Năm A

 
 

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY A

St 12:1-4a ; 2 Tm 1:8b-10 ; Mt 17:1-9
 

An Phong op : Ra Ði Trong Niềm Tin

Như Hạ op : Giữa hai lằn đạn

Fr. Jude Siciliano op : Nhìn về tương lai huy hoàng phía trước

G. Nguyễn Cao Luật op : Ðỉnh cao hôm nay – Đỉnh cao ngày mai

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Thập giá và vinh quang

Vincente Trọng Đại op : Chúa Hiển Dung Củng cố Đức tin Các Tông Đồ

Thomas Trần Ngọc Tuý op : Đường Lên Núi Chúa

Đỗ Lực op: Trên Đỉnh Non Cao

Fr. Jude Siciliano,op : Xin chạm vào con để con chỗi dậy

Fr. Jude Siciliano, op : Vác thập giá hàng ngày mà theo Thầy

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy đứng lên, đừng sợ!

 

 


An Phong op

Ra Ði Trong Niềm Tin
Mt 17:1-9

Abraham nghe lời Chúa kêu gọi, đã bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha để lên đường đến đất Thiên Chúa chỉ cho. Abraham chưa thấy Ðất Hứa; Abraham ra đi mà không có một bảo đảm nào; Abraham chỉ thấy trước mắt là : phải từ bỏ, phải mất mát, phải phiêu lưu. Hành trình của Abraham là hành trình của niềm tin. Chỉ có niềm Tin vào Lời Hứa của Chúa là hành trang thật sự của Abraham.

Ðức Giêsu lên Giêrusalem để chịu tử nạn. Trên hành trình đó, Chúa Giêsu biến hình, tỏ ra cho các môn đệ thấy ánh sáng của Thiên Chúa và tiếng nói từ trời : "Ðây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Ngườl. Các ngươi hãy vâng nghe lời Nguời". Những điều đó nhằm củng cố niềm Tin của các môn đệ trên con đường đi vào cuộc tử nạn của Thầy mình.

Hành trình của Abraham, hành trình của các môn đệ, cũng là hành trình của người kitô hữu sống niềm Tin trong cuộc đời. Tin vào Thiên Chúa, chúng ta có thể bị mất mát, bị thua lỗ, bị giới hạn trong nhiều cách thức : không được gian dối, không được bất công, không được trả thù, phải chay tịnh…; mà nhiều khi chúng ta không thấy một đền bù hay bảo đảm nào. Người kitô hữu đích thực chỉ vì tin vào Chúa mà can đảm sống đạo giữa cuộc đời. Chỉ có một lòng trung tín với Chúa Giêsu - "Con Yêu Dấu của Chúa Cha, Thầy của mình" - là ánh sáng, là sức mạnh, là đảm bảo cho Lời Hứa của Thiên Chúa.

Giây phút huy hoàng trên núi chỉ diễn ra trong chốc lát; và các môn đệ phải cùng Chúa Giêsu xuống nuí, đi lên Giêrusalem. Nhưng một chút ánh sáng đó đủ cho người sống niềm Tin biết rằng Thiên Chúa luôn đồng hành với ta trong cuộc đời; một Lời Kêu Mời ngắn ngủi đó đủ cho ta xác tín rằng, nếu chúng ta luôn vâng nghe lời Con Chúa, thì Ngài cũng thực hiện lời hứa của Ngài.

Lạy Thiên Chúa, Chúa chúng con,

Xin cho chúng con biết nhận ra Chúa trong thế giới.
Biết nhìn thấy Chúa
nơi mọi biến cố trong lịch sử cuộc đời chúng con.

Xin mở rộng tâm trí,
để chúng con biết tìm kiếm Tình Yêu Chúa;

Xin uốn nắn miệng lưỡi;
để chúng con biết xưng tụng Thánh Danh Chúa;

Xin hướng dẫn bàn tay,
để chúng con xây dựng vương quốc của Chúa;

… Vì chính Chúa
mới ban cho cuộc sống của chúng con một ý nghĩa đích thực.

Dựa theo Francois Chagneau


Như Hạ op

GIỮA HAI LẰN ÐẠN
Mt 17:1-9

Chân phước Fra Angelico, Dòng Ða Minh, là một nhân vật nổi tiếng vì "có khả năng hiện đại hóa và thích ứng việc rao giảng Tin Mừng với nhu cầu thời đại theo đường lối đặc biệt. Ông có khả năng nói với người thời đại hôm nay bằng ngôn ngữ sống động của nghệ thuật hội họa, một sự kết hiệp tuyệt vời và tài tình giữa cái đẹp và sứ điệp Kitô giáo nhân bản. Toàn bộ tác phẩm về hai thánh Stêphanô và Lôrensô của ông xoay quanh đức ái đối với Thiên Chúa và anh chị em. Một đức ái coi người nghèo là những kho tàng đích thực của Giáo Hội và cố gắng hiến thân minh chứng niềm tin là động lực thúc đẩy việc bác ái." (Vidimus Domininum, 16/2/2002)

BIẾN MÀ KHÔNG BIẾN.

Tình yêu là động lực chính tạo nên cảnh biến hình trên núi hôm nay. Cuộc đời Ðức Giêsu bắt đầu chuyển vào lối rẽ khi "Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao" (Mt 17:1) để mạc khải tất cả sức mạnh tình yêu. Không tình yêu, chắc chắn các môn đệ còn trăn trở mãi với những hình ảnh đau thương về thân phận Thầy trong tương lai. Lời tiên báo Thày "phải chịu nhiều đau khổ" và "bị giết chết" (Mt 16:21) đã gây bàng hoàng cho các môn đệ. Cuộc biến hình đã thay hình đổi dạng Thày bên ngoài, nhưng thực sự đã biến đổi các môn đệ tự bên trong. Tất cả những biến đổi đó đều để chuẩn bị cho cuộc biến đổi lớn lao hơn sau này. Ðúng hơn, cuộc biến đổi đó không phải là biến đổi. Ðó chỉ là bước củng cố niềm tin các môn đệ. Ðem các môn đệ vào một nơi an toàn trước bao sóng gió sắp xảy đến.

Nơi an toàn đó là tình yêu Thiên Chúa. Ðức Giêsu tạm thời rời bỏ cuộc đời đầy biến động để vào nơi thường hằng bất biến. Người đi vào một nơi vô thời gian tức là cung lòng Chúa Cha. Nơi đây mới thấy tất cả sức mạnh tột đỉnh của tình yêu. Chính sức mạnh tình yêu khiến "Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng." (Mt 17:2) Tất cả những hào nhoáng bên ngoài đó làm sao sánh được với vinh quang bên trong Thiên Chúa ? Vinh quang đó dệt bằng tình yêu nồng nàn giữa Chúa Cha và Chúa Con. Nồng nàn đến nỗi Chúa Cha phải thốt lên : "Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 17:5) Như thế kế hoạch cứu độ nhân loại hoàn toàn phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, mặc dù ngược với mọi dự tính của các môn đệ.

Các môn đệ không thể chấp nhận một kế hoạch thất bại như Ðức Giêsu đã tiên báo. Vâng lời Thày là đánh mất Thày. Giữa lúc đang căng thẳng như thế, các môn đệ nghe "có tiếng từ đám mây phán rằng: 'Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !'" (Mt 17:5) Trước đó các ông đã không vâng nghe. Sau khi choáng váng vì nghe Ðức Giêsu tiên báo cuộc Thương Khó lần thứ nhất, ông Phêrô trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !"(Mt 16:22) Những chuyện xui xẻo ấy sẽ phá tan giấc mộng Thiên Sai về Thày.

Thế nhưng thánh ý Thiên Chúa thật mầu nhiệm. Nếu còn tin tưởng nơi Thày, các môn đệ phải đi vào tương quan sâu xa với Thày, như chính Thày đang ở trong tình yêu Chúa Cha. Tình yêu đã khiến Ðức Giêsu hiểu được tất cả chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Cũng trong tình yêu đó, Người đã được sai đến để thực hiện tất cả những gì các tiên tri và lề luật đã nói. Chính vì thế, "ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người" (Mt 17:3) về lời hứa cứu độ sắp được thực hiện cho nhân loại. Ông Phêrô cảm thấy bầu khí ấm cúng như gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa. Môsê tượng trưng cho Chúa Cha, Ðấng tạo dựng vũ trụ. Ngôn sứ Êlia đại diện cho sức mạnh Thánh Linh. Tất cả quây quần bên Chúa Con như bảo đảm công cuộc cứu độ sắp thực hiện. Ðó là một huyền nhiệm đối với các môn đệ. Huyền nhiệm đến nỗi khi nghe lời Chúa Cha, "các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất." (Mt 17: 6) Thực tế khủng khiếp quá ! Chạy trời không khỏi nắng ! Các ông là những nạn nhân đáng thương của chính mình. Họ mắc kẹt giữa hai lằn đạn !

Giữa lúc kinh hoàng như thế, các ông tưởng như trời sập. Nhưng "bấy giờ Ðức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo : 'Trỗi dậy đi, đừng sợ !'" (Mt 17:7) Ðức Giêsu đã kịp thời kéo họ ra khỏi cơn mê. Chỉ một mình Người mới đem lại bình an và ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Ðúng như Tin Mừng quả quyết : "Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Ðức Giêsu" (Mt 17:8) dẫn các ông vào cuộc chống trả ác thần. Chính lúc "ngước mắt lên", các ông thấy rõ "Ðấng cứu độ chúng ta là Ðức Kitô Giêsu đã xuất hiện" để "tiêu diệt thần chết." (2 Tm 1:10) Cái nhìn thật tuyệt vời. Cái nhìn đầy tin tưởng và hi vọng. Từ tình trạng "kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất", các ông đã được kêu gọi tham gia vào "kế hoạch và ân sủng của Người." (2 Tm 1:9) Nhưng phải đợi "đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy," (Mt 17:9) các ông mới biết Người "đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử" (2 Tm 1:10) cho toàn thể nhân loại.

Chính vì thế, Ðức Giêsu đã được Chúa Cha chúc phúc "thành một dân lớn" "tên tuổi được lừng lẫy" (St 12:2) khắp vũ trụ. Cũng như Abraham, Người đã ra đi và chấp nhận mọi gian khổ để "cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người." (2 Tm 1:9) Có thế mới thấy ngày "mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc," (St 12:3) vì Người "là mối phúc lành" (St 12:2) Thiên Chúa hứa cho toàn thể nhân loại. Phúc lành ấy như ánh sáng không chỉ chiếu soi ba môn đệ trên ngọn núi hôm ấy, nhưng đã lan tỏa khắp vũ trụ cho tới muôn đời, đúng như Người nói : "Tôi là ánh sáng thế gian." (Ga 8:12)

ÁNH SÁNG TIN MỪNG.

Hơn lúc nào, ánh sáng cần phải chiếu soi vào đêm tối trần gian. Thần tăm tối đang hoành hành khắp vũ trụ. Thiên Chúa muốn dùng Giáo Hội như "ánh sáng cho trần gian." (Mt 5:14) Sứ mệnh trọng đại đó phải bắt đầu bằng những nỗ lực suy tư và hoạt động để Phúc âm hóa môi trường. Thực vậy, "thần học hoàn thành nhiệm vụ suy tư khi đáp ứng được ý Chúa muốn cứu độ toàn thể vũ trụ, vì Người muốn 'mọi người được cứu và nhận biết sự thật.'(1 Tm 2:4) Bởi vậy, càng hiểu biết sâu xa về chân lý mạc khải bao nhiêu, thần học càng phục vụ toàn thể dân Chúa bấy nhiêu, càng nuôi niềm hi vọng và củng cố sự hiệp thông." (Gioan Phaolô II, Zenit 18/02/2002) Ðó là những ánh sáng cần thiết cho người môn đệ ứng phó với những thách đố lớn lao trong sứ mệnh làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu.

Thế nhưng sứ mệnh làm chứng hôm nay đang đặt Kitô hữu trước những thách đố mới. Quả thực, hoàn cảnh đã thay đổi sâu xa. Theo Hội Dòng Maryknoll, "cụ thể việc truyền giáo hôm nay phải đi tiên phong trong việc loan báo, đối thoại liên tôn, làm chứng, và thăng tiến nhân loại." (Vidimus Domininum, 16/2/2002) Nếu không được biến hình trong ánh sáng Phục sinh, làm sao họ có thể can đảm "loan báo Tin Mừng" (2 Tm 1:8b) ? Khi đã được biến hình trên núi với Chúa, họ sẽ thấy "mọi phương diện cuộc sống nhân sinh : xã hội, cá nhân, tình cảm, tình dục, tâm lý, kinh tế và chính trị - cũng như tôn giáo và thiêng liêng - phải được sức mạnh giải thoát của Tin Mừng cải biến và canh tân." (Joseph Veneruso, Vidimus Domininum, 16/2/2002) Sức mạnh đó hôm nay bao trùm toàn thể tông đồ. Chỉ ai lên núi mới có thể tìm được tất cả sức mạnh tình yêu trong ánh sáng Phục sinh. Cuối cùng chỉ tình yêu mới có thể thay đổi cục diện thế giới. Bao giờ người môn đệ mới lên núi Chúa để đem ánh sáng Phục sinh chiếu tỏa vào đêm đen nhân loại hôm nay ? 


Fr. Jude Siciliano
 op 

Nhìn về tương lai huy hoàng phía trước
Mt 17, 1-9

Thưa quý vị.

Khi thăm thành phố San Antonio, tôi đến ăn ở một nhà hàng bình dân do một gia đình gốc Mêhicô làm chủ. Trong lúc chờ các món : Cá hấp, cơm và canh đậu tôi quan sát sinh hoạt chung quanh bàn chỗ tôi ngồi. Những đứa trẻ chưa đến tuổi đi học đang đẩy qua đẩy lại mấy món đồ chơi trên mặt bàn. Cha mẹ chúng tay ẵm con nhỏ, tay ăn vội vàng vài đĩa thức ăn. Mấy đứa trẻ con khác lớn tuổi hơn đang xem ké Tivi. Một người đàn bà đi ngang qua bàn bỗng dưng dừng lại để chơi đùa với một đứa bé mũm mĩm mà bà yêu thích. Một cô gái bỏ thêm tiền vào máy hát tự động để chơi tiếp một bản nhạc khiêu vũ ồn ào. Ðây là góc nghèo của thành phố. Có một tiệm giặt đồ mướn sát cạnh tiệm ăn. Bên kia đường là tiệm vá vỏ xe. Xa hơn nữa một cái xe tải cũ đang đậu bên lề.

