Năm A

 
 

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY A

Xh 17:3-7 ; Rm 5:1-2.5-8 ; Ga 4:5-42
 

An Phong op : Cơn Khát

Như Hạ op : Kỳ Thú

Fr. Jude Siciliano op : Nếu chị biết ân huệ Thiên Chúa ban

Fr. Jude Siciliano op : Chúa Giêsu Nguồn Nước Hằng Sống

Lm. Jude Siciliano,op : Xin Ban Cho Con Nước Hằng Sống

Ý kiến mới của một độc giả về E-và

G. Nguyễn Cao Luật op : Vị Cứu Tinh Nhân Hậu

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Gặp Gỡ Đức Kitô

Jos. Nguyễn Văn Thuần op : Chính chúng ta đã nghe và tin lời Chúa

Đỗ Lực op : Duyên Kỳ Ngộ

Fr. Jude Siciliano, op : Đức Giêsu Mạch Nước Sự Sống

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy trở nên những môn đệ truyền giáo

 

 


An Phong op

Cơn Khát
Ga 4:5-42

Chúa Giêsu đi đường mỏi mệt nên ngồi xuống trên bờ giếng"; và Ngài nói với người phụ nữ Samari "Chị cho tôi xin chút nước uống". Chúa Giêsu xuống trần gian để chia sẻ kiếp sống của con người; Ngài cũng là một con người cụ thể, có những khó khăn của cuộc sống, có những vấn đề phải lo toan, có những vất vả đắng cay của một kiếp người như tất cả chúng ta. Chúa Giêsu cũng trải qua sự mỏi mệt và cơn khát của cuộc sống con người. Ðừng ai nói rằng chỉ một mình tôi khổ nhất, chỉ một mình tôi bất hạnh nhất, cuộc đời của tôi khốn nạn nhất; vì đã có một Vị Thiên Chúa làm người và Ngài cũng "mỏi mệt", cũng "khát" như tất cả chúng ta.

Tuy nhiên, dân Israen đã khát và đã kêu than trách móc; người thiếu phụ Samari đã khát và mong chờ Chúa Giêsu cho mình một thứ nước uống vật chất, bà được "hết khát và khỏi đến đây lấy nước". Còn Chúa Giêsu, được chia sẻ cơn khát của con người, Ngài lại càng ước mong ban tặng một thứ Nước Trường Sinh có thể giúp nhân loại khỏi khát. Nước đó chính là bản thân Chúa Giêsu, là ơn Cứu độ của Chúa Giêsu, là Ðấng có thể giải quyết "cơn khát" sâu xa giằng xé con người : "Ðấng ấy chính là Ta, Người đang nói với chị đây."

Cơn khát trong sa mạc cuộc đời vẫn luôn là "Maxa" và "Mêriba", nghĩa là vẫn là nơi "thử thách" và "gây chuyện". Nếu chúng ta cứ kêu than và trách móc; nếu chúng ta cứ tưởng có thể "giải khát" bằng những thứ "nước tiền tài", "nước cơm bánh", "nước danh vọng", thì chúng ta đang tiếp tục cuộc thách thức Chúa như người Israen xưa.

Ngược lại, nếu chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, Ðấng duy nhất có thể ban "Nước" để "ai uống Nước Tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa", thì chúng ta cũng sẽ được cứu độ như người Samari; và được vui mừng như "Dân Samari xin Người ở lại với họ"… "vì chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Vị Cứu tinh của trần gian."

Con mang vác nặng quá rồi, Chúa ơi !
Con chịu đựng không nổi nữa !
Con đường con đi, chưa dài lắm
Nhưng quá khứ đã đủ chất chồng;
Con đã sống bao biến cố tang thương.
Và nhiều lúc con xây xẩm mặt mày.

Con mang vác nặng quá rồi, Chúa ơi !
Con chịu đựng không nổi nữa !

Nhưng hôm nay… Lạy Chúa !
Có phải con mơ không ?
Con tin mình đã tìm thấy
Ðiều mà từ lâu Chúa chờ đợi nơi con.
Con tình cờ đọc được
câu Thánh vịnh in nơi tấm hình :

"Hãy vứt bỏ những lo lắng trong Chúa
và chính Ngài sẽ nâng đỡ con luôn."
Và con tin rằng, qua lời kinh đó,
Chúa đang thực sự nói với con.
(Michel Quoist)


Như Hạ op

KỲ THÚ
Ga 4:5-42

Nhân loại có cần đươc cứu độ không ? Hình như nhu cầu hằng ngày đã lấn lướt mọi nhu cầu khác và nhất là không liên quan gì tới ơn cứu độ. Nhưng chính từ những nhu cầu ăn uống tầm thường hằng ngày, Ðức Giêsu đã mạc khải chân lý vĩ đại.

TỪ ÐỘC THOẠI TỚI ÐỐI THOẠI

Thật là thú vị khi theo dõi cuộc đối thoại giữa Ðức Giêsu và phụ nữ Samari tại bờ giếng Giacóp. Bình thường không thể có cuộc đối thoại như thế, vì "người Do thái không được giao thiệp với người Samari." (Ga 4:9) Nhưng một ranh giới đã vượt qua, khi Ðức Giêsu khéo léo bắt chuyện : "Chị cho tội xin chút nước uống !" (Ga 4:7) Thường người ta chỉ ra kín nước ban sáng hay chiều. Chị đã cố ý ra giếng buổi trưa để tránh né những cái nhìn xăm xoi vào đời tư, vậy mà cũng không thoát khỏi. Nhưng cuộc gặp gỡ vượt quá sức tưởng tượng ban đầu.

Cuộc đối thoại nhiều lần như bị khựng lạiNhiều lần có nguy cơ trở thành độc thoại. Vừa mở miệng, Ðức Giêsu đã bị người phụ nữ "kê tủ đứng" rồi : "Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao ?" (Ga 4:8) Nhưng Ðức Giêsu đã khai thông bế tắc một cách dễ dàng. Trước tiên, Người muốn cho chị khám phá con người đang đối diện với chị không phải chỉ là một tập hợp những yếu tố vật chất với những nhu cầu tầm thườngNhưng đó là "ân huệ Thiên Chúa" (Ga 4:10) vô cùng vĩ đại mà chị không nhận ra Vĩ đại vì từ nơi Người mạch "nước hằng sống" (Ga 4:10) sẽ tuôn trào cho toàn thể nhân loại. Ðức Giêsu muốn chứng tỏ mình là Thiên sai. Vì "chỉ có Thiên sai mới có thể làm cho con người thỏa niềm ước mong." (Life Application Study Bible 1991:1880) Cựu Ước từng tôn xưng Thiên Chúa là mạch nước hằng sống (Tv 36:9) và là suối nước trường sinh (Gr 17:13). Trong khi phụ nữ đó đề cao tổ phụ Giacóp như ân nhân của dân làng vì đã cung cấp nguồn nước cho bao thế hệ, Ðức Giêsu lại muốn cho chị thấy mình trổi vượt hơn tổ phụ, vì "ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa." (Ga 4:14)

Nói đến thế mà chị vẫn chưa hiểu ! Ðúng là cảnh "ông nói gà, bà nói vịt" Ðức Giêsu tìm cách tháo gỡ dần dần cái vòng luẩn quẩn đóChị giật mình khi tất cả đời tư bị phơi bày ra ánh sáng. Làm sao một người xa lạ như Ðức Giêsu có thể biết được chuyện chồng con của chị ?! Cứ tưởng Người như tất cả thanh niên khác, chị lấm lét thở dài : "Tôi không có chồng." (Ga 4:17). Chị muốn làm một lá chắn thật dầy để che đậy tất cả bí mật màn the. Ðức Giêsu cảm thấy thương hại cho người phụ nữ SamariNgười không kết án chị là người dối tráTrái lại, Người dựa ngay vào lời chị để mạc khải một sự thật khiến chị phải thốt lên : "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ …" (Ga 4:19) Câu truyện đi vào khúc rẽ quan trọng. Một mạc khải lóe lên ngay trong đời thườngPhải lên núi cao biến hình, Ðức Giêsu mới có thể mạc khải cho các môn đệ sự thật về mình. Ngay cả khi vào sa mạc chịu cám dỗ, phải có Thánh Linh hướng dẫn, Ðức Giêsu mới xác định được căn tính giữa những tương quan chằng chịt trong trời đất

Mỗi mạc khải đều kèm theo một lời mời gọiKhi nhận ra Ðức Giêsu là ngôn sứ, chị được kêu mời trở về với Thiên Chúa thật, một Thiên Chúa không lệ thuộc vào nơi chốn hay con ngườiQuả thực, "giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ những người thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật vì Thiên Chúa là thần khí" (Ga 4:23-24) Những đầu óc đặc sệt vật chất không thể hiểu nổi Thiên ChúaBởi vậy, họ đóng khung Thiên Chúa trong những phạm trù hoàn toàn trần tụcNhững tâm trí đó không thể thấy những nét kỳ diệu trong cuộc đối thoại vô cùng lý thú bên bờ giếng Giacóp hôm nay

Nhờ sống lâu trong truyền thống tôn giáo, chị đã hiểu ngay được vấn đề khi nhìn nhận Ðức Giêsu là ngôn sứ. Ngay từ nhỏ chị đã được nghe mạc khải về thời kỳ cứu độ : "Tôi biết Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô, sẽ đếnKhi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự." (Ga 4:25) Chụp ngay cơ hội, Ðức Giêsu nói tất cả sự thật về mình : "Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây." (Ga 4:26) Niềm tin lên tới tột đỉnh khi chị nghe thấy trong lời Ðức Giêsu vang vọng tiếng Giavê tự xác định chính mình với ông Môsê bên Ai cập (x. Xh 3:14) Tới đây chị không thể kìm hãm nổi tiếng thôi thúc trong tim nữaVô cùng kinh ngạc và sung sướng, "người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 'Ðến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làmÔng ấy không phải là Ðấng Kitô sao ?'" (Ga 4:28-29) Phải chăng chị đã bỏ lại đằng sau tất cả biểu tượng của niềm tin cũ (vò nước bên bờ giếng Giacóp) để lao tới trước theo tiếng gọi của niềm tin mới vào Ðức Giêsu ? Chị đã trở thành người loan báo Tin Mừng đầu tiên cho dân làngThực vậy, "có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Ðức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng." (Ga 4:39) Dầu sao, người rao giảng Tin Mừng cũng chỉ đóng vai trung gian. Muốn được cứu độ, người ta phải đích thân băng qua cầu đó. Sự thật ấy đã được các dân làng Samari chứng minh : "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Ðấng cứu độ trần gian." (Ga 4:42)

Bên cạnh cuộc đối thoại thú vị với phụ nữ Samari, Ðức Giêsu còn lợi dụng mấy giây phút ngắn ngủi hàn huyên với các môn đệ để mạc khải một chân lý vĩ đại. Cũng như phụ nữ Samari, đầu óc các ông chỉ "sà sà ngọn cỏ" Từ chủ đề "nước", Ðức Giêsu đã nói về "nước hằng sống" là Thánh Linh, mạc khải về bản chất Thiên Chúa là "thần khí", và chính mình như "một ngôn sứ", "Ðấng Mêsia, gọi là Ðức Kitô" và "Ðấng cứu độ trần gian". Còn chủ đề "lương thực" đưa tới một sự thật : "lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người." (Ga 4:34). Như thế Người đã mạc khải về bản chất và sứ mạng của Ba Ngôi trong công cuộc cứu độ toàn thể nhân loại. Nhờ kiên nhẫn, Ðức Giêsu đã biến phụ nữ Samari và các môn đệ thành những chứng nhân và sứ giả Tin Mừng.

CHỨNG TỪ SỐNG ÐỘNG.

Những sứ giả đó không được huấn luyện trong các trường đại học, nhưng ngay giữa chợ đời với những câu chuyện hằng ngày xoay quanh vấn đề ăn uống. Cơm áo là tầm thường ! Nhưng dưới cái nhìn của Ðức Giêsu, chẳng có gì tầm thường đến nỗi không thể vận dụng vào việc mạc khải những chân lý cao siêuNhiều lần người môn đệ cũng đã đối thoại với Thày chí thánh ngang qua những thực tế tầm thường trong cuộc sống. Nếu không, làm sao những anh chị em Ða Minh Việt Nam, chẳng hạn, có thể đem niềm an ủi đến cho đồng bào đau khổ trong các trại phong, khuyết tật, ung bướu hay đến các em kém may mắn không được cắp sách đến trường, những đồng bào thiểu số trên cao nguyên ? Khi cung cấp lương thực hay nguồn nước trong lành cho đồng bào, anh chị em đã gieo Tin Mừng hi vọng vào hoàn cảnh tăm tối của họ.

Những nỗ lực như thế vô cùng cần thiết để xoay đổi cục diện thế giới hôm nay. Các nhà lãnh đạo Công giáo và Hồi giáo Sunni đều cho rằng "lúc nào cũng cần phải chú ý tới các phương diện cơ bản của xã hội : đời sống gia đình, giáo dục, phát triển xã hội, ảnh hưởng thông tin đại chúng, cổ động công lý và tình liên đới trong những quốc gia và trên một tầm mức quốc tế." (Zenit, Feb. 27, 2002) Có những hạng người cực đoan không bao giờ lắng nghe lẽ phải. "Ðối thoại không đủ để chinh phục, nhưng cần phải cổ võ việc phát triển toàn diện" (Zenit, Feb. 27, 2002) mới lôi kéo những con người đó. Ðó là đường lối Ðức Giêsu chinh phục chị Samari và các môn đệ.


Fr. Jude Siciliano
 op

Nếu chị biết ân huệ Thiên Chúa ban
Ga 4:5-42

Thưa quý vị.

Mấy tháng nay ở vùng Bắc Carolina nước Mỹ trời hạn hán nặng. Vài cơn mưa rào tháng Giêng vừa qua được đón nhận như các trận mưa giải thoát. Hạn hán có các mức độ khác nhau tùy theo vùng. Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, tôi sống ở bang California, trời làm hạn tới 7 năm liền. Các hồ chứa nước báo động từng ngày. Khách sạn không được phép đặt nước trên bàn ăn, trừ phi có yêu cầu đặc biệt. Cả bang không được rửa xe. Người ta chỉ được tắm bông sen thật nhanh. Cấm tắm bồn. Radio và Tivi liên tục nhắc nhớ tiết kiệm nước. Nhưng vì sức khỏe, cả bang North Carolina và bang California đều cho phép uống nước từ vòi chảy tùy thích. Tuy vậy, nhiều hộ vẫn lén lút tưới trộm các thảm cỏ xanh. Khí hậu ở các sa mạc còn tệ hại hơn, nhất là vào thời Kinh thánh chưa có kỹ thuật thủy lợi. Miền Palestine, nước không được chảy tự do. Nếu như thiếu nước hoặc bị phung phí thì có nghĩa là chết khát ! Vì thế nước giữ vai trò nổi bật trong các trình thuật Thánh kinh. Từ Cựu ước hình ảnh nước đã được nhấn mạnh. Nước đại hồng thủy. Nước giải thoát khỏi cảnh nô lệ Ại Cập - Sang đến Tân ước, Gioan tẩy giả làm phép rửa thống hối bằng nước sông Giođano. Chúa Giêsu ban nước hằng sống cho người đàn bà Samaria trong Tin Mừng hôm nay. Nước và Máu cứu độ từ cạnh sườn chảy ra trên cây thập tự.

Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận ra mối liên hệ dân Kinh thánh đã mường tượng giữa nước và Thiên Chúa : Nước là ân huệ Chúa ban, là quà tặng, là dấu chỉ của người cha nhân lành. Thiên Chúa săn sóc dân Ngài qua hình ảnh ban nước cho dân và đàn súc vật của họ. Nước nói lên ý nghĩa biểu chưng cho sự sống, nó còn ám chỉ chúng ta phải hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài về vật chất cũng như tinh thần. Không được Ngài liên tục nâng đỡ, dân Chúa sẽ héo khô như cây cỏ thiếu nước dưới ánh nắng mặt trời gay gắt như thiêu như đốt. Bài đọc sách Xuất hành hôm nay đặt dân Do thái vào giữa hoang địa khô cằn dưới chân núi Horeb. Họ phàn nàn vì thiếu nước. Horeb có nghĩa là "Khô". Xét về phương diện tinh thần thì ở giai đoạn này đúng là họ đang "khát" Thiên Chúa. Họ cần Ngài để đủ can đảm tiến bước vào sa mạc, lang thang suốt 40 năm trong hoang địa. Vậy mà họ chưa học được phải cậy trông Thiên Chúa ra sao ! Họ nhìn khắp chung quanh chỉ toàn là đe dọa. Tai họa có mặt khắp mọi nơi. Khát là một từ đầu lưỡi, bởi làm gì có nước trong sa mạc ? Vậy thì Thượng đế ở đâu ? Cái gì đã lôi cuốn họ đi theo Môsê và Thiên Chúa vô hình vào cái nóng ghê hồn của hoang địa "Horeb" ?

Cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng có những giây phút đầy thử thách như thế. Chúng ta bắt buộc phải "ra đi" vào những hành trình dài thăm thẳm về tinh thần cũng như vật chất. Cụ thể là cuộc sống khó khăn hàng ngày. Chúng ta cần phải thay đổi liên tục để có thể thăng tiến : Tìm kiếm tư vấn cho các nhu cầu của cuộc sống. Cần giúp đỡ để đối phó với tính hư nết xấu. Rời bỏ cương vị béo bở để có một nếp sống trong sạch và ý nghĩa hơn. Kiếm thêm thời giờ rảnh rỗi để giúp đỡ những kẻ bất hạnh. Chấm dứt đàng điếm với bạn bè xấu thói. Thôi không hút thuốc gây hại cho thiên hạ. Ở nhà để giáo dục con cái tốt hơn. Theo tiếng Chúa gọi đi truyền giáo miền đất xa lạ … Dẫu rằng bước ban đầu đầy khó khăn, bấp bênh và sợ hãi. Nó đòi hỏi bỏ lại đàng sau tiền tài, danh vọng, nếp sống ấm cúng cũ. Nhưng lời hứa hẹn những thứ tốt đẹp hơn thúc giục chúng ta tiến bước. Thí dụ kiêng ăn để được một thân hình mảnh dẻ cân đối hơn làm chúng ta khốn khổ, nhưng với hy vọng được thiên hạ khâm phục, chúng ta vẫn cứ tiến hành. Những điều quan trọng còn đòi hỏi hơn nhiều.

Vì thế con đường dẫn đến tự do tinh thần không thể không có khó khăn và hy sinh. Sự đổi thay có thể là rất dài, gập ghềnh và nhiêu khê. Thử hỏi dân Israel, con đường thoát khỏi nô lệ của họ lâu bao nhiêu ? Không dưới 40 năm ròng. Khó khăn thì chồng chất. Cố gắng lắm họ mới theo được tiếng gọi của Môsê đi vào hoang địa, và trung thành với thuở ban đầu. Cuộc đời nào mà chẳng có khía cạnh sù sì của nó. Nhìn lại quá khứ là bước vào cảnh nô lệ một lần nữa. Ðó là những cảnh nản chí, kêu ca của dân Do thái trong bài đọc một hôm nay. Chẳng lẽ chúng ta muốn lặp lại ?

Thánh Phaolô đã ngăn cản được tín hữu thành Roma làm điều đó. Ngài nhắc nhớ họ : "Anh em đã được công chính hóa nhờ đức tin". Ðối với người Do thái, đức tin đó là của Abraham. Còn với các tín hữu là của phép rửa tội. Nó là khởi đầu của đời sống mới, không phải do sức riêng mình, mà đến từ Thiên Chúa. Hay như Chúa Giêsu tuyên bố trong Phúc Âm hôm nay: "Nếu chị biết ân huệ Thiên Chúa ban". Tất cả đều là ân sủng. Chúng ta chẳng thể ép buộc ân sủng xảy đến cho mình, chúng ta cũng chẳng thể sản xuất ra nước trong hoang địa. Nhưng chúng ta cần ân sủng để sống còn. Nước - hình ảnh nhắc nhớ về Thiên Chúa - chúng ta đói khát, nhưng chẳng thể nào tự liệu được cho mình.Vậy mà chúng ta cần có nó hàng ngày để tiến thêm một bước trên con đường tiến đến tự do.

Thế thì, hiện thời chúng ta đang ở chặng nào trên con đường đó ? Ðói khát ra sao ? Thỏa mãn với những điều kém hơn Thiên Chúa ? Nhìn chung quanh toàn là bế tắc trong cơn khát cùng cực ? Xin hãy nhớ lại Thiên Chúa của Xuất hành. Thiên Chúa đầy hai tay những bất ngờ cho Dân Ngài ! Họ đang bị dồn vào điểm chết : Bờ biển sậy và vua quan Ai cập sau lưng ! Ðột nhiên biển mở ra - Họ băng qua biển khô chân. Họ chết đói trong sa mạc - Chúa ban Manna bởi trời. Và lúc này họ thiếu nước đến chết khát - Chúa truyền lệnh cho Môsê dùng gậy đập đá, đá vọt ra nước. Cây gậy giải phóng hay quyền năng Thượng đế ? Chính Thượng đế chịu trách nhiệm trên dân Ngài và Ngài đã ra lệnh để dân Ngài được cứu thóat. Cho nên không phải những đe dọa vật chất mà là sự sợ hãi nội tâm, sự mất tin tưởng vào Thiên Chúa gây nên những lo lắng ghê gớm cho chúng ta.

Ngày nay Thiên Chúa còn ở với chúng ta nữa không ? Hàng ngày chúng ta vẫn kêu ca như dân tộc Israel xưa. Liệu Chúa còn đáp lời, thực hiện những phép lạ ? Liệu Ngài còn khả năng giải cứu ? Thánh Phaolô nói rằng chúng ta đã được làm nên công chính nhờ đức tin. Chúng ta tin vào Thiên Chúa và ân huệ hằng sống của Ngài. Chính bởi vì chúng ta thiếu thốn mà ân sủng được ban. No đủ rồi thì cần chi nữa mà ban ơn ? Cầu nguyện hoàn hảo rồi thì cần chi đến ơn lành ? Chu toàn mọi lời giáo huấn rồi, trợ giúp làm chi ? Cho nên ân ban là bởi vì nhu cầu. Vậy thì ân sủng vượt ngoài khả năng của chúng ta. Ai đó sẽ giơ gậy đập tảng đá và nước sẽ chảy ra. Truyền thuyết ngoài Kinh thánh kể rằng hòn đá Môsê lấy nước di chuyển với dân Do thái suốt hành trình sa mạc và ban nước khi dân cần. Truyện đó thật không ? Có thể là thật cũng có thể là không. Ðiều muốn nói là Thiên Chúa luôn di chuyển với chúng ta, không phải như tảng đá lúc nào cũng sẵn sàng sản xuất nước. Mà như người cha săn sóc con cái trên mỗi chặng đường khó khăn để chúng ta được giải cứu. Câu truyện sau đây khó tin nhưng có thật. Bởi do chính nhân vật trong truyện nói ra : Một người bị ung thư khoe rằng nếu được cơ hội tránh bệnh, thì phản ứng của anh sẽ là không ! Bởi lẽ nhờ mắc bệnh, anh đã tìm được đời sống mới ! khó tin thật. Làm sao người ấy đủ can đảm nói như thế ? Nhưng ai đó đã đập tảng đá cứng và nó đã vọt nước ra. Phép màu này có ngày nào đến với chúng ta không ? Thánh Phaolô dạy rằng chúng ta được công chínhhóa nhờ đức tin. Bây giờ chẳng thể chứng minh được điều đó. Nhưng khi cần, Chúa sẽ thực hiện. Bởi Ngài là đá tảng di chuyển với chúng ta luôn mãi trong hoang địa trần gian. Amen.

Ý KIẾN MỚI VỀ EVA

(của một độc giả nhân dịp mùa Chay).

Xưa nay vẫn có ý kiến rằng : Evà vì yếu đuối nên đã sa ngã.

Tôi nghĩ không phải vậy. Tư cách bà ta rất mạnh. Bà là người duy nhất được dựng nên không trực tiếp từ bụi đất mà từ xương thịt Ađam. Nói theo kiểu tân thời, nhân bản Ađam. Bà là người trước nhất tranh luận, suy tư và trả lời cho câu hỏi Thiên Chúa đã truyền dạy cái gì.

Như vậy bà là người đầu tiên làm thần học ! Lệnh cấm ăn trái cây biết lành, biết dữ đã ban cho Ađam khi bà chưa được "sinh" ra ! Con rắn hỏi : Các ngươi không được phép ăn hết mọi trái cây trong vườn sao ? Evà sửa lưng con rắn : Mọi trái cây trong vườn chúng tôi được ăn trừ trái cây ở giữa vườn thì không được, bởi Thiên Chúa đã bảo: Khi nào các người ăn hoặc động tới, các người phải chết. Chỉ người trực tiếp nghe lệnh truyền mới có thể thêm vào lệnh cụm từ "đụng vào trái hay cây". Người nghe gián tiếp thì thêm thế nào được. Trừ phi lệnh đó lại ban ra lần nữa cho Evà, ngoài ra là suy luận.

Con rắn hợp lý hóa lời dối trá : Chẳng chết chóc gì đâu. Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra và sẽ nên như những vị thần biết điều thiện, ác.

Evà suy nghĩ : ăn trái thì có 3 lợi ích, bổ dưỡng, đã thèm và khôn ngoan. Bà hái ăn, rồi đưa cho chồng cùng thưởng thức. Ađam chẳng cần suy nghĩ : ăn liền. Ai có cá tính mạnh mẽ hơn ? Sau đó Ađam hèn nhát đổ lỗi Thiên Chúa vì đã cho ông Evà. Evà đổ lỗi cho con rắn … Coi chừng chúng ta là Ađam khi không đắn đo phải trái và là Evà khi tra xét lời Chúa. Làm thần học mà !


Fr. Jude Siciliano, OP.

CHÚA GIÊSU NGUỒN NỨOC HẰNG SỐNG
(Ga 4, 5-42)

Thưa quý vị,

Các Chúa nhật 3 và 4 mùa Chay đặt trước mắt tín hữu 3 biểu tượng lớn về đức tin. Đó là nước, ánh sáng và sự sống. Các biểu tượng này được thánh Gioan ưa thích sử dụng để miêu tả đời sống thiêng liêng trước ơn thánh của Thiên Chúa trong linh hồn chúng ta. Chúa nhật hôm nay là về nước, trong một dụ ngôn hết sức sống động : Câu chuyện Chúa xin nước uống nơi người phụ nữ Samaria ở giếng ông Gia-cóp.

Có lẽ đó là câu truyện của một bài giáo lý dự tòng thời Giáo hội sơ khai. Hội thánh sửa soạn họ để chịu phép rửa tội trong đêm vọng Phục sinh. Tuy câu truyện đơn giản nhưng ý nghĩa hết sức thâm thúy, nói về cuộc sống mới của người tín hữu, nhất là đời sống nội tâm của các tu sĩ, linh mục, hàng giáo phẩm. Càng suy ngẫm chúng ta càng thấm thía. Trước hết, chúng ta có thể đồng hóa với Chúa Giê-su trong cơn khát của Ngài, khi Ngài tiến gần giếng ông Gia-cóp. Rõ ràng Ngài cũng ở trong điều kiện hoàn toàn nhân loại như chúng ta : Chịu đói khát, nhọc nhằn vì hành trình xa xôi. Đường đi của Ngài là từ miền nam (xứ Giudea), ngang qua xứ Samaria (miền trung) về miền bắc (xứ Galilea), quê hương của Ngài, sau dịp lễ Vượt qua thứ nhất. Thánh Gioan viết : “Biết thế, Đức Giê-su bỏ miền Giudea mà trở lại miền Galilea. Do đó, Người phải băng qua Samaria (4,3)”. Người Do thái đạo đức thường tránh con đường này vì coi là đất lạc đạo. Họ đi đò vượt qua sông Giođan sang bờ phía đông, rồi lại đi đò lần nữa trên miền bắc để vào xứ Galilea. Con đường xa hơn nhiều so với đường tắt Samaria, nhưng tránh được đi vào đất thù địch. Chúa Giê-su chọn con đường tắt này và gặp chị phụ nữ Samaria ở giếng Gia-cóp vào buổi trưa, lúc vắng người. Đích thực là Chúa Giê-su đói và khát. Thánh Gioan kể tiếp : “Các môn đệ trở về … thưa với Người rằng Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa.” (4, 31) Câu truyện thật hấp dẫn, nhiều độc giả ưa thích nó, lấy làm mẫu mực cho văn chương nhân loại. Chúng ta cũng không tránh khỏi sự thu hút của nó, và có cảm tưởng như được đặc ân tham gia vào tính cách riêng tư của hai nhân vật đàm thoại, coi như chuyện của linh hồn mình (mà thực đúng là như thế).

Đối với những ai có đức tin thì đây không phải cuộc trò chuyện giữa Chúa Giê-su với người phụ nữ Samaria mà thôi. Nhưng là của bất cứ linh hồn đói khát đời sống tâm linh nào. Chúng ta được chứng kiến một phụ nữ không tin đã thay đổi nếp sống một cách ngoạn mục để trở nên một tông đồ nhiệt thành rao giảng về Chúa Ki-tô. Điều xảy ra cho chị khi xưa cũng là điều chúng ta được hưởng bây giờ, nếu chúng ta thành tâm phục thiện như chị. Tai hại thay, thực tế không được như vậy, bởi những bức tường tâm lý kiên cố mà chúng ta dựng nên chung quanh mình. Nhưng xin suy nghĩ lại, giữa sức nóng khủng khiếp trưa hè của cuộc sống, chúng ta cần đến “nước giải khát” để có thể sống đức tin trung thành. Chúng ta cần đến Chúa Giê-su. Nhiều khi phải vật lộn với hoàn cảnh để giữ vững lý tưởng, giống như các lữ khách sa mạc trên con đường khô khan nóng cháy. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta chẳng mấy được nâng đỡ về lòng đạo đức. Ngược lại bị “thập diện mai phục” bởi các cám dỗ xa lìa Thiên Chúa. Vậy thì tìm đâu được nước canh tân đức tin ? Chúng ta sẽ chạy đến với ai ? Các bài đọc hôm nay cho câu trả lời.

