![]() | |
|
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG A
Is
35,1-6a.10 / Gc 5,7-10 / Mt 11,2-11 Lm. An Phong, op : Dấu Chỉ Nước Trời Lm. Ðaminh Ðinh Viết Tiên, op : Niềm Tin Đi Vào Cuộc Sống Lm. Fr. Jude Siciliano, op : Hãy Thắp Lên Ngọn Nến Hồng Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, op : Hãy Đến Mà Xem Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chuẩn bị đón Chúa Jos. Nguyễn Văn Thuần op : Hãy vui lên, niềm hy vọng đang ở giữa chúng ta ! Lm Đỗ Lực op : Một Trang Sử Mới Lm. Jude Siciliano, op : Làm Gì Để Đón Chúa Lm. Jude Siciliano, op: Hãy thuật lại những gì mắt thấy tai nghe
Dấu Chỉ Nước Trời Chúa nhật thứ ba mùa Vọng là Chúa nhật của niềm vui. Trong bài đọc 1, ta thấy Isaia tiên báo ngày Dân Chúa được giải thoát khỏi ách lưu đày, được trở về quê hương và ông kêu gọi : "Vui lên, nào hỡi sa mạc, hỡi đồng khô cỏ cháy; vùng đất hoang, hãy mừng rỡ, hãy trổ bông; hãy tưng bừng nở hoa như khóm huệ và hân hoan múa nhảy reo hò". Nhưng ngày Dân Chúa được giải thoát khỏii ách lưu đày chỉ là hình ảnh của một cuộc giải thoát đích thực mà Thiên Chúa sẽ thực hiện cho thân phận con người, khi mà "mắt người mù xem thấy, tai người điếc nghe được. Bấy giờ, kẻ què nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò." Cuộc sống của nhân loại vốn luôn còn đầy dẫy những khổ đau, những phi lý, những bất công... Những ai đã từng nghiệm thấy những khổ đau trong cuộc sống của mình, những ai gắn bó với cuộc sống của nhân loại để thông chia với biết bao khổ đau của kiếp người, thì mới thấy niềm vui, niềm hân hoan của cuộc giải thoát đích thực là thế nào. Isaia là một mẫu người như vậy, và ông chia sẻ với chúng ta một niềm vui như nước vỡ bờ về Ngày của Thiên Chúa". Gioan Tẩy giả, con người chỉ có một sứ mạng trong đời mình là tiên báo Ơn Cứu Ðộ của Thiên Chúa, chắc hẳn ông cũng sống niềm khát vọng về Ngày Cúu Ðộ của Thiên Chúa biết bao. Chính vì vậy, Chúa Giêsu nói những môn đệ của Gioan hãy về tường thuật cho ông biết những dấu chỉ của Ngày Cứu Ðộ "người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi lành lặn, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin mừng". Chúng ta còn sống trong trần gian, cuộc sống của chúng ta còn có nhiều khó khăn. Chúa đã đến lần thứ nhất, nhưng Ngài còn phải đến lần thứ hai để hoàn tất trọn vẹn cuộc giải thoát. Niềm vui của ngày Chúa nhật hôm nay dành cho những người được Chúa chúc phúc "phúc thay người nào không mất niềm tin vào tôi"; những người đó sẽ có thể nhận ra những dấu chỉ của Ơn Cứu Ðộ đang được tỏ bày, đang thực hiện "từng bước" trong cuộc sống hôm nay. Lạy Chúa Giêsu là Chúa của con!
Ngài là
Ðấng muôn dân trông đợi,
Lạy Chúa
Giêsu là Chúa của con!
Xin mở
mắt chúng con để chúng con biết nhận ra
Xin cho
chúng con được hưởng niềm vui,
NIỀM TIN ÐI VÀO CUỘC SỐNG Thánh Gioan Tiền hô là sứ giả là chứng nhân. Ðức Kitô là Ðấng Thiên sai, Ðấng đem lại Niềm Vui cho người khác. Ai dám nói là thánh Gioan không bị thử thách. Ngày xưa, các nhà thuyết giảng vẫn bình luận: thánh Gioan dù trong hoàn cảnh nào, ngài vẫn đóng vai trò chứng nhân. Ðang trong vòng tù tội, ngài vẫn muốn cho các môn đệ học bài học chứng nghiệm: xem tận mắt, nghe tận tai... về Ðấng Cứu Thế. Trước bao thử thách, ngài vẫn vững như bàn thạch. Ngày nay, lại có ý kiến đặt ngược lại: Rất có thd thánh Gioan cũng bị thử thách. Trong tối tăm của ngục tù, tuy chân mang xiềng xích, Gioan cũng bị giao động: lạ thật, nếu là Ðấng Thiên sai thì mình phải được giải oan chứ (xc Is 61:1-2 và Lc 4:18-20). Sao không thấy trả tự do cho người tù tội... Còn Ðức Kitô lại nhân cơ hội này, Ngài muốn tái khẳng định chương trình Cứu thế được ngôn sứ Isaia loan báo vẫn đang được họa lại từng nét.
"An tâm
đi, Vậy thì thầy trò các anh cứ yên trí lớn. Các anh vẫn có quyền Vui Mừng và Hy Vọng, vì Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người. Ðức Giêsu vẫn như vậy đó. Hôm qua, hôm nay, và ngày mai, mãi mãi vẫn như vậy đó: Thương Yêu, Nhân Hậu với tất cả mọi người đặc biệt là với những người khổ đau. Bạn có tin vào Ngài không ? Niềm tin phải đi vào cuộc sống. Ðức tin không việc làm là đức tin chết (Gc 2:17). Thánh Gioan đã không bỏ lỡ cơ hội nào mà không làm chứng. Dù thuận tiện hay không thuận tiện, Lời Chúa vẫn được rao giảng. Chính đời sống chúng ta là một lời loan báo, một cách rao giảng có sức thuyết phục nhất. Chỉ có loài thú mới làm ngơ trước những nỗi đau của người khác. Trong một đất nước còn nghèo đói, chúng ta không thể không bức xúc trong việc xây dựng quê hương (dĩ nhiên trong khả năng của mình). Còn bao nhiêu trẻ em nghèo không được đến trường. Còn bao nhiêu người bệnh tật già nua, neo đơn...không ai chăm sóc? Còn bao nhiêu... vẫn còn bao nhiêu thứ phải làm trong cõi đời nhân thế này?
Lạy Ðức
Giêsu là Cứu Chúa của con. Xin cho con được trở nên giống Chúa, Ðấng cư ngụ ở giữa cộng đồng nhân loại chúng con. Xin cho con biết xắn tay áo để hàn gắn thế giới và quê hương còn quá nhiều thương đau. Và xin cho con nên chứng nhân giữa lòng đời và chứng ta cho Tình Thương của Chúa.
Hãy Thắp Lên Ngọn Nến Hồng Thưa quý vị. Gioan Tẩy giả là nhân vật trọng tâm, là hình ảnh chủ chốt cho chúng ta suy niệm trong những tuần lễ đầu Mùa Vọng này. Tuần trước ngài rao giảng ở hoang địa và là tiếng kêu tiền hô cho Chúa Giêsu, ngài giảng những lời nảy lửa loan báo "Ðấng đến sau tôi, nhưng quyền năng hơn tôi. Ngài cầm nia trong tay sàng sẩy sân lúa, thóc tốt trữ vào kho, thóc lép bỏ vào lửa đời đời." (Mt 3, 12). Nhưng bây giờ chúng ta đang ở chương 11 của Tin Mừng Matthêo, bao nhiêu sự kiện đã xảy ra từ lúc ấy. Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của Ngài, rao giảng và chữa lành. Gioan bị bắt và đang ngồi tù vì dám thẳng thắn chỉ trích tội loạn luân của vua Hêrôđê. Nhà vua đã công khai cướp vợ của Philipphê anh mình là bà Hêrôdiadê. Trong tù Gioan đã sai môn đệ đi hỏi Chúa Giêsu : "Ông có phải là Ðấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác ?". Ðiều chi đã xảy ra cho Gioan ? Lúc đầu chắc chắn ông đã biết rõ ý định của Thiên Chúa và chân dung của Ðấng "phải đến", nhưng ông đã ngạc nhiên khi Chúa Giêsu lại đến với ông, xin chịu phép rửa của ông ở sông Giođanô. "Tôi phải được Ngài làm phép rửa cho, vậy mà Ngài lại đến với tôi ?" (Mt 3, 14). Những câu hỏi mà Gioan hỏi Chúa Giêsu qua các môn đệ của ông cho thấy rằng hình như ông đang thất vọng. Ông bối rối không hiểu được chương trình cải hoá dân tộc mà Thiên Chúa đã sai ông khởi sự. Tại sao Chúa Giêsu lại cần nhiều thời gian đến thế để thanh tẩy thế giới ? Lời hứa của ông tuần trước rằng Ngài sẽ xét xử thế gian, trấu một bên, thóc một bên, bao giờ mới được thực hiện ? Tại sao những nhà lãnh đạo đền thờ không chấp nhận Chúa Giêsu ? Liệu dân chúng có thất vọng như ông không ? Bởi vì Chúa Giêsu đã không thoả hiệp với những nhà yêu nước, tổ chức quân đội chống lại người La Mã, giải phóng đất nước ? Thực ra, những nghi ngờ loại này của Gioan Tẩy giả tiêu biểu kinh nghiệm tôn giáo của mọi người qua cuộc sống đức tin. Thời gian đầu, mọi sự đều là màu hồng, nhưng khi đã trải qua gian nan thử thách người ta sẽ cảm nghiệm chao đảo. Các tín hữu "đạo gốc" cũng không thoát khỏi tiến trình đó. Nhiều người nhớ lại thời niên thiếu. Ðức tin của mình thật là mạnh mẽ và rất ít "Câu hỏi" về điều mình tin. Nhưng càng trưởng thành, càng lắm thắc mắc. Nếu như họ không cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời họ, họ sẽ dần dần xa lánh việc đạo đức. Ngược lại, nếu đức tin được đánh thức, được bừng tỉnh họ sẽ thấy Chúa Giêsu luôn đồng hành với họ trên