Năm A

 
 

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG A

Is 11,1-10 / Rm 15,4-9 / Mt 3,1-12
 

An Phong op : Đấng Xét Xử

Laurensô Bùi Công Huy op : Dọn Đường Cho Chúa

Fr. Jude Siciliano, op : Lạy Chúa Giêsu Xin Ngự Đến

Giuse Nguyễn Cao Luật op : Những Người Mở Luống Cày

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Thánh Gioan Tiền Hô, nói và làm

Vincente Nguyễn Trọng Đại op : Hãy Sám Hối Vì Nước Trời Đã Đến Gần

Đỗ Lực op : Khi Người Yêu Chưa Đến

Fr Jude Siciliano, op : Hãy Sám Hối

Fr. Jude Siciliano, op: Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến

 

 


An Phong op

ÐẤNG XÉT XỬ
Mt 3,1-12

Ngày lễ Giáng sinh thường được đón mừng với cả một bầu khí tưng bừng vui tươi, thơ mộng, rực rỡ… Quả thật đây là một ngày vui, cả một mùa vui và cả đường phố cho đến trong nhà đều tràn ngập niềm vui. Nhưng phụng vụ hôm nay nhắc nhở cho chúng ta thấy ngày Chúa đến cũng là ngày xét xử.

Isaia cho thấy Ðấng Xét Xử đến, đầy tràn Thần Khí, "Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bề ngoài… nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng. Lời Người là cây gậy đập tan bọn cường hào, hơi miệng thở ra giết chết phường gian ác…" (Is 11).

Gioan tiếp tục lời tiên báo đó "Người sẽ làm phép rửa cho các anh bằng Thánh Thần và bằng lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê lúa trong sân…".

Ngày Ngôi Hai nhập thể là ngày Chúa đến lần thứ nhất. Ngày quang lâm là ngày Chúa đến lần thứ hai. Một lần thì tỏ bày một cách nhẹ nhàng, khiêm nhu; một lần sẽ oai nghiêm và công thẳng. Thật ra hai khía cạnh đó cũng chỉ là một, Ngài tràn đầy Thần Khí khôn ngoan và minh mẫn; Thần trí mưu lược và hùng dũng; và Ngài sẽ xét xử công minh cho những kẻ nghèo và nghiêm khắc với người gian ác.

Chính vì đó, để chuẩn bị mừng Chúa giáng sinh, Lời Chúa dạy chúng ta phải biết sám hối, để cho Ðấng Sẽ Ðến thanh tẩy chúng ta bằng lửa và để chúng ta có thể hân hoan đón mừng Chúa đến.

Niềm vui đích thực của lễ Giáng sinh chỉ có thể đến cho những ai biết chuẩn bị, biết dọn đường cho Chúa đến. Không được tự phụ mình là con cháu Abraham (đạo gốc); không thể "như loài rắn độc kia" trốn tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa bằng chách giữa đạo hình thức, nhưng phải biết thật lòng "sám hối vì Nước Trời đã đến gần". Khi đó chúng ta mới được sống hân hoan, vui mừng trên Núi Thánh của Chúa; ở đó "sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi Thánh của Ta, vì sự hiểu biết Thiên Chúa sẽ tràn ngập cõi đất, như nước bao phủ đầy lòng biển".

Lạy Chúa,

Ðời sống của chúng con có nhiều khó khăn,
nhưng chúng con thường hay đổ lỗi tại người này người kia,
tại chuyện này chuyện nọ.

Tâm hồn chúng con thường hay xao xuyến băn khoăn,
và chúng con cứ tưởng có thể giải quyết chúng bằng công việc,
bằng những cuộc vui, bằng những thành đạt chúng con cố tìm cho được.

Nơi gia đình chúng con, có những lúc bóng tối bao trùm,
có những lúc không ai muốn nói với ai,
hoặc không ai muốn nhường cho ai một lời
và chúng con đỗ lỗi tất cả lỗi lầm cho người khác, hay là cho chính Chúa.

Nhưng lạy Chúa, hôm nay chúng con biết rằng:
nếu chúng con chưa sống một chút nào trên núi Chúa,
đó là vì lòng chúng con còn nhiều quanh co, nhiều đối núi, nhiều lũng sâu.

Xin Chúa giúp chúng con
biết sửa soạn chính tâm hồn mình để đón Chúa ngự đến.


Laurensô Bùi Công Huy op

DỌN ÐƯỜNG CHO CHÚA
Mt 3:1-12

1. Chúng ta vẫn thường coi việc sám hối và hoán cải như là những điều kiện tiên quyết để kết hợp với Chúa. Cái tiến trình nhỏ bé ấy có thể ví như một vốc bột giặt dùng để tẩy rửa quần áo cho sạch vậy. Quan niệm như thế chẳng khác gì coi việc hoán cải hoàn toàn là do nỗ lực riêng của chính chúng ta, trong khi việc Chúa đến lại hoàn toàn do sáng kiến của Thiên Chúa

Việc Chúa Nhập thể nguyên nó đâu cần chúng ta sám hối, chúng ta hoán cải. Như một em bé vốn đang trong vòng tay âu yếm của mẹ, nó dở chứng muốn buông ra để được tự do trên đất, rồi lại muốn tự chỗi dậy, nhưng làm sao được vì nó bé bỏng quá. Lúc ấy, người mẹ lại phải cúi xuống bồng nó lên và ôm nó vào lòng. Cũng thế, tội lỗi khiến cho con người xa rời Thiên Chúa và hoán cải làm cho con người trở về với Chúa. Việc hoán cải hay sám hối này chẳng qua chỉ là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa cúi xuống và ôm lấy chúng ta. Như thế, chính Thiên Chúa là tác nhân của việc chúng ta hoán cải. Và việc Chúa Giáng sinh chẳng qua cũng chỉ là điều kiện tiên quyết để tình yêu của Thiên Chúa được hiển hiện. Khi ấy, sám hối như là ánh sáng báo hiệu sự xuất hiện của Ðấng Cứu Thế. Như ánh sáng chiếu soi trên khắp ngọn đồi, xua tan mọi bóng mờ tăm tối, sự tha thứ của Thiên Chúa cũng đáng tan mọi quá khứ u tối và còn lôi cuốn cơn khát khao gặp gỡ chính nguồn mạch của sự tha thứ.

2. Như thế, lý lịch Kitô hữu hay bằng chứng phép Rửa tội không đủ cho chúng ta gặp được Chúa: "Các anh đừng tưởng có thể nghĩ bụng rằng chúng ta đã có tổ phục Áp-ra-ham"... để gặp được Chúa, bản thân chúng ta phải xác tín : chúng ta vốn hoàn toàn xa cách Thiên Chúa và đang xa rời vòng tay của Thiên Chúa. Ai có thể gần Chúa được nếu như Chúa không dủ lòng xót thương và nếu chúng ta không biết khẩn cầu lòng thương xót đó. Thánh Phao-lô trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã chẳng nhắc nhở chúng ta về lòng trung thành và lòng thương xót của Thiên Chúa đó sao? Chính vì thế, chẳng có công trạng riêng tư nào của chúng ta cân xứng với lòng thương xót ngàn đời của Thiên Chúa, bởi chính Ngài là nguồn kiên nhẫn và an ủi của chúng ta mà chúng ta phải khẩn cầu.

3. Như Gioan Tẩy giả, hôm nay, đến lượt mình, chúng ta cũng phải trở nên những "tiền hô" dọn đường cho người khác. Ðược liên kết với nhau trong Mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta cũng phải liên đới với nhau trong Mầu nhiệm Nhập thể. Lời mời gọi này mời gọi chúng ta, những Kitô hữu, phải trở nên những người dẫn đường chỉ lối cho người khác đến gặp được Chúa. Trong gia đình, nơi xí nghiệp, tại công sở... hay bất cứ nơi đâu, chúng ta phải trở nên những người phục vụ cho sứ mạng đó.

Là "tiền hô" của Ðấng Cứu Thế, chúng ta phải nên như những dấu chỉ loan báo Ðấng Cứu Thế qua lối sống của chúng ta hay cách xử thế của chúng ta đối với những người chúng ta có dịp gặp gỡ. Khi ấy, chúng ta như ngọn lửa nóng cháy chiếu sáng và sưởi ấm môi trường sống của chúng ta với họ. Và khi ấy, chúng ta không có mối quan tâm nào khác ngoài việc ước ao và nỗ lực làm cho tha nhân ngày một lớn lên hơn và hạnh phúc hơn.

Sống như thế, chúng ta sẽ thấy ơn cứu độ của Ðấng Cứu Thế đang thực sự triển nở trong mọi người : "Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi".


Fr. Jude Siciliano, OP.

Lạy Chúa Giêsu Xin Ngự Đến
(Mt 3 : 11-12)

Thưa quý vị.

Trong hai Chúa Nhật II và III Mùa Vọng, người ta gặp thấy một vị khách thường lảng vảng xuất hiện. Ðó là Gioan Tẩy giả, vị ngôn sứ khó tính, cộc cằn. Tin Mừng hôm nay mô tả dáng điệu và cách ăn mặc của ông ta. Chúng ta khó có thể hình dung nổi nhà tiên tri này nếu cứ nhìn vào các Catalogue giới thiệu quần áo thời trang. Ông mặc áo lông lạc đà, thắt lưng dây da, ăn châu chấu với mật ong rừng, những lương thực nghèo dinh dưỡng. Thính giả hoặc đọc giả tân thời khó mà nhận ra nhà ẩn dật sa mạc thô lỗ này. Nhưng bất cứ ai đã từng làm quen với tiên tri Malachia (3 : 23) và dân chúng thời Gioan đều có thể hiểu ra ý nghĩa tượng trưng của vị ngôn sứ đó. Những gì ông ăn, những gì ông mặc và nhất là sứ điệp ông công bố (này ta sai ngôn sứ Êlia đến với các ngươi) đều bày tỏ lời hứa của Thiên Chúa cho dân tộc Israel đang bị đế quốc Roma đè bẹp, đô hộ. Êlia phải trở lại và là vị tiền hô cho Ðấng Thiên Sai. Gioan đã ăn vận theo lốt của Êlia, quần áo đầy lông lá, thắt lưng dây da (2 V 1,18). Như vậy, Gioan là chính Êlia ? Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp để giải phóng tuyển dân ?