Trước hết, bài đọc Cựu ước trình thuật về cơn khát của dân tôc Israel. Họ khát và Thiên Chúa đã cho nước uống. Nếu câu chuyện đơn giản như thế thì chẳng có chi đáng nói. Đằng này, họ gây sự với Môsê và đe dọa ném đá ông : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai cập để làm gì ? Có phải để chúng tôi, con cái chúng tôi và súc vật của chúng tôi bị chết khát không ? ông Môsê kêu lên cùng Đức Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con.” Trong cơn khát, dân Do thái nổi loạn và trâng tráo đặt câu hỏi : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?” trả lời bằng cách cho họ uống nước thỏa thuê từ một tảng đá giữa sa mạc. Tảng đá này chính là Đức Ki-tô của giao ước mới. Tuy nhiên, những người nổi loạn bị Thiên Chúa giáng phạt chết hết cả đám trong 40 năm lang thang ở hoang địa (Tv 95, 11).

Phần các tín hữu, thánh Phaolô nói cho hay Thiên Chúa giải khát chúng ta bằng cách thức khác, qua Bí tích Thánh tẩy. Ngài tuyên bố với giáo đoàn Rôma rằng họ được công chính hóa nhờ Đức tin. Nghĩa là được Thiên Chúa cho no thỏa cơn khát thiêng liêng do Đức tin Ngài ban cho. Chúng ta cần nước rửa tội để tẩy sạch lỗi lầm khỏi linh hồn mình, khỏi lạc xa Thiên Chúa và chia lìa tha nhân. Trên “hoang địa” của cuộc đời mình, chúng ta chẳng thể nào tự cung cấp thứ nước ấy. Phải tuyệt đối cậy nhờ vào bàn tay Thiên Chúa. Thực tế, Ngài đã ban cho mỗi người khi lãnh nhận phép Thanh tẩy. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô công bố rõ như vậy khi nói về tình yêu Thiên Chúa dành cho các tội nhân : “Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” Cho nên, ơn Đức tin hoàn toàn là nhưng không do Đức Ki-tô mang lại cho mỗi tín hữu. Trong “sa mạc” cuộc đời, nhiều lúc chúng ta cũng tự hỏi : “Có Thiên Chúa không?” Thánh Phaolô trả lời “Có” bằng những chứng cớ rất cụ thể : “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Cái công thức ông dùng : “Công chính hóa nhờ Đức tin” nói lên một điểm hết sức cơ bản : Ngay từ khởi đầu cuộc sống tâm linh, khi chịu phép Thánh tẩy, ơn Đức tin là một quà tặng miễn phí Thiên Chúa ban cho mỗi người. Không ai có quyền đòi hỏi hay mua sắm được bởi công nghiệp riêng. Chúa Giê-su cũng nói rõ trong Tin mừng : “Nếu chị nhận ra ơn huệ Thiên Chúa ban.” Cho nên, chúng ta không thể nào sản xuất được nước giải khát trong “sa mạc” đời mình, cũng chẳng thể làm cho ân huệ Chúa xuất hiện trên mình. Vì tất cả đều đến từ Thiên Chúa. Chúng ta cần ơn Ngài để sống sót về tâm linh và mỗi ngày tiến dần đến tự do đích thực. Như vậy, cố gắng sống đạo đức thánh thiện trong mùa chay này để được Thiên Chúa xót thương là điều cần thiết.

Hằng ngày, chúng ta có nhiều cuộc trò chuyện. Có những câu chuyện không quan trọng. Chẳng hạn, nói chuyện để giết thời gian khi chờ đợi tàu xe, chuyện tầm phào trong quán xá, tửu lầu. Có những cuộc trò chuyện cần thiết như hỏi thăm đường xá, đi khám bệnh, mua bán, hàn huyên gia đình, đưa đón con cái học hành. Có những cuộc trò chuyện tối cần thiết như giáo huấn, bán tính làm ăn, sữa chữa lỗi lầm. Hôm nay, chúng ta có cuộc trò chuyện tối cần thiết giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ xứ Samaria, liên quan đến phần rỗi của chị. Bởi vì, vai trò của chị và tầm quan trọng của Chúa Giê-su nên câu chuyện trở nên căn bản cần thiết. Nó là vấn đề sinh tử : Con người là gì ? Tôi đang làm chi ? Rồi sẽ đi về đâu ? Tôi cần phải thay đổi như thế nào để cuộc đời có ý nghĩa ? Ngoại cảnh có làm cho tôi hạnh phúc không ? Đại loại như vậy và là những vấn đề thiết yếu. Tuy không phải lúc nào chúng ta cũng đưa ra bàn luận. Nhưng thỉnh thoảng người ta vẫn đề cập đến. Bởi chúng gây nên nhiều lo âu. Nên ngừng lại những bận rộn thường ngày, ngồi bên những giếng mát, như chị phụ nữ hôm nay, để tư lự về ý nghĩa cuộc đời. Thánh Gioan có thói quen ghi rõ ngày tháng và nơi chốn các biến cố và cho nó một ý nghĩa biểu trưng. Giờ thứ 6 tức phỏng 12 giờ trưa, lúc mà thiên hạ ít đến giếng kín nước. Vì tự cảm thấy nếp sống không tốt đẹp của mình, người phụ nữ lợi dụng lúc vắng vẻ để ra giếng, tránh những con mắt khinh bỉ của hàng xóm láng giềng. Người Do thái coi giờ này như giờ hoàng đạo của âm lịch, tức giờ xấu. Quý vị hiểu ra ý nghĩa thánh Gioan muốn chuyển tải ! Ngược lại, giếng Gia-cóp danh tiếng về lịch sử, chiều sâu và sự ngọt ngào mát mẻ của nước, ý nói đến nội dung tôn giáo của sấm truyền cũ. Chúa Giê-su đến thay thế cho giếng nước và chuyện vãn với một linh hồn tội lỗi để ban cho chị mạch nước vọt lên sự sống đời đời.

Tuy nhiên, tôi không muốn quá đi sâu vào chiều kích tâm linh, rời xa hoàn cảnh cụ thể hằng ngày. Gần đây tôi phải chịu đựng một trong những chuyến bay gồ ghề nhất, đến mức phải tự hỏi tại sao lại dại dột đến vậy. Số là vì nhỡ chuyến bay đi thành phố Dallas, tôi phải thu xếp chuyến bay khác và gọi điện thoại nhắn tin người đón tôi ở phi trường. Tôi tìm mua một bữa ăn Trung hoa đông lạnh. Nhưng có lẽ, người Tàu chính hiệu cũng không thể nhận ra nó. Tôi ngồi nhấm nhí bữa ăn trong khi chờ đợi chuyến bay tiếp. Rồi mở lá thư cũ ra đọc. Ông bạn viết thư cho tôi cũng là một thương gia bận rộn. Ông đi làm ăn khắp đó đây. Lá thư là một bài báo cắt từ tuần san sức khỏe, nhan đề : “Làm thế nào điều khiển được căng thẳng trí óc ?” Đúng là chuyện hợp thời. Tôi thích thú đọc lại. Tác giả khuyên : Hãy tìm những chuyện làm cho tinh thần bạn bay bổng. Và đề nghị : âm nhạc, đọc sách, giã ngoại sinh thái, suy ngẫm và cầu nguyện. Tuy không phải là tờ báo tôn giáo, nhưng tác giả thêm : “Hãy thường xuyên dành thời gian cho các hoạt động tinh thần.” Dưới ánh sáng Tin mừng hôm nay, tôi xin phép mở rộng : Và tìm thời gian cho các cuộc chuyện trò ý nghĩa nữa.

Câu chuyện Phúc âm là về một tâm hồn đang bị căng thẳng. Cô ra giếng một mình vào giờ vắng vẻ có thể cô cảm thấy tủi phận vì sống ngoải lề. Cô cần được cứu giúp và Đức Ki-tô đã nhận ra nỗi thống khổ của cô. Cô khao khát thứ nước làm cho linh hồn mình yên ổn. Cái giếng cô kín nước không có khả năng ấy. Cho nên cô dừng lại suy nghĩ, đợi chờ một sự giải thoát khác, một cuộc trò chuyện đầy ý nghĩa như tuần san sức khỏe trên đề nghị. Ngõ hầu tinh thần cô bay bổng khỏi tình trạng nặng nề hiện tại. Chúng ta được phép tham dự vào câu chuyện riêng của cô đúng theo bản chất của nó. Và ngay cả trước khi cô chạy về thành phố loan báo cho dân chúng biết câu chuyện của mình, thì chúng ta đã khám phá ra Đức Ki-tô là ai. Kỳ thực chính cô đã giúp đỡ chúng ta tìm hiểu về Ngài. Liệu chúng ta có đủ cam đảm thú nhận cơn khát của mình giống như của cô ? Liệu chúng ta dám dấn thân vào câu chuyện “ý nghĩa” với Chúa Giê-su ? Liệu chúng ta dám bộc bạch tâm tư với Ngài, để được lột xác như cô ? Vần đề đòi hỏi câu trả lời thành thực. Người phụ nữ Samaria nêu gương cho các tín hữu phải đối diện với Thiên Chúa ra sao ? Cô chỉ dẫn chúng ta lắng nghe Chúa dạy bảo, nhất là trong những dịp hội họp như Thánh lễ hôm nay. Cũng như cô, chúng ta phải sẵn sàng thay đổi. Cố chấp chẳng được lợi ích chi và đi tham dự Thánh lễ như vậy chỉ tốn thời gian vô ích.

Người phụ nữ bên giếng nước sẵn lòng đổi thay nếp sống của mình bằng cách đặt câu hỏi, lắng nghe và trả lời Chúa Giê-su ngay thật, để có cơ hội điều chỉnh lại hạnh kiểm của mình. Trong xóm làng, cô bị mang tiếng xấu vì có tới năm đời chồng. Có thể do lỗi của cô, nhưng cũng có thể cô gặp toàn bất hạnh vì các người đàn ông không trung thành, kiểu ăn bánh trả tiền, nhanh chóng phụ bạc cô. Chúng ta không có quyền xét đoán. Tuy nhiên, sự kiện không làm cho Chúa Giê-su từ chối trao đổi với cô. Đúng là do lòng thương xót của Chúa. Ngài sẵn sàng hiện diện trước mặt cô để ban ơn thay đổi. Chúng ta có thể mường tượng người phụ nữ này là lời an ủi khích lệ cho toàn nhân loại. Bởi tất cả đều là tội nhân, đều rụt rè trước tôn nhan oai nghiêm Thiên Chúa để thú nhận tội lỗi mình. Chúng ta không dám mở lòng mình ra và chuyện vãn với Chúa Ki-tô về tình trạng linh hồn. Gương can đảm của người phụ nữ thúc đẩy chúng ta mạnh dạn tiến đến cùng Chúa. Cô kích thích Đức tin của chúng ta đến hành động. Cho nên, Mùa chay này câu chuyện của cô sửa soạn chúng ta thành thực tuyên hứa lại lời thề Bí tích rửa tội trong đêm vọng Phục sinh tới. Chúng ta thâm tín rằng nước thanh tẩy sẽ rửa chúng ta khỏi mọi tội khiên, ban ơn tha thứ và giải phóng tín hữu khỏi các hình thức nô lệ. Chúng ta sẽ cùng nhau tụ họp bên giếng nước trong lành lắng nghe và trả lời những điều Thiên Chúa muốn dạy bảo mình.

Riêng trong buổi phụng vụ này, Thánh thể chính là giếng nước chúng ta cần phải uống. Giếng nước ban sự sống đời đời. Chúng ta có cơ hội tốt để lặp lại câu chuyện người phụ nữ Samaria. Chúng ta hồi tâm đàm đạo với Chúa Giê-su về câu chuyện ý nghĩa đời mình. Chúng ta đang ở giai đoạn nào của cuộc sống ? Dự tính đi về đâu ? Chúa Thánh thể sẽ ban hành lý thế nào để tiếp tục tiến bước ? Chúng ta cần mạch nước trong lành nào hiện giờ ? Gợi lại bài báo tôi đọc ở phi trường, chúng ta cùng với cộng đoàn giáo xứ lắng nghe rõ Lời Chúa trong các bài đọc, lãnh nhận sốt sắng đời sống của Ngài trong Bí tích Thánh thể. Đó là cơ hội tốt nhất để làm cho tinh thần mình “bay bổng”. Amen.


Lm. Jude Siciliano,OP.

Xin Ban Cho Con Nước Hằng Sống
Ga 4:5-42

Thưa qúi vị

Từ “di dân” (immigrant) ngày nay quen thuộc với hết mọi người, mọi quốc gia. Nhưng cách đây không lâu thị còn là ngôn ngữ lạ tại vì những người mới đến thường được ta gọi bằng từ khác: dân ngoại cư (alien). Phong trào di dân bây giờ cũng là chuyện thường tình. Lý do thì vô số: kinh tế, chính trị, tôn giáo, sắc tộc…

Ông tổ tôi là người miền nam nước Ý đại lợi. Tên họ chúng tôi chứng minh điều ấy. Cư dân nước Mỹ bây giờ đều như thế cả: Anh, Pháp, Đức, Ai nhĩ lan, Phi châu, Á châu. Ngay cả dân da đỏ, tự nhận mình là dân bản địa (native). Nhưng thực ra thì cũng từ nơi khác đến. Có thể là 20, 30 ngàn năm về trước . Chẳng cần khảo cổ, cứ tra cứu tên gốc của họ, tự khắc biết. Thời còn trẻ, dưới con mắt của tôi, ông bà cha mẹ tôi là những old folks (dân kỳ cựu) họ bỏ quê hương tìm đến “đất hứa”. Họ đã chịu đựng nhiều thiệt thòi, gian khổ, rét mướt, khinh dễ, thành kiến, ghét ghen, kỳ thị… và họ cam chịu để con cháu được hưởng phúc lộc hôm nay. Ông bà tôi kể, lúc mới đến người ta ghê tởm họ vì lầm tưởng họ là những kẻ ăn giun (trùng). Thực ra họ ăn spaghetti một đặc sản của nước Ý, nổi tiếng bây giờ, nhưng lúc ấy còn rất nghèo, nên spaghetti có màu xám. Ngoài ra họ thường bị hiểu lầm về nhiều chuyện khác do ngôn ngữ bất đồng. Về phần ông bà tôi thì cũng nhớ quê hương da diết bởi phải gánh chịu những nặng nhọc, khó khăn mới.