mọi nẻo đường. Nhưng đời sống luôn luôn thay đổi. Chúng ta chẳng bao giờ tắm trong cùng một dòng nước. Nó luôn chảy về xuôi. Nhiều khi gặp thực tế cay đắng, trớ trêu, trong cuộc sống, chúng ta cũng muốn hỏi như Gioan Tẩy giả. Ngài ở đâu ? Chúng tôi đang cần Ngài. Tại sao Ngài không giúp đỡ chúng tôi vượt qua những khó khăn này ? Chúng tôi có đặt sai đức tin không khi mà chẳng ai nhân danh Ngài giải toả oan ức cho chúng tôi ? Gia đình này đã phạm tội gì mà cứ phải long đong lận đận mãi, con cái nheo nhóc, bố mẹ vất vả đầu tắt mặt tối, ăn bữa sáng, kiếm bữa trưa ? Ngoài những thắc mắc cá nhân, người tín hữu nhìn ra thế giới rộng lớn hơn lại phải đối diện với vô vàn nghi nan khác nữa liên hệ đến lòng tin của mình. Uy quyền Chúa ở đâu trên thế giới này khi mà chỉ thấy toàn thể hiện của sự ác, xã hội đen, quyền lực ma quỷ ? Buôn bán đàn bà, trẻ em, chia rẽ, hận thù ? Những cố gắng kiến tạo hoà bình, công bằng xã hội phỏng có ích lợi gì khi mà chiến tranh, bất công kinh tế cứ ngày một tràn lan ? … Như vậy trong thánh lễ hôm nay chúng ta lại phải hỏi như Gioan thuở xưa: "Ngài có phải là Ðấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác". Câu trả lời của Chúa Giêsu gởi qua các môn đệ của Gioan có làm cho ông được an tâm không ? Nó có tăng cường đức tin của ông vào Ngài lúc ngồi tù không ? Chí ít nó nói lên Chúa Cứu Thế vẫn quan tâm đến ông, vẫn quan tâm đến cuộc tranh đấu vì lẽ phải của ông, đến thảm cảnh tù tội của ông. Nó không nói thẳng "có hay không", nhưng ám chỉ đến lời tiên tri Isaia 35,5-6 (bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò …) và 61,1 (Chúa sai tôi đi mang Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát …) lời tiên tri là lời của Thiên Chúa, không thể không ứng nghiệm. Vậy thì Gioan được vui mừng và chúng ta cũng được an ủi, khi nhận ra rằng chương trình của Thiên Chúa khác với tưởng tượng của con người. Nó chẳng bao giờ trùng hợp với những thành kiến có sẵn trong đầu óc chúng ta. Chúng ta được mời gọi cậy trông lời hứa của Ngài trong Mùa Vọng này. Những hy vọng của Gioan không phải là hão huyền. Tuy nhiên chúng ta phải thay đổi não trạng. Những lời mô tả Ðấng Thiên Sai của tiên tri Isaia bắt buộc chúng ta phải gột bỏ quan niệm cũ, quan niệm về một Ðấng "phải đến" mang màu sắc quân sự, binh hùng tướng mạnh, cầm quyền sinh sát khắp bốn phương thiên hạ. Chúa Cứu Thế sẽ không mang lửa bởi trời, khiến sấm sét xuống chinh phạt thế gian để trả lời nghi ngờ của Gioan. Bởi nếu như vậy đức tin của ông và của chúng ta vào Ngài là một thứ đức tin cưỡng bức, giả tạo, gây nên do sợ hãi. Thay vì thế, chúng ta và nhân loại được mời gọi tự quyết định lấy lựa chọn của mình khi nhìn vào công việc của Chúa Giêsu. Thiên Chúa yêu thương hiện diện trực tiếp và rõ ràng qua những công việc ấy. Ngài giơ tay nâng đỡ những ai bị người đời quên lãng, hắt hủi, những ai thiếu thốn, bệnh hoạn, những ai sầu thương khốn cùng. Ngài rộng lượng thứ tha và mang tin vui mừng cho những ai đến với Ngài. Như vậy Chúa Giêsu là dấu chỉ chắc chắn Thiên Chúa đã nghe tiếng kêu cứu của nhân loại đang rên siết dưới gánh nặng tội lỗi. Dứt khoát Ngài đã giải phóng họ, mang lại cho họ tự do trong ân tình được làm con Thiên Chúa. Chúng ta đừng nên thiêng liêng quá đáng những câu trả lời của Chúa Giêsu cho ông Gioan Tiền hô : "Kẻ què được đi, người mù xem thấy, kẻ điếc được nghe, người cùi được sạch, kẻ chết trỗi dậy …". Những điều bất hạnh đó là có thật, rất cụ thể, hàng ngày xảy ra trước mắt chúng ta và số lượng ngày càng gia tăng, mất việc, tai nạn giao thông, thiên tai, địch hoạ. Theo tờ New York Times ngày 2-12-2001, trong thành phố New York giàu có nhất thế giới, cứ 8 người thì có một người ăn nhờ quỹ cứu đói của thành phố. Con số đó nhân với khoảng 10 triệu dân NewYork chúng ta sẽ được một số liệu chóng mặt, nói chi đến những khu nhà ổ chuột ở Á Châu, Phi Châu, Afghanistan… Khi sống ở Galilea và Giudea Chúa Giêsu đã thực sự giơ tay cứu giúp những kẻ khốn cùng. Ngài thực sự là dấu chỉ của Thiên Chúa tình thương một cách rất cụ thể, chứ không chỉ trên môi miệng, lý thuyết như chúng ta thường làm. Theo tục lệ truyền thống, mỗi Chúa Nhật Mùa Vọng chúng ta sẽ thắp một ngọn nến "mong chờ" trong vòng hoa Mùa Vọng. Hôm nay chúng ta thắp ngọn nến hồng và chữ đỏ cũ gọi Chúa Nhật này là Chúa Nhật "Mừng vui lên" (Gaudete Sunday). Nó nhắc nhớ tín hữu rằng họ có một niềm vui bắt rễ trong hy vọng Chúa đến. Như thế thì lòng khao khát của chúng ta được diễn tả bằng ăn chay, cầu nguyện, bằng những cung điệu, màu sắc u buồn, bằng những gian nan thử thách, thì Thiên Chúa vẫn yên ủi chúng ta, đặt vào lòng chúng ta niềm vui man mác của thần khí Ngài. Giữa ngục tù, Gioan đã không thất vọng, giữa gian nan chúng ta vẫn có thể hô to "Mừng vui lên" Chúa sắp ngự đến. Trước mặt dân chúng Gioan có một uy tín lớn. Nhưng Chúa Giêsu không dựa vào uy tín ấy. Ngài mở một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hy vọng và thánh thiện cho toàn thể nhân loại. Ngài tuyên bố trước Thiên Chúa những ai thuộc kỷ nguyên mới này còn trọng hơn Gioan, lớn hơn những nhân vật đạo cũ. Và cũng giống như Gioan Tẩy giả, dù không có câu trả lời thoả đáng cho mọi vấn nạn nảy lên từ cuộc sống mỗi người, các cố gắng của chúng ta vẫn có thể chẳng đưa đến kết quả mong muốn, chúng ta vẫn còn phải chịu bầm dập, cay đắng. Nhưng rõ ràng là Chúa đã có chương trình cho chúng ta, chương trình đã được trù liệu từ lâu và Ngài đang hành động để nó được thực hiện tốt. Chúng ta sẽ được xem, được nghe, được trỗi dậy từ cõi hư vô, tan nát. Bởi lẽ chúng ta đã được nghe "Tin Mừng" của Ngài. Ðấng phải đến đã đến trong mỗi linh hồn chúng ta. Ngài đang hoạt động, dùng chúng ta như khí cụ, để mang hiệu quả đến cho thế giới. Vậy chúng ta hãy dâng trọn cuộc đời cho Ngài như Gioan Tẩy giả, ngõ hầu kẻ "nhỏ nhất" sẽ được nhận vào nước trời. Amen.
Hãy Đến Mà Xem Những câu hỏi hay là hành động cuối cùng Sau khi thuật lại sự kiện Gioan Tẩy Giả rao giảng tại sông Gio-đan và biến cố Ðức Giêsu chịu phép rửa, Tin Mừng thánh Mát-thêu không nói gì đến ông. Bây giờ, sau một phần những bài giảng của Ðức Giêsu, Tin Mừng cho biết là Gioan đang bị cầm tù. Từ nơi bị giam giữ, ông đã sai môn đệ đến hỏi Ðức Giêsu xem Người có phải là Ðấng được sai đến không. Ta có thể đối chiếu nhân vật Gioan ở hai thời điểm này với những nét tương phản. * Ðang là người có tự do, đột nhiên ông đã bị cầm tù, vì đã dám tố cáo vua Hê-rô-đê. * Ðang là một ngôn sứ, một người loan báo, một người chuẩn bị cho Ðấng Thiên Sai; giờ đây ông là người đặt câu hỏi xem Ðức Giêsu co phải là Ðấng Thiên Sai đến không ? * Ðang là người làm chủ các hành vi của mình, là người làm phép rửa cho Ðức Giêsu, lúc này ông phải nhờ đến các môn đệ của mình đến gặp Ðức Giêsu. * Ðang là người làm chứng về Ðức Giêsu, hôm nay ông lại là người đặt vấn nạn : Thầy là ai ? Những nét tương phản này đánh dấu điểm kết thúc trong đời hoạt động của vị Tiền Hô và khởi đầu một lịch sử mới, một lịch sử khác. Lúc này Gioan đang sống điều ông đã từng tuyên bố : đó là Ðức Giêsu phải lớn lên, còn ông phải nhỏ đi. Ðức Giêsu phải nỗi bật lên, còn ông phải lu mờ đi, phải lui vào trong hậu trường (x. Ga 3,30). Loan báo sự xuất hiện của Chúa cũng có nghĩa là vị Tiền Hô phải rút lui. Thế nhưng, từ trong nhà tù tức là ngôi mộ của ông, nơi ông đang chờ cái chết, Gioan Tẩy Giả muốn thực hiện hành vi cuối cùng của ông là xác định về "Ðấng phải đến". Trong cảnh nghèo khó tột cùng, trong tình trạng bị khai trừ, một lần nữa, lần cuối cùng, ông muốn loan báo về sự sống và về tương lai.