Câu hỏi được thánh Matthêo tích cực trả lời (chủ đề của Matthêo chứng minh Chúa Giêsu là Ðấng Messia). Sau hai chương ngắn về gia phả và tuổi thơ của Chúa Giêsu, Matthêo đi thẳng vào sứ vụ của Ngài một cách đột ngột : "Hồi ấy, ông Gioan Tẩy giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giuđêa…" như thể tác giả muốn nói : "Chúng ta đã xác định nguồn gốc và lai lịch của Chúa Giêsu, công việc quan trọng là đi vào sứ vụ của Ngài. Êlia đã đến trong con người của Gioan. Ông rao giảng và làm phép rửa. Sứ điệp của ông giống như sứ điệp của Chúa Giêsu : "Hãy hối cải vì nước trời đã gần đến". Nhưng sứ điệp đó không bảo đảm ơn tha thứ tội lỗi. Ông làm phép rửa cho những người đến với ông ở sông Giođanô theo tục lệ của người Do thái. Cứ như thói thường thì dân ngoại muốn gia nhập cộng đồng Do thái phải qua nghi lễ tẩy rửa, tức dìm mình trong dòng nước. Gioan đã thi hành nghi lễ này cho những người Do thái có lòng thống hối và đặt họ ngang hàng với dân ngoại. Như thế bất cứ ai muốn trở nên tuyển dân thực sự của Thiên Chúa đều phải qua nghi lễ tẩy rửa. Gioan đã kêu gọi mọi người trở lại con đường ngay chính của giao ước và sửa soạn lòng người đón nhận ơn tha tội của Ðấng đến sau ông, nhưng mạnh thế hơn ông. Mọi người không trừ ai đều được kêu gọi trong sứ điệp của Gioan.

Vậy thì trước mặt Chúa, chẳng ai có đặc quyền, đặc lợi. Dù là con cháu Abraham cũng không thể nghĩ mình tự động được ơn nghĩa với Thiên Chúa. Những nhóm nổi tiếng đạo đức, nhiệt thành, Pharisêo và Saducêo của đạo Do thái cũng đến xin phép rửa của Gioan. Họ là dòng dõi ưu tú của Abraham nhưng cũng không thể loại trừ khỏi nhu cầu thống hối. Vậy thì chúng ta coi lại xem cuộc đời mình có phản ánh trung thực đức tin của lòng mình ? Chẳng ai được phép coi mình có địa vị hay đặc quyền trong "Phép rửa đợi chờ" của Mùa Vọng. Tất cả đều cần biểu lộ nhu cầu canh tân của linh hồn mình như những người đến cùng Gioan. Dáng điệu bề ngoài của ông làm chúng ta bối rối. Ông ăn vận kỳ quặc, sống kham khổ. Nhưng trong linh hồn ông có cái chi lôi cuốn thiên hạ đến với ông. Có lẽ đó là ngọn lửa thần linh đang thiêu đốt ông. Người ta muốn đến gần ngọn lửa ấy để sưởi ấm lại con tim đang giá lạnh, để có cơ hội bắt đầu một cuộc đời mới…

Gioan thành thật công nhận phép rửa của mình không đủ. Cần phải có thêm phép rửa "Với Thánh Thần và lửa" của Chúa Giêsu. Ðấng thánh mà ông loan báo sẽ đến sau ông và đổ lửa thần khí vào lòng những tín hữu thống hối để họ được tha tội và sống nội tâm mới. Họ được bảo đảm tình yêu tinh ròng, bừng cháy, đốt hết những vết nhơ làm cho họ cách xa Thiên Chúa. Ðể được như vậy, họ phải thực hiện một vài thay đổi trong đời họ. Trước hết, phải gạt ra ngoài những thành kiến có sẵn về tôn giáo khuôn phép. Họ được phép tự hỏi : "Làm thế nào Thiên Chúa cao sang, thánh thiện lại có thể nói qua người đàn ông man rợ này ? Rõ ràng, Thiên Chúa đã dùng vị ngôn sứ điên khùng, quái dị Gioan để phán với bàn dân thiên hạ về đường lối chính trực của Ngài. Như vậy với Gioan trong hai tuần lễ giữa Mùa Vọng, chúng ta phải giương to đôi mắt, mở rộng hai tai để lắng nghe tiếng Chúa dạy bảo qua những người, những chỗ bất ngờ nhất, ít thánh thiêng nhất.

Tôi muốn nói đến gương sáng của một nữ tu 80 tuổi đan găng tay cho các phu quét đường, trang xã luận của tờ báo lá cải, tiếng nói ương gàn của một thành viên hội đồng giáo xứ, bản hiệu biểu tình phản kháng, các lãnh đạo tôn giáo chống chiến tranh, những đĩ điếm, ma tuý, v.v… có thể là những con đường Chúa nói với chúng ta trong mùa Vọng này. Nếu như Gioan là mẫu mực thì ai dám phủ nhận những con đường đó ? Ða phần tín hữu chẳng có thì giờ hoặc cơ hội lui vào đồi núi, trung tâm cấm phòng, bãi biển thanh vắng trong mùa náo nhiệt này để lắng nghe tiếng Chúa, thì chí ít những giây phút, cơ hội bất ngờ như thế này giúp ích rất nhiều. Các nhà đạo đức mô phạm sẽ cho là "khùng", nhưng chẳng ai "khùng" bằng Gioan Tẩy giả, vận lôi thôi, bẩn thỉu, ăn cào cào, châu chấu leo vách đá, hang hốc, miệng hô vang "hối cải" !

Và thiên hạ phải làm những cuộc hành trình khó nhọc đến với ông. Chúng ta cũng làm những cuộc hành trình tương tự đến với thánh lễ Mùa Vọng hôm nay. Có điều chi khác biệt ? Thưa không, chúng ta cũng phải bỏ lại đàng sau những công việc hàng ngày, các nghề nghiệp, lợi lộc đến nghe lời Chúa, sửa soạn trong Mùa Vọng để đón Chúa Giáng sinh. Sứ điệp của Gioan chẳng phải là vô ích sau khi Chúa đã xuống thế làm người, mang Thánh Thần và lửa cho chúng ta. Chúng ta vẫn cần sứ điệp đó để thức tỉnh lương tâm. Ðúng thế, liệu lúc này chúng ta đã khao khát Chúa đến chưa, liệu chúng ta đã ước mong điều gì mới, thanh sạch, tinh khôi cho thế giới tan nát, già cỗi này ? Xin hãy cùng nhau ra đi, săn đón Chúa, hãy làm điều chi đó để chuẩn bị cho Ngài đến lại thế gian. Ngài sẽ cầm nia trong tay sàng sẩy kho lúa của Ngài. Rơm, trấu đốt đi, lúa tốt trữ vào kho.

Xã hội loài người còn rất nhiều điều phải làm trên khắp mọi bình diện, quốc gia, quốc tế, tôn giáo, chủng tộc, gia đình, thôn xóm, thành thị, giáo xứ… nhiều mối bất đồng, hận thù, chia rẽ, cần phải được hàn gắn. Nhiều gia đình tan vỡ cần phải được vực dậy, nhiều tội ác kinh tế, chính trị cần phải được tố cáo và dẹp bỏ, chiến tranh sắc tộc, khủng bố quốc tế cần phải được dập tắt. Sì ke, ma tuý, đĩ điếm, say sưa, trác táng cần phải được hoàn lương. Nghèo đói, vô gia cư, bệnh tật có thể là những kỷ niệm quá khứ được không ? Chiếm hữu ít thôi nhưng thoả mãn nhiều hơn có thể là nếp sống mới phổ biến của nhân loại được không ? Ðó là những giấc mơ của Gioan Tẩy giả, giấc mơ của mọi người chúng ta đón Chúa đến. Chúng ta có điên khùng không ? Gioan Tẩy giả có lừa dối đồng bào ông không ? Xin mọi người suy nghĩ và trả lời câu hỏi.

Chúa nhật II Mùa Vọng năm nay trùng với ngày cung hiến đền thờ Giêrusalem của cộng đồng Do thái. Bắt đầu từ ngày 9 tháng 12 hàng năm, người Do thái mừng lễ Hanukkah (cung hiến). Nó kéo dài tới tám ngày, kỷ niệm Judas Maccabeo và đám quân đội nhỏ bé của ông chiến thắng vua Antiochus Epiphanes và đạo quân hùng mạnh Syria năm 165 trước công nguyên. Ðền thờ đã bị vua Epiphanô làm ô uế bởi các tượng thần Hy Lạp. Dân chúng phải bái lạy tà thần. Khi chiến thắng, tướng Maccabêo tổ chức thanh tẩy đền thờ. Khi vào trong nhà Chúa họ thấy ngọn lửa vĩnh cửu trước hòm bia giao ước đã tắt. Họ đi tìm dầu để thắp lại ngọn lửa cho việc thánh hiến. Cố gắng lắm họ chỉ tìm được dầu đủ đốt cho một ngày. Thực tế, ngọn lửa đã cháy đủ 8 ngày. Dân chúng vui mừng ca hát tung hô Giavê cứu độ.

Người tín hữu chúng ta suy nghĩ gì trước biến cố này trong Chúa nhật Mùa Vọng hôm nay ? Tác giả Bishops trong sách nhỏ "Lòng thương xót Chúa tồn tại muôn đời" đã viết : "Nội dung các bài đọc Cựu Ước không phải chỉ sửa soạn cho việc Chúa Cứu Thế đến, mà còn loan báo hy vọng cánh chung". Người tín hữu tin rằng Ðấng Messia đã đến trong con người của Chúa Giêsu, nhưng triều đại của Ngài chưa thể hiện đầy đủ. Chưa đầy đủ trong mỗi cá nhân cũng như trên toàn thế giới. Ðó là sứ mệnh của Hội thánh và dân Do thái. Vậy thì chúng ta phải tẩy uế tâm hồn và tư duy, để cho ngọn lửa "nước Cha trị đến" luôn bừng cháy trong lòng mọi người. Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến. Amen.

 
Giuse Nguyễn Cao Luật op :

Những Người Mở Luống Cày
Mt 3,1-12

Liên tục và đứt đoạn

Bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu ông Gioan Tẩy Giả, về thân thế và sứ điệp của ông. Nơi con người này, nhân vật cuối cùng của thế hệ các ngôn sứ, cả những dấu chỉ về tính liên tục cũng như sự đứt đoạn trong cả một lịch sử dài, lịch sử duy nhất. Ðó là lịch sử cứu độ.