Vậy thì chúng ta hiểu tâm lý của dân tộc Israel trong bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Xuất hành:”Trong sa mạc, dân chúng khát nước đã kêu trách ông Môsê rằng: ông đưa chúng tôi khỏi Ai cập để làm gì ? Có phải để chúng tôi, con cái chúng tôi và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay sao ?” Tuyển dân cũng đang trên đường di cư. Họ rời bỏ kiếp nô lệ ở Ai Cập, nơi mà tổ tiên họ đã cư ngụ 400 năm, để về đất hứa. 400 năm là thời gian dài, họ đã cắm rễ sâu vào mảnh đất ấy, quen thuộc với phong tục, tập quán, nếp sống củ hành củ tỏi Ai Cập. Lúc này phải bỏ lại tất cả để ra đi, thì thật là khó, rồi phải đương đầu với những gian nan nhọc nhằn mới ở đất lạ quê người, chiến đấu với thiên nhiên, thú dữ, thổ dân. Cho nên tâm lý bất an, chao đảo là điều không thể tránh được. Như xuất hành thuật lại: Tác giả dùng hai từ cụ thể làm bằng cớ: Massah : thử thách và Meriba: chịu đựng. Cuộc hành trình thật dài, thật gian khổ, thất bại và thất vọng triền miên. Sách kể tiếp: Họ nghi ngờ kêu lên : Có Đức chúa ỏ giữa chúng ta hay không ?

Chúng ta có thể đồng hóa với tuyển dân trong mùa chay này, khi mà hằng ngày cũng gặp những giây phút tương tự, hoàn cảnh tương tự, trên con đường thiêng liêng, với bao cám dỗ của đồng đạo, đồng bào và thế giới chung quanh. Chúng ta than: Ích chi những khổ chế trong khi thiên hạ ngày ngày yến tiệc linh đình, ích chi khó nghèo, khiêm nhường, vâng phục; trong khi nhung lụa ê hề, kiêu căng tự khẳng định khắp hang cùng ngõ hẻm: Ti vi, báo chí, xã hội, kinh tế, chính trị, giáo hội, nhà tu ? Liệu tôi chịu đựng được bao lâu ? Liệu Chúa còn ở với tôi không ? Kết thúc rồi thế nào ? Điều chi ở phía trước ? Từ chối mình để làm chi ? Tốt nhất là người ta sao mình vậy ? Thử xem ai đã hơn ai ? Trăm nghìn cám dỗ ở chân núi Horeb như tuyển dân vậy.

Hiểu thế để chúng ta thấy rằng muốn trung thành với ơn gọi chúng ta phải khao khát Chúa. Chúng ta cần đến Ngài từng giây từng phút. Chúng ta phải thay đổi não trạng thế tục để có thể tiếp tục đi tiếp con đường đã “trót chọn” theo tiếng Chúa gọi. Chúng ta luôn cảm nghiệm sa mạc trong cõi lòng mình, cho nên luôn cần nước trong lành của Ngài để giải khát, chứ đừng thắc mắc: Tôi vào nhà dòng để làm gì ? Để rồi cố gắng thu tích sung sướng cho riêng mình.

Bởi lẽ, cứ như câu truyện hôm nay Chúa sai Môsê đập đá tảng cho chúng ta có nước uống. Chính từ những gian khổ hàng ngày, những vật lộn với các cám dỗ mà ơn thánh sẽ vọt ra làm đỡ cơn khát cho các môn đệ trung thành. Điều này không phải là khuyên nhủ ăn bánh vẽ. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaritana ở giếng Giacóp là bằng chứng chân lý. Câu truyện dài và quá quen thuộc. Nhưng hoàn cảnh hơi khác thường. Cứ theo thói tục. Thì phân biệt giới tính thời Chúa Giêsu rất nặng nể trong các xã hội Palestine. Đàn bà, con gái, trẻ em lúc ấy chẳng có chút địa vị và nhân phẩm nào. Họ thuộc “sở hữu” của đàn ông. Luật lệ do đàn ông ban hành. Phụ nữ chỉ có bổn phận vâng theo mù quáng và tuyệt đối. Chỗ của họ là ở nhà, bếp núc, con cái. Chỗ của đàn ông là đồng ruộng, nơi công cộng, chợ búa và cổng làng. Giếng nước là chung nhưng khác thời gian: Buổi sáng và chiều, đàn bà con gái. Đàn ông, các lúc còn lại. Nhưng người phụ nữ hôm nay ở giữa trưa vắng vẻ. Các chú giải bảo rằng vì chị ta nổi tiếng xấu, nên tránh đàm tiếu của dân làng. Không hiểu thực hư thế nào. Nhưng rõ ràng câu chuyện chỉ xẩy ra giữa hai người: Một, đàn ông Do thái, kẻ thù của dân tộc Samaritanô. Hai, phụ nữ trắc nết, thuộc cư dân rối đạo.

Chắc quí vị đoán ra ngụ ý của Gioan: Ông muốn đưa vào Tin mừng một cuộc cách mạng : xã hội, tôn giáo và chủng tộc. Một con đường tinh thần hoàn toàn mới: Xóa bỏ mọi ranh giới ngăn cách. Khơi dây trong lòng người ta nội lực vô tận. Xin đọc kỹ Phúc âm. Tác giả John P. Pilch đếm được 7 lần Đức Giêsu cất tiếng nói và 7 lần người phụ nữ ngỏ lời. Đó là điều mới lạ trong cộng đồng Gioan, nơi chỉ có đàn ông được phép nói. Người ta miệt thị phụ nữ, coi họ như nô lệ. Ngày nay cũng vẫn vậy, mặc dù lý thuyết có đổi khác.

Chính các tông đồ đi chợ về chứng kiến quang cảnh cũng lấy làm gương mù. Rồi thì chị ta lại dám đi vào thành loan tin cuộc trò truyện của mình với một đàn ông lạ mặt. Đúng là Đức Kitô đang thực hiện một cuộc “tạo dựng” mới. Tạo dựng bình đẳng giữa người và người tại một nơi rất tầm thường “giếng nước”. Nhưng ý nghĩa thật là sâu sắc. Giống như Thiên Chúa ngày thứ nhất dựng nên ánh sáng. Đức Giêsu cũng kéo người phụ nữ ra khỏi tối tăm của tâm hồn, khỏi nếp sống sa đọa của chị, ban cho chị dần dần ý thức được tình trạng nô lệ của mình và căn cước của người nóí chuyện với chị. Thoạt đầu, chị gọi Ngài là dân Do thái, sau đó tiến lên Đấng tiên tri, rồi Đấng thiên sai, cuối cùng Cứu Chúa của thế gian. Thì ra chị đã hiểu Đức Giêsu hơn ai hết trong giai đoạn này.

Phần Đức Kitô lại còn sâu sắc hơn. Ngài tế nhị xin nước của chị, rồi dần dần dẫn chị đến lòng khao khát “nước” Ngài ban cho chị, nước ấy vọt ra từ tâm hồn chị vươn đến sự sống muôn đời. Đó là nội lực của mỗi linh hồn. Ngôn ngữ võ nghệ gọi là thế công. Chúng ta nên suy nghĩ sâu xa hơn về biến cố này và áp dụng cho linh hồn mình. Kẻo cứ vô tâm chạy theo thế gian maõi.

Riêng đối với những ai làm việc truyền giáo, cũng nên học nơi bài đọc 3 hôm nay nghệ thuật thu hút linh hồn người ta. Không bằng tiền tài, danh vọng hoặc cưỡng chế thuyết phục, học thức hào nhoáng. Nhưng bằng kỹ thuật của Đức Kitô. Kỹ thuật đó cũng là “nội lực” của linh hồn Ngài, rồi tiếp đến xin người ta cho nước ưống, tức tài năng trí tuệ hiện trạng mà họ đang có, rồi dẫn đến sự thiếu thốn trong con người họ. Từ đấy nảy sinh lòng khao khát sự thật . Đức Kitô không dùng áp lực để tiến vào tâm hồn chị phụ nữ. Nếu như Ngài làm như vậy chị sẽ lập tức đóng cửa linh hồn chị lại, chứ không mở toang ra cho Ngài. Đây là sự khác biệt to lớn giữa những người tự nhận là thông thái, là độc quyền chân lý và Đức Giêsu, nhà truyền giáo thật sự và vĩ đại. Ngài khơi đầu câu chuyện bằng cách bày tỏ “nhu cầu” của mình: Ngài đang khát khao linh hồn người đối diện. Chị liền mở lòng ra ban tặng “nước” cho Ngài. Câu truyện tiến hành hết sức tự nhiên. Người đàn bà từ từ nhận ra “nhu cầu” của mình và tình nguyện xin “nước hằng sống”. Xin tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng lạ lùng thay Chúa bảo chị “nước” đó đang nằm sẵn trong trái tim chị. Chị chỉ cần khơi dậy và được uống thỏa thuê.

Than ôi, xưa nay chúng ta kiêu căng và ngu tối biết bao! Cho nên chẳng lạ gì thế giới vẫn đi trong đêm tối âm u. Bao nhiêu lần chúng ta rao giảng về Chúa, khoe mình là thông thạo về Ngài. Nhưng kỳ thực chưa bao giờ được gặp Ngài. Vì nếu gặp thì đã nên giống chị đàn bà Samaritana hôm nay. Vội vàng chạy vào thành báo tin và cả thành ùa ra đón Chúa và mời Chúa ở lại với chúng ta. Phúc âm kể rằng Ngài đã ở lại đó hai ngày. Sau cùng họ nói với chị: không phải vì lời chị mà chúng tôi tin. Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người là Đấng cứu độ trần gian.

Chúng ta dâng cho Chúa phần nhỏ nhất mình có, phần còn lại dành cho vinh quang mình. Ăn chay, đánh tội, khổ chế cũng vậy thôi, chứ chưa nói đến việc dung dưỡng xác thịt. Chúng ta quên rằng hy sinh cho Chúa, sẽ nhận lại gấp trăm. Ở Cana Chúa xin mấy người phục vụ đổ nước lã đầy các chum và kết quả là 6,7 trăm lít rượu ngon. Trên núi em bé cho Ngài năm cái bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ , vậy mà hàng vạn người ăn no nê. Hôm nay chị đàn bà cho Ngài uống chút nước và chị được nguồn suối tình yêu vọt lên đến sự sống muôn đời. Chúng ta nghĩ sao về mùa chay này, hy sinh cho Chúa hay tiếp tục gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Cái đó tùy lòng đạo đức mỗi người. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật op

Vị Cứu Tinh Nhân Hậu
Ga 4:5-42

Ðến với miền đất bị xa lánh

Sau những công việc tại Giêrusalem -xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ, đàm đạo với Nicôđêmô về cuộc sống mới-, Ðức Giêsu lên đường trở lại miền Galilê.

Trong cuộc hành trình này, Ðức Giêsu đã không theo con đường người Do-thái vẫn đi là tránh băng qua miền Samari. Từ thời đế quốc Át-xy-ri, người Do-thái và người Samari vẫn kình địch nhau, không giao du với nhau, mmỗi miền có đền thờ riêng. Ðức Giêsu biết điều đó và việc Người có mặt tại miền Samari không phải là chuyện tình cờ. Người có sứ mạng đến với mọi dân, mọi nước để đưa họ về với Thiên Chúa. Người là Ðền Thờ mới, và Ðền Thờ này được dành cho tất cả mọi người. Người là Ðấng quy tụ nhân loại, nên chính Người sẽ phá vỡ những rào cản đang phân rẽ nhân loại. Tình yêu cao cả đã buộc Ðức Giêsu phải có mặt tại Samari, miền đất thù nghịch với người Do-thái.

Ðức Giêsu đã đến Samari như một người thừa sai, một người luôn có những ý nghĩ tốt đẹp về người khác. Như vậy, không một miền đất nào bị bỏ quên ; không một người nào lại không được Người nhớ đến, dù kẻ đó có thế nào chăng nữa.

Ðể hiểu rõ điều này, có thể so sánh thái độ của Ðức Giêsu với thái độ của các môn đệ. Một làng thuộc Samari từ khước tiếp nhận Ðức Giêsu vì Người đang hành hương lên Giêrusalem. Thấy thế, Gia-cô-bê và Gio-an đã bày tỏ phản ứng của "con sấm sét": "Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không ?" (Lc 9,54). Ðức Giêsu lập tức quay lại và khiển trách các ông. Người đã tránh sang một làng lân cận. Người muốn đánh dấu lần Người đi qua cõi thế này bằng những hành vi nhân hậu, chứ không phải bằng những lần nỗ bùng lòng báo thù, và Người tìm cách ghi khắc cách xử sự này vào lòng các môn đệ.

Quả thế, Ðức Giêsu đã đến trần gian để tạo nên một sự gắn bó, để kéo nhân loại và vũ trụ đến với Người. Ðức Giêsu đi bước trước, nhưng Người không xuất hiện với những nét của một kẻ chinh phục đến thiết lập sự thống trị của mình, hoặc của một kẻ tuyên truyền rêu rao để áp đặt những ý tưởng của mình. Ðiều Ðức Giêsu trao ban trước tiên, đó là trái tim và Người muốn nhận lại trái tim của người khác. Người đến với tư cách là một người bạn, một Ðấng Cứu Thế, chứ không phải với tư cách quan toà đến xử án (xem Ga 3,17; 12,47).

Những tiến trình gặp gỡ

Cuộc nói chuyện dài giữa Ðức Giêsu và người phụ nữ Samari là những cấp độ tiến triển về mặc khải, về thiêng liêng mà điểm kết thúc là người phụ nữ nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Tinh.

Phản ứng đầu tiên của người phụ nữ khi nhìn thấy Ðức Giêsu bên bờ giếng, nghe Người xin nước uống, là câu nói về dòng giống. Nhưng câu trả lời của Ðức Giêsu cho chị hiểu rằng, ngay vào lúc này, Người là Ðấng ban ơn chứ không phải là người nhận ơn. Chính chị mới là kẻ cần đến sự giúp đỡ của Người (x. Ga 4,10-11).

Khởi đầu, người phụ nữ chỉ coi Ðức Giêsu như một người bộ hành mệt nhọc, đang cần nước uống, chứ không thấy được con người sâu xa của Người : chị thấy Ðức Giêsu là người Do-thái, không biết Người là Con Thiên Chúa ; chị thấy một con người mỏi mệt chứ không phải là người nâng đỡ những tâm hổn yếu nhược ; chị nhìn thấy con người đang cần nước chứ không biết rằng chỉ mình Người có khả năng làm dịu cơn khát của trần gian.

Sau khi nghe câu trả lời của Ðức Giêsu, tuy chưa hiểu rõ hơn về Người, nhưng chị cũng tỏ lòng kính trọng. Chị đỗi cách xưng hô : "Thưa Ngài". Tâm trí chị chưa vượt qua khỏi những quan niệm bình thường, chị vẫn nghĩ đến thứ nước uống tự nhiên, và mong muốn người đang đối thoại với chị cho chị thứ nước ấy, để chị khỏi phải đi múc.

