![]() | |
|
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG A
Is
7,10-14 / Rm 1,1-7 / Mt 1,18-24 An Phong op : Tuân Theo Ý Chúa Lm Như Hạ op : Thiên Chúa ở cùng chúng ta Fr. Jude Siciliano, op : Ngài là Đấng Emmanuel Giuse Nguyễn Cao Luật op : Các Diễn Viên Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Niềm tin của thánh Giuse Minh Thiện op : Noi gương Đức Maria, gương mẫu sống Mùa Vọng Fr. Jude Siciliano, op : Thiên Chúa đã và đang ở giữa chúng ta Fr. Jude Siciliano, op: Đức Giêsu đồng hành với nhân loại trong xáo trộn
Tuân Theo Ý Chúa Ngày lễ Giáng sinh đã gần kề, phụng vụ cũng nhắc nhở chúng ta thái độ quan trọng để Chúa có thể đến trong cuộc đời mình : tuân theo Thánh Ý Chúa. Trong bài đọc 1, sách Isaia kểcho chúng ta việc vua xứ Giuđa là Achaz đang phải đối diện với các cuộc xâm lăng của các nước phương Bắc. Ông không trông cậy vào Chúa mà chỉ nghĩ đến việc cầu cạnh các nước khác. Ông lập đền thờ quấy và còn thiêu sinh cả con mình làm lễ tế. Ngôn sứ Isaia được Chúa sai đến nói với Achaz hãy tin tưởng vào Chúa và cho ông xin một dấu chỉ, dù trên trời hay dưới đất. Achaz không dám xin vì sợ nếu có dấu chỉ của Chúa thì sẽ phải bỏ hết những mưu tính của mình; nên giở giọng đạo đức để nói : “Tôi đâu dám thử Chúa.” Dù vậy, Chúa cũng ban cho Achaz một dấu chỉ : “một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ con trai”. Ngược lại, Tin mừng Matthêu thuật lại cuộc “truyền tin” cho Giuse. Giuse cũng có chương trình và cách thức giải quyết cuộc đời của mình. Nhưng trước lời Thiên thần, Giuse đã sẵn sàng từ bỏ chương trình của mình để thực thi chương trình của Chúa; “Giuse làm như Thiên thần Chúa dạy”. Chúa đến, Ngài làm đảo lộn cuộc sống và trở nên cớ vấp phạm cho những người không dám tin vào Ngài. Thánh ý của Chúa khác với chương trình của con người, nhưng cứu độ con người. Những ai tin tưởng, trông cậy và yêu mến Ngài thì mới có thể nhận ra “dấu chỉ” của Ngài, dấu chỉ của tình thương giáng thế : “Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”. Chúa đã đến thật gần trong cuộc đời chúng ta. Ngài cũng đang tỏ bày những dấu chỉ nói lên Thánh Ý của Ngài qua những sự việc xung quanh ta. Ngài ước mong chúng ta nhận ra tình thương đang giáng thế và tin tưởng vào ơn cứu độ của Ngài. Chúng ta có dám tin vào chương trình của Chúa trong cuộc đời ta không? Lạy Chúa Giêsu !
Chúa đã không quản ngại quãng
đường “xa xôi” từ trời đến trần gian.
Lạy Chúa Giêsu là Chúa của con !
Lạy Chúa Giêsu, Xin Chúa đến và đến hàng ngày trong tâm hồn con.
THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG
TA Nhiều người sống như không cần đến Thiên Chúa. Thực tế, thế giới không thể tồn tại nếu không có Thiên Chúa. Riêng đối với các tín hữu, Thiên Chúa không những hiện hữu nhưng còn hiện diện và đồng hành với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI Tin Mừng Mathêu hôm nay cho thấy sự hiện diện kỳ diệu ấy trong mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Làm người để chia sẻ thân phận hữu hạn giữa bao thử thách đau thương. Chính vì thế, ngay từ đầu Người đã xác định vị thế trung gian nối kết giữa trời đất. Người là “Emmanuen, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Mt 1:23) Thiên Chúa không còn xa lạ với con người nữa. Người là “Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1:4) có thể phá hủy hàng rào tội lỗi ngăn cách nhân loại với Thiên Chúa. Người đến để “hoàn thành lời sấm về Đấng Emmanuen.” (The New Jerome Biblical Commentary 1990 : 635) Từ lòng Mẹ, Người đã sinh ra để trở nên đồng hình đồng dạng với anh em nhân loại. Đó là sự thật được sứ thần minh xác với ông Giuse: “Bà sẽ sinh con trai” (Mt 1:21) Nhưng đồng thời Người cũng đem một nhân tố khác biệt có tính cách quyết định số phận trần gian. Nhân tố đó chính là bản tính Thiên Chúa sẽ đưa cả nhân loại tiến lên. Nhưng như thế cũng chưa đủ để Đức Giêsu có thể đi vào cơ cấu xã hội. Quả thực, Người phải thuộc về một dòng họ để thỏa mãn những đòi hỏi pháp lý cho cuộc hòa nhập vào Dân Chúa. Chính thiên thần đã cho ông Giuse thấy vinh dự lớn lao đang chờ đón ông : “Này ông Giuse, con cháu Đavít, ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu.” (Mt 1:20.21) Như thế, Người thuộc về dòng họ Đavít, một dòng họ đã được thừa hưởng lời hứa. Chính trong dòng họ này, Người có thể thực hiện tất cả những chương trình cứu độ. Nếu thuộc về một dòng họ khác, chắc chắn Người đã không thể mang vào mình lời hứa vô cùng quan trọng đó. Lời hứa đã thấm nhập vào tận huyết mạch dòng họ Đavít. Lời hứa đã thành hiện thực nơi con người Đức Giêsu Kitô. Không chỉ hiện diện với nhân loại, Thiên Chúa còn “cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1: 21) Đó là lý do tại sao Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Nếu có một đức tin sâu xa, sẽ thấy nơi Người cả một mầu nhiệm vĩ đại. Mầu nhiệm ngay từ khi được dựng thai trong lòng Mẹ. Quả thế, “người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (Mt 1:20) Trong cơn hoang mang tột độ, phải có niềm tin lớn lao như ông Giuse mới có thể chấp nhận một sự thật chướng kỳ như thế. Kinh thánh đã chứng minh ông “là người công chính,” (Mt 1:19) nghĩa là, người hết lòng tin tưởng và sống theo lề luật. Lòng ông bị xé rách giữa đòi hỏi của lề luật và danh tiếng của Maria. Giữa lúc ông đang muốn cao chạy xa bay, sứ thần đã đến kềm chân ông lại. Được sứ thần trấn an, ông hết sức vui mừng. Niềm vui thứ nhất vì được “đón bà Maria vợ ông về.” (Mt 1:20) Thứ hai vì ông được quyền “đặt tên cho con trẻ là Giêsu.” (Mt 1:21) Còn người cha nào được vinh dự lớn hơn nữa không ! Danh Giêsu gói trọn cả sứ mạng cứu thế, vì Giêsu có nghĩa là “Giavê cứu độ.” Thế là nhờ Thánh Linh, ông Giuse thấy tất cả công trình Thiên Chúa sẽ thực hiện nơi Người Con yêu dấu này. Ong thật diễm phúc vì đã sống vào một thời điểm lịch sử vô cùng quan trọng, thời điểm cánh chung tràn ngập Thánh Linh. Từ nay nhân loại bước vào một thời đại mới, thời đại đồng hành với Thiên Chúa. Đúng hơn, “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta,” để ban muôn “ân sủng và bình an” (Rm 1:7) cho nhân loại. Nếu Con Chúa không nhập thể, làm sao chúng ta được thánh hóa để trở thành “những người được Thiên Chúa yêu thương, được kêu gọi làm dân thánh” (Rm 1:7) ? Từ ơn gọi vô cùng cao quí đó, chúng ta có thể đem “Tin Mừng về Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 1:3) mà giải thoát muôn dân. Sứ mệnh đó chỉ được hoàn thành trong quyền lực Thánh Linh. Tất cả sẽ trở thành sự thật, nếu chúng ta ý thức mình “là những người đã được kêu gọi để thuộc về Đức Giêsu Kitô” (Rm 1:6) và biết “vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ.” (Rm 1:5) Nghĩa là, sẵn sàng hiến toàn thân phục vụ Đức Kitô “để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa,” (Rm 1:1) một Tin Mừng luôn mang tính hiện đại. TIN MỪNG HÔM NAY Tin mừng đó luôn mang dáng dấp của Thiên Chúa làm người. Nếu Thiên Chúa đã nhập cuộc, người tín hữu không thể lạnh lùng trước những đòi hỏi Tin Mừng cứu độ. Muốn cứu độ chính mình và tha nhân, phải lợi dụng mọi cơ hội để loan báo Nước Thiên Chúa (x. Mt 4:17) hay phải chết như Đức Giêsu (x.Mt 26: 28). Giáo hội đang theo sát vết chân Thày Chí Thánh đem Tin Mừng hòa bình cho nhân loại hôm nay. Chỉ có Tin Mừng mới có thể đáp ứng khát vọng thâm sâu và lớn lao nhất của nhân loại. Tất cả nhân loại đang ngưỡng vọng hòa bình. “Hòa bình thực sự là hoa trái của công lý. Nhưng vì công lý của nhân loại luôn mỏng dòn và không hoàn thiện, bị giới hạn vì tính ích kỷ của cá nhân và phe nhóm, công lý cần phải được bao gồm và hoàn thiện bởi sự tha thứ có giá trị chữa lành và tái lập lại từ căn bản các mối quan hệ bị gẫy đổ giữa con người với nhau.” (ĐGH Gioan Phaolô II, VietCatholic 12/12/2001) Nếu khăng khăng đòi hỏi thi hành công lý, chắc chắn luật pháp phải được thi hành trọn vẹn, nghĩa là không thể không trả thù. Nếu thánh Giuse cũng tố cáo Đức Maria theo đúng luật pháp, chắc chắn Mẹ đã bị vùi dập dưới cơn mưa đá của quần chúng. Không phải bất thứ công lý nào cũng sinh ra hòa bình. Thực vậy, “hòa bình là con đẻ của công lý và sự tha thứ.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 11/12/2001) Công lý mà không tha thứ sẽ dẫn đến bất công, nguyên nhân sinh ra chiến tranh bất tận. Bởi thế, ĐGH Gioan Phaolô II đã đánh tan huyền thoại cho rằng công lý chỉ đạt được nhờ bạo động. Người gọi khủng bố là “một tội ác thực sự chống lại nhân loại”, vì nó “dựa trên óc khinh dể mạng sống con người.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 11/12/2001) Những kẻ khủng bố đã “phàm tục hóa tôn giáo khi tuyên bố mình khủng bố nhân danh Thiên Chúa, bạo hành tha nhân nhân danh Thượng Đế.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 11/12/2001) Thượng đế của họ hoàn toàn lạnh lùng, chỉ biết một thứ công lý trên mây xanh, chứ không biết thực tế con người. “Rõ ràng ĐGH đã ám chỉ đến nhóm Hồi giáo quá khích của Bin Laden, những người Do thái giáo quá khích chỉ nhắm tiêu diệt dân Palestine và những nhóm Kitô giáo quá khích vui mừng vì cuộc phá hủy ở Afghanistan, mở đường cho những nỗ lực ‘phúc âm hóa’ của họ.” (FIDES / CWNews 11/12/2001) Con người đã phạm những tội ác tầy trời khi ra tay loại trừ tội ác. Đúng như Đức Phật đã nói : “Lấy oán báo oán, oán oán chập chùng.” Nói khác, trong hoàn cảnh nhân loại, công lý chỉ có thể vãn hồi khi có sự tha thứ. Công lý mà không kèm theo sự tha thứ là một thứ công lý cơ giới. Thứ công lý đó không thể sinh ra hòa bình. Nhưng làm sao có thể tha thứ, nếu không khám phá tất cả chiều kích tình yêu lớn lao nơi mầu nhiệm “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” ? (Ga 1:14) Có cảm nghiệm và sống tình yêu sâu nhiệm đó, mới thấy được tất cả lý do tại sao Đức Giêsu dạy : “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5:44) Tình yêu kẻ thù xây dựng trên sự tha thứ, chứ không dựa trên công lý. “Chính vì thế ĐGH cho thấy có một con đường tha thứ. Đây là con đường của những ‘người theo Đức Kitô’, một con đường ‘bắt nguồn từ Thiên Chúa và lấy Thiên Chúa làm tiêu chuẩn’, nhưng cũng có thể đạt đến ‘trong ánh sáng của lý trí nhân loại.’” (FIDES/CWNews 11/12/2001) Chỉ khi nào tha thứ, con người mới bắt đầu khám phá mầu nhiệm Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta và mới tìm được con đường dẫn tới hòa bình.
