của Giêrusalem, canh tân dân tộc. Hai giọng văn hoàn toàn khác nhau. Nên mới có giả thuyết Isaia đệ nhất và Isaia đệ nhị.

Người tôi tớ được sai đến để nói lời an ủi. Lời hứa có thể chỉ là lời rỗng tuếch. Lời bánh vẽ "pie-in-the-sky encouragements", như các chính khách thường làm. Nhưng đây là lời của Thiên Chúa. Lời mang sức mạnh, sáng sáng được ban ra cho tuyển dân trong những cơn khủng hoảng, khó khăn. Khi người nào đó không giữ lời mình hứa, chúng ta thường bình phẩm "lời hứa cuội". Nhưng cũng có những lời thực sự mang sức nặng chữa lành trái tim, phấn khởi tinh thần và người nói ra thực sự đứng đàng sau những lời của mình, tỷ như : "Tôi sẽ giúp bạn giải quyết cho xong công việc này." "Tôi sẽ không làm bạn thất vọng." "Tôi tha thứ cho bạn." "Anh yêu em cho đến khi tắt hơi thở"… Những phát biểu như vậy cho chúng ta cảm nhận được tính thuyết phục Lời Thiên Chúa nói với tuyển dân đang mệt mỏi trong cảnh lưu đày. Và dân Ngài ý thức được Thượng đế không bao giờ quên họ. Thiên Chúa của biến cố "Xuất hành" sẽ thực hiện những bất ngờ để cứu giúp họ thoát khỏi tay các thế lực áp bức. Rất có thể họ cảm thấy thất vọng và đơn độc. Nhưng trong tâm trí vẫn đinh ninh Thiên Chúa sẽ cứu vớt họ, bởi lẽ Ngài đã sai ngôn sứ nói những điều an ủi, khích lệ. Thiên Chúa đứng sau những lời đó.

Xã hội chúng ta thường lầm lẫn khi gọi ai đó là tiên tri chung chung nếu ông hay bà ta có khả năng đoán biết tương lai. Bài đọc hôm nay giúp chúng ta nhìn chính xác hơn vào sứ vụ tiên tri trong cuộc đời. Nói cách khác nó mô tả công việc tiên tri phải như thế nào. Trước hết, những ai được Chúa chọn, được Ngài ban ơn làm tiên tri thì Ngài cũng ban cho miệng lưỡi đã được rèn luyện hoàn hảo (Well - trained tongue). Bản dịch Việt Nam là: Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ. Người tiên tri không tự tiện đảm nhận thẩm quyền. Thiên Chúa là nguồn mạch những điều cốt yếu để tiên tri hoàn thành nhiệm vụ. Thứ hai, miệng lưỡi hoàn hảo hiểu ngậm một lối sống đạo đức. Ðến đây tôi liên tưởng đến các luật gia tốt lành dám hy sinh quyền lợi để bênh vực những kẻ thấp cổ bé miệng, những nạn nhân của biết bao nhiêu sự kiện "cả vú lấp miệng em" trong xã hội, trên thế giới. Những công việc đó thường thường chẳng lợi lộc gì, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng, vất vả dùi mài để kiếm ra sự thật và bênh vực sự thật. Ðạo đức có rất nhiều hình thức : Cầu nguyện, học hành, đời sống đơn giản, khó nghèo, dám sống đói khát với những người đói khát để lắng nghe được họ, chú tâm đến những nhu cầu của người khốn khổ để hiểu được Thiên Chúa muốn nói gì với họ và cho họ v.v…

Sứ vụ tiên tri luôn đòi hỏi hy sinh. Sống sung sướng không thể làm tiên tri được ! Người tôi tớ trong bài đọc hôm nay chịu rất nhiều ngược đãi. Chúng ta không hiểu tại sao các đối thủ của ông lại nổi sùng vì ông. Isaia không nói, có lẽ tại vì ông đã thẳng thừng tuyên bố lời của Thiên Chúa. Ông khích động những kẻ rã rời nhìn lại số phận của họ. Các tiên tri thời nay cũng vậy thôi. Họ bị trù dập khốn khổ vì đã can đảm nói lên những bất công xã hội, những thói xấu của các kẻ cầm quyền, không tôn trọng sự thật, không nể vì lẽ phải, lợi dụng địa vị để ăn bớt ăn xén của công, mồ hôi nước mắt dân lành vô tội. Có thể người tôi tớ hôm nay bị giật râu, móc mắt, đánh nhừ đòn, mắng nhiếc, phỉ nhổ vì ông ta đứng trong hàng ngũ dân đen mà lại dám nói lời Thiên Chúa cho số phận nghèo hèn, thức tỉnh họ tranh đấu cho một xã hội công bằng hơn. Vì thế ông bị những kẻ có chức, có quyền ghen ghét, muốn trừ khử ông. Người tiên tri không cần phải dao to, búa lớn, không cần phải súng đạn mới được lắng nghe, đặc biệt trong những trường hợp nguy hiểm, như dân tộc Do thái dưới ách nô lệ lưu đày ở Babilon. Chỉ cần những gợi ý nhẹ nhàng nhưng đầy uy lực của sự thật và lẽ phải cũng đủ đốt cháy cả thế gian, giải phóng dân lành và ban đời sống mới, tự do, công bình và bác ái … Ðến đây tôi lại nghĩ đến các tiên tri trong các giáo hội thầm lặng trên thế giới hiện nay.

Nhưng chẳng thế lực nào ngăn cản được họ trung thành với ơn gọi của mình. Cô đơn, khó khăn không làm cho họ nhụt chí. Họ sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả. Lúc này xem ra họ bị Thiên Chúa bỏ rơi, không về phe với họ nữa. Họ bị cắt đứt với số đông chung quanh. Nếu như Thiên Chúa còn ưu ái họ, tại sao họ lại phải chịu đau khổ khi thi hành công việc của Ngài ? Có phải họ đang thực hiện nhiệm vụ Ngài trao ? Có phải sứ mệnh của họ là tốt, hợp với thánh ý Thiên Chúa ? Chính Chúa Giêsu đã cảm nghiệm như vậy khi chịu treo trên thập giá : "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa, tại sao Chúa bỏ con !" Cô đơn và yên lặng. Chúng ta có thể gợi nhớ lại những lời thách thức của Satan hôm Chúa Nhật I Mùa chay : "Nếu ông là con Thiên Chúa…" Chúng ta sẽ rùng mình nghi ngờ sự thành công của các tiên tri trong mọi thời đại. Sứ mệnh của Chúa Giêsu là một thất bại hoàn toàn và ê chề trên Thánh giá khi nhìn bằng con mắt xác thịt.

Do đó, chúng ta hiểu được lý do tại sao Hội thánh chọn đoạn văn này của Isaia để đọc song song với trình thuật về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trong thánh lễ hôm nay và với các biến cố của tuần lễ này. Ngài không đi chân đất vào thành thánh Giêrusalem như các khách hành hương khác. Ngài chọn đi trên lưng một con lừa nhỏ, dịu dàng và nhân ái như một ông vua thuộc hoàng tộc David. Nhưng dáng điệu của Ngài là dáng điệu của người tôi tớ mà tiên tri Isaia đã mô tả từ nhiều thế kỷ trước : "Chai mặt trơ như đá" để thi hành thánh ý Thiên Chúa, bất chấp mọi hậu quả đang chờ đợi ở Giêrusalem bởi tay các thượng tế đền thờ.

Như thế, hôm nay chúng ta cũng cử hành tưởng niệm tất cả các tiên tri của Thiên Chúa mọi nơi, mọi thời đại. Họ đã tỏ ra cực kỳ can đảm, rắn mặt với thế gian để nói lời Thiên Chúa. Họ tranh đấu với ý kiến đa số thay cho những kẻ cô thế, cô thân. Họ phải chịu đựng đau khổ, ngược đãi, chết chóc để thực hiện điều ngay, lẽ phải giữa một thế giới đầy dẫy gian dối và bạo lực. Họ chứng tỏ cho mọi người thấy rằng Thiên Chúa không giả ngây làm điếc trước tiếng kêu than của kẻ khốn cùng vì áp bức, bất công. Thiên Chúa không chỉ khởi sự công việc, Ngài còn theo đuổi cho đến khi hoàn thành. Ngài dần dần mở tai, ở miệng cho các tôi tớ Ngài. Ngày lại ngày Ngài dẫn dắt họ đi trên con đường kiến thức thiêng liêng, và nhận ra nhu cầu của thế giới văn minh hiện đại. Những cảnh lầm than như thời Isaia vẫn còn tràn ngập trên trái đất ngày nay. Hội thánh đã được Chúa Giêsu sai đi làm tiên tri. Mỗi người khi chịu phép thánh tẩy cũng được xức dầu để làm ngôn sứ. Chúng ta hãy nhận ra quyền năng của Thiên Chúa đứng sau các bài đọc thánh lễ, để đủ can đảm nói lời của Ngài trong các môi trường mình sống. Như vậy, việc cử hành Ơn Cứu Ðộ tuần này mới có ý nghĩa. Amen


Fr. Jude Sicilianô, op - 2005

Rộng lòng đón nhận Lời Chúa
(Mt 26, 14-27, 66)

Thưa quý vị.

Xin trích dẫn ra đây mấy câu Kinh Thánh thuộc bài đọc 1 thánh lễ để chúng ta suy niệm : “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế tôi không hổ thẹn, vì thế tôi trơ mặt ra như đá, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” (Is 50, 7) Quý vị đã bao giờ tưởng tượng “trơ mặt ra như đá” là như thế nào chưa ? Tiên tri Isaia dùng hình ảnh này để mô tả người tôi trung của Thiên Chúa trong bài ca thứ 3. Người tôi tớ trung thành sẽ là dụng cụ Thiên Chúa dùng để cứu thoát dân tộc Do thái khỏi ách nô lệ Babylon. Hiện thời dân Do thái đang sống lưu đày khắp đế quốc Assyria, làm những công việc khổ sai cho ông chủ Ba tư. Họ không còn là một dân tộc có chủ quyền, nhưng là dân bại trận, bị phát lưu để trừ hiểm hoạ nổi loạn. Số phận của họ lúc này thê thảm và bế tắc, không tương lai, bị áp bức cùng cực. Nhưng Thiên Chúa cho họ một tia hy vọng qua lời sấm của ngôn sứ Isaia : “Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng, vì có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi.” Trong cuộc sống tôi đã từng được chứng kiến những khuôn mặt “trơ như đá” nơi các lực sĩ, quyết tâm chiến thắng trong những cuộc thi đấu. Thí dụ các lực sĩ Marathon với con đường dài hàng chục cây số, nóng bức khát nước. Lance Armstrong cương quyết với căn bệnh ung thư mới khỏi, vượt xa các đối thủ khác trong cuộc đua xe đạp leo núi vừa vất vả vừa nguy hiểm, để chiếm vô địch thế giới. Một cô bé 14 tuổi đã đanh mặt chai như đá khi nhìn độ cao chiếc ván bật mà cô sắp leo lên để nhảy xuống hồ bơi đoạt huy chương vàng thế vận hội mùa hè ở Sidney (Úc).

Tiên tri Isaia đã dùng hình ảnh này hằng ngàn năm trước để mô tả gương mặt người môn đệ Thiên Chúa trước sứ vụ khó khăn. Chúng ta hãy đọc ngược trở lên vài câu để thấy rõ dung mạo của ông : “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng người đánh thức, người đánh thức tôi để tôi lắng nghe như một người môn đệ.” Như vậy, nhiệm vụ của người môn đệ là giáo huấn dân tộc Do thái đang trong kiếp nô lệ, mòn mỏi vì những lời hứa hão huyền của các ngôn sứ giả, đến nỗi họ nghi ngờ luôn các tiên tri đích thực, mặc dầu đã “rã rời” trong kiếp sống lầm than. Đây cũng là điều các nhà giảng thuyết tân thời nên lưu tâm. Chúng ta đa phần chỉ hùng hồn trong những sáo ngữ, không có thực chất để bảo đảm. Sống nhung lụa với đầy đủ tiện nghi mà rao giảng nghèo khó thiếu thốn thì quả là nghịch lý, chẳng ai tin. Ăn uống no đủ béo tốt, phương phi mà rao giảng ăn chay hãm mình thì chỉ là lừa dối, phỉnh gạt. Cứ xem hoàn cảnh của người tôi tớ hôm nay thì quá rõ. Ông rao giảng sứ điệp của mình trong đau thương nhịn nhục : “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” Vậy mà vẫn bị thiên hạ từ chối, bêu diếu và tẩy chay.