Trong lúc chờ đợi đầu bếp mang thức ăn lên, tôi lợi dụng ngó lại bài Phúc Âm Chúa Nhật thứ hai mùa Chay, lễ kính Chúa Giêsu biến đổi dung nhan trên núi Ta-bor. Và ngỡ ngàng rằng không hiểu nội dung bài Tin Mừng có liên quan tới cuộc sống đời thường đang diễn ra trong tiệm ăn quê mùa này không ? Biến hình là một kinh nghiệm ngoại lệ đầy thần tính, vui sướng ngất ngây ! Nếu chúng ta không liên hệ được thì liệu nội dung của nó có ích lợi gì chăng ?

Cứ theo trình thuật của thánh Matthêo thì biến cố tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô và lời tiên báo về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đi trước Tin Mừng hôm nay. Ðiều đó có nghĩa rằng cả ba biến cố đã được liên kết với nhau : Kinh nghiệm trên ngọn núi, cuộc khổ nạn và lời tuyên tín của Phêrô không thể tách rời nhau. Ai cố tình tách rời là chưa hiểu chủ ý của thánh nhân. Như vậy kinh nghiệm trên núi không phải là đơn độc. Nó cũng là kinh nghiệm đời thường. Nhiều chi tiết trong câu chuyện có thể giúp chúng ta liên kết cuộc sống này với lãnh vực thần linh - đĩa cá hấp của tôi đã tới - Tôi sung sướng vì có tới ba nhân chứng trên ngọn núi, như thế biến cố biến hình không phải chỉ dành riêng cho Chúa Giêsu. Kinh nghiệm về một thế giới khác cũng đã được Phêrô, Gioan và Giacôbê chia sẻ. Ba người này còn được chứng kiến giờ hấp hối của Chúa Giêsu trong vườn cây dầu ! Phải chăng đây là một lời nhắn gởi tinh tế của thánh Matthêo, ngài muốn giúp chúng ta nối kết đau khổ của Chúa Giêsu với vinh hiển của Ngài trên núi Tabor ? Và là mối dây liên lạc để biến cố đỉnh núi có gốc rễ trên mặt đất. Nó hòa lẫn với cuộc sống đời thường trong tiệm ăn này !

Những người đang nghỉ việc để ăn bữa trưa với tôi tại đây không đủ kinh tế để vào các cửa tiệm sang trọng. Họ cũng chẳng có tiền để thuê con ăn kẻ ở, cho nên mang theo luôn con cái với mình. Cả nhà cùng ăn tiệm. Ngược lên phía đầu phố, nhà cửa thật tồi tàn, những phương tiện di chuyển cũ kỹ, những chiếc xe tải nhỏ chở hàng thuê đậu trước dãy nhà xi măng thô xù xì, sân cát thay cho thảm cỏ xanh. Ðời sống dân cư có lẽ chỉ tạm đủ cho các chi phí hàng ngày. Vì thế tôn giáo chẳng mấy hấp dẫn đối với họ. Nhất là tôn giáo sang trọng với bộ mặt sáng láng trên đỉnh núi, y phục trắng như tuyết. Ngược lại tôn giáo cũng chẳng có ích lợi chi nếu như nó chỉ trình bày một nhân vật khác, đau khổ một mình trong vườn cây dầu, bị các môn đệ bỏ rơi, khiếp sợ ý Thượng đế đè bẹp trên thân phận, rồi bị trao nộp, bị bắt, bị giết một cách dã man. Ðã có quá nhiều xung đột, vật lộn, đau thương trên mặt trái đất, trong dãy phố nghèo nàn này của San Antonio, thêm một kẻ đồng hội, đồng thuyền nữa phỏng có ích chi ? Chẳng giải quyết được gì trong hoàn cảnh mù mịt như vậy.

Tuy nhiên Ðấng mà thánh Matthêo giới thiệu với chúng ta hôm nay lại liên kết chặt chẽ với Moisen và Elia, căn cước của Ngài được tiếng từ trời xác nhận "Ðây là con Ta yêu dấu". Moisen được rạng rỡ trên một ngọn núi khác và Elia là hiện thân tuyệt vời của ngôn ngữ tiên tri. Thế thì Ðấng ấy hoàn toàn chia sẻ thân phận với chúng ta trong đau khổ và chết chóc. Hai mặt của một thực tại : Biến hình và khổ nạn. Phải chăng đó là thân phận làm người ? đó là ơn gọi của chúng ta ? Chúng ta có thể hoàn toàn đồng hóa với Ðấng đó. Tôn giáo là như vậy, nó hấp dẫn mọi trí khôn và thỏa mãn mọi ước vọng của loài người. Bởi vì nó cho chúng ta thấy được cái quan trọng trong những điều thuộc cuộc sống thường nhật. Sự hiện diện của Ngài biến đổi mọi sự nên sáng láng, kể luôn cả sự chết. Một thi sĩ đã dệt thơ rằng "Trái đất này ươm đậm vinh quang Thiên Chúa" thì câu chuyện Tin Mừng hôm nay xác nhận điều đó.

Ðức Kitô, hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời làm chủ thể biến đổi thế giới và mỗi cuộc đời chúng ta, cũng như Ngài đã làm chủ thể biến đổi Moisen và Elia, lề luật và tiên tri. Vậy thì các thực tại trong quán ăn này có khác chi đâu ? Tôi đã được dọn cho món cá hấp và tôi ăn ngon lành. Nhìn sang các thực khách khác, họ cũng đang thưởng thức bữa ăn của mình. Tôi tự hỏi : Thế thì chúng tôi ăn ở đây có thiêng thánh như ăn trong nhà thờ không nhỉ ? Chẳng ai dám trả lời là không. Chúa Giêsu đã từng bị người Pharisêo chê bai là tham ăn, tham uống, đồng bàn với quân thu thuế và người tội lỗi (Mt 9, 10). Dầu vậy, Ngài vẫn cứ ăn. Vậy thì bữa ăn của Ngài có ý nghĩa ra sao ? Phải chăng là để chia sẻ và hiệp thông, là thánh thiêng ? Chia sẻ nỗi vui, nỗi buồn, nỗi nhục nhằn, nỗi đau thương, hiệp thông tình yêu, tình huynh đệ, sự cứu vớt, v.v… Ai dám bảo những gia đình kia, gồm vợ chồng, con cái không làm như vậy trong quán rượu này ? Ðó là điều Tin Mừng dạy tôi Chúa Nhật hôm nay.

Tuy nhiên điều quan trọng của Chúa Nhật hôm nay không phải là biến hình. Biến hình chỉ là một mặt, một khía cạnh của chủ đề chính, rộng lớn hơn : "Ra đi" như bài đọc thứ nhất yêu cầu. Hai ông bà Áp-ram và Sara được Thiên Chúa truyền phải bỏ nhà, bỏ quê hương ra đi. Họ ra đi để trở thành một dân tộc lớn. Chúa Giêsu cũng không ở yên trên đỉnh núi, Ngài xuống núi để thiết lập một vương quốc vĩ đại, tồn tại đến muôn đời bằng cái chết của Ngài. Trong ba năm của chu kỳ Chúa Nhật II mùa Chay đều chọn Áp-ram và Sara làm tiêu biểu cho những cuộc ra đi dựa vào đức tin nơi Thiên Chúa. Lịch sử lòng tin của dân tộc Do Thái bắt đầu bằng lệnh truyền "ra đi" này. Nhưng tất cả mọi người cũng phải thực hành như thế, cuốn gói ra đi, bỏ lại đàng sau quá khứ tội lỗi, nếp sống cũ nhơ bẩn để tiến hành đi đến những miền đất mới, tươi đẹp, đầy hy vọng. Miền đất của ân sủng.

Thực tế, chẳng dễ gì nhận ra hình dạng của các miền đất đó. Có những trường hợp cuộc ra đi vì một tương lai hứa hẹn như di cư sang các nước giàu có, thu xếp một cuộc hôn nhân trai tài, gái sắc, đỗ đạt bằng cấp cao, thăng quan tiến chức, công việc làm ăn mới, v.v… Có những trường hợp phải gánh chịu việc đã rồi, hậu quả của hành động người khác gây nên như ly dị, phá sản, già nua, tuổi tác, tai nạn, bệnh tật, … Có những trường hợp đòi hỏi can đảm, hy sinh như đảm nhận trách nhiệm mới, công tác mới, đi tu, … Tất cả đều đòi hỏi ra đi, đổi thay trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa. Tỷ như tiến trình già nua đòi hỏi chúng ta từ bỏ con người trai trẻ, nông nổi bước sang con người chín chắn, đứng đắn và nhiều khôn ngoan. Chúng ta đã là con người khác, không còn như 20, 30 năm trước nữa. Nhìn vào tương lai, chúng ta không hề biết mình sẽ đi đâu, thành con người thế nào, Chúa còn ở với chúng ta nữa không ? Nhất là cái chết. Một thực tại không ai tránh khỏi, một sự thay đổi lớn mọi người phải trải qua. Chúng ta bỏ tất cả lại sau lưng, nhưng trước mắt là cái chi ? Thật là vô định. Còn vô định hơn trường hợp của Áp-ram và Sara.

Cho nên ơn Chúa là tối cần cho mỗi người, mỗi linh hồn sinh ra trong thế gian này. Ơn Chúa dẫn dắt chúng ta trong mọi tình huống của cuộc sống. Ơn Chúa chỉ bảo mỗi con đường chúng ta đi. Qua cái chết, chẳng còn chi cả, chỉ còn ơn Chúa. Vì thế, biến hình là cần thiết để chúng ta nhìn ra và cảm nhận bàn tay yêu thương của Chúa trên cuộc đời mình. Bên dưới câu chuyện của Áp-ram và Sara là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Thiên Chúa sẽ biến chúng ta thành dân tộc lớn, nếu chúng ta vâng lệnh Ngài truyền, nhổ lều, nhổ cọc ra đi. Cọc và lều đã được cắm chặt xuống đất, nhổ lên là một điều hết sức khó khăn, đòi hỏi nhiều cố gắng, hy sinh và liều lĩnh. Có thể là chiếc lều sẽ sụp đổ, gió thổi cuốn đi, chẳng còn chi trên nền cũ. Bước kế tiếp chúng ta sẽ đi đâu ? Bao lâu nữa ? Ai sẽ là bạn hữu mới ? Chẳng sao trả lời được, nhưng vẫn phải ra đi cùng với ơn thánh Chúa. Và chúng ta không sợ mình lầm, bởi lời hứa của Ngài không thể thay đổi. Có ba điều không hề thay đổi trong cuộc đời đổi thay này. Ðó là Thiên Chúa, lời hứa của Ngài và ân sủng.

Vì thế trong Mùa Chay này, Thiên Chúa thúc giục chúng ta ra đi một cách thiêng liêng, bỏ lại sau lưng nếp sống cũ đầy tội lỗi, nhìn về phía trước với một tương lai huy hoàng trong ơn thánh Ngài, chúng ta sẽ được hưởng tình bạn hữu với Ngài, như Áp-ram và Sara. Amen


G. Nguyễn Cao Luật op

Ðỉnh cao hôm nay – Đỉnh cao ngày mai
Mt 17:1-9

Bên kia những thực tại hữu hình

Bản văn của thánh Mát-thêu trình bày một kinh nghiệm thần bí vượt trên những thực tại hữu hình, qua những con người và biểu tượng. Bản văn là một mặc khải về một mầu nhiệm : căn tính của Ðức Giêsu.

Nơi chốn : "một nơi riêng", "một ngọn núi cao". Ðây không phải là một địa điểm cụ thể về địa dư. Có thể lấy làm tiếc vì một truyền thống muôn thời đã muốn xác định về một nơi rõ ràng, bởi vì việc Tin Mừng không nói rõ nơi chốn có thể có nghĩa là mặc khải này sẽ xảy ra ở mọi nơi.

Ðàng khác, "ngọn núi cao" luôn luôn là một nơi đặc biệt ; tại đó đất dường như nối liền với trời, và cũng tại đó, con người vừa cảm nghiệm được sự bé nhỏ của mình, đổng thời vừa muốn vươn mình tới những chiều kích bao la của vũ trụ.

Thời gian : đã được xác định rõ là 6 ngày sau khi Ðức Giêsu báo trước cho các Tông Ðổ về cuộc Khổ Nạn. Tuy nhiên, cuộc Hiển Dung còn có ý nghĩa lớn lao hơn : nối kết giữa quá khứ (Mô-sê + Ê-li-a) và tương lai (Ðức Kitô phục sinh). Ðây là một thời gian vượt-thời-gian.

Các nhân vật : thái độ của các môn đệ (theo Ðức Giêsu, muốn ở lại, sự kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất) cho thấy một sự đảo lộn, một ý thức do một nhận biết không thể diễn tả nổi về thực tại nơi Ðức Kitô. Con đường này trở thành con đường của các môn đệ sau khi Ðức Kitô phục sinh, đổng thời cũng là con đường của tất cả mọi Kitô hữu.

Một bức tranh để chiêm ngắm

Việc Ðức Giêsu biến đổi hình dạng không phải chỉ là một trình thuật để nghe, nhưng còn là một bức tranh để chiêm ngắm, tựa như hình ảnh ngắn ngủi về một thế giới thần thiêng và bí nhiệm, rất gần gũi mà cũng rất xa xăm. Trên dung nhan của con người đang bị bóng tối tử thần đe dọa, đã bừng lên ánh sáng chói lòa của ngày Phục Sinh.

Biến cố Hiển Dung xảy ra sau khi Ðức Giêsu báo trước cuộc Khổ Nạn của Người cũng như việc dự phần của các môn đệ : biến cố này nhằm củng cố lòng tin của ba vị tông đổ sẽ có mặt vào những giờ phút cuối cùng của Ðức Giêsu tại vườn cây Dầu (Mc 14,33). Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên ba vị này được "đi riêng" với Ðức Giêsu ; ba vị đã từng được chứng kiến việc Ðức Giêsu làm cho con gái ông trưởng hội đường sống lại (Mc 5,37).