Ðến đây, Ðức Giêsu đề cập đến điều bí ẩn nhất của tâm hổn chị. Người gợi lại đời sống của chị, không phải với cái nhìn từ trên cao hay với ánh mắt coi rẻ như một số người đàng hoàng trong đám dân Samari vẫn dành cho chị, nhưng là với tấm lòng muốn hoà giải chị với người chổng và giúp chị tiếp tục lại cuộc sống chung với chổng. Chỉ khi ấy chị mới có thể lãnh nhận nước trường sinh, và thay vì phải nô lệ một tình yêu bị cấm đoán, chị dấn thân vào tình yêu cao cả, và nhận được vẻ kiều diễm Ðức Giêsu muốn ban cho chị. Cần phải thay đỗi nếp sống, phải dẹp bỏ mọi trở ngại, phải chân thành mới có thể đón nhận ơn cứu độ.

Một lần nữa, người phụ nữ lại đỗi cách xưng hô với Ðức Giêsu ; chị coi Người là ngôn sứ. Ðổng thời, chị đỗi sang đề tài tôn giáo. Và với vấn đề này, Ðức Giêsu cũng đưa chị đến nguổn mạch sâu xa, đến vương quốc sự thật rất rộng lớn. Ðể đáp lại câu nói của người phụ nữ về Ðức Mê-si-a, Ðức Giêsu đã xác nhận : "Ðấng ấy chính là Ta, người đang nói với chị đây." (Ga 4,26).

Từ nay, trung tâm của việc tế tự không phải là Giêrusalem, cũng không phải là núi Ga-ri-zim, nhưng chính là Ðức Kitô.

Và giai đoạn cuối cùng đã đến. Người phụ nữ nói với người khác về Ðức Giêsu, chị nhận Người là Ðức Kitô. Chị không hề kể cho những người đổng hương về vấn đề thờ phượng Thiên Chúa, nhưng chị nói rõ những điều Người đã nói về đời sống của chị, cả những tội lmỗi còn giấu kín. Chị nói lên điều mà người ta nghĩ rằng chị nên giấu đi. Người phụ nữ Samari thực là một trong những người truyền giáo đầu tiên của Kitô giáo. Nhiều người đã tin lời chị.

Người phụ nữ đến giếng để múc nước, nhưng khi tìm được Nguổn mạch đích thực, chị đã bỏ lại vò nước, như các môn đệ đã từng bỏ lại lưới và thuyền.

Từ một người xa lạ, chị đã trở thành môn đệ của Ðức Kitô. Từ nhận xét ban đầu : người ngổi bên bờ giếng là người Do-thái, chị đã nhận ra người ấy là Ðức Kitô,
là Ðấng Cứu Tinh.

Một kinh nghiệm cho mọi người

Người phụ nữ Samari đã nhận ra Ðức Giêsu. Ở đây không phải là một phép lạ có tính cách hữu hình ; không là việc chữa lành bệnh, không là việc làm cho sáng mắt. Ðiều kì diệu đã xảy ra nơi tâm hổn tội lmỗi của người phụ nữ. Qua việc giải thoát tâm hổn khỏi tội lmỗi, Ðức Giêsu đã nhận được tước hiệu vinh quang, mặc dù Người chưa chịu treo trên thập giá.

Tước hiệu vinh quang : "Vị Cứu Tinh của trần gian"không phải chỉ là cảm nghiệm riêng của người phụ nữ, nhưng còn là của cả một đám đông dân chúng. Họ đã nghe câu chuyện người phụ nữ thuật lại và họ đã đến gặp Ðức Giêsu, đã nghe lời Người giảng dạy và đã tin.

Như vậy, cây thập giá vẫn hiện diện trong suốt cuộc đời Ðức Giêsu, và đã đem lại hậu quả trước khi Người bị treo lên.

Và Ðức Giêsu đã quên hẳn cơn khát, quên cả sự mệt nhọc. Người đã bắt đầu chu toàn sứ mệnh của Người khi hướng dẫn người phụ nữ tội lmỗi đến đức tin, thay đỗi lối sống : đưa về cho Chúa Cha những người biết thờ phượng theo thần khí và sự thật. Hình ảnh đám đông người Samari đến gặp Ðức Giêsu lại không phải là hình ảnh báo trước rằng Tin Mừng sẽ được loan báo đến tận cùng cõi đất ?

Ðức Giêsu đã có mặt tại Samari với tư cách của một Vị Cứu Tinh đầy nhân hậu. Người đã đến để cứu vớt, để xoá bỏ những hận thù, để mặc khải những điều sâu xa. Tại đó, Người đã kiên nhẫn thuyết phục người phụ nữ phóng túng về hạnh kiểm. Trong câu chuyện này, lòng nhân hậu của Người thật là một an ủi, một nguổn mạch dịu mát tất cả những ai đang mang trong lòng những phiền muộn, những thất bại và cay đắng.

Hãy đến gặp Ðức Giêsu

hãy thưa chuyện với Người

để thấy rằng mình được yêu thương.

Người đang chờ ...

Hãy nghe lời Người nói :

Nếu anh, nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban ...


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Gặp Gỡ Đức Kitô
Ga 4:5-42

“Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình.

Gặp gỡ Đức Kitô đón nhận ơn tái sinh.

Gặp gỡ Đức Kitô chân thành mình gặp mình.

Gặp gỡ Đức Kitô nảy sinh tình đệ huynh”.

Có lẽ tất cả chúng ta đều thuộc những lời ca trên đây của bài hát “Gặp gỡ Đức Kitô”. Những lời ca này có thể áp dụng rất thích hợp vào bài Tin Mừng hôm nay : Người phụ nữ Samari gặp gỡ Đức Kitô. Cuộc gặp gỡ này đã làm chuyển biến cuộc đời của chị. Chuyển biến như thế nào ?

Hôm ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ đi bộ từ miền Giu-đê trở về miền Ga-li-lê, có lẽ đã qua mấy ngày đường dưới nắng hè gay gắt. Trên đường đi, Chúa và các môn đệ đi qua thị trấn Xy-kha, thuộc lãnh thổ Samari, ở đó cố một cái giếng mà tổ phụ Giacóp đã đào dưới chân núi Ga-ri-dim. Giếng này sâu khoảng 39 m nên muốn uống nước, phải có gầu và dây dài thì mới kín múc được.

Khi tới đây, các môn đệ rẽ vào chợ để mua thức ăn trưa, còn Chúa Giêsu tới ngồi nghỉ chân bên bờ giếng. Cùng lúc ấy có một phụ nữ đội vò tới kín nước. Như vậy, người phụ nữ Samari này đi kín nước thì tình cờ gặp Chúa, chứ chị không hay biết gì và cũng không có ý định gặp Chúa. Chúa đang ngồi nghỉ chân bên bờ giếng, chị tới kín nước thì gặp Chúa, và Chúa đã gợi chuyện với chị bằng việc xin nước. Nhưng không phải Chúa khát mà xin nước uống, Chúa muốn dùng việc xin nước để nói về một vấn đề quan trọng hơn, có thể nói Chúa giả vờ xin nước để gợi chuyện. Ngài muốn nói cho chị biết : chính chị là người đang khát, và Chúa cũng muốn nói cho chị biết Ngài là ai, là người sẽ làm cho chị hết khát : “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” tức là gặp được Chúa là có tất cả, không còn khát mong gì khác nữa.

Chúa nói vậy, người phụ nữ không hiểu gì hết, nên Chúa đi thêm bước nữa, Ngài nói với chị về cuộc đời riêng tư của chị, khi đó chị nhận ra Ngài là một tiên tri, một ngôn sứ. Chúng ta thấy Chúa Giêsu không kết án, cũng không trách chị đã có đến năm đời chồng rưỡi. Đó không phải là điều Chúa muốn nói, điều Chúa muốn là chị nhận ra Ngài là ai, và Chúa đã thành công. Từ không biết đến nghi ngờ, từ nghi ngờ đến nhận biết. Chị nghi ngờ người đang nói với chị không phải là bất cứ ai, và chị đã nhận ra khuôn mặt mới : không phải chỉ là một ngôn sứ mà là Đấng Mê-si-a, Đấng Thiên Sai mọi người đang mong đợi.

Như vậy, người phụ nữ Samari gặp gỡ Đức Kitô, cuộc gặp gỡ đã biến đổi cuộc đời chị. Chị đã nhận được ơn tái sinh, tức là ơn đổi mới cuộc đời. Và chị cũng gặp được chính mình. Tin Mừng không cho chúng ta biết chị đã có quyết định thế nào, đã tổ chức lại cuộc sống của chị ra sao. Nhưng chúng ta có quyền tưởng tượng rằng : khi về nhà, chị không còn có thể sống như trước khi xảy ra cuộc kỳ ngộ này, chị không thể tiếp tục sống như trước mà cần phải đổi thay : chị sẽ sống đàng hoàng hơn, ít ích kỷ hơn, có thể yêu thương sâu xa hơn vì tim chị đã đổi thay. Thực vậy, muốn cho con tim biến đổi, cải hóa, thì phải đi vào tận chiều sâu của tâm hồn, phải đối diện, phải giáp mặt, phải chạm trán với chính cõi lòng mình, đúng như bài ca chúng ta hát : “Gặp gỡ Đức Kitô, chân thành mình gặp mình”.

Đàng khác, cuộc gặp gỡ của chị Samari với Đức Kitô cũng nảy sinh tình đệ huynh : hai dân tộc Do Thái và Samari có một mối thù truyền kiếp. Mặc dầu xưa kia họ cùng một dòng tộc Giacóp, nhưng họ đã chia rẽ nhau từ năm 935 trước công nguyên, khi vua Sa-lô-môn băng hà. Người miền bắc là Samari xây đền thờ riêng tại núi Ga-ri-dim, còn miền nam là Giu-đa, vẫn chọn Giêrusalem làm chính. hai bên kình địch nhau, cuộc bất hòa kéo dài đã hơn 400 năm, nhưng họ vẫn hoặc công khai, hoặc ngấm ngầm thù ghét nhau và tìm cách hại nhau. Cho nên lúc đầu chúng ta thấy người phụ nữ Samari ngạc nhiên, khi thấy Chúa Giêsu là một người Do Thái, lại nói chuyện với chị ta. Nhưng đối với Chúa Giêsu, Ngài biết tất cả, Ngài vượt trên tất cả, với lòng nhẫn nại và một chút khéo léo về tâm lý, Chúa đã chinh phục được lòng người và Ngài đã thực hiện việc hòa giải và hòa hợp trong dân tộc Ngài. Người phụ nữ đã hòa giải được sự rạn nứt, giằng co trong chính tâm hồn chị, hòa giải với Thiên Chúa, và hòa giải với đồng bào, hòa giải giữa hai dân tộc Do Thái và Samari.

Nói đến kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô, chúng ta hãy nhớ đến ông Gia-kêu lùn trong Tin Mừng, chính ông đã thú nhận : “Kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô của tôi rất độc đáo, phải thú thực rằng : tôi là một người thu thuế không mấy liêm chính, thế nhưng từ lúc gặp Đức Kitô, cuộc đời tôi đã thay đổi hẳn”. Như vậy, chúng ta có thêm bằng chứng về kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô. Và đây cũng là bài học nhắc nhở chúng ta.

Thực vậy, chị Samari gặp Đức Kitô, ông Gia-kêu gặp Đức Kitô, cuộc gặp gỡ này đã làm chuyển biến, đã làm đổi thay cuộc đời của hai người ấy. Đúng vậy, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai khát vọng tìm Ngài, tình thương của Ngài cao vượt trên muôn ngàn tội lỗi hư hèn của con người.

Như người phụ nữ Samari, như ông Gia-kêu, chúng ta cũng cảm nhận được sự yếu đuối tội lỗi của chúng ta, nếu chúng ta đến với Chúa bằng lòng ăn năn sám hối, chúng ta sẽ gặp Ngài, chúng ta sẽ nhận được tình yêu thương khoan dung của Ngài. Tóm lại, nếu chúng ta muốn thay đổi hay đổi mới cuộc đời mình, chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu, hãy gặp gỡ Ngài, bởi vì chỉ có Ngài mới làm cho cuộc đời chúng ta đáng sống, sống vui, sống mạnh, và sống có ý nghĩa.


Jos. Nguyễn Văn Thuần op

Chính chúng ta đã nghe và tin lời Chúa
(Ga 4, 5-42)

Cùng với Giáo Hội, hôm nay chúng ta tiến vào Chúa Nhật III Mùa Chay. Mùa Chay là mùa hồng ân Chúa ban cho mỗi người chúng ta có thời gian thuận tiện để tĩnh tâm, suy nghĩ và hoán cải... nhằm xây dựng đời sống thiêng liêng ngày một thăng tiến hơn. Qua đó, chúng ta có thể phát triển đến độ viên mãn hồng ân trọng đại mà chúng ta đã lãnh nhận trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa tội, để trở nên những phần tử sống động hơn của Giáo hội và ngày càng trở nên những người con đích thực của Thiên Chúa. Hôm nay chính chúng ta đã nghe và tin lời Chúa. Hơn thế nữa, chúng ta thực sự đã gặp được Đức Giêsu Kitô, Đấng luôn ban cho chúng ta nước hằng sống là Mình và Máu Thánh Ngài. Chúng ta hãy noi gương Ngài để chia sẻ những gì chúng ta đã lãnh nhận từ Thánh Thể mà trao ban cho tha nhân.

Trên con đường dẫn dân Ít-ra-en về đất hứa, Giavê Thiên Chúa đã dùng sa mạc làm trường học để huấn luyện, thanh tẩy và để hội tụ niềm tin của họ vào một mình Thiên Chúa duy nhất. Và ở giữa sa mạc, thỉnh thoảng người lữ hành có thể tìm một vùng cây cối xanh tươi, dịu mát để múc lấy sức sống từ mạch nước quí giá là Đức Giêsu Kitô. Theo một ý nghĩa nào đó, tiến vào bốn mươi ngày của Mùa Chay là chúng ta đang nối gót dân Ít-ra-en xưa kia trong cuộc hành trình xuyên qua sa mạc trần gian để tiến vào Đất hứa. Hơn nữa, chúng ta dõi theo bước chân của Đức Giêsu Kitô đi vào hoang địa để ăn chay và cầu nguyện. Qua đó, đào sâu thêm ý nghĩa của cuộc sống và nhận định lại bậc thang giá trị của đời sống chứng nhân.

 Bài Tin Mừng hôm nay dẫn chúng ta đến bên giếng nước trong lành để mời gọi chúng ta dõi theo bước chân của người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng. Bà đến để xách nước, nhưng lúc rời khỏi nơi đây bà đã bỏ chiếc vò đựng nước lại. Bởi lẽ, nơi giếng nước bà đã gặp gỡ một nhân vật có khả năng giải thích những vấn nạn mà bà hằng ôm ấp bấy lâu nay. Nhân vật ấy có khả năng giúp bà thoả mãn mọi khát vọng cũng như mở ra cho bà một chân trời mới, một hướng đi mới. Chính qua cuộc đối thoại với người lữ hành, bà đã cảm nhận được niềm vui chân thật chan chứa trong tâm hồn. Vậy, trên hành trình xuyên qua sa mạc của Mùa Chay, Đức Giêsu cũng đang ngồi bên bờ giếng để mời gọi chúng ta đến kín múc nguồn nước hằng sống là chính Ngài. Chính nhờ nguồn nước hằng sống ấy giúp chúng ta không bao giờ khát nữa.