Do đó,
khi sai môn đệ đến hỏi Ðức Giêsu, Gioan Tẩy Giả muốn rằng các môn đệ của
mình tận tai nghe Ðứ Giêsu tuyên bố về lý lịch của Người, mà theo Người
(Ga 1,37-40). Thế mà, Ðấng ấy xuất hiện thì cách xử sự lại khiêm tốn và hiền lành, như thể có một khoảng cách khá xa giữa lời giảng của Gioan Tẩy Giả và con người Ðức Giêsu. Chẳng lạ gì khi các môn đệ của Gioan Tẩy Giả đặt ra những câu hỏi : Tại sao Ðấng ấy lại tiên báo cho những kẻ theo Người những thất bại, những vất vả và cả cái chết ? Tại sao Người không buộc các đối thủ phải chấp nhận lẽ phải ? Tại sao Người lại chấp nhận những chống đối và Người đã chịu nhượng bộ ? Phải chăng Người là Vua các vua, là Thẩm Phán thế giới, là Thủ Lãnh hòa bình ? Hay Người chỉ là một người loan báo Ðấng Cứu tinh thực sự sẽ đến ? Câu trả lời của Ðức Giêsu Ðể đáp lại câu hỏi do các môn đệ Gioan đặt ra, Ðức Giêsu không diễn giải bằng những từ ngữ, nhưng bằng việc mời gọi lưu tâm đến những dấu hiệu làm con người phải suy nghĩ, phải bối rối, đó là những dấu hiệu đem đến sự sống. Con Người Ðức Giêsu không thể được hiểu theo kiểu như lý lịch của bất cứ con người nào. Con người cấy được bày tỏ một phần qua truyền thống lịch sử, được nhấn mạnh qua việc trưng dẫn sách ngôn sứ I-sai-a, và nhất là qua các hành động khác thường. Qua câu đáp, Ðức Giêsu mặc nhiên công nhận mình là Ðấng Thiên Sai, Ðấng phải đến. Người đem đến ơn cứu độ toàn diện : chính nhờ Người là Ðấng hoàn tất các lời ngôn sứ, nhân loại không còn phải đợi chờ ai khác nữa. Trong Ðức Giêsu, người mù được thấy, kẻ què được đi, người phung cùi được chữa lành, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại và những người nghèo khó được nghe giảng Tin Mừng. Với những sự kiện lớn lao và lạ lùng như thế, người ta không thể nghĩ về Ðức Giêsu như bất cứ một con người nào. Người không chỉ khai mạc, nhưng còn hoàn tất vương quốc Thiên Chúa. Người không chỉ chiến đấu, nhưng còn chiến thắng, còn lên ngôi. Người không chỉ là người dẫn đường, nhưng chính là đường đi. "Hãy đến mà xem" : câu nói của Ðức Giêsu không phải để phô trương, cũng không phải để chứng minh về tính xác thực của các công việc Người đã làm. Ðó là một lời mời gọi môỵi người hạy tự nhận định và lựa chọn xem có nên chờ đợi một ai khác nữa không. Từ thời Cựu Ước, người ta vẫn chờ đợi Ðấng Cứu Thế đến để giải thoát họ khỏi cuộc sống cơ cực. Thế nhưng họ có quan niệm rất khác về Ðức Giêsu. Họ theo những thiên kiến, những ý tưởng riêng của mình. Họ giống như những trẻ em ngoan cố, không ai có thể làm vừa lòng : được mời dự tiệc cưới, họ muốn làm bộ buổn sầu; dự tang lễ, hô chối không mặc tang phục. Họ phản kháng không ngừng. Gioan Tẩy Giả xuất hiện như một người kham khỗ, họ chê là quá nghiêm khắc. Ðức Ki-tô sống cuộc đời bình thường dân dã, họ cũng kêu trách. Có những người muốn Ðức Ki-tô truyền cho lửa xuống thiêu đốt quân thù, còn Ðức Ki-tô lại xử sự quá tốt lành, quá nhân hậu, quá dịu hiền. Như vậy, Ðức Giêsu dễ dàng trở thành cớ cho thiên hạ vấp ngã, nhưng ""phúc thay người nào không mất niềm tin vào Tôi"". Người ta phải đón chờ Ðấng Cứu Thế theo tiêu chuẩn của mình. Nước Thiên Chúa được thực hiện theo những chiều hướng khác với những điều con người mong muốn. Nói chung, con người phải thích ứng với Thiên Chúa chứ không phải buộc Thiên Chúa thích ứng với mình (Thiên Chúa đã đi bước trước, đã mở đường qua Mầu Nhiệm Nhập Thể). Hãy đến mà xem Thực ra câu nói của Ðức Giêsu với các môn đệ của Gioan vẫn có thể là câu trả lời cho muôn thế hệ, kể cả con người ngày nay. Chúng ta biết rằng Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa Hằng Sống, như thánh Phê-rô đã tuyên xưng khi được hỏi : "Anh em bảo Thầy là ai ?" (Mt 16,15). Chúng ta biết và tuyên bố rằng Ðức Ki-tô đã chịu chết, đã phục sinh; Người vẫn đang sống và đổng hành với chúng ta trên con đường về với Chúa Cha. Nhưng liệu chúng ta có tin thực như thế không ? Ðó có phải là điều cốt yếu trong cuộc đời chúng ta không ? Ðôi khi chúng ta lại chẳng trông chờ một Thiên Chúa khác đấy ư, với mong muốn rằng vị Thiên Chúa đó sẽ làm cho thế giới tiến triển đến tầm mức và theo chiều hướng do chúng ta nghĩ ra ? Vị Thiên Chúa đó sẽ thưởng công ngay tức khắc cho người lành là chúng ta, và sẽ trừng phạt kẻ gian ác ? Có những lần chúng ta băn khoăn tự hỏi : Giáo hội có phải là công cuộc tiếp nối sứ mạng của Ðức Ki-tô ? Tại sao vinh quang Thiên Chúa không tỏa chiếu mạnh mẽ hơn lên ? Tại sao sứ điệp của Người không vang lên bằng những âm điệu chiến thắng, mà lại phải trải qua những thăng trầm như các quốc gia hay các nền văn minh trần thế ? Tại sao Thiên Chúa lại sử dụng những vị sứ giả thật tầm thường ?... Còn rất nhiều, rất nhiều câu hỏi tương tự như thế.
Chứng cớ
của Ðức Giêsu thật không như chúng ta nghĩ, không như chúng ta mong đợi.
Ðó không phải là những dấu chỉ kinh hoàng, nhưng là những dấu chỉ bình
thường. Bình thường vì đã được loan báo trước. Bình thường nhưng cũng
bất ngờ vì con người không để ý. Những chứng cớ đó rất gần bên chúng ta
: "hãy đến mà xem". Hãy đến trong cuộc đời và chiêm ngắm để nhận ra một
hoạt động có vẻ như khiêm tốn nhưng lại rất mãnh liệt và hữu hiệu. Ðàng khác, lời Chúa cũng thúc đẩy môỵi tín hữu trở thành chứng nhân trung thực của Thiên Chúa, để người khác hiểu rằng không còn phải chờ đợi một ai khác nữa, nhưng là chính tình yêu Thiên Chúa vẫn đang làm cho họ được sống.