* Gioan sống đời khắc khổ, nhiệm nhặt về thức ăn cũng như áo mặc. Thức ăn và áo mặc của ông là điển hình cho sự hối cải, cho thấy ông là người của Thiên Chúa, đổng thời khẳng định rõ rệt rằng : chỉ việc hối cải mới quan trọng, còn những nhu cầu khác chỉ là thứ yếu. Một khi đoạn tuyệt với những nhu cầu vật chất, con người được chuẩn bị để tiếp nhận ơn thánh.

Ðiều này khiến người ta liên tưởng đến nhiều ngôn sứ, nhất là đến ngôn sứ Êlia (2 V 1,8) đã từng sống trong sa mạc (1 V 17,3). Vì thế, khi Gioan xuất hiện, người ta đã nhìn nhận ông thuộc hàng ngôn sứ. Cách sống và hành động của ông hoàn toàn phù hợp với lời ông rao giảng.

Ðàng khác, hình ảnh Gioan cũng là âm vang của ngôn sứ I-sai-a : ông chính là nhân vật được loan báo trước, có nhiệm vụ dọn đường cho Ðấng Thiên Sai sẽ đến.

* Ðồng thời, Gioan cũng là dấu chỉ về sự đứt đoạn. Ông đả bắt đầu rao giảng tại hoang địa chứ không phải tại thành phố hay giữa dân chúng. Vị "tiền hô" không đến với con người, trái lại, con người phải thay đổi, phải ra khỏi nơi ở của mình, ra khỏi những thói quen của mình để tìm vào hoang địa, để gặp ông.

Ðàng khác, việc loan báo về Ðấng Cứu Thế không diễn ra tại Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, thành có Ðền thờ của Thiên Chúa. Ngược lại, ""dân chúng từ Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng các vùng lân cận sông Gio-đan"" đều kéo đến hoang địa để nghe Gioan giảng dạy.

Sa mạc

Gioan xuất hiện nơi hoang địa để làm phép rửa và rao giảng. Trong Kinh Thánh, hoang địa hay sa mạc là trường thử thách đem lại vinh quang. Dân Ít-ra-en, sau khi ra khỏi Ai-cập, đã được Thiên Chúa hướng dẫn trong sa mạc để gặp gỡ với Thiên Chúa tại núi Xi-nai. Sa mạc tượng trưng cho sự đoạn tuyệt với văn minh bên ngoài, với tiếng động huyên náo, để trở nên hoàn toàn tự do, dễ dàng nghe tiếng Chúa (x. Hs 2,16).

Sa mạc là nơi để Thiên Chúa "nói với tâm hồn", là nơi để sám hối, để đổi mới, để ơn cứu độ được thể hiện. Sa mạc là nơi chuẩn bị, nơi để thanh luyện trước khi vào Ðất hứa. Bên bờ sông Gio-đan, nơi xưa kia dân Ít-ra-en đi vào Ðất hứa, Gioan giảng dạy và làm phép rửa, để rổi khi Ðức Giêsu đến, Người sẽ dẫn họ vượt qua sông để vào Ðất hứa đích thực. Trong sa mạc, ông là người chuẩn bị cho Ðấng Thiên Sai sắp đến một đoàn dân sẵn sàng đón tiếp Người, vì theo tương truyền, vào thời cánh chung, Nước Thiên Chúa sẽ khởi đầu từ sa mạc và Ðấng Thiên Sai sẽ xuất hiện tại đây (x. Mt 24,26).

Ngoài ra, sa mạc cũng là nơi Thiên Chúa hiện diện và bày tỏ vinh quang. Trong cuộc xuất hành, Thiên Chúa hiện diện với dân qua cột mây, cột lửa. Vinh quang Thiên Chúa còn trở lại từ bên kia sa mạc, tức là từ đất lưu đày Ba-by-lon (x. Ed 43).

Như vậy, những ai bằng lòng tìm đến sa mạc, sẽ thấy Thiên Chúa đến trong Ðức Giêsu để tỏ vinh quang của Người và được ghi ấn giao ước.

Nói chung, chỉ cần nhìn vào con người và cách sống của Gioan Tẩy giả, cũng như nơi ông hoạt động, người ta cũng thấy được ý nghĩa của việc Ðức Giêsu đến.

Lời mời gọi khẩn cấp

Gioan Tẩy Giả giúp dân chúng thực hiện ba điều này : nghe rao giảng, xưng thú tội, chịu thanh tẩy để lo hối cải nhằm được tha tội là điều sẽ được ban như ân huệ của triều đại Thiên Chúa. Như thế, sứ vụ của Gioan có tính cách như một thời "toàn xá", một giai đoạn chuẩn bị bước vào thời cánh chung.

Ði vào sa mạc là chấp nhận thay đổi, là đoạn tuyệt với thế giới thường ngày. Ði vào sa mạc, không phải để "trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống", nhưng đúng ra là để hiện diện trước cái nhìn của Thiên Chúa, để chết đi cho chính mình.

Dó đó, việc đi vào sa mạc để nghe rao giảng, để chịu phép rửa không phải là một sự trốn tránh, một sự từ nhiệm, cũng không phải là tự sát. Sám hối là sáng tạo, là đổi mới, là lên đường để "sinh hoa quả". Ðó là con đường đưa đến mùa gặt, con đường hướng tới phép rửa trong Thánh Thần và trong lửa.

Khi nào "Ðấng phải đến" sẽ đến ? Không ai biết. Chỉ biết rằng "Nước Trời đã gần kề"; "cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây". Thế nên, lời mời gọi hối cải là một lời gọi khẩn cấp, người ta không thể trì hoãn. Nước Thiên Chúa đã gần bên tức là niềm hy vọng và sự chờ đợi của toàn dân sắp đến ngày toại nguyện. Ðây là cơ hội cuối cùng hiến cho mọi người. Thật là một tin quan trọng. Sám hối là đặt mình vào trạng thái chờ đợi để đón điều bất ngờ.

Lời mời gọi này gửi đến mọi người, trước hết là những người Do-thái. Ðặc ân là con cháp Áp-ra-ham không cho phép họ từ bỏ việc sám hối. Chính họ phải mở rộng tâm hồn, phải sám hối để đón nhận những điều kỳ diệu vượt xa những điều đã được Thiên Chúa thực hiện trong quá khứ. Ðặc biệt, Gioan đã tỏ ra nghiêm khắc với những người Biệt phái và Xa-đốc. Họ là những người hiểu biết, có địa vị hơn, nên càng phải tích cực hơn trong việc đón nhận Ðấng Thiên Sai. Như thế, Gioan đã nhìn thấy trước tình trạng căng thẳng giữa những nhóm này với Ðức Giêsu như Tin Mừng sẽ sẽ thuật lại.

Cuối cùng, lời kêu gọi này không phải chỉ gửi tới những người thời xưa, những thính giả hiện diện, nhưng còn gửi tới mọi người ở mọi nơi, mọi thời. Tất cả đều phải chuẩn bị đón "Ðấng đang đến".

Chỉ là người mở đường

Trong lời mời hướng tới tương lai, Gioan đã nhìn thấy rõ ràng tác động giải thoát của Thánh Thần, cũng như khả năng đáp ứng phi thường của con người.

Gioan biết trong tâm hồn có những khoảng cách - khoảng cách giữa công chính và bất lương, giữa tự do và nô lệ (tiền bạc, dục tình, nô lệ). Ông biết cần phải phá bỏ khoảng cách đó, cần phải đẩy tới. Vì vậy, ông muốn đưa con người vượt ra khỏi cảnh sống tầm thường của họ. Ông đã dìm họ trong nước, dòng nước của tự do và chờ đợi Thiên Chúa.

Mặc dù phép rửa của Gioan chỉ là khởi đầu, là phép rửa giao hòa, chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ Ðấng Thiên Sai, thế nhưng đó là bước đường bắt buộc, không ai có quyền viện cớ này cớ khác để tránh né. Ðừng tự hào "tôi là người ki-tô hữu... hay "tôi đang sinh hoạt trong hội đoàn...". Vô ích. Những đặc ân đó không đáng là gì, vì "Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá biến thành con cháp Áp-ra-ham".

Vậy tôi đã làm gì để đón Ðấng đang đến ? Cây đời tôi đã sinh trái ?

Một điều lý thú là Gioan không muốn thanh tẩy nếu không có sự cộng tác của người nghe. Ông để tự họ quyết định, tự khởi đầu. "Anh em phải sám hối". Thế là ông nhận rằng người ta có khả năng sám hối. Ðó không phải là điều khôi hài hay nói cho qua, nhưng là phải bắt đầu xem xét cuộc đời, cách hành động của mình có phù hợp với chương trình của Thiên Chúa hay không.

Ngoài ra, đừng ai cho rằng Gioan là người bảo thủ. Ông kêu gọi sự thay đổi. Ông kêu gọi sự tiến bộ qua việc tự giải thoát chính bản thân. Gioan cũng không phải là nhà luân lý. Mục tiêu ông hướng tới không phải là một "xã hội được tẩy sạch", nhưng là làm cho "Ðấng đang đến" trở nên sống động.

Như vậy, con người và cách hành động của Gioan thật có giá trị. Ðó là một lời kêu gọi với cung giọng tha thiết, đầy tính thôi thúc. Gioan được ví như lưỡi cày đang đào xới mảnh đất, để rổi Ðấng Thiên Sai sẽ gieo hạt... Còn phần chúng ta, đừng để lời mời gọi đó loãng tan vào hư không.