Cũng như người phụ nữ Sa-ma-ri, hôm nay chúng ta đang quây quần bên Thánh Thể Chúa Giê-su để gặp gỡ và lắng nghe lời Ngài nói. Và chúng ta đã mang chính nguồn sống mà chúng ta đã lãnh nhận là Chúa Giêsu Thánh Thể, để từ nguồn sống cao quí thiêng liêng này, chúng ta có thể hướng dẫn tha nhân đến với Ngài, hay ít ra là cố gắng thể hiện thực tại Nước Trời trong gia đình, lối xóm và chính trong môi trường chúng ta đang sống và làm việc. Một Nước Trời của công lý, hoà bình và là nơi tình yêu chân thật được thể hiện qua sự hiệp nhất, cảm thông, liên đới và sẻ chia. Có như thế nguồn sống và lương thực mà Đức Giê-su thông ban cho chúng ta trong bí tích Thánh Thể mới trở nên như những nguồn nước trong lành, mang sức sống mãnh liệt cho xã hội. Bởi vì xã hội còn đầy dẫy những ích kỷ, ghen ghét, hận thù, độc tài, mưu sát, hối lộ, tham nhũng và những hành động bất công như sự chà đạp lên các quyền lợi chính đáng của con người.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, trong Mùa Chay và Phục Sinh sắp tới, lời giảng dạy của Chúa, nhất là cuộc khổ nạn và cái chết thảm thương của Ngài, đã nói lên quá đủ về sự nặng nề của tội lỗi, về sự cao trọng quý báu của ơn Chúa, nhất là ơn thánh hóa. Xin cho chúng con biết cố gắng tìm cách xác tín mạnh mẽ vào giá trị của ơn Chúa, hay đúng hơn của sức sống siêu nhiên thần linh mà Chúa đã ban; sau đó xin cho chúng con biết sống theo những gì mình đã xác tín và làm hết sức mình để bảo vệ và toả lan sự sống ấy cho những người chưa nhận biết nguồn nước hằng sống là chính Đức Giê-su Kitô. Amen.


Đỗ Lực op

Duyên Kỳ Ngộ
(Ga 4:5-42)

Có một tình yêu không bao giờ "vẹn câu thề", nhưng đã lưu lại những khúc ca chơi vơi như biển tình lai láng. 

Ngày mai em đi
Biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê
Gọi bờ cát trắng đêm khuya
Ngày mai em đi
Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ
Nghe buồn nhịp chân bơ vơ…
[1]

Trịnh Công Sơn đứng ở đâu để “gọi bờ cát trắng đêm khuya” mà thấy “sỏi đá trông em từng giờ” ? Riêng Chúa Giêsu đến bên bờ giếng Giacóp để gợi lên những giá trị lớn lao và sâu thẳm trong lòng thiếu phụ Samari. Không phải sỏi đá, nhưng ngay trong tâm hồn em, Thiên Chúa đang trông em từng giờ. Cuộc trao đổi thật kỳ thú và mở ra nhiều chân trời mới.

TRỞ LỰC PHẢI VƯỢT QUA

Hôm đó, giữa trưa hè nóng cháy, sau một chặng đường dài mỏi mệt, Chúa Giêsu đến bên bờ giếng Giacóp. Lúc này, chắc chắn các môn đệ nhìn Chúa không giống trên núi hiển dung chút nào. Như thế mới thật là “người” chứ ! Không còn cái gì trong thế giới loài người Chúa không chia sẻ ! Càng chiêm ngưỡng Chúa trong thực tại con người, càng thấy Người gần gũi trong những mỏng giòn, lo lắng, đau khổ.

Cơn đói khát càng làm tăng vẻ mệt mỏi. Các môn đệ vội vào chợ mua ít thực phẩm ăn trưa. Giữa lúc môn đệ ra đi, tình cờ một thiếu phụ đến kín nước và bắt gặp Chúa đang ngồi chờ ... Nếu là một chàng thanh niên Do thái khác, Chúa đã phải tránh ra một nơi, trước khi cô ấy đến bờ giếng. Nhưng không, Chúa vẫn ngồi đó như hẹn hò từ lâu.

Mở đầu câu truyện là một lời van xin : "Chị cho tôi xin chút nước uống !" (Ga 4:7) Thật ngược đời ! Chúa là nguồn của mọi nguồn suối lại phải xin một chút nước uống cho đỡ khát. Thiên Chúa không bao giờ đến với chúng ta như một ân nhân. Trước hết Người đến với chúng ta như một hành khất van xin tình yêu. Toàn bộ Tin Mừng đều cho thấy rõ điều đó. Chúa Giêsu không bao giờ có thái độ kênh kiệu như một người có quyền thống trị. Trước những người môn đệ như Giakêu và Phêrô, Chúa luôn tỏ ra nhỏ bé đợi chờ câu trả lời, van xin tình yêu : “Ông có muốn không ?”, “Anh có yêu mến tôi không ?”

Thực tế, trong mối tương giao nhân loại, một tình yêu đích thực bao giờ cũng phải van xin. Chính từ giây phút biết người ta cần mình, một sinh vật mới bắt đầu sống hay sống lại. Chúa Kitô luôn là người ăn mày tình yêu chúng ta. Từ thái độ khiêm tốn đó, Chúa đã đi sâu vào tâm hồn con người. Nhất là khi gặp phụ nữ Samari, một người ngoại bang và tội lỗi, Người cũng không thay đổi giọng điệu hành khất đó, dù biết rõ mình là một người Do thái. Có nhiều hàng rào ngăn cản phụ nữ này tiếp xúc với Chúa. Chính cô cũng lên tiếng cảnh giác Chúa điều đó. Nhưng Chúa vẫn cương quyết vượt qua những rào cản về xã hội và chủng tộc. Nhờ đâu ?

Trước hết, nhờ Thánh Linh, Chúa thấy tất cả những rào cản đó hoàn toàn bất công vì đã bóp nghẹt tự do và sự sống con người trong những truyền thống phi lý. Chúa tuyệt đối tự do, nên không thể chấp nhận những bất công đó. Chính vì muốn mạc khải mầu nhiệm Nhập thể sâu nhiệm, rao giảng sứ điệp tình yêu và lòng nhân hậu của Thiên Chúa, Ðức Giêsu đã được sai đến với mọi người nam nữ, nhất là những người nghèo khổ, bị tước đoạt, bị mất mát nhiều nhất.

Nếu Chúa Giêsu vượt qua mọi công ước và rào cản, chính vì trước mắt Người, không có ai bị loại trừ. Dù hoàn cảnh xã hội, đạo đức, hay tôn giáo, dù quá khứ có ra sao, ai cũng có thể gặp gỡ Chúa, miễn bằng lòng chấp nhận ân huệ Thiên Chúa đang hiện diện giữa tâm hồn và cuộc sống. Không có gì ngăn trở con người đến với Chúa.

Vấn đề chính yếu là làm sao gặp gỡ Thiên Chúa, khám phá ra tình yêu quảng đại của Người. Nhưng cuộc gặp gỡ này luôn đòi hỏi sự thật. Tình yêu không thủ đoạn. Không thể đóng kịch với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã bắt vào cuộc đối thoại với thiếu phụ Samari và dựa trên những nền tảng sâu xa, vì Người bắt nàng phải nhìn sâu vào tâm hồn. Người nói : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây." Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng." (Ga 4:16.17) Qua cuộc trao đổi này, Chúa không muốn bắt tội để hạ nhục nàng, nhưng muốn giúp nàng lớn lên và biết mở tâm hồn đón nhận sự thật. Từ trước tới nay, nàng sống trong sự dối trá, nên hoàn toàn mất tự do. Dối trá trong cuộc đời tư riêng cũng như trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Sự thật không biết nghiêng về đâu.

Sự thật chưa xuất hiện vì những tranh chấp tôn giáo giữa Do thái và Samari hầu như bất tận. Họ tưởng có thể nhốt Thiên Chúa vào một nơi mình mong muốn. Người Do thái muốn Chúa chỉ ngự trong đền thờ Giêrusalem. Trái lại, người Samari muốn trên núi Garizim. Nơi thờ phượng, Kinh thánh, truyền thống đều khác với Do thái, đến nỗi người Samari bị khinh miệt như dân ngoại đạo và bị loại trừ. Thật là một bất công quá sâu xa.

Làm sao giải quyết mối bất công tệ hại này ? Nếu đứng về phía Do thái, chắc chắn Chúa sẽ bị người Samari căm thù và ghét bỏ. Nếu đứng về phía Samari, người Do thái sẽ không để Chúa yên. Không phải bị giằng co mà Chúa tìm lối thoát qua một lập luận siêu thực. Chúa đã bắt đầu cho nàng biết một sự thật cốt yếu : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa” (Ga 4:11) trong tâm hồn chị, thì chính Thiên Chúa sẽ đến cư ngụ trong chị ! Ðó là điều cơ bản, là khởi điểm và đích điểm của toàn thể cuộc sống.

Như thế Chúa đã đánh thức ý thức chị về sự hiện diện của Thiên Chúa ngay trong tâm hồn mình và làm cho chị có thể chia sẻ sự hiện diện ấy với người khác bằng một việc thờ phượng đích thực. Người đánh thức chị về ân sủng đã có sẵn trong chị. Vấn đề không phải là nơi thờ phượng, nhưng là phải thờ phượng bằng cách nào. Thờ phượng trong Thần khí và sự thật nghĩa là thờ phượng nhờ ý thức Thánh Linh đang nằm sâu trong con người. Chính Thánh Linh làm cho chị có thể ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa. Thờ phượng đích thực là tôn kính Thiên Chúa bằng cách quảng đại cống hiến tất cả những gì mình đang có cho vị Ðại Ân Nhân của đời chị. Thế là một phép lạ đã xảy đến với chị. Nàng không thể đứng yên. Thoát khỏi những ràng buộc của tâm địa hẹp hòi, nàng đã lao mình vào vòng đam mê cứu rỗi toàn thể nhân loại. Thế là nàng đã chạy vô làng để loan báo cho dân chúng. Chúa đã ném lửa vào tâm hồn nàng. Toàn thể xóm làng đã cháy sáng trong Thần Khí và sự thật ! Từ nay dân làng sẽ trở thành những người thờ phượng đích thực. Tự do tôn giáo chính là đây ! Giêrusalem hay Garizim mất hẳn hấp lực. Từ nay trung tâm thu hút mọi người sẽ là chính Ðức Kitô, như dân làng tuyên xưng (x. Ga 4:42).

LÀM NGƯỜI TỰ DO

Nhờ gặp gỡ Chúa Kitô, thiếu phụ Samari đã trở thành con người tự do đích thực về ba mặt cá nhân, xã hội và tôn giáo. Nàng không còn mặc cảm làm người phụ nữ Samari nữa. Những tội lỗi quá khứ cũng không cầm chân được nàng. Nàng hoàn toàn làm người tự do, không còn lệ thuộc vào truyền thống, đẳng cấp xã hội và nơi chốn thờ phượng Thiên Chúa nữa. Từ nay nàng sẽ chỉ có một nơi thờ phượng duy nhất là trong Thần Khí và sự thật.

Bình thường, thiếu phụ Samari không dám xuất hiện trước đám đông, vì đời tư không được dân chúng tán thành.[2] Nhưng sau khi tiếp xúc với Chúa, tất cả con người nàng đã thay đổi. Nàng đã có đầy đủ sức mạnh để quy tụ mọi người về bên Chúa. Nàng nhận thức rõ ràng “trong và nhờ ÐứcGiêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, thế giới và con người nắm bắt chân lý đích thực và toàn vẹn.”[3] Qua cuộc trao đổi, nàng mới nhận ra Thiên Chúa gần mình hơn mình tưởng. Người hiện diện ngay trong tâm hồn con người. “Càng sống hiệp thông với Thiên Chúa, con người càng được tăng cường sức mạnh và được giải thoát ngay trong bản tính đặc biệt và tự do nổi bật của họ.”[4] Nếu không nhờ Người, làm sao nàng có thể nhận ra hồng phúc được hầu truyện với Ðấng Thiên Sai (x. Ga 4:39) ? Làm sao tâm hồn nàng được đánh thức để cảm thấy Thiên Chúa đang hiện diện ? Làm sao nàng được giải thoát khỏi mặc cảm thân phận phụ nữ Samari ? Làm sao nhận ra cách thờ phượng đích thực, không lệ thuộc Giêrusalem và Garizim ? Từ nay Do thái không còn lấy lý do gì áp chế người Samari nữa ! Bất công sẽ chẳng còn !

Muốn đạt đến tình trạng tốt đẹp đó, cần phải nỗ lực nhìn mọi sự trong ánh sáng đức tin. Chỉ đức tin mới cho chúng ta thấy “trong Ðức Kitô, chính Thiên Chúa được mạc khải như một ngươi Cha và phú ban sự sống cho chúng ta. Trong Ðức Kitô, con người lãnh nhận mọi sự như ân huệ từ Thiên Chúa một cách tự do và khiêm tốn. Con người sở hữu vạn vật khi nhận biết và nhờ kinh nghiệm biết vạn vật đều lệ thuộc Thiên Chúa, phát xuất từ Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa.”[5] Phải mất bao nhiêu thời gian và công sức, Chúa Giêsu mới có thể thuyết phục thiếu phụ Samari nhận ra chân lý đó ? Một khi đã thấy rõ thực tại ấy, nàng cảm thấy như bay trên mọi thứ biên giới trần gian. Không còn ngăn trở nào khiến nàng chùn bước trong công cuộc rao giảng Chúa Kitô cho mọi người.

