![]() | |
|
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY A
Xh 17:3-7 ; Rm
5:1-2.5-8 ; Ga 4:5-42 An Phong op : Mở Lòng Ra Với Ơn Cứu Ðộ Fr. Jude Siciliano, op : Ngài đã mở mắt cho tôi Fr. Jude Siciliano, op : Hãy sống như con cái sự sáng Fr. Jude Siciliano, op. : Xin cho con được nhận biết Chúa trong anh em G. Nguyễn Cao Luật op : Đấng Sáng Soi Cho Kẻ Mù Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Người mù được sáng mắt Dom. Lê Đức Thiện op : Thày là ánh sáng thế gian Đỗ Lực op : Khi Sự Thật Lên Tiếng Fr. Jude Siciliano, op : Hãy Sống Như Con Cái Sự Sáng
Fr. Jude Siciliano, op:
Đức Giêsu đến để ta được thấy
Mở Lòng Ra
Với Ơn Cứu Ðộ Người mù, đó là thân phận giới hạn, thiển cận, mù quáng... của con người. "Người mù từ bẩm sinh" lại là một sự bất lực căn bản ; một sự "mù quáng" mà con người không thể nào vượt qua được. Con người có mắt, có tai, và nhất là có lý trí khôn ngoan để sống giữa cuộc đời. Ðó là hồng ân của Chúa. Sự khôn ngoan đó, ngày nay, còn được hỗ trợ bằng những phương pháp khoa học, những kỹ thuật hiện đại khiến con người có thể vạch ra những kế hoạch vài chục năm sắp tới, có những chương trình cho đời mình và có người nghĩ rằng mình được an toàn nhờ những kế hoạch, những chương trình đó. Thế nhưng, chúng ta cũng thấy rất rõ rằng cuộc đời không phải là kế hoạch sít sao như chương trình vi tính; có nhiều khúc mắc của tâm hồn mà không một phương cách khoa học nào có thể giải quyết; có những hoàn cảnh éo le mà ta cảm thấy rối bời, không tìm ra một chút ánh sáng, và chỉ còn biết im lặng trong tâm tình hiệp thông, chia sẻ... Ngày nay, những người thông hiểu một chút đều biết rằng cuộc đời con người không phải là một bài toán có thể dễ dàng tìm được đáp số; nhưng là một huyền nhiệm mà mỗi người mỗi ngày mỗi cảm thấy sâu sắc hơn. Chính Chúa Giêsu là Ánh Sáng thật soi dẫn cuộc đời con người. Những người Do Thái tưởng mình là người hiểu biết : chê bai anh mù : "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?", và điên cuông tìm cách dẹp bỏ con người làm gai mắt này; đúng như điều thánh sử Gioan đã viết ở đầu Tin mừng : "Ánh Sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng". Ngược lại, anh mù bẩm sinh được chữa lành, nhất là được ánh sáng Ðức Tin : "Thưa Ngài, tôi tin"; để anh có thể nhận ra sự thật về cuộc đời mình, về ơn Cứu Ðộ của Thiên Chúa ban cho con người. Lời Chúa hôm nay kêu gọi người tín hữu biết nhờ Ðức Tin mà đón nhận sự soi dẫn cuộc đời; bởi vì như bài đọc 1, sách Samuel đã nói : " Vì Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm". Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt, Thấy tình yêu Ngài kỳ diệu khắp nơi Con mù lòa bên vệ đường hành khất Xin chữa cho để nhìn thấy mặt Ngài. Cúi lạy Ngài, cho tai con nghe rõ, Tiếng tha nhân cầu khẩn lượng hải hà. Họ khổ đau, họ kêu gào than thở, Ðừng để con cứ giả điếc làm ngơ. Cúi lạy Ngài, xin mở rộng tay con, Ðừng nắm lại giữ khư khư tất cả. Trước cửa nhà có người nghèo đói lả, Xin dạy con biết chia sẻ vui lòng. Cúi lạy Ngài, cho chân con vững chãi, Ðể tiến lên dẫu đường sá hiểm nguy. Nguyện theo Ngài, thập giá đâu quản ngại, Chúa cầm tay mà dẫn bước con đi. (Thánh Thi Kinh Sách)
SÁNG MẮT
SÁNG LÒNG Ánh sáng và bóng tối vẫn giao tranh ác liệt. Bóng tối không ngừng gieo rắc tai họa khắp nơi. Nhưng ánh sáng đã thắng lớn khi Ðức Giêsu ra tay "để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa" (Ga 9:3) nơi "một người mù từ thuở mới sinh." (Ga 9:1) THUI RA MỚI BIẾT BÉO GẦY Mặt trận chia làm hai phe rõ rệt. Một bên là "môn đệ của ông Môsê" (Ga 9:28). Bên kia là "môn đệ của ông ấy" (Ga 9:28) tức là Ðức Giêsu. "Các môn đệ của ông Môsê" lớn tiếng kết án Ðức Giêsu "là người tội lỗi." (Ga 9:24) Cả anh mù cũng bị lên án : "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu." (Ga 9:34) Tất cả "không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sabát." (Ga 9:16) Ðó là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá con người. Cả một màn đêm bao phủ tinh thần nệ luật. Bóng tối đã làm tê liệt khả năng đối thoại và nhìn nhận sự thật. Ðúng như Chúa nói : "đêm đến, không ai có thẻ làm việc được." (Ga 9:4) Không chỉ lên án Ðức Giêsu, họ còn "đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô." (Ga 9:22) Anh mù bẩm sinh đã trở thành nạn nhân của lối nhìn khắt khe đó (x. Ga 9:34) Mặc dù biết rõ sẽ bị lên án, anh vẫn can đảm nói lên sự thật: "Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy." (Ga 9:31) Lập luận đanh thép đó đương nhiên dẫn đến kết luận : Ðức Giêsu là "người bởi Thiên Chúa mà đến." (Ga 9:33) Ý Thiên Chúa là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá và phân hạng con người. Cuối cùng chiến thắng sẽ thuộc về ánh sáng. Quyền năng Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu đã đưa anh mù vào vùng ánh sáng. Phép lạ lớn lao đó không thể không tác động đến toàn thể con người và cuộc đời anh. Khi còn chìm ngập trong đêm tối, anh như mất tất cả. Sau khi "đến hồ Silôac mà rửa", anh đã "nhìn thấy được." (Ga 9:6-7) Ánh sáng đã thay đổi toàn diện con người anh. Anh rất bén nhậy trước nguồn ánh sáng đang ùa tràn vào con mắt và tâm hồn. Anh không thể không nói lên sự thật. Trước mặt những người Pharisêu anh dõng dạc làm chứng. Sau khi đã được mạc khải rõ về Con Người, anh còn tuyên xưng : "'Thưa Ngài, tôi tin.' Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người," (Ga 9:38) với tất cả niềm tri ân cảm tạ hồng ân giải thoát anh khỏi vùng tối tăm. "Người mù đã được sáng mắt, giờ đây độ sáng tinh thần đang tăng lên nhờ nhận ra Ðức Giêsu." (Faley 1994:258) Anh đã sáng mắt sáng lòng. Người mù bẩm sinh đã đón nhận được ánh sáng và nguồn ân sủng đó, nên đã thành một chứng nhân phi thường cho Ðức Giêsu trước quyền bính. Tại sao anh có một sức mạnh lớn lao đó ? Còn ai cảm nghiệm được bề dầy của đêm tối bằng người mù bẩm sinh ? Phá sập bức tường tăm tối đó, Ðức Giêsu đã chinh phục được trọn vẹn tâm hồn anh mù từ bẩm sinh. Mặc dù không biết Ðức Giêsu xuất thân từ đâu (x. Ga 9:12), nhưng anh mù vẫn mạnh mẽ tuyên xưng "Người là một vị ngôn sứ" (Ga 9:17) và "tin vào Con Người," (Ga 9:35) Ðấng từng hứa : "Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." (Ga 12:32,34) Phép lạ đã trở thành dấu chỉ rõ nét nhất về nguồn ân sủng đó. "Các môn đệ của ông Môsê" có dư phương tiện để tìm hiểu sự thật. Thế nhưng, dù nắm đầy đủ bằng chứng, họ vẫn không nhích được một bước. Không hi vọng có một chút thay đổi nào nơi những não trạng duy luật đó. Họ mất hết bén nhậy trước những thực tại tươi rói của Tin Mừng. Những đầu óc chai cứng đó không thể mở ra đón nhận bất cứ chân lý mới mẻ nào nữa. Ðó là những người chỉ đọc một sách. Trái lại, người mù bẩm sinh chưa hề đọc cuốn sách nào lại dễ mở lòng đón nhận chân lý là Ðức Giêsu. Trước luận điệu những người Pharisêu khăng khăng buộc tội Ðức Giêsu, anh cương quyết bênh vực : "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !" (Ga 9:25) Nói thế có khác gì thánh Phaolô, đấng từng quả quyết: "Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Ðức Giêsu Kitô, mà là Ðức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá." (1 Cr 2:2) Một chứng từ quá đủ để cho anh tìm ra sự thật giải thoát. Trái lại, vì không tìm ra sự thật đó, nên các người Pharisêu vẫn cứ luẩn quẩn tìm cách kết án Ðức Giêsu là người tội lỗi. Càng tìm cách củng cố lập luận, càng bị sa lầy. Sau bốn lần hội kiến với các nhân chứng, họ vẫn không tìm ra sự thật. Ðúng hơn, họ đã cố tình bẻ cong và cô lập sự thật. Không ai điếc bằng người không muốn nghe. Họ bắt buộc phải nghe một sự thật từ miệng Ðức Giêsu: 'Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù.'"( Ga 9:39) Bởi đấy, nguy cơ lớn nhất đã đến, khi Ðức Giêsu phán quyết : "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng :'chúng tôi thấy', nên tội các ông vẫn còn đó." (Ga 9:41) Cuối cùng mới rõ trắng đen. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN. Sau khi bị lên án như thế, chắc chắn người Pharisêu vẫn chưa sáng mắt sáng lòng để nhận ra Ðức Giêsu "là ánh sáng thế gian." (Ga 9:5) Họ đồng lõa với bóng tối. Ngày nay, bóng tối đó vẫn phủ ngập trân gian và lăm le triệt hạ ánh sáng. Thế nhưng, "bóng tối đã không diệt được ánh sáng." (Ga 1:5) Chẳng hạn, bóng tối tràn ngập xã hội Ấn độ khi một nhóm Ấn độ giáo cực đoan tấn công các tu sĩ Công giáo và thí điểm truyền giáo tại Sanjeli, vào ngày 2/3/2002 vừa qua (ZENIT.org-Fides 5/3/ 2002). Giáo Hội vẫn không tìm cách trả thù. Nhưng một đàng các người Kitô hữu Ấn độ kêu gọi những người thiện chí đoàn kết để cô lập nhóm quá khích cuồng tín và tái lập hòa bình. Ðàng khác, Giáo Hội vẫn tin tưởng rằng "việc chung sống nhân danh tôn giáo là con đường dẫn tới hòa bình, chứ không phải là dịp tạo ra chiến tranh. Thập điều Assisi hiện nay gây ấn tượng mạnh vì hòa bình trở thành một cam kết chung, chứ không phải chỉ là lời kêu gọi vượt qua những đối đầu kiểu chiến tranh." (Riccardi: ZENIT.org-Fides 5/3/ 2002) Hơn lúc nào, nhân loại cần đến "ánh sáng trần gian" để nhìn ra sự thật và chung sống hòa bình. ÐGH Gioan Phaolô II quả quyết Giáo Hội Công giáo "sẽ tiếp tục cam kết thập điều Assisi chân chính, sự tha thứ cho nhau và đồng tâm nhất trí với nhau sẽ hướng dẫn nhịp sống nhân loại trong đệ tam thiên niên kỷ này." (ZENIT.org-Fides 5/3/ 2002) Người còn cho biết "tinh thần và sự cam kết ở Assisi sẽ hướng dẫn mọi người thiện chí đi tìm chân lý, công lý, tự do, tình yêu để mỗi người có thể hưởng những quyền lợi bất khả nhượng và mỗi quốc gia được hòa bình." (ZENIT.org-Fides 5/3/ 2002) Ðiều 3 trong thập điều Assisi nói rõ : "Chúng tôi cam kết cổ võ một nền văn hóa đối thoại để sự hiểu biết và tin tưởng có thể phát triển giữa cá nhân và các dân tộc như những điều kiện để đạt đến một nền hòa bình đích thực." (CWNews 4/0/2002) Quả thực, khi con người chấp nhận đối thoại, vấn đề nào cũng có thể giải quyết được. Tôn trọng những khác biệt của nhau là điều kiện cần cho cuộc chung sống. Bởi thế, điều 5 trong thập điều