 
Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Thánh Gioan Tiền Hô, nói và làm
(Mt 3,1-12)

Mỗi khi Mùa Vọng đến, có một nhân vật luôn được nhắc đến, một nhân vật không thể vắng bóng trong Mùa Vọng, đó là Gioan Tiền Hô, vì đời sống của ngài gắn liền với Đấng Cứu Thế. Ngài là “tiếng nói của người kêu”, là “hình bóng của một sự thật”, là “đèn đốt nóng cháy sáng”, là “ngôn sứ cuối cùng” được Thiên Chúa chọn làm người mở đường cho Chúa. Ngài sẵn sàng sống và chết cho Chúa, ước vọng và mục đích duy nhất đời ngài là làm sao danh Chúa được tôn cao. Ngài biết rằng sứ mệnh của ngài là giới thiệu Chúa Giêsu rồi lui vào bóng tối để Chúa tiến ra ánh sáng. Ngài cũng không buồn phiền, nhưng lại vui vì khi thấy số môn đệ của mình càng ngày càng giảm đi, trong khi các môn đệ của Chúa càng ngày càng tăng thêm. Những thái độ đó của Gioan chứng minh ngài yêu Chúa vô cùng. Chỉ có tình yêu như vậy, ngài mới có thể lui vào bóng tối nhường ánh sáng cho Chúa Giêsu. Với tình yêu như vậy, ngài mới có thể mở đường cho Chúa.

Vậy, Gioan Tiền Hô là ai ? Ngài là con duy nhất của một gia đình hiếm muộn, son sẻ là ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, cả hai đều đã cao  niên, già cả. Có lẽ ngài sinh ra ở A-in ka-rim, một làng gần Giê-ru-sa-lem.

Buổi thiếu thời và tráng niên của ngài chỉ được ghi lại trong một lời vắn tắt như sau : “Hài nhi lớn lần, trở nên dũng mạnh về thần trí và sống trong nơi hoang tịch cho đến ngày ra thi hành sứ mệnh cùng dân Ít-ra-en”. Tuy nhiên, chúng ta biết thêm : ngài sống đời khổ hạnh : y phục thì chỉ có một áo choàng bằng lông lạc đà, là một kiểu áo ăn chay đánh tội mà các ngôn sứ xưa thường dùng đến, ngang lưng thắt một dây da để hãm mình ép xác, còn của ăn thì lại càng bấp bênh, nhờ vào “may rủi” của Chúa quan phòng, là ăn châu chấu và mật ong rừng.

Vào mùa thu năm 27, dưới thời hoàng đế Tibêriô, ngài ra đi truyền đạo khắp vùng Giuđê, Galilê và vùng phụ cận sông Giođan. Điệp khúc rao giảng của ngài là “Hãy sửa đổi đời sống, hãy ăn năn sám hối”. Lời rao giảng của ngài “sóng gió” cho mọi tầng lớp, từ lớp “rắn lục” trở xuống. Cả vua Hêrôđê cũng bằng lòng nghe ngài giảng. Sử gia Fơ-la-vi-ô ghi rằng : “Gioan có ảnh hưởng sâu đậm trên quần chúng, đến nỗi họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì ông răn bảo”. Hết mọi hạng người đến gặp ngài, để xin ngài chỉ dạy cách phải sống. Làm thế nào Gioan Tiền Hô đã trở thành một người rao giảng đầy uy quyền, kêu gọi được người ta ăn năn sám hối và sửa đổi đời sống ? Tại sao lời giảng dạy của ngài lại được nhiều người đương thời lưu ý ? Câu trả lời là Gioan Tiền Hô đã nói sau khi làm, đã sống, đã kinh nghiệm rồi mới nói. Đây cũng là điều chúng ta đặc biệt chú ý và tìm hiểu.

Quả thực, chính Gioan đã ăn năn sám hối trước, ngài đã vào sa mạc trước để ăn chay hãm mình. Trong những năm trường ở sa mạc, ngài đã thực sự ăn năn và sống với Chúa mỗi ngày. Những ngày tháng cô đơn, buồn tẻ của sa mạc đã tinh luyện ngài thành con người hữu ích và hữu dụng cho nước trời. Chính kinh nghiệm đời sống khắc khổ của sa mạc đã làm ngài trưởng thành và kinh nghiệm mà hướng dẫn được người khác. Ngài thực là một con lạc đà khỏe mạnh, đủ sức chịu đựng, đã mang ách đời mình và dẫn anh em đến với Chúa. Vì thế, mọi bậc người đều tuốn đến với ngài. Bí quyết thành công của ngài chính là làm rồi hãy nói, việc làm không mâu thuẫn với lời nói, và lời nói không thể mâu thuẫn với việc làm. Đó là bí quyết để sống và truyền sức sống sang cho người khác. Gioan không thể kêu gọi người ta sám hối, nếu thực sự ngài không ăn năn. Gioan không thể kêu gọi khiêm nhường, nếu ngài không thực sự khiêm hạ trước mặt Chúa. Gioan không thể kêu gọi bác ái, nếu ngài chưa sống khắc khổ và hi sinh vì người khác. Ngài được người ta nghe theo, chỉ vì ngài đã làm và nói những gì ngài đã từng kinh nghiệm. Khác với những người Pha-ri-sêu thời đó, đa số là giả dối, nói mà không chịu làm, hoặc làm cái không nói. Gioan đã không đi vào con đường đó, ngài làm trước nói sau, và ngài đã hoàn tất vai trò dọn đường cho Đấng Cứu Thế.

Bây giờ nhìn về chúng ta, trong khi dọn đường cho Chúa đến lần thứ hai, mỗi người chúng ta cũng phải là một Gioan đích thực của thế hệ mình sống. Chúng ta phải dùng thời gian và khả năng của mình để dọn đường cho Chúa Giêsu trở lại. Tất cả chúng ta phải là Gioan trong đời sống, dù nhỏ bé tầm thường tới đâu, nghĩa là chúng ta phải sống đúng như lời Chúa dạy, và như lời chúng ta nói. Khi chúng ta nói mong chờ Chúa đến, thì chúng ta có sống như thế không, hay là lại làm cho Chúa đừng đến ? Biết bao nhiêu người nói về Chúa rất hay, đi nhà thờ, đi lễ rất chăm chỉ, nhưng lại thất bại trong đời sống, vì thái độ và nếp sống của họ không trình bày cho người khác biết đến Chúa. Hơn nữa, hiện giờ chúng ta đang ở trong Mùa Vọng, chúng ta có thấy mình sống khác những mùa khác trong năm không ? Chúng ta có biết sống hy sinh, hãm mình để đi theo Chúa không ? Chúng ta có ăn năn tội mỗi ngày để đón Chúa đến không ? Chúa Giêsu đang đứng trước dòng lịch sử nhân loại, nhưng Ngài chưa bước vào nếu chúng ta chưa dọn đường cho Ngài trở lại, hay ít ra chúng ta hãy dọn đường cho Ngài đến với anh em chúng ta. Bao nhiêu người đang cần đến chúng ta làm môi giới để đến với Chúa hoặc Chúa đến với họ. Chúng ta có mở đường hay bít lối ?

Cụ thể, việc chúng ta cần phải làm và làm ngay trong Mùa Vọng là quyết tâm sửa đổi đời sống, một sự quyết tâm kiên trì như một chiến sĩ La Mã kia, anh bị thương rất nặng từ chiến trường trở về. Dù hấp hối, nhưng tay anh vẫn cầm dây cương điều khiển con ngựa phi cho đến nhà. Đang khi đi ngang qua thành phố, chiến sĩ đó kêu lên : “Dù tôi chết, tôi vẫn cầm cương ngựa”. Câu nói này chứng tỏ chí khí anh hùng của người chiến sĩ, mà chúng ta cần noi gương. Trước những cám dỗ, những khó khăn, những hoàn cảnh thử thách, những nết xấu, những tội lỗi, chúng ta đừng bao giờ kéo cờ trắng đầu hàng. Chúng ta phải cố gắng để vượt qua, chúng ta phải kiên trì cầm dây cương cho đến chiến thắng cuối cùng. Nói cụ thể hơn, dù hôm nay tội lỗi chúng ta có ngập tràn, dù đời sống chúng ta có bê bối xấu xa, chúng ta cũng đừng chán nản buông xuôi, chúng ta hãy quyết tâm sửa đổi lại và hãy thưa với Chúa những lời sau đây hoặc những lời tương tự :

“Lạy Chúa, chúng con thường ngại khó, sợ khổ và dễ buông xuôi, thất vọng khi gặp khó khăn, hoặc nản lòng khi gặp thất bại. Xin cho chúng con nhận ra giới hạn đời mình và đời người để chúng con biết sửa đổi đời sống và biết tin cậy vào Chúa mà sống cho đẹp lòng Chúa”.


Vincente Nguyễn Trọng Đại op

Hãy Sám Hối Vì Nước Trời Đã Đến Gần
(Mt 3,1-12)

Mùa vọng là mùa mọi người chờ mong Ngôi Hai xuống thế làm người. Mùa vọng cũng là thời gian dành riêng để chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến. Chúa Cứu Thế đến với nhân loại cách đây hơn 2000 năm, Chúa đang đến trong tâm hồn mỗi người, và Chúa sẽ đến trong ngày giáng lâm vinh hiển. Là người Kitô hữu việc chuẩn bị tâm hồn đón chúa là công việc quan trọng hàng đầu của tất cả những ai tin vào Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người : “Hãy sám hối vì nước trời đã đến gần”. Bằng chính cuộc sống và lời giảng của thánh Gioan Tẩy Giả đã cuốn hút nhiều người đến để xin làm phép rửa, trong đó có cả nhóm pha-ri-sêu và xa-đốc. Thánh Gioan đã ăn chay : ăn châu chấu với mật ong để tỏ lòng sám hối. Như thế sám hối đòi hỏi phải đi kèm với công việc cụ thể.

Ăn năn sám hối để đón tiếp Đức Giêsu trong cuộc sống của mình. Đó là quy luật mọi người phải tuân theo, nếu muốn được cứu độ. Sám hối là việc đền bù tội lỗi quá khứ, và hoán cải đời sống hiện tại để có thể đứng vững trong tương lai. Chỉ khi chúng ta ý thức được thận phận yếu đuối của mình, thì chúng ta mới cần đến ơn cứu độ và tình thương của Thiên Chúa. Như vậy lòng sám hối là nền tảng của nguồn ơn cứu độ, là con đường cho mọi người đến gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng lòng sám hối luôn đi kèm với tinh thần canh tân, bằng việc cải thiện đời sống, bằng cách đổi mới toàn diện con người của mình. Sám hối phải là việc biến đổi thực sự trong tâm hồn. Sám hối không phải là việc đổi mới bên ngoài, nhưng là việc hoán cải nội tâm, có ảnh hưởng sâu rộng trong tâm hồn. Sám hối đòi hỏi mỗi người phải khiêm tốn, nhìn nhận chính những lỗi lầm của mình, và quyết định trở về với Chúa để được thứ tha

Mỗi khi chúng ta sám hối là lúc chúng ta biết cám ơn Chúa đã đoái thương đến thân phận yếu hèn của mình. Rồi tứ đó chúng ta dễ dàng khám phá ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống đức tin. Trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, người con thứ đã quay trở về sau khi ăn chơi phung phí hết tiền của. Khi người con trở về, người cha không chửu mắng mà đã vội ra đón và mở tiệc mời hàng sóm đến ăm mừng. Cũng thế Thiên Chúa cũng sẽ vui mừng khi mỗi người chúng ta sám hối trở về đón nhận tình yêu của Chúa. Chúa sẽ vác chúng ta trên đôi vai mà xưa kia Chúa đã từng vác Thập Giá để gánh vác tội lỗi thay cho chúng ta.