Tuy vậy, sự kiện này còn có ý nghĩa quan trọng hơn với mỗi vị. Trước hết, với Phêrô, người sẽ được trao quyền lãnh đạo Giáo Hội : từ đây, ông sẽ phải học ý nghĩa đau khổ theo Thiên Chúa và thay thế tư tưởng nhân loại bằng tư tưởng thần linh. Thứ đến, với Gia-cô-bê, vị tử đạo tiên khởi : ông sẽ hân hoan đỗ máu để làm chứng vì ông đã tận mắt nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa. Cuối cùng, với Gio-an, người môn đệ được Ðức Giêsu yêu dấu : ông sẽ phải học biết rằng, đau khổ là bằng chứng của tình yêu.

Như vậy, ba vị cột trụ trong sinh hoạt của Giáo Hội thời đầu, nhờ kinh nghiệm sâu xa về vinh quang Thiên Chúa, sẽ làm chứng một cách sống động về Ðức Giêsu, Ðấng đã đi qua con đường đau khổ để bày tỏ lòng yêu mến và đem lại ơn cứu độ.

Thình lình, các ông đã được chứng kiến Ðức Giêsu biến đổi hình dạng. Tác giả đã dùng thuật ngữ khải huyền để mô tả vinh quang Thiên Chúa xuất hiện trên dung nhan Ðức Giêsu. Ðiều đáng nói ở đây là ánh sáng vinh quang mà các môn đệ nhìn thấy nơi Ðức Kitô, không phải là điều gì đến từ bên ngoài, nhưng là sự biểu lộ bình thường của vẻ đẹp vẫn gắn liền với "Ðấng từ trời xuống". Do đó, điều gây ngạc nhiên không phải là ánh sáng rạng ngời đó đã bao phủ Ðức Giêsu trong chốc lát, nhưng là sự che giấu ánh sáng đó trong những lúc khác. Như vậy, Ðức Giêsu đã che giấu vinh quang của Người, và giờ đây, trong một khoảng thời gian ngắn, Người rời bỏ nhân tính để con người có thể chiêm ngắm vinh quang của Người ; và nhờ đó, họ nhận ra căn tính đích thực của Ðức Giêsu : Con Thiên Chúa.

Ðang khi Ðức Giêsu bày tỏ Thiên tính của Người, thì Mô-sê, vị anh hùng của Lề Luật, và Ê-li-a, thủ lãnh các ngôn sứ, đã đến đàm đạo với Người. Sự hiện diện của hai chứng nhân thời Cựu Ước cho thấy tính siêu việt của thời đại cuối cùng, đổng thời loan báo Vị Ngôn Sứ thiên hạ vẫn mong chờ, nay đã xuất hiện.

Ngoài ra, nội dung cuộc đàm đạo giữa Ðức Giêsu với Mô-sê và Ê-li-a không phải là những điều Người đã giảng dạy, nhưng là cuộc Khổ Nạn của Người. Ðó chính là nhiệm vụ của Người, Ðấng hoàn tất Lề Luật và lời loan báo của các Ngôn sứ. Việc loan báo đã kết thúc, và Ðấng phải đến đã đến để thực hiện công cuộc cứu độ.
Cuối cùng, sự hiện diện của Chúa Cha qua đám mây và tiếng nói là một xác nhận rõ ràng và dứt khoát về sứ mệnh của Ðức Giêsu.

Ở đây, cũng như trong biến cố phép Rửa, vẫn là sự giới thiệu sâu sắc về Ðấng phải đến để thực hiện lời hứa của Thiên Chúa dành cho dân Người. Lời giới thiệu này cho thấy mối hiệp thông sâu xa và bất khả phân ly giữa Chúa Cha và Chúa Con. Tuy thế, lời giới thiệu trong biến cố Hiển Dung còn thêm lệnh truyền "hãy vâng nghe lời Người". Hãy nghe lời Ðức Kitô, hãy đón nhận tất cả những gì Người sẽ thực hiện, cả vinh quang và đau khổ, cả sức mạnh lẫn yếu đuối, cả sự chết lẫn sự phục sinh. Ðó là ơn cứu độ.

Hãy rời ngọn núi, tiếp tục con đường

Một tuần lễ trước khi xảy ra biến cố này, Phêrô đã thử tìm một con đường dẫn đến vinh quang mà không có Thập giá. Giờ đây, ông nghĩ rằng việc Hiển Dung có thể là con đường tắt để thực hiện ơn cứu độ. Ông hiểu đôi chút về điều đang xảy ra, có một cái gì đó rất lớn lao, và một lần nữa, ông cố gắng thuyết phục Ðức Giêsu đừng đi Giêrusalem, bằng cách xin dựng lều ở trên núi này. Với Ðức Giêsu, vinh quang hôm nay chỉ là chốc lát, chỉ là khởi đầu, chỉ là lời báo trước cho vinh quang vĩnh cửu sau cuộc Khổ Nạn. Còn với Phêrô, đây là vinh quang của ơn cứu độ, và ông phải dấn mình vào : ông tưởng rằng không cần có thập giá vẫn có vinh quang. Mãi đến sau này, sau biến cố Phục Sinh, ông mới hiểu rõ và thuật lại toàn bộ sự kiện (xem 2 Pr 1,16-20).

Bởi vậy, trước khi đạt đến vinh quang đích thực, Ðức Giêsu phải rời ngọn núi để tiếp tục con đường lên Giêrusalem. Ngài còn phải đến vườn cây Dầu, còn phải lên đồi Gôn-gô-tha. Mặc dù bóng tối của đổi Gôn-gô-tha có che khuất khuôn mặt vinh quang, như là chẳng còn nhìn thấy gì, chẳng còn chi hi vọng ; nhưng điều đó chỉ xảy ra trong giây lát, trong một thời gian ngắn. Ánh sáng đã một lần bừng lên thì không phải là điều ảo tưởng, điều đã xảy ra trên núi không phải là giấc mơ. Biến cố Phục Sinh sẽ cho thấy rằng sự sống có thể nảy sinh từ sự chết.

Biến cố Hiển Dung của Ðức Giêsu thực là một kinh nghiệm cho tất cả những ai muốn cùng được tham dự vào vinh quang của Người : Chính kinh nghiệm này là chìa khóa, là sức mạnh giúp chúng ta dám chấp nhận những hi sinh, những từ bỏ để càng lúc càng gắn bó hơn với Ðức Kitô. Biến cố này thực là một cuộc xuất hành tiến về Ðất Hứa, xuyên qua những thử thách. Ai không chấp nhận xuất hành, không cùng đi với Ðức Giêsu trên con đường lên Giêrusalem, người ấy sẽ không được tham dự vào vinh quang vĩnh cửu. Mỗi người sẽ có thể có một kinh nghiệm nào đó về Ðức Giêsu, nhưng đó chưa phải là tất cả. Ðỉnh cao này còn chờ một đỉnh cao nữa.


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Thập giá và vinh quang
(Mt 17,1-9)

Anh chị em có biết tại sao khi nghe hai chữ “thập giá” chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có khi còn dửng dưng nữa, trong khi các môn đệ của Chúa Giêsu nghe nói đến thập giá thì nổi da gà, và ông Phêrô run rẩy can ngăn Chúa đừng đi tới đó ? Có lẽ vì chúng ta chỉ thấy những cây thánh giá bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng gỗ quý nhẵn bóng hay bằng xi măng tô đá rửa, đá mài, nên hình ảnh mà hai chữ thập giá gợi lên trong chúng ta không có gì đáng sợ. Còn các môn đệ thì trái lại, các ông chưa bao giờ thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc,… và hai chữ này không chỉ gợi lên một cây khổ giá trần trụi, mà gợi lên hình ảnh một con người quằn quại, tuyệt vọng trong đau đớn và nhục nhã ê chề, lơ lửng giữa trời và đất, giữa sống và chết, trước những cái nhìn thù ghét và khinh bỉ, trước những con mắt tò mò và dửng dưng. Chính vì thế mà các tông đồ rùng mình sợ hãi khi Chúa Giêsu nói đến thập giá.

Nhưng Chúa không phải là ông thầy dễ dãi hay nhu nhược, Chúa vẫn nói thẳng, nói thật và Chúa còn đòi ai muốn theo Chúa phải nhìn thẳng vào thập giá và chấp nhận nó : “Ai muốn theo tôi, hãy vác lấy thập giá của mình mà theo”. Ông Phêrô vừa thay mặt anh em tuyên xưng Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, thì Ngài lại nói đến thập giá. Thập giá Chúa nói ở đây như “mặt sau của tấm huân chương”. Rồi sau đó Chúa lại đưa ba môn đệ thân tín lên núi, cho các ông thấy vinh quang chói lòa của Ngài.

Như vậy, chúng ta có thể nói : sau khi chỉ cho các môn đệ thấy cây thập giá làm các ông run sợ, Chúa Giêsu lật cho các ông thấy đằng sau cây thập giá có gì. Cũng vậy, sau này, trên đường Em-mau, chúng ta thấy Chúa quở trách hai môn đệ thất vọng bỏ đi, vì các ông chỉ thấy mặt trước mà không thấy mặt sau của thập giá : “Chẳng phải Đức Kitô phải chịu đau khổ để vào trong vinh quang của Ngài sao ?”.

Vì thế, trong Mùa Chay, Giáo Hội đặt trước mắt chúng ta những mầu nhiệm có vẻ rất tương phản nhau : một bên là Chúa Kitô đau khổ và chịu đóng đinh, một bên là Chúa Kitô vinh quang và phục sinh, để chúng ta suy niệm và khám phá ra hai chân lý hay hai thực tại khác không kém phần tương phản, đó là tội lỗi trầm trọng của nhân loại và lòng yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa. Hiểu được hai thực tại này, chúng ta sẽ hiểu được hai mầu nhiệm thập giá và vinh quang.

Ở đâu và bất cứ lúc nào cũng có thập giá. Đã mang tiếng khóc chào đời, con người tiến bước trong cuộc sống với tất cả gánh nặng của thập giá. Tại sao Thiên Chúa đã để cho con người phải đau khổ ? mãi mãi dường như con người không bao giờ tìm được câu giải đáp cho vấn đề đau khổ. Chúa Giêsu không bao giờ đặt vấn đề và cũng không bao giờ đem lại một giải đáp cho vấn đề ấy. Trong thinh lặng, Ngài đã vác lấy thập giá, và khi sống lại, Ngài cho chúng ta thấy rằng thập giá là con đường dẫn đến sự sống. Và vì thế, Ngài đã dạy chúng ta : hãy vác lấy thập giá mà theo Ngài.

Nói rõ hơn, sống ở đời, ai cũng có thập giá, không ai tránh được đau khổ, ai cũng có đau khổ, chúng ta gọi là thập giá mà Chúa bảo chúng ta phải vác, phải chấp nhận, phải chịu đựng. Dù trong bậc sống nào vẫn phải vác thập giá của mình. Ngay chính lúc này, mỗi người chúng ta đều cảm thấy những lo âu, những buồn phiền, những khổ đau,… tất cả đều là thập giá. Xin Chúa cho chúng ta biết vác cho nên để mang lại ơn phúc cho chúng ta đời này và đời sau.

 
Vincente Trọng Đại OP

Chúa Hiển Dung Củng cố Đức tin Các Tông Đồ
Mt 17:1-9

Trong Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta sống mầu nhiệm khổ đau bằng cách tham dự vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, nghĩa là với tinh thần chấp nhận và tín thác trông cậy vào Chúa.

Chúa Hiển Dung đánh dấu thời điểm quyết định trong sứ vụ của Chúa. Đây là biến cô mạc khải vinh quang Ngài, nhằm khích lệ, củng cố niềm tin cho các tông đồ và tất cả những ai trung thành với ơn gọi của mình. Chúa Giêsu đem ba tông đồ tới chỗ ở riêng biệt trên núi cao, Ngài tỏ mình cho họ trong ánh sáng và vinh quang của Ngài là Thiên Chúa. Cũng Như ba môn đệ Hội thánh chiêm ngưỡng khuôn mặt biến hình của Chúa Kitô, để củng cố trong niềm tin và để khỏi hoang mang trước khuôn mặt tan nát của Người trên thập giá. Ngài đã chiếu rọi ánh sáng vào đau khổ và sự chết khi đón nhận tất cả với tâm tình hiến dâng, phó thác và tin yêu nơi Chúa Cha. Với Chúa Giêsu, thua thiệt, mất mát đã trở thành lợi lộc, thất bại rủi ro trở thành cơ may. Cũng qua biến cố Hiển Dung này Ngài vạch ra cho mọi người Kitô hữu con đường phải theo. Đó là con đường của Thập giá dẫn đến vinh quang, con đường của đau khổ dẫn đến hân hoan, con đường của thất bại dẫn đến hy vọng, con đường của sự chết dẫn đến sự sống Phục Sinh. Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các tông đồ trong ánh sáng rực rỡ, nhằm tăng niềm tin cho các tông đồ đồng thời cũng vỗ về chúng ta hãy tín thác nơi Người, làm cho chúng ta thêm phấn khởi, để mong đợi ánh sáng của lễ Phục sinh.

Ngày xưa, Các môn đệ chứng kiến cuộc Hiển Dung và được Chúa Giêsu dặn dò các ông : "Đừng cho ai biết về thị kiến ấy cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy ". Còn Chúng con không thấy Chúa biến hình như Phêrô, Giacôbê hay Gioan, và càng không thấy cảnh Môisê và Êlia xuất hiện đàm đạo với Chúa Giêsu, cũng chẳng được nghe Chúa Cha giới thiệu Chúa Giêsu và kêu gọi chúng con đón nhận Lời. Nhưng qua thánh lễ chúng con vẫn được thấy dấu hiệu Chúa biến hình. Thánh lễ đưa chúng con lên núi của bàn thờ và tỏ cho chúng con thấy Chúa Giêsu trong sắc trắng cùng bánh Thánh, trong rượu nho tinh tuyền. Trong nghi lễ thánh này, Chúa quy tụ chúng con lại để cùng ăn, cùng hát, cùng cầu nguyện, cùng chúc bình an cho nhau.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể mỗi lần chúng con đến bàn tiệc thánh, Chúa đã cho chúng con được nhìn ngắm dung mạo của Chúa ẩn mình trong hình bánh trắng nhỏ nơi nhà tạm. Chúa nói cho chúng con : “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sống đời đời, vì thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống”. Lạy Chúa chúng con tin vào tình thương của Chúa, Đấng làm tất cả để con người được sống bằng tình yêu của Người và được hạnh phúc trong cuộc sống vĩnh cửu.