Assisi quả quyết : "Chúng tôi cam kết thành tâm và kiên nhẫn dấn thân vào cuộc đối thoại, bất chấp những khác biệt, chúng tôi nhận thức rằng đối diện với những khác biệt đó có thể là một cơ hội lớn để hiểu biết nhau hơn." (CWNews 4/0/2002) Nhưng nếu không có "ánh sáng trần gian", chúng ta không thể thấy những nét kỳ diệu trong các tôn giáo và văn hóa. Bởi thế, Ðức Giêsu mới bảo đảm cho muôn dân một cuộc sống phong phú và một nền hòa bình lâu dài. Thưa quý vị. Bài đọc thứ hai của Chúa Nhật hôm nay định tên định tuổi cho các căng thẳng trong thế giới chúng ta đang sống. Rõ ràng hơn, đó là sự vật lộn giữa thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, tốt lành và xấu xa : “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ nhờ ơn Chúa, anh em là ánh sáng. Nên hãy sống như con cái ánh sáng …” Chẳng cần nhiều kinh nghiệm lắm cũng có thể nói rằng cuộc vật lộn này chưa hề suy giảm, chưa hề chấm dứt. Ngược với giọng điệu lạc quan của lá thơ, tình hình thế giới ngày càng lún sâu vào cuộc đấu tranh này, cho nên thánh Phaolô đã khuyên tín hữu thành Êphêsô : “Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng.” Thực tế lại đảo ngược mong ước của thánh Phaolô cho con cái của ngài tại thành Êphêsô. Vậy thì các tín hữu ở bất cứ đâu, bất cứ thời kỳ nào của lịch sử cũng phải cố gắng cảnh giác và mạnh mẽ thi hành những chi “đẹp lòng Thiên Chúa.” Để không phải chỉ là những lời cổ võ, khích lệ suông, mà bài đọc thứ hai hô hào, bài Phúc Âm thuật lại cho chúng ta câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành người mù từ lúc mới sinh. Câu chuyện vừa là một phép lạ ngoạn mục, vừa là một lời cảnh báo sâu xa, ý nhị. Nó không những chữa lành người mù, nhưng nó còn cho anh ánh sáng (cho cả chúng ta nữa) để đối diện với kẻ thù của anh, những người ương ngạnh nói “không” cho các kinh nghiệm của anh. Chúng ta sẽ bàn sâu hơn về chuyện này, nhưng trước hết tôi xin đề nghị chúng ta đọc toàn bộ trình thuật như thánh Gioan đã viết, không cắt ngắn. Bởi vì đó là ý định của tác giả, nếu ngắn mà nói lên được hết ý nghĩa, thì viết dài làm chi ? Những bài đọc của các tuần lễ kế tiếp cũng thế. Nếu sợ mỏi chân, thì xin cứ ngồi mà nghe đọc cũng chẳng sao. Như vậy tốt hơn là cắt ngắn để rồi không quán triệt hết nội dung. Ngay trong mấy dòng đầu của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta những tia sáng đầy ý nghĩa. Thời ấy người ta tin rằng, bệnh tật, nghèo đói, tai họa đều do bởi tội lỗi gây nên. Họ đô cho Thiên Chúa mọi bất hạnh, mọi hên xui của cuộc đời. Chúa làm nên những sự đó cho con người ta, tốt cũng như xấu. Sự mù tối hôm nay là do bởi tội của cha mẹ, hoặc ngay cả bởi tội của đứa bé (Còn nằm trong dạ mẹ đã dám phạm tội rồi !). Các Tông đồ cũng đồng tình với não trạng đó khi đặt câu hỏi với Chúa Giêsu : “Thưa thày, ai đã phạm tội, người này hay cha mẹ anh, khiến anh sinh ra đã bị mù ?” Ngày này chúng ta tức cười vì tính ngây thơ của họ. Nhưng thực tế chúng ta vẫn mang tâm lý tương tự : “Chúa phạt nó, bởi nó đã làm điều gian ác đáng ghét !”, “Sống như vậy Chúa phạt phải rồi !” Quay lại với bản thân, chúng ta cũng nghĩ như vậy thôi. Khi chúng ta chịu đau khổ vì bệnh tật, lầm lẫn, bối rối, thất vọng … chúng ta thường buồn rầu nghĩ rằng mình đã bị bỏ rơi, bị tay Chúa đè nặng. Rồi chúng ta chán nản cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn. Chúa không còn yêu thương mình nữa, một ý nghĩ thật là ghê gớm. Cộng thêm vào đó, có khi cha mẹ, họ hàng, bạn hữu, những người quen thân, chỗ dựa tinh thần đều có cùng tư tưởng : Chúa đã bỏ hắn rồi, hắn đã phạm tội, làm nhiều điều sai trái trước mặt Ngài nên Ngài phạt. Nếu như thực sự hắn có đức tin, Thiên Chúa đã cứu giúp hắn từ lâu … Nhìn rộng ra, trên bình diện nhân sinh quan quốc tế, tư duy bất hạnh vì tội lỗi càng phổ biến hơn. Nghèo đói, bệnh tật, chết yểu là hậu quả của tội lỗi các người “không đủ ăn”. Người công chính chẳng khi nào phải chịu tai ương như vậy ! Bao lâu chúng ta còn tiếp tục suy nghĩ như thế bấy lâu chưa thể nhìn ra nguyên nhân đích thật của nó. Nguyên nhận đích thật của các “bệnh” xã hội chính là bất công kinh tế, chính trị, văn hóa … mà tầng lớp giàu có, thống trị bày ra đề kìm kẹp họ (có khi cả một quốc gia hay nhiều quốc gia) sống vĩnh viễn dưới mức nghèo khổ. Thái độ sai lầm ấy còn là thế lực ngăn cản các người bất hạnh thay đổi được điều kiện sống của mình. Từng mảng các thành phố, từng nhiều phần thế giới đã phải chịu áp bức như vậy, Chúa Giêsu chiếu rọi ánh sáng vào vấn đề khi Ngài tuyên bố : “Chẳng phải hắn và cũng chẳng phải cha mẹ hắn đã phạm tội.” Nguyên nhân là ở nơi khác. Có khi ở trên vai chính những người chỉ trích họ ! Đúng thật, Chúa đã không trừng phạt anh mù vì tội của anh ta. Ngài đã thực hiện phép lạ để giải thoát anh khỏi bệnh mù. Sau khi đã soi sáng các môn đệ, Ngài đã thay đổi hoàn cảnh sống của người mù. Như vậy, Ngài đã cứu chữa tới hai bệnh mù : Cho người mù thể lý được sáng mắt và cho các môn đệ được sáng lòng. Xin lưu ý đến câu trả lời của Chúa Giêsu. Ngài đột ngột thay đổi từ “tôi” sang “chúng ta”. Chẳng phải vì lầm lẫn mà chính vì Ngài muốn chúng ta cũng phải tham dự vào công việc mang ánh sáng đến cho trần gian. Những tư tưởng tối tăm của chúng ta (như kể trên) đã được Phúc Âm Chúa chiếu rọi ánh sáng vào, thì đến lượt mình, chúng ta cũng phải mang ánh sáng đó đến cho những hoàn cảnh tương tự. Đó là điều công bằng, hợp lý và bác ái. Xin đừng moi móc ra những lý do để thoái thác trách nhiệm. Nhưng hãy cho thiên hạ thấy được “những việc Chúa làm”, bằng cách chấm dứt bất công, bóc lột, áp bức đã bao thế kỷ nay kìm kẹp những người thấp cổ bé miệng ở vào tình cảnh ngục tù. Chưa hết, còn một khía cạnh khác cũng phải được ánh sáng Chúa của bài Tin Mừng hôm nay chiếu rọi. Đó là kỳ thị, màu da, tiếng nói, giới tính, cấp bậc xã hội, thành kiến giống nòi v.v. Xin cho mọi người nhìn biết đồng loại mình trong ánh sáng chân thật và cảm nghiệm được điều mà người mù hôm nay cảm nghiệm : “Ngài đã mở mắt cho tôi”. Thế nào đi nữa thì thế giới này sẽ tự sắp xếp, trong ánh sáng của Chúa, để đi đến mục tiêu hợp lý của nó, khi Thiên Chúa dựng nên nó, là mọi người đều là con cái Cha trên trời. Những ai mù tối, giơ chân đạp mũi nhọn chống lại thánh ý Chúa sẽ lãnh nhận hậu quả của việc mình làm.
ộ Pharisêo hôm hay đáng chúng ta suy gẫm ! Chúa Giêsu buộc người mù phải đến rửa ở hồ Silôe. Thánh Gioan giải thích từ Silôe có nghĩa là “sai đi”. Tức ngài muốn ngầm ý mọi người khi đã được chịu phép rửa tội cũng phải được sai đi mang sự sáng đến cho trần gian. Ai không chịu làm ánh sáng, người ấy mắc lỗi. Nhưng phải nói ngay rằng tự thân chúng ta chẳng thể làm được. Tiến trình khỏi bệnh mù hôm nay cho thấy rõ điều đó. Khi mắt người mù đã được mở, hắn chỉ nhận ra Chúa Giêsu như là một “ngôn sứ”. Thế thôi. Nhưng điều này đã đủ để anh ta gặp rắc rối với những người biệt phái và thế lực đền thờ. Họ trục xuất anh ta ra khỏi phòng họp, tức hội đường, tức bị vạ tuyệt thông. Vậy là anh ta bỗng dưng thấy mình thành quân vô đạo, đơn độc. Xét về mặt tôn giáo anh ta lúc này bị mù gấp đôi : Thể lý và tinh thần. Hoàn toàn cô đơn, thân xác và tôn giáo theo cách nhìn của người Pharisêo. Cho nên Chúa Giêsu đã thương anh, tìm kiếm anh, và khơi dậy nơi anh lòng tin tưởng vào Ngài. Anh quỳ gối “thờ lạy” Ngài. Ngài đã là Đức Chúa của anh. Ngài đã dẫn dắt anh từ sự khâm phục đến hành động thờ phượng. Đức tin của anh đã hoàn toàn chính xác nhờ Chúa Giêsu hướng dẫn, đúng như Ngài tuyên bố với các môn đệ trước đó : “Thầy là ánh sáng thế gian.” Anh đã đi từ mù tối, tìm thấy ánh sáng và sâu xa hơn nữa nhận ra Chúa Giêsu là Thượng đế. Thực ra, câu chuyện phản ánh kinh nghiệm của Cộng đoàn thánh Gioan. Họ là những người gốc gác Do thái chính hiệu. Họ theo Chúa Giêsu trong khuôn khổ Do thái giáo. Âm thầm tin tưởng vào Ngài, nhưng vẫn phải thực hành lề luật Do thái. Họ là thiểu số mờ nhạt trong cộng đồng dân cư, và giống như người mù trong Phúc âm, họ chỉ có thể gọi Ngài là một “ngôn sứ”. Nhưng họ cảm thấy điều đó chưa đủ, cần phải tiến xa hơn nữa. Ngôn sứ chỉ là một cá nhân tốt, rất tốt trong muôn người. Như thế rõ ràng là còn thiếu sót. Nhưng ngần ấy đã khiến họ “có vấn đề” với gia đình, với xã hội, với anh em, bạn bè. Và cũng giống như người mù. Họ bị cô lập, tẩy chay, trục xuất. Giờ này theo Chúa quả là điều rất khó. Lúc đầu tưởng là việc đơn giản, nhưng càng dấn thân vào niềm tin nơi vị “ngôn sứ”, càng thấy khó khăn. Khó khăn vì tin như thế chưa đủ, khó khăn vì bị làng xóm tẩy chay. Chúa đã tìm kiếm họ và giơ tay giúp đỡ họ tiến lên một bước : Xưng tụng Ngài là con Thiên Chúa hằng sống, Đấng Messia, ánh sáng trần gian. Đức tin của họ đã đến thời sung mãn, họ tách rời khỏi Do thái giáo, thành lập những Cộng đoàn mới để có thể thực hành lòng tin chính xác của mình. Đó là gương sáng, một mẫu mực để chúng ta noi theo. Sự tối tăm của chúng ta đã được bí tích rửa tội thay thế. Chúng ta nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa của mình, giống như người mù, chúng ta thờ lạy Ngài. Nhưng dẫu rằng được rửa tội khi còn nhỏ, hay khi đã lớn, phép rửa ở hồ Silôe chỉ là bước khởi đầu. Một khi đã là ánh sáng trong Chúa, chúng ta còn phải sống như con cái ánh sáng. Nói thì dễ, nhưng hành động mới là điều cam go, khó khăn. Các tín đồ của Chúa tại thành Êphêsô đã kinh nghiệm như thế, cho nên thánh Phaolô đã phải viết thơ nhắc nhở, khuyên nhủ, khích lệ họ rất nhiều, như giọng văn của ngài chúng ta vừa nghe đọc. Tuy nhiên xin nhớ chúng ta không đơn côi. Chúa Giêsu luôn ở với chúng ta, tìm kiếm và thương giúp đức tin của chúng ta, vì Ngài đã thực hiện như vậy cho người mù trong Tin Mừng. Chúng ta nhìn lên ánh sáng của Ngài để được làm con cái ánh sáng. Trong đêm vọng Phục sinh, chúng ta sẽ tuyên hứa nghi thức suối Silôe, nhưng không phải để được rửa tội lại, mà để được sai đi mang ánh sáng của Đấng Cứu Chuộc, chiến đấu chống tội lỗi, phân biệt đâu là bóng tối đè bẹp, đâu là ánh sáng soi tỏ trần gian. Amen.