Cũng trong bài Tin Mừng Hôm nay, nhiều người Biệt phái cũng đến xin thánh Gioan làm phép rửa, nhưng họ không chịu ăn năn sám hối. Họ không chịu san bằng núi đồi là tính kiêu căng tự phụ và tính giả hình. Họ không muốn lấp đầy những hố sâu của tính thờ ơ, lãnh đạm. Những giá trị trần thế đã làm che mắt họ, đến nỗi họ không chịu được cái ý tưởng sám hối. Họ tự coi mình là công chính hóa. Vì thế mà thánh Gioan đã cảnh giác họ một cách nặng lời: “Hỡi loài rắn lục ! Ai biểu các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi.” (Mt 3:7)

Lạy Chúa Giêsu xin giúp chúng con luôn ý thức được rằng sám hối là việc phải làm thường xuyên, bằng việc xưng thú tội lỗi qua bí tích Hoà Giải, đồng thời cũng giúp chúng con biết rộng rãi chia sẻ tình thương và cơm áo cho những người bất hạnh trong xã hội.


Đỗ Lực op

Khi Người Yêu Chưa Đến
(Mt 3:1-12)

Sống là hy vọng. Không có niềm hy vọng, con người không thể lớn lên giữa bao thách đố và cám dỗ. Bởi đó, hy vọng chính là sức mạnh giúp con người có thể đạt tới mục đích hay lý tưởng cuộc đời.

Trên con đường theo Chúa hôm nay, ai dám tự hào mình có thể đi tới cùng và đạt mục đích tối hậu? Nếu có đi tới cuối chặng đường chắc chắn phải nhờ Lời Chúa, “chúng ta vững lòng trông cậy.” (Rm 15:4) Lời Chúa đã đem lại niềm hy vọng lớn lao. Nhìn lại con người và cuộc đời, chúng ta mới biết tại sao nhiều lần mình đánh mất niềm hy vọng. Nhìn đến dân tộc, liệu chúng ta có dám quả quyết “hy vọng đã vươn lên” không ?

TỪNG BƯỚC TỪNG BƯỚC THẦM

Có lần Chúa Giêsu đã ám chỉ Thánh Gioan là người phù rể của Người (x. Mt 9:15). Phù rể đã xuất hiện trước để chuẩn bị cho Người Yêu đến với Cô Dâu là Giáo hội. Giữa tình thế xôn xao về Ðấng Thiên Sai, Thánh Gioan xuất hiện. Tất cả sứ điệp và con người ông đều được bộc lộ công khai, trước khi ông tự xóa mình trước Ðấng ông đã loan báo. Ông mở ra cho muôn dân niềm hy vọng cứu độ lớn lao. Nhưng ông chờ đợi gì?

Trước hết, ông chờ đợi dân chúng sám hối. Ðó là điều khó khăn nhất. Ông không hấp dẫn như các nhà ảo thuật. Con người ông cũng không giống ai, nếu không nói là lập dị. Không biết có phải vì sống quá lâu trong hoang dã, xa cách lối sống văn mình, mà ông chỉ còn biết nói năng cứng cỏi và không khoan nhượng? Nhưng có lẽ vì lòng nhiệt thành, ông đã lôi kéo mọi người từ khắp nẻo đường đất nước (x. Mt 3:5).

Nhưng nhất là vì ai cũng nhận ông là người của Thiên Chúa. Cả những người cứng đầu nhất như Pharisêu và Xađốc cũng “đến thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong dòng sông Giođan.” (Mt 3:7) Tuy thế, sống quá lâu trong truyền thống và quá nặng nề với lợi lộc trần thế, họ không có cách nào trở về với Thiên Chúa. Ðúng hơn, họ không muốn sám hối. Sự sám hối đích thực phát xuất từ trong tâm hồn, chứ không dừng lại ở một vài hình thức thú tội bên ngoài. Tất cả các việc thú tội và chịu phép rửa đều chỉ là hình thức che đậy những dã tâm của họ. Ông cố thuyết phục họ, nhưng thất bại. Bởi vậy, ông mới nổi giận và vạch mặt chỉ tên : “Nòi rắn độc kia …” (Mt 3:7) Cuộc đời trở thành bi kịch. Bầu khí vẫn còn đầy ô nhiễm và không thể tẩy sạch. Cuộc đời còn lại gì? Khi tất cả đều phủ màn đêm, niềm hy vọng vẫn còn đó.

Ðâu là niềm hy vọng của Gioan? Trên hết, ông ngóng đợi bước chân “Ðấng sẽ làm phép rửa cho các anh bằng Thánh Thần và bằng lửa.” (Mt 3:11) Một kỷ nguyên mới sẽ khai sinh. Chỉ có sức mạnh vô song mới có thể giải quyết toàn bộ vấn đề. Sức mạnh đó chính là Thiên Chúa Tình Yêu đang đến trong Chúa Giêsu Kitô. Người sẽ sai Thánh Linh đến đổi mới mặt địa cầu. Một thế giới mới sẽ sinh ra. Nhưng ông Gioan còn hy vọng nơi phép rửa “bằng lửa” sẽ hủy diệt sự dữ, nhất là những cơ chế bất công (Pharisêu, Xađốc), trên trần gian. Niềm hy vọng đó sẽ hoàn toàn đươc thực hiện trong ngày Ðức Kitô ngự đến và Thánh Linh được sai đi. Niềm hy vọng đó không phải chỉ “thanh tẩy” trần gian khỏi sự dữ như ông hiểu biết và mơ ước.

Ông nóng lòng muốn thấy trần gian được thanh tẩy tức khắc khỏi những gì dẫn đến sự dữ. Tuy niềm mơ ước chưa hình thành, nhưng Thánh Linh sẽ cho ông cơ hội loan báo chuẩn bị cho bước đường Ðức Kitô ngự đến. Ông sẽ sống tới khi tử đạo … Nhờ cái chết của ông, Ðức Kitô “sẽ thanh tẩy” trần gian khỏi mọi sự dữ. Chắc chắn Người sẽ đem lại ơn cứu độ. Ðược Ðức Kitô hướng dẫn, niềm hy vọng của chúng ta sẽ hoàn thành nơi Người.

Ngày nay đang mở ra một chân trời hy vọng. Chúng ta mong đợi nhiều sự từ nơi Thiên Chúa.Dù những lời cầu xin lớn hay nhỏ, nếu tín thác nơi Chúa, chúng ta sẽ được ban Thánh Thần. Có thể xin Thiên Chúa mọi sự, vì Người yêu thương con cái trong những chi tiết nhỏ nhất trong cuộc sống. Chắc chắn, niềm hy vọng của Kitô hữu dựa trên những mong đợi chính xác, nhưng lại đi quá xa : hy vọng sống với Thiên Chúa. Sống với Thiên Chúa là sống vĩnh hằng ngay từ bây giờ! Niềm hy vọng đem lại niềm vui giữa những hạnh phúc và buồn sầu trong cuộc đời này. Niềm hy vọng là Thần Khí tình yêu đang hiện diện đầy ắp trong cả cuộc đời chúng ta.

HY VỌNG ÐÃ VƯƠN LÊN

Mở đầu thông điệp Spe Salvi ÐGH Bênêđictô XVI nhắc lại lời thánh Phaolô : “Chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong.” (Rm 8:24) Chỉ có thể trông mong khi biết rõ Chúa Giêsu là “Con Ðường, Sự Thật và Sự Sống.” (Ga 14:6) “Có chiêm ngắm dung nhan Chúa, chúng ta mới có thể vững chắc tin tưởng và hy vọng Người là Ðấng Cứu độ duy nhất và là cứu cánh của lịch sử.” (1) Không có niềm tin và hy vọng đó, nhân loại không biết lịch sử hướng về đâu. Nếu vũ trụ và nhân loại sinh ra để chết, thì lịch sử và cuộc sống con người thật phi lý. Chỉ Ðấng có thể cứu sống, mới có thể vạch hướng cho lịch sử và đem lại cho cuộc đời một ý nghĩa đích thực mà thôi.

Thực vậy, “Chúa Giêsu đã ‘trả giá mắc’ (1 Cr 6:20; x 1 Pr 1:18-19) mới chiếm đoạt và hoàn thành ơn cứu độ cho cuộc sống mới, một cuộc sống đang chờ đợi người công chính sau khi chết. Nhưng ơn cứu độ cũng đang thẩm thấu vào thế giới hôm nay trong các thực tại kinh tế và lao động, kỹ thuật và truyền thông, xã hội và chính trị, cộng đồng quốc tế và những tương quan giữa các nền văn hóa và các dân tộc.” (2) Lý do vì mọi dân tộc đều được chúc lành trong Người (x. Tv 71:17).