Ngài là
Đấng Emmanuel Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng câu văn mộc mạc : “Sau đây là gốc tích của Đức Giêsu Kitô”. Nếu như tôi được phép diễn dịch thêm, tôi sẽ nói : “Chúa Giêsu Kitô được sinh ra qua một chuỗi những chương trình lộn xộn cho những linh hồn quá tốt” Nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng đúng thực là như thế nếu quí vị đã có lần đọc qua bài tường thuật của thánh Matthêo. Và như vậy mặc nhiên chúng ta tập trung vào bài Phúc Âm Chúa nhật Mùa Vọng này, tuần trước chúng ta suy gẫm về các tiên tri. Những người đã thực sự trông đợi, khao khát và có ý thức về tầm quan trọng của việc đáp trả tiếng Thiên Chúa gọi. Tin Mừng hôm nay thu hút tâm trí chúng ta đặc biệt hơn, vì nó liên hệ trực tiếp đến cuộc đời mỗi người. Chúa đã bước vào dự tính của thánh Giuse và Đức Maria, gây xáo trộn nghiêm trọng đến chương trình của hai vị. Chúa cũng thường xuyên can thiệp vào các ý định xem ra tốt lành của chúng ta và lái đi theo hướng người đã chọn. Vậy thì đổi thay là điều rất cần thiết trong cuộc sống mỗi người, nếu như chúng ta đọc được ý Chúa tỏ tường trong các hành động của Ngài. Dĩ nhiên nó vẫn đòi hỏi nơi chúng ta nhiều đau khổ. Liệu quý vị có thể cảm nhận được nỗi đau đớn của đôi vợ chồng sắp cưới phải từ bỏ chương trình của mình để theo ý Chúa ? Đôi vợ chồng đó là Giuse và Maria. Trong Thánh kinh, Đức Trinh nữ Maria liên hệ trực tiếp đến đời sống Chúa Giêsu và chúng ta đã có nhiều cơ hội để suy tư về đức tin và sự đáp trả của ngài. Nhưng thánh Giuse thì ít khi được nhắc tới. Tin Mừng hôm nay mô tả vai trò chính yếu của ngài, ngài là một người đàn ông bình thường, công chính, tốt lành. Ngài sống lặng lẽ như trăm nghìn người đàn ông khác. Ngài đang dự tính kết hôn với một thiếu nữ cùng xóm làng mà ngài đã đem lòng yêu mến. Chẳng có chi đặc biệt trong vụ việc này. Hoàn toàn tự nhiên, hoàn toàn bình thường. Lịch sử nhân loại chẳng đã từng lặp đi lặp lại như thế hay sao ? Hai người nam nữ đến tuổi, hai gia đình nội ngoại đang trù liệu một cuộc hôn nhân. Có những thủ tục cần phải theo và họ đã tuân theo, chẳng có chi ngoại lệ, đi chệch ra khỏi thói thường. Đó là điều thánh Giuse cảm nhận được và đang tích cực theo đuổi. Nhưng Thiên Chúa đã can thiệp vào, bẻ gãy chương trình đẹp đẽ đó, và thay thế bằng một chương trình khác nhiệm màu hơn, tốt lành gấp bội. Làm sao thánh Giuse tránh khỏi ngỡ ngàng và bối rối ? Theo tiêu chuẩn bây giờ, chúng ta có thể nói ngài chịu thử thách đến tột độ. Thất vọng, chán nản, cay đắng đến cùng tận. Ngày nay chúng ta quen với khái niệm về “đính hôn” kiểu tây phương, và chúng ta áp dụng quan niệm đó cho quan hệ giữa thánh Giuse và Đức Mẹ. Thực tế thì không phải như vậy. Tác giả John Pilch trong tác phẩm The Cultural World of Jesus (Thế giới văn hoá thời Chúa Giêsu) đã cho biết rằng đính hôn theo văn hoá Địa Trung Hải rất khác với chúng ta. Đính hôn theo văn hoá đó có tính cách bắt buộc và nghiêm chỉnh hơn nhiều. Nó là bước thứ nhất của hôn nhân. Hai bên chưa thực sự sống với nhau, nhưng đã được tách riêng ra để kết hôn, trong trường hợp từ hôn phải cần đến tiến trình ly dị và nếu ăn ở với người khác thì đã bị coi như phạm tội ngoại tình. Hôn phối sẽ hoàn tất khi cha mẹ đôi bên thương lượng với nhau. Họ hàng tổ chức đám cưới và chú rể mang cô dâu về nhà mình. Phúc Âm thuật lại là “bà Maria đã có thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần.” Chúng ta được biết rõ tính chất thực sự của việc mang thai này. Đức Mẹ cũng am tường việc đó. Nhưng thánh Giuse thì không. Ngài chẳng hiểu mô tê gì cả. Đức Mẹ có thể cho thánh Giuse biết sự kiện đó không ? Thánh Giuse có cách nào khám phá ra việc đó không ? hay người ta có đồn thổi gì trong ngôi làng nhỏ bé Nazareth không ? Đức Mẹ có lẽ đã không tham dự vào lễ nghi thanh tẩy hàng tháng với những người phụ nữ khác trong làng. Nếu có, thiên hạ đã nghi ngờ và đặt nghi vấn. Thánh Giuse là người công chính. Khi ngài biết được Maria đã có thai, và đứa trẻ là của người khác. Lương tâm và luân lý không cho phép ngài tước đoạt con của thiên hạ, kiểu như cá đến ao ai người ấy bắt. Nhưng xử trí làm sao đây ? Tố cáo và ném đá Đức Mẹ theo luật tôn giáo (Ds 5, 11-31) ? Ngài không thể làm như vậy vì biết rõ hạnh kiểm đoan trang của cô trinh nữ ngài yêu. Với hy vọng người cha thực sự của đứa trẻ sẽ công khai lãnh nhận trách nhiệm, ngài lặng lẽ đứng sang bên, không muốn tố giác vấn đề. Nhưng ngạc nhiên thay, người “cha” đó chẳng bao giờ xuất đầu lộ diện ! Trong một giấc chiêm bao, Thiên Chúa đã mặc khải cho thánh Giuse toàn bộ sự thật. Sự thật đó chẳng phải “ghê gớm” như ngài mường tượng, ngược lại, ngài được vinh dự tham gia vào một chương trình to lớn, hữu ích cho toàn thể nhân loại và vũ trụ ! Tin Mừng Matthêo mô tả các sự kiện trên đây để làm tròn những lời hứa Chúa phán qua tiên tri Isaia. Mười lần trong Phúc Âm Matthêu nói đến từ “ứng nghiệm”. Sự thực thì Chúa Giêsu quả đã làm tròn khát vọng của dân tộc Israel mong đợi Đấng Messiah tức Đấng được xức dầu mà các ngôn sứ thường nhắc đến. Mọi hy vọng của dân đều được thể hiện nơi con trẻ trong lòng Trinh Nữ Maria. Sau này Chúa Giêsu đã xác nhận sự ứng nghiệm đó qua sứ vụ của Ngài. Vậy thì bài đọc thứ nhất giữ vị trí quan trọng, không những nó ám chỉ về bài Phúc Âm mà còn để làm sáng tỏ ý nghĩa những lời rao giảng của Chúa Giêsu. Trong giấc mơ, thánh Giuse được Thiên Chúa gọi là “con vua David” như vậy Chúa Giêsu thuộc dòng họ nhà vua. Rồi thì Chúa lấy quyền ưu tiên làm cha làm mẹ mà đặt tên cho con trẻ là Giêsu, nghĩa là “Đấng Cứu độ”. Trong lịch sử Israel, mỗi khi dân tộc bị phát vãng lưu đày, các ngôn sứ đều coi đó là hình phạt bởi tội đã phạm. Khi được tự do trở về, thì đó là hành động cứu độ của Thiên Chúa. Ngài đã giải phóng dân khỏi hệ quả của tội lỗi. Qua Chúa Giêsu dân Israel được đặt vào tương quan thích đáng với Thiên Chúa. Tội lỗi của dân được tha thứ và nếu nhìn kỹ vào nội dung Phúc Âm hôm nay, chúng ta có thể khám phá ý nghĩa “Emmanuel” của thánh Matthêu. Chúa ở với loài người để mang sự tha thứ và cứu thoát nhân loại khỏi vòng kiểm toả của tội lỗi. Thiên Chúa đã vượt qua ý định của loài người để mang hạnh phúc cho chúng ta. Ngài đã vượt qua tiến trình bình thường của thánh Giuse và Đức Maria để đổ ơn phúc cho toàn thể nhân loại. Lúc đầu, thánh Giuse chẳng hiểu điều đó, ngài phải trải qua kinh nghiệm thất vọng tột độ khi hay tin người yêu của mình mang thai. Giấc mơ thánh thiện đã làm sáng tỏ mọi sự cho ngài. Chúng ta cũng nên cầu xin cho mọi nghi nan được triệt tiêu nhờ vào sự can thiệp của Thiên Chúa. “Này con, đừng lo lắng chi, con đã nằm trong chương trình của Ta”. Chúng ta ước mong được nghe Chúa nói như vậy mỗi khi gặp lo âu, bất an. Thường thì chẳng được, mọi người vẫn phải mò mẫm đi trong nghi nan, tăm tối. Nhưng nhờ ánh sáng đức tin soi dẫn, chúng ta vững lòng lần mò từng bước. Cái mà chúng ta được là lòng can đảm, cậy trông. Cuối cùng Chúa sẽ cứu vớt chúng ta. Chúng ta không cô đơn trong cuộc đời này. Mùa Vọng không phải chỉ là chu kỳ của một năm, mà là bước tiến trong lòng thương xót của Chúa. Cuộc đời của thánh Giuse là câu chuyện khích lệ trong lòng thương xót đó. Nó chứng minh rằng dù chúng ta có chìm ngập vào rối rắm tơi bời, Chúa vẫn không rời bỏ chúng ta, Ngài vẫn ở bên cạnh, cùng hoạt động và hy vọng lại được tăng cường. Lạy Chúa, lúc này là Mùa Vọng, xin cho chúng con lòng cậy trông khi nhìn qua tăm tối của cuộc đời. Có nhiều khi chúng con rơi vào khủng hoảng như thánh Giuse, chẳng biết quay nơi đâu mà bám víu. Xin cho chúng con đủ can đảm bước thêm một bước nữa trong tối tăm, hy vọng sẽ tìm thấy bàn tay Chúa dẫn dắt. Xin cho thánh ý Chúa luôn được vẹn toàn, ngay bây giờ, qua những cố gắng của chúng con, mặc dù nhìn qua đêm tối, chỉ thấy lộn xộn và lo lắng. Xin cho chúng con noi gương thánh Giuse bình thản và kiên cường, không nghi ngờ, phản bội bạn mình, cho dù bị dồn đến đường cùng của lòng trung tín. Mọi sự xem ra sụp đổ và tan nát trước mặt. Nhưng cuối cùng, Chúa kiến tạo tất cả nên tốt đẹp cho ngài và cho chúng con. Amen.