HÃY SỐNG NHƯ CON CÁI SỰ SÁNG
Thưa quý vị, Phụng vụ tuần này còn tiếp tục dẫn dắt tín hữu suy niệm về ý nghĩa bí tích Rửa tội trong đêm vọng Phục sinh. Tuần trước là về nước ban sự sống đời đời. Hôm nay về ánh sáng (bài đọc 2 và 3) và sự cao trọng của ơn gọi làm công dân Nước Trời (bài đọc 1). Đa phần chúng ta lãnh Bí tích Thánh tẩy hồi mới lọt lòng mẹ, tức lâu lắm rồi, cho nên không còn ý thức sự phong phú của bí tích khởi sự đời sống Kitô hữu. Vậy thì cơ hội suy niệm lại thật là hữu ích. Bài đọc 1 kể chuyện David được chọn làm vua Israel thay thế Saun. Vua này bị Thiên Chúa loại bỏ vì làm nhiều điều gian ác. Thiên Chúa sai tiên tri Samuel đến thành Bethléem với chiếc bình đầy dầu và tìm David, con Jessé để xức dầu cho ông. Jessé gọi lần lượt gọi 7 con trai của mình đến trước mặt vị tiên tri. Nhưng Thiên Chúa từ chối tất cả những đứa con đó, mặc dù chúng đều cao lớn và đẹp đẽ. Cuối cùng, Ngài chọn đứa con út David với đôi mắt sáng và đẹp trai. Tuy nhiên không phải hình dáng bên ngoài mà David được chọn. Kinh thánh nói chính là vì phẩm chất bên trong mà Thiên Chúa đã chọn ông. Liên tưởng đến các tín hữu, chúng ta cũng được chọn không phải vì lý do loài người, nhưng hoàn toàn bởi lòng tốt của Thiên Chúa. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu thành Côrintô viết : “Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem : Khi anh em được Chúa kêu gọi thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại thì Thiên Chúa đã chọn … (1 Cr 1, 26) để nhận lấy Thánh Thần của Thiên Chúa.” (1 Cr 2, 10) Dầu là dấu chỉ rõ ràng nhất chúng ta được hiệp thông với chức vụ của Chúa Giêsu là tư tế, tiên tri và vương đế cho đến cõi sống muôn đời. Còn gì sang trọng hơn địa vị người tín hữu trong thế gian này ? Cho nên ở thư gửi tín hữu thành Êphêsô hôm nay, thánh nhân khuyên nhủ : “Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng, mà ánh sáng mang lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.” Nhờ xức dầu bằng Thánh Thần khi chịu phép Rửa tội, chúng ta tiến đến ánh sáng Chúa Kitô, rời bỏ bóng tối tội lỗi, các tính hư nết xấu như say sưa, rượu chè, dâm đãng, những tội kéo cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trên nhân loại. Tội lỗi là bóng tối, là đêm đen. Chỉ duy sự thánh thiện mới là ánh sáng, ánh sáng huy hoàng của Chúa Kitô. Hội thánh được mời gọi đến cùng ánh sáng. Thánh Phaolô dùng cụm từ “mặc lấy Chúa Kitô” chính là trong ý nghĩa này. Tác giả Prat viết : “Các tín hữu có những con mắt của một trái tim rực sáng. Họ là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày.(1 Tx 5, 5) Hơn thế nữa, ánh sáng thâm nhập họ khi chịu phép Rửa tội biến hoá họ thành những lò lửa rực sáng. Họ phản ánh và phân tán ánh sáng như những khối thuỷ tinh phản chiếu mặt trời. Họ rực rỡ như những ngọn đèn đặt vào thế gian. Họ chính là ánh sáng trong Đức Kitô. Như thế, Hội thánh chính là vương quốc ánh sáng mà Bí tích Rửa tội đã đưa chúng ta vào.” Có đối kháng tuyệt đối giữa tội lỗi và ánh sáng. Thánh Phaolô viết : “Thật thế, làm sao sự công chính lại liên kết với sự bất chính ? Làm sao Đức Kitô lại hoà hợp được với Bêlia (satan) ? Làm sao người tin lại chung phần được với người không tin ? Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được ? Vì chúng ta là đền thờ Thiên Chúa hằng sống.” (2 Cr 6, 14) Bài đọc 2 hôm nay tiếp theo ý tưởng đó : “Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối. Trái lại, phải vạch trần những việc ấy mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến là đã nhục nhã rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra, thì trở nên ánh sáng.” Người ta có thể dễ dàng nhận ra ý nghĩa tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, ám chỉ thần khí và xác thịt mà thánh Gioan đề cập đến trong bài Phúc âm hôm nay. Để rộng đường suy niệm, trước hết xin ghi chép ý kiến của tác giả Patrica Datchuck Sanchez viết năm 1999 đăng trong “Celebration” về bài Tin Mừng. Cô nói mỗi khi đọc nó cô nhớ lại thời thơ ấu của mình, khi còn học tại trường mẫu giáo của các dì, lần đầu tiên cô được nghe chuyện về Helen Keller, một bé gái câm điếc từ 7 tuổi, đã nhờ cố gắng mà trở nên một trong các diễn giả, tác giả danh tiếng nhất của Hoa Kỳ ở thế kỷ 20. Helen Keller là con của một gia đình khá giả. Lúc 7 tuổi mắc bệnh hiểm nghèo đưa đến việc cô hoàn toàn bị câm và điếc khi khỏi bệnh. Gia đình thương hại, chiều chuộng hết mức, mặc cho con thoả mãn mọi ước muốn của mình. Sự mù loà của cô vượt xa bất hạnh thể lý. Nó cắt đứt cô khỏi mọi quan hệ thân yêu, đẩy cô vào cô đơn buồn thảm. Nhưng Helen Keller rất thông minh. Cha mẹ thuê Annie Sullivan làm cô giáo dạy tư cho bé. Nhờ sự kiên trì của cô giáo, Helen Keller thắng được bệnh tật, vượt qua bất hạnh và trở nên danh tiếng. Trên sân khấu và trong màn ảnh lớn, giây phút “phá ngu” được diễn tả một cách thật mãnh liệt. Cô giáo Annie mang Helen ra chiếc giếng bơm và khi nước chảy xuống tay Helen, cô giáo làm hiệu từ “nước”. Hàng trăm lần như thế, bé Helen học được một từ. Bé đã liên hệ được giữa ký hiệu và thực tế. Dần dần bé học thêm các từ ngữ khác và tiến bộ rất nhanh. Tuy nhiên, giây phút đầu tiên là quan trọng. Nó khai mở cho bé vào thế giới bình thường của mọi người, giải phóng bé không những khỏi sự im lặng nặng nề của câm điếc mà còn cho bé tự do tiếp xúc với sự vật xung quanh. Quả là giây phút quyết liệt và huy hoàng. Nó cho phép bé sống một cuộc đời phong phú mà ít người có được. Ở nhà trường, chúng tôi phải phân tích và học hỏi một số những áng văn hay của cô. Cô đã ảnh hưởng trực tiếp vào tôi chứ không còn nghe về cô nữa. Cô giúp đỡ chúng tôi ngộ ra những ân huệ mà loài người được hưởng ; xưa nay cứ ngỡ là quyền lợi tự nhiên ; những giá trị quý báu cuộc sống tặng ban hằng ngày mà chúng ta coi là tầm thường. Cuộc “đột phá” của bé Helen tại giếng bơm khởi đầu một loạt những “phép lạ” khác của đời bé sau này và qua bé tất cả chúng ta đều được ân hưởng. Tôi muốn nói : Câu chuyện người mù hôm nay tương tự trường hợp của Helen Keller. Ông ta được sáng mắt qua một đột biến ngoạn mục. Mùa chay này chúng ta cũng được “sáng lòng” qua những biến cố như vậy, nhờ ân huệ Chúa Giêsu. Tuy nhiên, đối với anh mù, đó mới chỉ là bước khởi đầu. Anh còn phải trải qua một hành trình đầy nhiêu khê : Khi Chúa Giêsu để ý đến anh ngồi ăn xin, Ngài muốn chữa lành thì các môn đệ đặt câu hỏi thần học : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” Theo não trạng tôn giáo khi ấy, các bất hạnh của con người là hình phạt Thiên Chúa giáng xuống kẻ có tội hoặc do chính đương sự phạm hay cha mẹ gây nên. Tư tưởng này ngày nay vẫn phổ thông và người ta chờ đợi câu đáp tích cực : Chúng ta chịu đựng khổ đau bởi đã phạm tội. Không còn đường lối giải trình nào khác nữa. Ôn dịch, tai nạn, thảm hoạ, thiên tai, chẳng qua là hình phạt do tội lỗi làm nên. Nhưng phải chăng các nạn nhân sóng thần vừa qua tại đông nam Á châu cũng là do tội lỗi của họ ? Phải chăng hiện trạng mỗi người là do khiếm khuyết di truyền, khiếm khuyết giáo dục dưỡng nuôi ? Khiếm khuyết môi trường hoàn cảnh ? Hằng trăm nghi vấn tương tự được đặt ra cho khoa học luân lý, thần học, xã hội mà vẫn chưa tìm thấy câu trả lời thoả đáng. Quay về với hoàn cảnh của anh mù trong Phúc âm, Chúa Giêsu trả lời dứt khoát : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội.” Nó là hoàn cảnh chung của toàn thể nhân loại xa lìa Thiên Chúa. Vì vậy, Ngài nói tiếp : “Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh.” Nói kiểu khác : Chúa Giêsu chính là công trình cứu độ của Thiên Chúa nơi trần gian. Cho nên, Chúa tiếp : “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Ngài nhìn nhân loại theo quan điểm siêu nhiên, chứ không hoàn toàn tự nhiên. Ngài đến để cứu chữa loài người khỏi vòng tối tăm tội khiên và hậu quả khốc liêt của nó. Như có lần Ngài chữa lành kẻ bại liệt do bốn người khiêng mang đến, Ngài tuyên bố : “Này anh, tội của anh đã được tha rồi.”(Mc 9, 1) làm cho các kinh sư bực bội. Trường hợp của anh mù bẩm sinh hôm nay cũng vậy, Chúa chữa anh lành về thể lý và tinh thần thì các quyền bính Do thái lại trở nên mù tự ý (Aveuglement volontaire) do lòng kiêu ngạo của mình, không dám chấp nhận sự thật Thiên Chúa ban cho. Đây là điểm chúng ta cần lưu ý, bởi chúng ta cũng đầy dẫy những thành kiến, thậm chí định kiến về người khác không cùng phe với mình, hoặc những tổ chức, những tôn giáo khác. Có lẽ chúng ta cũng mù tự ý chăng ? Qua câu chuyện hôm nay, Chúa Giêsu muốn đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của người mù, tức muốn chữa nhân loại khỏi tối tăm về phần linh hồn. Ngài muốn khai sáng chúng ta khỏi những giới hạn và những quan niệm sai lầm về Thiên Chúa, về đồng loại, về tội phúc. Chúng ta cũng nên suy nghĩ thêm về câu chuyện đau khổ của con người và sự liên hệ giữa chúng với tội lỗi hình phạt. Chúa Giêsu khởi sự bằng cách chữa lành phần xác cho anh mù, nhưng không dừng lại tại đó mà tiến xa hơn, soi sáng cho anh nhận ra thân phận bị xã hội khinh bỉ, chà đạp để tiến đến tâm lý tự tin, độc lập, trưởng thành tinh thần. Anh đã có khả năng chống lại ý kiến của hội đồng Do thái, coi Chúa Giêsu và anh thuộc thành phần tội nhân. Anh thờ lạy Ngài như nguồn mạch đời sống mới của mình. Con đường của anh chạy song song với đời sống đức tin của chúng ta khi lãnh Bí tích Rửa tội. Từng bước chúng ta được Chúa Giêsu dẫn đến cùng Thiên Chúa. Nước khởi đầu cuộc hành trình đức tin và ánh sáng dẫn lối chân thật cho loài người đi đến cùng đích. Chúng ta đang ở giữa Mùa chay, giống như anh mù ở suối Silôê, chúng ta cũng được ơn thanh tẩy soi sáng cho biết thân phận mình. Chúng ta có cơ hội kiểm tra các viễn tượng. Liệu chúng ta đã có những lựa chọn tốt hay chạy theo giả dối thế gian ? Liệu chúng ta ưa thích ánh sáng của Chúa Giêsu hay những ảo tưởng lầm lạc và bóng tối lừa đảo của Mammon và các tiện nghi xác thịt khác ? Cuộc sống khắc khổ đạm bạc hay say sưa nhung lụa ? Điều chi khiến chúng ta lầm đường lạc lối ? Gần đây tôi đi giảng thuyết ở thành phố Miami Hoa kỳ, một địa điểm khá tốt. Gió biển thổi hiu hiu khắp nơi. Tôi đi bộ một mình qua công viên vào buổi chiều tàn, say sưa ngắm mặt trời lặn từ từ trên nước biển. Quang cảnh thật huy hoàng. Mặt trời đỏ to như chiếc đĩa lớn với muôn hồng nghìn tía, làm ngây ngất tâm hồn. Nhưng trước khi tôi trở về với ý thức, thì mặt trời đã biến mất từ lúc nào, màn đêm đen nghịt buông xuống trên vạn vật. Người ta phải mò mẫn kiếm lối đi và rất dễ bị lạc trong các phố xá xa lạ như thế này. Đâu là hàng rào thấp bằng các dây thừng ? Đâu là giếng nước ? Có lẽ có cái ao ở đây ? Còn chỗ quẹo ngấp ? Tôi đã đậu xe ở đâu ? Hằng trăm câu hỏi, giống như các nghi vấn của cuộc đời, đúng không quý vị ? Ánh sáng lại dần dần biến mất mà không nhận thấy, khi chúng ta bị thu hút bởi mặt trời đang lặn. Lúc tỉnh ngộ mới chú ý đến các nhu cầu của mình và muốn có hết mọi sự : Tự do, độc lập, hạnh phúc, thoát khỏi mọi giới hạn ràng buộc ? Chăm lo các dự án, các chương trình ? Chúng ta lại bị thôi miên bởi những bận rộn của cuộc sống giống như người ngắm mặt trời lặn. Dĩ nhiên, chúng ta lại có ít ánh sáng soi đường dẫn dắt mình. Chúng ta lại bỏ bê các ưu tiên cần thiết như gia đình, lòng tin, cộng đồng giáo xứ. Chúng ta lại vướng chân vào cạm bẫy của satan. Ánh sáng lại phai nhoà, nguy hiểm khắp nơi. Chúa Giêsu trông thấy trước những khó khăn này xảy ra cho môn đệ và cho cả chúng ta nữa, nên Ngài phán : “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy khi trời còn sáng, kẻo đêm đến không ai có thể làm việc được. Thầy là ánh sáng thế gian.” Ở ý nghĩa nào đó, mù loà cũng là kết quả của hoàn cảnh mỗi người. Khi được sinh vào thế gian, tội lỗi đã chờ sẵn chúng ta. Chúng ta hít thở bằng không khí luân lý bị ô nhiễm nặng nề, bóng tối thâm nhập vào tận tâm can từ khi còn bé. Một tù nhân nặng ký đã kể với tôi rằng : Cha anh ta đang ngồi tù ở Soledad, người anh cả ở Folsom. Hai khám đường nổi tiếng của bang California. Tôi không mấy ngạc nhiên về việc anh bị giam giữ nghiêm ngặt tại đây, bởi vì đã lớn lên trong điều kiện như vậy. Liệu chúng ta có khả năng chống lại bóng tối định mệnh ? Thật là khó khăn nếu không có ơn Chúa trợ giúp : “Bao lâu còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Hôm nay, chúng ta có bài đọc Tin Mừng dài, xin hãy lắng nghe trọn vẹn, đừng thiếu chi tiết nào. Bởi nó là câu chuyện của chúng ta, của cộng đồng giáo xứ. Giống như anh mù, chúng ta đã tìm thấy Thiên Chúa, nguồn mạch sự sáng. Có lẽ, chúng ta không cần đến chữa lành thể lý, nhưng tâm linh thì rất cần, để nhìn tỏ tội lỗi mình, và những sai xót của cuộc đời. Chúng ta phải nhận ra mình là ai trước tôn nhan Thiên Chúa ? Chúng ta đến từ đâu và sẽ đi về đâu ? Cần phải làm chi trên đường đời ? Nhưng trước khi các việc đó xảy ra thì chúng ta đã được Chúa ban ơn “xem thấy”. Xem thấy Chúa Giêsu và những viễn tượng đúng hướng. Chính ơn ấy đã dẫn đưa mọi người đến buổi phụng vụ hôm nay. Chúng ta ý thức mình luôn cần Bí tích Thánh thể, ngõ hầu mắt được sáng, lòng được sốt mến mà đi trọn đường đời. Mùa chay cống hiến cho chúng ta thời giờ để thú nhận rằng : Mình đã nhiều lần vấp ngã trong đêm tối và cần trở lại với ánh sáng đã lãnh nhận khi chịu phép Thánh tẩy. Chúa Giêsu chính là ánh sáng đó. Ngài còn là sự khôn ngoan gìn giữ chúng ta khỏi rơi vào cạm bẫy thế gian lần nữa. Amen.
Xin cho con được nhận biết
Chúa trong anh em Thưa quí vị, Rõ ràng với trình thuật dài về việc Đức Giêsu chữa lành anh mù từ thưở mới sanh, Gioan ám chỉ một điều xa hơn là cho anh ta khả năng xem thấy về phần thể lý. Nếu không ông chẳng mất công chi tiết đến nỗi ấy. Sự thực nội dung của câu truyện liên quan đến hết mọi người, từ cấp lãnh đạo Do thái cho đến mãi chúng ta hôm nay. Gioan không chỉ “kể truyện” về anh mù bẩm sinh và được Đức Giêu chữa lành. Ông liên tưởng đến bản tính nhân loại mù lòa cần được Thiên Chúa nhập thể chữa lành. Việc chữa lành vật lý xẩy ra ngay từ mở đầu câu truyện. Nhưng Gioan kéo dài mãi để nhấn mạnh nhu cầu ánh sáng của toàn thể loài người, nhất là các lãnh đạo tôn giáo, thế tục. Chắc chắn sự chữa lành vật chất lôi kéo chú ý của anh mù và những người chung quanh chứng kiến. Nhưng dần dần linh hồn anh mở ra cho ánh sáng siêu nhiên. Lúc đầu việc chữa lành đi từ mù loà vật chất đến ánh sáng vật chất nhưng kết thúc câu truyện anh đã vượt qua cuộc hành trình dài từ tối tăm tinh thần đến ánh sáng tinh thần. Anh đã gặp Đức Giêsu Đấng chữa mắt cho anh để rồi anh nhìn thấy Đức Kitô là ánh sáng linh hồn. Đúng như lời thánh Phaolô trong bài đọc hai: “Thưa anh em, xưa kia anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em lại là ánh sáng.” Thánh Phaolô ám chỉ tất cả chúng ta. Theo não trạng hiện hành, các môn đệ tự nhiên đặt câu hỏi: “Thưa Thày, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” Họ tưởng rằng bệnh “mù” là một hình phạt Thiên Chúa giáng xuống vì tội của anh, hay của cha mẹ anh. Người tân thời ngày nay vẫn còn lối suy nghĩ này. Mặc dù hàng bao thế kỷ đã trôi qua. Chúng ta đổ lỗi cho nhau vì những tai họa tự nhiên. Tôi đã làm gì, hắn đã làm chi nên tội mà bị trời phạt ? Đức Giêsu bác bỏ lý luận đó. Ngài trả lời: “Không phải y và cũng chẳng phải cha mẹ y. Nhưng để thiên hạ nhìn thấy công việc của Thiên Chúa nơi anh.” Nghĩa là Ngài đi thẳng vào sứ vụ và cuộc sống của mình. Ngài đến thế gian để cứu chữa những ai ngồi trong bóng tối tăm. Việc chữa lành anh mù tỏ rõ sự hiện diện của Thiên Chúa được cảm nghiệm giữa nhân loại. Đúng như Ngài tuyên bố: “Nước Trời đã ở giữa các ông”. Nếu như người ta tin rằng bệnh mù là hình phạt bởi tội lỗi, thì việc chữa lành của Ngài có nghĩa qua Đức Giêsu, Thiên Chúa tha thứ lỗi lầm. Xin dừng ở đây một chút để suy gẫm sự kiện này, vì nó hàm ý sâu xa cho toàn bộ nhân loại, nhất là trong tình hình hiện nay của thế giới. Chúng ta kiêu hãnh về nhiều mặt: Tiến bộ kinh tế, khoa học, lối sống văn minh, nhưng về luân lý, nhân bản, nhân quyền chẳng tiến triển được bao nhiêu, vẫn lầm lủi đi trong bóng tối gian ác, chiến tranh, bóc lột, ức hiếp, ích kỷ, sa đọa, hỗn loạn. Chia rẽ xem ra ngự trị khắp hang cùng ngõ hẻm, trong gia đình ngoài xã hội. Liệu người ta còn nghi ngờ nữa không về bệnh mù lòa của nhân loại ? Hoặc không khả năng coi nhau như anh chị em trong đại gia đình Thiên Chúa ? Tính dối trá núp dưới mọi hình thức ? Cứ nhìn vào hình thức mù lòa của lãnh đạo Do thái thời Chúa Giêsu tự khắc biết rõ thời đại hôm nay. Các người Pharisiêu khoe mình thánh thiện, thông biết tôn giáo và các lề luật của Đức Chúa Trời. Nhưng thực tế mù tịt. Lời Chúa Giêsu hôm nay nói về họ quá rõ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng “chúng tôi xem thấy” nên tội các ông vẫn còn đấy ?” Phải chăng những lời này cũng ám chỉ chúng ta, nhất là lãnh đạo nhà thờ, hội đoàn, tu viện ? Thực tế, chúng ta cũng thường mắc vào lỗi lầm của họ. Coi mình là độc quyền sự thật, lẽ phải, chẳng cần lắng nghe ai. Chúng ta được ưu tiên thần khí Chúa dạy bảo nên khinh bỉ kẻ khác. Chúng ta thông thạo đạo lý hơn thiên hạ. Đặc biệt lời nói của Pharisiêu trước anh mù vừa đưọc Chúa chữa lành chứng tỏ thái độ thường xuyên của chúng ta: “Chúng tôi biết ông ta là một người tội lỗi”. Chúng ta cũng thường xuyên từ chối ơn lành, lẽ phải của kẻ khác, nhất là những người thấp kém hơn mình. Chúng ta thường xuyên từ chối công trình của Thiên Chúa nơi anh em. Khi anh mù bẩm sinh làm chứng về Chúa Giêsu. Họ chối quách và ngạo nghễ trả lời anh ta: “Mày sinh ra trong tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thày chúng ta ư ?” Phải chăng đây cũng là thái độ của các Pharisiêu tân thời ? Sự tối tăm sâu thẳm là kiêu căng, tự cho mình là ông biết hết, không cần học hỏi ai, và điều này là phổ biến trong các nhà thông thái trẻ tuổi thời nay. Họ nhắm mắt trước tất cả mọi sự thật, chỉ họ là đúng nhất, chính xác nhất. Cho nên chúng ta cần ánh sáng nhiều hơn, khiêm tốn nhiều hơn để nhận ra sự thật khách quan. Người mù bẩm sinh hôm nay hỏi Chúa: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin”. Vào hoàn cảnh một mình chúng ta phải nói: “Lạy Chúa, Chúa là ai, để chúng con tin ?” Và câu trả lời thì vô số: Kẻ mù người què, kẻ đui người điếc, kẻ nghèo người hèn…. Và chúng ta cần nhiều ánh sáng để nhìn thấy cho tỏ hơn. Chúng ta đừng hạn chế sự hiện diện của Thiên Chúa vào những hoàn cảnh, sự việc, nhân vật vừa ý mình, cùng chiều với quan điểm của mình. Thí dụ tôi không thể chấp nhận con người ấy, quan điểm ấy. Chúng ta không thể nào tiên đoán được Thiên Chúa hiện diện ở nơi đâu, hoàn cảnh nào. Phe biệt phái và chức sắc đền thờ không thể tưởng tượng Thiên Chúa trong ngôi vị của Đức Giêsu ! Hoặc anh mù bẩm sinh mà lại phân định được sự hiện diện của Đấng Toàn Năng và hành động của Ngài hơn là kiến thức uyên bác của họ! Thánh Anselmô nói đúng: Thiên Chúa vĩ đại hơn, to lớn hơn, mênh mông hơn bất cứ trí óc nào có thể tưởng tượng về Ngài. Thực ra câu truyện Gioan kể cho thấy anh mù nhìn tỏ hơn các lãnh đạo đền thờ. Anh trông thấy rõ hơn thần tính Đức Giêsu và có đức tin chính xác hơn các nhà thông thái Do thái. Những người mở mắt đàng hoàng nhưng Chúa Giêsu lại gọi là mù. Nhưng nói người lại nghĩ đến ta. Chúng ta cũng mù lòa trong nhiều phương diện. Mù lòa vì tính ích kỷ, chỉ trông thấy lợi ích của mình mà chà đạp ích lợi người khác. Mù lòa vì vô cảm, mua sắm nhiều tiện nghi đắt tiền mà bỏ đói người nghèo khổ. Mù lòa vì kiêu căng không trông thấy thiếu sót của mình, trong khi nhìn đâu cũng thấy rách việc. Mù lòa vì thành kiến: Phe mình, ý kiến mình là hay hơn cả, mặc dầu đề nghị của người khác hợp lý hơn. Mù lòa vì óc vụ hình thức chối từ những thay đổi cần thiết. Mù lòa vì chạy theo phong trào thế tục, bỏ bê kinh sách, nguyện gẫm và trăm thứ mù lòa khác. Sau khi được chữa lành, cuộc đời của anh mù không phải là suông sẻ. Anh ta bị thế lực đền thờ túm cổ và chất vấn. Cả đến cha mẹ anh cũng liên lụy. Hai ông bà vì sợ nên đã tránh né làm nhân chứng cho quyền phép Đức Kitô. Đây là thái độ của đa phần chúng ta trong hoàn cảnh hiện tại. Chúng ta tránh né làm chứng cho Chúa để hưởng lợi lộc thế gian, ưu ái của chức quyền phần đời, lấy lòng cấp lãnh đạo chứ không dám ngay thẳng làm chứng cho sự thật. Riêng anh mù, anh can đảm bày tỏ lòng tin vào Đức Kitô, vì ân nhân của mình. Giống như người phụ nữ Samaritanô tuần trước, anh đã đi từ: “Người tên là Giêsu” đến: “Người ấy là một vị ngôn sứ” cuối cùng : “Thưa Ngài tôi tin, rồi sấp mình xuống trước mặt người mà thờ lạy”. Đức tin của anh lớn dần cho đến khi nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa của mình. Cho nên câu truyện không phải chỉ là của anh mù. Mà là chuyện của mỗi người tín hữu chúng ta. Hoàn cảnh của anh cũng là hoàn cảnh mỗi người trong thế gian này. Giáo hội cho đọc truyện của anh trong mùa chay là khôn ngoan và hợp lý. Chúng ta hành xử ra sao để có đức tin chân thật ? Và lòng thống hối chính đáng ? Người mù đặt câu hỏi với các Pharisiêu: “Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” Đó cũng là câu hỏi anh đặt ra cho chúng ta trong mùa chay này. Nếu câu trả lời là “có” thì cũng phải hành động như anh, sấp mình thờ lạy Chúa Giêsu hiện thời đang ngự thật trong Bí tích Thánh Thể. Và một chi tiết nhỏ kéo chú ý của tôi: Đức Giêsu lấy nước miếng làm bùn rồi bôi lên mắt anh mù và anh được sáng. Thánh Gioan gợi nhớ Thiên Chúa tạo dựng Ađam Evà bằng đất sét (St 2,4-7) và thở hơi vào lỗ mũi để hai ông bà trở thành “người”. Vậy thì động tác của Chúa Giêsu tương tự như động tác của Thiên Chúa. Anh mù trở nên người mới, trông thấy hết mọi sự. Còn chúng ta thì sao ? Chắc chắn Bí tích Rửa tội cũng biến mỗi người thành tạo vật mới. Chúng ta cũng được “sai đi” loan báo Tin mừng cho người khác. Chúng ta khám phá ra điều gì trong mùa chay thánh này ? Câu chuyện hôm nay có giúp soi sáng cuộc đời thiêng liêng còn tăm tối của chúng ta không ?. Amen.
Đấng Sáng
Soi Cho Kẻ Mù
Dấu chỉ của sự mâu thuẫn Trình thuật Tin Mừng hôm nay diễn tiến như một biên bản với những câu hỏi, các nhân chứng, người tố cáo và người bị tố cáo. Ðến cuối trình thuật, những người đứng ra tố cáo lại trở thành bị cáo. Cuộc tranh luận diễn ra giữa Ðức Giêsu, Ðấng tự xưng là Ánh Sáng và nhóm Biệt phái, những người tượng trưng cho Bóng Tối. Qua các câu hỏi và chứng từ, người ta có thể dần dần nhận ra Ðức Giêsu : Khởi đầu từ "một con người có tên là Giêsu" đến "người của Thiên Chúa" và “Con Người". "Tôi là ánh sáng cho thế gian". Chủ đề này được lập đi lập lại trong suốt bài Tin Mừng, như một khẳng định rất chính xác và quyết liệt. Khẳng định này đi kèm theo việc chữa lành người mù không chỉ nhằm quả quyết về phép lạ bên ngoài, nhưng còn muốn diễn tả điều sâu xa hơn : Ðức Giêsu đem lại cho thế giới này cái nhìn nguyên vẹn, trong sáng của Thiên Chúa, một cái nhìn không bị lu mờ bởi những thành kiến, những lối cắt nghĩa xuyên tạc, đầy ác ý và nghi ngờ. Việc chữa lành người mù từ thuở mới sinh thực là một phép lạ. Nhưng đó mới chỉ là thứ ánh sáng tự nhiên, thứ ánh sáng làm cho người ta được hội nhập vào cuộc sống. Ðức Giêsu còn muốn đem lại thứ ánh sáng của đức tin : ánh sáng này có sức xua tan mọi u tối, phá vỡ mọi nghi ngờ, sợ hãi, loại bỏ những xét đoán nghiệm ngặt và bất công. Ðức Giêsu không chỉ chữa lành mắt theo thể lý, nhưng còn chữa lành con mắt tâm hổn nữa. Sau khi đã cho người mù được nhìn xem thế giới và nhận biết sự thật, Ðức Giêsu đã cho anh biết về chính Người, và anh đã tin. Chứng kiến việc người mù được chữa lành, nhóm Biệt phái vẫn không nhận ra con người đích thực của Ðức Giêsu. Tất cả chứng lý của họ đều dựa trên một điều : "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát."(9,16). Lý luận này vẫn thường được đưa ra trong các cuộc tranh luận giữa nhóm Biệt phái và Ðức Giêsu. Ðây cũng là điều dễ hiểu. Họ là những người lãnh đạo và muốn bảo vệ quyền của mình. Họ không có tấm lòng với người khác, tất cả đều được xét đoán theo luật pháp. Chính vì muốn bảo vệ quyền lợi, viện cớ là dựa theo luật pháp, họ trở thành những người lãnh đạo mù, mù tự ý. Họ coi trọng quy luật hơn là việc cứu chữa con người. Càng ngày họ càng lún sâu vào tình trạng bất hạnh, nhưng họ vẫn không nhận ra, ngay cả khi Ðức Giêsu đã nói cho họ biết. Như vậy, Ðức Giêsu, ánh sáng cho thế gian, là dấu chỉ của sự mâu thuẫn. Những kẻ tưởng rằng mình nhìn thấy rõ lại càng chìm ngập trong bòng tối ; những người khiêm tốn nhận rằng mình mù tối lại tìm được ánh sáng. Từ người bị loại trừ trở thành người được tuyển chọn Việc Ðức Giêsu chữa lành người mù đã làm cuộc đời anh thay đỗi hoàn toàn. Trước đây, anh là người ngổi ăn xin bên vệ đường, chẳng ai thèm đoái hoài. Anh không biết gì và cũng chẳng nhìn thấy gì. Giờ đây, khi được chữa lành, anh trở thành đề tài cho mọi câu chuyện. Người ta tìm đến hỏi han và anh trở thành người làm chứng. Từ thân phận của kẻ bị khai trừ, của người ăn xin, anh trở thành người được Thiên Chúa tuyển chọn, được mặc khải những điều lớn lao, được nhận ra Ðức Giêsu. Anh chìm ngập trong ánh sáng : anh đã gặp Ðấng Cứu Tinh và anh tin vào Người. Người ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh người mù đã được chữa lành, hết quay sang phải rổi sang trái để trả lời những câu hỏi. Anh nói lên những gì đã xảy ra nơi mình : anh tin vào người chữa anh lành bệnh, anh nói ra điều đó, và từ nay đời anh sẽ sống theo đó. Anh tin như anh thấy đơn giản như anh hít thở không khí. Những người khác có vẻ như chế nhạo anh, mỉa mai anh. Kệ họ, anh vẫn tin và nói lên điều anh tin. Quả vậy, anh đã được sinh ra trong cuộc đời. Cuộc đời trước kia của anh, coi như chẳng có giá trị. Có chăng, là một kinh nghiệm về bóng tối, về thân phận của kẻ mù loà. Kinh nghiệm ấy giúp anh càng thêm tin tưởng vào con người đã cho anh được nhìn thấy. Với anh, thực là lô độc đắc. Thế nhưng, từ sự kiện được thấy ánh sáng, anh mù còn nhận ra người đã chữa lành anh là ai. Những lời thuật chuyện và lý luận của anh thật đơn sơ, chân thành, nhưng không kém phần quyết liệt. Anh vẫn đủ tỉnh táo và dí dỏm để đối lại những câu hỏi đầy ác ý của nhóm biệt phái. Ngay cả khi bị trục xuất, anh vẫn nhất mực bày tỏ lòng tin vào Ðức Giêsu. Trước kia, anh là kẻ bị trục xuất vì anh mù, vì anh ngổi ăn xin bên vệ đường, còn bây giờ anh bị trục xuất vì tin vào Ðức Giêsu, tin vào Con Người. Anh bị xã hội trần gian khai trừ, nhưng lại được Thiên Chúa yêu thương. Và chừng đó là đủ cho anh. Nhờ tin, anh bước vào đời sống mới, trở thành người được tuyển chọn. Chúng ta có tiếp nhận ánh sáng ?