Công cuộc cứu độ vĩ đại ấy phải được chuẩn bị kỹ càng và đón nhận trang trọng. Cao điểm trên bước đường chuẩn bị là ông Gioan Tẩy Giả. Ông đã được sai tới làm chứng Thánh Thần và lửa là tất cả đặc điểm thời đại Chúa Giêsu (x. Mt 3:11). Không gì có thể tồn tại trước sức mạnh đó. Mọi sư đều phải thay đổi để đón nhận sự sống mới. Một trời mới đất mới tràn ngập bình an và thịnh vượng, vì được Chúa cai trị bằng công lý. Quả thế, “triều đại Người đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nào tuế nguyệt chẳng còn.” (Tv 71:7) Cuối cùng chỉ còn lại các tôi tớ trung thành vì Chúa lấy công lý bảo vệ và “bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.” (Tv 71:2)

Như vậy, ảnh hưởng Người không chỉ quanh quẩn trong biên giới Do thái, mặc dù họ là những người đầu tiên được kêu gọi hưởng ơn cứu độ và lời hứa dành cho các Tổ phụ. Nói khác, từ nay Chúa xót thương và cứu độ toàn thể nhân loại. Thánh Phaolô quả quyết : “Vì thế, giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa.” (Rm 15:9) Lời ca thốt lên từ những tâm hồn và con người hoàn toàn tự do vì được quyền lực Thần Khí giải thoát và sống dưới quyền một vị vua lý tưởng là Ðấng Thiên Sai. “Trong các lời sấm về Ðấng Thiên Sai, muôn dân mong chờ một vị vua được ban đầy Thần Khí, khôn ngoan và có thể trả lại công lý cho người nghèo vào thời cánh chung (x. Is 11:2-5; Gr 23:5-6). Như vị mục tử đích thực của dân Do thái (x. Ed 34:23-24, 37:24), Người sẽ làm muôn dân sống trong hòa bình (x. Dc 9:9-10).” (3)

Vị vua công chính đó chỉ đến với nhân loại qua đường công lý và tình thương. Kitô hữu chân chính sẽ nỗ lực hi sinh cả cuộc đời để xây dựng con đường này. Quả thực, “Giáo hội dạy rằng Thiên Chúa đã ban cho họ khả năng vượt qua sự ác và đạt đến điều thiện. Chúa đã cứu chuộc nhân loại ‘bằng một giá mắc.’ (1 Cr 6:20) Ý nghĩa và nền tảng lời cam kết của Kitô hữu trong thế giới có nền tảng vững chắc khiến niềm hy vọng dâng trào, mặc dù tội lỗi đã khắc sâu vào lịch sử nhân loại. Lời Thiên Chúa hứa bảo đảm nhân loại không còn khép kín, nhưng mở cửa đón nhận Nước Thiên Chúa.” (4) Tội lỗi không thể hủy diệt niềm hy vọng, vì niềm tin và tình yêu mạnh hơn sự chết. Ðó là tất cả sức mạnh xây dựng Nước Thiên Chúa trong công lý và hòa bình.

Từ tình yêu thập giá, “niềm hy vọng Kitô bơm thêm năng lực lớn lao vào sự cam kết trong lãnh vực xã hội, vì làm cho họ tin chắc có thể xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, ngay cả khi không bao giờ có ‘một địa đàng trên mặt đất.’ Giáo hội khuyến khích các Kitô hữu, đặc biệt người giáo dân, hành động làm sao cho ‘quyền lực Phúc âm có thể chiếu sáng trong đời sống hằng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Họ xử sự như những con cái của lời hứa. Bởi thế, họ phải biết tận dụng thời buổi hiện tại (x. Ep 5:16; Cl 4:5) và kiên nhẫn chờ đợi vinh quang sắp tới (x. Rm 8:25) mà sống vững mạnh trong đức tin và niềm hy vọng. Như thế, họ đừng che giấu tận đáy con tim, nhưng hãy diễn tả niềm hy vọng này ra bằng cách sám hối liên tục và chiến đấu ‘với những bậc thống trị thế giới tối tăm này’ (Ep 6:12)” (5) đang núp trong những cơ chế bất công.

Không có niềm hy vọng, con người dễ chùn bước trước mãnh lực đang đè bẹp xã hội. Có hy vọng, mới nhìn rõ mục tiêu và thêm nghị lực hành động. Nếu tin tưởng vào Ðấng đã chiến thắng tử thần và giành sự sống cho nhân loại, con người sẽ đủ sức mạnh chiến đấu. Chiến đấu bằng một tình yêu bất bạo động như Chúa trên Thánh giá.

CHỨNG TỪ NIỀM HY VỌNG

Hiện tại, các ý hệ chính trị, các mô hình kinh tế và các học thuyết xã hội đề xướng một niềm hy vọng bắt nguồn từ bên ngoài con người. Ðó là niềm hy vọng giả tạo, khiến cuộc sống con người bị ngột ngạt. Niềm hy vọng Kitô muốn cứu con người khỏi bị ngộp thở vì những cơ chế xã hội tàn bạo. Thực thế, “Kitô Giáo không mang lại một sứ điệp cách mạng xã hội bất hạnh như kiểu Spartacus, tranh đấu đến đổ máu quá nhiều. Chúa Giêsu không phải là Spartacus, Ngài không dấn thân vào một cuộc chiến giải phóng chính trị như Barabbas hay Bar-Kochba. Khi chết trên Thánh Giá, chính Chúa Giêsu đã mang lại cho chúng ta một cái gì đó hoàn toàn khác: một cuộc gặp gỡ với Chúa của các chúa, một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, và qua đó gặp gỡ một niềm hy vọng còn mạnh hơn những cơ cực của kiếp nô lệ, một niềm hy vọng, do đó, thay đổi cuộc sống và thế giới tự bản chất bên trong.” (6) Thật vậy, theo ÐGH Bênêđictô XVI, hy vọng không thể xuất phát từ việc chúng ta chống nghèo đói, bất bình đẳng hay bất công. Muốn có niềm hy vọng, phải có một lý do tích cực để sống. Lý do đó không gì khác hơn là Thiên Chúa.

Kitô hữu biết rằng “họ có một tương lai. Họ không biết ngọn ngành chi tiết về tương lai này. Nhưng nói chung, họ biết cuộc sống họ sẽ không kết thúc trong sự trống rỗng. Chỉ khi nào tương lai chắc chắn như một thực tại tích cực, chúng ta mới có thể sống niềm hy vọng đó trong hiện tại.” (7) Niềm hy vọng đó không dành riêng cho Kitô hữu, nhưng cho tất cả những ai đang mơ ước sống một cuộc đời có ý nghĩa. Có thể họ không cũng chia sẻ với các Kitô hữu một niềm tin vào Thiên Chúa. Nhưng khi loan báo niềm hy vọng phát xuất từ nội tâm con người, một lãnh vực thuộc niềm tin và lương tâm, Kitô hữu cũng nhắm tới họ nữa. Chính vì thế, trong Tin Mừng Chúa Giêsu đã nêu cao gương sống, tức chứng từ của niềm hy vọng, từ những người ngoại giáo.

Ngay trong đời thường, chúng ta cũng thấy rất nhiều chứng từ của niềm hy vọng nơi phố xá hay trong gia đình. Hai giai thoại sau đây có thể chiếu sáng lên màn ảnh cuộc đời những chứng từ đó :

1. “Bà Lê Hiền Đức, nhà giáo nghỉ hưu, đã được báo chí Việt Nam nhắc đến nhiều lần qua những chuyện bị kết án là "lẩm cẩm" như viết đơn khiếu kiện dùm người dân ít học.

Có báo còn gọi đùa bà một cách đáng yêu là "Bà già lắm chuyện" kể lại rằng có lần bà đi sang đường Trần Phú ở Hà Nội, thấy viên cảnh sát giao thông kéo người lái xe sang bên kia đường mới chịu ghi phạt, bà nổi máu 'hình sự' kín đáo kéo sụp nón bước theo sang. Núp sau gốc cây, bà già 'lắm chuyện' chứng kiến trọn cảnh viên cảnh sát từ xin xỏ, sang quát tháo dọa nạt, đến cảnh cậu lái xe buồn bã đưa tờ 50 ngàn cho viên cảnh sát mà không được nhận biên lai gì.

Báo VietnamNet viết rằng ’xấp xỉ 80 nhưng bà cụ không thiếu những mưu mẹo, mánh khóe đấu tranh để đưa những tiêu cực ra ánh sáng.’ (8)

2. “Chúa Nhật 21-10-2001 - Ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 75 - Đức Gioan Phaolo II (1978-2005) long trọng nâng cặp vợ chồng người Ý lên hàng Á Thánh. Ông Luigi và Bà Maria Beltrame Quattrocchi.

Khi bà Maria mang thai được 4 tháng, bác sĩ Regnoli của nhà thương ”Nữ Hoàng Elena” ở Roma đã khám phá ra nơi bà một chứng bệnh hiểm nghèo. Nếu không chữa trị kịp thời, chứng bệnh sẽ đưa đến cái chết của cả hai mẹ con. Đối với bác sĩ, không có hy vọng cứu sống bào thai. Hoặc giả đứa bé sống sót thì sẽ bị tàn tật suốt đời. Chi bằng tốt nhất nên cứu sống người mẹ. Trong trường hợp này, bà Maria phải quyết định ngưng mang thai tức khắc.

Chính Linh Mục Paolino - người con thứ ba - gợi lại biến cố đau thương này.

Sau khi lặng lẽ nghe bác sĩ tuyên án, đôi mắt Má ngước nhìn Ba. Bốn con mắt giao nhau trong cùng ý tưởng. Rồi cả hai lặng lẽ hướng về cây Thánh Giá treo trên tường, như âm thầm kín múc sức mạnh để sẵn sàng nói : ”Không phá thai !”

Khi biết rõ quyết định của Ba Má, bác sĩ kinh ngạc nói với Ba : - Luật sư không biết rằng, rồi đây luật sư sẽ mất vợ và sẽ một mình dưỡng dục ba đứa con thơ sao ?

Nhưng quyết định của Ba Má trước sau như một : - Không giết chết bào thai trong dạ !

Sức mạnh duy nhất giúp Ba Má thắng vượt khó khăn trong lúc này chính là lòng tin tưởng tuyệt đối nơi sự trợ giúp của THIÊN CHÚA và Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA. Và THIÊN CHÚA đã thưởng công. Sau 8 tháng cưu mang, bác sĩ quyết định mổ và đưa đứa bé ra. Hôm ấy là ngày Thứ Hai Tuần Thánh 6-4-1914. Đó là bé Enrichetta. Đứa con đáng lý không được sinh ra đã tận hiến cho THIÊN CHÚA tại gia và phụng dưỡng Cha Mẹ suốt cuộc đời mình, cho đến khi Chúa lần lượt gọi Ba Má về với Ngài.” (9)

Thật tuyệt vời ! Niềm hy vọng đã biến đổi tận thâm tâm con người. Ðúng như ông Gioan Tẩy Giả quả quyết, Chúa Giêsu đã dùng Thánh Thần và lửa để thay đổi tất cả và làm mới lại trái đất. Bao giờ được ngọn lửa Thánh Linh chiếu sáng, niềm hy vọng mới vươn lên trên quê hương yêu dấu của chúng ta.

Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần thắp lên ngọn lửa hy vọng trong lòng chúng con, hầu cho cuộc sống ngày càng có ý nghĩa hơn. Xin cho những chứng từ hy vọng hôm nay làm cho mọi người nhận ra Chúa Giêsu, Con Chúa, là Ðấng cứu độ trần gian. Amen.

----------

1. Toát Yếu Học Thuyết Giáo Hội về Xã hội, 1.

2. ibid.

3. ibid., 378.

4. ibid., 478.

5. ibid., 479.

6. ibid., 4.

7. Benedict 16, Spe Salvi,

8. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/12/05/ Transparency_International_awards_first_Vietnamese_LDan/

9. http://tamlinhvaodoi.net/tinvui/index.php?mod=article&cat=chungnhan&article=463


Fr Jude Siciliano, OP (Anh Em Nhà Học Đaminh Gv chuyển ngữ)

Hãy Sám Hối
Mt 3: 1-12

Thưa quý vị,

Giáo hội mà thánh Phaolô đã viết thư Rôma gửi cho thì bao gồm một số cộng đoàn khác nhau. Không có cơ quan chuyên quyền đối với họ và vì bản chất của một thành phố quốc tế thuộc Rôma, người công giáo rất đa dạng: Gốc Dothái và dân ngoại trở lại, dân từ các đế chế xung quanh, thuộc những trường phái chính trị khác nhau, các tầng lớp khác nhau, … Thế nên chẳng có gì lạ khi thánh Phaolô diễn tả lời cầu nguyện như sau: “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau trong Đức Kitô Giêsu …”

Trong giáo hội Rôma, cũng có những xung đột về vấn nạn tôn giáo – vấn đề ăn uống và tuân giữ ngày Sabbat. Trong phần trước của đoạn thư trích đọc hôm nay, thánh Phaolô đã nài xin: “đừng xét đoán nhau nữa” (14:13) nhưng nên “theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau” (14:19)

Có vẻ như những tín hữu Rôma chưa đủ khố khổ dưới sự áp bức của đế chế Rôma, mà họ còn phải đối diện với những xung đột nội bộ, đe dọa sự tồn vong của họ. Nên chẳng có gì lạ khi hôm nay, chúng ta nghe thánh Phaolô nhắc lại hai lần từ “kiên nhẫn và an ủi”! Những Kitô hữu đang phải chiến đấu như thế này thực sự cần cả hai điều này.

Chúng ta thường hay lãng mạn hóa Giáo hội thời sơ khai, vẽ lên cộng đoàn của họ với những gam màu lý tưởng. Cứ như thể là họ, không như chúng ta, đã thực sự thực hành niềm tin Kitô giáo. Chúng ta nghĩ rằng vì họ sống quá gần với thời Đức Giêsu, họ có lẽ đã trung thực hơn và mẫu mực hơn trong niềm tin của mình. Phải chăng đó chẳng là kiểu an ủi rẻ tiền khi biết rằng vẫn có nhiều “vấn nạn” trong cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, cũng những những vấn nạn đối với chúng ta ngày nay chăng? Chúng ta, giống như họ, phải chiến đấu với những áp lực từ bên ngoài, và ở một vài nơi khác trên thế giới, là những bách hại, ngược đãi. Như họ, chúng ta cũng có những chia rẽ và xung đột vì sự khác biệt về chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo và phụng tự.

Thế nên, lời nguyện của thánh Phaolô, cho cộng đoàn Rôma được “kiên nhẫn và an ủi”, thì cũng là lời cầu ngài dành cho cộng đoàn tín hũu ngày nay. Có lẽ chúng ta nên chuyển hướng lời mà thánh Phaolô khuyên nhủ những độc giả đầu tiên của ngài qua Sách Thánh. (Ngài dĩ nhiên cũng đã ám chỉ đến Sách Thánh Hipri, nhưng chúng ta cũng thêm vào Sách Thánh Kitô giáo của chúng ta.) Trong Sách Thánh chúng ta được ban cho “sự kiên nhẫn và an ủi” và những bài học quý giá để chúng ta có thể kiên vững. Kiên vững trong sự thiếu thốn? Vâng, trong những điều khác nữa, thánh Phaolô kêu gọi chúng ta hiếu khách– và vì thế, dù cho có những sự khác biệt trong cộng đoàn, chúng ta vẫn kiên vững trong lòng mến khách.

Thánh Phaolô đã xem Sách Thánh như là nguồn của sự đồng tâm nhất trí mà chúng ta có. Ngài cũng nhắc đến mẫu gương của Đức Giêsu. Ngài nhắc nhở những Kitô hữu Rôma rằng họ, Dothái và Dân ngoại, đã được Đức Giêsu đón nhận. Thì đến lượt họ cũng phải đón nhận vào cộng đoàn của mình tất cả mọi người, bất kể những khác biệt của họ trong xã hội.

Ai chưa từng cảm nghiệm được món quà tuyệt vời của sự hiếu khách? Ai chưa từng biết, hay mong ước đến cảm giác ấm áp và an toàn khi được người khác đón vào nhà họ, vào nơi làm việc mới, hay được chào đón vào một ngôi trường mới? Ngoài ra, điều gì khiến một người hay gia đình công giáo mới tới định cư lại không đến nhà thờ gần đó trong khi quyết định xem nên nhập vào xứ nào? Lý do trước hết để quyết định xem có nên nhập vào một giáo xứ hay không thường là cộng đoàn ở đó có tiếp đón khách khứa chu đáo hay không.

Chúng ta trở lại bài Tin mừng hôm nay. Nếu thời Đức Giêsu có chương trình MTV, tôi dám chắc thánh Gioan Tẩy Giả phải là ngôi sao! Ngài có một thứ mà những người Palestine hồi thế kỷ đầu tiên gán cho một ngôi sao nhạc pop. Ngài mặc: áo lông lạc đà và thắt lưng bằng dây da. Ngài dùng thức ăn kỳ lạ: châu chấu và mật ong rừng. Ngài cũng xuất hiện ngay trước mắt mọi người.

Gioan rất gây sự chú ý của người khác: đá tung tóe nước ở sông Giođan, chỉ tay vào mặt những kẻ tội lỗi, làm rung động những kẻ an nhàn, kêu gọi những nhà lãnh đạo tôn giáo, “Nòi rắn độc kia!” Ngài là người gây chú ý vì ngài có điều lớnlao để nói: “Hãy sám hối…”

Gần đây tôi cũng có một cảm nghiệm mà có lẽ trong quý vị một số cũng từng trải qua. Hôm đó tôi đang lái xe vào buổi sáng sớm, khi trời vẫn còn tối, và sau khoảng 4 giờ lái xe, tôi buồn ngủ. Tôi nhận ra rằng tôi đang chạy với tốc độ hơn 100km/h và ngủ gục! Nhưng may thay, không có xe cộ khác và cũng không bị bắn tốc độ. Tôi tấp xe vào lề đường và chợp mắt một lát. Quý vị không thể nào lái xe với tốc độ hơn 100km/h mà không hoàn toàn tỉnh táo!

Cuộc sống có vẻ như thế đúng không? Chúng ta đang chạy với tốc độ trên 100km/h mà không hề kiểm soát. Có thể chúng ta chưa tông vào đâu đó – nhưng đó phải chăng là cách ta đi qua cuộc sống này ? Chúng ta đang bỏ lỡ điều gì trên hành trình của mình? Chúng ta đang quan tâm đến ai và đến điều gì ? Phải chăng chúng ta đã xem nhẹ những điều quan trọng trong cuộc sống; mất ý thức về những điều ưu tiên; bỏ lỡ những nhân vật quan trọng và những phần quan trọng nhất trong cuộc sống? Đặc biệt là vào thời khắc này trong năm, cắm đầu chạy về phía trước cách tự nhiên, gục đầu xuống lầm lũi đi qua mùa này.

Những gì chúng ta cần là một lời thức tỉnh – và chúng ta thường nhận được. Đôi khi nó thẳng thắn và trực tiếp như nơi Gioan Tẩy Giả. Người bạn đời có thể can thiệp vào cuộc sống của chúng ta cách nhẹ nhàng hay chẳng được dịu dàng chi mấy, cho chúng ta một lời thức tỉnh. Anh ấy/ chị ấy nhắc chúng ta rằng chúng ta đang chạy quá nhanh trên đường đời của mình, và đang lạc mất cuộc sống, đánh mất gia đình và con cái. Người bạn đối chất với chúng ta vì chúng ta đã thất hứa hoặc đã lợi dụng họ. Hoặc, một đứa trẻ nói với chúng ta: “Sao mà ba/mẹ chẳng bao giờ rảnh để chơi với con vậy?” Đó là lời của Gioan Tẩy Giả nói với chúng ta dưới hình thức ngôn từ hiện đại. Chính Gioan Tẩy Giả, nhân danh Thiên Chúa, nói với chúng ta cách này hay cách khác, “Hãy ăn năn sám hối,” “Sửa lối cho thẳng!” Dù là lời êm tai hay khó nghe, chúng ta nên sáng suốt lắng nghe và thực hiện những gì thánh Gioan nói với chúng ta hôm nay “Hãy sám hối !”

Nếu chúng ta chăm chú nghe tiếng gọi thức tỉnh chúng ta, thái độ trước hết của chúng ta sẽ là rất hối hận. Hối hận về điều gì? Có thể chúng ta đã sống thiển cận, tìm kiếm hạnh phúc nhầm nơi. Chúng ta cho rằng những gì làm cho chúng ta hạnh phúc trong mùa này hệ tại ở nơi những thiết bị nhanh nhất, mới nhất, thông minh nhất và trong những kiểu thời trang mốt nhất. Cuộc khảo sát mới đây cho thấy rằng, các bậc cha mẹ càng ít dành thời gian ở với con cái thì càng mua nhiều đồ chơi cho chúng. Xã hội của chúng ta đòi hỏi ngày càng nhiều, nhưng chúng ta dường như luôn thấy thiếu. Chúng ta dồn quá nhiều tâm sức vào những chuyện không đâu. Chúng ta đang mất kiểm soát và đi quá nhanh trên con đường sai lầm.