CÁC DIỄN VIÊN Gần tới lễ Giáng Sinh, Giáo hội đọc lại "Tin Mừng về thời thơ ấu của Đức Giêsu". Những đoạn văn này mang tính cách đặc biệt, hơi khác với phần còn lại của Tin Mừng, vì các tác giả sách Tin Mừng không phải là chứng nhân trực tiếp. Dựa trên "sự kiện lịch sử" này, các tác giả soạn thành một loại "dẫn nhập thần học", tương tự như một nhạc sĩ soạn phần "mở đầu" trong đó bao hàm những đề tài sẽ được khai triển thêm ở phần sau. Trong chiều hướng đó, thánh Mátthêu nhấn mạnh những dấu chỉ cho thấy Đức Giêsu là Đấng "hoàn tất những lời Thiên Chúa hứa" : theo tác giả, các trình thuật về thời thơ ấu của Đức Giêsu là một gạch nối giữa Cựu Ước và Tân Ước... Đức Giêsu chính là Đấng dân Ít-ra-en vẫn trông đợi, là Đấng đã được hứa ban cho Áp-ra-ham và cho Đa-vít, là Mô-sê mới. Tuy vậy, nói cho đúng, Tin Mừng Mát-thêu không thuật lại việc Đức Giêsu giáng sinh. Bản văn được đọc trong Chúa Nhật hôm nay nối tiếp phần gia phả, và nằm trước trình thuật các đạo sĩ đến thăm viếng Đức Giêsu. Vì thế, bản văn này được coi như trình thuật về việc Đức Giêsu giáng sinh, với ba diễn viên : Đức Maria, người trinh nữ làm mẹ; thánh Giuse, cha nuôi; Chúa Thánh Thần. Maria, người trinh nữ làm mẹ Trong Kinh Thánh, đã có nhiều phụ nữ bị kết án là son sẻ, nhưng lại thụ thai khi đã cao niên. Như Xa-ra, đã hầu như tuyệt vọng, thế mà mà còn sinh I-xa-ác. An-na đã sinh hạ Sa-mu-en sau một thời gian son sẻ lâu dài, và bà Ê-li-sa-bét đã mang thai Vị Tiền Hô khi tuỗi đã cao. Những biến cố đó tiên báo một phép lạ phi thường : Trinh nữ Maria sẽ thụ thai, và trở nên Mẹ của Con Thiên Chúa, vì khi thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, Mẹ đã sin hạ Con Thiên Chúa. Giuse, người cha nuôi Thánh Mát-thêu nói nhiều đến thánh Giuse, trong khi thánh Lu-ca nhấn mạnh hơn đến vai trò của Đức Maria. Khi chấp nhận đưa Maria về nhà chung sống, thánh Giuse đã giữ vai trò có tính cách quyết định, hoàn tất khía cạnh pháp lý của sự việc, và như vậy, trở thành một nhân vật lịch sử. Giuse là người cuối cùng trong cả một quá trình dài chuẩn bị, như đọc thấy trong bản gia phả. Trước mặt xã hội, Giuse là cha nuôi của Đức Giêsu và trên thực tế, thánh nhân cũng là người bảo đảm về phương diện vật chất, trông coi gia đình này về mọi mặt (đặc biệt, biến cố trốn qua Ai-cập). Chúa Thánh Thần Giuse đã làm như lời Thánh Thần Chúa dạy, và điều này con người bình thường không hiểu nỗi. Hoạt động của Chúa Thánh Thần luôn là sự đảo lộn những hệ thống bình thường của con người (sinh con mà vẫn đồng trinh, người cha nuôi...), đồng thời cũng làm thay đỗi luôn những tương quan về lịch sử cũng như xã hội, bởi vì "Em-ma-nu-en : Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta" : Thiên Chúa ở với con người, giải thoát họ, cho họ được hổi sinh, và hiệp thông với họ. BIẾN CỐ BẤT NGỜ Giuse đã quyết định cùng Maria xây dựng cuộc đời. Hai người bạn trẻ cùng yêu nhau. Không phải bằng tình yêu vị kỷ, nhưng là một tình yêu rộng mở và được củng cố dưới sự săn sóc của Thiên Chúa. Giuse yêu thương Maria, anh tôn trọng cô. Họ đã đính hôn với nhau, nhưng chưa về chung sống với nhau. Tuy vậy, theo tục lệ Do-thái, họ đã thành vợ chồng với mọi quyền lợi và nghĩa vụ. Chẳng hạn : con được sinh ra trong thời gian này được pháp luật coi là con đích thực, chứ không phải con ngoại hôn; nếu dan díu với người khác, người thiếu nữ bị coi là kẻ ngoại tình và bị phạt ném đá... Thế mà lại xảy ra một biến cố hoàn toàn đi ngược với chương trình đó. Thiên Chúa đã can thiệp và phá vở kế hoạch của con người. Maria mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Giuse không hiểu nỗi chuyện này. Anh biết rằng mình không phải là cha của đứa trẻ. Anh cảm thấy bối rố. Anh yêu mến Maria biết bao, nhưng lòng anh tan nát, anh dự tính hủy bỏ cuộc hôn nhân để Maria được tự do. Về phần Maria, cô củng không khỏi buổn phiền khi bị nghi ngờ, không được thông cảm. Theo cách gọi ngày nay, đó là sự khủng hoảng lứa đôi... Cả hai đang chờ mong Đấng Cứu Thế : Người đã đến rất gần, đã được trao cho họ, nhưng một trong hai người không nhận ra. Theo khía cạnh con người, Giuse khó lòng tin được rằng người vợ yêu quí của mình đang mang thai Đấng Cứu Thế, Đấng mà toàn dân Ít-ra-en vẫn trông chờ. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải quyết tình trạng bất ỗn và tế nhị này. Chính người đã can thiệp vào kế hoạch của con người, làm thay đỗi kế hoạch đó, thì cũng chính Người sẽ giúp con người đi vào chương trình của Người. Sau khi đã được bày tỏ về Con Trẻ được trao phó cho mình, Giuse đã vui mừng và tạ ơn : anh mau mắn tiến hành hôn lễ và đưa Maria về nhà mình. Như thế, giữa Thiên Chúa và Giuse có một mối dây liên kết rất chặt chẽ : đó là tình yêu đối với Con Trẻ - Đấng Mê-si-a. Giuse đã cộng tác với Thiên Chúa để Mầu Nhiệm Nhập Thể được hoàn thành cách tốt đẹp. MỘT GƯƠNG MẪU TRONG MÙA VỌNG Nhân vật của Chúa Nhật IV mùa Vọng là thánh Giuse. Sự công chính của Giuse thực là một mẫu gương thích hợp cho mùa Vọng. Giuse đã có một chương trình cho mình, nhưng Thiên Chúa lại can thiệp, muốn thay đỗi chương trình và hơn nữa, lại còn muốn nhờ đến Giuse để hoàn thành chương trình đó. Giuse đã trải qua những giờ phút bối rối. Chương trình của mình cũng tốt đẹp, nhưng Thiên Chúa còn muốn thực hiện những điều kỳ diệu hơn, tốt đẹp hơn. Biến cố này có tính quyết định đối với toàn thể lịch sử : Đấng Em-ma-nu-en, Đấng mà dân Do-thái vẫn trông đợi, sẽ được sinh ra do một trinh nữ. Sau khi được mặc khải, Giuse đã chấp nhận đi vào kế hoạch của Thiên Chúa, đi vào trong ý thức và vui mừng, đi vào trong tín thác và vâng phục. Chính thái độ này càng làm sáng lên sự công chính sẵn có nơi Giuse. Trong cuộc đời, mỗi người chúng ta cũng có những chương trìn riêng. Và vẫn xảy ra những giây phút mỗi người phải lựa chọn giữa chương trình của mình và kế hoạch của Thiên Chúa. Vẫn có những biến cố làm đảo lộn dự tính tốt đẹp của chúng ta, buộc chúng phải suy nghĩ, phải lựa chọn. Vẫn có những hoàn cảnh làm chúng ta phải bối rối vì không biết phải làm gì. Vẫn có những sự kiện khiến chúng ta phải có thái độ mở rộng trước những điều lạ lùng, những điều kỳ diệu của Thiên Chúa. Trong những biến cố như thế, thái độ của Giuse trước mầu nhiệm của Thiên Chúa luôn là một mẫu gương hoàn hảo. Đó là thái độ của mùa Vọng, của việc đón chờ Chúa, của việc chấp nhận để cho Thiên Chúa can thiệp vào trong cuộc đời của mình. Thiên Chúa cần đến chúng ta như đã cần đến Giuse để mầu nhiệm Em-ma-nu-en mãi mãi được thể hiện. Thiên Chúa cần đến sự cộng tác trong yêu mến và vâng phục của chúng ta để Người có thể cư ngụ giữa loài người. Một cách nào đó, Thiên Chúa cần mỗi người cộng tác như là một đổng tác giả để cho Con Trẻ Giêsu được sinh ra và lớn lên giữa lòng nhân loại. Lại không phải là niềm vui, là bình an va hy vọng sao khi Thiên Chúa đến phá đỗ những tính toán tầm thường trong dự tính của con người để đưa họ tới những chân trời kỳ diệu, những chân điều lớn lao hơn.