Trình thuật về người mù được
chữa lành thực là một tin mừng cho tất cả mọi Kitô hữu. Cần lưu ý điều này, đây không phải là gặp được một người chuyên làm phép lạ, người sẽ đưa ra giải pháp kỳ diệu cho vấn đề, nhưng là cuộc gặp gỡ với "người được Thiên Chúa sai phái". Chính qua con người này, mỗi người sẽ định hướng cho mọi hành vi cũng như những phán đoán của mình. Và từ việc định hướng này sẽ nảy sinh những phép lạ đích thực, những phép lạ làm thay đỗi mối tương quan giữa con người với nhau, những phép lạ đem lại bình an của thần khí. Ðã có lần nào chúng ta đặt vấn đề với chính mình : lời sống động của Thiên Chúa có hướng dẫn và đỗi mới cái nhìn, phán đoán của chúng ta về các biến cố, về con người và về sự vật không ? Chúng ta có dám khẳng định như người mù, khi bị chất vấn, đã quả quyết rằng : Ðức Giêsu đã chữa tôi lành, Người là một vị Ngôn sứ ..., và trước đó, chúng ta có đủ can đảm để nhận rằng mình là kẻ mù loà, cần được ánh sáng của Thiên Chúa chiếu dọi ?
* * *
Xin toả ánh sáng của Chúa trên
con,
Xin ánh sáng của Chúa,
Người mù được sáng mắt Có một người kia, sinh ra đã bị mù, tức là anh mù bẩm sinh, anh sống trong một gian phòng. Bởi vì không nhìn thấy gì hết, nên anh phủ nhận tất cả những gì người chung quanh quả quyết là có : “Tôi không tin, vì tôi có thấy đâu nào”. Một vị lương y thấy vậy thì thương hại anh, ông đi tìm một thứ linh dược chữa cho anh được sáng mắt. Khi được sáng mắt, anh sung sướng quá, tự phụ nói : “Giờ đây tôi đã thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi”. Nhưng có người nói với anh : “Anh bạn ơi, bạn mới chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này thôi, như thế có là bao, ngoài kia, người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng và các tinh tú hằng hà sa số. Còn biết bao vật khác mà bạn chưa thấy, bạn đừng tự phụ như vậy”. Anh tỏ vẻ không tin, lại còn nói mạnh hơn : “Làm gì có được những cái đó, những gì có thể thấy được, tôi đã thấy tất cả rồi”. Một vị y sĩ khác lên tận núi cao, gặp được sơn thần chỉ cho một thứ linh dược khác, đem về giúp cho anh được cặp mắt sáng hơn và thấy xa hơn. Bây giờ anh thấy được mặt trời, mặt trăng và các tinh tú trên không trung. Mừng quá, lòng tự phụ tự đắc lại tăng thêm, anh nói với mọi người : “Trước đây tôi không tin, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin, như thế, giờ đây không còn gì mà tôi chẳng thấy, chẳng biết, đâu còn ai hơn tôi được nữa”. Thấy anh quá tự phụ như vậy, một hiền nhân nói với anh : “Cậu ơi, cậu vừa hết mù, nhưng cậu vẫn chưa biết gì cả, tại sao cậu lại quá tự phụ như thế ? Với chừng mực và giới hạn của tầm mắt, cậu làm gì biết có những vật ngoài ngàn dặm mà mắt cậu không làm sao thấy được, cậu có thấy được những nguyên nhân nào đã cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu chăng ? Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống đây, còn biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không kể hết như cát ở bãi biển, cậu có thấy không ? Tại sao cậu dám tự phụ bảo rằng : “Tôi thấy cả, tôi biết cả”, cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng, lấy sáng làm tối”. Đó là câu chuyện của một anh mù bẩm sinh ở Ấn Độ. Còn câu chuyện của anh mù, cũng mù bẩm sinh, kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay, thì lại khác hẳn : Trong khi mù và sau khi được sáng mắt, anh luôn khiêm nhường, luôn nhìn nhận thân phận hẩm hiu buồn tủi của mình. Ngược lại, những người sáng mắt thì lại mù tối, kiêu ngạo trong sự mù tối của mình, đó là những người Pha-ri-sêu. Chúng ta thấy sự khác biệt tàn nhẫn giữa những đôi mắt của người mù và đôi mắt của những người Pha-ri-sêu. Đôi mắt thân xác của người này mù nhưng mắt tâm hồn của anh lại sáng. Những người Pha-ri-sêu đã có đôi mắt thân xác không mù lòa, nhưng mắt tâm hồn họ đã chết. Sự khác biệt đó là niềm tin hay đức tin : anh mù được phép lạ vì đã tin Chúa Giêsu, còn những người Pha-ri-sêu thấy phép lạ, nhưng không tin Chúa. Đây chính là nét oái oăm nhất của bài Tin Mừng : Người khiêm nhường đã nhận được ánh sáng, còn kẻ kieu ngạo lại nên như mù tối; người ngay lành được Chúa thương trở nên Ánh sáng cứu độ, còn kẻ tự mãn cuối cùng cũng sẽ thấy, nhưng là thấy Thiên Chúa là Ánh sáng xét xử đời mình. Đó là ý nghĩa của bài Tin Mừng. Chúng ta đang sống trong Mùa Chay, mùa ăn năn sám hối, bài Tin Mừng này muốn dạy bảo, nhắc nhở chúng ta điều gì ? dạy bảo nhắc nhở chúng ta hãy ăn năn sám hối. Thực vậy, theo ý nghĩa tượng trưng, trong pham vi thiêng liêng, bệnh mù về tinh thần là tình trạng mê muội của những người sống trong tội lỗi và tình trạng mù quáng của những kẻ cố chấp. Đó là hai thứ mù về tinh thần. Vậy, hình thức thứ nhất của bệnh mù tinh thần là tội lỗi. Tội lỗi che lấp mắt linh hồn làm cho linh hồn không nhận ra Chúa và cũng chẳng nhận ra thánh ý Chúa. Vì thế, Kinh Thánh nói những người sống trong tội lỗi như ngồi trong chỗ tối tăm, ngồi trong bóng đêm, ngồi trong bóng sự chết. Một hình thức khác của bệnh mù tinh thần là sự cố chấp, tức là bảo thủ trong sự lập luận sai lầm hay càn dở của mình và nhất định không chịu phục thiện. Những người cố chấp, dù hai con mắt thể xác vẫn mở mà không thấy, vì đã bị những thành kiến, bị bệnh yên trí hay đam mê che lấp, khiến họ không nhận ra sự thật. Vì thế, trong bài Tin Mừng hôm nay sau khi làm phép lạ, Chúa Giêsu đã nói : “Tôi đến thế gian này để người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại trở nên đui mù”. Vậy đối với những người mù về tinh thần, tức là những người tội lỗi và những người cố chấp, muốn khỏi mù thì phải làm thế nào ? Thứ nhất là phải nhận thức tình trạng hiện tại của mình. Thứ hai là phải can đảm từ bỏ hay dứt khoát ra khỏi tình trạng ấy. Thứ ba là đến với Đức Kitô. Muốn được khỏi mù về tinh thần chúng ta phải thực hiện ba công việc đó. Trước hết, nhận thức mình là người tội lỗi, vì tội lỗi làm chúng ta mất ơn thánh, xáo trộn mọi giác quan linh hồn : xấu cho là tốt, tốt cho là xấu; nhân từ cho là nhu nhược, nhu nhược cho là khôn ngoan. Còn mù quáng cố chấp sẽ bị những người chung quanh xa lánh, chê cười, bỏ rơi, sẽ bị cô đơn và mãi mãi sai lầm trong lập luận cố chấp của mình. Sau khi đã nhận thức được tình trạng tội lỗi hay sự sai lầm cố chấp rồi, chúng ta phải đứng lên, phải chỗi dậy, phải dứt khoát từ bỏ tình trạng tội lỗi hay sự cố chấp đó mà không tiếc xót gì hết, như người con hoang đàng trong Tin Mừng : sau khi nhận ra tình trạng sa đọa của mình, anh dứt khoát trở về với cha của anh ngay. Cũng vậy, chúng ta hãy đến với Chúa Kitô. Đến với Chúa bằng một lòng tin, lòng ăn năn hối hận, lòng yêu mến, cụ thể hơn cả là phải đến lãnh nhận bí tích giải tội và phục thiện. Chúng ta hãy nhìn lại anh mù : nếu anh không chỗi dậy đến bên Chúa, không khiêm tốn để Chúa xức bùn lên mắt và nghi ngờ không chịu đi rửa mắt ở hồ Si-lô-ác thì chắc chắn đã không được khỏi mù. Đành rằng, Chúa có thể cho anh khỏi ngay, nhưng Ngài đã làm khác để anh có dịp bày tỏ đức tin khiêm tốn và lòng yêu mến tin tưởng. Cũng vậy, Chúa có thể trực tiếp tha tội cho chúng ta, nhưng để chúng ta có dịp bày tỏ lòng thành thực hối hận, khiêm tốn nhận lỗi, Chúa đã dạy chúng ta tới thú tội với một linh mục để được rửa sạch tội trong bí tích giải tội. Khi Chúa đi qua, người mù đã đến với Chúa, đã nghe lời Chúa đến hồ Si-lô-ác rửa mắt và đã tìm thấy ánh sáng. Cũng vậy, trong những dịp, những thời gian sám hối như Mùa Chay này, là như Chúa đi qua, chúng ta cũng hãy đến với Chúa và nghe lời Chúa đến rửa linh hồn trong giếng nước ơn thánh là bí tích giải tội để chúng ta trở nên trong sạch và xứng đáng được tham dự vào ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh.
Thày là ánh sáng thế
gian Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa lành một người mù từ lúc mới sinh. Ngài đã ban ánh sáng cho anh, để anh được thấy. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn nữa mà Đức Giêsu ban cho người mù ấy, ngoài ánh sáng của con mắt thể lý, đó là ánh sáng Đức tin. Và chính nhờ ánh sáng đức tin, mà anh đã tin nhận Đức Giêsu là Chúa, là “Anh Sáng Thế Gian”. Thật vậy, sau khi được Đức Giêsu chữa lành, anh đã bước vào một cuộc hành trình của Đức tin. Hay nói cách khác, đó là một quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết đến tin, từ đêm tối đến ánh sáng. Ban đầu, Đức Giêsu đối với anh chỉ là một người hoàn toàn xa lạ. Ngoài việc biết tên Ngài là Giêsu, anh không có một thông tin nào khác. Thế nhưng sau đó, qua cuộc trao đổi với những người lãnh đạo Do Thái, anh đã khẳng định rằng Đức Giêsu là một vị ngôn sứ. Chắc hẳn anh đã nghiệm ra được rằng, nếu một người đã chữa cho anh được sáng mắt thì ắt người đó phải là một người đặc biệt, một người được Thiên Chúa sai đến. Thế rồi cuối cùng, khi được gặp lại Đức Giêsu, được thấy Ngài trong con mắt mới mẻ của mình, anh đã tin Ngài là Con Người, là Đấng Mêsia. Anh đã uyên xưng điều ấy một cách xác quyết : “Lạy Ngài, tôi tin !” rồi sấp mình xuống trước mặt Đức Giêsu. Thế nhưng, trong khi người mù được từ từ mở mắt ra để nhìn thấy ánh sáng, để tin nhận Đức Giêsu là “Ánh Sáng Muôn Dân”, thì người Pharisêu, vốn là những người đã có đôi mắt sáng về thể lý, lại trở nên mù loà trong con mắt tinh thần, con mắt tâm linh. Họ dựa vào một quan niệm hẹp hòi về việc giữ luật để rồi khẳng định Đức Giêsu đã phạm tội khi chữa bệnh trong ngày sa bát. Họ tìm mọi cách để kết tội Đức Giêsu. Họ không muốn thừa nhận Ngài là người được Thiên Chúa sai đến, vì nếu thừa nhận Ngài, có nghĩa là họ phải chấp nhận mình sai, đồng thời họ phải thay đổi nghĩ và lối sống của mình, thay đổi bộ mặt tôn giáo của cha ông, và nhất là họ phải tin vào Đức Giêsu, tin ngài chính là Đấng Mêsia, là Thiên Chúa. Vì vậy, sự mù loà của họ là một sự mù loà có chủ tâm, chủ ý, nghĩa là thái độ cố chấp và cứng lòng, không can đảm chấp nhận mình sai lầm, không hề có ý định hoán cải. Câu chuyện trong Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một bài học sâu sắc về đức tin. Đó là : hành trình của một người đi từ trạng thái mù loà sang ánh sáng là biểu tượng cho một hành trình từ trạng thái tin sang không tin. Đó là một cuộc hành trình từ tối tăm đến ánh sáng. Được có đôi mắt sáng thể lý là một món quà tuyệt vời, nhưng đức tin còn là một thứ “ánh sáng tâm linh” kỳ diệu hơn nữa. Thánh Phaolô nói : “Xưa kia, anh em còn ở trong bóng tối. Nhưng bây giờ, anh em là ánh sáng trong Chúa” (Ep 5,8). Nếu không có đức tin, chúng ta sẽ sống trong tối tăm, vì không biết mình sẽ đi đâu. Nhưng chính Đức Giêsu là “Ánh Sáng Thế Gian”, chính Người sẽ giúp chúng ta tìm được đường đi của mình, để vượt qua những hỗn loạn, rắc rối và đen tối trong thế giới này. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúng con ít nhiều đều là những kẻ mù loà. Đó là thái độ ích kỷ khiến chúng con mù loà không nhìn thấy những nhu cầu của người khác. Đó là tính tự cao, tự mãn, là tính kiêu ngạo, là sự thành kiến làm cho chúng con mù loà trước những tội lỗi của mình, mù loà trước sự thật. Đó là lối sống mải mê chạy theo những giá trị vật chất khiến chúng con mù loà trước những giá trị tinh thần… Xin Chúa hãy thương ban ánh sáng của Chúa cho chúng con, để ánh sáng ấy phá tan mọi bóng tối trong chúng con và đòi buộc chúng con hoán cải. Xin hãy mở mắt chúng con, để chúng con được bước đi trong niềm xác tín vào tình yêu của Chúa trên con đường dẫn về Quê Trời. Amen.