Chuẩn bị đón Chúa Bài Tin Mừng có hai phần : phần thứ nhất là câu thắc mắc của Gioan Tiền Hô và câu trả lời của Chúa Giêsu. Phần thứ hai là những lời Chúa Giêsu ca tụng Gioan Tiền Hô. Khi ấy, Gioan Tiền Hô đang bị tù ở Ma-kê-ron-tê vì đã công khai tố cáo tội ngoại tình và cuộc hôn nhân bất chính của vua Hê-rô-đê. Các môn đệ của ngài đến thăm và báo cáo cho ngài biết có một vị ngôn sứ mới xuất hiện, tên là Giêsu, rao giảng và làm những việc lạ lùng, các ông cũng thắc mắc : phải chăng người ấy uy quyền hơn và lớn hơn Gioan ? Nghe các môn đệ báo cáo và thắc mắc như vậy, Gioan Tiền Hô đã cử hai người đi gặp Chúa Giêsu và hỏi xem Ngài có phải là Đấng được Thiên Chúa sai đến chăng ? Tại sao Gioan lại hỏi như vậy ? Có phải vì Gioan chưa biết Chúa Giêsu chăng ? Thưa, Gioan đã biết Chúa Giêsu, bởi vì chính ngài đã từng giới thiệu Chúa cho các môn đệ, chính ngài đã từng quả quyết : “Đấng đến sau lớn hơn tôi, và tôi không đáng xách dép cho Đấng ấy”, chính ngài đã làm phép rửa cho Chúa mà lòng ngần ngại, vì biết Đấng ấy là Thiên Chúa, cũng chính ngài đã chỉ Chúa Giêsu và nói với các môn đệ : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”. Vậy tại sao Gioan lại còn sai môn đệ đến hỏi xem Chúa có phải là Đấng Thiên Sai chăng hay còn phải chờ một vị khác ? Có nhiều giáo phụ như thánh Gioan Rít-sốt-tô-mô, Âu-tinh và nhiều nhà chú giải Kinh Thánh thời nay đã trả lời : thánh Gioan sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu là vì ngài muốn mở mắt cho các môn đệ của mình để họ hiểu rõ về Chúa Giêsu, để họ dám từ bỏ ngài mà đi theo Chúa. Về phần Gioan, chắc chắn ngài đã biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, nhưng có thể ngài còn tưởng Chúa là Đấng Cứu Tinh đến giải phóng Ít-ra-en cả trong phạm vi trần thế nữa, về chính trị và kinh tế như kiểu một vị vua Do Thái bách chiến bách thắng để đem vinh quang nước Ít-ra-en lên tột đỉnh. Chúa Giêsu đã trả lời thế nào ? Chúa không trả lời trực tiếp : “Đúng, tôi là Đấng Cứu Thế phải đến”, Chúa không nói rõ như vậy, nhưng Ngài đi sâu hơn, Ngài minh chứng bằng cụ thể, Chúa bảo họ hãy về thuật lại những việc Chúa đã làm và những lời Chúa đã nói, những điều đó đủ minh chứng Chúa là ai. Những điều đó đã được các ngôn sứ loan báo từ bao ngàn năm rồi. Trả lời như vậy là Chúa Giêsu gián tiếp bảo cho họ biết : Ngài không phải là một vị cứu tinh đầy uy quyền, đến giải phóng dân tộc Do Thái như họ mong đợi. Đồng thời Ngài trực tiếp xác nhận sứ mạng và quyền năng của Ngài : Ngài là con Thiên Chúa, Ngài là Đấng Thiên Sai, Ngài đến đem ơn cứu độ cho mọi người. Sau khi các môn đệ của Gioan đi rồi, Chúa nói cho dân chúng biết về Gioan. Chúa ca tụng Gioan bằng cách đặt ra ba câu hỏi : thứ nhất, các ngươi đến sa mạc xem gì ? xem cây lau, cây sậy phất phơ trước gió ư ? câu lau, cây sậy thường mọc ở ven sông, bên suối hay bờ biển để giữ đất cát, vậy làm sao tìm được cây lau, cây sậy nơi sa mạc ? Chúa Giêsu có ý nói đến Gioan Tiền Hô, Chúa ca tụng đức tin can đảm và sự nhẫn nại của Gioan, đã không chịu khuất phục uốn mình trước tội vô luân của vua Hê-rô-đê. Thứ hai, có phải xem một người ăn mặc đài các sang trọng ư ? Những thứ đó phải tìm trong cung điện nhà vua hoặc những nơi đô hội, còn sa mạc là nơi của cô tịch, hoang vắng, chỉ có người mặc áo da thú và lá cây thôi, ở đây, Chúa Giêsu muốn ca tụng sự khổ hạnh của Gioan, và đó là mẫu gương hy sinh từ bỏ cho mọi người. Thứ ba, có phải xem một ngôn sứ ư ? Chúa bảo ở đây còn hơn ngôn sứ nữa, vì Gioan là sứ giả đi trước Chúa, dọn đường cho Chúa, ông cao trọng hơn tất cả các ngôn sứ, vì các ngôn sứ trước ông cùng lắm chỉ sửa soạn, chuẩn bị cách gián tiếp, còn Gioan sửa soạn, chuẩn bị trực tiếp cho ơn cứu độ đến với nhân loại. Vì thế, hằng năm, cứ đến Mùa Vọng, chúng ta lại thấy nói tới Gioan Tiền Hô, vì danh hiệu và sự nghiệp của ngài gắn liền với chương trình cứu độ của Chúa Giêsu, thậm chí không thể nào nói đến Chúa Giêsu mà không nhắc đến vị tiền hô của Ngài, Gioan là một khuôn mặt lớn, một nhân vật nổi bật nhất giúp chúng ta dọn đường đón Chúa. Vậy Gioan đã kêu gọi và nhắc nhở chúng ta : phải chuẩn bị mừng Chúa Giêsu giáng sinh bằng cách hãy lấp đầy những chỗ trũng, đó là những thiếu sót bổn phận, tâm hồn trống rỗng, quên cả Thiên Chúa và những bổn phận thiêng liêng, nghĩa là phải lấp đầy bằng những việc đạo đức có giá trị đích thực. Rồi phải san bằng các núi đồi, đó là những kiêu căng, tự phụ, tự ái, ích kỷ, chúng ta phải san phẳng đi, nghĩa là phải biết tự hạ, sống khiêm tốn, chân thành với lòng mình và với mọi người. Rồi phải uốn cho ngay những con đường quanh co, đó là những tâm hồn giả hình, nhị tâm, hai lòng, dối trá. Chúa gớm ghét những người như thế, chúng ta phải tẩy trừ những tính xấu đó. Nói tóm lại, thánh Gioan bảo chúng ta phải thành thật sám hối, sửa đổi đời sống và làm những việc lành phúc đức, đó là điều thứ hai chúng ta cần làm trong những ngày Mùa Vọng. Chúng ta thấy người có đạo và cả những người không có đạo thường làm gì trong những ngày trước lễ Giáng Sinh, có khi cả hai, ba tuần, một tháng trước ? Người ta gửi thiệp và tặng quà Noel cho nhau. Đối với chúng ta, có thể nói : Mùa Vọng là mùa của gửi thiệp và tặng quà Giáng Sinh. Chúng ta gửi thiệp chúc mừng đến những người thân thương quen thuộc đã đành, nhưng chúng ta cũng phải gửi những cánh thiệp xã giao đến những người chỉ một lần quen biết, gặp gỡ; những cánh thiệp cho những người đầu ngõ, cuối xóm mà chúng ta không hề muốn đưa mắt nhìn đến; những cánh thiệp cho những người bất bình với mình hay gia đình mình hay những người chúng ta đang ghét cay ghét đắng… không phải chỉ là những cánh thiệp bằng giấy màu mè xanh đỏ hay có tiếng nhạc Noel khi mở cánh thiệp ra, mà là những cánh thiệp nhiệt tình chào hỏi nhau, những cánh thiệp làm hòa, tha thứ, thông cảm, yêu thương. Cũng vậy, không phải chúng ta chỉ tặng quà Noel cho những người thân thương, quen thuộc, nhưng chúng ta hãy gửi quà cho những người hành khất ngồi bên vệ đường hay lê lết trên đường phố, cho những kẻ không cửa không nhà, cho những ai đang đơn côi buồn tủi. Chúng ta hãy tặng quà bằng cách thăm viếng một người bệnh đang chờ một lời an ủi, đỡ nâng; hay san sẻ một đôi chút với những người trong gia tộc hay hàng xóm đang túng thiếu hơn chúng ta… đó là những cánh thiệp Noel, những món quà Giáng Sinh có giá trị nhất mà chúng ta có thể gửi đi ngay trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng.