Tuy nhiên, người môn đệ không nhụt chí trong nhiệm vụ Thiên Chúa trao. Ông đặt trông cậy vào Ngài và tin tưởng Ngài sẽ báo oán cho những khổ nhục phải chịu. Mặc dù bị loại trừ một cách dã man, ông vẫn dựa vào Thiên Chúa để có sức mạnh lướt qua thử thách hằng ngày. Bài thơ đầy lời lẽ nhiệm mầu. Ai đã hành hạ người tôi tớ, kẻ thù của ông hay bạn hữu ? Tại sao người ta lại hành xích ông ? Đưa lưng cho người ta đánh đòn thời xưa có nghĩa các học trò chịu phạt để sửa chữa lồi lầm. Giơ má cho người ta giật râu ám chỉ kẻ vô lại bị đám đông làm nhục. Các nhà chú giải dầy công tìm câu trả lời, nhưng chưa thành công. Có lẽ vị tiên tri nghĩ đến số phận Giêrêmia bởi đồng bào mình. Sau này người ta áp dụng vào trường hợp Chúa Giêsu. Nhưng đó là điều ứng nghiệm khi thời gian viên mãn, còn lúc này thì chưa biết vị tiên tri muốn ám chỉ về nhân vật nào ? Hay đó chỉ là chương trình của Thiên Chúa, ý muốn của Ngài ?

Người công chính chịu đau khổ để đền tội cho toàn dân. Đau khổ của ông có giá trị hy sinh tẩy trừ tội lỗi mà con người xúc phạm đến Đấng Tối Cao. Chúng ta chưa thể xác định dứt khoát. Người tôi tớ đã đứng vững trong các cơn thử thách, Thiên Chúa đưa ông vào, bằng một ơn kêu gọi đặc biệt, bằng ánh sáng soi dẫn ông hằng ngày. Để ông rộng lòng chấp nhận chương trình của Ngài. Để ông không chạy trốn gian nguy. Để ông chai mặt ra như đá khi chịu đánh đòn, giật râu. Trong thời buổi chúng ta, chính tôi cũng đã từng chứng kiến những “tôi trung” của Chúa như vậy. Tôi đã xem thấy giám mục Oscar Romeo chai mặt ra như đá khi tố cáo bất công xã hội và tiếp tục rao giảng ngay cả khi nhận được cả trăm lời đe doạ ám sát. Giám mục đã hy sinh mạng sống mình cho dân tộc, ngõ hầu tháo gỡ ách nô lệ thảm thương người ta áp đặt lên đầu lên cổ nông dân, công nhân ở chính quê hương mình. Xin nhớ gương mặt của Nelson Mandela đanh thép khi ông bước ra khỏi nhà tù, sau nhiều năm bị giam giữ khổ sai, vì chống lại kỳ thị màu da, ngôn ngữ, văn hoá. Lúc ấy trông ông khắc khổ vì chịu đựng áp bức lâu ngày nhưng vẫn cứng rắn vui tươi. Ông vui không phải vì sẽ trả thù những kẻ hành hạ mình, nhưng vì công lý được làm sáng tỏ, bất công bị đẩy lui và sai trái được sửa chữa. Quí vị đã trông thấy những tấm ảnh chụp Dorothy Day khi bà ngồi trên chiếc ghế nhỏ, phản đối tình trạng nghèo đói ở xóm ổ chuột nào đó ? Một người đàn bà mảnh khảnh giữa hai viên cảnh sát phì nộm, coi rất đỗi tương phản. Bà ngồi đó mặc cho kẻ qua người lại chế diễu, cười nhạo, quai hàm bạnh ra cương quyết và kiên định : “Tôi chai mặt trơ như đá, biết minh sẽ không phải thẹn thùng.” Chưa hết, biết bao người cha, người mẹ, anh chị kiên nhẫn ngồi bên giường bệnh nhân đang hấp hối hay các thân nhân chịu bệnh lâu ngày. Họ không tiếc công sức cầu nguyện, nâng đỡ những thân hình ốm yếu mà không lời thở than. Họ cam đảm chịu đựng chung số phận của thân nhân, nêu gương sáng đức tin cho những người xung quanh. Họ cũng chai mặt trơ như đá với tình thế khó khăn.

Nhưng “chai mặt trơ như đá” không có nghĩa nghiến răng nghiến lợi chịu đựng cho qua những buổi nhọc nhằn, không có nghĩa thụ động mặc cho hoàn cảnh qua đi, cũng chẳng có nghĩa lên gân cốt chống lại tình huống quái đản. Chúng ta sẽ được mục kích gương mặt chai như đá của Chúa Giêsu trong tuần này, khi Ngài đối diện với quyền bính đền thờ và cái chết thê thảm trên thánh giá. Qua bài đọc thương khó, chúng ta sẽ suy gẫm cái giá mà Ngài phải trả cho những hành động và ngôn từ chống lại sự dữ. Giống như người môn đệ của Isaia, Chúa Giêsu cũng chai mặt trơ như đá để biểu lộ ý chí đanh thép của mình. Từ hôm nay trở đi, Chúa luôn giữ thái độ này trước nguy hiểm đe doạ tính mạng. Thí dụ thánh Mát-thêu viết : “Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ được biết : Ngài phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra.” (Mt 16, 21) Phúc âm hôm nay cũng trong dòng tư tưởng đó : Chúa vào thành thánh Gierusalem và nhất quyết thi hành ý muốn của Chúa Cha.

Nếu người tôi tớ trung thành giơ mặt trơ như đá để nói với dân tộc lưu đày, thì Chúa Giêsu cũng có thái độ tương tự với đồng bào Ngài đang trong cuộc làm tôi lầm lạc tội lỗi. Ngài dạy dỗ họ bằng ngôn ngữ “lựa lời nâng đỡ những ai rã rời kiệt sức”. Nhưng họ chẳng hề lắng tai nghe, trừ một nhóm rất nhỏ. Họ ưu thích bị giam cầm trong tư tưởng của mình về Thiên Chúa, về sự công chính vụ lề luật, về tội phúc truyền thống. Họ bị mắc bẫy satan trong sự công chính chủ quan, nói theo kiểu khác, mù tự ý về những chân lý siêu nhiên. Đây là sự mù loà mà các nhà thần học gọi là không khắc phục được (invincible), vĩnh viễn như vậy nếu không có ơn đặc biệt từ Thiên Chúa. Trường hợp của thánh Phaolô chẳng hạn. Chuyện này xảy ra nhiều lắm trong thời đại chúng ta. Nó gây nên rất nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo, đàn áp tín ngưỡng, bất công đối xử. Phe nào cũng tự nhận sự thật về mình, rằng mình có lý. Nhiên hậu loại trừ, tẩy chay thiên hạ.

Phần Chúa Giêsu, mặc dù gặp nhiều chống đối và hận thù, Ngài vẫn kiên định trong đường lối của mình, bởi nó là chân lý. Nhiệm vụ của Ngài là nói lời Thiên Chúa cho những kẻ rã rời kiệt sức vì u mê lầm lạc. Khi chúng ta chứng kiến những biến cố trong cuộc đời Chúa Giêsu tuần này, chúng ta sẽ mang ra ánh sáng sự yếu hèn của mình, tức các bộ mặt không cương quyết, không dám dấn thân cho lẽ phải, ưa thích thoả hiệp để được quyền cao chức trọng, được cảm tình của những người xung quanh. Chúng ta không dám hành động chống lại sự dữ, giữ vững Đức tin trong những hoàn cảnh khó khăn, nguội lạnh khi nghe theo tiếng gọi của Phúc âm, chỉ lựa chọn những lời Chúa am hợp với lợi ích của mình, loại bỏ các lời khác, thậm chí chế diễu và coi như không tưởng những đòi hỏi của Chúa Giêsu. Chúng ta đâu dám thực sự vác thánh giá mình nhân danh Chúa, nói gìđến thánh giá kẻ khác, cố tình tránh né việc từ thiện bác ái, làm ngơ trước những đau khổ của tha nhân.

Tóm lại, chúng ta theo Chúa ở dáng điệu bên ngoài, còn thực chất thì cố gắng tìm thoả mãn các dục vọng của mình. Nhưng cuộc thương khó của Chúa trong tuần này dạy chúng ta nội dung trái ngược hẳn. Chúng ta cảm thấy được nhẹ nhõm vì Chúa Giêsu đã chai mặt trơ như đá thực hiện những điều cần thiết để cứu chuộc nhân loại. Đây là cơ hội để chúng ta suy nghĩ lại, nhận ra sự thật của ơn gọi Ki-tô hữu, những đòi hỏi của nó và cương quyết thi hành. Chúng ta chai mặt trơ như đá trước những cám dỗ của thế gian, xác thịt và satan. Như vậy mới xứng đáng được nghe Tin mừng Chúa sống lại, Tin Mừng tràn ngập lòng người với hy vọng và hỷ hoan. Trong đêm vọng phục sinh, xin hãy thành thực nhắc lại lời thề hứa của bí tích Thánh tẩy, từ bỏ tội lỗi, tuyên xưng Đức tin vào Chúa Ki-tô.

Điều gì đã nâng đỡ và luôn đổi mới người tôi trung của tiên tri Isaia ? Xin thưa, đó là sự mở rộng lòng đón nhận lời Thiên Chúa và kinh nghiệm rằng “mỗi sáng Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi”. Sự dấn thân mạnh mẽ của ông với công việc Chúa trao, đến từ cảm tính bên trong mà hằng ngày lời Chúa thúc giục : “Sáng sáng người đánh thức tôi, để tôi lắng nghe như một người môn đệ.” Ông khám phá ra cho mình và công bố cho kẻ khác rằng Thiên Chúa luôn sẵn sàng thông truyền ý muốn của Ngài cho nhân loại, đồng thời tha thứ những lỗi lầm của họ. Đúng thật Ngài là Thiên Chúa yêu thương, muốn cứu vớt hơn là trừng phạt. Thiên Chúa ấy chúng ta gặp nơi Đức Giêsu trong sứ vụ của Ngài. Chúng ta được khích lệ sống vẹn toàn bổn phận phục vụ tha nhân, ngay cả khi lòng nhiệt thành thuở ban đầu đã phai nhạt.

Gương sáng của Chúa vẫn thúc đẩy mọi người tiếp tục làm việc bác ái. Chúng ta chẳng bao giờ có lý do tháo lui, kể cả các ngăn trở do cơ cấu Giáo hội gây nên. Chúng ta sẵn sàng đối đầu với thử thách trong các hoàn cảnh mới, mặc dù đã gặp chúng rất nhiều lần trong các tình huống khác. Tuần lễ này, sự thương khó của Đức Giêsu lại cho chúng ta miệng lưỡi mới để lựa lời nâng đỡ những ai rã rời kiệt sức vì những bất hoà gia đình, nghèo đói, vô gia cư, thất nghiệp, lương thấp, bạo lực, chiến tranh, sợ hãi, bệnh tật lâu ngày, … Ngài lại cho chúng ta nghị lực nói thay cho những tiếng nói không ai thèm nghe, những kẻ thấp cổ bé miệng, những người vô danh tiểu tốt bị bỏ quên bên lề xã hội. Chúa vào thành thánh tuần này. Người ta hồ hởi đón chào Ngài để được thấy vinh quang Ngài tỏ hiện. Chắc chắn họ sẽ thất vọng bởi vì Ngài xuất hiện trong đường lối họ không thể nhận ra : Khiêm nhu ngồi trên lưng lừa con, vâng lời thi hành thánh ý Đức Chúa Cha. Tuy nhiên, tín hữu sẽ được chiêm ngưỡng vinh quang Ngài rực sáng hơn mặt trời. Ngài đã chọn lựa con đường nhân loại, gánh lấy tội lỗi chúng ta, bước đi trong đau khổ như chúng ta. Nếu linh hồn mình cũng ăn vận sự trong sáng của ơn thánh thì chúng ta có lý do để vui mừng, trà trộn với đám đông tại cửa thành Gierusalem tay cầm ngành lá, sắp thành đám rước reo hò vang dậy “hoan hô con vua David, chúc tụng Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến.”

Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai cũng ca tụng Đức Giêsu ở cương vị đó : “Ngài đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.” Đối với thánh nhân, lòng khiêm nhường của Chúa không có tính nhất thời, thứ yếu. Nó là nhân đức căn bản khiến Ngài thi hành thánh ý Chúa Cha. Ngài thực sự nhận lấy số phận nhân loại, không từ chối hoàn cảnh nào, ngoại trừ tội lỗi. Ngài không hề đòi hỏi đặc ân chức vị Ngôi Hai, nhưng đã chịu đựng mọi thiếu thốn của kiếp sống con người, tủi nhục, đau khổ và cái chết. Ngài đã chu toàn sứ vụ người tôi tớ đau khổ của Giavê cho đến nghĩa đen, tức là tận cùng số kiếp nô lệ : Chịu đóng đinh nhục nhã trên thập tự. Chỉ có lòng khiêm nhường cực điểm như thế dẫn Ngài đến vâng lời cho đến chết. Chúng ta không có sự khiêm nhu chân thật thì làm sao vâng lời Thiên Chúa ? Chúng ta sống giả hình, là lẽ đương nhiên, bởi thiếu nền tảng.

Cho nên việc noi gương Chúa như thánh Phaolô kêu gọi đặt căn bản trên sự bắt chước Chúa về lòng khiêm nhường. Nhờ đó, chúng ta có thể trút bỏ mọi sự như danh vọng, địa vị, của cải, chức quyền, lợi lộc và cả đến cả mạng sống mình. Ngõ hầu trước mặt Thiên Chúa chúng ta chỉ là những kẻ ăn mày, bởi lẽ, ơn cứu độ không thể đạt tới bằng chiếm đoạt hay công nghiệp. Nhưng bằng đức tin tinh tuyền vào Chúa Kitô.

Ở buổi phụng vụ hôm nay, chúng ta liên kết chặt chẽ với Ngài trong đau khổ, nhọc nhằn và hy sinh. Ngài tự nguyện đi vào khổ nạn để chết thay cho các tội nhân. Điều này có ý nghĩa, đau khổ của những kẻ vô tội, như những nạn nhân của sóng thần vừa qua tại đông nam Á, những trẻ con vô tội bị giết hại do phá thai, nạo thai, các cuộc chiến tranh không gây hấn, các nạn nhân của khủng bố đều là đất thánh.

Chúng ta còn khám phá ra các thánh địa khác nữa khi dấn thân vào những đau đớn của tha nhân. Nhờ ánh sáng cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu chúng ta nhận ra rằng những thánh địa đó có sức chữa lành linh hồn mình, linh hồn các tín hữu và toàn thể nhân loại. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op

Vào Thành Để Chịu Chết
Mt 26,14 - 27,66

Nét bi đát của cuộc khải hoàn

Ðể sửa soạn vào thành, Ðức Giêsu sai hai môn đệ đến ngôi làng trước mặt để mượn tạm con lừa. Có lẽ không nơi nào cho thấy sự mâu thuẫn như trong biến cố này : một bên là Thiên Chúa uy quyền, một bên là "tính con người". Cả hai đều thể hiện trong con người Ðức Giêsu. Ðó là sự pha trộn giữa quyền năng Thiên Chúa và sự lệ thuộc, giữa giàu sang và bần cùng. Và đó cũng là hiệu quả của mầu nhiệm nhập thể.

Vì lòng yêu thương con người, Ðấng vốn giàu có đã trở nên khó nghèo, để con người được giàu có. Trong cuộc đời, có lần Ðức Giêsu đã mượn chiếc thuyền của dân chài làm chôỵ đứng giảng dạy ; lần khác Người đã mượn hai cái bánh và năm con cá của cậu bé vô danh để làm phép lạ nuôi cả đám đông ; sau này, khi trút hơi thở cuối cùng, Ðức Giêsu còn mượn tạm ngôi mộ để gửi tấm thân trong khi đợi ngày sống lại vinh hiển.

Vẫn có những chuyện bi đát như thế trong cuộc đời Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người. Nhưng chưa hết.

Hãy bảo thiếu nữ Xi-on
Kìa Ðức Vua đến với ngươi
khiêm tốn ngổi trên lưng lừa
lưng lừa con là con của thú vật chở đồ. (Mt 21,5)

Thời đó, các vị hoàng đế thường ngồi trên chiến mã, oai hùng tiến vào thành phố. Ngược lại, ở đây, Ðấng khải hoàn khiêm tốn ngổi trên lưng lừa con. Nếu Phi-la-tô có dịp đứng quan sát cảnh này, hẳn ông phải bật cười vì tính cách khôi hài của con người tự xưng là Vua. Con người ấy đang ngổi trên lưng một con vật biểu tượng của sự tự huỷ, tượng trưng cho việc tiến dần đến cái chết.

Nếu Ðức Giêsu tiến vào thành phố trong tiếng nhạc hùng tráng, trong tư thế của người chiến thắng, chắc sẽ có kẻ nghĩ rằng Người là Ðấng giải phóng về mặt chính trị. Trái lại, Ðức Giêsu chọn những hoàn cảnh để chứng thực cho lời tuyên bố : "Nước tôi không thuộc về thế gian này". Như thế, chẳng có gì cho thấy vị vua này có thể là đối thủ của Xê-da.

Phía sau những lời tung hô

Khi Ðức Giêsu đến gần thành phố, một "đám rất đông" dân chúng ra đón Người. Trong số đó, không chỉ có những người cư ngụ tại Giêrusalem, nhưng còn có những người từ nơi khác về thủ đô dự lễ, và dĩ nhiên, cả những người Pha-ri-sêu.

Trong những lần trước đây, Ðức Giêsu luôn ngăn cản lòng nhiệt thành, sự phấn khởi của dân chúng. Người đã lánh mặt khi đám đông hứng khởi, Người tránh tạo nên những quang cảnh náo nhiệt (x.Mt 16,20; Mc 5,43; Mc 9,9; Ga 6,15). Vậy mà, trong khi Ðức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem, các người Pha-ri-sêu phải thốt lên : "Kìa thiên hạ theo ông ấy hết" (Ga 12,19).

Ðiều này ngược hẳn với thái độ của Ðức Giêsu. Trước đây, Người xoa dịu sự hứng khởi của dân chúng, còn bây giờ, Người lại khơi lên. Tại sao vậy ?

Bởi vì "Thời" đã đến. Lúc này, sẽ đến giờ Người công khai tỏ cho dân chúng biết về uy quyền của Người, và đây là lần cuối cùng. Ðức Giêsu biết rõ điều này sẽ đưa Người lên đỉnh Can-vê, đến việc Thăng Thiên và thiết lập vương quốc trên trần gian. Ðây là cơ hội cuối cùng để Ðức Giêsu đưa ra tiếng nói quyết định và đặt con người trước lựa chọn : hoặc tuyên xưng, hoặc từ khước.

Những cái áo được trải trên đường, những ngành ô-liu được phất cao ; đám đông vui mừng tung hô :

"Hoan hô Thế tử nhà Ða-vít, hoan hô !
Vạn phúc Ðấng ngự đến nhân danh Chúa !
Hoan hô Chúa ngự chốn cửu trùng" (Mt 21,9).

Ðức Giêsu là Hoàng tử thuộc dòng dõi Ða-vít. Người là Ðấng được sai đến để thực hiện công trình của Thiên Chúa. Hosana, khởi đầu là một lời cầu nguyện, giờ đây trở thành bài ca chiến thắng để đón tiếp Ðấng Cứu Tinh. Mặc dù đám dân đang reo hò không hiểu rõ lý do Người được sai đến, họ cũng chẳng hiểu được bình an do Người mang lại, nhưng họ cũng biết rằng Người từ Thiên Chúa mà đến.

Ðúng là một cuộc khải hoàn, nhưng Ðấng Cứu Thế biết rõ rằng lời tung hô "Hosana" sẽ được đỗi thành "đóng đinh nó đi", và vòng gai sẽ thay cho ngành vạn tuế. Ngày hôm nay, người ta trải áo dưới chân Người, nhưng ngày thứ Sáu tới đây, cả áo của Người họ cũng lột hết. Mặc dù Người là Vua, và dân chúng nhận rằng Người là Ngôn Sứ, là Thầy ... nhưng Ðức Giêsu biết rõ hoàng cung được dành cho Người chính là đổi Can-vê.

* * *

Lạy Chúa,
dù con có thế nào chăng nữa,
cũng xin cho con được tung hô Chúa trong ngày hôm nay.
Ngày thứ Sáu, tất cả tội lỗi của con sẽ bị phơi trần,
nhưng con biết lòng thương xót của Chúa
sẽ ngập tràn trên con :
đó là ngày Phục Sinh.

Cùng với tất cả mọi người
con sẽ reo lên
"Vạn phúc Ðấng ngự đến nhân danh Chúa"
Ðó là hy vọng, là niềm cậy trông
cho suốt cả hành trình tăm tối của con.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chết vì tình yêu
Mt 26,14 – 27,66

Biết trước cái chết và cách thế phải chết, nhất là cái chết mình không chấp nhận, quả là một tâm trạng khủng khiếp đối với con người. Chúa Giêsu cũng đã trải qua những giờ phút kinh hoàng ấy. Ngài biết trước cái chết của Ngài: đã ba lần Ngài tiên báo với các môn đệ Ngài sẽ bị tử hình. Và Ngài cũng nói rõ cách thế Ngài bị giết chết : “Ai muốn theo tôi hãy vác thập giá mà theo”. “Khi nào tôi bị treo lên, tôi sẽ kéo mọi sự lên với tôi”. Qua những lời đó, Chúa Giêsu muốn nói đến một cực hình diễn tả cảnh tượng những phạm nhân phải kéo lê những khúc gỗ sẽ được dùng làm thập giá để đóng họ vào và treo lên tại một nơi gọi là núi Sọ.

Bài Tin Mừng hôm nay được gọi là bài thương khó kể lại đầy đủ chi tiết diễn tiến cuộc xét xử và kết án Chúa Giêsu. Vụ án Chúa Giêsu không phải là vụ án chính trị mà là vụ án tôn giáo : Chúa Giêsu bị kết án tử hình không phải vì xưng mình là vua, nhưng vì đã xưng mình là con Thiên Chúa. Mãi mãi bản án Phi-la-tô dành cho Chúa vẫn là bản án bất công nhất, nó là tiêu biểu cho biết bao hành động bất công và dã man mà những người vô tội phải gánh chịu qua suốt dòng lịch sử nhân loại.

Thập hình của Chúa Giêsu mãi mãi vẫn còn đó như một lời tố cáo những tội ác của con người. Thế nhưng, Chúa Giêsu không đến thế gian để tố cáo tội ác, Ngài đã đón nhận chính cái chết như một thể hiện chính tình yêu của Thiên Chúa, đấng đã yêu thương thế gian đến nỗi đã tự phó nộp trong tay con người. Cả cuộc sống của Chúa Giêsu là một bản tình ca đối với Thiên Chúa và con người. Cái chết của Ngài là tột đỉnh của tình yêu ấy.

Không gì cao quý và tốt đẹp hơn tình yêu, do đó, tình yêu và tất cả những gì được tạo dựng vì tình yêu thương cũng sẽ tồn tại. Trong cái chết của Chúa Giêsu, tình yêu đã đạt tới tuyệt đỉnh. Nếu có một tình yêu và nếu Thiên Chúa đó là tình yêu, nếu Thiên Chúa sai Chúa Giêsu đến cứu dộ loài người, thì cái chết của Chúa Giêsu không thể là một thất bại và là một tận cùng, cái chết đó không gì khác hơn là khởi đầu của sự sống vĩnh cửu, vì Chúa Giêsu đã Phục Sinh.

Đó là sứ điệp Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta, và đó là bài học không những chúng ta phải suy niệm và sống trong những ngày tuần thánh này mà suốt cả cuộc đời ta nữa.

Chúa Giêsu đã chịu thương khó và tử nạn vì tội lỗi của tất cả nhân loại. Nhờ những đau khổ và cái chết của Ngài trên thập giá mà cửa thiên đàng đã được mở ra, nhân loại được tha thứ và chúng ta được hạnh phúc. Ước chi chúng ta luôn ghi nhớ trong lòng những đau khổ Chúa đã chịu vì tội lỗi chúng ta để giúp chúng ta thêm lòng yêu mến Chúa, tránh xa tội lỗi và vững lòng tin tưởng vào tình thương, lòng nhân từ thương xót của Chúa.


Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP.

HOAN HÔ - ĐẢ ĐẢO
(Mt 26,14 -27,66)

Hôm nay toàn thể Giáo hội tưởng niệm Chúa Kitô vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Vì thế ngày lễ hôm nay gồm có hai phần : phần đầu kính nhớ việc Chúa vào thành thánh bằng cuộc rước kiệu lá, phần hai là thánh lễ tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa.

Trước hết, ngày Chúa Nhật trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu lên thủ đô Giêrusalem lần cuối cùng. Dân chúng lũ lượt kéo nhau đi như cuộc biểu tình vĩ đại, trên đường vào thành thánh, họ trải áo choàng trên đường và chặt những nhánh lá cây trải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô : “Hoan hô con vua Đa vít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Người người nồng nhiệt hò la, Chúa Giêsu im lặng chấp nhận để họ đón rước và tung hô như thế. Ngài là một vị vua vinh quang nhưng khiêm hạ, Ngài không phải là vị vua như dân Do Thái mong đợi, nghĩa là vua phần xác, đến để giải phóng dân tộc họ khỏi ách đô hộ ngoại bang Rôma, đem cơm áo ấm no cho họ. Nhưng Ngài là vua trong lòng của họ, đem đến tình thương và hòa bình.

Đàng khác, cũng trong ngày lễ hôm nay, chúng ta nghe đọc bài tường thuật về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Cuộc khổ nạn diễn ra vào ngày thứ sáu sau Chúa Nhật Lễ Lá, nghĩa là chỉ sau ít ngày nhiệt liệt tung hô Chúa Giêsu, dân Do Thái lại biểu tình đã đảo, chống đối, hò la đòi giết Chúa. Ngài đã bị bắt, bị trói và bị dẫn đến trước mặt thượng tế Cai-Pha, rồi đến trước tổng trấn Phi-la-tô, bị xét hỏi, bị đánh đập, bị kết án và cuối cùng bị hành quyết trên núi Sọ như một tên trọng phạm của xã hội.

Ngày lễ hôm nay cho chúng ta thấy hai thái độ trái ngược nhau của dân Do Thái : hoan hô Chúa và đả đảo Chúa, đưa Chúa lên ngai vua và hạ bệ Chúa trên thập giá. Chắc chúng ta khó chịu, bực tức và lên án thái độ đổi thay, lòng dạ tráo trở của những người đó phải không ? Nhưng chúng ta hãy ý tứ, có người đã viết như thế này : “Giữa Chúa Nhật Lễ Lá và thứ Sáu Tuần Thánh có thể phản chiếu cả cuộc đời của các Ki-tô hữu : Hôm nay chúng ta hoan hô, chúc tụng Chúa : vạn tuế, vạn tuế, ngày mai có thể chúng ta sẽ gào thét : đả đảo, hãy đóng đinh, hãy đóng đinh hắn vào thập giá. Hôm nay chúng ta yêu thương, ngày mai chúng ta oán ghét. Hôm nay chúng ta hân hoan, ngày mai chúng ta buồn sầu. Hôm nay chúng ta hiền hòa, ngày mai chúng ta hung dữ. Hôm nay chúng ta tin tưởng, ngày mai chúng ta hoài nghi. Vâng, danh sách các mâu thuẫn giữa thiện và ác còn có thể tiếp tục nối dài, và thực sự giữa Chúa nhật Lễ Lá và thứ Sáu Tuần Thánh có thể phản chiếu cả cuộc đời của Ki-tô hữu”.

Để làm sáng tỏ những tư tưởng trên, một diễn giả đã dùng một cành lá dừa. Cành lá dừa xanh tươi tượng trưng cho những đặc tính tích cực của Chúa Nhật Lễ Lá như hoan hô, chúc tụng, yêu thương, hân hoan, hiền hòa, tin tưởng. Mỗi lần nêu lên một khía cạnh tiêu cực của cuộc sống như khước từ, oán ghét, buồn phiền, hung dữ, hoài nghi, diễn giả tuốt bỏ phần lá xanh, chỉ còn để lại cọng của cành lá dừa. Cuối cùng, cành lá dừa xanh tươi đã biến thành một bó roi có thể dùng để hành hạ nhau, biến thiên đàng thành địa ngục.

Chắc tất cả chúng ta đều hiểu và thấm thía những điều trên đây ? Cuộc sống của chúng ta có nhiều tiêu cực hơn tích cực, chúng ta làm khổ nhau nhiều hơn làm đẹp lòng nhau. Có phải chúng ta xích mích, gây chia rẽ bất hòa nhiều hơn là xây dựng, yêu thương, đoàn kết ? Chúng ta tôn vinh Chúa ở trong nhà thờ nhưng chúng ta có tôn vinh Chúa trong cuộc sống ở ngoài nhà thờ không ? Mỗi khi chúng ta không tôn trọng bất cứ người anh em nào là chúng ta không tôn vinh Chúa. Vì thế, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn trung thành với lời chúng ta hoan hô “vạn tuế” để trong cuộc sống, chúng ta quyết tâm đem ra thực hành chương trình xây dựng hòa bình và tình thương của Chúa.

 
Phanxicô Xaviê Trần Đức Tuân op

Vì yêu, Chúa đã chết cho chúng ta
Mt 26,14 - 27,66

Hôm nay cùng với Giáo hội chúng ta bắt đầu bước vào Tuần thánh. Tuần thánh là tuần lễ quan trọng nhất trong năm phụng vụ, là tuần lễ ghi lại các biến cố cuối cùng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế ở trần gian. Từ lúc Chúa vào thành Giêrusalem hôm nay, đến cuộc khổ nạn và Phục sinh của Người. Tuần thánh cũng nhắc cho mỗi người chúng ta ý thức về thân phận yếu đuối, mỏng dòn, bất toàn, yếu hèn và tội lỗi của mình.

Trong cuộc sống của con người, có lẽ không có gì làm cho chúng ta sợ hãi cho bằng cái chết. Cái chết là con đường chung cho mọi người. Không ai có thể chạy trốn khỏi cái chết. Tuy nhiên, khi đối diện với cái chết, mỗi người có một thái độ khác nhau. Các thánh tử đạo đã can đảm đối diện với cái chết để làm chứng cho Chúa. Và đặc biệt cái chết của Đức Giêsu. Có thể nói đây là cái chết tuyệt vời, cái chết đem lại sự hoà giải, sự sống mới, sự sống vĩnh cửu cho mỗi người chúng ta. Chúa đã chết để mang lại cho chúng ta sự sống đời đời.

Trên hết, cái chết của Đức Giêsu là một cái chết tự nguyện hiến thân cho người mình yêu. Trong vườn Cây Dầu, Đức Giêsu cảm thấy buồn rầu, xao xuyến, “và mồi hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44). Giữa nỗi kinh hoàng, khủng khiếp của con đường thập giá, Đức Giêsu đã cầu xin Chúa Cha cho mình : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này" (Mt 26,39). Nhưng cuối cùng tình yêu đã chiến thắng. Với một tình yêu trọn vẹn dành cho Chúa Cha và một lòng thương xót vô biên dành cho chúng ta : “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”.

Như thánh Phaolô tông nói : “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

Chính tình yêu đó đã thúc đẩy Đức Giêsu, ngay giữa những đau khổ cùng cực nhất trên thập giá, trong hơi thở cuối cùng đã lên tiếng cầu xin cho chính những kẻ vừa hành hạ, đóng đinh Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc chúng làm” (Lc 23,34). Đôi khi chúng ta cũng đã đóng đinh Chúa vào thập giá, đó là những lúc chúng ta lơ là trong bổn phận, làm ngơ trước những nghèo khó đơn côi.

Tình yêu của Đức Giêsu còn thể hiện qua ánh mắt đầy thương xót Ngài dành cho Phêrô. Dù Chúa biết là ông sẽ chối Ngài. Một tình yêu hoàn toàn vị tha, quên cả nỗi đau khổ của mình đang gánh chịu, để luôn dành trọn tâm trí của mình cho người khác. Đó là tình yêu của Đức Giêsu đã dành cho mỗi người chúng ta.

Vì yêu, Chúa đã chịu người đời phỉ báng chê cười. Vì yêu, Chúa đã trở nên nghèo khó để chúng ta được giàu có. Vì yêu, Chúa đã chết cho chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Vì yêu Chúa đã chịu khổ nạn và chết trên thập giá, xin cho chúng con cũng biết chết đi cho con người tội lỗi, chết đi cho những đam mê, hận thù, ghen ghét để chúng con chỉ biết sống cho Chúa và cho tha nhân.

Lạy Chúa, vì yêu Chúa đã tự hiến mình trong bí tích Thánh Thể để nuôi sống chúng con, xin cho chúng con luôn biết khao khát và chạy đến với Thánh Thể Chúa, để chúng con tìm được nguồn sức mạnh và vững bước trên đường về quê trời. Amen.


Lm Thomas Túy, op
Tổng hợp : Flor McCarthy và Sicilianô, op

Chính tội lỗi con đã treo Chúa trên Thập giá
Matthêu 21, 1-11

Thưa quý vị

Một người đàn ông công chức tên X, bình thường, khỏe mạnh, vui tươi, quân bình như bao người khác. Ông rất đúng mực và tận tụy với công việc và được cấp trên trao phó nhiều trọng trách. Ông rất thứ tự và vâng lời luật pháp quốc gia. Ông phục vụ chế độ tận tâm hết khả năng mình.

Nhưng công việc của ông hơi khác thường: Đó là thanh lọc, tổ chức lùng bắt và tiêu diệt dân Do thái trên khắp lục địa Châu Au. Ông giết tất cả chừng sáu triệu người trong đại thế chiến thứ hai. Nhiều năm về sau người ta truy tìm được ông ở Nam Mỹ, tên thật ông là Adolf Eichmann. Lúc bị bắt, ông hoàn toàn bình thường, ăn ngủ tốt, tuy đã luống tuổi. Giả dụ ông bất an hay điên khùng chúng ta còn có thể hiểu được, nhưng không, ông rất bình thường, ông cho là mình chỉ làm theo lệnh cấp trên, thế thôi, không áy náy chi cả.

Điều này làm cho chúng ta choáng ngợp, nhất là trong tuần thánh này. Người ta phạm tội, những tội tày đình mà vẫn cứ bình thản nghĩ mình là phải. Phaolô giết Stêphanô, bẩy giám mục giết cô bé Jeanne d’Arc, rồi thập tự chinh, tòa điều tra, giàn hỏa thiêu rối đạo. Mãi đến tận hôm nay vẫn còn tình trạng đó. Lịch sử nguyên vẹn đấy, làm sao chối cãi. Thì ra, nếu nhìn kỹ vào thế giới chúng ta sẽ thấy một mặt người ta hô hào văn minh tiến bộ, đối xử khoan dung, tha thứ, công bình, bác ái. Nhưng mặc khác lại đầy bất công, bóc lột, áp bức, man rợ, điên khùng, hủy diệt thai nhi, kẻ vô tội mà lương tâm không hề ân hận. Bất cứ ai cũng có thể cảm nghiệm được hai mặt trái ngược nhau này. Có lẽ bản thân mỗi người còn điên khùng hơn. Đó mới là điều đáng lo sợ vì mình hiếm khi nhận rõ vấn đề.

Chúng ta hãy xem xét những kẻ kết án và hành quyết Đức Giêsu hôm nay. Tín hữu thường có thành kiến cho rằng họ là những kẻ độc ác,, gian manh hết cỡ, dám giết hại Con Đức Chúa Trời và động lực của họ là tối tăm quỉ quyệt. Nhưng không phải vậy, nghĩ như vậy là theo quan điểm lúc này và là một sai lầm lớn nếu đặt mình vào thời đó. Tình huống tôn giáo, xã hội lúc ấy cho chúng ta thấy rõ hiển nhiên trong con người chúng ta cũng đầy những cảm nghĩ tương tự, có lẽ còn tệ hơn trong vai trò kết án và giết hại Đức Kitô.