Khi
Sự Thật Lên Tiếng Một phép lạ mới xảy ra cho ông Bob McNichol, 57 tuổi ở Quận Mayo miền Tây Nước Ái Nhĩ Lan. Ông cứ tưởng suốt cuộc đời sẽ bị mù vì một vụ nổ cách đây hai năm. Sau khi các bác sĩ tạo hốc mắt và giác mạc giả, ông đã nhìn thấy và có thể xem truyền hình. Kỹ thuật tân tiến đã giúp ông nhìn lại cuộc đời. Ông sung sướng nói : “Tôi đã ra khỏi vùng đêm đen hoàn toàn để có thể nhìn những vật thường ngày.”[1] Ðó là một sự kiện khoa học. Nhờ kỹ thuật tân tiến, người ta có thể tạo một việc không thua gì phép lạ. Nhưng cách đây hai mươi thế kỷ, làm sao có những kỹ thuật như thế ? Vậy mà Chúa Giêsu đã đem lại ánh sáng cho một người mù bẩm sinh, chứ không do tai nạn. Bên ngoài, hai sự kiện ấy đều giống nhau, nhưng mục đích khác nhau. Chúa Giêsu chữa người mù không phải để anh được hạnh phúc xem thấy thế giới bên ngoài, nhưng cho anh khám phá tất cả những kỳ diệu của ân sủng Thiên Chúa nơi quyền năng cứu độ nhờ con mắt đức tin. TỪ ÁNH SÁNG CÔNG LÝ … Chúa Giêsu tự xưng : “Thày là ánh sáng thế gian.” (Ga 9:5) Phép lạ làm cho người mù bẩm sinh hôm nay nhằm chứng minh chân lý đó. Phép lạ rất đơn giản : “Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa" (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.” (Ga 9:6-7) Nhưng diễn tiến sau đó mới phức tạp. Thiên hạ bày tỏ bốn phản ứng đối với Chúa Giêsu như sau : các người hàng xóm ngạc nhiên và bi quan. Người Pharisêu tỏ ý hoài nghi và thành kiến. Cha mẹ anh tin, nhưng giữ thinh lặng vì sợ bị trục xuất. Còn anh mù chứng tỏ một đức tin thô sơ nhưng kiên cường. Anh bắt đầu đối diện với những người Pharisêu. Cuộc điều tra ban đầu khá đứng đắn. Lý do cũng ngay thẳng. Dựa vào sách Ðệ Nhị Luật, họ có lý do lên án những ai làm phép lạ để khinh thường luật ngày sabbát. Ngay khi mới tranh luận, họ đã muốn chứng tỏ mình có lý. Sau đó, họ nhanh chóng chia rẽ nhau, càng lúc càng không hiểu sự kiện người mù bẩm sinh được chữa lành. Cuối cùng họ dùng lý của kẻ yếu, tức quyền lực để mau chóng giải quyết vấn đề. Cơ chế bất công hiện hữu và tồn tại nhờ gian trá. Bởi thế, họ không ngần ngại vận dụng mọi phương tiện và cơ hội để xây dựng nền móng cho cơ chế bằng sự dối trá. Sự thật là phép lạ Chúa đã làm cho người mù bẩm sinh sáng mắt. Thay vì nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô, những người Pharisêu đã tìm cách bẻ cong sự thật, mặc dù không thể phủ nhận sự kiện. Bởi vậy họ tìm cách kéo mọi người về phe mình. Họ muốn mọi người, kể cả anh mù bẩm sinh, phải đồng ý với họ. Nhưng càng hỏi, họ càng phải đối đầu với sự thật. Không đánh lừa được anh mù, họ quay qua thẩm vấn song thân anh ta. Họ lợi dụng luật dứt phép thông công để gây sợ hãi hầu kéo cha mẹ anh về phe mình. Nhưng tương kế tựu kế, cha mẹ anh đã khôn khéo đẩy trách nhiệm về người con mù. Cuối cùng, họ phải kêu anh mù tới tìm cách tung cơn hỏa mù để hy vọng anh không nhận ra bản chất, nguồn gốc cũng như quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô. Trước hết, họ dám xác quyết với anh về Chúa Giêsu : “Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi." (Ga 9:24) Giọng điệu cứng rắn đó đã không làm cho niềm tin anh nao núng về quyền năng của Chúa. Ðúng như cha mẹ anh quả quyết, anh đã khôn lớn và đưa lời khai rành mạch và khôn ngoan. Dù thế, họ vẫn không chịu thua, nên đã hỏi cung anh một lần nữa, với hy vọng sau khi “làm việc” nhiều lần, anh có thể bị sơ hở. Mặc dù bị mắng nhiếc, anh vẫn hiên ngang đối đáp bình tĩnh. Anh xác quyết về quyền năng, đức độ, nguồn gốc của “người bởi Thiên Chúa mà đến.” (Ga 9:33) Nhờ can đảm, anh đã dạy cho người Do thái một bài học. Cuối cùng “họ trục xuất anh.” (Ga 9:34) Anh đã biết trước hậu quả tất yếu đó, nhưng anh vẫn lên tiếng. Chắc chắn cha mẹ anh cũng ngạc nhiên và hãnh diện vì người con trai can đảm hơn mình. Con hơn cha là nhà có phúc ! Càng bị thẩm vấn, khuyến dụ, đe dọa, anh càng can đảm tuyên xưng sự thật. Nhờ đó, anh càng tin tưởng những gì đã cảm nghiệm và hiểu biết về Chúa Giêsu. Chính anh làm chứng : “ Người đã mở mắt tôi!” (Ga 9:30) Câu này đã được nhắc lại chín (9) lần trong bản văn. Trong tiếng Hy lạp, động từ “thấy” rất phong phú, có nghĩa “mở mắt” và “phục hồi thị lực.” Khi mở con mắt hướng về Chúa Kitô, anh đã “thấy.” Nhưng anh chỉ thực sự thấy trong một đức tin toàn vẹn ở cuối trình thuật (Ga 9:35). Lúc này, anh chỉ nhận biết Chúa Giêsu qua danh xưng. Anh dùng lối nói kỳ lạ : “Người tên là Giêsu,” (Ga 9:11) chứ chưa gọi Người là Giêsu (nghĩa là “Ðấng Cứu thế”) ! Cuối cùng công lý đã chiến thắng nhờ sức mạnh chân lý. Bản thân người mù có một cái nhìn rõ ràng về thần học : Chúa Giêsu là một người của Thiên Chúa, một “ngôn sứ” thi hành sứ mệnh đúng với lề luật. Phép lạ chứng tỏ Người không vi phạm luật Thiên Chúa. Nếu không, Thiên Chúa đã không nghe lời Người. Anh châm biếm khi thấy các nhà lãnh đạo tôn giáo không biết “Chúa Giêsu từ đâu tới” mà dám kết án Người là kẻ tội lỗi ! Chỉ vì ghen tương và sợ hãi, họ đã có một cái nhìn thiên lệch. Trái lại, nhìn vào việc Người chữa anh khỏi mù, anh có thể kết luận Người phải phát xuất từ Thiên Chúa. Tuy đức tin của anh chưa hoàn hảo, nhưng anh đã lãnh đủ mọi hậu quả của một người dám tuyên xưng Chúa Giêsu trước những thế lực trần gian. Ðể củng cố và mở to con mắt đức tin của anh, Chúa Giêsu đã cố tình đến gặp anh, ngay sau khi anh bị trục xuất. Chính vì anh can đảm nói lên sự thật và phục hồi công lý, nên Chúa đã đến mời gọi anh đi sâu vào mầu nhiệm cứu độ. Ngay khi gặp lại, Chúa đã đặt vấn đề đức tin với anh : "Anh có tin vào Con Người không ? " (Ga 9:35) Ðây là kỹ thuật Chúa áp dụng để khơi dậy và đào sâu niềm tin nơi anh. Nghe lời Người truyền dạy, anh đã đón nhận được phép lạ và đã nhận ra Người là ngôn sứ đến hoàn thành giao ước đầu tiên trong Cựu ước. Nhưng để thấy được Chúa Con nơi cung lòng Chúa Cha và đang cư ngụ giữa chúng ta, anh cần phải mở mắt linh hồn. Chúa Giêsu hãnh diện tự xưng là Con Người xứng đáng với niềm tin của anh : "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây." (Ga 9:37) Lập tức, “anh sấp mình xuống trước mặt Người.” (Ga 9:38) Tất cả con người anh hoàn toàn thay đổi. Thay đổi đến nỗi anh cũng không thể tin nổi : “Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.” (Ga 9: 32) Cả láng giềng cũng kinh ngạc đến nỗi không đồng ý với nhau về anh. Không phải chỉ có con mắt, nhưng cả linh hồn anh đã đón nhận thần khí mới, vì ngón tay Thiên Chúa đã chạm đến thân xác anh. Một cuộc tạo dựng mới đã xảy ra. Trong cuộc tạo dựng đầu tiên, Thiên Chúa đã chạm tới khối đất sét để làm nên con người. Giờ đây Chúa cũng đụng tới phần thô sơ nhất của con người để họ được tham dự vào bản tính Thiên Chúa và hiểu sâu xa toàn thể sứ mệnh cứu độ của Chúa Giêsu nơi trần gian. Người đến chẳng qua để cứu con người khỏi vòng tội lỗi. Tất cả đều tùy con người nhận biết hay không nhận biết Chúa Giêsu mà thôi. Những người Pharisêu đã tự cản trở mình trước luồng sáng lớn lao đó và ngăn cản Thiên Chúa hành động để cứu vớt họ. Sau khi “Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù,” (Ga 9:6) anh đã hoàn toàn biến đổi để nhận ra “Thầy là ánh sáng thế gian." (Ga 9:5) Cuộc biến đổi này sâu xa như cuộc biến đổi đầu tiên của nguyên tổ, từ bụi đất trở thành người. Anh đã được chữa khỏi mù để nhìn thấy tất cả lòng thương xót Thiên Chúa nơi dung nhan Ðấng cứu thoát trần gian khỏi vòng tội lỗi. Người là ánh sáng chiếu soi vào lòng người và lòng đời. … ÐẾN ÁNH SÁNG ÐỨC TIN Như vậy, người mù bẩm sinh đã nhìn thấy hơn tất cả những ai sáng mắt. Chúa xuất hiện trước mắt anh còn chói sáng hơn khi hiển dung trên núi cho các tông đồ nữa. Quả thực, trên núi biến hình, các tông đồ không tỏ ra kinh ngạc bằng anh và cũng không xác tín như anh ngay sau khi nhìn thấy mọi sự nhờ phép lạ Chúa làm cho anh. Sau khi đã thoát cảnh mù tối thực sự của người Pharisêu, anh đã bắt đầu nhìn thấy và hành động. Như thế, rõ ràng Chúa làm phép lạ để nâng cao nhân phẩm của anh và đưa anh vào mầu nhiệm Con Người là Ðức Kitô. Tại sao ? “Vì huyền nhiệm Chúa Kitô soi sáng mầu nhiệm về con người, nên huyền nhiệm Chúa Kitô đem lại ý nghĩa sung mãn cho nhân phẩm và cho những điều kiện sống đạo đức để bảo vệ nhân phẩm ấy. Học thuyết xã hội của Giáo hội là kiến thức được đức tin soi dẫn. Tự bản chất, đức tin diễn tả cho kiến thức thấy có một khả năng lớn lao hơn. Ðức tin giải thích cho mọi người những chân lý được xác quyết và những bổn phận đòi buộc. Ðức tin có thể được mọi người chấp nhận và chia sẻ.”[2] Chỉ cần một tấm lòng chân thành, khiêm tốn và can đảm như anh mù, ai cũng có thể sống đức tin dễ dàng. Trái lại, nếu kiêu ngạo và nhát sợ, con người không thể nhìn thấy những điều kỳ diệu của đức tin. Bởi đâu anh mù có thể can đảm tới mức đó, nếu không vì đức tin đã soi dẫn cho anh thấy tất cả sự thật ? Sự thật đã giải thoát anh khỏi mọi sợ hãi. Nhờ đức tin, anh đã có những đức tính cần thiết để bảo vệ chân lý và nâng cao nhân phẩm. Anh thật là một mẫu gương cho những ai muốn sống và làm chứng cho đức tin. Chính nhờ Chúa Giêsu lấy bùn đất ở đường phố Giêrusalem xức mắt anh, một cuộc tạo dựng mới đã xảy ra trong anh. Anh hoàn toàn biến đổi. Anh bắt đầu thoát khỏi tình trạng thụ động để lên tiếng nói với chính mình. Anh còn dám chất vấn cả những người Pharisêu đã từng thẩm vấn anh. Nhờ sáng mắt, anh càng nhìn sâu vào bản chất con người Chúa Giêsu và quà tặng Chúa mang đến. Bởi đó, cuộc sống mới của anh không do cha mẹ hay huyết thống theo Luật Môsê, nhưng do ân huệ tự nhiên từ cuộc gặp gở Chúa Giêsu. Khi quỳ xuống thờ lạy Chúa, anh nhìn nhận Người không chỉ là nguyên nhân làm cho anh sáng mắt, nhưng quan trọng hơn, Người là nguồn gốc phát sinh toàn thể cách sống mới. Trong Chúa Giêsu, chúng ta được nâng lên cuộc đời mới. Như người mù đã có thể theo cách cảm nghiệm mới về trần gian, chúng ta cũng nhận đươc một khả năng mới để sống một cách sâu xa hơn, để nhận thức thế giới quen thuộc quanh ta trong ánh sáng lạ thường của Chúa Giêsu, Ðấng muôn đời là Ánh sáng trần gian. Ánh sáng đó cho thấy “con người có nhân phẩm vì giống hình ảnh Thiên Chúa. Con người có khả năng tự nhận thức, tự do hiến thân và hiệp thông với tha nhân. Hơn nữa, con người còn được mời gọi lập giao ước với Tạo Hóa, để lấy đức tin và tình yêu mà hiến dâng cho Người. Không một tạo vật nào khác có thể hiến dâng thay họ được.”[3] Chính vì thế, “chỉ con người mới có khả năng đón nhận Thiên Chúa.”[4] Nếu không, anh mù không bao giờ có thể đi từ một thay đổi thể lý nơi con mắt sang một biến đổi về tinh thần để hoàn toàn tin tưởng Chúa Giêsu là ánh sáng trần gian. “Vì giống Thiên Chúa, nên tự cơ bản, yếu tính và sự sống con người có quan hệ với Thiên Chúa một cách sâu xa nhất. Toàn thể cuộc sống con người là một cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Người ta có thể bác bỏ, lãng quên hay bỏ qua, nhưng không bao giờ có thể loại trừ mối tương quan với Thiên Chúa.”