Hãy vui lên, niềm hy vọng
đang ở giữa chúng ta ! Chúa nhật 3 Mùa vọng, Giáo Hội mời gọi tất cả con cái mình cử hành Bí tích Thánh Thể trong tinh thần vui mừng hân hoan : “Hãy vui lên, vì Thiên Chúa ngự đến. Hãy vui lên, vì ngày cứu độ chúng ta đã đến, ơn cứu độ chúng ta đã được thực hiện”. Niềm vui mà Giáo Hội mời gọi chúng ta sống trong những ngày này không phải là niềm vui vật chất như treo đèn ngôi sao, dọn hang đá, chuẩn bị quà cáp, mua sắm thức ăn chuẩn bị mừng đại lễ Giáng Sinh theo tinh thần trần tục. Nhưng niềm vui mà Giáo Hội mời gọi mỗi người chúng ta sống trong những ngày này là một niềm vui khác, niềm vui thánh thiêng, niềm vui Thiên Chúa ban cho con người biết cộng tác với ơn thánh của Ngài. Chúng ta hãy vui lên vì Thiên Chúa đã thương tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Ngài tha thứ tội lỗi không phải là vì chúng ta đã lập công phúc nên đáng được như vậy, nhưng là vì tình yêu thương không bờ bến của Ngài: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi sai Con Một của mình xuống để cứu chuộc thế gian, để ai tin vào Ngài thì sẽ được ơn cứu độ”. Đó là niềm vui đầu tiên của người Kitô hữu, Thiên Chúa đã thương tha thứ tội lỗi của chúng ta. Chúng ta hãy vui lên vì Con Thiên Chúa xuống thế làm người để cho con người được làm con Thiên Chúa. Ngài đến ngự giữa chúng ta, Ngài đến hiện diện với chúng ta và sống cùng chúng ta: “Thiên Chúa đã làm người và sống giữa chúng ta”. Trong Kinh Thánh, quan niệm Thiên Chúa sống giữa con người, trước hết biểu lộ tình thương đặc biệt của Thiên Chúa, Ngài muốn đối thoại với con người liên lỉ để hướng dẫn con người sống theo chương trình của Ngài và chu toàn sứ mạng của mình. Niềm vui đó Chúa Kitô Phục Sinh đã trao ban cho các tông đồ khi Ngài phán: “Các con đừng sợ, hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian. Này đây Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Niềm vui được loan báo trong Cựu Ước nơi tiên tri Sôphônia đã được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô và đã được trao ban cho chúng ta. Chúa nhật 3 Mùa vọng Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy đợi chờ trong niềm vui, trong niềm tin và trong niềm hy vọng, chắc chắn được Chúa đến giải thoát tội lỗi. Nhưng sự thật thì Chúa đã đến rồi trong lịch sử, trong tâm hồn của biết bao anh chị em chúng ta đã sẵn sàng đón nhận Ngài. Nhưng có thể đối với chúng ta thì Chúa chưa đến, vì tâm hồn chúng ta không còn chỗ trống dành cho Ngài; vì chúng ta chưa kê cho bằng những “chỗ lệch” trong cuộc sống như kiêu căng, vô tâm, sống ích kỷ và lo chạy đua theo cuộc sống hưởng thụ quên mất giá trị sống đích thực của mình; vì chúng ta chưa sẵn sàng thay đổi đời sống nên cứ sống trong lo âu, khắc khoải không biết mình chờ đợi gì. Và tương lai sẽ đi về đâu? Chúng ta đừng sợ nhưng hãy vui lên, đó là mệnh lệnh yêu thương của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta trong suốt cuộc đời. Đừng sợ và hãy vui lên, đó là lời kêu gọi của Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta, trong đó được tóm gọn trọn cả tình yêu của Thiên Chúa, tóm gọn cả lịch sử cứu độ Cựu Ước và Tân ước. Đừng sợ và hãy vui lên, đây là hai khía cạnh của cùng một thực tại của ơn cứu độ. Đừng sợ và hãy vui lên, vì Thiên Chúa ngự đến sống với và sống cùng chúng ta. Đừng sợ và hãy vui lên, vì Thiên Chúa đang chờ chúng ta đến với Ngài. Tương lai của đời người và lịch sử chắc chắn sẽ qui về Ngài, vì Ngài là khởi đầu và cùng đích của mọi sự. Và khi lắng nghe lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: Tôi phải làm gì bây giờ? Câu trả lời là: “Hãy ăn năn thống hối và tin vào Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô”. Thánh Phaolô mời gọi: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em ! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa, rộng rãi, Chúa đã gần đến.” (Pl 4:4-5). Niềm vui này không ai cướp mất được! Vì “Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh là Đấng anh hùng.” (Xp 3:17) Thế nên, dù đau khổ trăm bề nhưng chúng ta luôn được trấn an: “Đừng sợ, chớ kinh hãi rụng rời.” (Xp 3:16) Hạnh phúc không tìm thấy nơi những bảo đảm vật chất bên ngoài. Hạnh phúc nằm ngay trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Thật vậy, Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta. Nhưng khi trở về với đời sống nội tâm, chúng ta mới có thể tìm gặp được Thiên Chúa. Đó là tất cả niềm vui lớn lao của chúng ta khi mừng đại lễ Chúa Giáng Sinh. Niềm vui ấy chính Đức Mẹ đã cảm nghiệm sâu xa trong bài kinh Magnificat. Chính “Đức Mẹ dạy chúng ta muốn mang hòa bình và niềm vui đến cho thế giới, trước tiên cần nồng hậu tiếp đón vị Hoàng Tử Hòa Bình đến trong tâm hồn chúng ta. Và nguồn vui là chính Đức Giêsu Kitô vậy”. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-con, Chúng con dâng lời cảm tạ và tri ân vì muôn vàn hồng ân Chúa đã thương ban cho chúng con. Chúng con xin Chúa ban bình an và niềm vui của Chúa cho chúng con. Chúng con cũng xin Chúa giúp chúng con sống hiền hoà, thanh liêm, công bằng, rộng rãi và biết chia sẻ như Chúa mong muốn và dạy dỗ chúng con qua các bài Thánh Kinh hôm nay. Amen.
Một
Trang Sử Mới Ngày 10/12/2007 vừa qua là Ngày Thế Giới Về Nhân Quyền và cũng là ngày LHQ hướng đến kỷ niệm 60 năm bản Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân Quyền (1948-2008). Trong bối cảnh đó, Đức Cha Tomasi, quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại LHQ, tuyên bố : “Nhân phẩm là nền tảng cho việc áp dụng mọi quyền con người, và đồng thời, là điểm quy chiếu để xác định những lợi ích quốc gia, nhằm tránh mối nguy cơ chủ nghĩa cá nhân cực đoan và chủ nghĩa tập thể. Nhân phẩm cũng là chuẩn mực để thông qua những biện pháp trong mọi lãnh vực nhân vị được bày tỏ: thương mại, kinh tế, khoa học, an ninh, sức khỏe và những lãnh vực tương tự.”(1) Nhân phẩm quả là mấu chốt mọi vấn đề. Mọi bế tắc sẽ khai thông, nếu hướng tới chiều kích sung mãn của nhân phẩm Ðức Kitô. Chính vì thế, giữa cảnh cùng cực, thánh Gioan Tẩy Giả đã sai môn đệ đến chất vấn Ðấng ông đã từng loan báo. Phải chăng trong một khoảng cách gần nhất, họ đã bừng tỉnh trước chiều kích sung mãn và căn tính Thiên Sai của Chúa ? Phải chăng ông đã thấy cả một con đường bừng sáng trước mặt, mặc dù thân xác đang bị giam cầm trong khung cảnh chật hẹp, tăm tối ? KHÚC ÐƯỜNG GẬP GHỀNH Trước khi bị tống ngục, ông Gioan Tẩy Giả đã mở cho muôn dân một con đường sám hối, từ bỏ, canh tân để đón mừng Chúa đến. Niềm hy vọng Kitô giáo căn cứ trên một biến cố lịch sử, được ngôn sứ Isaia loan báo và Chúa Giêsu thực hiện. Tất cả sẽ chín mùi ngày Cánh Chung. Nhìn suốt con đường dài đó mới thấy tại sao niềm vui bùng vỡ ngay từ hôm nay. Lúc đó, ông Gioan đang ngồi tù, xa cách mọi người và hoàn cảnh. Chẳng bao lâu ông sẽ bị chặt đầu vì đã dám đòi vua Hêrôđê sống theo công lý. Ông đã trải qua những giờ phút vinh quang khi dân chúng kéo đến với ông trong sa mạc, bên bờ sông Giođan xin ông làm phép rửa. Chắc chắn lúc đó ông thành công hơn Chúa Giêsu, vì dân chúng nghĩ ông là một ngôn sứ có nếp sống khắc khổ, ẩn tu, được Thiên Chúa đến kêu gọi mọi người sám hối. Thời vàng son đã khép lại. Chỉ còn các môn đệ liều mình thăm nuôi ông Gioan Tẩy Giả đang ngồi trong ngục thất mà thôi. Ðã đến lúc ông phải sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một câu bất ngờ : "Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? " (Mt 11:3) Theo một số nhà chú giải, đó là lối nói của một tử tội đang tuyệt vọng, nghi ngờ về sứ mệnh ông đã từng loan báo không mỏi mệt : Ðây là Chiên Thiên Chúa. Ông Gioan hé lộ nhu cầu muốn được bảo đảm về sứ mệnh ấy. Lối giải thích kém cỏi đó không phù hợp với nhân vật này! Ðể sống bấp bênh trong sa mạc và biết lìa xa cuộc sống đơn độc để đám đông tội nhân tràn đến xin làm phép rửa, như một dấu chỉ Thiên Chúa thứ tha, chắc chắn ông phải là con người cứng rắn và can đảm. Chúa Giêsu đã đề cao ông Gioan cho thấy điều đó. Thái độ kiên trì của vị ngôn sứ được tóm tắt trong một câu vắn gọn : Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi. Là