Trước hết là phái Pharisêo : Những người này rất đạo đức và nhiệt thành với tôn giáo. Họ tỉ mỉ tuân giữ mọi lề luật Thiên Chúa truyền cho tuyển dân qua Môsê. Một chi tiết nhỏ nhất cũng không dám vi phạm. Hơn nữa còn lập ra những hàng rào vững chắc để bảo vệ lề luật. Họ miệt mài học hỏi lề luật và tuyệt đối tin tưởng vào sự công chính của lề luật. Họ nghĩ sự công chính này làm đẹp lòng Giavê. Họ rất sợ hãi xúc phạm đến lề luật và đền thờ, giống hệt như chúng ta hôm nay. Họ sẵn sàng trừ khử những nguy hiểm phá vỡ lề luật. Lòng kính trọng của quần chúng bình dân đối với họ là bằng chứng: Được chào hỏi ngoài đường, chỗ nhất trong các bữa tiệc. Ngoài ra họ còn sẵn sàng “tử đạo” để đuổi ngoại bang, ngõ hầu đất nước được tinh tuyền. Ai bảo họ không đạo đức?

Caipha, Anna: Những chức sắc tôn giáo, chỉ một lòng gìn giữ cho đất nước an bình, tôn giáo chính thống, dân chúng tự do thờ phượng, trừ khử xáo trộn, nắm giữ chức Tư tế thượng phẩm trong dân, được toàn dân nghe theo và kính trọng. Ai bảo họ tâm địa gian ác? Câu trả lời là hoàn toàn không, tương tự như Giáo hội sau này thiêu chết John Huss và các kẻ rối đạo khác để bảo vệ Tin Mừng.

Philatô: Nhà chính trị tài ba và khéo léo, là toàn quyền Roma ở Palestine, 10 năm, từ năm 26 đến 36. Ông luôn nghĩ đến địa vị và nhiệm vụ của mình. Công việc hàng ngày của ông là giữ an ninh cho thành phố và toàn thể xứ sở. Trong thời buổi nhiễu nhương ông không thể làm khác đi được, mặc dầu biết Đức Kitô là vô tội. Ông tránh cuộc đối đầu với các lãnh tụ tôn giáo, mà ông biết rõ ảnh hưởng to lớn của họ trên đám đông. Nếu làm khác đi, ông sẽ gây nhiều tai họa hơn cho quyền bính Roma và bản thân cùng đám lính trong trại binh sĩ chịu tổn thất nặng nề. Kinh nghiệm đã cho ông hay như vậy, thà nhượng bộ hy sinh một người vô tội còn hơn. Thời nay chúng ta không hành xử như vậy sao ? Nhượng bộ sự thật và lẽ phải để được hai chữ “bình an”! Chuyện này đầy rẫy trên thế gian.

Đám lính vệ binh: Đây không phải lính tinh nhuệ của Roma. Lính chính qui không dính dáng chi đến chuyện “nhơ” này. Đám lính hành hạ Đức Giêsu là những kẻ đánh thuê ô hợp thâu gom từ các vùng phụ cận, thuộc nhiều văn hóa khác nhau: Hy lạp, Dothái, Samaria…Họ có nhiệm vụ canh gác và thi hành án. Họ chẳng biết nhiều về bản án Đức Giêsu, nó diễn ra bình thường như hàng chục, hàng trăm vụ khác, làm sao họ để ý cho kỹ mà nhận ra sự thật? Cho nên khi được lệnh thi hành thì là công việc thường xuyên. Dầu sao tử tội Giêsu cũng sẽ bị điệu đi đóng đinh trên gò đất nhỏ ngoài tường thành như nhiều tử tội khác thì cũng là chuyện quen thuộc. Có điều đặc biệt là tử tội Giêsu tự xưng là vua Do thái nên họ bày chút trò chế diễu cho vui, tương tự như trẻ con tìm thấy con cóc ở vệ đường, hành hạ cho thỏa tính, thế thôi chứ không có ân oán gì.

Tuy nhiên tấn kịch thật hảm khốc và phạm thượng. Chủ yếu là do tội của chung loài người và riêng mỗi cá nhân vì mọi người đều phạm tội. Xin đừng trốn tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho thiên hạ, còn ta đây thánh thiện lắm cơ có làm chi xấu đâu, hơn nữa còn dâng mình cho Thiên Chúa, khấn hứa đàng hoàng, dấn thân cho công lý và sự thật ! Hỡi ôi thực tế khác hẳn: Tìm kiếm lạc thú, tiện nghi, chê bai khổ chế mãm mình, hy sinh. Xin nhớ lời tác gỉa Abert Camus mà mọi người đều quen biết : “Pharisêo là ai đó đòi hỏi kẻ khác nhiều hơn là nhìn vào chính mình”. Lạy Chúa, xin giúp chúng con thành thật trong tuần lễ thánh thiện này, đừng giả hình nữa. Xin cho chúng con kết hợp cụ thể với Chúa trong lời nói, việc làm nhất là tâm tình vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha.

Vì Chúa có thể tránh được nhục nhã này, tránh vào thành thánh giết chết các ngôn sứ. Chúa đọc được các dấu hiệu và biết trước số phận đang chờ đón mình. Chúa có đủ tài năng để thay đổi nội dung rao giảng về Nước Trời đang mở rộng cho mọi người, ngay cả cho dân ngọai, về kẻ rốt hết lên hàng đầu và kẻ đang đứng đầu xuống hàng rốt hết, về sự hiện diện của Thiên Chúa trong các kẻ bé mọn, về Thiên Chúa giầu lòng thứ tha, về trời mới đất mới, ngõ hầu tránh khỏi tai họa. Nhưng Chúa đã không làm như vậy, thà lãnh nhận cái chết và giơ mặt chai như đá, để tiến vào Giêrusalem làm chứng cho sự thật.

Chúa đã trung thành với sứ vụ như người tôi tớ Thiên Chúa, phục vụ chân lý để chúng con được tự do. Bọn lính khi hành hạ Chúa đã chế diễu rằng:“ Kính chào vua dân Do thái” họ có biết đâu rằng đó là sự thật. Nếu quả là sự thật thì đâu là binh hùng tướng mạnh, đâu là quyền bính và ngai vàng? Con đường giải phóng dân Israel lại là một thất bại hoàn toàn? Chẳng ai tưởng tượng được:“Này vua các ngươi đang ngự đến, hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ”. Cả đến các nhà thông thái nhất trong dân Do thái cũng không thể đoán trước được Thiên Chúa đã chọn con đường như vậy để cứu vớt nhân loại. Chúng ta nên suy nghĩ kỹ bài Tin Mừng để nhìn ra sứ mệnh và sự nghiệp của Đức Giêsu. Ngài đích thực là người tôi tớ đau khổ và trung thành của Thiên Chúa, cương quyết vâng phục Thiên Chúa trong sứ vụ . Chứ đừng cắt nghĩa theo sở thích rồi hành động lung tung.

Có hai người bạn đi với nhau, một người tên Thắng, người khác tên Hùng. Khi đi qua một con suối, Thắng chỉ xuống nước nói:“ Hùng kìa, suối nhiều cá quá”. Hùng nhìn kỹ nhưng chẳng thấy cá đâu, dòng nước trong veo chẩy róc rách. Một lát sau họ đi qua đám dâu dại, Hùng vội bới đám dâu hái quả ăn. Thắng nói:“ Tớ chẳng thấy quả nào, cậu hái dâu ở đâu vậy ?”. Hùng trả lời:“cũng như bạn trông thấy cá ở dưới suối”.

Đây là chuyện ngụ ngôn của một đấng đáng kính về tuần thánh. Tín hữu thường đi qua tuần lễ mà không có ích lợi gì. Thản hoặc người được ơn này, kẻ ơn khác, chứ không tận dụng cuộc thương khó của Chúa để thâu lượm hoa trái thiêng liêng. Chúng ta hãy thật sự cảnh giác về thói vô tình của mình, thú nhận tội lỗi, thực hành khổ chế để thu lượm kho tàng ơn cứu độ do cuộc thương khó Chúa mang đến thế gian. Thu lượm sự giầu có ấy không khó lắm đâu, nếu chúng ta biết hy sinh bản thân cùng với những đòi hỏi của xác thịt.

Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu nhắn nhủ các tông đồ hãy cầu nguyện luôn. Chúng ta hãy nghe lời Ngài bền bỉ trong kinh nguyện, thánh lễ và đừng bao giờ nản lòng. Cầu nguyện trong tuần thánh này là đi theo Chúa trong suốt cuộc khổ nạn của Ngài. Đọc và suy gẫm kỹ lưỡng các tường thuật thương khó, mỗi chữ, mỗi câu đều mang ý nghĩa cho linh hồn. Thí dụ : Hãy dùng bữa tiệc với Ngài ở Bêtania sáu ngày trước lễ vượt qua và chứng kiến người phụ nữ đổ dầu lên đầu và xức thuốc thơm cho thân xác Ngài, rồi lấy tóc mà lau chân Ngài tiên báo sự mai táng của Ngài. Giuđa kết án bà là phí phạm nhưng cử chỉ của bà còn lưu truyền cho đến hôm nay. Cử chỉ thống hối và yêu thương ấy liệu có phải là một phí phạm ? Chúng ta thì sao ? Làm được hành động yêu mến nào đối với Thầy Chí Thánh ?

Ngày hôm sau Ngài tiến vào thành thánh từ cổng phía đông, có đám đông tung hô vang dội vì họ đã được chứng kiến phép lạ Lazarô sống lại. Liệu Chúa đã phục sinh chúng ta khỏi tội lỗi và chúng ta tung hô Ngài vì biết ơn ? Và bao nhiêu người trong họ lại hô lớn đòi xử tử Ngài cho máu đào của Ngài đổ trên đầu họ và con cháu họ ! Sự lật lọng này phải chăng là của chúng ta khi gặp gian truân ?

Lắng nghe bài giảng đanh thép của Ngài trong đền thờ: Nhà Cha Ngài là nhà cầu nguyện chứ không phải hang trộm cướp, buôn bán kiếm lời. Liệu chúng ta có buôn thần bán thánh, lợi dụng chức quyền để thu vét của cải danh vọng?

Hãy đồng bàn với các Tông đồ trong phòng tiệc ly để lắng nghe tâm huyết cuối cùng của Ngài. Trong đó Ngài tuôn đổ tình yêu xuống trên Giáo Hội mới, ban cho Giáo Hội thịt máu Ngài như lương thực nuôi linh hồn cho đến cõi sống muôn đời, quỳ xuống rửa chân cho các cán bộ của Giáo Hội mới và sai họ đi phục vụ thế gian. Liệu chúng ta theo nổi gương khiêm hạ của Ngài, hay vênh váo ta đây nhà rao giảng? Đòi ăn trên ngồi trưóc và buộc người ta kính trọng?

Hãy theo Gioan và Phêrô khi vệ binh đền thờ điệu Ngài đến nhà Caipha xem chúng ta có can đảm hơn Phêrô không ? Ai trong chúng ta sẵn lòng vác đỡ thập tự Chúa trên đường ra núi sọ ? Hoặc chí ít bớt đi một nết xấu, một tội lỗi để thánh giá Người đỡ nặng nề ?

Mọi người đều tưởng rằng thập ác là kết liễu sự nghiệp của Ngài. Liệu chúng ta có can đảm tin rằng đau khổ và hấp hối chỉ tăng thêm lòng nhiệt thành vì tình yêu Chúa Cha và nhân loại của Ngài. Nó là khởi đầu chứ không phải là kết thúc công trình cứu chuộc? Vì thế chúng ta đứng đấy cùng với Đức Mẹ, thánh Gioan và các phụ nữ để cùng dâng thánh lễ với Chúa. Còn nhiều sự kiện khác nữa chúng ta phải suy gẫm và cầu nguyện. Các thánh đã từng làm như vậy, cho đến tận thế các linh hồn đạo đức còn sẽ thi hành. Đó là cốt yếu nền thánh thiện của Giáo Hội. Liệu chúng ta noi gương hay cho là cổ hủ để tìm kiếm những hình thức ồn ào khác ? Ước mong mọi ngươi phân định được rõ ràng. Amen.