Niềm tin
của thánh Giuse Trong Mùa Vọng, có ba nhân vật nổi bật luôn được nhắc đến, đó là ngôn sứ I-sai-a, loan báo Đấng Thiên Sai sẽ đến, đó là Gioan Tiền Hô, là người mở đường và dọn đường cho Đấng Thiên Sai đến, nhân vật quan trọng thứ ba là Đức Maria, qua mẹ, Đấng Thiên Sai đến trần gian, và nhờ mẹ, ơn cứu chuộc bắt đầu được thực hiện. Ngoài ra, một nhân vật nữa, cũng rất quan trọng, không thể thiếu trong kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa, đó là thánh Giuse. Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến ngài. Thiên Chúa muốn ngài thay Cha trên trời đặt tên cho trẻ Giê-su sẽ là Đấng cứu chuộc muôn dân. Thánh Giuse đã chấp nhận ý Thiên Chúa để kết hôn với Đức Maria. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể và chi tiết hơn. Khi ấy trinh nữ Maria đã đính hôn với thánh Giuse, nhưng hai người chưa về chung sống với nhau. Chúng ta nên biết, theo phong tục Do Thái thời ấy, hôn lễ được cử hành thành hai giai đoạn : giai đoạn một là lễ đính hôn, tức là khi hai người thanh niên nam nữ ưng thuận hứa hôn với nhau. Giai đoạn hai là lễ thành hôn, khi người thanh niên đón vị hôn thê về chung sống với mình. Cũng giống như tục lệ của chúng ta, cử hành lễ hỏi trước, rồi một thời gian sau mới làm lễ cưới. Nhưng luật pháp Do Thái về hôn lễ có khác với luật lệ của chúng ta. Trong xã hội của chúng ta, hai người mới làm lễ hỏi chưa được coi như vợ chồng, nên chưa có những quyền lợi cũng như chưa có những trách nhiệm của vợ chồng. Vì thế, đứa con sinh ra trong thời kỳ đính hôn chưa được thừa nhận là con chính thức, nhưng phải kể là con ngoại hôn. Còn ở Do Thái thì khác, khi hai người đã đính hôn với nhau thì được pháp luật coi như vợ chồng, với đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm của vợ chồng. Vì thế, đứa con sinh ra trong thời kỳ đính hôn được coi là con chính thức; người thiếu nữ đã đính hôn mà ngoại tình phải bị ném đá chết như người vợ ngoại tình; người hôn phu muốn rẫy bỏ người hôn thê của mình cũng phải trao tờ ly hôn cho nàng. Chúng ta cần biết những điều về luật lệ hôn phối ở Do Thái như vậy, thì chúng ta mới hiểu được những tình tiết của câu chuyện về thánh Giuse và Đức Maria. Khi trinh nữ Maria đã đính hôn với Giuse, nhưng chưa về chung sống với nhau, tức là chưa làm lễ thành hôn, thì Maria đã có thai. Đối với mọi người thì đó là chuyện bình thường, vì Maria đã đính hôn với Giuse, và tuy chưa về chung sống với nhau, hai người có quyền ăn ở với nhau như vợ chồng, nên việc Maria có thai là hoàn toàn hợp pháp, không ai có quyền nghi ngờ nàng và tố cáo nàng là đã phạm tội ngoại tình. Nhưng đối với thánh Giuse là người trong cuộc thì lại khác, ngài biết rõ cái bào thai kia không phải là của mình, và ngài cũng chưa được biết về mầu nhiệm Chúa đã thực hiện nơi vị hôn thê của mình. Điều này đặt thánh Giuse vào một hoàn cảnh hết sức khó xử, ngài không thể nhận bào thai kia là của mình, nhưng ngài cũng không có đủ bằng chứng để tố cáo và buộc tội Maria, ngài biết nàng là một thiếu nữ rất đoan chính. Vậy phải xử trí thế nào bây giờ ? Ngài tìm cách để giải quyết sao cho ổn thỏa đôi đàng. Ngài không thể đón Maria về chung sống với mình, vì như vậy là đương nhiên công nhận bào thai kia là của mình. Nhưng đàng khác, ngài cũng không có quyền tố cáo Maria, vì lương tâm ngay chính của ngài không cho phép. Vì thế, thánh Giuse đã đi đến quyết định là trao tờ ly hôn cho Maria trước mặt chỉ hai người làm chứng, để rẫy bỏ nàng cách kín đáo. Như vậy vừa giải tỏa được nỗi thắc mắc của ngài không phải công nhận bào thai kia là của mình, vừa không làm tổn hại đến danh dự của Maria, để nàng khỏi bị người ta tố cáo và ném đá. Nhưng nếu vậy thì chương trình của Chúa không thực hiện được, cho nên Chúa đã can thiệp để dàn xếp câu chuyện. Trong khi thánh Giuse còn đang suy tính thì Chúa sai một sứ thần đến bảo cho Giuse biết việc Maria thụ thai là bởi phép Chúa Thánh Thần chứ không phải theo thói thường nhân loại, Maria sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội. Nghe thiên sứ báo cho biết như vậy, Giuse hiểu con trẻ mà Maria sinh ra chính là Đấng Cứu Thế đã hứa cho nhân loại. Thế là bao nhiêu lo âu thắc mắc của thánh Giuse được giải tỏa và ngài đã thi hành như thiên sứ nói, cử hành hôn lễ để đón Maria về nhà mình. Khi sai sứ thần đến trấn an và báo tin vui mừng cho thánh Giuse, Thiên Chúa cũng bày tỏ cho thánh Giuse và cho chúng ta biết sứ mạng của Chúa Giê-su. Thực vậy, lời sứ thần giải thích tên gọi của Chúa Giê-su chính là lời công bố sứ mạng của Ngài. Trong Sách Thánh, những tên gọi đều có ý nghĩa riêng, như chúng ta thường nói : tên là người. Vậy Giê-su có nghĩa là cứu chữa : “Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội”. Lời giải thích này hàm chứa nhiều điều. Người Do Thái trông đợi một Đấng Mê-si-a sẽ nối nghiệp Đa-vít, giải phóng họ khỏi mọi kẻ thù, và đưa họ lên địa vị bá chủ muôn dân. Đó không phải là sứ mạng của Chúa Giê-su, sứ mạng của Ngài là cứu mọi người khỏi tội lỗi, Ngài cứu khỏi tội lỗi chứ không cứu khỏi ách thống trị của Rô-ma. Dân của Ngài không phải chỉ là dân Do Thái, nhưng là tất cả những ai đón nhận ơn giải thoát của Ngài để được khỏi tội lỗi. Quả thật, Chúa Giê-su giải thoát chúng ta khỏi cái mệnh bạc của con người. Ngài giải thoát chúng ta khỏi những ngộ nhận để chúng ta mở mắt với chân lý, Ngài giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, đưa chúng ta từ chỗ sa lầy đến nơi vinh quang, từ hạng tôi đòi tội nhân đến địa vị con cái Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là Cha, được Người sống trong tâm hồn, và sau cùng, lúc nhắm mắt xuôi tay, được sống thật, sống mãi với Cha mình là Thiên Chúa trong nơi hoan lạc. Đó là tất cả ý nghĩa sứ mạng của Chúa Giê-su. Đọc lại bài Tin Mừng hôm nay vào Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng mầu nhiệm Giáng Sinh. Thánh Giuse đã đón nhận mầu nhiệm này vì lòng tin, chúng ta cũng hãy đón mừng mầu nhiệm Giáng Sinh với lòng tin, với sự xác tín : Hài Nhi bé nhỏ sinh ra trong hang đá bò lừa chính là con Thiên Chúa, là Đấng cứu chuộc chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn tốt đẹp để đón Chúa.