[5] Thế nên, khi Chúa Giêsu khơi dậy niềm tin, lập tức anh mù phủ phục tôn thờ Người. Nếu không có mối tương quan sâu xa với Chúa, làm sao anh có thể nhanh chóng đáp ứng như vậy ? Trong khi đó, những người Pharisêu vẫn ngoan cố phủ nhận mối liên hệ nơi Chúa Giêsu. Dù đã thấy những bằng chứng rõ ràng về phép lạ nơi người mù, họ cố tình bôi đen hình ảnh Chúa Giêsu. Không biết gì về Chúa, nhưng họ vẫn ngang nhiên quả quyết : “chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi." (Ga 9:24) Còn bất công nào lớn lao hơn ? Ðối lại luận chứng bất công ấy, anh mù đã khẳng khái quả quyết Chúa Giêsu là một ngôn sứ “làm theo ý của Thiên Chúa,” (Ga 9:31) và “bởi Thiên Chúa mà đến.” (Ga 9:33) Khác hẳn với Chúa, những người Pharisêu chỉ tìm cách bắt mọi người tuân giữ luật Sabbat hơn là làm theo thánh ý Thiên Chúa. Chính vì thế, họ tự tách xa con người Ðức Kitô. Thay vì dành thời giờ suy tư, họ chẳng đưa ra được lý chứng nào, mà chỉ theo thói “cả vú lấp miệng em.” Kết cục họ dùng biện pháp mạnh để trục xuất anh mù ra khỏi hội đường. Nhưng ai là người bị trục xuất ra khỏi vòng tay tình yêu Thiên Chúa ? Ðó mới là điều quan trọng. NHÂN QUYỀN Dù bề ngoài ai cũng thấy sự kiện sáng mắt của anh, nhưng những gì đang diễn ra trong tâm hồn mới đáng kể. Chính vì những biến cải sâu xa và toàn diện đó, anh mới có thể đưa ra những lập luận và chứng từ phản bác những lối lý luận ấu trĩ và đầy bất công của những người Pharisêu. Cơ chế bất công chỉ chạy quanh sự kiện, chứ không dám đối đầu trực tiếp với sự thật. Họ lấn cấn không biết làm sao thuyết phục anh mù coi ngày sabbat là luật tối thượng. Vì thiếu đức tin và lòng chân thành, những người Pharisêu không thể nhìn thấy rõ thực tại và công nhận sự thật về con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu. Những diễn biến trong tâm hồn anh mù, làm sao họ thấy được ? Nhưng dưới ngòi bút sắc sảo của thánh Gioan, tiến trình đó thật là ngoạn mục. Riêng anh, khi được hỏi về vị ân nhân của mình, anh đáp : "Người là một vị ngôn sứ !" (Ga 9:17) Ðức tin đã hé mở cho anh thấy một điều kỳ diệu, vượt xa những thực tại tầm thường vật chất. Phép lạ sáng mắt là dấu chỉ một quyền năng cao cả Thiên Chúa đang tỏ hiện nơi Ngôn sứ Giêsu. Con mắt đức tin đã nhìn thấy rõ vị trí của Chúa giữa nhân loại. Nếu Chúa Giêsu là một ngôn sứ, phép lạ phải là một mạc khải rõ ràng về lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhưng như thế cũng chưa diễn tả được tất cả sự thật về con người Chúa Giêsu. Bởi thế, cần phải gặp gỡ Chúa, anh mới có thể nhận ra sứ mệnh “Con Người.” Nhờ đó, anh thực sự vươn lên làm người. Trái lại, vì không có lòng thương xót như Chúa, những con người duy luật và duy ý chí như phái Pharisêu không thể giúp con người đạt tới chiều kích “Con Người.” Anh mù là nạn nhân tiêu biểu của những cơ chế bất công từ xưa tới nay. Có thể tìm thấy những nạn nhân đó trong các tòa án tại Việt Nam hiện nay. Tại sao thế ? Khi người ta sợ nghe sự thật. Khi chỉ lo bảo vệ quyền lợi của người có địa vị, dù họ là những tên ăn cướp, hối lộ, tham nhũng, lộng quyền. Bởi thế, “khi chúng ta phê bình những mặt tiêu cực của một xã hội, những sự sai trái của một chế độ, những sự vi phạm luật pháp, những sự tham nhũng, thì đó không phải là nói xấu chế độ mà đó là những vấn đề cần thiết để đưa xã hội và đất nước đến chỗ khá hơn, bảo vệ cho sự trong sáng của một chế độ, bảo vệ cho xã hội đựơc văn minh. Trong bối cảnh như vậy thì nó không phải là nói xấu chế độ hay là tuyên truyền để lật dổ chế độ, mà nó nằm trong mục tiêu là phải có tự do báo chí, phải có tự do ngôn luận, phải có tự do đảng phái và như vậy mới đưa đất nước đến chỗ quân bình trong trật tự mà không ai có thể vi phạm luật pháp của đất nước. Thành ra trong chiều hướng như vậy thì không thể nói rằng những sự đấu tranh của các đảng phái đối lập là sự tuyên truyền hoặc là nói xấu chế độ, mà nó nằm trong hướng xây dựng đất nước theo quỹ đạo tôn trọng luật pháp để cho đất nước đi vô chiều hướng tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền.” [6] Con đường phục vụ dân tộc đúng đắn nhất phải dẫn tới quyền lợi chung của toàn dân. Thật vậy, “công đồng chính trị theo đuổi công ích khi tìm cách tạo lập một môi trường nhân bản giúp công dân có thể thực sự thi hành nhân quyền và hoàn thành trọn vẹn những bổn phận tương ứng.”[7] Xưa cũng như nay, những người Pharisêu và nhà nước Cộng sản có tạo một môi trường như thế không ? Nếu có tại sao con người không thể sống như con người ? Nếu chiều theo ý đồ những người Pharisêu, anh mù có thể lớn lên trong niềm tin vào Chúa Kitô không ? Nếu thực sự muốn nhắm đến công ích của toàn dân, tại sao chính quyền lại bắt giam những nhà đấu tranh dân chủ ? Tóm lại, Chúa đã đem anh mù bẩm sinh ra khỏi tình trạng tăm tối. Anh đã thấy. Ánh sáng đã òa vỡ trong cuộc đời anh. Ánh sáng đã thay đổi không phải chỉ thân xác, nhưng cả cuộc đời và nhất là tâm hồn anh. Ðứng trước sự kiện khách quan đó, người ta đã có nhiều thái độ khác nhau. Từ nghi ngờ, chia rẽ, nhát sợ đến áp lực, sau cùng cưỡng bức và trục xuất con người dám nói sự thật. Tất cả chỉ vì muốn áp đặt một thứ lề luật loài người lên ý định của Thiên Chúa.. Thế nhưng, nhờ lòng tin của anh mù, sự thật đã chiến thắng. Cũng nhờ lòng tin, anh đã được gặp gỡ Chúa, đi sâu vào huyền nhiệm Con Người và tham dự vào sứ mệnh cứu độ. Nếu cũng nhát sợ như cha mẹ trước quyền lực hay hùa theo đám đông, không bao giờ anh có thể gặp gỡ Chúa sâu xa đến như thế. Lạy Chúa, xin sai Thần Khí đến để chúng con có thể mạnh dạn nói lên sự thật và làm chứng cho Chúa trước mặt trần gian. Xin cho chúng con ngày càng thấu hiểu và đi sâu vào mầu nhiệm cứu độ để có thể rao giảng cho mọi người biết Chúa là Ðấng đầy lòng xót thương. Amen. đỗ lực 02.03.2008
[2] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 75. [3] ibid., 108. [4] Giáo Lý Công Giáo, 27. [5] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội , 109. [6] ibid. [7] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 389.
Hãy
Sống Như Con Cái Sự Sáng Thưa quý vị, Từ xa xưa Giáo hội đã chọn ba bài tường thuật thú vị từ Tin Mừng Gioan để đọc trong các Chúa nhật thứ ba, thứ tư và thứ năm Mùa Chay. (Chúng xuất hiện trong các bài đọc năm A này). Hôm nay, chúng ta đọc bài thứ hai,trích từ chương 9, tường thuật việc chữa lành người mù bẩm sinh. Các bài đọc trích từ Tin Mừng Gioan được chọn vì trong suốt mùa này bởi vì chúng ta có những anh chị em đang chuẩn bị lãnh nhận Phép Rửa và những đoạn văn cũng thích hợp cho anh chị em tân tòng sẽ được rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh. Tuy nhiên, các bài đọc còn giúp tất cả chúng ta suy ngẫm về căn tính của mình là những Kitô hữu đã được thanh tẩy trong thế giới này. Khi lắng nghe các bài tường thuật, chúng ta sẽ để ý thấy chúng dài hơn các đoạn văn theo Tin Mừng Matthêu, Maccô và Lucca thường đọc trong các Chúa Nhật. (Tôi có thể dùng các bản văn dài hơn và chứ không phải bài ngắn hơn như đã chọn. Tác giả Gioan đã viết những đoạn tường thuật đầy sức thuyết phục và sẽ không công bằng nếu chia nhỏ bài tường thuật vì lợi ích trước mắt). Trong các trình thuật đầy đủ hơn này, thánh Gioan mời chúng ta vừa quan sát xem người ta đến với niềm tin thế nào, vừa cùng với họ lớn lên trong sự nhận biết thâm sâu rằng đối với chúng ta Đức Giêsu là ai. Như nói ở cuối Tin Mừng, thánh Gioan đã viết như thế là để “anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Messia, con Thiên Chúa để nhờ tin mà anh em có sự sống nhờ danh Người”. Hôm nay, qua câu chuyện về người mù bẩm sinh, một lần nữa chúng ta có dịp gặp gỡ riêng tư với Đức Giêsu và cảm nghiệm sự hiểu biết sâu xa về Người ngay giây phút này trong cuộc đời chúng ta. Trong trình thuật, phép lạ chữa lành người mù diễn ra cách nhanh chóng. Đức Giêsu tiến tới, bôi vào mắt anh mù thứ bùn làm từ nước miếng nhổ xuống đất và bảo anh đi rửa ở hồ Silôác. Anh làm theo và nhìn thấy được. Nhưng đó chỉ mới là khởi đầu. Trong Kinh thánh, cái thấy của thể lý là biểu tượng cho cái thấy của tinh thần – là đức tin. Như thư gửi cộng đoàn Êphêxô hôm nay diễn tả, “anh em là những người mù, nhưng giờ được sáng mắt trong Thiên Chúa”. Qua cái chết, Đức Giêsu đã tiêu diệt các quyền lực của tử thần. Đức tin đã mở mắt chúng ta; bây giờ chúng ta nhìn thấy và được mời gọi để “sống như con cái sự sáng…”. Chúng ta để trong suốt câu chuyện xem đức tin của người mù tiến triển ra sao. Nó là manh mối giúp đào sâu đức tin của mỗi chúng ta. Người mù đã được chữa lành là hình ảnh cho thời điểm chúng ta mới tin. Không thể thấy rõ ràng ngay được. Cái nhìn mới của anh phải triển nở và sau khi được soi sáng trong nước thanh tẩy, cái nhìn của chúng ta cũng phải như thế. Hảy để ý cuộc trao đổi giữa Đức Giêsu và các môn đệ ở đầu câu chuyện. Các ông hỏi Người, “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người này hay cha mẹ anh ta?” Vào thời đó dân chúng cho rằng những thứ bệnh tật hay bất cứ đau khổ gì cũng là hậu quả của tội. Người ta hay đưa ra kết luận như thế khi bệnh tật hay những thảm kịch đến với họ. Họ nói đại loại như: “có thể tôi đã làm sai điều gì đó nên Chúa mới phạt tôi”. Thật khó mà phấn đấu vượt qua những lúc khó khăn, ít nhiều lúc đó cũng nghĩ rằng Thiên Chúa là nguyên cớ của những đau khổ nơi chúng ta. Với phép lạ của Người, đặc biệt câu chuyện hôm nay, Đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa liên luỵ với chúng ta trong những khó khăn, những ưu phiền và niềm khát khao hạnh phúc. Sự soi sáng của Tin Mừng hôm nay chất vấn chúng ta, “quý vị có thấy không? Quý vị có tin rằng nếu gặp thấy Đức Giêsu trong niềm tin, thì quý vị cũng có thể nhận thấy bàn tay chữa lành Chúa chạm đến quý vị?” Thánh Gioan đưa vào câu chuyện những hình ảnh và cách diễn tả quen thuộc của Kitô giáo giúp chúng ta “thấy” Đức Giêsu là ai. Chẳng hạn hành động Đức Giêsu bôi bùn lên mắt người mù và kế đó, việc rửa sạch ở hồ, làm sáng mắt anh – tất cả muốn ám chỉ Phép Thánh Tẩy. Khi anh mù được sáng mắt, những người đi theo Đức Giêsu lập tức kiểm chứng lòng tin của anh. Thánh Gioan miêu tả tiến trình thử thách mà người thanh niên trải qua. Bắt đầu là những người đến xem; sau đó, các Pharisiêu chất vấn anh (bọn họ đe doạ trục xuất anh khỏi hội đường); cuối cùng gặp lại Đức Giêsu và Người hỏi anh câu cuối cùng và quan trọng nhất: “Anh có tin vào Con Người không?” Người thanh niên trả lời: “Thưa Ngài, tôi tin”. Đó là lời tuyên xưng đức tin quan trọng như chúng ta có được trong Giao Ước Mới. Khi còn trẻ, hay mới theo đạo, không ai trong chúng ta nương theo đời sống đức tin chúng ta được nhận lãnh. Cuộc sống đưa ra quá nhiều thử thách và chúng ta được hỏi đi hỏi lại trong suốt thời gian bị thử thách : “Anh có tin vào Con Người chăng?” Những lúc bị chất vấn, chúng ta trả lời như người thanh niên đã đáp lại khi Đức Giêsu đặt câu hỏi tương tự, “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?” Chúng ta gặp Đức Giêsu một lần nữa ở mỗi chặng đường quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Khi chúng ta trưởng thành, Đức Giêsu khơi lên hơn cho chúng ta những đức tính phong phú và mới mẻ. Đôi lúc chúng ta cần Người chỉ lối cho những quyết định khó khăn mang tính sống còn. Những lúc khác, chúng ta