Đỗ Lực op

Con Đường Hòa Giải
(Mt 21:1-11)

Trong khi cả Giáo Hội sắp bước vào Tuần Thánh kỷ niệm cái chết đau thương của Chúa, một môn đệ Chúa Kitô, TGM Paulos Faraj Rahho, đã bị quân khủng bố giết chết.[1] ÐGH Benedict XVI gọi đó là “hành động bạo lực vô nhân đạo vì xúc phạm đến nhân phẩm và gây nguy hại nghiêm trọng đến cuộc chung sống thân tình của dân chúng Iraq mến yêu.” ÐGH đã cầu xin lượng từ bi Chúa khiến “ biến cố bi thương này góp phần xây dựng một tương lại hòa bình cho vùng đất tử đạo tại Iraq.”[2]

Lòi cầu nguyện hay niềm hy vọng đó không biết có thành sự thật không ? Nhưng chắc chắn TGM Paulos Faraj Rahho đã theo sát gót Thày Chí Thánh, Ðấng đã chết để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa. Nếu Chúa Kitô không hy sinh mạng sống, liệu Giáo Hội có thể có cái nhìn nhân ái và bao dung như thế không ? Nếu Chúa không chết đi, chúng ta không thể nào thoát ra khỏi vòng xoáy bạo lực. Cái chết của Chúa đã đem lại hòa giải đất trời và giữa con người với nhau.

VINH QUANG VÀ THẬP GIÁ

Thời đó, dân Do thái chờ mong Ðấng Cứu thế đến giải phóng dân tộc và phục hồi nền quân chủ. Có lẽ người ta đã nhìn việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như vị quân vương xuất hiện trước quần chúng. Nhưng ngôn sứ Isaia cho biết vị vua này là đầy tớ khiêm tốn và đau khổ vì loan truyền Lời và sứ điệp của một Thiên Chúa mỗi buổi sáng đánh thức ông dậy học hỏi cho thấm nhuần sứ điệp ấy (Is 50:4-7). Vị vua-tôi này sẽ là một người đau khổ. Vinh quang thực sự của Người chỉ chiếu tỏa ở Giêrusalem thiên quốc, chứ không phải thành thánh Giuđa ...

Con Thiên Chúa bị đánh giá ngang hàng nô lệ.[3] Như vậy vẫn chưa đủ ! Chúa còn bị kết án tử hình như một tên đại gian phi. Trước các trưởng tế và Thượng Hội Ðồng, người ta tìm chứng cứ giả dối để lên án Người (Mt 26:59-60). Khi hỏi Chúa về khả năng phá hủy và tái thiết Ðền Thờ trong ba ngày (Mt 26:61), hình như họ không tìm thấy lý do để kết án tử hình Người. Khi Philatô chất vấn, Chúa Giêsu tự xưng là Thiên Sai và Vua dân Do thái. Xưng mình như thế bị coi là phản bội chính quyền Rôma và sẽ bị án phạt nặng nề. Cuối cùng, họ đã đóng đinh Người trên khổ giá, một hình phạt dành cho người nô lệ, trộm cướp và nổi loạn. Ðấng Công Chính đã bị xếp vào hạng người bất chính ! Còn bất công nào lớn hơn ?!

Nhìn thẳng vào vấn đề, chúng ta mới thấy Chúa từ bỏ tới mức nào ! Không những từ bỏ vinh quang Thiên Chúa, Người còn khước từ danh dự của một con người bình thường. Cuộc khổ nạn không phải chỉ nói về sự đau khổ, nhưng rốt ráo về sự vâng phục, cởi mở và tín thác nơi Chúa Quan phòng. Chính vì tội lỗi nhân loại, Chúa đã hủy mình ra không.[4] Người phải chịu cảnh bất công cùng cực mới bù lại những tội lỗi chúng ta xúc phạm đến Chúa ! Như thế chúng ta mới thấy Chúa quảng đại biết chừng nào ! Không độ lượng như thế, Chúa Giêsu không thể hòa giải chúng ta với Thiên Chúa.

Chịu cảnh bất công như vậy, Chúa Giêsu mới có thể công chính hóa mọi người. Thực vậy, “vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.” (Is 53:11) Nói khác, nơi Giao ước mới, Chúa chấm dứt cảnh bất công trong lề luật cũ. Không ai còn phải cúi đầu vâng phục những luật lệ phi lý, như luật ngày sabbat chẳng hạn. Lý do, lề luật được lập ra vì con người, hình ảnh Thiên Chúa. Không còn bị lệ thuộc và giam hãm trong cảnh bất công, mọi người đều sống tự do trong bầu khí hòa giải với Thiên Chúa và tha nhân. Hình ảnh Chúa ngồi trên lưng lừa như một vị vua hòa bình tiến vào thành Giêrusalem (x. Is 62:11; Dcr 9:9). Còn hình ãnh nào lý tưởng hơn để diễn tả cảnh hòa giải đất trời ?

Dù bị bao vây giữa một rừng người gian ác, Chúa Giêsu vẫn khẳng quyết về bản chất Nước Thiên Chúa và đường hướng hoạt động của mình : "Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18:36) Vua hoà bình sẽ thực hiện công cuộc hòa giải trong phạm vi Nước Thiên Chúa với “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17) Cuộc hòa giải chỉ có thể thực hiện trong sự công chính. Hơn nữa, công cuộc hòa giải chỉ được hoàn thành khi Chúa chu toàn sứ mệnh như đã xác định : “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.” (Ga 18:37) Chính dân chúng cũng khẳng quyết Người là vị Ngôn sứ, nghĩa là người công bố sự thật nhân danh Thiên Chúa. Tóm lại, công lý và chân lý là những điều kiện tất yếu để hòa giải nhân loại với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã hiến cả mạng sống mới có thể thỏa mãn những đòi hỏi đó.

GIAO DUYÊN

Chân lý và công lý đã giao duyên trên thập giá. “Khi tha thứ cho nhau, con người càng đòi hỏi công lý và càng mau tiến tới sự thật. Công lý và chân lý là những đòi hỏi tiêu biểu và cụ thể cho công cuộc hòa giải. Hơn nữa, cần phải thúc đẩy mọi người tôn trọng quyền sống hòa bình. Quyền này đốc thúc mọi người xây dựng một xã hội, trong đó những cơ chế quyền lực nhường bước cho những cơ cấu hợp tác mưu tìm công ích.”[5] Dựa vào quyền lực, con người dễ xa nhau vì những tranh chấp vô tận và không dễ dàng hợp tác để phục vụ cộng đoàn. Nhưng một khi biến thành cơ cấu hợp tác giữa mọi người, con người sẽ không còn tranh đua và sẽ tìm thấy con đường xây dựng cho nhau và cho cộng đoàn. Chỉ có thể xây dựng trong bầu khí hòa bình.

Ðể quy tụ muôn dân và hiệp nhất mọi người với Thiên Chúa và với nhau trong Giao Ước mới, Chúa Giêsu đã hy sinh tất cả để xin Thiên Chúa tha thứ cho nhân loại. “Nơi Người bao giờ cũng có thể nhận ra dấu chỉ sống động về tình yêu vô lượng và siêu việt của Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Người đã mang lấy những yếu đuối của dân Người. Người đồng hành với họ, cứu độ và hiệp nhất họ với nhau. Nơi Người và nhờ Người, có thể tái khám phá đời sống xã hội như một nơi tràn đầy sự sống và hy vọng, bất chấp mọi mâu thuẫn và vô minh. Chính nơi đó, mọi người sẽ liên tục thấy một dấu chỉ ân sủng và một lời mời gọi dấn thân và chia sẻ mãnh liệt hơn.”[6] Nhìn lên thập giá, con người sẽ thấy nguồn ân sủng chan hòa vinh quang Thiên Chúa.

Nơi thập giá, tín hữu sẽ gặp thấy điểm nối trời đất và con người. Mọi người sẽ chứng kiến tất cả những nét kỳ diệu lớn lao của tình yêu. Thực vậy, “Chúa Giêsu Nadarét làm cho mối liên kết giữa tình liên đới và lòng bác ái chiếu sáng trước mắt mọi người, soi sáng cho họ thấy toàn thể ý nghĩa của sự liên kết này. Trong ánh sáng đức tin, tình liên đới tìm cách vượt qua chính mình, mang lấy những chiều kích đặc biệt Kitô giáo như việc cho đi một cách vô điều kiện, lòng tha thứ và sự hòa giải. Người lân cận không những là người có quyền riêng và bình đẳng với mọi người khác tận nền tảng, nhưng còn trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được Máu Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc và sống dưới tác động của Chúa Thánh Linh. Bởi đó, ngay cả khi là kẻ thù, người thân cận cũng phải được yêu thương bằng tình yêu Chúa đã yêu thương họ.” (x. Ga 3:16) Thực hiện được điều đó, Nước Thiên Chúa sẽ xuất hiện trên trần gian. Ðức Kitô sẽ là Vua Hòa Bình. Cuộc hòa giải sẽ đến với muôn dân.

Tự bản chất, các môn đệ Giêsu phải là những sứ giả hòa bình. “Thực vậy, Chúa Giêsu đã ủy thác cho các môn đệ rao giảng ‘Tin Mừng hòa bình’ (Cv 10:36; x. Ep 6:15) cho mọi người. Ngay tại trung tâm của ‘Tin Mừng hòa bình’ là mầu nhiệm khổ giá, vì hòa bình sinh ra từ cuộc hy tế của Chúa Giêsu (x. Is 53:5) – ‘Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.’ Chúa Kitô chịu đóng đinh đã chiến thắng sự chia rẽ, đem lại hòa bình và hòa giải, nhờ cây thập giá, ‘Người đã tiêu diệt sự thù ghét’ (Ep 2:16) và đã Phục sinh để cứu độ nhân loại.”[7] Như thế rõ ràng công cuộc hòa giải đã mặc vẻ huy hoàng trong dịp Chúa vào thành Giêrusalem. Nhưng cũng chính tại thành Giêrusalem, Chúa đã trả giá cho công cuộc hòa giải đó bằng cái chết của mình.

HÒA GIẢI DÂN TỘC

Khác hẳn với Chúa Giêsu, người ta muốn hòa hợp hòa giải, nhưng lại không muốn để ý tới những điều kiện tất yếu là công lý và chân lý. Khi không có công lý, con người không biết tôn trọng nhau. Lẽ phải hay sự thật cũng bị gác qua một bên. Trong khi Chúa quên mình mới có thể hòa giải, người ta lại chỉ nhớ tới mình và những quyền lợi của mình. Không có công lý và chân lý, nhân quyền là một mộng ảo. Dùng mọi thủ đoạn để che dấu sự thật đàn áp nhân quyền và những lỗi lầm quá khứ, như cuộc sát hại đồng bào tại Huế trong dịp Tết Mậu thân chẳng hạn, nhà nước lấy tư cách gì để kêu gọi hòa giải và hòa hợp dân tộc ? Họ còn dùng mưu thần chước quỷ để biến tôn giáo thành công cụ phục vụ chế độ.

Cuộc tranh chấp Tòa Khâm Sứ tại Hà Nội đang phơi bày tất cả những nham hiểm của lòng người. Vatican không lường trước sự khôn ngoan như con rắn của những người cầm quyền. Còn nhớ khi viết thư cho TGM Ngô Quang Kiệt, ÐHY Bertone hứa sẽ “giải thích” cho nhà nước Việt Nam hiểu mà trả lại cơ sở cho tòa TGM. Còn bao nhiêu cơ sở khác bị tịch thu, chứ đâu phải chỉ có Tòa Khâm Sứ ! Giải thích tới bao giờ mới thu hồi được các sơ sở đó ?

Chưa kịp nghe giải thích, họ đã lật vấn đề sang mặt khác. Họ khôn khéo chuyển cuộc tranh chấp giữa nhà nước và Giáo Hội Công giáo thành cuộc đôi co giữa Phật giáo và Công giáo. Ðang là đối tượng bị mọi người chĩa mũi dùi, họ đã nhảy ra ngoài để nhìn hai con mồi Công giáo và Phật giáo đấu đá nhau. Tới lúc này, không biết ÐHY Bertone làm sao giải thích để họ nhả Tòa Khâm Sứ ra ?