Noi
gương Đức Maria, gương mẫu sống Mùa Vọng Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, vài trò của Thánh Giuse rất quan trọng. Bởi chính nhờ sự vâng phục của Thánh Giuse mà Đấng Emmanuel đã hiện hữu cách hợp pháp giữa lòng nhân loại với tư cách là con cháu vua Đa-vít. Để rồi qua một dòng họ, một dân tộc cụ thể, Ngôi Hai Thiên Chúa đã thực hiện công trình cứu độ cửa mình. Thật vậy, sự vâng phục của Thánh Giuse đã khai thông bế tắc cho Đức Maria : không chồng mà có chửa ! Mặc dù Đức Maria đã được thụ thai bởi phép Đức Chúa thánh Thần, và Mẹ vẫn là một trinh nữ, nhưng với người đời, nào có ai biết và tin, ngay cả đối với Thánh Giuse, Ngài cũng thật sự ngỡ ngàng. Hơn nữa, sự im lặng của Mẹ, có thể do lòng khiêm tốn mà không muốn tiết lộ đặc ân cao cả này hoặc muốn dành sự sắp đặt cho một mình Thiên Chúa, cũng khiến cho Thánh Giuse sửng sốt và bối rối không biết phải giải quyết làm sao. Vì vậy mà Ngài đã định rời bỏ Đức Maria cách kín đáo. Thế nhưng, sau khi được sứ thần báo tin và cho biết rõ sự thật, Thánh Giuse đã can đảm nhận Đức Maria làm vợ và lãnh trách nhiệm làm cha của Đức Giêsu. Qua đó chúng ta thấy sự vâng phục của Thánh Giuse quan trọng như thế nào. Tuy nhiên, vai trò của Đức Maria thật sự còn lớn lao hơn nữa. Bởi chính nhờ lời xin vâng của Mẹ mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người, đã mặc lấy xác phàm để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia tiên báo thuở xưa : “Này đây trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh hạ con trai và đặt tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7,13). Như vậy, Đấng Thiên Chúa thiêng liêng và siêu việt nay trở thành phàm nhân và “cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Nhờ Người, nhân loại được giải phóng khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết ; nhờ Người, chúng ta được giao hoà với Thiên Chúa và trở nên con cái Thiên Chúa. Đức Maria được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, đó là một hồng ân lớn lao, là một nhiệm vụ vĩ đại và một vai trò to lớn, một vinh dự mà không một phàm nhân nào có được. Khi được sứ thần truyền tin, Đức Maria đã không hoài nghi như ông Dacaria, mặc dù Mẹ có bối rối khi biết mình sẽ có thai đang khi vẫn là một trinh nữ. Tuy nhiên, Mẹ cũng không vội vã nhận lời ngay. Đức Maria chỉ nhận lời sau khi đã tìm hiểu và nhận biết được thánh ý của Thiên Chúa. Và từ lúc thốt ra lời “xin vâng”, Mẹ đã can đảm đón nhận mọi sự xảy đến trong vai trò của mình một cách kín đáo : nơi hang Bê-lem bên máng cỏ cũng như dưới chân cây thâp tự. Cũng như Đức Maria, mỗi người tín hữu được mời gọi sống đời tuyệt hảo bằng cách vâng theo thánh ý Chúa. Chúa mời gọi chúng ta làm con trong lòng Giáo hội không phải vì chúng ta giàu sang, đạo đức hay tài giỏi, nhưng Chúa mời gọi chúng ta chỉ vì yêu thương chúng ta và muốn chúng ta được ơn cứu độ, nên điều quan trong là chúng ta phải có thành tâm thiện ý để đáp trả lời mời gọi đó. Hơn nữa, không phải Thiên Chúa gọi chúng ta và chúng ta đáp lời “xin vâng” mà mọi việc sẽ được dễ dàng. Bởi sau khi đáp lời “xin vâng”, Đức Maria còn gặp nhiều thử thách, gian khổ hơn trước. Vì vậy chúng ta cũng phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ trong cuộc đời mình khi chúng ta đáp “xin vâng”. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con luôn biết sẵn sàng xin vâng theo thánh ý Chúa trong mọi tình huống của cuộc đời, nhất là khi gặp phải những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống thường ngày. Và xin cho chúng con luôn biết cố gắng sống bác ái, yêu thương, để trở nên khí cụ bình an đem tình thương của Chúa đến cho mọi người. Chúng con xin phó thác mọi sự trong tay Chúa, xin Chúa hãy xếp đặt cuộc đời con và ban cho con theo đuổi cách xứng đáng và thích hợp với linh hồn. Lạy Chúa,
Chỉ mong con chẳng còn gì,
Chỉ mong ý muốn trong con chẳng
còn gì,
Chỉ mong con chẳng còn gì,
Chỉ mong mọi ràng buộc trong con
chẳng còn gì, (R. Tagore, TTHD 34)
Tin Vui
Giữa Giờ Tuyệt Vọng Năm nay sẽ không có cảnh máng cỏ hay hang bò lừa tại Công Trường Thánh Phêrô. Cảnh Giáng sinh sẽ trưng bày gia đình Thánh Giuse, phản ánh chuyện Chúa Kitô Giáng Sinh trong Tin Mừng Mathêu, thay vì đoạn văn đặc biệt của thánh Luca. “Cảnh Giáng Sinh này không cắt đứt với truyền thống lắm, nhưng trình bày một khía cạnh mới và một bộ mặt mới của lễ Giáng Sinh. Cảnh Giáng Sinh cố gắng trình bày Thánh Giuse đầy kinh nghiệm và mơ mộng về những gì sẽ xảy ra, khi biết Chúa Giêsu sắp giáng sinh và Ðức Maria sống bên người con thơ. Thánh nhân không hiểu tường tận tất cả những việc đó sẽ xảy ra như thế nào, khi ông chuẩn bị đảm nhận công tác được Thiên Chúa trao phó cho ông qua một sứ thần. Ðó là những gì ông tưởng tượng nơi tư riêng, giữa những công việc bề bộn trước khi sự việc xảy đến. Thánh Giuse không bao giờ là ngôi sao nổi bật trong đêm Giáng sinh, nhưng vai trò của ông rất quan trọng.” (1) Thật vậy, nếu không có Thánh Giuse, không biết Ðức Maria xoay sở làm sao trong việc dưỡng dục Ðức Giêsu và hướng dẫn Thánh Gia vượt qua bao sóng gió trong cuộc đời. Trước khi trở thành nghĩa phụ của Chúa và gia trưởng gương mẫu, Thánh Giuse đã phải trải qua một thử thách rất lớn. Không những thế, Thánh Nhân còn là một người dọn đường âm thầm nhất cho Con Chúa giáng trần, đem lại niềm vui cho muôn dân. Vậy chúng ta có thể học hỏi gì nơi Thánh Giuse cho cuộc sống hôn nhân và gia đình hôm nay? ÐỜI CHỈ ÐẸP ... Hai Chúa Nhật vừa qua trình bày ông Gioan như một sứ giả loan báo và chuẩn bị bước đường Ðức Kitô đến cứu nhân loại. Thiên hạ tới tấp kéo đến nghe lời giảng và xin chịu phép rửa tại sông Giođan. Ông nổi tiếng. Dù đang bị nhốt trong tù, ông cũng vẫn được Chúa ca ngợi là sứ giả, trổi vượt hơn mọi phàm nhân (x. Mt 11:10-11). Giữa thanh thiên bạch nhật, ông Gioan đã mở đường cho muôn dân đến với Chúa. Nhưng đó không phải là con đường độc đạo. Chúa còn một đường lối khác. Con đường này chìm sâu trong bóng tối và vắng lặng, nhưng rất gần gũi và thân thương. Con đường đó chỉ Thánh Giuse mới có thể khai mở cho nhân loại đi vào chiều sâu huyền nhiệm cứu độ. Ông không xuất hiện công khai như Gioan Tẩy Giả. Không ai biết Thánh Giuse đã phải vật lộn với chính mình như thế nào. Có thể ông sẽ rơi vào tuyệt vọng. Bởi đó, dù yêu Ðức Maria tới mấy, ông cũng “định tâm bỏ bà cách kín đáo.”(Mt 1:19) Ông đứng trước một thách đố lớn lao, có tính cách quyết định cho Con Chúa nhập thể vào trần gian. Nếu không có ông, chắc chắn Chúa Giêsu không có cách nào đi vào dòng họ Ðavít để hoàn thành lời hứa cứu độ. Ai trong nhân loại được vinh dự lớn lao “đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1:25) ? Một đặc ân quá sức lớn lao cho ông ! Nếu Gioan Tẩy Giả chỉ mới dọn đường và giới thiệu về sứ mạng của Chúa như “con chiên Thiên Chúa,” thì Thánh Giuse có thể gọi tên đích xác hồng ân cứu độ ấy là gì. Như vậy, việc đặt tên như chạm tới bản chất vượt xa việc giới thiệu sứ mạng chỉ nói về vai trò của Ðấng Cứu thế trong lịch sử cứu độ mà thôi. Quả thế, Chúa Giêsu “là hiện thân của Thiên Chúa trên trần gian. Emmanuen, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ðây là một cách nhắc nhớ mầu nhiệm bản thân Người.” (2) Dù đạt tới vinh dự lớn lao như thế, Thánh Giuse vẫn cảm thấy bất xứng, không dám sánh vai với Ðức Maria dấn thân vào công cuộc lớn lao của Thiên Chúa. Tuy âm thầm kín đáo toan tính thực hiện ý định riêng, Thánh Giuse cũng không thể qua mặt Thiên Chúa. Một sứ thần được sai đến trong giấc mơ để cản bước chân ông bằng những lý lẽ đầy tính thuyết phục. Nhiều người tưởng giấc mơ không quan trọng. Thiết tưởng giấc mơ cực kỳ quan