một nhân chứng trung thành, ông Gioan tự xóa trước Ðức Kitô và tách xa khỏi các môn đệ cuối cùng của mình để họ tới gần Ðấng là con đường, là sự thật và là sự sống. Phải chăng ông Gioan đã chẳng sai các tông đồ Gioan và Anrê đến hỏi Chúa Giêsu : “Thưa Thày, Thày ở đâu?” Vì khiêm tốn, ông đã thú nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, một người mở đường đi vào một trang sử mới, vì sứ điệp Ðức Kitô tuyệt đối mới lạ. Khi từ bỏ tất cả những gì mình có, ông Gioan hiện hữu theo đúng kế hoạch: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.” (Mt 11:11) Như vậy, trong khi Gioan tìm cách xác định niềm tin vào Ðức Kitô, thì chính Chúa đã nói rõ về ông và về chính mình. Mỗi người ở một vị thế quan trọng trong chương trình cứu độ nhân loại. Dĩ nhiên, vai chính vẫn là Ðức Kitô. Ông Gioan biết rất rõ như thế. Nhưng không phải vì thế mà Chúa coi thường vai trò và nhân phẩm của ông. Trái lại, Chúa đã đề cao ông như một người cao trọng “hơn cả ngôn sứ nữa.” (Mt 11:9) Hơn hẳn các ngôn sứ, ông Gioan là một sứ giả dọn đường cho Chúa đến (x. Mt 11:10). Ông đem đến cho nhân loại niềm vui lớn nhất, niềm vui của Nước Thiên Chúa đã xuất hiện giữa nhân loại nơi Chúa Giêsu Kitô. Vui vì Người sẽ giải thoát và đem lại tự do đích thực cho con người. Vui vì từ nay con người mới đích thực là người, vì họ có thể đạt đến mạc khải toàn vẹn về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa. Họ có thể lớn lên trong chiều kích sung mãn của tình yêu nơi Chúa Giêsu Kitô. VƯƠN TỚI CHIỀU KÍCH SUNG MÃN Sở dĩ có thể vươn tới chiều sung mãn đó, vì “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” (Ga 1:14) Với hai bản tính, Thiên Chúa thật và con người thật, Chúa Giêsu ‘lưu lại’ và ‘cư ngụ’ giữa chúng ta. Thông thường chúng ta không để ý nhiều đến nhân tính của Chúa Giêsu. Người đến trần gian để hàn gắn lại mối quan hệ thân thương giữa Thiên Chúa và con người, mối quan hệ đã bị vẩn đục bởi tội lỗi của nhân loại. Người đến phá vỡ hàng rào ngăn cách thế giới Thiên Chúa và thế giới con người. Nếu chối bỏ nhân tính của Chúa Giêsu, nghĩa là phủ nhận Chúa Giêsu giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, chúng ta dựng lại bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và chúng ta. Trong thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Do Thái có đoạn viết như sau: “Bởi thế Người đã nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách.” (Dt 2:17-18) Chỉ khi Chúa Giêsu là người thật ‘về mọi phương diện,’ Thiên Chúa mới có cơ hội chia sẻ trọn vẹn nhân tính của con người, con người Giêsu mới thật sự đại diện nhân loại một cách trọn vẹn trước nhan Thiên Chúa. Không những thấu hiểu mọi chi tiết trong cuộc sống thăng trầm, Người còn mạc khải ý nghĩa cao cả trong cuộc sống ngày thường của chúng ta trong chương trình vĩnh hằng của Người. Việc Người trở nên một với nhân loại là món quà tình yêu vô giá của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Món quà được ban tặng để giải thoát đến tận cùng mọi điều kiện sống của những ai tin vào Người. NHÂN PHẨM TRONG KẾ HOẠCH CỨU ÐỘ Chúa Kitô xuống trần gian nhằm “cứu độ tất cả và toàn diện con người : đó là ơn cứu độ phổ quát và toàn vẹn. Ơn cứu độ liên quan tới con người trong mọi chiều kích : cá nhân và xã hội, thiêng liêng và thể chất, lịch sử và siêu việt.” (2) Tập thể cũng chỉ là một kết hiệp tạm thời ở trần gian đáp ứng những nhu cầu tinh thần và vật chất của con người mà thôi. Nếu nhân phẩm không được tôn trọng, ơn cứu độ cũng mất hiệu lực. Thực tế, chính vì muốn phục hồi nhân phẩm, nên Con Chúa mới đến trần gian cứu độ nhân loại. Nhân phẩm đích thực tìm thấy trong hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi. “Trong tình yêu hiệp thông, tức Thiên Chúa, Ba Ngôi yêu mến nhau và là Một Thiên Chúa. Con người được kể gọi khám phá nguồn gốc và đích điểm cuộc sống và lịch sử.” (3) Ðó là lý do tại sao Thiên Chúa xuống trần gian. Người đưa tất cả về tận nguồn sống sung mãn và sâu xa nhất của mình. Trong nguồn sống vô cùng lớn lao đó, con người cũng tìm thấy giá trị cao cả nhất của mình. Thật vậy, “mạc khải trong Ðức Kitô về mầu nhiệm Thiên Chúa như tình yêu Ba Ngôi đồng thời cũng là mạc khải về lời mời gọi con người yêu thương. Mạc khải này chiếu sáng vào mọi khía cạnh nhân phẩm và tự do của con người, và vào những miền sâu xa trong bản tính xã hội của họ.”(4) Có cái nhìn sâu xa như thế, mới thấy tất cả nền tảng và nguyên nhân mọi giá trị con người cũng như ý nghĩa của những tương quan nhân loại. Cái nhìn đó phát xuất từ niềm tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa. Chỉ trong tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, người ta mới khám phá tất cả những nét cao đẹp trong tương quan nhân loại. Không có chiều kích siêu việt này, tương quan nhân loại dễ đổ vỡ hay rơi vào cảnh tầm thường, nhàm chán. Nói khác, tương quan siêu việt giữa Ba Ngôi là nền tảng cho mọi giá trị trong tương quan nhân loại. Không có tương quan siêu việt đó, tương quan nhân loại mất sức sống và động lực. Bằng chứng, khi đánh mất tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa, nguyên tổ thấy nhân phẩm mờ nhạt trong một tương quan nhạt nhẽo và vô giá trị. Chính vì thế, trước khi đến với loài người, Thiên Chúa đã sai ông Gioan Tẩy giả đến thiết lập trật tự từ trong lòng người đến ngoài xã hội. Nhưng sứ mệnh ông cũng có giới hạn. Ông chấp nhận để nhường bước cho Ðấng có quyền thanh tẩy muôn dân “bằng Thánh Thần và lửa.” (Mt 3:11) Sau khi chứng kiến tận mắt Chúa Giêsu phục hồi nhân phẩm cho người mù, kẻ què, người cùi, kẻ điếc, người chết, kẻ nghèo v.v., các môn đệ có thể đem về cho ông những bằng chứng sống động và hùng hồn nhất. Chắc chắn ông kinh ngạc về sức mạnh Thánh Thần nơi con người Chúa Giêsu. Chỉ có sức mạnh Thánh Thần mới trả lại phẩm giá cho con người. Thật vậy, “là hình ảnh Thiên Chúa, con người chiếm hữu nhân phẩm. Họ có thể tự hiểu biết, tự sở hữu, tự do hiến thân và hiệp thông với tha nhân.” (5) Với sức mạnh Thần Khí, Chúa Giêsu đã phục hồi hình ảnh Thiên Chúa nơi con người. Nhờ đó, con người mới nhận ra hình ảnh tuyệt vời của nhau và tạo nên tương quan tốt đẹp. Khi không nhìn thấy hình ảnh tươi đẹp của Thiên Chúa nơi tha nhân, con người không thể tôn trọng nhân phẩm. Họ sẵn sàng bóp nghẹt tự do và chà đạp công lý. Làm sao xã hội có thể phồn thịnh khi nhân phẩm không còn được coi là giá trị cao quý nhất? “Một xã hội công bằng chỉ có thể trở thành hiện thực, khi xây dựng trên sự tôn trọng phẩm giá siêu việt của con người. Con người là mục tiêu cao cả nhất của xã hội. Mọi trật tự xã hội đều phải quy hướng về con người.” (6) Bởi vậy, khi con người biến thành phương tiện sản xuất, xã hội đánh mất mục tiêu và phương hướng. Chính vì thế, Thiên Chúa đã muốn chia sẻ thân phận làm người với chúng ta để ban cho đời sống chúng ta chiều kích nhân tính sung mãn của Người, tức ơn cứu độ muôn đời. “Nếu biết tôn trọng nhân phẩm, người ta phải nhìn nhận chiều kích tôn giáo của con người. Ðây không chỉ là một đòi hỏi ‘về những vấn đề đức tin,’nhưng là một yêu cầu gắn liền với chính thực tại cá nhân.’ Có thực sự nhìn nhận quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo như một trong những lợi ích và bổn phận quan trọng nhất của mỗi người, người ta mới bảo đảm phúc lợi cho cá nhân và xã hội như mọi người mơ ước.” (7) Nói tóm, giữa những bế tắc trong gia đình và ngoài xã hội hôm nay, nếu biết tôn trọng nhân phẩm người ta sẽ tìm thấy con đường tốt đẹp nhất giải quyết mọi vấn đề. Chính vì thế, giữa lúc gặp cảnh bĩ cực, ông Gioan đã muốn cho các môn đệ thấy con đường giải thoát chính là Ðức Kitô, nơi quy tụ mọi chiều kích sung mãn nhât của phẩm giá con người. Lạy Chúa, giữa muôn nẻo đường dẫn đến Chúa và tha nhân đều bế tắc, xin cho con luôn tin tưởng mãnh liệt chỉ có Chúa Kitô mới là con đường giải thoát duy nhất. Amen. đỗ lực 16.12.2007 -------------- 1. http://www.vietcatholic.net/News/Html/49846.htm 2. Toát Yếu Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, 38. 3. ibid., 34. 4. ibid., 34. 5. ibid., 108. 6. ibid., 132. 7. Ibid., 553.