Chúa hiển dung hay Chúa biến hình là để khích lệ các môn đệ đón nhận con đường thương khó, con đường thập giá mà Người trải qua và chúng ta cùng đi với Ngài trong hành trình thương khó này qua 40 ngày chay thánh. Biến cố hiển dung vẫn được nối dài trong từng ngày, trong kỷ niệm sống hôm nay của mỗi người.

Vấn đề còn lại là chúng ta biết theo Người lên núi, ở với Người một đôi phút trong mỗi ngày sống, nhìn thấy Người trong những biến cố lớn nhỏ của đời mình, của đòng lịch sử cứu độ và của sách sử con người. Người còn đó, khuôn mặt Ngài rạng rỡ yêu thương, để chúng ta tin tưởng Ngài và làm hết những gì chúng ta có thể làm, để cho từng ngày sống của chúng ta được tốt đẹp hơn. Một thoáng biến hình của Chúa Giêsu đã làm cho tâm hồn của các môn đệ được bình thản, từ đó Ngài đã cùng với các môn đệ từng ngày một đến gần cuộc thương khó và tử nạn mà Chúa Cha muốn để cứu độ nhân loại. Bài học mà Chúa Giê su mang lại cho chúng ta là được an bình trong những thử thách cam go, đồng thời giúp chúng ta tăng thêm nguồn lực sống để mỗi ngày trở nên con cái Chúa hơn và yêu thương anh em.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, ước chi cuộc Hiển Dung của Chúa Kitô tặng ban sức mạnh cho cho chúng con, để có thể vượt qua mọi thử thách trong đời sống đức tin, trung kiên với Chúa đến cùng, và ánh sáng Phục sinh của Chúa Kitô sẽ bừng tỏa trong cuộc sống đời thường của mỗi người chúng con Amen.


Thomas Trần Ngọc Tuý O.P.

Đường Lên Núi Chúa
(Mt 17,1-9).

Thưa quí vị,

Năm mới nào cũng vậy, cứ vào thời gian ngay sau tết âm lịch, núi Bà Đen, Tây Ninh, nhộn nhịp hẳn lên vì khách hành hương từ các tỉnh tuôn đến xin xâm, bói quẻ ở chùa Bà, chùa Hang. Hai ngôi chùa ở lưng chừng núi, cách nhau hơn vài trăm mét. Nhưng tới được chúng quả là một hành trình vất vả, phải mất đến cả tiếng đồng hồ, leo các bậc thang bằng những viên đá đủ kích cở. Vậy mà hàng ngày có đến hàng ngàn hàng vạn khách đi xe đến viếng thăm. Những thanh niên khỏe mạnh có thể leo tới đỉnh núi, cao chừng hơn ba trăm mét. Nhưng tới được đỉnh thì quả là một phần thưởng: Không khí trong lành, mát mẻ, quang cảnh chung quanh bao la bát ngát, tầm mắt có thể phóng tới chân trời. Bên dưới là một bức tranh toàn cảnh đầy màu sắc: ruộng vườn, làng mạc, sông lạch, rừng rậm, cây cối xanh tươi, trâu bò làm đồng, người cầy cấy coi như con kiến. Quả là một bồng lai tiên cảnh. Thiết nghĩ đây là điểm du lịch hấp dẫn ngoài việc tín ngưỡng, tâm linh.

Xin nhập đề như vậy để quí vị có thể tưởng tượng được nội dung biến cố Chúa biến hình trên núi Tabor hôm nay, Phúc âm không định vị rỏ ở đâu. Thánh Matthêu chỉ viết: “Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông ra riêng một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông”. Theo Luca thì việc này xẩy ra khi Chúa còn đang rao giảng ở Galilêa (Lc 9,28). Mathêu cũng đồng ý với Luca:” Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết” (Mt 16,21). Truyền thuyết cho rằng ngọn núi đó là núi Tabor, ở giửa cánh đồng, gần Nazareth, cao chừng 750 mét, đúng như vị trí của núi Bà Đen, nhưng cao gấp đôi, vì Bà Đen chỉ hơn 300 mét, cũng ở giửa đồng bằng chung quanh là làng mạc, sông ngòi và rừng rậm. Ngày nay Tabor có đường xe hơi lên tận đỉnh núi. Thời Chúa Giêsu làm chi đã có, nên phải leo bộ, chúng ta cùng leo núi với Chúa.

Chiều cao này có ý nghĩa biểu tượng và khi lên được tới đỉnh, người ta cũng ở trong tiên cảnh bồng lai. Thánh Phêrô sau này hồi nhớ lại nên bảo Marcô viết : “Thưa Thầy chúng con ở đây thật là hay” nghĩa là các ông cũng giống chúng ta ở đỉnh núi Bà Đen, nhưng theo nghĩa thiêng liêng, tức là các ông đang ở trong toàn cảnh thánh thiện trước mặt Đấng là sự thánh thiện tuyệt đỉnh. Ai có thể không có ý nghĩ như vậy ?

Nhưng leo lên được đỉnh núi với Chúa không phải là chuyện dễ dàng. Các ông phải lao động vất vả cả về nghĩa vật chất lẫn tinh thần. Những ai muốn thử kinh nghiệm xin đi Tây Ninh và leo lên đỉnh Bà Đen. Bảo đảm nhiều người sẽ chào thua mà trở về chân núi. Leo núi thánh thiện với Chúa cũng vậy, nếu không có ơn Chúa trợ giúp, chứ không phải như thiên hạ tưởng tượng.

Chắc chắn chúng ta phải leo cực nhọc, bước những bước khốn khổ trượt ngả trên đường đi đầy sỏi đá lởm chởm mới tới được ngọn núi thánh thiện. Rồi phải liên lỉ cầu xin ơn trợ giúp như Luca kể: “Đang lúc Người cầu nguyện, thì dung mạo bỗng đổi khác”. Cho nên người ta phải vất vả leo núi Tabor thiêng liêng cùng với Chúa và ba môn đệ Phêrô, Giacôbê, Gioan.

Vậy thánh thiện là gì, làm thế nào tới được bậc đó ? Hôm qua thứ bẩy, Chúa nói:” Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Như thế Đức Giêsu định nghĩa thánh thiện là chính Đức Chúa Trời. Chúng ta phải rập theo khuôn mẫu đó mà sống. Cụ thể lối sống của Đức Giêsu khi còn ở trần gian. Chiều chuộng xác thịt, ăn cắp ăn trộm, lừa đảo, giả hình chắc chắn không phải là cuộc sống mà Đức Kito muốn. Chúng ta thường lấy mình ra làm “thước đo” mọi sự.

Thiên Chúa đã chỉ định cho ông Môsê ban lề luật cho tuyển dân mù quáng để họ biết đường hoàn thiện và thờ phụng Thiên Chúa cho phải đạo. Vì chính Thiên Chúa mới là ”thước đo” và mẫu mực cho nhân loại. Bây giờ Môsê cũng ở trên đỉnh núi với Đức Giêsu trong cương vị ban lề luật để trao quyền lại cho Chúa mà ông đã hằng tiên tri từ lâu trước. Lúc này Đức Giêsu vừa là người trao ban lề luật vừa là luật pháp cho nhân loại. Chúng ta vâng phục lời Ngài ra sao? Thật là khó, vì Ngài là Thiên Chúa vô cùng thánh thiện, làm sao loài người theo cho nổi?

Vì vậy Ngài phải “thích nghi” với điều kiện nhân loại trong biến cố nhập thể và Đức Chúa Cha đã phán: “Này là Con ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài”. Như thế Đức Giêsu là lời giải thích, là lề luật cho mọi hành động của con người. Nhân loại phải suy tư về Ngài, học hỏi và bắt chước Ngài để nên trọn lành đích thực, chứ không giả hình lừa dối. Chính Ngài tự xưng là đường là sự thật, sự sống để chúng ta đi về với Thiên Chúa.

Việc thay hình đổi dạng khởi sự khi mỗi linh hồn lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Lúc ấy chúng ta chết đi cho xác thịt để sống với Đức Kitô. Đời sống này không phải là tương lai, nhưng là hiện tại ngay lúc lãnh nhận thanh tẩy và là những nội dung chúng ta phải sống hàng ngày. Những ai suy nghĩ đời sống thánh thiện thuộc tương lai, thì hoàn toàn sai lầm và sai lầm thì phải trả giá. Chúa Giêsu không hề tuyên bố đời sống trọn lành thuộc về tương lai mà thôi. Ngài nhiều lần nhấn mạnh nó là cuộc sống hiện tại: “Xưa ta đói các ngươi không cho ăn, ta tù đày các ngươi đâu có viếng thăm ta ?”. Cho nên vật lộn để sống đẹp lòng Thiên Chúa như Đức Kitô dạy là cấp thiết. Sự thực thánh thiện và cuộc sống vĩnh cửu đã ở nơi chúng ta ngay trong Bí tích Thánh Tẩy. Chúng ta phải phát triển nó từ tấm bé cho đến tuổi già. Giả dụ Thiên Chúa muốn chúng ta phải sáng tỏ sự thánh thiện của mình như Chúa Giêsu hôm nay trên núi Tabor, thì chúng ta cư xử ra sao và tiếng từ trời cũng phán: ông A, chị B, em C là những con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng, liệu mấy ai khoe mình được như vậy ? Hay chỉ bằng môi miệng, lừa dối thiên hạ.

Nói như vậy không phải là ngoa, nếu nghĩ đến mỗi lần rước lễ xong. Bí tich Thánh Thể là chính sự hoàn thiện đang ngự trong mỗi linh hồn tín hữu, linh mục, tu, sĩ. Nó phải được chiếu sáng ra nếu các dục vọng của mỗi người không ngăn cản, phủ lấp đi. Mỗi khi chúng ta tham dự thánh lễ, làm việc bác ái, lãnh nhận các bí tích là tăng cường vẻ sáng ngời thánh thiện của tín hữu cho thiên hạ chiêm ngưỡng như một biến cố biến hình vậy. Nếu chúng ta trung thành với ơn gọi bằng suy nghĩ, lời nói, việc làm là lớn lên trong cuộc sống thiêng liêng. Mỗi khi cố gắng chu toàn bổn phận là leo núi Tabor.

Và con đường là thánh giá. Môsê và Êlia hiện diện trên núi thánh bàn bạc với Đức Kitô về cuộc khổ nạn của Ngài? Làm sao chúng ta tránh khỏi ? Liệu chúng ta được phép xưng mình là môn đệ Chúa mà không phải vác lấy thập tự hàng ngày ? Thánh Phaolô khuyên Timôteô: “Hãy chịu đựng gian khổ mà Phúc âm đòi hỏi”. Qúi vị nghĩ sao ? Tận hưởng cuộc đời dễ dãi đầy tiện nghi và vẫn coi mình là môn đệ Chúa rồi hùng hồn rao giảng thập giá Đức Kitô ! Trớ trêu quá.

Thôi, xin bỏ ngọn núi vật chất để nói đến quả núi thánh thiện mà Đức Kitô đã leo trong suốt cuộc sống của Ngài. Quả núi ấy là gì ? Chẳng phải là xe hơi nhà lầu, kẻ sai người bảo mà là yêu thương phục vụ theo ý Đức Chúa Cha cho đến chết, và chết trên thập tự, chứ không êm ái trên giường bệnh hay nhà thương sang trọng, đắt tiền. Chết nhục nhã, chịu lăng nhục chửi bới chứ không điếu văn, diễn từ ca tụng. Đó là con đường người môn đệ Chúa phải nương theo trong cuộc sống để chu toàn theo thánh ý Thiên Chúa. Cụ tổ Abraham của bài đọc 1, đã 75 tuổi lìa bỏ tất cả, quê hương, tài sản di theo tiếng gọi vô hình của Đức Chúa Trời, lang thang thiếu thốn nơi đất khách quê người, không quản ngại điều chi trước tôn nhan Đức Chúa mà ông hết lòng kính sợ. Chúa Kitô phải chịu đựng nhiều hơn khi chu toàn mệnh lệnh của Đức Chúa Cha. Ngài ở giữa một đám đông thù nghịch, phản đối, chê cười, hận thù và giết chết. Hai mẫu gương cho nhân loại noi theo mà nên thánh thiện, chứ không phải chăn ấm nệm êm, ngày ngày yến tiệc linh đình. Đây là mẫu mực để chúng ta tuân giữ mùa chay và con đường hoàn thiện. Đức Giêsu cầu nguyện, ăn chay, chống trả cám dỗ, sống trong cô tịch, phục vụ người nghèo khó bệnh tật, yêu thương, đau khổ và chết, là khuôn mẫu mùa chay của các tín hữu, xin đừng cắt nghĩa kiểu khác để trốn tránh con đường thiêng liêng. Đó là bí quyết duy nhất để leo núi Tabor của Chúa. Đường lên núi thánh không đi được bằng xe hơi, ngủ trong quán trọ nhà lầu, ăn cao lương mỹ vị như thiên hạ ngày nay biện minh. Con đường của họ chỉ có thể đưa xuống hố sâu của những người mù, như Đức Kitô đã cảnh cáo.

Cho nên khuôn mẫu để sống đẹp lòng Đức Chúa Cha không bao giờ thay đổi, từ ông Abraham, các tổ phụ, các tiên tri cho đến Chúa Giêsu. Bao lâu còn có tội lỗi trên thế gian, thì bấy lâu kẻ theo con đường thánh thiện của Thiên Chúa còn phải gánh chịu khổ nạn, tử đạo, chối bỏ từ tay thế gian ngay cả từ tay bạn hữu, người thân như Chúa Giêsu đã phải gánh chịu.