trọng, vì Thiên Chúa có thể nói với chúng ta trong giấc mơ. Trong giấc mơ đặc biệt, Thánh Giuse nhìn thấy một thiên thần. Thiên thần nói ông phải bước tới trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Ông không được trừu lại quyết định đính hôn với Maria. Trái lại, ông phải can đảm cưới Maria về nhà. Nếu chấp nhận, ông sẽ trở thành một thành phần của một cái gì lớn lao và mãnh liệt hơn ông. Ông chấp nhận cho Thiên Chúa đi vào cuộc đời và Thánh Linh hoạt động nơi mình. Nhờ đó, ông có thể nghe thấy lời Chúa hứa về ơn cứu độ. Tuy nhiên, nếu không có lòng tin tuyệt đối vào quyền năng Thiên Chúa, chưa chắc ông đã dễ dàng rời bỏ ý định của mình. Ông tin Thiên Chúa có thể làm được mọi sự. Bởi đó, ông hiểu tại sao phải ở lại cưới Maria, vì “bà có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần,” (Mt 1:18.20) chứ không tầm thường như mọi người có thể nghi ngờ. Từ đó, Thánh Giuse yên tâm. Ông càng tin vào sự trung thành và thánh thiện của người vợ sắp cưới. Hơn nữa, ông còn sung sướng vô cùng vì người con sắp sinh ra sẽ là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” và “sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (c.21) Cuối cùng, “khi tỉnh giấc, Thánh Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.” (c. 24) Thánh Giuse quả thực là một tấm gương khiêm tốn và vâng phục. Ông làm được tất cả vì đã tin tưởng tuyệt đối vào lời Chúa. Chính niềm tin này đã khiến Thánh Giuse xứng đáng được gọi “là người công chính.” (c.19) Niềm tin đó cũng sẽ giúp ông tìm ra lối thoát trong mọi nghịch cảnh và chu toàn bổn phận của một gia trưởng gương mẫu. Nhưng vâng phục như thế, Thánh Giuse có còn tự do trong việc hôn nhân của mình không ? Nếu không còn tự do, liệu hôn nhân của ông với Ðức Maria có thành sự không ? NẺO ÐƯỜNG NGƯỜI CÔNG CHÍNH Con người phải hoàn toàn tự do, hôn nhân mới có giá trị. Quả thực, “nền tảng gia đình là sự tự do lựa chọn của các người phối ngẫu kết hợp với nhau trong hôn nhân, mà vẫn tôn trọng ý nghĩa và giá trị của cơ chế này không tùy thuộc con người, nhưng thuộc chính Thiên Chúa: ‘Vì ích lợi của những người phối ngẫu và con cái cũng như của xã hội, thánh ước này không còn tùy thuộc quyết định của con người mà thôi. Vì chính Thiên Chúa là tác giả tạo nên hôn nhân và ban cho hôn nhân những lợi ích và mục đích khác nhau.’” (3) Như thế, người công chính như Thánh Giuse chắc chắn phải thấy được vai trò vô cùng quan trọng của Thiên Chúa trong cuộc hôn nhân với Ðức Maria. Chấp nhận sự can thiệp của Thiên Chúa vào cuộc hôn nhân, ông đã tăng cường và mở rộng giới hạn của tự do con người. Vì chỉ Thiên Chúa mới có tự do tuyệt đối và đưa ông vào bầu trời hồng ân kỳ diệu giữa Thánh Gia Nadarét. Trong khung cảnh chật hẹp đó, con người cũng có thể thấy một chiều kích lớn lao trong những đóng góp hàng ngày của mình vào công trình của Thiên Chúa. Chỉ cần sống trong ân sủng và sự công chính của Thiên Chúa, con người có thể thấy ngay vai trò lớn lao và quan trọng đó. Gia đình quả là “thao trường đổ mồ hôi” để lớn lên trong sự công chính. Ðúng như Khổng Tử nói : “Tu thân, tề gia, quốc trị, thiên hạ bình.” Chỉ khi nào con người sống trong sự công chính, nghĩa là biết thực sự tôn trọng quyền con người và trung thành thi hành bổn phận tương ứng, đời sống con người trong xã hội mới có trật tự, sinh hiệu quả tốt và tương xứng với nhân phẩm. (4) Nếu không sống công chính, chắc chắn Thánh Giuse đã không đủ tư cách huấn luyện con trẻ Giêsu và không thể kết hôn với Ðức Trinh Nữ Maria. Chúa Giêsu đã học gì nơi Thánh Giuse, nếu không phải là nếp sống công chính? Nhờ đó, Người có đủ khả năng biến đổi cả thế giới. Tại sao sự công chính lại quan trọng và cần thiết cho con người từ trong khung cảnh gia đình đến ngoài xã hội ? Thưa, vì sự công chính cần thiết để tạo một nền tảng vững chắc cho công đoàn. Không có sự công chính, không thể nâng cao nhân vị và cổ võ cho công ích. “Con người là một nhân vị, chứ không phải chỉ là cá thể. Bởi đó, con người vượt xa thực tại chủ thể quanh quẩn với những nhu cầu vật chất mà thôi. Thực vậy, mặc dù tham gia tích cực vào các kế hoạch nhằm thỏa mãn những nhu cầu trong gia đình và xã hội dân chính, con người chỉ thấy hoàn toàn thỏa mãn khi vượt ra bên ngoài não trạng nhu cầu vật chất và bước vào nguồn hồng ân nhưng không, hoàn toàn tương xứng với yếu tính và ơn gọi cộng đồng của họ.” (5) Trong khung cảnh gia đình Nadarét, tuy rất vất vả vì kế sinh nhai, Thánh Giuse đã vượt qua những giới hạn vật chất để nhìn thấy tất cả phẩm vị con người nơi Chúa Giêsu và Ðức Maria. Nếu không, ông đã rơi vào cảnh tầm thường và nhàm chán của cuộc đời lao động nơi xóm nghèo. Nhờ có ánh mắt người công chính, Thánh Giuse có thể nhìn thấy rõ lý do sống và có cả một động lực lớn để phục vụ. Vì cương quyết giữ sự công chính, nên ông đã dự định bỏ trốn. Nếu không được Chúa đoái thương, chắc chắn ông không bao giờ còn được vinh dự làm nghĩa phụ của Chúa Giêsu và làm bạn đời của Ðức Maria nữa. Nhờ sự hướng dẫn của sứ thần, ông sớm nhận ra sự công chính của Thiên Chúa gấp ngàn lần sự công chính của con người. Bởi thế, ông mới có đủ can đảm chấp nhận hy sinh danh dự trước mặt người đời để cưới một phụ nữ đã có thai về nhà mình. Cuối cùng chỉ có một mình ông mới biết lý do tại sao ông hành động như vậy. Ông hoàn toàn ý thức việc mình làm. Từ khi âm thầm nhưng cương quyết bảo vệ danh dự mình đến lúc ngoan ngoãn vâng nghe thiên sứ để cưới Maria, ông đều lặng lẽ một mình trong cõi riêng. Có ai biết một thay đổi lớn lao đã xảy ra trong cuộc đời ông ? Ông thà chọn làm vui lòng Thiên Chúa hơn lấy tiếng thơm giữa đồng loại. Danh dự của Thiên Chúa lớn hơn danh tiếng trước mặt người đời gấp bội. Tất cả chỉ vì yêu mến Thiên Chúa ! BÓNG DÁNG NGƯỜI CHA TRONG GIA ÐÌNH Trong gia đình, không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của người cha. Hình ảnh Thánh Giuse nêu cao mẫu gương gia trưởng cho mọi gia đình. Không thể hướng dẫn gia đình và giáo dục con cái thành công, nếu không sống công chính và vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Quả thực, “trong các tường thuật về Giáng sinh, bao giờ cũng có hình ảnh người mẹ, nhưng cảnh Giáng Sinh năm nay tại Công Trường Thánh Phêrô làm nổi bật tầm quan trọng của hình ảnh người cha. Thực tế, ông rất quan trọng. Cảnh Giáng Sinh nhắc nhớ mọi người biết Chúa không chỉ sinh ra cho một người mẹ, nhưng còn cung ứng cho chúng ta một nguồn tài liệu phong phú để suy tư giữa một thời đại phải đối phó với những chống đối về hôn nhân và gia đình. Ðó là cách tốt nhất giúp chúng ta có kiến thức cơ bản về gia đình qua Thánh Gia. Thay vì đưa ra các nhân vật tùy thích, năm nay lại trưng bày các hình ảnh giúp chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa quan trọng của việc giáng sinh, về hoàn cảnh Chúa Giêsu sinh ra, nhưng cũng nhắc chúng ta nhớ đến vai trò trọng yếu của Thánh Giuse.” (6) Rõ ràng trong khung cảnh gia đình, Thánh Giuse đã tìm được một vị trí và vai trò quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Người đã chu toàn sứ mệnh cao cả nhờ tình yêu và lòng trung tín trong đời sống hôn nhân. Nếu cuộc sống hôn nhân và gia đình Nadarét không thành công, chắc chắn Ðức Maria và Thánh Giuse đã không thể vui sướng thấy Con mình “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.” (Lc 2:52) Bởi đâu Chúa có môi trường tốt đẹp như thế, nếu không do nỗ lực lao động của Thánh Giuse và tài nội trợ của Mẹ Maria ? Cảm nhận được tất cả giá trị hôn nhân và gia đình giữa khung cảnh Nadarét, Chúa đã nâng hôn nhân lên đúng địa vị trong chương trình tạo dựng và cứu độ. Quả thực, “Chúa Giêsu đã sinh ra và sống trong một gia đình cụ thể, chấp nhận mọi nét đặc thù của gia đình và đã ban cho thể chế hôn nhân phẩm vị cao cả nhất, khiến hôn nhân thành một bí tích của giao ước mới (x. M6 19:3-9).” (7) Chính vì thế, “Giáo hội coi gia đình là xã hội đầu tiên trong thiên nhiên, với những quyền riêng biệt và bất chuyển hóa. Giáo hội đặt gia đình vào trung tâm của cuộc sống xã hội.” (8) Từ đó, Chúa Giêsu đã vươn tới chiều kích nhân phẩm trọn vẹn và có đủ sức hướng dẫn nhân loại về Nhà Cha. Thực vậy, dưới mái nhà Nadarét, Chúa đã học cách hiệp thông với tha nhân và xả thân vì người khác, nhờ những gương sáng của Ðức Maria và thánh cả Giuse. Từ trong khung cảnh chật hẹp đó, Người rút tỉa kinh nghiệm để đóng góp vào công ích xã hội một cách hữu hiệu nhất. Mặc dù hằng ngày phải vất vả tìm kế sinh nhai, các phần tử trong Thánh Gia không bao giờ coi nhau như những phương tiện sản xuất. Trái lại, con người trong đó luôn được tôn trọng như cứu cánh thu hút sức chú ý của người khác. Lý tưởng đó chỉ có thể đạt tới, nếu mọi phần tử trong gia đình biết giữ lời cam kết và sống hiệp thông với nhau. Nhìn vào gia đình Việt Nam hôm nay, trong nước cũng như ở hải ngoại, chúng ta thấy gì ? Con người có đang thực sự hạnh phúc không ? Con cái có lớn lên theo chiều kích như Chúa Kitô trong gia đình Nadarét không ? Người gia trưởng có đủ cương nghị và sáng suốt để chọn sống theo lẽ phải và lương tâm hơn dư luận và áp lực xã hội không ? Ðó là những câu hỏi đang làm nhức nhối nhiều người. Nếu muốn tìm được phương hướng giải quyết, thiết tưởng nên nhìn vào Thánh Gia Nadarét xưa. Tóm lại, trước những bế tắc và ngã rẽ cuộc đời, Thánh Giuse đã được Thiên Chúa thương soi sáng tìm ra con đương đúng nhất và vinh dự nhất, vì Người là đấng công chính. Nhờ Người, không những Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, mà còn có một danh xưng xứng đáng trong dòng họ Ðavít. Nhờ đó, Thiên Chúa thực hiện tất cả lời hứa cứu độ chỉ vì yêu thương nhân loại một cách vô điều kiện. Lạy Chúa, Chúa đã soi sáng và chọn Thánh Giuse làm dưỡng phụ Chúa Giêsu và làm bạn trăm năm của Ðức Maria. Xin Chúa thương đến những người gia trưởng và ban cho họ đủ khôn ngoan sáng suốt trong những giai đoạn đầy thử thách hôm nay. Amen.
1. http://www.zenit.org/article-21335?l=english 2. Lời Chúa Cho Mọi Người, tr.30. 3. Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, 215. 4. x. ibid., 205. 5. ibid., 391. 6. http://www.zenit.org/article-21335?l=english 7. Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, 210. 8. ibid., 211.
THIÊN CHÚA ĐÃ VÀ ĐANG Ở GIỮA CHÚNG TA Trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy vua A-khát được giới thiệu như một người tuyên xưng đức tin? Chúng ta được dạy rằng không nên làm phiền lòng Chúa khi chúng ta muốn Ngài cho chúng ta những dấu chỉ lạ để tin. Nhưng khi có được những dấu chỉ thì chúng ta không còn tin Chúa nữa! Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa bảo A-khát cứ xin Chúa một dấu chỉ, bất kỳ đâu: "Từ dưới đáy âm phủ, hoặc trên chốn cao xanh". Nhưng A-khát vẫn từ chối và muốn chứng tỏ là có lòng tin vào Chúa nên nói: “Tôi sẽ không xin, không dám thử thách Đức Chúa". Tại sao Thiên Chúa gay gắt với A-khát? Hay A-khát đã làm điều gì không đúng? Chẳng phải vậy đâu. A-khát đang muốn che dấu sự thiếu đức tin của mình. Ông sợ hai nước phương bắc là Syria và Israel sẽ đem quân đánh Giu-Đa là nước của ông ở phía nam. Ông ta muốn kêu cứu nhờ giúp đỡ nơi vua Assyria. Nhưng Ngôn sứ Isaia lại muốn A-khát tin tưởng vào sự che chở của Thiên Chúa nên mới bảo ông xin nơi Thiên Chúa một dấu chỉ là Thiên Chúa sẽ giúp ông. Nhưng A-khát do sợ quá nên không dám xin, ông ta không dám thử thách Đức Chúa và cũng không muốn Ngài giúp đỡ. Nhưng Đức Chúa vẫn ban cho một dấu chỉ:"Này đây người trinh nữ sẽ mang thai và sinh hạ con trai,và đặt tên là Em-ma-nu-en". Đây thật là một điều bất ngờ! Một vị vua đang sợ nước khác tấn công nước mình, thế rồi xuất hiện một ngôn sứ của Thiên Chúa bảo vua hãy đặt niềm tin vào sự che chở của Đức Chúa. Và việc giúp đở của Đức Chúa chỉ là những dấu chỉ nào đó. Chứ không phải Ngài hứa sẽ cấp cho một đội quân hùng mạnh với những khí giới tối tân để bảo vệ bờ cỏi, Nhưng dấu chỉ nói đến việc ra đời của một bé trai trong dòng tộc David được sinh ra để chứng minh cho lời hứa bảo vệ dân tộc của Đức Chúa. Nếu anh chị em ở trong địa vị của vua A-khát sẽ nghĩ sao?: Liên kết với nước Assyria hùng mạnh hay đặt niềm tin vào lời hứa của Thiên Chúa? Phúc âm thánh Matthêu nói lên sự trông đợi của Israel về một đấng Mesia; đấng đã được thành toàn trong đức Giêsu. Thiên Chúa đã giử lời hứa của Ngài qua ngôn sứ Isaia và các ngôn sứ khác. Sự bất ngờ ở đây là Thiên Chúa không thực hiện lời hứa như ý loài người nghĩ suy. Các Phúc âm khác không nói niều về thánh Giuse. Chỉ có phúc âm của thánh Matthêu mà thôi. Theo đó, thánh Giuse được nói đến trong chương 1 thôi. Còn trong chương 2 chúng ta cũng không nghe thánh Giuse nói gì cả. Trong đó trình thuật về thánh Giuse hơi lạ lùng: Ông đã đính hôn với Maria và sẽ xây dựng với cô ta nên một cuộc sống gia đình tốt đẹp. Và với tay nghề mộc vững chắc ông sẽ có kế hoạch bình ổn gia đình theo ý mình, Nhưng Thiên Chúa đã có kế hoạch khác dành cho ông và Maria. Kể từ khi Giuse và Maria đính hôn; mang một ý nghĩa là họ đã chính thức lập gia đình, trước mặt xã hội và giòng tộc; họ là vợ chồng. Và một sự kiện đột xuất xảy ra. Sự mang thai khó giải thích của Maria. Và yếu tố mà Matthêu đưa ra: Giuse là người "công chính", nghĩa là người ngoan đạo và giữ luật Mô-sê. Thời đó, một người ngoan đạo theo đúng luật Mô-sê có hai cách xử sự: Ly dị để cho người phụ nữ xấu hổ, hay bị xử ném đá cho đến chết. Đó là luật pháp và ông lựa chọn cách nào cũng đúng theo luật Mô-sê cả. Nhưng có sứ thần của Thiên Chúa đến báo mộng nói với Giuse là: Không nên theo luật Mô-sê hảy làm một cách nhân đạo: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về". Giuse sẽ nhận đứa con của Maria là con nuôi và đặt tên là Giêsu. Vì thế Giêsu, con nuôi của Giuse, sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít, và như lời Thiên Chúa đã hứa với A-khát. Để nhấn mạnh điều này, Matthêu đã chép lại lời hứa của ngôn sứ Isaia :"Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta". Trong phúc âm, thánh Giuse không nói một lời nào, nhưng ông luôn là mẫu gương cho các môn đệ. Giuse không giống A-khát, ông đã đặt tất cả niềm tin vào lời Thiên Chúa, và thực hiện theo ý Chúa. Hôm nay chúng ta tôn vinh thánh Giuse là người biết luật, Nhưng còn hơn thế nữa là biết sống trọn vẹn trong lòng thương xót của Chúa là đấng nhân lành. Ngài đã che chở cho Đức Maria, và hài nhi Giêsu để trở nên công cụ cho chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa đối với chúng ta. Giuse có thể đã nghe lời Chúa trong mộng. Nhưng ông ta không phải là người chỉ tin vào mộng. Ông đã hành động theo đúng đức tin của mình. Đó cũng chính là điều các môn đệ có nghĩa vụ phải làm: lắng nghe Lời Chúa, tin và làm theo lời Chúa mặc dù có thể gặp khó khăn khi thực hiện lời Chúa trái ngược với phong cách sống đời thường. Trong Kinh Thánh có những lời văn khuyên "Đừng sợ?". Khi những lời này được gửi cho một người nào đó chúng cũng chỉ là một lời động viên: "Vui lên, đừng sợ làm gì".Trái lại, khi có lời nói "đừng sợ" Được nói bởi một người có sực mạnh, nên điều sợ này được bảo đảm rằng Thiên Chúa luôn ở với họ. Một người bạn bị ung thư đã nghe những lời này trong đêm khi nguyện gẫm lời Chúa qua kinh thánh "đừng sợ". Bệnh ung thư đang ở thời kỳ cuối. Người đó cũng như A-khát trong bài đọc 1 đang bị đe doạ bởi những đội quân hùng mạnh. Lời nói “đừng sợ” làm anh ta có một cảm giác như Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc sống của mình như Em-ma-nu-en (Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta).Đối với người bị ung thư, ý nghĩ Thiên Chúa ở cùng người đó không thế nào mất được. Trong sự khắc khoải của sự nghi ngờ và sợ hãi - như là nỗi đau lớn mạnh khi các phim chụp cắt lớp cho thấy tiến độ của bệnh ung thư và bác sĩ chuyên khoa của ông chia sẻ kết quả xét nghiệm đáng buồn với anh ta; anh vẫn tiếp tục bám víu vào những lời anh nghe đêm hôm đó. Ông tin tưởng rằng, mặc dù có bằng chứng của của một kết quả tồi tệ; ông nói, "Tôi tin rằng những gì tôi nghe, Thiên Chúa nói đừng sợ và Thiên Chúa ở cùng tôi". Căn bệnh ung thư đã làm ông ta chết. Nhưng trong tình yêu Thiên Chúa người đó sẽ nói: "Ung thư không thắng, Chính Thiên Chúa đã thắng". Đạo chúng ta không phải là đạo sợ hãi. Những người có đức tin không nên để lòng mình bị sự sợ hãi xâm chiếm. Vì lời kinh thánh đã cho chúng ta biết Thiên Chúa đã gởi Đức Giêsu đến với chúng ta. Ngài là Em-ma-nu-en dấu chỉ của sự hiện diện trung thành của Thiên Chúa ở giữa chúng ta. Jude Siciliano, O.P. Đức Giêsu đồng hành với nhân loại trong sự xáo trộn Is 7,10-14; Tv 24; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24 Kính thưa quý vị, Khi mới nghe Bài đọc trích sách ngôn sứ Isaia, chúng ta sẽ thấy có thanh âm lạ lùng. Nghe như mâu thuẫn vậy, bởi vì: Chẳng phải vua Akhát từ chối xin Thiên Chúa một dấu chỉ tựa như sự sắp xếp mà chúng ta gọi đó là niềm tin sao? Nhằm nâng đỡ niềm tin, chúng ta được chỉ dạy phải tín thác vào Thiên Chúa ngay cả khi không có những dấu chỉ rõ ràng. Thế nhưng, tại sao ngôn sứ Isaia lại tức giận khi vua Akhát từ chối xin dấu chỉ? – “Hãy cứ để dấu dưới âm phủ hoặc trên chốn cao xanh”. Vua Akhát đáp lại: “Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa”. Chẳng phải điều đó nghe khó hiểu sao? Những bối cảnh dưới đây có thể giúp giải thích điều này. Tám thế kỷ trước Chúa giáng sinh, Đế quốc Assyria đã tràn qua các quốc gia nhỏ hơn để xâm chiếm Ai Cập. Israel, vương quốc phía Bắc, đã liên minh với Assyria và chuẩn bị tấn công Giuđa. Lúc bấy giờ, Ai Cập muốn vua Akhát, thủ lãnh của Giuđa, hợp lại để chống trả người Assyria. Ngôn sứ Isaia khuyên vua Akhát hãy trung tín với giao ước và tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa. Thay vì hợp tác với Ai Cập để chống lại Assyria, vua Akhát đã quay sang phò vua Tiglath Pileser, trị vì nước Assyria. Thậm chí ông còn đưa hình thức phượng tự của người Assyria vào trong Đền thờ. Ngôn sứ Isaia đã ra sức thuyết phục vua Akhát tin rằng lời nói của ông đáng tin cậy, nên ông đã khuyến khích vua xin Thiên Chúa một dấu. Nhưng vua Akhát đã quay sang người Assyria xin sự trợ giúp mà không phải xin Thiên Chúa giúp sức. Do đó, việc từ chối của vua Akhát đã khiến ngôn sứ Isaia buộc tội ông vì làm phiền cả dân chúng và Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hứa bảo vệ Giêrusalem và duy trì ngai vàng vua Đavít. Vì vậy, Thiên Chúa đáp lại vua Akhát: “Này đây trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel”. Nếu có ai hỏi vua Akhát: “Ai chịu trách nhiệm ở đây?” Ông sẽ dựa trên phương diện chính trị, quyền lực quốc gia mà trả lời rằng, người chịu trách nhiệm là vua nước “Assyria”. Các nhà lãnh đạo chính trị và quốc gia thường không quan sát tổng thể, chỉ nhìn hạn hẹp trong phạm vi quyền lực. Nếu chúng ta đặt cùng câu hỏi này với ngôn sứ Isaia, ông sẽ trả lời ngay và không dè dặt gì rằng: “Thiên Chúa và chỉ Thiên Chúa chịu trách nhiệm”. Emmanuel nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Miền Giuđa sẽ bị dân Assyria xâm chiếm. Trong trường hợp này, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” sẽ xét xử miền Giuđa. Nhưng “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” cuối cùng sẽ làm cho Assyria bại trận. Chúng ta muốn Đấng Emmanuel đến và sẽ mừng sinh nhật Người sớm hơn. Niềm an ủi Người mang đến là: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” sẽ nối kết chúng ta vào những nơi chúng ta cần sức mạnh, sự can đảm và lòng trắc ẩn để sống như dân tộc sống giao ước của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Nhưng khi Giáng sinh đang cận kề, và trong lúc tổ chức mừng sinh nhật Đức Kitô, và giả như Thiên Chúa đến phán xét tội lỗi và những liên minh mờ ám mà chúng ta đã thỏa hiệp để có được sự giàu sang, thân thế và địa vị xã hội, thì liệu chúng ta có còn mừng nhau vài cốc rượu bên cây thông và máng bò lừa hay không? Ngôn sứ Isaia báo cho biết, khi Thiên Chúa đến sẽ mang theo cả sự thách đố và nguồn an ủi. Sự phát xét sẽ dựa vào những liên minh và sự kỳ vọng mà chúng ta đã đặt vào nơi các quyền lực như: quân sự, kinh tế, thân thế, cạnh tranh, những hệ thống bất công, v.v... Có lẽ khi mừng Đức Kitô đến, lời cầu nguyện đầu tiên của chúng ta sẽ là: “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con”. Tiếp đến, chúng ta sẽ chuẩn bị để mừng Đấng Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, vì một lần nữa, chúng ta hoán cải và quay về với Đấng cứu thế cho sự sống mới. Thánh Mátthêu được dưỡng dục tốt trong truyền thống Do Thái. Ngài cho thấy điều đó ngay từ khởi đầu của sách Tin Mừng. Sự mô tả của ngài về những điều dẫn đến biến cố hạ sinh của Đức Giêsu tập trung vào niềm hy vọng của dân tộc. Bằng việc trích dẫn sách ngôn sứ Isaia, thánh Mátthêu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa ở cùng chúng ta; không phải theo cách chung chung, nhưng ngay bấy giờ trong dòng tộc của vua Đavít – như Thiên Chúa đã hứa. Lời hứa trong Kinh Thánh đã được ứng nghiệm. Bằng việc hướng các độc giả đến với Kinh thánh, ngôn sứ Isaia nhắc nhở rằng các tín hữu hãy đặt niềm tin vào Kinh Thánh – đặc biệt giữ vững niềm hy vọng và củng cố đức tin trong những khi ngã lòng. Thiên Chúa đã đến thế gian: một thế gian mà các kế hoạch không luôn luôn được thực hiện theo như ý, và nơi thế gian này, con người phải tập thích nghi với thực tại hiện hữu trước mắt họ. Ông Giuse đã thành hôn với bà Maria, và tất nhiên, ông đã có những kế hoạch cho mình. Bào thai của bà Maria đã làm đảo lộn thế giới và kế hoạch của ông. Thay vì tố cáo bà Maria, ông “đã định tâm bỏ bà cách kín đáo”. Ông là “người công chính” và sẽ bảo vệ bà Maria khỏi bị ô danh. Ông không có ý trả thù, và mặc dù bà Maria đã sai, nhưng ông vẫn thể hiện lòng khoan dung. Sau giấc chiêm bao, ông Giuse “đưa vợ về nhà mình”. Quả thật, thế giới Thiên Chúa chọn để đến không chỉ là một nơi nghèo nàn, lao động cực nhọc, đầy áp bức của quân đội và chính trị, mà ngay từ đầu đã xuất hiện sự xáo trộn – thậm chí sự xáo trộn đó đã có từ khi đứa trẻ còn trong lòng mẹ. Thiên Chúa nắm lấy cơ hội lớn là sinh ra giữa chúng ta. Để tạo ra con đường bằng phẳng và thực thi kế hoạch suôn sẻ hơn cho Đấng cứu thế, chắc chắn đối với Thiên Chúa phải có những chọn lựa khác khôn ngoan hơn. Nhưng liệu ai có được “con đường bằng phẳng” qua cuộc sống xáo trộn này? Thật lý tưởng khi biết rằng Đấng Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lại chọn cách đồng hành với chúng ta, những con người trong một thế giới hiện thực và đầy hỗn độn. Tất nhiên, Thiên Chúa cũng đồng hành với chúng ta trong sự hỗn độn đó. Lần tới cha chủ tế trong Thánh Lễ, hoặc ở phần mở đầu lại cầu xin: “Chúa ở cùng anh chị em”, chúng ta sẽ đáp lại theo đúng kỷ luật phụng vụ: “Và ở cùng Cha”. Nhưng chúng ta có thể thì thầm thêm rằng: “Tạ ơn Chúa! Chúa ở cùng con, ngay ở đây và bây giờ, cuộc sống con đây đầy rẫy những bất toàn, sự sợ hãi, đầy ắp những thứ cần phải làm và cả sự xao lãng, hòa lẫn niềm vui, nỗi buồn và cả tình yêu. Chúng con xin tạ ơn Chúa!”
| |