Khi đã nhận ra chân lý đó, những tranh chấp về con người, xã hội và tôn giáo không còn ý nghĩa gì nữa. Chỉ Thiên Chúa mới có quyền trên mọi sự. Chỉ Thiên Chúa mới liên kết tất cả. Sự lệ thuộc vào Thiên Chúa không phá hủy tự do của con người. Nói khác, “vì con người là một thụ tạo, nên không có gì mâu thuẫn giữa tự do và sự lệ thuộc vào Thiên Chúa.”[6]

Bởi thế, khi được mạc khải về sự thờ phượng đích thực trong Thần Khí và sự thật, thiếu phụ Samari mới cảm thấy hết căng thẳng và nhận ra giá trị cao cả nơi con người Chúa Giêsu và chính mình. Quả thực, tự do tôn giáo là “quyền sống trong sự thật của niềm tin và phù hợp với nhân phẩm cao cả.”[7] Hơn nữa, “sự tôn trọng nhân phẩm đòi người khác phải nhìn nhận chiều cạnh tôn giáo của con người.”[8] Khi áp đặt niềm tin của mình trên người khác, rõ ràng con người không còn tôn trọng “quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo là một trong những điều tốt đẹp nhất của mỗi người.”[9]

Chính vì lệ thuộc vào truyền thống và đền thờ cũng như Kinh thánh mỗi bên, cả Do thái lẫn Samari không thể thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật. Dựa vào lề luật và phong tục riêng, họ còn định đoạt cái gì tốt xấu cho chính mình và người khác. Trước khi gặp gỡ Chúa, chắc chắn thiếu phụ Samari và dân làng đã sống trong sự hậm hực vì bị người Do thái chèn ép, khinh thị và lên án như loài quỷ sứ xấu xa, mặc dù họ cùng chung một lời hứa về Ðấng Cứu Thế như dân Do Thái. Ðó là một bất công nghiêm trọng nhất.

KHÔNG HẸN MÀ HÒ

Nếu không gặp được Ðức Giêsu, thiếu phụ và dân làng Samari mãi mãi sống sau những ranh giới phân chia con người với nhau và với Thiên Chúa. Quanh năm suốt tháng, họ chỉ biết những nhu cầu thường ngày và niềm tin cũ kỹ. Rất may, khi gặp Chúa, họ đã uống được nước “đem lại sư sống đời đời” (Ga 4:14) khiến cuộc sống họ thăng hoa trong thần khí và sự thật.

Bốn thế kỷ sau khi Chúa ra đời, giống như thiếu phụ Samari, thánh Augustinô cuối cùng cũng tìm được mạch nước hằng sống đó. Trong cuốn sách “Tự thuật,” viết giữa khoảng năm 397 và 400, thánh nhân cho thấy “trong ánh sáng Thiên Chúa, nỗi khốn cùng của con người trở thành lời ca tụng và tri ân Thiên Chúa, vì Thiên Chúa yêu thương và chấp nhận chúng ta. Người biến đổi và nâng chúng ta lên tới Người.”[10] Khác với thiếu phụ Samari, thánh Augustinô không chỉ làm cho một làng gặp gỡ Ðấng Thiên Sai. Thực vậy, “khi qua đời, thánh Agustino đã không để lại gì, ngoại trừ thư viện có rất nhiều thủ bản quý hiếm gồm cả các bút tích của người, mà thánh nhân dặn dò phải bảo trì. Qua các bút tích đó thánh nhân vẫn sống động và hiện diện giữa chúng ta ngày nay và tín hữu thuộc mọi thời đại”[11] để mọi người có thể tìm thấy công lý đích thực cho cuộc sống.

Nếu không phát xuất từ Thiên Chúa và con tim nhân loại, công lý sẽ đánh mất sự ấm áp của tình người và trở thành vô tâm. Chỉ Chúa Kitô mới có thể công bố và thiết lập một nền công lý đem lại ấm no, hạnh phúc cho con người, vì Người là điểm gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Thế mới biết, vì không có Thần Khí và sự thật, bọn Pharisêu chỉ tập trung vào hình thức của tôn giáo và lề luật. Họ đã phá hủy công lý tận nền tảng.

Ngày nay, nhìn vào nền công lý trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy gì ? Công lý đó có đem lại hạnh phúc, ấm no cho toàn dân không ? Qua giọng điệu tiêu biểu của chế độ sau đây, chúng ta sẽ mới thấy công lý bị đảo lộn tới mức nào. “Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng Ban Tôn giáo của Chính phủ,- cho rằng dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, tất cả đất đai đều quyền sở hữu của Nhà nước.”[12] Chỉ có xã hội chủ nghĩa mới có thứ công lý như vậy ! Công lý đã bị phá hủy hoàn toàn. Thử bỏ súng xuống xem nhà nước có dám lý luận như vậy không ? Có người còn nói nhà nước là cha mẹ nhân dân, nên có thể phân phát của cải cho ai tùy ý. Nếu đúng thế, “tại sao khi qui hoạch đất đai để mở rộng phố xá, đô thị, hay lập khu công nghiệp, chính phủ lại phải bồi thường giải tỏa làm chi ? Đất của Nhà nước thì cứ sử dụng như “đất chùa”, đâu cần phải thương lượng với ai !”[13] Thế mới biết khi nào cần, người ta có thể xoay đủ chiều để cho vừa cái bụng tham và củng chế độ bất công thối nát của mình, mặc cho dân oan đang đang rên siết khắp nơi.

Tóm lại, nhờ gặp gỡ Chúa Kitô, thiếu phụ Samari đã được giải oan. Từ mặc cảm tội lỗi, nàng đã tìm được một chỗ đứng trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Những bất công về xã hội và tôn giáo cũng biến mất, vì Chúa đã chỉ cho nàng biết đường lối thờ phượng đích thực chỉ có trong Thần Khí và sự thật. Gặp gỡ Chúa Kitô là gặp con đường giải thoát và đưa tới công lý thực sự trên mặt đất.

Gặp gỡ Chúa Kitô là tìm thấy công lý, “vì công lý xây dựng mối tương quan ngôi vị vững chắc giữa Thiên Chúa và dân Người qua Giao ước và Luật. Nhờ đó, chúng ta biết đường đi nước bước của Thiên Chúa và lòng từ bi của Người. Nhưng công lý cũng thiết lập những mối tương quan vững chắc đó giữa con người, dạy chúng ta biết kính trọng nhau và phát triển những mối tương quan chính đáng đưa đến hòa bình và hòa hợp. ”[14] Chúa Kitô xứng đáng là Ðấng cứu độ toàn thể nhân loại vì đã thiết lập được công lý trên trần gian.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế là đi gặp gỡ mọi người, và xác tín rằng họ đang được Chúa Giêsu tìm kiếm, yêu thương và cứu độ, bất chấp hoàn cảnh và lai lịch họ ra sao.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế là không bao giờ thất vọng về tình trạng thù nghịch và xung đột giữa chúng ta, nhưng tin tưởng Chúa Giêsu có thể bẻ gẫy mọi rào cản để quy tụ tất cả trong công lý và tình yêu duy nhất của Người.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế là chiêm ngắm Chúa trong hình dạng mệt mỏi, nhưng lại là Ðấng duy nhất có thể củng cố cuộc đời của những ai đang bị thương tổn, đổ vỡ và khai thác. Trên thập giá, một trong lời sau cùng cũng là lời đầu tiên Chúa đã ngỏ với thiếu phụ Samari : “Tôi khát !” Người sẽ ăn mày tình thương chúng ta. Nhưng từ trái tim Người, những mạch nước hằng sống tuôn ra cho tất những ai đang đói khát công lý và tình yêu trên mặt đất.

Lạy Chúa, ngày nay chúng con đang sống giữa bao nhiêu thành kiến và bất công. Xin Chúa sai Thần Khí đến để sự thật là Ðức Kitô đem lại sự giải thoát và hạnh phúc đích thực cho chúng con. Amen.

 đỗ lực 24.02.2008

 

[1] Trịnh Công Sơn., Biển nhớ.

[2] Bằng chứng nàng đã chọn trưa hè đổ lửa, lúc hoàn toàn vắng bóng người, để ra giếng kín nước.

[3] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội , 45.

[4] ibid.

[5] Ibid., 46.

[6] ibid., 136.

[7] ibid., 155.

[8] ibid., 553.

[9] ibid.

[14] Pinckaers, S., The Pursuit of Happiness - God's Way – Living the Beatitudes, 2005:98.


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp)

Đức Giêsu Mạch Nước Sự Sống
Ga: 4: 5-42

Chúng ta đang ở trong năm phụng vụ A. Vì vậy, chúng ta có cơ may nghe những tường thuật vĩ đại của Tin mừng Gioan trong ba Chúa nhật Mùa chay (Chúa nhật thứ 3, 4 và 5). Hôm nay, chúng ta gặp một người phụ nữ ở bên bờ giếng, tuần tới là người đàn ông mù từ thuở mới sinh và tiếp theo là việc làm cho Nazarô sống lại.

Hôm nay, chúng ta bắt đầu với nước. Xét về mặt thể lý, nước là phần tất yếu của sự sống. Cuộc đời của chúng ta bắt đầu trong cung lòng mẹ, được nước bao quanh và chúng ta cần nước để tồn tại suốt đời mình. Nước cũng đưa chúng ta vào sự sống với Chúa trong Bí tích Rửa tội. Vì thế, như chúng ta thấy hôm nay, nước là một trong những biểu tượng của Thánh Thần – nước sự sống tuôn trào bên trong chúng ta và mang lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu.

Trong bài đọc trích sách Xuất hành hôm nay, hãy đừng quá khắt khe với dân Israel, những người càu nhàu đòi nước trong sa mạc. Họ đã phải làm nô lệ khổ cực bên Aicập và ngay từ đầu họ đã nhận ra rằng, trốn thoát vào sa mạc và cuộc hành trình dài sau đó chẳng giống như chuyện bách bộ trong công viên. Sống ở thời hiện đại, khi khát chúng ta chỉ cần đi đến bình nước và thỏa mãn cơn khát.

Nhưng với nhiều người ngày nay điều đó cũng không phải như vậy – nhất là ở Châu Phi, nơi sa mạc Sahara mỗi năm mỗi rộng hơn. Cơn khát của chúng ta hầu như chỉ là cảm giác khó chịu, nhưng trong sa mạc thì nó đe dọa cuộc sống.

Toàn cảnh của cuộc Xuất hành là đầy rẫy những căng thẳng như việc dân Israel lầm bầm kêu ca với Môisê và việc Môisê than thở, nài xin với Chúa: “Con phải làm gì cho dân này bây giờ? Chỉ một chút nữa là chúng nén đá con!” Và rồi, như một bằng chứng rằng Thiên Chúa không quên những khó khăn của dân du mục này, Người đã ra lệnh cho Môisê đập vào tảng đá – và nước chảy ra.

Thiên Chúa làm những điều đó cho con người; giúp chúng ta trong những lúc khó khăn và những nơi hiểm nghèo. Bằng những cách lạ thường và qua những con người không mong đợi, cơn khát của chúng ta được thỏa mãn.

Một phụ nữ vừa trải qua một thời gian khó khăn, nói với tôi rằng cô đã tham dự Thánh lễ suốt nhiều tuần mà chẳng thấy được an ủi hay nhẹ nhõm chút nào. Chị ngồi lặng lẽ trong nhà thờ, tuần này qua tuần khác. Chị chú ý đến một “bà già ăn xin” nghèo ngồi ở hàng ghế gần chỗ mình, xung quanh là những thứ linh tinh bà cất đầy trong những túi giấy.

Một hôm người đàn bà ấy đến gần và nói với chị: “Này, tôi đã thấy cô ngồi đây hàng tuần. Nhìn cô buồn lắm và tôi đã cầu nguyên cho cô.” Cả hai bắt đầu nói chuyện và sau đó cùng ra quán café. Sau này, người phụ nữ này nói, “Chính người đàn bà hầu như chẳng có gì này lại chính là nguồn thanh thản và khích lệ đối với tôi!” Trong những nơi chẳng ra sao ấy, Thiên Chúa có thể hồi phục chúng ta với nước trong chính sa mạc chúng ta.

Người Dothái có một truyền thuyết kể rằng tảng đá Môisê gõ vào, làm cho nước chảy ra, đã đi cùng với họ suốt hành trình trong sa mạc và cung cấp nước cho họ. Câu chuyện này có thật hay không? Có vẻ là không. Câu chuyện này thật không? Thật – đối với những ai đã được thỏa mãn cơn khát bằng những nguồn mạch lạ thường vào những lúc khó khăn trong cuộc đời họ. Họ có kinh nghiệm cá nhân về tảng đá theo họ trong sa mạc và đã thỏa mãn cơn khát của họ.

Ai là người khát nước trong trình thuật của Gioan? Dĩ nhiên là người phụ nữ, nhưng không chỉ có mình chị. Chị đã đến giếng nước vào lúc nóng bức trong ngày – có lẽ không phải lúc thích hợp để lấy nước. Nhưng người đầu tiên tỏ ra khát nước lại là Đức Giêsu, và Người đã xin chị phụ nữ Samaria nước uống. Với yêu cầu đơn giản ấy, Đức Giêsu đã đẩy xa hơn biên giới của tôn giáo và văn hóa thời của Người. Người Dothái không được phép nói chuyện với người Samaria, và cũng không được dùng chung vò nước với họ. Đàn ông Dothái và phụ nữ không được nói chuyện với nhau nơi công cộng -- và chắc chắn một người đàn ông Dothái không được nói chuyện với phụ nữ Samaria!

Nhưng, Đức Giêsu nối liền hai bờ vực thẳm và phá vỡ những cấm kị khi Người mở lời với người phụ nữ để xin chút nước. Người phụ nữ nay ra như cũng quên mất địa vị của mình khi thách thức đức Giêsu phá vỡ tập tục truyền thống, “Sao ông có thể hỏi tôi, một phụ nữ Samaria, để xin chút nước?” Đặc trưng của những trình thuật của Gioan là có những tầng ý nghĩa nằm bên dưới bề mặt của trình thuật. Điều này đặc biệt đúng trong cuộc nói chuyện của Người. Cơn khát của người phụ nữ, với cuộc đời bị chia cắt của cô, thì sâu xa hơn cơn khát thể lý. Đức Giêsu biết cơn khát mà chỉ mình Người mới có thể làm thỏa mãn; vì chính Người là nguồn nước không làm thất vọng hay cạn kiệt.

Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu đã mệt vì hành trình dài và đến ngồi bên giếng nước. Cơn khát của Đức Giêsu cho thấy cơn khát sâu thẳm hơn Thiên Chúa dành cho chúng ta. (“Ta khát,” như Người thốt lên khi ở trên thập giá.)

Thiên Chúa khao khát chúng ta và đã đi tìm kiếm chúng ta. Vì thế, Đức Giêsu đến bất cứ nơi đâu có thể tìm thấy những người đang khát và trao ban nguồn nước không bao giờ cạn nhưng sôi sục trong chúng ta khi cuộc sống căng thẳng và làm chúng ta khát. Như những người du hành trong sa mạc, họ đi từ ốc đảo này sang ốc đảo khác, từ hố nước này đến hố nước khác. Đức Giêsu sẽ không mang lại nguồn nước theo từng thời kỳ, nhưng là một “dòng nước mang lại sự sống vĩnh cửu,” đi cùng với chúng ta từng bước trong suốt hành trình.

Nước mà Đức Giêsu nói đến là Thánh Thần, người đồng hành bền bỉ với chúng ta: nguồn vui của chúng ta và ý thức trong suốt thời gian khỏe mạnh, sự an ủi của chúng ta và sự hồi sinh trong những khi cuộc sống đầy những căng thẳng. Như nước, Thánh Thần hiện diện ngay khi chúng ta khởi sự đời sống mới trong phép Thánh tẩy, cũng như nguồn canh tân trong suốt cuộc đời chúng ta.