Đức Giêsu tóm gọn các giới răn, bát phúc, và các tiêu chuẩn thánh thiện vào cuộc sống yêu thương và phục vụ. Liệu chúng ta được phép đi con đường khác mà vẫn nên thánh? Quả là hoang tưởng khi người ta từ bỏ ăn chay, hảm mình, làm phúc bố thí, bác ái, đau khổ và cái chết nhục nhả để giữ các hình thức khác trong mùa hồng phúc!

Đến đây chúng ta đụng đến vấn đề cốt lõi: Bí quyết để nên trọn lành. Các vĩ nhân đều có bí quyết để thành công. Thí dụ: Thương gia, buôn bán phát tài. Không có luật trừ cho việc nên thánh. Những thiên tài này đều có một cảm tính đặc biệt để thành công, nằm sâu trong trái tim họ. Riêng trong lãnh vực tôn giáo chúng ta gọi các chuyên viên này là các thánh và họ đả kín múc cảm tính của mình trong Thiên Chúa nhập thể. Vậy muốn nên trọn lành như họ, chúng ta phải noi gương họ: Học hỏi, yêu mến Chúa Giêsu. Con đường ngắn nhất để được gọi là con yêu dấu của Thiên Chúa Cha đẹp lòng Ngài mọi đàng. Ước chi mùa chay này mọi tín hữu tìm được bí quyết và con đường ấy. Amen.


Đỗ Lực op

Trên Đỉnh Non Cao
(Mt 17:1-9)

Cách đây bốn chục năm, Mục sư Martin Luther King Jr. đã đọc bài diễn văn cuối cùng trước khi bị ám sát (4.4.1968). Ông nói hùng hồn về cuộc tranh đấu bất bạo động để giành công lý cho người Mỹ gốc Phi Châu, nhất là cho những người lao động bị bóc lột tại Memphis, Hoa Kỳ. Cuối bài diễn văn, ông nói mình đang đi “tới đỉnh núi” và nói tiên tri : “Tôi đã thấy đất hứa. Có lẽ tôi sẽ không tới đó với các bạn,” nhưng dầu sao “mắt tôi đã thấy vinh quang ngày Chúa đến.”[i] Chúng ta có thể thấy gương mặt của Môsê nơi Martin Luther King Jr. không ? Tại sao ông có thể lên tới đỉnh núi để quả quyết về tương lai của đồng bào mình như vậy ?

Chắc chắn lời nói và thái độ khẳng quyết ấy phải phát xuất từ một tấm lòng. Chính Martin Luther King Jr. quả quyết : “Tôi biết rằng sau cùng tình yêu là câu trả lời duy nhất cho những vấn đề của nhân loại. Tôi sẽ đi nói về tình yêu khắp nơi. Tôi đã quyết định yêu. Nếu đang tìm kiếm điều tối ưu, thiết tưởng bạn có thể tìm thấy qua tình yêu. Ai có tình yêu là nắm được điểm then chốt thấu hiểu ý nghĩa của thực tại cuối cùng.” [ii] Từ trên đỉnh núi, đúng hơn, đỉnh cao của tâm hồn, «ông bắt đầu suy nghĩ về thực tại Gandhi cho là sức mạnh tinh thần, sức mạnh tình yêu và chân lý như một phương tiện biến đổi xã hội.” Ông nói rõ : “Khi cuộc phản kháng bắt đầu, trong ý thức hay vô thức, tâm trí tôi hướng về Bài Giảng Trên Núi và phương pháp phản kháng bất bạo động của Gandhi.”[iii]

Từ đầu kỷ nguyên thứ nhất, Chúa Giêsu đã thấy trước sức mạnh tình yêu. Nhưng nếu nói trong một khung cảnh bình thường, có lẽ con người sẽ không thể nhận ra tất cả sức mạnh đó. Bằng chứng khi Chúa Giêsu nói về đau khổ và cái chết sắp tới ở Giêrusalem như một đòi hỏi của tình yêu cứu độ, ông Phêrô đã cực lực phản đối (x. Mt 16:22). Bởi đó, Chúa Giêsu đã đưa ông cùng với hai ông khác lên núi biến hình, không phải để các ông lóa mắt, nhưng để trải qua một kinh nghiệm tuyệt vời về tình yêu giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha, đồng thời biết tại sao phải chấp nhận vác khổ giá theo Người.

ÐƯỜNG LÊN NÚI CHÚA

Càng gần ngày khổ nạn, các môn đệ càng được Chúa loan báo những tin không vui về số phận Thày trò. Cơn thất vọng càng lộ rõ trên nét mặt các môn đệ. Trong điều kiện bình thường, có lẽ Chúa đã không thuyết phục được các môn đệ chấp nhận đường lối Thiên Chúa. Bởi đó, Chúa muốn cho các ông một cơ hội và hoàn cảnh khác để thấy những đòi hỏi của Thiên Chúa trong sứ mệnh cứu độ trần gian.

Ðể thực hiện mục đích đó, Chúa dẫn các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan lên một ngọn núi cao, xa cuộc sống tầm thường hàng ngày. Trên vị trí cao xa đó, nếu cứ nhìn xuống, các ông cũng chẳng thấy gì hơn và cũng chẳng có gì thay đổi. Ngay cả khi nhìn vào Chúa trong bộ dạng bình thường, chưa chắc các ông đã đổi được tâm trạng. Bởi vậy, Chúa mới biến hình hay hiển dung. Khung cảnh đã góp phần rất lớn trong việc thay đổi này. Quả thế, nếu không có hai ông Môsê và Êlia đứng cạnh Chúa, chắc chắn cơn hỏa mù chưa biến tan khỏi tâm trí các ông. Từ nay, các ông sẽ thay đổi hẳn cái nhìn về con người và sứ mệnh của Chúa.

Chúa biến hình để các tông đồ biến tính mới có thể lắng nghe và thấu hiểu những gì Chúa Cha nói về Chúa Con. Một khi tâm hồn đã nhìn đúng sự thật, con người phải biến đổi. Cũng như Chúa Giêsu đã “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân,” (Pl 2:7) để chia sẻ và thông cảm hoàn toàn với thân phận con người, các môn đệ cũng phải “cải biến con người bằng cách đổi mới tâm thần,”(Rm 12:2) và “mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô,”(Rm 13:14) mới có thể hiểu thấu ý định Thiên Chúa. Chúa Cha muốn “Đức Giêsu bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta và được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính.”(Rm 4:25) Nói khác, Thiên Chúa muốn công lý phải được thiết lập trên trái đất khi Chúa Giêsu đến công bố Nước Trời.

Khi đã được biến cải hoàn toàn, các môn đệ mới có thể lắng nghe sự thật do Chúa Cha khẳng định : "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 17:5) Bản chất và địa vị Thày đã được xác định. Hơn nữa, mối tương quan thâm sâu và bền chặt giữa Chúa Cha và Chúa Con đã hiển lộ. Chúa Giêsu là Con yêu dấu không những khi mạc khải Thiên Chúa từ bi và đầy lòng yêu thương trong Bài Giảng Trên Núi và lúc chữa lành để loan báo Thiên Chúa chiến thắng ác thần, nhưng cả khi Người bước vào mầu nhiệm đau khổ nữa. Khi vào trong mầu nhiệm này, Người đã tạo được sức mạnh công chính hóa toàn thể nhân loại. Quả thực, “bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra.”(Rm 5:9)

Ðó là lý do tại sao Chúa Cha tuyên bố với các môn đệ Chúa Giêsu : “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!" (Mt 17:5) Nếu thực sự vâng nghe lời Người, các môn đệ cũng phải chuẩn bị nên giống Chúa Kitô trong sứ mạng giải thoát và công chính hóa nhân loại. Sứ mạng cao cả đó chỉ được thực hiện nơi cây khổ giá đang đón chờ Thày tại Giêrusalem và các môn đệ khắp nơi trên mặt đất.

Có thể nào, sau khi đã chứng kiến tất cả khung cảnh thần hiển, với cuộc biến hình của Chúa Giêsu giữa hai nhân vật Cựu ước, các môn đệ không nghe lời Chúa Giêsu được chăng ? Từ trên núi xuống, Chúa sẽ nói với các ông điều gì, nêu không phải là : “Hãy theo Thày !”(Lc 5:27) Theo Thày đi đâu ? Thày lên Giêrusalem để chết thê thảm trên thập giá. Chúa đã mạc khải cho các ông biết đó là cái giá phải trả cho Nước Trời, cho công lý trên trần gian. Suốt cuộc đời truyền giáo sau này, các môn đệ đã chứng tỏ cho Thày biết họ đã lắng nghe tiếng Chúa Cha và theo Thày tới mức nào.

Chính vì biết lắng nghe Lời Chúa như thế, các ông đã thấu hiểu ý nghĩa của việc Chúa biến hình : “Khi ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi vào đêm trường thất vọng, tâm hồn con người tìm thấy sức mạnh nơi Thiên Chúa, sức mạnh biến đổi cái chết thành chiến thắng và đem lại ơn cứu chuộc cho thế gian.”[iv] Ánh sáng tượng trưng cho sự công chính hay công lý Chúa đem đến trái đất. Nếu không có ánh sáng chiếu soi, thế gian vẫn chìm đắm mãi trong bóng đêm tội lỗi bất công. Bởi đó, khi được chan hòa ánh sáng, người môn đệ không thể ngồi yên nhìn bóng tối hoành hành trên mặt đất.

NHẬP CUỘC

Khi Chúa biến hình, “dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.” (Mt 17:2) Sau đó, “chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông.” (Mt 17:5) Cả Thày Trò đều chan hòa trong ánh sáng tình yêu Thiên Chúa. Trong ánh sáng, các ông mới cảm nghiệm được tình yêu nồng nàn và sâu đậm giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Ðồng thời, họ mới thấu hiểu nguyên tắc liên kết giữa Ba Ngôi. Nguyên tắc đó cũng làm cho con người có thể sống trong nguồn ánh sáng tình yêu. Sở dĩ Chúa Giêsu có thể sống mãi trong tình yêu Chúa Cha, vì như Chúa quả quyết:“Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy.” (Ga 14:31)

Môn đệ không thể hơn Thày. Phải “vâng nghe lời Người,” họ mới có thể hiệp nhất với Thày trong nguồn sáng tình yêu. Quả vậy, “Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy." (Ga 14:20-21)

Chính trong nguồn sáng tình yêu, môn đệ Chúa Kitô khám phá “những nguyên tắc và giá trị có thể duy trì một xã hội xứng đáng với nhân vị. Trong số các nguyên tắc ấy, tính liên đới bao gồm mọi nguyên tắc khác một cách nào đó. Liên đới là ‘một trong những nguyên tắc nền tảng theo quan điểm Kitô giáo về tổ chức xã hội và chính trị.’

Tình yêu ưu việt tỏa sáng trên nguyên tắc này. Tình yêu là dấu hiệu trổi vượt của các môn đệ Chúa Kitô (x. Ga 13:35) Chúa Giêsu dạy rằng ‘luật căn bản hoàn thiện con người và biến cải thế giới là giới răn mới về tình yêu.’ (x. Mt 22:40; Ga 15:12; Cl 3:14; Gc 2:8) Hành vi nhân linh hoàn toàn là của con người khi phát sinh từ tình yêu, biểu lộ tình yêu và hướng về tình yêu. Chân lý này cũng áp dụng trong lãnh vực xã hội. Các Kitô hữu phải là những chứng nhân xác tín sâu xa về điều này, và trong đời sống, họ phải cho mọi người thấy tình yêu là sức mạnh độc nhất (x. 1 Cr 12:31-14:1) có thể đưa tới sự hoàn thiện cá nhân và xã hội, cho xã hội tiến tới điều thiện hảo. ”[v]

Khi đi vào tương quan tình yêu cực độ của Chúa Cha, Chúa Giêsu biến hình. Chính trong tình yêu, các ông hiểu được cái giá phải trả cho vinh quang Thiên Chúa và hạnh phúc nhân loại. Bởi thế, ông Phêrô không còn lên tiếng phản đối và can ngăn Thày nữa, mặc dù có nghe hai ông Môsê và Êlia “nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9:31) Sức mạnh tình yêu không những biến đổi con người, mà cả vũ trụ, vì “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8)

“Tóm lại, chính mầu nhiệm Thiên Chúa, Tình Yêu Ba Ngôi, là nền tảng cho ý nghĩa và giá trị nhân vị, tương quan xã hội, hoạt động của con người trên thế giới, vì nhân loại đã đón nhận mạc khải tình yêu và chia sẻ mầu nhiệm đó nhờ Chúa Kitô trong Thần Khí của Người.”[vi] Chỉ con mắt đức tin mới có thể nhìn ra được thực tại sâu xa đó. Nếu không có đức tin, không thể cảm nghiệm và vận dụng được sức mạnh tình yêu.

Hơn bao giờ, thế giới đang đói khát tình yêu, vì “việc biến cải thế giới cũng là một đòi hỏi cơ bản của thời đại ngày nay. Ðể đáp ứng nhu cầu này, Quyền Giáo huấn của Giáo Hội muốn cống hiến những giải đáp, rút ra từ những dấu chỉ thời đại. Trước hết, Giáo hội cho thấy, dưới cái nhìn Thiên Chúa, tình yêu giữa con người với nhau là dụng cụ giúp thay đổi mãnh liệt nhất trên bình diện cá nhân cũng như xã hội.”[vii] Nếu không có tình yêu Chúa Cha, Chúa Giêsu cũng không thể biến hình, các môn đệ cũng không thể thay đổi, và thế gian vẫn mãi chìm trong đêm tối. Nhưng trong ánh sáng hiển dung, ông Môsê đứng cạnh như chứng minh “Chúa Giêsu là Môsê mới, đưa dân Thiên Chúa vươt qua thế giới nô lệ này mà đi vào đất hứa.”[viii] Ông Êlia như nói với các môn đệ rằng Chúa Giêsu là vị Ngôn sứ vĩ đại sẽ tranh đấu cho công lý để xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian. Người đã chết vì sứ mệnh cao cả đó.