trở về với Người để chữa lành những khoảnh khắc đổ vỡ của chúng ta. Sau thời gian lầm đường lạc lối chúng ta quay về với Người và nài xin ơn tha thứ. Đối diện với những bất công, chúng ta cần sức mạnh của Người để làm điều ngay chính; khi bệnh hoạn hay tuổi già sức yếu, chúng ta cần Người ban sức mạnh để bước tiếp hành trình… Hơn một lần chúng ta từng hỏi, “Đấng đó là ai, thưa Ngài? (hay, Ngài là ai vậy?) để tôi tin?” Câu trả lời trong chúng ta gặp gỡ với Người là “Anh đã nhìn thấy Đấng ấy và người đang nói với anh đây”. Tại một thời điểm mới trong hành trình đức tin, chúng ta có thể tuyên xưng, như anh mù đã tuyên xưng lúc gặp lại Đức Kitô, “Thưa Ngài, tôi tin.” Đó là một hành vi đức tin quan trọng mà chúng ta có thể thực hiện. Có lạ không khi mà cha mẹ của người mù bối rối trước tình trạng mới và được chữa lành của anh? Thánh Gioan nói với chúng ta rằng, họ sợ giới cầm quyền có thể trục xuất họ khỏi hội đường. Nhưng họ cũng phải nhận biết rằng điều gì đó phi thường đã xảy ra cho con của họ và giờ đây anh ta có thể tự mình nói về điều đó – ngay cả với những chuyên gia, các nhà cầm quyền tôn giáo. Có những lúc chúng ta không thể cậy nhờ nơi người khác để tìm ra những lời giải đáp hay khuôn mẫu về Đức Giêsu. Khi trưởng thành, chúng ta đón nhận sự chỉ dẫn của đức tin, tuy nhiên, những thách thức trước mắt chúng ta là phải được chuẩn bị để nói gì về cảm nghiệm đức tin của chúng ta – vì đó là điều độc đáo và không ai có thể giống chúng ta. Chúng ta đã nhận được ánh sáng, chúng ta được rửa sạch ở giếng rửa tội và vì thế chúng ta có sẵn sàng chia sẻ về những gì đã xảy đến cho chúng ta – như anh mù đã làm. Chúng ta phải sẵn sàng để giải thích đơn giản và cụ thể về Đức Giêsu đối với chúng ta và niềm tin vào Người đã làm nên những khác biệt gì cho cuộc sống của chúng ta. Khi anh mù xác nhận người đã chữa lành với các lãnh đạo tôn giáo, thì lời giải đáp của anh đã khiến anh trở thành kẻ dị hợm trước mắt họ và “họ trục xuất anh”. Có những hậu quả dành cho việc can đảm làm chứng về Đức Giêsu là ai và những gì Người thực hiện cho chúng ta. Người thanh niên khởi đi từ cảnh mù loà, nhờ Đức Giêsu, anh bắt đầu thấy. Khi anh bị chất vấn và thử thách, câu trả lời của anh về Đức Giêsu ngày càng trở nên sâu sắc và sáng suốt hơn. Trước tiên, anh ám chỉ tới “người gọi là Giêsu”. Rồi anh nói với những người Pharisêu, “Ông ấy là ngôn sứ”. Sau đó, anh nói với họ rằng Đức Giêsu chắc chắn đến từ Thiên Chúa và cuối cùng anh tuyên xưng niềm tin trọn vẹn vào chính Đức Giêsu. Anh đi từng bước, từ đêm tối qua ánh sáng, khi anh gặp thách thức và chống đối. Theo thánh Gioan, tin vào Đức Giêsu dường như không đơn giản. Niềm tin ấy không chỉ là đưa ra một tín điều. Những gì chúng ta tuyên xưng vào Đức Giêsu, thì phải được thực hiện trong cuộc sống của mình. Khi bị nhạo báng, nghi ngờ và chống đối chúng ta không được phản lại điều chúng ta tin – không có sức mạnh hay quyền lực to lớn nào ngăn cản được chúng ta. Chúng ta không kiếm được niềm tin. Chúng ta không thể làm nó lớn lên. Nhưng trình thuật nói với chúng ta rằng không chịu thử thách thì có thể niềm tin bị đe doạ và yếu đi. Ngược lại, trong sự nỗ lực thực sự, Đức Kitô tìm kiếm chúng ta để thêm sức và củng cố niềm tin của chúng ta vào Người. Người đã làm điều đó cho anh mù và cả cho chúng ta nữa. Một lời về bài đọc thứ nhất, xét từ những biểu dấu hiệu bên ngoài, Đavít khó được chọn lãnh đạo dân Israel của Đức Chúa. Ông không nổi bật nhất trong số anh em ông; là đứa con út, nhỏ nhất trong gia đình, đang chăm sóc đàn cừu mà cha ông không nghĩ cần phải gọi về; vậy mà, ngôn sứ Samuel có thể nhận ra ông. Tuy nhiên, Đức Chúa chọn người yếu đuối và nhỏ bé để khiến chúng ta bẽ mặt và nhắc chúng ta chỉ nơi Chúa mới là nguồn sức mạnh, quyền năng và ân sủng. Đức Chúa thấu suốt tận đáy lòng Đavít và thấy ông sẵn sàng tuân phục đường lối và sức mạnh của Đức Chúa. Vì vậy, bất cứ ai cũng không có thể nào nhầm lẫn được rằng sức mạnh của Đavít đến từ Đức Chúa. Lm. Jude Siciliano, O.P. Đức Giêsu đến cho ta được thấy 1Sm 16,1b.6-7.10-13a; Tv 22; Ep 5,8-14; Ga 9,1-41 Thưa quý vị, Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, các môn đệ đã có cuộc tranh luận với Đức Giêsu, có lẽ tất cả chúng ta cũng muốn tranh luận với Người rằng: Lý do nào dẫn đến nỗi đau của anh mù? Đó là hậu quả do tội của anh ta hay cha mẹ anh ta? Đức Giêsu bác bỏ quan niệm của những người đương thời và cũng có thể là của một số trong chúng ta: anh ta không phải bị phạt vì đã phạm tội. Đức Giêsu không đưa ra một lời giải thích cho tất cả sự ác trên thế giới. Thay vào đó, Người lại nhắm đến những nhu cầu của người thanh niên đang đứng trước mặt mình. Việc anh mù được chữa lành biểu lộ sự hiện diện năng động của Thiên Chúa trong thế giới chúng ta. “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” Không như mong đợi, cả cha mẹ anh, những người láng giềng của anh lẫn những người Pharisêu đều đã không “nhận ra” công trình của Thiên Chúa được bày tỏ qua việc anh được chữa lành. Họ không trông thấy những điều Thiên Chúa đã thực hiện. Và anh mù cũng không hiểu ngay được rằng điều gì đã xảy ra cho mình. Anh dần biết rõ về Đức Giêsu sau khi bị các nhà cầm quyền liên tục chất vấn, và sau đó cuộc trò chuyện với Đức Giêsu đã cho anh được “sáng mắt”. Chẳng lạ lắm sao khi những người hàng xóm đã không nhận ra anh mù lúc anh được sáng mắt? Đức Giêsu đã mở mắt cho anh ta; Người đã không thực hiện một cuộc phẫu thuật tạo hình nào, và cũng chẳng làm thay đổi nét mặt của anh ta! Những người này là hàng xóm của anh mù, chẳng phải ai xa lạ. Có thể hằng ngày họ đã nhiều lần đi ngang qua anh. Phải chăng họ chỉ nhìn thấy bệnh tật của anh chứ không nhìn thấy một con người? Chẳng phải là chúng ta có xu hướng mô tả mọi người bằng các bệnh tật của họ đó sao? Nào là kẻ què quặt… người phụ nữ mù lòa… bệnh nhân AIDS… kẻ mắc bệnh tâm thần phân liệt, hoặc thứ bệnh gì khác nữa chăng? Thế nhưng Đức Giêsu đã trông thấy và dừng lại trước “người mù từ thuở mới sinh”. Người không những chữa lành cho anh, sau đó Người còn đi tìm kiếm anh, trò chuyện với anh và đưa anh tới đức tin. Đức Giêsu không chỉ trông thấy nỗi khổ đau, mà còn gặp gỡ con người đang khổ đau. Có lẽ tốt hơn nếu chúng ta đế ý đến những người bị gạt ra bên lề xã hội và thế giới, đến gặp gỡ những người què quặt, hoàn cảnh xã hội khó khăn, vô gia cư, đau khổ vì chứng Alzheimer, v.v… Chúng ta cũng có thể là người mù. Quan tâm đến con người chứ không phải chỉ nhìn vào những bệnh tật của họ có thể giúp chúng ta được mở mắt và được dẫn đến gặp gỡ Đức Giêsu. Tôi cố gắng chú ý đến các chi tiết trong những câu chuyện Tin Mừng; các chi tiết mà có lẽ chúng ta dễ bỏ qua để nhắm đến việc nắm bắt “điều cốt lõi” của câu chuyện. Ví dụ chi tiết mở đầu của trình thuật Tin Mừng hôm nay là một sự soi sáng quan trọng về những công việc Chúa đang làm. Câu chuyện mở đầu với câu: “Khi ra khỏi Đền Thờ, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh.” Một số câu chuyện phép lạ tường thuật một người khốn khổ nào đó đến cầu xin Đức Giêsu giúp. Người gặp gỡ và thường nhận xét về lòng tin của họ, tiếp đó là chữa lành cho họ. Câu chuyện tác giả Gioan thuật lại việc chữa lành cho người mù thì lại khác, và ngay câu mở đầu đã nêu bật sự khác biệt này. Việc chữa lành xảy ra là nhờ Đức Giêsu đã đi bước trước. Người trông thấy sự túng thiếu và đáp ứng cảnh nhân loại đang bị tổn thương. Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đang đi ngang qua và tái tạo nhân loại với một hồng ân mới của ánh sáng, hồng ân tiên khởi của công trình sáng tạo (St 1). Các nhà cầm quyền tôn giáo không vượt ra khỏi vòng luẩn quẩn trong câu chuyện này. Lẽ ra họ phải là những nhân vật giúp đỡ người khác thừa nhận và chúc tụng Thiên Chúa, Đấng đã “đi ngang qua” nhờ Đức Giêsu, chính Người đã trông thấy và dừng lại để ban tặng sự sáng, và không chỉ đối với người mù này thôi, mà còn với tất cả những ai hy vọng được thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Ánh sáng trần gian đã chiếu tỏa trên dân chúng, nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo lại nhắm mắt trước ánh sáng ấy. Trong thời đại chúng ta, một hồng ân ánh sáng đến với ta qua Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người dám thách thức cả những tục lệ của Giáo Hội trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium). Ngài nói rằng ngài mơ ước một sự “lựa chọn truyền giáo” cho Giáo Hội và cho việc “đổi mới cơ cấu”, điều đó giúp Giáo Hội mang tính “tổng thể hơn và rộng mở hơn” (số 27) cho những ai đến tìm chỗ tựa nương và sự khích lệ để tìm kiếm ánh sáng. Trích dẫn lời của đức Gioan Phaolô II, đức Phanxicô đã kêu gọi giáo xứ rằng: “Giáo Hội sống giữa các gia đình của những con cái mình”. Khi tiếp xúc với cuộc sống của những người bình dị, giáo xứ có thể cung cấp “một môi trường để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và cử hành nghi lễ” (số 28). Theo lý tưởng, Giáo Hội là đường dẫn cho ánh sáng chiếu tỏa vào nơi tối tăm của thế giới, và là nguồn biện phân giúp chúng ta đến với ánh sáng. Nếu chúng ta hỏi thánh Gioan: “Thiên Chúa ở đâu vậy?” Thì thánh nhân sẽ chỉ cho thấy Đức Giêsu hôm nay đang “đi ngang qua” và trông thấy người mù. Thánh Gioan muốn chúng ta nhìn xa hơn dáng vẻ bề ngoài của Đức Giêsu để thấy được mầu nhiệm sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta. Không chỉ là Thiên Chúa ở ngay trong Đức Giêsu, mà còn sẵn sàng chữa lành và mang lại ánh sáng soi chiếu những góc tăm tối trong cuộc đời của chúng ta; đó có thể là những nơi chúng ta không muốn nhìn vào, nhưng Mùa Chay lại khích lệ chúng ta xem xét đến. Đức Giêsu bất ngờ đến với người mù, Người đã chữa lành và dẫn đưa anh ta đến với ánh sáng đức tin. Lẽ ra dân chúng phải biết rõ hơn, nhưng họ lại trở nên mù lòa trước việc Thiên Chúa làm theo những cách thức bất ngờ và cho người bé mọn nhất. Chúng ta không thể hướng dẫn hoặc điều khiển Thiên Chúa. Thiên Chúa chọn hành động nơi người mù lòa bị ruồng bỏ và không được những người giàu lòng đạo đức quan tâm. Đây là một khoảnh khắc về lòng khiêm nhường cho chúng ta, những con người của Giáo hội. Đối với mỗi người, Mùa Chay này Đức Giêsu cũng đang đi ngang qua, gặp thấy hoàn cảnh của chúng ta và Người dừng lại để chữa lành. Có thể chúng ta cũng giống như người phụ nữ bên bờ giếng tuần trước và người mù ngày hôm nay: chúng ta “nhận biết” Đức Giêsu là ai một cách tiệm tiến, từng bước một. Người mù bắt đầu bằng cách gọi “người tên là Giêsu”, tiếp theo anh gọi Người là “một vị ngôn sứ”, rồi anh nhận ra Người là Đấng được Thiên Chúa sai đến, và cuối cùng anh ta gọi Đức Giêsu là “Chúa”. Hôm nay, Thánh Lễ này một lần nữa dừng lại trên con đường của chúng ta và cho chúng ta kinh nghiệm mà anh mù đã trải qua. Nơi đây, ánh sáng đức tin giúp chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu nơi các dấu chỉ của Bí tích Thánh Thể, và lắng nghe Người trong Lời của Người. Đức Giêsu cũng nói với chúng ta điều Người đã nói với anh mù: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.”
| |