Điều gì xảy ra với người phụ nữ khi chị gặp Đức Giêsu và được người ban tặng nước sự sống? Trước hết, chị từ bỏ lối sống cũ, dấu hiệu là chị bỏ cái xô lại bên giếng. (Đoạn này không có trong trích đoạn Tin mừng hôm nay). Và rồi, với món quà của sự sống mới, chị trở nên người thi hành sứ vụ đầu tiên và chạy vào báo cho những người cùng thành của mình về những gì chị tìm thấy – hay là về Đấng chị nhìn thấy!

Người phụ nữ Samaria chỉ là người đứng đầu hàng trong hàng dài những chứng nhân của đời sống mới mà chúng ta có trong Đức Giêsu. Chúng ta là hậu nhân của chị, vì Thiên Chúa đã khao khát chúng ta và đã tìm thấy chúng ta, ban cho chúng ta nguồn nước mang lại sự sống. Chúng ta đã uống thứ nước này trong bí tích Rửa tội. Nhưng chúng ta bị khát lại do những đấu tranh trong cuộc sống và cuộc đời Kitô hữu trong những bối cảnh không được đón tiếp. Chúng ta cũng trở lại để được tẩy rửa nhờ nguồn nước sự sống vì những bước chân sai lầm của chúng ta, khi chúng ta đi xa khỏi sự kết hiệp với Chúa Kitô. Chúng ta đã được đổi mới một lần nữa khi “nguồn nước dẫn đến sự sống vĩnh cửu” qua Lời và Bí tích mà chúng ta cử hành hôm nay.

Người phụ nữ Samariaa là mẫu gương cho mỗi người chúng ta. Những gì chị nhận được và khám phá ra nơi Đức Kitô, chị nhanh chóng nói cho những người trong thành biết. Chị biết rõ họ là ai; chị cũng biết họ đang khát và cũng đang tìm nước. Đức tin của chúng ta là đức tin đi truyền giáo. Chúng ta không thể giữ cho riêng mình những gì chúng ta khám phá ra nơi Đức Giêsu. 

Giống như người phụ nữ kia, chúng ta cũng nhận ra cơn khát của những người thân cận, những cơn khát của họ chỉ có thể được thỏa mãn nơi Đức Giêsu. Có thể họ đã nói cho chúng ta về cơn khát của họ: “tôi đang cô đơn”. “Vợ tôi mới qua đời tháng trước”. “Lòng đạo trong tôi đã khô khan”. “Tôi biết mình cần có mục đích sống, nhưng tôi chẳng biết đó là gì”.… Khi họ nói với chúng ta những điều này, thì họ đã chọn đúng người để nói, vì chúng ta cũng từng khát. Nhưng chúng ta biết phải đi tới đâu – chúng ta đi đến bên giếng nước và thấy Đức Giêsu đã ở đó và chúng ta đã uống thỏa thuê thứ nước Người cho chúng ta.

Thánh Thần thì như thế nào? Trong Kinh thánh có rất nhiều hình ảnh mô tả Thánh Thần. Trình thuật Tin mừng hôm nay mô tả Thánh Thần như một giếng nước không ngừng tuôn trào. Đó không phải là thác nước; đó là giếng nước, một nguồn sức sống đến từ sâu thẳm bên trong một người.

Hôm nay, nước đóng vai trò như một biểu tượng thích hợp cho Thánh Thần, trong ánh sáng của vai trò chứng nhân của người phụ nữ. Chẳng lẽ quý vị lại không thích nước chảy – các đại dương, sông ngòi và thậm chí chảy lặng lẽ trong các ao hồ hay sao? Nếu chúng ta đã nghe thông điệp hôm nay từ Lời và để cho Lời ấy cư ngụ trong chúng ta, thì chúng ta giống như những dòng nước đang chảy và chảy đến với những ai đang khát. Giống như người phụ nữ này, chúng ta không cần phải học một lớp đặc biệt để làm điều đó – dù một số trong chúng ta liên quan đến những sứ vụ chính thức của giáo hội thì có thể có học. Nhưng hơn thế nữa, chính tương quan của chúng ta với những người khác sẽ hướng dẫn chúng ta chia sẻ nguồn nước sự sống đã tuôn trào trong cuộc đời chúng ta. Việc làm chứng của chúng ta không chỉ gói gém trong phạm vi những buổi họp mặt trong giáo hội chúng ta. Như bài Tin mừng hôm nay, nơi chốn không phải là vấn đề quan yếu – người lắng nghe Lời và đáp lại trong thờ phượng, là “nơi thích hợp” để những ai đang khát có thể gặp được Đức Giêsu. 

Lm. Jude Siciliano, O.P.

HÃY TRỞ NÊN NHỮNG MÔN ĐỆ TRUYỀN GIÁO

Xh 17,3-7; Tv 94;  Rm 5,1-2.5-8; Ga 4,5-42

Thưa quý vị,

Tôi không nghĩ rằng các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay phản ứng tích cực như thế. Tin Mừng theo thánh Gioan vốn giàu tính biểu tượng, và đoạn Tin Mừng hôm nay là một điển hình. Sau đây là một thí dụ về nội dung biểu tượng của thánh Gioan: Các môn đệ đi mua thức ăn. Các ông đang suy nghĩ ở mức độ vật chất; các ông sẽ mua những thứ được cho là cần thiết. Mỗi khi xem trọng lương thực, thì các ông sẽ bỏ lỡ thực tại sâu xa về những điều Đức Giêsu phải ban cho các ông. Khi mua thức ăn trở về và trông thấy Đức Giêsu đang trò chuyện với một phụ nữ, các môn đệ tỏ ra ngạc nhiên, nhưng rồi họ vẫn im lặng.

Sau khi người phụ nữ trở về thành, các môn đệ đã trao cho Đức Giêsu lương thực họ mới mang về. Lúc đó Đức Giêsu cho các ông biết Người đã chuẩn bị một thứ lương thực khác: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết”. Các ông không hiểu và tiếp tục im lặng. Các ông không hiểu Đức Giêsu đang muốn nói về điều gì.

Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, im lặng không phải là cách tốt nhất để đạt tới sự hiểu biết sâu sắc. Trong Tin Mừng, có những cuộc đối thoại mang tính trao đổi khá dài, và những ai dấn thân vào cuộc đối thoại với Đức Giêsu thì họ đều tin vào Người – chẳng hạn anh mù được Đức Giêsu chữa lành (9,1-40), khi kết thúc cuộc đối thoại, anh ta tuyên xưng với Người rằng: “Thưa Ngài, tôi tin”.

Đang khi các môn đệ im lặng, thì người phụ nữ Samari lại bị cuốn hút vào cuộc trò chuyện với Đức Giêsu đến nỗi chị không thể bỏ đi, dù biết rằng Đức Giêsu là người Do thái, còn chị là người Samari; Người là đàn ông, còn chị là phụ nữ. Những yếu tố này lẽ ra sẽ ngăn cản mọi cuộc trao đổi công khai giữa Đức Giêsu và người phụ nữ. Nhưng người phụ nữ kia mở lòng đón nhận sự thật, bất kể sự thật có nguồn gốc từ đâu. Kết quả của cuộc trò chuyện là chị tin vào Đức Giêsu. Thậm chí chị còn giới thiệu cho nhiều người khác tin nữa. Người phụ nữ để vò nước lại*, rồi trở về với cộng đồng nơi chị sinh sống và làm chứng cho họ biết chị đã gặp Đức Kitô. Ban đầu chị hồ nghi, rồi chất vấn nhiều điều, nhưng khi nghe những câu trả lời của Đức Giêsu, chị liền trở thành người truyền giáo cho dân tộc của mình.

Người phụ nữ Samari nhắc nhớ cho những ai còn hồ nghi, hay đang nỗ lực để tin, hãy tiếp tục trò chuyện với Đức Kitô. Chị đi tìm nước thể lý và chị đã gặp được “nước hằng sống” là chính Đức Giêsu, Đấng làm cho chị hết khát về mặt thiêng liêng. Nước thể lý mà chị đang kiếm tìm chỉ có thể giúp chị hết khát trong một ngày; còn “nước hằng sống” mà Đức Giêsu ban cho sẽ giúp chị không còn khát nữa và đem lại cho chị sự sống đời đời.

Lương thực Đức Giêsu nói rằng mình đã dùng là loại lương thực nào vậy? Người được nuôi dưỡng bởi lương thực này là: thi hành ý muốn của Thiên Chúa và những ai tin vào Người. Trong câu truyện này, người phụ nữ và những người Samari* đều là lương thực của Người. Bạn có bao giờ để ý cảm giác hài lòng và hân hoan của những tình nguyện viên, bất chấp phải mất nhiều thời gian và công sức cho một dự án trong giáo xứ của họ hoặc của một cơ quan từ thiện hay chưa? Ắt hẳn quý vị nhận ra một điều rằng, có ai đó đang cho họ ăn một loại lương thực mà những người khác không có. Và trong một chừng mực nào đó, thức ăn này xem ra còn vừa ý hơn nhiều so với thức ăn mà họ đã bỏ lỡ khi đang phải lo cho việc tông đồ.

Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium) của Đức Thánh cha Phanxicô nhắc nhớ mọi người đã được rửa tội rằng: giống như người phụ nữ kia, chúng ta là một dân tộc “hành hương và truyền giáo”. Ân sủng Thiên Chúa kéo chúng ta đến với Đức Kitô và hiện nay cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, chúng ta phải là những người truyền giáo (số 111). Đức Thánh cha gọi Dân Thiên Chúa là “những môn đệ truyền giáo”– “Bất kể vị thế của họ trong Hội Thánh là gì và trình độ giáo dục đức tin của họ như thế nào, họ đều là những cộng sự viên của việc rao giảng Tin Mừng… Việc Tân Phúc Âm hóa mời gọi sự dấn thân mang tính cá vị của từng người đã được rửa tội”(số 120).

Tất nhiên chúng ta cần một sự giáo dục và đào tạo đức tin tốt hơn. Tuy vậy, lý do này cũng có thể là nguyên cớ khiến chúng ta hoãn lại trách nhiệm chia sẻ niềm tin với tha nhân. “Giai đoạn đào tạo” của người phụ nữ Samari bắt đầu từ lúc chị gặp gỡ “diện đối diện” với Đức Giêsu; chị nêu lên những thắc mắc, rồi lắng nghe Người giải đáp. Đang khi người phụ nữ háo hức trò chuyện với Đức Kitô, thì các môn đệ chỉ là những khán giả. Đức Thánh cha khuyên nhủ chúng ta, “những môn đệ truyền giáo” hãy làm đều người phụ nữ đã làm, đó là:  lắng nghe Lời Chúa và tìm những dịp thuận tiện để chia sẻ Lời đó với tha nhân.

Mỗi chúng ta có thể tìm ra những cách thức để trở thành những nhà truyền giáo. Người phụ nữ kia đã không thu dọn hành trang, và cũng chẳng đi theo Đức Giêsu. Chị chỉ trở về cộng đồng để chia sẻ những gì đã xảy ra cho chị trong cuộc trao đổi với Đức Giêsu. Thế rồi chị tránh sang một bên và để cho dân trong thành có thời gian gặp gỡ Đức Kitô. Sau đó, những người Samari này đã nói về kinh nghiệm gặp gỡ của họ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian”.

 “Chính chúng tôi đã nghe”. Người phụ nữ kia rao giảng Tin Mừng bằng việc chia sẻ niềm tin của chị. Tuy nhiên, những người khác phải đến với Đức Kitô thì mới có được kinh nghiệm cá nhân. Đức tin không bắt đầu bằng một mớ giáo lý, nhưng bằng cuộc gặp gỡ “diện đối diện” với Đức Kitô.

Nên lưu ý rằng người phụ nữ kia đã nói về Đức Giêsu cho những người thân cận nhất. Vào ngày Chúa Nhật trước mùa Chay, một người bạn của tôi đã nghe bài giảng về việc tuân giữ chay tịnh. Cha xứ nói rằng: “Có lẽ nhiều người trong chúng ta cho rằng việc thôi dùng sôcôla, rượu hay món tráng miệng là việc hy sinh mùa Chay”. Ngài nói tiếp: “Có ai biết được rằng dù chúng ta giảm một vài cân, nhưng ngay khi mùa Chay kết thúc, chúng ta sẽ lại tiếp tục dùng sôcôla, rượu và món tráng miệng y như trước”. Thế rồi cha xứ đã trích dẫn lá thư mà ngài đã đưa lên bảng thông tin Chúa nhật hôm đó với tựa đề: một cách thức ăn chay khác.

Đây là một số lời khuyên của cha xứ về việc kiêng khem trong suốt mùa Chay. “Chay sự giận dữ, thực thi lòng nhân ái. Chay những hận thù, thực thi lòng khoan dung. Chay việc báo thù, cầu nguyện cho kẻ thù…” Sau Thánh Lễ, bạn tôi đi dùng bữa lỡ với một vài người bạn. Họ nói về những gì họ sẽ từ bỏ trong mùa Chay – hầu hết trong số họ đều không phải là những người năng tới nhà thờ, nhưng dù sao họ quyết định không dùng những thứ như sôcôla, rượu và món tráng miệng. Chị nhận xét rằng dường như họ đang bàn luận về Hội những người giảm cân, chứ không phải đề cập đến mùa Chay. Bạn tôi rút ra từ túi xách tay một danh mục các việc ăn kiêng cha xứ đề nghị và nói: “Đây là những điều mà hôm nay khi ở nhà thờ, cha xứ tôi đã gợi ý thực hiện cho mùa Chay. Một ngày nào đó khi mùa Chay qua đi, chúng ta vẫn có thể tiếp tục thực hiện những việc ăn chay như thế này”. Thế rồi cô ấy đọc những lời đề nghị từ bản thông tin giáo xứ, và tất cả cùng trao đổi với nhau. Tôi nghĩ rằng Đức Thánh cha Phanxicô sẽ gọi bạn tôi là một “môn đệ truyền giáo”.

Bạn tôi và chúng ta nữa, những người được rửa bằng “nước hằng sống” đều trải qua kinh nghiệm mà chúng ta có được tại bờ giếng và chia sẻ kinh nghiệm ấy với tha nhân. Một số người nói rằng họ cảm thấy rụt rè, sợ sệt hoặc không hiểu biết gì khi nói về “tôn giáo”. Đức Thánh cha Phanxicô khuyên chúng ta rằng vấn đề không bắt đầu bằng “tôn giáo”, nhưng bằng cuộc gặp gỡ cá nhân chúng ta với Đức Kitô. Bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhớ rằng chúng ta không lẻ loi một mình, vì Đức Giêsu bảo đảm “nước hằng sống” Người ban cho sẽ ở lại với chúng ta, và trở thành “một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”, nhưng chỉ khi chúng ta khao khát nước đó.

 

* Đây là một trong những hành vi biểu tượng khác của thánh Gioan.

* Những người được bà ta giới thiệu đến gặp Đức Giêsu.