Bước theo Chúa Kitô, người môn đệ không có lựa chọn nào khác ngoài sứ mệnh đó. Muốn cải biến xã hội, họ phải làm cho “tình yêu hiện diện và thấm nhuần vào mọi tương quan xã hội. Ðiều này đúng đối với những ai đang chịu trách nhiệm mưu ích cho các dân tộc. Họ phải nhiệt thành ấp ủ trong lòng và khơi dậy nơi tha nhân tình bác ái là bà chủ và nữ hoàng các nhân đức.”[ix] Không có lòng bác ái, con người không biết quan tâm tới tha nhân và sống như một hòn đảo đơn độc ngoài biển cả mênh mông. Giữa cuộc đời đầy sóng bão hôm nay, làm sao hòn đảo đó có thể tồn tại ? Bởi vậy, chỉ khi nào biết liên kết với nhau trong tình bác ái, nhân loại mới đủ sức tồn tại và phát triển.

TẤM GƯƠNG VĨ ÐẠI

Tới nay, không ai có thể quên được Mẹ Têrêsa Calcutta, một con người nhỏ bé nhưng đầy lòng bác ái. Khi phục vụ những người bị xã hội bỏ rơi, Mẹ đã cho mọi người thấy “một chứng từ sống động về tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa.”[x] Tháng 9 năm 1946, trên đường đi tĩnh tâm, Mẹ đã được Thiên Chúa kêu gọi “phục vụ Chúa giữa những người nghèo khổ nhất trong các người nghèo.”[xi] Trước cảnh người nghèo bị đọa đầy trong kiếp sống lầm than, “Mẹ đã đáp lại tiếng Chúa Giêsu kêu gọi : ‘Hãy đến làm ánh sáng của Thày.’ Mẹ Têrêsa đã để lại một để lại một chứng từ về niềm tin không suy suyển, niềm hy vọng vượt mức và lòng bác ái phi thường.”[xii]

Tinh thần Mẹ đã lôi cuốn nhiều người bước theo. Ngày nay có trên 5,000 tu sĩ nam nữ và các thiện nguyện viên đang điều khiển khoảng 500 trung tâm trên khắp thế giới, nuôi ăn 500,000 gia đình và giúp 90,000 người cùi mỗi năm.[xiii] Năm Mẹ qua đời 1997, Dòng Truyền Giáo Bác Ái của Mẹ thực hiện 610 sứ vụ tại 123 quốc gia, bao gồm các nhà tế bần và chỗ ở cho các bệnh nhân HIV/AIDS, các người bệnh phong cùi và ho lao, nhà bếp nấu cháo cho người nghèo, các chương trình cố vấn cho gia đình và trẻ em, các cô nhi viện, và trường học.[xiv]

Chỉ cần một tâm hồn tràn ngập tình yêu Chúa, biết bao cuộc đời sẽ được biến đổi. Tình yêu có sức vạn năng. Ðứng trước đại dương nghèo đói, Mẹ Têrêsa quả quyết : “Người nghèo không cần sự đồng cảm và lòng thương hại của chúng ta. Người nghèo cần tình yêu và lòng trắc ẩn của chúng ta.”[xv] Chỉ có tình yêu mới có thể đem lại giá trị lớn lao nhất cho người nghèo. Ai đã hiệp nhất với Chúa trong tình yêu, không thể không thấy Thiên Chúa nơi người nghèo. Ðó là lý do tại sao chúng ta phải tôn trọng nhân phẩm của người nghèo. Có nhìn nhận như thế, mới có đủ khả năng phục vụ người nghèo.

Sở dĩ Mẹ Têrêsa có thể làm được những việc vĩ đại, vì Mẹ ý thức “Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta để yêu và được yêu. Bắt đầu cầu nguyện là biết Người yêu tôi, tôi được tạo dựng để làm những việc vĩ đại”[xvi] trong tình yêu. Ðúng hơn, “chúng ta không thể làm những việc vĩ đại, nhưng có thể làm những việc nhỏ mọn với một tình yêu vĩ đại.”[xvii] Khi được thực hiện trong tình yêu, dù việc nhỏ mọn nhất cũng thành vĩ đại.

Thế nhưng thế giới mấy ai làm được những điều vĩ đại như thế ? Sở dĩ nhiều vấn đề không bao giờ đượcgiải quyết, vì theo Mẹ, “ngày nay thế giới không có bệnh nào trầm trọng hơn bệnh thiếu tình yêu.”[xviii] Tình yêu là khởi điểm và tận điểm của mọi vấn đề. Con đường tình yêu là con đường hiệp nhất với Thiên Chúa ngay trong cuộc sống. Thật vậy, “khi biến cải tình yêu đó sang hành vi tình yêu sống động, chúng ta giao tiếp với chính Thiên Chúa, với Chúa Giêsu.”[xix] Với những ai có niềm tin, tình yêu từ muôn ngả dẫn về Thiên Chúa.Từ Thiên Chúa, Mẹ Têrêsa đã đến với người nghèo. Từ người nghèo, Mẹ cũng tìm thấy nẻo đường về với Thiên Chúa. Thật tuyệt vời !

Có thể tóm tắt về con người và cuộc đời Mẹ Têrêsa theo lời tự thuật sau đây : “Về huyết thống, tôi là người Anbani. Về quốc tịch, tôi là người Ấn độ. Về đức tin, tôi là nữ tu Công giáo. Về ơn gọi, tôi thuộc về thế giới. Về trái tim, tôi hoàn toàn thuộc về Thánh Tâm Chúa Giêsu.” Dù thân hình nhỏ nhắn, nhưng niềm tin sắt đá, Mẹ Têrêsa Calcutta đã được Chúa ủy thác loan báo tình yêu nồng cháy Thiên Chúa dành cho nhân loại, nhất là cho những người nghèo nhất trong các người nghèo. “Thiên Chúa vẫn còn yêu thế gian và Người gởi bạn và tôi làm cho mọi người thấy Người yêu thương và cảm thông với người nghèo.” Mẹ là một linh hồn đầy ánh sáng Chúa Kitô, cháy lửa yêu mến Chúa và nhiệt tình muốn “làm cho Chúa nguôi cơn khát tình yêu và các linh hồn.”[xx]

Tóm lại, từ trên núi biến hình, các môn đệ Chúa Kitô đã lao thẳng vào cuộc đời và đã hy sinh tất cả cho công cuộc cứu độ nhân thế. Cũng thế, Mẹ Têrêsa và Martin Luther King Jr. đã lên tới đỉnh cao tâm hồn để nghe thấy tiếng gọi và chìm ngập trong ánh sáng tình yêu của Chúa. Họ đã tìm được niềm vui khi dâng hiến cả cuộc đời cho những người cùng khổ trong xã hội. Tất cả những nạn nhân của những cơ chế bất công đều phấn khởi trước sức mạnh giải thoát của tình yêu phát ra từ những tâm hồn quả cảm đó.

Lạy Chúa, xin dẫn chúng con lên núi để thấu hiểu tất cả bản chất và sức mạnh tình yêu. Nhờ đó, chúng con có thể tìm lý do mọi đau khổ và kiên trì tranh đấu cho công lý trên quê hương và khắp nơi trên thế giới. Amen.

đỗ lực 17.02.2008

 

[iv] Raher, K., The Great Church Year.

[v] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 580.

[vi] Ibid., 54.

[vii] ibid., 55.

[viii] Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh Thánh Tân Ước, Lời Chúa Cho Mọi Người, 2005:325.

[ix] Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 581.

[xvi] Ibid.

[xvii] Ibid.

[xviii] Ibid.

[xix] Ibid.


Lm. Jude Siciliano,OP. (Chuyển ngữ Fx Trọng Yên, OP.)

Xin chạm vào con để con chỗi dậy

Mt 17:1-9

Thưa quý vị, Thông thường thì chúng ta nghỉ chúa nhật thứ 2 mùa chay sách thánh sẽ nói nhiều về tội lỗi, hậu quả của nó, ăn năn sám hối, là những đề tài thích hợp với mùa chay. Nhưng, những bài kinh thánh đọc hôm nay lại chú trọng đến chổ khác là gởi đến chúng ta một khái niệm về ân sủng thường ngày của Chúa. Nhờ đó giúp chúng ta sống sâu lắng vào mùa phụng vụ này. Nói cách khác  không có ân sủng mùa chay sẽ trở nên một trò tiêu khiển, một mùa gây thất vọng cho chúng ta vi chúng ta đang cố gắng thay đổi đời sống cũ qua đời mới với tất cả sức lực của chúng ta.

Sách Sáng Thế đưa chúng ta trở về nguộn cội của đức tin. That ra thì cả ba tôn giáo chính là đạo Do Thái, Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo đều nhìn về Abraham là "tổ phụ" của đức tin. Bài kinh thánh thứ nhất rất ngắn, đưa chúng ta vào bài phúc âm. Nhưng hai bài có liên lạc ỏ chổ nào? Đó chính là sự lắng nghe và vâng theo lời của Thiên Chúa.

Abram (đó là tên của ông lúc đó) được Thiên Chúa gọi. Ông phải ra đi với vợ là bà Sara. Ông phải bỏ đất đai, bỏ gia đình, để đi đến một nơi Thiên Chúa dành cho ông mà ông không hề biết. Ông và Vợ ông  đã đáp lời Thiên Chúa gọi và tiếp tục nghe lời Thiên Chúa để tìm hiểu Thiên Chúa muốn họ làm gì. Đó là Thiên Chúa muốn họ làm tôi tớ cho Thiên Chúa: nghe lời và đáp lại lời Thiên Chúa. Đây cũng là điều mà chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu phải làm. Chúng ta phải làm theo lời nói trong đám mây trong bài phúc âm hôm nay: ”các con hãy nghe lời Người”.

Phúc âm của thánh Mátthêu viết cho cộng đồng Do Thái, phần đông đa hiểu rõ về đạo Do Thái. Vi vậy Mátthêu mới chứng tỏ rằng Chúa Giêsu thực hiện lời hứa của Thiên Chúa cho dân Do Thái. Trong phúc âm này Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài là Ngài đến để "hoàn tất lề luật" Mátthêu viết để tả Chúa Giêsu nhu Môisen. Ngài đến để dựng nên một giao ước mới qua chính đời sống, sự chết, và sự Phục sinh của Ngài. Bởi thế chúng ta thấy có nhiều chổ nhắc đến lời các ngôn sứ, và các nhân vật trong kinh thánh Do Thái. Và bài phúc âm hôm nay nói về sự Chúa tỏ mình sáng láng là một bài trùng hợp với các bài khác trong phúc âm Mátthêu. Nhằm giúp chúng ta hiểu rỏ hơn sự liên hệ giữa Cựu ước và Tân ước, để học hỏi và để đáp lại những gì thánh Mátthêu cho chúng ta biết về Chúa Giêsu.

Vì thánh Mátthêu cho chúng ta hiểu Chúa Giêsu như ông Môisen, nên bài phúc âm nằm trong khung cảnh của truyền thống Môisen. (Có lẽ các bạn nên đọc sách Xuất hành đoạn 24 và 34 để hiểu khung cảnh đó). Các bạn hãy lấy một đoạn trong sách Xuất hành và đoạn về Chúa Giêsu tỏ mình sáng láng có liên hệ với nhau: Cả hai bài đều nói về một chuyện xảy ra trên núi cao. Mặt Chúa Giêsu và mặt ông Môisen đều tỏ ra sáng chói; Chỉ một ít người được chọn dự phần vào chuyện xảy ra trên núi; Có một đám mây trắng bao phủ và có tiếng nói từ trong đám mây ra. Để nói rõ hơn sự liên hệ giữa 2 chuyện đó, chúng ta thấy ông Môisen và ngôn sứ Elia đều có mặt trong chuyện Mátthêu viết.

Ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa có tiếng nói từ trời xuống "Nầy là con chí ái của Ta, đẹp lòng ta mọi đàng". Bây giờ tiếng nói đó cũng từ trời xuống nhưng trên núi cao "Nầy là con chí ái của Ta, đẹp lòng ta mọi đàng, các ngươi hãy nghe lời Ngài." Trong bài phúc âm về Chúa tỏ mình sáng láng có thêm "các ngươi hãy nghe lời Ngài". Một liên hệ với Môisen nửa là Môisen đã nói với dân Do Thái là Thiên Chúa sẽ cho chỗi dậy một tiên tri như Môisen "các ngươi hãy nghe Ngài" (thứ luật 18:15). Chúa không cần phải nói gì nữa ngoài những điều đã được viết trong phúc âm. Chúa không cần phải lặp lại và giải thích nhiều những gì đã có trong phúc âm. Các môn đệ và chúng ta chỉ cần phải nghe lời Chúa Giêsu nhấn mạnh về sự thương khó của Ngài.

Việc Chúa Giêsu tỏ mình sáng láng được giới thiệu trước trong 2 đoạn trước việc Chúa sẽ chịu thương khó: Một đoạn ngay trươc đoạn phúc âm này (16:24-28 báo trước việc tử nạn) và đoạn khác sau đoạn  Chúa tỏ mình sáng láng  (17:21-22 báo trước việc tử nạn). Các môn đệ trên núi cao chắc đã hiểu phần thân thể sáng láng của Chúa Giêsu còn thiếu một điều và thường chúng ta cũng vậy là ý nghĩa của một chuyến lên núi cao khác trong Mátthêu đó là khi Chúa Giêsu lên chổ cao trên thập giá. Ở đó cũng có người đứng xem. Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa hình như không có ở đó với Chúa Giêsu khi Ngài lớn tiếng "Lạy Thiên Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi, nhân sao Người lại bỏ tôi". Trên đồi thập giá hai ông Môisen và Elia được thay thế bằng hai người trộm cướp, và áo Chúa Giêsu không trắng xóa, nhưng Ngài đã bị lột để đón giờ chết. Trên đồi thập giá không có hiện tượng Chúa sáng láng như trên núi cao, trái lại có những người cười nhạo Chúa, có lính đứng nhìn Chúa, có lính đội mảo gai cho Chúa và có người la to lên: "Nó là vua Israel". Đây không phải là tiếng như trên núi cao bảo các môn đệ hãy nghe lời Ngài, và chúng ta phải nghe lời Ngài và theo con đường Ngài đã đi qua là đường đưa lên thập giá.