LÀM
GÌ ĐỂ ĐÓN CHÚA Thường thường mỗi khi chúng ta gặp một người đau khổ chúng ta hay khuyên “thôi, rồi mọi sự sẽ không sao đâu”. Người đau khổ hiểu sự thông cảm của chúng ta, nhưng cũng hiểu là chúng ta không thể làm gì giúp làm vơi đi sự đau khổ của họ. Và ngay chính chúng ta cũng biết như vậy. Babylon là một cường quốc đang lưu đày dân Israel. Nếu có ai nói “thôi, rồi mọi sự sẽ không sao đâu” thì làm sao dân Israel tin được. Nhưng ngôn sứ Isaia không tự ông ta nói với dân Israel. Ông ta nói vì danh Chúa, và lời hứa ông ta nói có Thiên Chúa làm hậu thuẫn. Ngôn sứ Isaia dùng những hình ảnh của sách Xuất Hành để nhắc nhở dân Chúa. Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên họ, đã đưa họ ra khỏi sự lưu đày ở Ai Cập, và đã chọn họ làm dân riêng của Ngài. Và đây, một lần nữa, Thiên Chúa cũng sẽ làm như vậy, một lần Xuất Hành thứ hai. Thiên Chúa, Đấng giải cứu, sẽ đến cứu họ ra khỏi áp bức tù đày. Mặc dù họ không mấy hy vọng nơi Thiên Chúa, họ sẽ nhận thấy Thiên Chúa thật tình yêu thương họ. Dân Israel đang sống mòn mỏi, vì thế nên Thiên Chúa sẽ giúp họ xuất hành một cách dễ dàng. Sa mạc sẽ trổ sinh hoa cỏ. Dân Chúa sẽ được thêm sức mạnh: những bàn tay rã rời sẽ được thêm sức, và sự quỳ luỵ dẽ bị triệt tiêu Ngoài sự tăng cường sức khoẻ thân xác, Thiên Chúa còn cho họ thêm sức mạnh về tinh thần và thêm can đảm. Thử hỏi làm sao những người lưu đày đó lại không phấn khởi được. Thiên Chúa toàn năng của họ sẽ đi theo họ. Ngôn sứ loan báo Thiên Chúa sẽ đến, đừng sợ hãi! Ngôn sứ đang hứa là có sự giải thoát cho dân Chúa. Hãy để ý, lời hứa của ngôn sứ không những ám chỉ sự giải thoát về phần hồn mà thôi. Sự giải thoát này gồm tất cả vũ trụ: nên sa mạc sẽ thay đổi, sức mạnh thân xác con người sẽ được tăng cường toàn vẹn. Mắt người mù sẽ được mở, tai người điếc sẽ được nghe, và người câm sẽ reo hò. Đường đi ra khỏi chốn ngục tù đày là một quan lộ thánh, một đại lộ, không quanh co, đưa họ ngay về quê hương. Chúng ta có thể tưởng tượng những người lưu đlu7utha hồ nhảy múa reo hò trên quan lộ lớn Thiên Chúa đã làm ra cho họ. Trông như một cuộc diễn hành với Thiên Chúa dẫn đầu, đưa họ về đến quê hương mới và bằng an trong tương lai. Chúng ta gọi Chủ Nhật hôm nay là “Gaudete” là “Vui mừng”. Lời dẫn đầu vào thánh lễ là “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Chúa đã gần đến” (Pl 4:4-5). Chúng ta có thể bị chán nản nếu chúng ta bị bỏ rơi trong tội lỗi và tù đày. Lúc đó chúng ta không thể làm gì được cho mình? Nhưng chúng ta vui mừng, “Chủ nhật vui mừng”, vì “Chúa đã gần đến”. Hoặc theo ngôn sứ Isaia nói: “Này đây Thiên Chúa của các ngươi đến để trả oán”. Ngài sẽ đem đến sự công chính. Và đó là hy vọng cho chúng ta, giúp chúng ta tiếp tục (hay bắt đầu) cố gắng xây dựng công bằng trong xã hội chung quanh chúng ta. Chúng ta không cậy vào sức mạnh của chúng ta, vì “này đây Thiên Chúa của các ngươi đã đến”. Khi các môn đệ của Gioan Tẩy giả đến để hỏi Chúa Giesu “Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi phải đợi ai khác?”, Chúa Giêsu đã dùng lời nói của ngôn sứ Isaia để trả lời. Ngài không nói lại lời ngôn sứ, nhưng Ngài chỉ ra những dấu chỉ để chứng thật Ngài là ai. Dân chúng thời đó và ngày nay không cần nghe những lời khuyên trong lúc họ bị tù đày hay đau khổ: họ chỉ cần dấu chỉ thật sự là lời Thiên Chúa hứa qua miệng ngôn sứ sẽ thành sự thật. Một điều làm tôi phấn khởi mỗi khi đi giảng phòng ở giáo xứ là tôi được gặp những người cố gắng sống như họ là dấu chỉ nước Chúa đã đến trong thế gian này. Có lẻ họ không nghĩ là họ sống như vậy. Ở một giáo xứ tôi gặp một phụ nữ một mình nuôi con, lại còn phải săn sóc một người anh yếu đau đã được ngũ tuần. Một luật sư cố gắng bênh vực những người di cư bất hợp pháp mà không đòi tiền thù lao nhiều. Một cha mẹ sai con đem thức ăn cho người nghèo. Và còn biết bao người nữa, hàng ngày vẫn sống như người Samaritano nhân hậu trong dụ ngôn Chúa Giêsu dạy. Họ cũng giống như Chúa Giêsu, là dấu chỉ về ngày ngôn sứ Isaia hứa là sẽ bắt đầu: mắt người mù được mở, tai người điếc được nghe, người què sẽ nhảy nhót, người câm sẽ hò reo. Trong khi lời hứa của ngôn sứ chưa được thực hiện, Chúa Giêsu đã đến dẫn đưa chúng ta trên “quan lộ thánh” đi về quê thật là nhà Chúa. Trên đường đi, Thánh thần Thiên Chúa cùng đi với chúng ta và chúng ta đã thấy những dấu chỉ sự cứu thoát đã bắt đầu. Chúng ta đã có lời hứa qua Chúa Giêsu là chúng ta sẽ vào thành thánh, “tiến đến sion trong tiếng hò rao”, và “niềm vui vĩnh cửu đội trên đầu”. “vĩnh biệt phiền sầu than van”. Chúng ta có tin vào những lời hứa có Chúa làm hậu thuẫn không? Trong lúc đi trên “quan lộ” đời sống chúng ta, chúng ta không cảm thấy “thánh thiện”, trái lại, chúng ta cảm thấy những ổ gà và những nứt rạn trên những đường phố như một đường tại khu phố ở Chicago sau khi một mùa đông khắc nghiệt? Môn đệ của Gioan Tẩy Giả hỏi Chúa Giêsu dấu chị thật sự để chứng minh Ngài là Đấng phải đến, là Đấng mà Gioan đã tiền hô. Chúng ta, những thành phần của thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, là những dấu chỉ để đem lời hứa của ngôn sứ và của Chúa Giêsu vào đời sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta hãy chứng minh là lời hứa đó đáng được tin cậy, và có thể được thực hiện, chứ không phải là những lời khuyên trống rỗng đâu. Cũng như Chúa Giêsu đã trung thành với sứ vụ của Ngài, Chúa Thánh Linh sẽ làm chúng ta nên những chứng nhân của đức tin. Cũng như Chúa Giêsu, chúng ta có thể đem đến một cuộc cách mạng về suy nghĩ, xét đoán với một cách bất bạo lực. Chúng ta có thể yêu thương phục vụ kẻ khác, ngay cả đến lúc phải chịu khổ hay chịu chết vì phục vụ. Chúng ta có thể đối đầu với tà thần ở thế gian này và đem đến sự chữa lành và lòng kiên nhẫn trong niềm hy vọng, và ngay cả những khi kẻ khác không trông thấy dấu chỉ cụ thể chúng ta là môn đệ, hay là chúng ta bị thất bại. Chúng ta là một kẻ được cứu độ, hãycầu xin cho được trở nên dấu chỉ trung thành ở giữa thế gian mà những người đang bị giam hãm đang mong đợi được thực hiện trong Chúa Giêsu Kito. Chúng ta cố gắng sống theo gương Chúa Giêsu để có thể nói với kẻ khác giống câu trả lời của Chúa Giêsu để chứng minh Ngài: “hãy nói (với kẻ khác) những điều bạn đã nghe và thấy, mắt người mù được mở, …”
Kẻ khác không bao giờ tin chúng ta
cho đến khi họ trông thấy các dấu chỉ thật sự là Chúa Giêsu đang sống
trong thế gian: cho đến khi họ trông thấy chúng ta dẫn dắt người mù; hay
chúng ta nói lên tiếng nói của người nghèo. Để trả lời câu hỏi “Có phải
Chúa Giêsu là Đấng phải đến không?”, thì đời sống chúng ta phải chứng
minh là “đúng vậy”. Jude Siciliano, O.P. (Anh em Học viện Đaminh chuyển ngữ) HÃY ĐI VÀ THUẬT LẠI NHỮNG GÌ MẮT THẤY TAI NGHE Is 35,1-6a.10; Gc 5,7-10; Mt 11,2-11 Kính thưa quý vị, Mùa Vọng là mùa của hy vọng. Đây chính là thời gian chúng ta làm mới lại những ước mơ và hâm nóng tâm hồn mình. Những bài sách thánh chọn đọc trong mùa này góp phần giữ cho những ước mơ của ta luôn tươi mới; hướng dẫn chúng ta tìm đúng nơi, ngõ hầu ước mơ của mình được trọn vẹn. Vậy tại sao lại chọn đọc bài Tin Mừng hôm nay, một câu chuyện nói đến sự thất vọng? Ông Gioan Tẩy Giả đã bị bắt vì dám lên tiếng chống lại mối quan hệ giữa Vua Hêrôđê và chị dâu của ông ta là bà Hêrôđia. Ông Gioan bị cầm tù sau khi đã rao giảng thành công trong sa mạc về “Đấng đang đến”. Bài Tin Mừng tuần trước (Mt 3,1-12) nói về việc ông rao giảng cho một đám đông nhiệt huyết và những phê phán của ông về cơ cấu tôn giáo. Dù ông Gioan ở trong tù, nhưng có người cho rằng, ít ra ông cũng cảm thấy mãn nguyện và thậm chí vui mừng vì sự xuất hiện của Đức Giêsu, cũng như việc rao giảng và chữa lành của Người. Thế nhưng, khi ngồi trong nhà tù của vua Hêrôđê, ông Gioan tỏ ra nghi hoặc. Ông đã rao giảng về Đấng Mêsia đang đến và hình ảnh nước trời. Nhưng đó không hẳn là một tin vui; đó là một cơn phẫn nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống. Những kẻ làm điều ác sẽ bị quẳng vào lửa mà Thiên Chúa đã chuẩn bị sẵn cho chúng (3,10). Chúng ta có thể cảm nhận sự hào hứng và mãn nguyện của những người được nghe thông điệp của ông Gioan. Cuối cùng, Thiên Chúa đã đến để thực thi công lý: quân đàn áp Rôma sẽ bị xua đuổi, và những nhà lãnh đạo tôn giáo, những kẻ thông đồng với chúng, cũng sẽ bị trừng trị. Những người ngay lành sẽ được quy tụ vào trong cộng đoàn của Thiên Chúa – nước trời. Ông Gioan đã nói rất rõ ràng: Đấng đang đến sẽ cầm nia trong tay: “Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,12). Khi ngồi trong tù và nghe về Đức Giêsu, ông Gioan có lẽ phải thắc mắc: “Vậy, đâu là cái nia? Đâu là ngọn lửa không hề tắt? Chẳng phải đấng Mêsia đến để phán xét chung thẩm và mang ơn cứu độ sao? Ông Gioan cũng có thể đã băn khoăn: “Đức Giêsu có phải là đấng Mêsia mà ta loan báo không, còn ta, ta sẽ làm gì trong nhà giam này? Sao Người không đến để giải thoát ta và những tù nhân khác ra khỏi ngục? Sao Người không giáng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trên những kẻ gian ác này?” Những tín hữu đang phải gánh chịu những bệnh tật, vấn nạn gia đình hay bị đàn áp, cũng có những nghi hoặc như ông Gioan. Chẳng phải Thiên Chúa đứng về phía người ngay lành đó sao? Thiên Chúa đã đến để cứu ta chưa? Nếu không phải là từ sức mạnh của ma quỷ - vậy thì những sự dữ này từ đâu mà đến? Chúng ta cùng chung đường với các môn đệ của ông Gioan, những kẻ cũng băn khoăn như ông và đến hỏi Đức Giêsu: “Thầy có phải là Đấng mà chúng tôi nên đặt niềm phó thác hay không? Thầy có phải là Đấng mà tôi có thể hiến dâng mạng sống và đi theo đường lối của Ngài chăng? Ngài có phải là Đấng cứu thế, và nếu đúng như vậy, thì Ngài cứu chúng tôi khỏi điều gì?” Đức Giêsu không đưa ra một câu trả lời suông nào. Nhưng, Người chỉ ra những dấu chứng cụ thể mà Người đã nói, đã làm, rồi để cho ông Gioan và các môn đệ của ông tự đưa ra kết luận: “Các anh cứ về thuật lại với ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe…” Chúng ta có thể hiểu được vì sao bài đọc thứ I hôm nay được chọn. Ngôn sứ Isaia thấy được thời mà sa mạc bừng lên sự sống – một mối lo âu cho những ai sống trong vùng hoang cỏ cháy – và lúc mà những gian lao khốn khó được chữa lành. Ngôn sứ Isaia nhận được mệnh lệnh: ông phải loan tin vui này cho những kẻ khốn khổ, yếu nhược và tâm hồn sợ hãi. Ông nói với dân bị lưu đày từ chính quê hương của họ. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy họ sắp được giải cứu là thiên nhiên khô cằn sẽ trổ sinh sự sống. Ngôn sứ Isaia như thể nói rằng Thiên Chúa sắp tái thiết thế giới. Những ai nhận ra các dấu chỉ Thiên Chúa đang đến thì không còn phải sợ hãi như những kẻ chứng kiến sự hiển dung của Thiên Chúa. Vị ngôn sứ khích lệ: “Hãy mạnh mẽ, đừng sợ hãi!” Những kẻ trung tín với Thiên Chúa không có gì phải sợ khi Thiên Chúa, vị thẩm phán, ngự đến. Lời hứa của ngôn sứ Isaia và câu trả lời của Đức Giêsu cho môn đệ ông Gioan được nối kết với nhau. Vị ngôn sứ nhìn thấy kẻ yếu đuối được cứu chữa: mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò. Dân chúng tin rằng Thiên Chúa làm nên mọi sự hoàn hảo, vì vậy, tất cả những gì là thiếu sót, bất toàn trong tự nhiên và nơi con người là do hậu quả của tội lỗi. Thế nên, khi đấng Mêsia đến, thiên nhiên và con người sẽ được hoàn trả về “tình trạnh tốt đẹp”. Tội lỗi không còn khả năng làm suy yếu những thụ tạo của Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa đến cứu con người bằng cách phục hồi tình trạng nguyên thủy như ý định và thiết lập của Thiên Chúa lúc tạo thành. Con người phải làm gì để được phục hồi? Chẳng phải làm gì cả, nhưng chỉ cần khát khao và ao ước được phục hồi. Mùa Vọng diễn tả nỗi chờ mong để được phục hồi. Vì thế, câu trả lời của Đức Giêsu với các môn đệ của ông Gioan là có chủ tâm và phản ánh bài đọc trích sách ngôn sứ Isaia hôm nay. Liệu ông Gioan và cả chúng ta nữa có đón nhận vai trò của Đức Giêsu là không phải dùng vũ lực để lật đổ, mà dùng sức mạnh để chữa lành và thậm chí tha thứ cho kẻ thù hay không? Ông Gioan một mình trong ngục và đối diện với cái chết. Hình ảnh mà ông Gioan vẽ lên trong lời rao giảng của mình lại khác xa với bản chất sứ vụ của Đức Giêsu. Ông Gioan đã nêu thắc mắc để tìm hiểu về Đức Giêsu. Khi môn đệ của ông trở về với câu trả lời của Đức Giêsu, liệu ông và nhiều người khác nữa, có chờ đợi điều đó từ Đấng Mêsia và chấp nhận Đức Kitô Đấng phải đến hay không? Mùa Vọng là thời gian chúng ta chờ đợi Đức Kitô đến. Nhưng chúng ta có tiên liệu được điều gì xảy ra khi Người đến một lần nữa trong đời ta hay không? Những người nào là chúng ta mong đợi? Nhân danh Người, chúng ta làm được gì cho đời? Lời nguyện cầu của chúng ta sẽ tác động ra sao khi Đức Kitô ngự đến trong hình dạng mới mẻ? Nhờ được canh tân bởi sự sống của Đức Kitô trong Mùa Vọng này, chúng ta chịu ảnh hưởng như thế nào trong các mối tương quan? Đức Giêsu đề cao ông Gioan. Ông không phải là cây sậy phất phơ trước gió, chiều theo quan điểm và mong ước của đám đông. Đức Giêsu nói với ta rằng, ông Gioan là còn hơn cả một ngôn sứ nữa. Vai trò ngôn sứ của ông là loan báo việc ngự đến của Đấng mà tất cả các ngôn sứ khác đã nói đến. Ông Gioan có được vị trí cao trọng nhất trong lịch sử cứu độ vì ông mở ra cánh cửa cho chúng ta bước vào thời đại mới. Tuy nhiên, Đức Giêsu nói, dù ông Gioan là người rất cao trọng “nhưng kẻ nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông”. Như thế, liệu ai trong chúng ta có thể so sánh với ông Gioan về việc dấn thân hết mình để thi hành thánh ý của Thiên Chúa? Ai có thể kiên quyết nói lên sự thật dù cho có bị chống đối hay phải chết? Vị giảng thuyết nào có thể cuốn hút người ta như ông Gioan đã làm được? Làm thế nào ta có thể trở nên thành viên nước trời, là kẻ nhỏ nhất, và cao trọng hơn ông Gioan? Nhiệm vụ của ông Gioan là người tiên phong của Đấng được Chúa xức dầu. Ông là tiếng hô trong hoang địa: “Hãy dọn đường cho Đức Chúa”. Nhưng khi ông loan báo việc Đức Giêsu đến, ông không phải là kẻ đi theo lối ấy. Ông là người chuyển tiếp qua thời mới, nhưng chính ông lại không thuộc về thời ấy. Ông Gioan đến trước Đức Giêsu, nay phải học cách để đi theo Người. Trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu, kẻ nhỏ nhất là tất cả những ai lắng nghe và mau mắn đi theo Đức Kitô. Trước mặt Thiên Chúa, họ là những kẻ cao trọng, thực hiện nghiêm chỉnh điều Thiên Chúa mong muốn cho cả người Do Thái lẫn Dân Ngoại. Giờ đây, cộng đoàn những người tin trở thành dân ngôn sứ. Chúng ta là những kẻ nhỏ nhất trong nước trời, và vẫn được mời gọi để thực hiện điều Đức Giêsu nói với các môn đệ của ông Gioan rằng: “Hãy đi và thuật lại… những điều mắt thấy tai nghe”. Trong truyền thống phụng vụ, hôm nay được gọi là “Chúa Nhật Hãy vui lên”, còn gọi là “Chúa Nhật mừng vui”. Chúng ta đã đi qua một nửa Mùa Vọng[1] và dừng lại để lấy hơi. Bài Tin Mừng vẽ lên một bức tranh về mục đích của chúng ta; về thời mà thiên nhiên và con người cư ngụ trong một vương quốc của hòa bình. Đó là lời hứa của Thiên Chúa và Đức Giêsu đã tỏ cho chúng ta: khởi đầu cho một lối sống mới mà Người gọi là nước trời. Chúng ta luôn để viễn cảnh và vương quốc hòa bình của Người trước mắt, ngay cả khi chúng ta phải chống chọi với những gì là bất toàn trong cuộc sống và thế giới. Cái chết đã bị hủy diệt. Chúng ta mong chờ chấm dứt khỏi đau đớn, khóc than và cái chết muôn đời. Chúng ta vui mừng, vì hôm nay niềm tin giúp chúng ta cảm nghiệm được sự sống đang chờ ta ở phía trước. Nay chúng ta nhận biết đâu là chốn khô cằn và đầy những lời dối gian để tránh xa, và nhận ra đâu là điều mang đến giá trị vĩnh cửu để chúng ta cần giữ lấy.
[1] Nguyên bản: Lent (Mùa Chay), có lẽ ý định của tác giả là Advent (Mùa Vọng), nên dịch giả mạo muội dùng từ Mùa Vọng cho phù hợp với mùa Phụng Vụ.
| |