Sự thật đã bị bóp méo tới mức nào trong vụ tranh chấp này ? Ai đã tạo cơn hỏa mù để phủi tay và hưởng lợi trong vấn đề này ? Ở đây không có ý nêu lên những lý chứng hai bên biện hộ cho tính cách pháp lý của Tòa Khâm Sứ, nhưng cũng không thể bỏ qua một ghi nhận khả tín : “Nhà thờ có thể được xây trên một phần đất rộng lớn của Chùa nhưng không nhất thiết ở chỗ có chính điện Chùa. Đây là một chi tiết rất quan trọng vì nếu cố ý phá chính điện Chùa để xây Nhà thờ lên trên thì phải coi đó là một hành động hoàn toàn xấu của các chức sắc Công giáo thời ấy muốn bỉ mặt những người Phật giáo. Tôi chắc là không như vậy vì trước khi xây Nhà thờ Lớn, ở trên khoảng đất đó đã có một nhà thờ bằng gỗ (có hình còn để lại) bị quân Cờ Đen đêm 15-5-1883 đột kích giết giáo dân và đốt cháy (theo nhật ký của Marolles, sĩ quan phụ tá của Henri Rivière viết ngày 16-5-1883).”[8] Sự thật còn phải đợi thời gian trả lời qua những công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa, pháp lý, xã hội, tôn giáo v.v.

Ðứng trước những tranh chấp đó, nhà nước có đóng vai hòa giải được không ? Làm sao hòa giải được khi họ đã có định kiến sẵn trong đầu và những phương tiện đàn áp trong tay ? Sự thật nghiêng về phía kẻ cầm quyền có còn là sự thật nữa không ? Sự thật sờ sờ trước mắt như việc đàn áp nhân quyền tại Việt Nam còn bị chối bỏ thẳng thừng, nói chi đến những sự kiện lịch sử ! Mới đây, “trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài BBC nhân chuyến công du ba nước Châu Âu vừa qua, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vẫn cho rằng tại Việt Nam không có tù nhân chính trị và không hề có việc đàn áp những tiếng nói đối lập. Tuy nhiên trên thực tế, ngoài những trường hợp bị sách nhiễu, giam giữ do dám công khai chính kiến khác biệt với nhà cầm quyền, hiện nay vẫn có những cá nhân bị rơi vào tình trạng tương tự.”[9]

Tóm lại, công cuộc hòa giải bao giờ cũng đòi phải được xây dựng trên nền tảng công lý và chân lý. Chính vì muốn hòa giải nhân loại với Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã phải chết để giành lại công lý và lẽ phải cho con người. Con đường đó đang chờ đón bước chân của những người dám hy sinh cho công lý và chân lý để xây dựng Nước Thiên Chúa giữa trần gian như TGM Paulos Faraj Rahho tại Iraq mới đây.

Lạy Chúa, hôm nay Chúa tiến vào thành Giêrusalem để tỏ vinh quang Thiên Chúa ngang qua cây khổ giá. Xin cho chúng con cùng chung tiếng với đoàn dân ca ngợi Chúa và cộng tác với Chúa thực hiện cuộc hòa giải nhân loại với Thiên Chúa. Amen.

 đỗ lực 16.03.2008


[1] TGM Paulos Faraj Rahho bị bắt cóc ngày 29.02.2008, sau khi chủ sự ngắm Ðàng Thánh giá với giáo dân.

[3] Khi một con bò húc chết một người nô lệ, người chủ của người nô lệ ấy phải đền một số tiền là ba chục đồng (x. Xh 21:32).

[4] Chúa từ khước vinh quang, chứ không hủy bỏ bản tính Thiên Chúa.

[5] ibid., 518.

[6] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 196.

[7] ibid., 493.

[8] Phong Uyên http://talawas.de/

[9] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/03/14/ Two_more_cases_of_HumanRights_violation_in_Vietnam_GMinh/


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp)

Người mang thân phận con người để ta được sống
Mt 26: 14-- 27:66

Theo chu kỳ các bài đọc, cứ mỗi ba năm chúng ta lại có một Trình Thuật Cuộc Khổ Nạn khác nhau. Hôm nay, chúng ta nghe bài đọc của thánh Mátthêu. Còn đâu mục đích cho phụng vụ hôm nay: nếu chọn bài đọc đầy đủ về cuộc Khổ Nạn (không phải bài ngắn) để chuẩn bị cho người giảng và những người đọc sách công bố theo từng phần thì sao? Xin được để cho thảm kịch của trình thuật này tự bộc lộ, như thánh Mátthêu trình bày.

Thế còn bài giảng? Sao lại không giảng về một trong những bài đọc kia: lấy từ đoạn mở đầu từ Tin mừng Mátthêu (việc Đức Giêsu vào thành Giêrusalem), hay bài đọc Isaia, hoặc từ thư gửi giáo đoàn Philípphê hay từ Thánh vịnh Đáp ca? Trong khi việc công bố Tin Mừng đã dài, thì sao lại không miễn cho người giảng bổn phận mở rộng và chia sẻ Lời Chúa với cộng đoàn. Vậy nên, chúng ta hãy theo lời đề nghị đó và chú tâm đến những khả năng giảng về các bài đọc kia.

Việc Đức Giêsu vào thành Giêrusalem giống như cảnh đầu tiên đối với một vở kịch quan trọng và đầy kịch tính. Thánh Mátthêu làm theo những gì ngài đã và đang làm ngay từ khởi đầu Tin Mừng của ngài: ngài cho thấy Đức Giêsu là sự hoàn tất về niềm hy vọng Đấng Thiên Sai của Israel. Chẳng hạn, ngài ám chỉ đến những lời mang tính ngôn sứ của Isaia (62,11) và Dacaria (9,9). Những Kitô hữu gốc Do Thái mà thánh Mátthêu đang nói với sẽ nhanh chóng hiểu được sứ điệp của ngài: Nơi Đức Giêsu, lời hứa của Thiên Chúa với dân Do Thái sẽ được hoàn trọn. Một hình ảnh khác dễ dàng được cộng đoàn của thánh Mátthêu nhận ra: Vị thủ lãnh được Thiên Chúa sai đến tiến vào Thành Thánh, ngồi trên lưng lừa, một biểu tượng của vương quyền, chứ không phải sức mạnh quân đội. Vị vua đích thực của Israel đã đến.

Khi khởi đầu tuần cực thánh này, chúng ta không để cho tinh thần của mình đắm chìm trong tội lỗi (“Hãy nhìn vào những gì tội lỗi mình gây ra”). Thay vào đó, chúng ta quy tụ với nhau trong tinh thần thờ kính, tạ ơn Thiên Chúa về những gì Người đã thực hiện nơi Đức Giêsu vì ơn ích cho chúng ta; tạ ơn vì nhờ Đức Giêsu vâng phục Thiên Chúa mà ngày nay chúng ta có được ơn sống đời thánh thiện và có thể trung thành với lời mời gọi của Đức Giêsu để bước theo Người. Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hòa nhập vào đám đông đang chào đón Đức Giêsu – nhưng lời ca ngợi của chúng ta phải kiên định, vì lời ấy phát xuất từ niềm tin Kitô giáo chúng ta, như khi chúng ta tuyên xưng “Thánh, Thánh, Thánh”.

Bài đọc Isaia sẽ có ý nghĩa đặc biệt cho quý vị, các giáo lý viên và bất cứ bậc phụ huynh nào, những người có trách nhiệm chia sẻ Lời Chúa cho người khác. Một số trong chúng ta thi hành điều này trên bục giảng, những người khác thì trong lớp học và số còn lại thì ở những môi trường ít trang trọng hơn, như trong gia đình hay nơi công xưởng. Isaia khuyên rằng, trách nhiệm trước tiên của chúng ta không phải là để nói, mà là để nghe. Chúa ban cho tôi ơn “nói năng như một người môn đệ” bởi vì “mỗi sáng” Người “mở tai tôi để tôi lắng tai nghe”. Sau khi chú tâm đến những gì Chúa nói với chúng ta, thì chúng ta mới “phá vỡ sự thinh lặng”, như nhà soạn giảng Fred Craddock mô tả. Nếu những lời ta nói thu được kết quả thì những lời ấy phải bắt nguồn từ sự thinh lặng mà chúng ta tuân giữ khi chăm chú lắng nghe Lời Chúa.

Đâu là "những nơi lắng nghe" trong cuộc đời chúng ta, nơi chúng ta mong đợi được nghe Chúa ngỏ lời với mình? Chắc chắn, nơi quan trọng nhất chính là Thánh Kinh. Vì thế, chúng ta đặc biệt chú tâm đến Lời Chúa được công bố ở các buổi cử hành phụng vụ. Để giúp chuẩn bị cho những giây phút lắng nghe quan trọng này, chúng ta áp dụng việc thực hành đọc Kinh Thánh mỗi ngày và cầu nguyện – ngắn thôi và đôi khi càng mau càng tốt.

Bản văn hôm nay là bản thứ ba trong số bốn “Bài ca về Người tôi trung” của Isaia. “Người tôi trung” huyền bí này được diễn tả như một tiếng nói ngôn sứ vâng phục, người nói năng “như một người môn đệ” trước hết từ việc lắng nghe tiếng Chúa. Tuy nhiên, hãy chú ý đến “nơi thánh” mà vị ngôn sứ cũng đến để lắng nghe Thiên Chúa – đối với những ai “rã rời kiệt sức”. Người tôi trung để tai lắng nghe người nghèo và những “kẻ rã rời kiệt sức”. Nhạy cảm với hoàn cảnh khó khăn của họ và được Thiên Chúa xức dầu, người tôi tớ biết lựa lời để nói và biết việc để làm cho những ai “rã rời kiệt sức”. Điều “thức tỉnh” họ chính là nói năng “như một người môn đệ”, một lời nói mà trước hết là thinh lặng để người tôi tớ có thể chú tâm và lắng nghe những gì đang diễn ra trong cuộc sống của họ.

Tôi viết điều này khi đang trên chuyến bay xuyên lục địa. Khi mà một số người ăn mặc giản dị xung quanh tôi trên máy bay, có vẻ cho thấy điều kiện kinh tế của họ ở mức bình thường, thì phần lớn, hay hầu hết những người bạn của tôi trên chuyến bay này dường như đều thuộc tầng lớp trung lưu hay dưới trung lưu một chút (ngoại trừ những thương gia ở khoang hạng nhất phía trước, những người mà bây giờ đang nhấp nháp rượu! ). Nếu tôi thực hành quy tắc lắng nghe của nhà giảng thuyết thì tôi sẽ cần chú tâm đến những người không đến nỗi quá nghèo trên chiếc máy bay này, và trong thế giới thực tiễn hàng ngày của tôi, cảm nghiệm được sự “rã rời kiệt sức” của riêng họ. Trong thừa tác vụ Lời, ai trong chúng ta cũng đã từng nghe rất nhiều những lời rã rời kiệt sức. Bổn phận của chúng ta là có “đôi tai mở rộng” để trở nên những người lắng nghe họ một cách ân cần, ngõ hầu chúng ta có thể khám phá những gì Thiên Chúa muốn chúng ta nói với họ và làm cho họ. Chú ý lắng nghe để hiểu những gì họ đang nói là món quà trước nhất chúng ta có thể trao tặng họ.

Chúng ta không nên bỏ qua phần thứ hai về những gì Isaia nói với chúng ta hôm nay. Người trung thành, những người phục vụ và cố gắng nói nhân danh Thiên Chúa, thực sự biết những gì Isaia nói với chúng ta là thật. Người tôi tớ Thiên Chúa sẽ mong đợi sự khước từ và đau khổ trong việc tin tưởng phục vụ của chúng ta. Tuy nhiên, đoạn cuối Isaia có nhắc nhở khích lệ: “Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi”, và vì thế Người tăng sức cho chúng ta để tiếp tục việc phục vụ Lời. Thiên Chúa là Đấng giúp chúng ta “trơ mặt ra như đá”. Hoặc là sử dụng một lối ẩn dụ khác, theo những lời của nhà tu đức: “Như cây trồng bên dòng nước, tôi sẽ chẳng bao giờ bị lay chuyển”.