Các môn đệ nhận thức được phần sáng láng khi còn ở trên núi cao với Chúa Giêsu. Điều mà họ không nhận thức được là  Chúa muốn dạy họ về việc làm môn đệ như thế nào trong khi Chúa cùng họ đi xuống núi và tiếp tục cuộc hành trình lên thành thánh Jerusalem. Chúa Giêsu dặn họ rằng: "đừng nói cho ai hay việc ấy, cho đến khi Con Người từ cỏi chết chỗi dậy".  Ngài còn nhiều điều phải dạy họ và họ lắng nghe Ngài như lời từ trên mây cao nói xuống.

Chúng ta cũng nên tự hỏi, trong mùa chay: chúng ta có nghe lời Chúa Giêsu không? chúng ta có hiểu được việc làm môn đệ của Chúa hay không? Chúng ta có sẳn sàng chấp nhận Chúa Giêsu trong 2 sự sáng láng ấy không: Sáng láng trên núi cao và sáng láng trên thập giá. Cũng như các mộn đệ, chúng ta ham muốn sự sáng láng nơi Chúa Giêsu trên núi cao, nhưng chúng ta ngán ngại chấp nhận những lời Ngài nói về cây thập giá. Theo Chúa lên núi cao để trông thấy sáng láng của Ngài là một việc, nhưng theo Ngài lên núi thập giá lại là một việc khác.

Như thánh Phêrô, chúng ta không muốn lìa bỏ cảnh trên đỉnh núi cao, và chúng ta muốn tránh cây thập giá. Tuy vậy vì là môn đệ của Chúa Giêsu nếu chúng ta "nghe lời Ngài", chúng ta sẽ hiểu được cây thập giá là phần chính trong cuộc đời của Ngài. Chúng ta có thể lựa chọn việc làm môn đệ tren núi cao truoc, và bỏ qua phần Ngài nói sau khi từ trên núi cao xuống. Ngai dạy rằng: "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em" (20:26-27). Thật ra thì nếu các môn đệ thật sự nghe lời  Chúa Giêsu thì họ đã nghe Ngài nói từ trước khi lên đinh núi cao là: "Ai muốn theo Thầy, phải tự bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (16:24)

Chúng ta thấy được rằng những trường hợp gặp đau khổ và mất mát trầm trọng đó chính là thập giá của chúng ta. Mổi khi chúng ta chịu đau đớn chúng ta được an ủi là Chúa Giêsu sẽ hiện diện để giúp chúng ta vác thập giá của chúng ta cùng với Ngài. Chúng ta phó mình chúng ta trong tay Ngài, Người thương yêu chúng ta và đã cứu chúng ta khỏi phải thất vọng. Chúa Giêsu trên thập giá là tính cách biểu hiện tình Thương của Thiên Chúa rất thực, vì Ngài thật sự chịu đau khổ của loài người, và Ngài không bao giờ bỏ quên chúng ta đâu. Trong khi chúng ta vác thập giá đau khổ của chúng ta, thì chúng ta đã hiệp thông với Thiên Chúa qua Chúa Kitô, và những lời Thiên Chúa đã nói về Ngài thi Thiên Chúa cũng sẽ nói về chúng ta: "Nầy là con chí ái của Ta". Nhưng, cây thập giá Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong phúc âm là một cây thập giá khác với chúng ta, vì chúng ta không có quyền lựa chọn để lảnh nhận đau khổ. Chúng ta được dịp chọn lựa cây thập giá khi nói đến cây thập giá mà Chúa gởi đến cho chúng ta trong phúc am. Chúng ta hãy nghe lại lời Ngài nói : "Nếu ai muón theo Thầy..." Chúa cho chúng ta một dịp chọn lựa để lảnh nhận đau khổ cho đến chết vì Ngài. Trong thơ thánh Phaolô gởi cho Timôtê đọc ngày hôm nay: "nhưng, dựa vao quyền lực của Thiên Chúa, anh em hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo tin mừng". Chúa Giêsu lãnh nhận sự chia xẻ về phần "loan báo phúc âm" và mời gọi chúng ta theo Ngài và làm như Ngài đã làm. Nhưng, chúng ta không tự mình chúng ta làm được, như theo thơ gởi Timôtê nhắc nhở chúng ta là: "chúng ta phải dựa vào quyền lực của Thiên Chúa."

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta vác thập giá với Ngài: để sống trong tình thương yêu kẻ khác, ngay những lúc bị chống đối hay bị lừa đảo; sống trong tình thương yêu ngay với kẻ thù; sống trong tinh thần phục vụ thương yêu các anh chị em chúng ta, những người nghèo khó, bi ruồng bỏ và bị loại ra ngoài lề xã hội; xây dựng hòa bình trong một xã hội đầy bạo lực v.v... Nói một cách khác là chúng ta sống đời sống của chúng ta như Ngài đã sống, đó là sự hy sinh đời sống hiện tại cho đời sống mới mà Ngài đã tỏ mình sáng láng trên đỉnh núi cao và các môn đệ đã nhận thấy ánh sáng đó. Qua sự chết và sự sống lại của Ngài. Chính cây thập giá đã trở nên sáng láng và là cây để giúp dựng nên một đời sống mới cho những ai nhận lấy nó mà vác theo Ngài.

Trong phúc âm đọc ngày hôm nay có diễn tả tình thân yêu Chúa là: Khi các môn đệ nghe lời nói từ trên tầng mây xuống thi các ông "kinh hoàng, ngả sấp mặt xuống đất". Rồi thánh Mátthêu lại nói tiếp "Chúa Giêsu đến gần chạm vào các ông và bảo "chỗi dậy đi, đừng sợ". Khiến cho chúng ta là những người muốn vác thập giá của chúng ta để theo chân Chúa Giêsu phấn khởi và hy vọng. Chi tiết này chỉ có trong phúc âm thánh Mátthêu. Trong suốt phúc âm chúng ta thấy lời Chúa Giêsu, và sự chạm vào Chúa Giêsu là những dịp chữa người đau yếu được lành vì đó là cách Chúa ban sự sống lại.

Cảnh Chúa tỏ mình sáng láng cho chúng ta thấy các môn đệ là những người yếu đuối, họ là những con người như chúng ta, sợ ngã sấp mặt xuống đất và sợ hãi trước sự biểu hiện Thiên Tính của Chúa Kitô. Nhưng, Chúa Giêsu chạm vào và nói một lời nâng đỡ họ làm chúng ta thêm hăng hái, muốn được thực hiện lời hứa làm theo lời Ngài dạy trong mùa chay này là: "Hãy chỗi dậy, đừng sợ".


Lm. Jude Siciliano, OP (
Chuyển ngữ Anh Em HV Đaminh Gò Vấp)

 HÃY VÁC THẬP GIÁ MÌNH HÀNG NGÀY
MÀ THEO THẦY

Mt 17: 1-9

Ngoài những người tuyệt vời tôi từng gặp thì một trong những ưu điểm đối với việc giảng thuyết lưu  động là cơ hội được thấy nhiều thứ trong đất nước mình, đôi khi ở cả nước ngoài. Tôi là một đứa trẻ sống ở thành thị và ở New York chúng tôi không còn có những ngọn núi ở phía xa chân trời, mà chỉ còn đường chân trời Manhattan!

Tuy nhiên, trải qua những năm đi đây đi đó, tôi đã từng đến những ngọn núi cao như dãy núi Rocky và Sierra Nevada ở phía Tây; những dãy núi thấp hơn một chút nhưng vẫn được xem là hùng vĩ ở bang Vermont, Bắc Carolina, Tây Verginia và thượng bang New York. Tôi thường cảm thấy sung sướng khi ở trên đỉnh của những dãy núi này vì không khí trong lành, gió mạnh và cảnh vật hùng vĩ. Đứng trên đỉnh núi cũng cho tôi cảm giác an toàn nhờ khối đá rắn chắc dưới chân. Với tôi, dường như đó là một kinh nghiệm tôn giáo khi trèo lên một ngọn núi rồi để cho tâm trí và cảm xúc ùa về cùng với dòng cảm nghiệm. 

Chẳng phải ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan cũng có những cảm xúc như thế khi các ông lên tới đỉnh của “ngọn núi cao” với Đức Giêsu hay sao? Sau khi các ông lên tới đỉnh núi, dường như được ở đó với Người vẫn chưa đủ, các ông còn có cảm nghiệm về sự Biến Hình! Đó là một câu chuyện ấn tượng và xảy ra ở một thời điểm quan trọng trong Tin Mừng thánh Mátthêu, trong đó có vài chủ để cùng được đề cập đến. 

Thánh Mát-thêu có những biểu tượng Dothái cụ thể  trong Tin Mừng của ngài. Chẳng hạn khi so sánh giữa Đức Giêsu và ông Mô-sê. Đức Giêsu là Môsê mới giải phóng dân Người. Còn nhớ Chúa Nhật tuần trước, Đức Giêsu trải qua 40 ngày trong sa mạc, nơi Người chịu cám dỗ - một sự ám chỉ hiển nhiên đối với sa mạc của người Do Thái tạm cư, nơi họ chịu cám dỗ và, khác với Đức Giêsu, họ đã không chống nổi sự cám dỗ. Trên núi, Đức Giêsu đàm đạo với ông Mô-sê (Nhà lập pháp) và ông Ê-li-a (đại diện cho các ngôn sứ). Cũng có tiếng nói từ đám mây, gợi lại việc Thiên Chúa mạc khải cho ông Mô-sê ở trên núi và trình thuật của thánh Mát-thêu về việc Đức Giêsu chịu phép rửa (3,17)

Cũng như trong các trình thuật Tin Mừng, bối cảnh của biến cố Biến Hình là quan trọng. Mạc khải trên núi cho ba môn đệ diễn ra ngay sau khi ông Phêrô tuyên xưng về Đức Giêsu (“Thầy là đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”). Điều này diễn ra tiếp sau việc Đức Giêsu khiển trách ông Phêrô; lần đầu tiên Người nói đến cuộc thương khó; rồi Người mời gọi các môn đệ từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Người. 

Đó là một sứ điệp khó khăn cho các môn đệ Đức Giêsu. Họ nghĩ rằng họ đã biết chắc chắn về Đức Giêsu, một ngôi sao chỗi quét ngang bầu trời. Thay vì trở thành những người bạn thân thiết của Đấng mà họ nghĩ rằng sẽ đạt đến đỉnh vinh quang và dẫn họ đi cùng, thì các môn đệ mới hay rằng mình phải sẵn sàng theo Đức Giêsu tới cuộc khổ nạn sắp diễn ra của Người. Thật không hoàn toàn như những gì các ông nghĩ! 

Cuộc Biến Hình, với những tin có vẻ không tốt cho các môn đệ ngay lúc đầu, có thể nhằm để mở rộng tầm nhìn của các ông về những gì sẽ xảy đến. Vượt trên sự hy sinh cần có đối với bất cứ ai muốn theo Đức Giêsu là điều hàm ẩn chắc chắn mà cuộc Biến Hình đã mang lại cho các môn đệ khi các ông xuống núi. “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”. Vì thế sau khi Đức Giêsu chịu khổ nạn và chịu chết, Người sẽ sống lại – và những ai theo Người cũng sẽ được sống lại. Sự phục sinh là sự kết thúc đầy hứa hẹn dành cho các môn đệ trung tín.

Nhiều nhà thờ có một hình ảnh thập giá với Đức Ki-tô, trên áo linh mục thì tách hai hình ảnh đấy ra, ý muốn mô tả Người không còn ở trên thập giá nữa nhưng đã phục sinh. Hoặc các nhà thờ có cửa sổ bằng kính màu diễn tả sự Phục Sinh. Khi chúng ta ngắm nhìn những biểu tượng này trong lúc cầu nguyện thì chúng không chỉ nói về điều gì đó Đức Giêsu đã cảm nghiệm, mà chúng còn diễn tả tương lai của chúng ta: một lời hứa về sự phục sinh từ cõi chết dành cho các môn đệ, những người đã tự nguyện vác thập giá.

Vẫn là bối cảnh: Sau cuộc Biến Hình, Đức Giêsu lại tiên báo về cuộc khổ nạn, chịu chết và phục sinh của Người. Càng ngày Người càng ý thức về vận mệnh của mình và Người muốn các môn đệ của mình biết mình muốn gì nếu họ vẫn tiếp tục theo Người. Ông Phêrô muốn ở lại trên núi – ai chẳng muốn thế? Ông muốn né tránh những gì Đức Giêsu đã nói với các ông trước đó về sự đau khổ dành sẵn cho Người, và rồi cho cả các môn đệ nữa. Buổi tối trong vườn trước khi chịu khổ hình thập giá, Đức Giêsu cũng muốn được miễn khỏi cuộc khổ nạn đang chờ đợi Người, khi Người xin miễn khỏi chén khổ. Nhưng Người vẫn chấp nhận thập giá. Và vì Người đã làm được nên chúng ta cũng có thể.

Nhiều người, sau một kinh nghiệm hoán cải hay khi họ đạt đến một ý thức sâu xa về niềm vui và  bình an mà kèm theo một cuộc sống đặt trọng tâm vào Đức Ki-tô, thì sẽ có được một “cảm nghiệm trên đỉnh núi”, giống như cảm nghiệm của các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Nhưng chẳng chóng thì chày, chúng ta cũng cần phải trở về với thực tế cuộc sống và đối mặt với thập giá của cuộc đời người  môn đệ.

Một cuộc sống của người Ki-tô hữu đích thực có nhiều chọn lựa: Chúng ta có chấp nhận những tiêu chuẩn sống của xã hội đặt ra với những tham vọng vô độ như: thành công, quyền lực, của cải, danh vọng…? Hay chúng ta chọn theo đường lối của Đức Giêsu là: phục vụ, xây dựng hòa bình, từ bỏ chính mình…? Nếu chúng ta chấp nhận theo đường lối của Đức Giêsu thì chúng ta cũng sẽ chấp nhận sự đau khổ đi kèm.

Khi đối mặt với thập giá của người môn đệ, chúng ta phó thác mình trong tay Đức Giêsu, vì Người có quyền năng giải thoát chúng ta khỏi bóng đêm và sự tuyệt vọng. Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi hay để chúng ta hư mất khi chúng ta chấp nhận những đau khổ chắc chắn xảy đến trên hành trình chúng ta khi cố gắng sống như những người Ki-tô hữu trong xã hội không mấy thân thiện này. Cảm nghiệm trên đỉnh núi đảm bảo rằng: nếu chúng ta kết hiệp với Đức Giêsu qua bí tích Rửa tội, thì chúng ta cũng sẽ trở nên những anh chị em được Thiên Chúa thương mến.

Hôm nay, việc thánh Phaolô khích lệ ông Timôthê thật có ý nghĩa đối với chúng ta, là những môn đệ cũng được mời gọi kiên tâm chịu đựng những cuộc đấu tranh trong việc trở thành một Kitô hữu trong thế giới của chúng ta. Thánh Phaolô nhắc rằng ân sủng của Chúa luôn tuôn đổ trên chúng ta qua Đức Giêsu Ki-tô. Trong Tin Mừng chúng ta đã được ban cho một ánh sáng tỏ tường để dẫn bước và giúp chúng ta có thể chấp nhận bất cứ nỗi khổ nào xảy đến trên hành trình của mình, khi chúng ta chấp nhận cái giá trong cương vị môn đệ. 

Thánh Phaolô dùng từ "epiphaneia" khi nói về ân sủng “giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Ki-tô Giêsu  đã xuất hiện”. Chúng ta không cần phải biết tiếng Hylạp để hiểu được ngụ ý của từ đó. "Epiphaneia" diễn tả việc Thiên Chúa biểu lộ quyền năng cao cả trong lịch sử dân Do Thái. Hôm nay, Thiên Chúa cũng tỏ cho chúng ta việc biểu lộ này ("epiphaneia") ở trên núi.  Trong Đức Giêsu có sức mạnh giúp ta vượt thắng cả tội lỗi và sự chết. Trên thực tế, toàn bộ cuộc đời của Đức Giêsu là một "epiphaneia" về sự quan tâm rất lớn Thiên Chúa dành cho chúng ta trong những cuộc chiến đấu vượt qua quyền lực của bóng đêm và tội lỗi.

Đức Giêsu mời gọi chúng ta vác lấy thập giá của Người và sự đau khổ chắc chắn cùng xảy ra. Nhưng Người không tôn vinh đau khổ chỉ vì chính đau khổ. Có một thứ đau khổ có thể cứu vãn được. Chẳng hạn như có sự đau khổ kèm theo sự hiến thân cho công lý vì người khác. Trong sự đau khổ có thể cứu vãn này là một sức mạnh để yêu thương ngay cả khi sự đối kháng và ghen ghét nhắm thẳng vào chúng ta. Với sự chịu đựng có thể cứu vãn cũng là sức mạnh và sự bền đỗ khi chúng ta hành động để giúp anh chị em, những người bị xã hội chúng ta đối xử cách bất công.

Nhiều người đã sẵn sàng chịu chết để anh chị em có thể có một đời sống mới. Cái chết của họ được kết hiệp với cái chết mang lại sự  sống, cái chết mà Đức Giêsu đã cam chịu trên thập giá. Đây là những gì sẽ xảy ra khi những môn đệ của Đức Giêsu đáp lại lời mời gọi của Người, vác thập giá mình mà đi theo Người. Những môn đệ này phải đối mặt với đau khổ của thập giá, nhưng họ có thể chịu đựng được nhờ vào niềm tin chắc chắn rằng họ cũng sẽ sống lại để chia sẻ cuộc sống đã được hứa ban bởi chính Đấng đã biến đổi hình dạng ở trên núi.  

Lm. Jude Siciliano, O.P.

Hãy đứng lên và đừng sợ!

St 12,1-4a;  Tv 32; 2Tm 1,8b-10;  Mt 17,1-9

Kính thưa quý vị,

Hôm nay, chúng ta bước vào Chúa nhật thứ hai Mùa Chay. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao các soạn giả Sách bài đọc lại chọn những bài đọc như vậy. Đó chẳng phải là lời than phiền gì đâu. Tuy nhiên, “Tại sao họ lại chọn bài đọc đó ở đời này chứ!” Chẳng lẽ các chuyên viên phụng vụ và các học giả Kinh thánh có ý gì khi chọn những bài đọc cho ngày lễ hôm nay chăng? Chính chọn lựa của họ đã tạo ra “xoay tua” để chúng ta có dịp hiểu rõ hơn về các bài đọc cho cuộc sống. Nếu các bài đọc hôm nay dành cho Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng hay Lễ Kitô Vua, thì liệu chúng ta hiểu khác đi chăng? Đương nhiên nhà giảng thuyết sẽ biết rõ điều này.

Chúng ta cùng tìm hiểu xem sao, vì được viết khá lâu trước khi hình thành Mùa Chay, nên bài đọc trong sách Sáng thế hôm nay sẽ cho ta biết rõ điều gì. Trước hết, chúng ta nhìn vào bài đọc, rồi sau đó xem xét ánh sáng soi chiếu cho chúng ta trong Mùa Chay này.

Câu chuyện ông Abram và bà Sarai (tên của họ sẽ được đổi thành Abraham và Sara) là một câu chuyện được nhiều người chúng ta ưa thích. Đó là một câu chuyện về niềm tin: hai người đã đáp lại lệnh truyền của Thiên Chúa: “Hãy ra đi...” Họ biết mình đang ở đâu, nhưng họ không biết mình sẽ đi đến đâu. Họ nghe Thiên Chúa nói với họ và vì thế họ đã khăn gói, dẹp bỏ quá khứ và sẵn sàng lên đường. (Tu sĩ Gustavo Gutierrez, O.P. đã mô tả ơn gọi của ông Abram như “sự đoạn tuyệt”. Đó chẳng phải mô tả rằng lời mời gọi hay ơn gọi có một cảm giác gì chăng?) Họ đi trước thời đại, nhưng họ phải bỏ lại sự an toàn đã trải qua, và bỏ lại cả hàng xóm láng giềng lẫn cộng đồng để đi tới miền đất hứa. Họ không hề biết miền đất đó ở đâu cả, làm sao để đến đó hay khi nào thì sẽ đến nơi. Tuy nhiên, vì phó thác vào lời Thiên Chúa mà họ đã hành động như thế. Họ gạt bỏ những dự tính cá nhân để đi theo hướng dẫn của Thiên Chúa, và đi theo từng bước một.

Sáng kiến của Thiên Chúa khởi đầu cho hành trình, sáng kiến này sẽ hướng dẫn từng ngày và thấy nó đạt đến sự thành toàn. Trong khi ông Abraham và bà Sara là những nhân vật Kinh thánh rất quan trọng, thì Thiên Chúa lại là tâm điểm cho câu chuyện của họ. Kinh thánh không cho chúng ta biết ông Abraham và bà Sara là những con người thật sự thánh thiện. Vì không có phần dẫn nhập, nên chẳng ai biết được manh mối của câu chuyện mô tả họ đặc biệt thế nào. Thay vào đó, vị trí nổi bật là Thiên Chúa. Vấn đề này chúng ta luôn thắc mắc từ đầu đến cuối Kinh thánh: “Ai chịu trách nhiệm ở đây?” Và câu trả lời luôn giống nhau là chính “Thiên Chúa!” Thiên Chúa khởi xướng lời mời gọi, và Người theo chúng ta bằng việc đồng hành và thúc đẩy chúng ta để đáp trả suốt hành trình đến sự thành toàn.

Việc đặt câu chuyện sáng thế này trong phụng vụ hôm nay đã tác động cho chúng ta biết cách lắng nghe lời mời gọi của Thiên Chúa giữa hành trình Mùa Chay. Như ông Abraham, lúc này chúng ta được Thiên Chúa thấy rõ đang ở đâu và trong những hoàn cảnh hiện tại nào của cuộc sống. Những chương đầu trong sách Sáng thế nhắc nhớ chúng ta rằng: Thiên Chúa dựng nên chúng ta theo hình ảnh giống Thiên Chúa. Khi tội lỗi làm hoen ố hình ảnh đó trong chúng ta, thì Thiên Chúa sẵn lòng canh tân nó. Chúng ta được mời gọi ra khỏi những bám chấp quá khứ, và tin tưởng vào ân sủng nhưng không do phúc lành và lòng xót thương của Thiên Chúa. Chúng ta không phải nổ lực hoặc nài xin để có được những ân sủng này. Nhưng, ân sủng đó luôn dành sẵn cho chúng ta trong Mùa Chay này.

Thiên Chúa có những kế hoạch lớn lao, không chỉ dành cho ông bà này. Tất cả chúng ta cũng sẽ nhận được phúc lành mà khởi đi bằng việc Thiên Chúa chọn ông Abraham và bà Sara. Câu chuyện của sách Sáng thế bắt đầu bằng lời chúc phúc cho những con người đầu tiên. Họ đã chọn lối đi riêng và đã bị đuổi khỏi vườn Địa Đàng. Mùa Chay nhắc nhớ chúng ta về những “chuyến lên đường” mà chúng ta đã thực hiện trên những hành trình riêng trong cuộc sống. Đồng thời, Mùa Chay cũng nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, và chuẩn bị để chữa trị những đổ vỡ do tội lỗi gây ra. Ông Abraham và bà Sara là những nhân vật điển hình mà Thiên Chúa chuẩn bị để chúc lành cho chúng ta là những lữ khách bám chấp.

Có thể chúng ta cảm thấy không xứng đáng với lòng quảng đại của Thiên Chúa. Nhưng công trạng không phải là điều mà câu chuyện ông Abraham và bà Sara nhắm đến. Cùng với họ, hôm nay chúng ta được trao ban ân sủng cho một khởi đầu mới và một tương lai mới. Để đứng lên và tiếp tục cuộc hành trình với Thiên Chúa như người bạn đồng hành, thì liệu chúng ta có dám bỏ lại những gánh nặng trên vai hay không? Như lòng tín thác của ông Abraham và bà Sara vào Thiên Chúa, cùng với cộng đoàn phụng tự, chúng ta nên tin tưởng cầu xin để đáp trả lời Chúa trong bài đọc thứ nhất rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con như chúng con đặt tin tưởng nơi Ngài”.

Thánh Phaolô tái khẳng định một sứ điệp tương tự với sứ điệp chúng ta đã nghe từ sách Sáng thế. Thiên Chúa đã khởi sướng và kêu gọi chúng ta, “không theo công việc của chúng ta, nhưng theo kế hoạch riêng của Thiên Chúa và ân sủng đổ tràn trên chúng ta trong Đức Giêsu Kitô...”

Trình thuật Hiển dung của thánh Mátthêu diễn ra sau việc tiên báo đầu tiên về cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu (16,21) và trước việc tiên báo lần thứ hai (17,22-23). Đức Giêsu biết điều gì đang chờ đợi mình ở Giêrusalem, và Người muốn cho các môn đệ biết rằng họ cũng phải vác thập giá để theo Người. Như ông Abraham, họ sẽ phải ra khỏi lối sống hiện tại và bắt đầu hành trình được Đức Giêsu hướng dẫn tới chốn định cư mới. Sau biến cố Hiển dung, ông Phêrô muốn xây dựng một nơi cư ngụ và ở lại đó. Nhưng đó không phải là điều Thiên Chúa muốn dành cho ông Abraham và bà Sara, cũng không dành cho ông Phêrô, hay cho bất kỳ môn đệ nào khác. Mùa Chay này, một lần nữa, Thiên Chúa mời gọi chúng ta lên đường – vác lấy thập giá và bước theo Đức Giêsu. Chúng ta được nhắc nhở rằng, việc đáp trả lời mời gọi của Đức Giêsu sẽ có giá trị khi chúng ta vượt qua những đau khổ trong tư cách làm môn đệ. Chúng ta cũng nắm chắc rằng Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta cho đến khi cuộc hành trình được hoàn thành.

Các môn đệ được Đức Giêsu đưa lên núi. Họ bỏ lại những tính cách của cuộc sống hằng ngày trong trần gian này, ít nhất là trong một khoảng thời gian, đó là: sự ghen ghét, thù hận, ích kỷ, tranh cãi và tranh giành nhau. Đức Giêsu dẫn họ ra khỏi lề thói cũ để bước vào một trật tự mới, nơi đó Người là ánh sáng của họ - “Dung nhan Người sáng như mặt trời”. Trên ngọn núi cao, hai người khác xuất hiện, đó là ông Môsê và ông Êlia. Ông Môsê đã nhận Mười Điều Răn từ Thiên Chúa trên núi [Sinai], và dẫn đưa dân Người từ nô lệ đến tự do; còn ông Êlia là người cũng gặp gỡ Thiên Chúa trên núi, và hướng dẫn dân chúng từ việc thờ thần ngoại đến việc tôn thờ Thiên Chúa đích thật.

Mùa Chay là hành trình lên núi khác. Chúng ta cố gắng bỏ lại những bất cập của cuộc sống và theo hướng dẫn của tiếng nói: “Đây là Con Ta yêu dấu, Ta rất hài lòng, hãy vâng nghe Người”. Trong Mùa Chay, chúng ta lại quyết tâm trở thành những người biết vâng nghe Đức Giêsu hơn, và vứt bỏ sau lưng những “ồn ào” khiến chúng ta không nghe được tiếng Người. Do những tiếng nói khác làm mất tập trung, nên không phải lúc nào chúng ta cũng có những lựa chọn khôn ngoan. Nhưng trong Mùa Chay này, cùng với Đức Giêsu trên núi, chúng ta quyết tâm chú ý lắng nghe tiếng Người đang mời gọi chúng ta rằng: “Hãy đứng lên và đừng sợ”.

Tuần trước, chúng ta đã vào sa mạc với Đức Giêsu. Ở đó, chúng ta nhớ lại những cơn cám dỗ mà mình đã bị khuất phục trong cuộc sống. Chúng ta cũng nhìn nhận sự dữ tồn tại cùng với sức mạnh của nó trong thế gian. Tuần này, chúng ta cùng Người lên ngọn núi cao. Trên núi, chúng ta có quyền hy vọng, vì chúng ta có thể nhìn thấy nhờ ánh sáng hiển dung của Đức Kitô dành cho mình. Chúng ta nghe thấy tiếng Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta hãy vâng nghe Đức Kitô, vì Người chính là Tin mừng của sự tha thứ trong Mùa Chay này.