Những tín hữu đầu tiên nhận ra Đức Giêsu như là sự hoàn tất của người tôi tớ được mong đợi của Isaia. Đối với họ, Đức Giêsu là người tôi tớ phục tùng, trung thành với Thiên Chúa, không chỉ trong suốt cuộc, mà còn trong cả cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài. Thánh vịnh 22 thường được sử dụng trong Tuần Thánh – cách riêng được xem như là phần đáp ca cho bài đọc Isaia. Đây là bài ca ai oán thảm thiết nhất, như người cầu xin Thiên Chúa một cách rất sâu sắc: “Lạy Thiên Chúa tôi, Lạy Thiên Chúa của tôi, sao Ngài nỡ bỏ rơi tôi”. Thánh Mátthêu nói rằng Đức Giêsu đã than khóc những lời này từ trên cây thập giá (Không phải toàn bộ thánh vịnh đều được trích dẫn ngày hôm nay, mà chỉ những câu các tác giả Tin Mừng trích dẫn trong những trình thuật Cuộc Khổ nạn khác nhau). Thánh vịnh bắt đầu bằng bài ca ai oán thảm thiết, nhưng tầm quan trọng của nó là nhắm đến sự tín thác và hy vọng vào Thiên Chúa để được giải thoát. Thánh vịnh 22 là sự nối kết giữa Người tôi tớ đau khổ trong sách Isaia và trình thuật của Cuộc Khổ Nạn hôm nay.

Trong khi bài đọc hôm nay không nói rõ điều này, thư gửi tín hữu Philípphê có lẽ được thánh Phaolô viết khi bị cầm tù ở Rôma. Thánh Phaolô mặc lấy những đau khổ của người tôi tớ Thiên Chúa được diễn tả trong sách Isaia và những đau khổ của Đức Giêsu mà thánh Mátthêu thuật lại. Thánh Phaolô không nhằm làm nổi bật chính mình, nhưng qui về Đức Kitô. Có lẽ thánh Phaolô trích dẫn bài thánh thi Kitô giáo thời sơ khai khi ngài thuyết phục các tín hữu Philípphê nên noi gương Đức Kitô. Để mặc lấy thân thể của chúng ta, Đức Kitô đã “tự hủy mình ra không”. Người đã cố ý chọn lấy thân phận chúng ta để chúng ta có thể được đổ tràn cuộc sống mới của Người.

Chúng ta đi theo con đường mà bài trích thư Philípphê chỉ dẫn. Trước hết, Đức Kitô hạ mình xuống với chúng ta, “đến như hình ảnh con người”. Kế tiếp, bài thánh thi cất lên; sau khi chết, Đức Kitô được “siêu tôn”. Nhưng, Người không trở lại tay không, như Isaia đã nói về Lời của Thiên Chúa (55,11): Lời thực hiện ý định của Thiên Chúa. Với chúng ta, điều này có nghĩa là Đức Kitô kéo chúng ta đến gần Thiên Chúa cùng với Người – trong Bí tích Thánh tẩy, chúng ta bước lên khỏi dòng nước và sống một đời sống mới, được khởi đầu một cách tuyệt diệu. 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

Anh em hãy uống “chén” của Thầy!

Kiệu Lá: Mt 21,1-11; Thánh Lễ: Is 50,4-7; Tv 22; Pl 2,6-11; Mt 26,14 – 27,66

Kính thưa quý vị,

Tôi lưỡng lự để chọn chủ đề cho bài giảng của mình. Vì Trình thuật cuộc Thương Khó của Đức Giêsu theo thánh Mátthêu thật phong phú và cũng thật… dài, nên vị giảng thuyết dễ bị cám dỗ chỉ đọc cho hết mà không giảng. Riêng tôi, tôi hết sức chống lại cơn cám dỗ này. Trong khi có thể rút gọn bài giảng, tôi lại muốn cố gắng giải thích Lời Chúa cho thế giới ngày nay. Và tôi quyết định chỉ tập trung vào một hình ảnh trong trình thuật cuộc Thương Khó, đó là Chén Thánh.

“Khi ấy, Người cầm lấy chén, dâng lời chúc tụng và trao cho các môn đệ mà nói: ‘Hãy nhận lấy mà uống, này là Chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội.’”

Thánh Mátthêu đã dùng 1/3 Tin Mừng của mình để viết về cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu (16,21-28.20). Có nhiều chủ đề để phân biệt lối trình thuật của thánh Mátthêu về cuộc thương khó và sự phục sinh. Ví dụ, trong Tin Mừng thánh Mátthêu, Đức Giêsu hoàn toàn chủ động trong các biến cố sau cùng của đời mình. Người biết điều gì sẽ xảy đến cho mình, tuy vậy, Người vẫn không dùng quyền năng để thay đổi chúng (26,53). Thánh Mátthêu đã làm rõ việc Đức Giêsu hoàn toàn tự nguyện chọn con đường thập giá (26,37-38). Đức Giêsu không tìm kiếm một cuộc tử đạo chỉ đơn thuần để được tử đạo. Đúng hơn, Người chấp nhận “chén thánh” đau khổ vì thánh ý Thiên Chúa. Người sẽ “uống” chén ấy. Uống chén đau khổ nghĩa là chấp nhận bị phản bội, ruồng bỏ, phải đau khổ và phải chết. Vì chúng ta mà Đức Giêsu sẽ phải uống chén đã được dọn sẵn cho Người.

Đức Giêsu đã mượn hình ảnh biểu tượng bữa tiệc Vượt Qua để diễn tả cho các môn đệ biết những việc Người sắp thực hiện, đồng thời nói cho các ông biết những gì Người muốn các ông đáp lại. Vốn thuộc truyền thống của mình, các môn đệ hiểu được thế nào là bữa tiệc Vượt Qua: đó là lễ kỷ niệm dân Do Thái được giải thoát khỏi ách nô lệ. Tại bữa ăn cuối cùng với Đức Giêsu, các môn đệ sẽ biết rằng Người là Đấng giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thiên Chúa đã dẫn đưa dân Israel đến bờ bến bình an; và giờ đây, dẫu nơi họ có muôn vàn khó khăn, nhưng chính Đức Giêsu sẽ dẫn họ đến bờ bến bình an trong “Vương Quốc của Cha Người”.

Đức Giêsu không xem việc bị bắt giữ và cái chết là kết thúc sứ mạng của Người ở trần gian. Thậm chí trong những lúc cùng cực nhất, Đức Giêsu vẫn hy vọng hướng về một trời mới đất mới cùng với Chúa Cha. Để uống chén mà Đức Giêsu đã ban tặng, chúng ta hãy củng cố và canh tân giao ước giữa chúng ta với Thiên Chúa, đồng thời hãy khấn hứa giữ trọn giao ước ấy.

Hạn từ “chén” xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong các bản văn Kinh thánh. Ví dụ, “chén an ủi” trong sách ngôn sứ Giêrêmia (16,7). Các thánh vịnh thường nói về việc nâng “chén chúc tụng”, “chén cảm tạ” sau khi nhận được ơn trợ giúp (Tv 16,13). Tin Mừng Mátthêu (20,22) thuật lại rằng: chủ nhà đổ đầy chén thực khách, và như vậy, mỗi chén ám chỉ về phận vụ của mỗi người. Thánh vịnh (75,9) diễn tả về “chén đầy mùi vị đắng cay.” Mỗi chén này, và còn nhiều chén khác, đều là những chén biểu tượng (x. John L.Mckenzie, S.J., “Từ điển Kinh Thánh”, nxb Bruce, New York, 1965).

Trong Tin Mừng thánh Máccô (15,22), chúng ta đọc thấy rằng: “và tất cả đều uống chén này.” Nhưng trong Tin Mừng thánh Mátthêu, Đức Giêsu đưa ra lệnh truyền: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống.” Một lần nữa, thánh sử Mátthêu muốn diễn tả việc Đức Giêsu luôn nắm quyền chủ động trong tất cả các việc. Người đang mời gọi chúng ta cùng chia sẻ định mệnh của Người. Đây là “máu giao ước” (Xh 24,8), một hình ảnh nhắc nhở về việc ông Môsê ký giao ước với Đức Chúa và rảy máu của động vật trên dân. Giờ đây, máu “sẽ được đổ ra cho tất cả.” Người Tôi Tớ của Thiên Chúa sắp chịu đau khổ và Người chấp nhận chén đắng ấy vì chúng ta. Điểm tập trung chính, vốn là những gì mà Đức Giêsu đã, đang, và còn tiếp tục thực hiện, đó là tha thứ tội lỗi (1,21; 6,12; 9,6). Chúng ta có nhận lấy cùng chén ấy không? Thánh Mátthêu còn thêm rằng: “để nhiều người được tha tội.”

Việc uống chén cứu độ cũng nhắc nhở chúng ta rằng, trong tương lai, chúng ta cùng với Đức Giêsu uống “sản phẩm của nho này” nơi bàn tiệc Thiên Quốc. Cho đến khi thời điểm ấy đến, “giờ đây” Đức Giêsu phải chịu đau khổ. Mọi sự sẽ được hoàn tất vào một ngày nào đó; song điều ấy vẫn chưa xảy ra. Vì thế, chúng ta uống chén này để tưởng nhớ cuộc khổn nạn của Đức Giêsu và lời hứa về một sự hoàn tất trong tương lai.

Khung cảnh là bữa ăn Vượt Qua; một bữa ăn được gia đình và những người thân yêu cùng chia sẻ. Đức Giêsu đã nhiều lần dùng bữa cùng các bạn hữu, tội nhân và những người bị ruồng bỏ, và đây là bữa ăn cuối cùng của Người với các môn đệ. Đức Giêsu thiết lập mối dây liên kết với những ai đồng bàn với Người. Chúng ta không nên cảm thấy xấu hổ hay e thẹn khi đồng bàn với Người. Chúng ta giơ tay cầm lấy chén để uống, không phải vì chúng ta là những môn đệ hoàn hảo, nhưng vì chúng ta là những kẻ đang khao khát chén này. Chúng ta muốn sống một cuộc đời mà Đức Giêsu đã mời gọi chúng ta đón nhận lấy, song chúng ta cần sự trợ giúp của Người. Vì vậy, chúng ta phải uống Chén Máu mà Đức Giêsu đã đổ ra cho chúng ta được ơn tha thứ và chữa lành.

Chúng ta được nhắc nhớ về giao ước giữa chúng ta với Đức Kitô tại bữa tiệc Vượt Qua này. Bữa tiệc đó bảo đảm cho giao ước không gì có thể phá vỡ được. Tất nhiên Thiên Chúa không bao giờ vi phạm giao ước. Nếu chúng ta tham dự bữa tiệc, khi đó chúng ta sẽ nhớ về chén thánh, nhớ về những giọt máu đã được đổ ra vì ơn tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Ơn tha thứ đã được ban, và chúng ta lại uống chén ấy.

Trong câu chuyện, Đức Giêsu là Đấng trung tín, tất nhiên không như ông Giuđa thất tín, và ông Phêrô quá tự tin. Đức Giêsu thể hiện sự trung tín bằng việc nhận lấy và uống chén đó. Chúng ta cũng hãy tiến đến mà uống, để diễn tả niềm khao khát được bước theo con đường của Đức Giêsu, cho dù phải trả bất cứ giá nào. Chúng ta hãy cầm lấy chén, chén đó giúp chúng ta sống qua được khát vọng để trở nên những môn đệ của Đức Kitô, trong niềm mơ ước cũng như trong hành động.

Đã bao lần và trong những dịp nào thì chúng ta nâng cao “chén rượu” và hứa hẹn nhiều điều? … Thưa rằng, có thể đó là những dịp: sau một đám tang, chúng ta hứa sẽ tưởng nhớ người mới qua đời, đồng thời an ủi những người bị mất người thân; tại một bữa tiệc cưới, khi cha mẹ hoặc các thực khách cùng nâng ly chúc mừng đôi tân hôn với những hứa hẹn về cả những niềm vui, và những hy sinh đang ở phía trước; khi được tin một đứa trẻ vừa chào đời, một người bạn vừa tốt nghiệp cao đẳng hay trung học; trong Đêm Giao thừa khi chúng ta tạm biệt năm cũ và hy vọng những điều tốt đẹp nhất trong năm mới; ở một bữa ăn đặc biệt khi chúng ta cầu hôn; hoặc để mừng một đứa con trai hay con gái từ chiến trường trở về, v.v…

“Chén” mà chúng ta chia sẻ nói rất nhiều về việc tạ ơn, sự trợ giúp, niềm vui, hy vọng, hiệp thông và tất nhiên cả sự hy sinh nữa. Chúng ta không xa lạ gì với những ý nghĩa trên đây. Khi hiệp thông Thánh Thể hôm nay, ý thức sự cần thiết của việc cử hành này và cụ thể những hy sinh của mình, chúng ta cầm lấy chén mà uống để tưởng nhớ và hy vọng.