Vì thế, chúng ta phải chân nhận, với tất cả sự hối hận, rằng sự mưu cầu về hạnh phúc của chúng ta đã khiến chúng ta thất vọng. Chúng ta nhận ra những giọng nói khác khiến chúng ta hạnh phúc, chúng đã lừa chúng ta và chúng ta đang chờ đợi. Chúng ta đến đây làm việc thờ phượng hằng tuần. Không phải vì chúng ta chỉ giữ những quy định tôn giáo, đúng không? Cũng chẳng phải chúng ta quan tâm đến sự đảm bảo cho sự sống đời sau, đúng không?Nhưng là vì đời này và khám phá ra ý nghĩa, sự cân bằng và chừng mực cũng như quan tâm đến chính chúng ta và gia đình.

Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng đầy gay gắt, ông đã cuốn hút sự chú ý của đám đông. Ông được lòng dân vì họ cần sự trợ giúp – một tiếng nói rõ ràng và lành mạnh. Họ và chúng ta ngày nay, nghe được lời hứa của Gioan: đấng đang đến mang theo lửa sưởi ấm cho những ai tinh thần đang giá lạnh bởi buồn chán, đơn điệu và trở nên yếm thế. Chúng ta cũng nghe được lời hứa của ngài về Thánh Thần, vì tinh thần của chúng ta bị sưng phồng vì sự vượt mức, chúng ta cần được canh tân lại thần khí. Đó là những gì chúng ta không thể tự mình đạt được.

Thần Khí đổi mới là một quà tặng mà Mùa Vọng mang lại cho chúng ta hôm nay. Ân huệ này chúng ta không thể mua bằng tiền hay trả bằng thẻ VISA, không thể bị chiếm hoặc sở hữu bằng sự giàu sang hay quyền thế, cũng không phải là độc quyền của bất kỳ sự tinh túy tôn giáo nào. Thần Khí là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Đó là thần khí đổi mới và lửa thanh luyện.

Tiếng nói phía sau giọng nói của Gioan là tiếng nói của Thiên Chúa. Đó là một tiếng nói yêu thương và quan tâm, mong muốn chúng ta hoàn thiện. Thiên Chúa muốn một thứ gì đó đặc biệt trong Mùa Vọng và Giáng Sinh này cho mỗi người chúng ta cũng như cho cộng đoàn chúng ta.

Ân ban này bắt đầu ngay ở đây, như mọi tuần, khi chúng ta cùng nhau quy tụ. Đó ân huệ của Lời, mà thánh Phaolô tái khẳng định với chúng ta hôm nay rằng, ân huệ này giúp chúng ta nên kiên nhẫn và yên ủi chúng ta – dẫu chúng ta có khác biệt hay đa dạng như thế nào đi nữa – như cộng đoàn Rôma thuở giáo hội sơ khai. Chúng ta cũng đón nhận hồng ân của Thánh Thể, như lương thực chia sẻ với những người khác, bất kể những khác biệt của chúng ta. Vì thế, những gì thánh Phaolô cầu nguyện cho giáo đoàn Rôma cũng là cho Giáo hội hôm nay: chúng ta được nên mạnh trong sự đồng tâm nhất trí, như họ nhờ qua Lời Chúa và Bí Tích.

Jude Siciliano, O.P. (Anh em học viện Đaminh chuyển ngữ)

Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần

Is 11,1-10; Rm 15,4-9; Mt 3,1-12

Kính thưa quý vị,

Xưa có một câu đố rằng: “Khi một cây bị ngã trong rừng, nếu chẳng ai ở đó cả, thì liệu người ta có biết nó gây nên tiếng động nào không?” Có lẽ là không biết, vì khi cây ngã tạo ra những hiệu ứng của các sóng âm thanh, nhưng không có con người hay động vật nào ở đó chịu sự rung động của các sóng âm thanh đó qua tai mình. Đây là một câu đố thú vị, gợi lên những suy tư có giá trị, và không làm tổn thương gì cả. Nhưng khi một số cây cối đổ xuống có thể gợi lên nhiều câu hỏi và nỗi đau; chúng ta không đề cập đến những cây làm gỗ ở đây. So sánh xa hơn nữa, thật chua xót khi cây gia phả bị gãy, hay trong trường hợp của miền Giuđa, khi nhà Đavít bị gãy đổ như một thân cây dưới tay của những người Átsua.

Tuy nhiên, ngôn sứ Isaia tiên báo sự sụp đổ của nước Átsua hùng mạnh. “Khốn thay Átsua!” (10,5). Hơn nữa, từ cây đã bị ngã đổ của nhà Đavít sẽ mọc ra một chồi non. Những gì có vẻ là tiêu vong và thất vọng trong mắt người khác, thì trong mắt của những người tin đều là đầy sức sống và tràn trề hy vọng. Sẽ có sự sống nảy sinh nơi sự hủy diệt và tuyệt vọng. Ước mơ của ngôn sứ Isaia là từ dòng dõi vua Đavít sẽ xuất hiện một vì vua, giống như vua Đavít, để bảo vệ dân chúng và mang lại một vương quốc hòa bình. Lúc đó con người và thậm chí cả thiên nhiên, sẽ sống hòa hợp với nhau: “Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau.”

Dân chúng không thể mang lại sự tái sinh này cho quốc gia của họ, nhưng Thần Khí của Thiên Chúa thì lại có thể. Sẽ xuất hiện một vị thủ lãnh được ơn “khôn ngoan và minh mẫn”, “mưu lược và dũng mãnh”, “hiểu biết và kính sợ Đức Chúa”. Hình ảnh tuyệt vời của bài đọc này gợi lên những niềm hy vọng về Đấng Mêsia, khi được ứng nghiệm, sẽ có lợi hơn nhiều so với những người Giuđa, “sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này”. Khi Đức Chúa hành động và lời hứa cứu độ xảy đến, tất cả mọi người sẽ được hưởng ân lộc.

Tại sao ai cũng sẵn sàng vượt qua gian nan để đi vào hoang địa nghe một người giảng thuyết nói với họ rằng: “Hãy thay đổi đời sống!”? Hoang địa tự bản chất là nơi không tiện nghi, nhưng ông Gioan Tẩy Giả lại mạo hiểm thêm một “yếu tố đầy ngụ ý”. Thay vì chào đón những người cảm phục ông, mời họ ngồi xuống và làm cho họ được thoải mái, thì lời nói đầu tiên của ông lại là: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”

Chẳng phải là những ngày trước Giáng Sinh được coi là thời gian của ánh đèn lập lòe, âm nhạc hân hoan, hăm hở mua sắm cho những người thân yêu và linh đình tiệc tùng đó sao? Nhưng từ giờ trở đi, lời rao giảng của ông Gioan đã cảnh tỉnh chúng ta. Bởi lẽ, ông là sự kết nối của chúng ta từ lời hứa của ngôn sứ Isaia cho tới khi lời hứa được hoàn trọn nơi Đức Kitô. Ông Gioan là người giao thời giữa thế hệ cũ và thế hệ mới. Ông Gioan kêu gọi chúng ta kiểm điểm lại đời sống, suy nghĩ lại các thứ tự ưu tiên, tái định hướng những ước mơ và khát vọng của mình.   

Tại sao chúng ta lại làm khó mình với việc tự chất vấn bản thân như thế? Thưa rằng, vì ông Gioan không chỉ nói với chúng ta là phải “ăn năn”. Ông còn nói thêm rằng: “Vì Nước Trời đã đến gần”. Thiên Chúa sắp hoàn trọn những lời hứa và sẽ diễn ra rất gần với chúng ta. Với cuộc thăm viếng sắp đến (“Đấng đến sau tôi”), chúng ta sẽ chuẩn bị cho nhà mình được ngăn nắp. Những lo lắng về việc mua sắm, hoặc nhận lãnh của cải vật chất sẽ không làm chúng ta sao nhãng việc chiêm ngắm và lắng nghe rằng: Một lần nữa, khi ngự đến, Đấng đã được hứa ban sẽ bước vào thông phần với thân phận làm người của chúng ta.

Ông Gioan không rao giảng chốn phồn hoa đô hội, hay nơi một ngai tòa đầy quyền lực ở Giêrusalem. Ông chỉ sống ở bìa rừng. Tuy vậy, những người sống ở trung tâm như Giêrusalem (và những người thuộc quyền thống trị của vùng này ở Giuđê) đang rời khỏi gia đình, công việc và cộng đồng của họ để đến lắng nghe ông giảng dạy. Họ đang rời bỏ các nơi tiện nghi của mình, đi đến những khu vực xa xôi để nghe Lời Chúa. Mùa Vọng là một cơ hội cho ta tạo nên một không gian riêng trong cuộc sống của mình; rời bỏ trung tâm tiện nghi và những nhịp sống được hoạch định, và đến một nơi thanh vắng để nghe những điều Thiên Chúa nói với chúng ta. Trong văn kiện “Evangelii Gaudium” (Niềm Vui Tin Mừng) gần đây, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã viết rằng: “Tôi không muốn Giáo hội được xem như là trung tâm điểm và cuối cùng bị dính chặt trong một mớ những nỗi ám ảnh và thủ tục.”

Không gian lễ bái của chúng ta được giản lược bớt đi, đặt trong không khí Mùa Vọng, khuyến khích chúng ta đơn giản hóa, bình tâm và lắng nghe. Những điều chúng ta sẽ nghe là “câu chuyện cũ” của lời các ngôn sứ đã hứa về sự hồi sinh. Ông Gioan là một vị ngôn sứ nữa đã đi ra ngoài hoang địa để khuyến khích chúng ta ngóng chờ, trông mong một sự đổi mới sâu xa bởi một Đấng, mà như ông Gioan nói, sẽ làm Phép Rửa cho chúng ta bằng Thánh Thần và bằng lửa.

Đây không chỉ là những điều Thiên Chúa bắt đầu thực hiện trong một thời gian dài trước đó trong vùng sa mạc Giuđê. Thông điệp của ông Gioan là nhắm vào hiện tại; thông điệp này được chia ở thì hiện tại. Ông đang chuẩn bị con đường cho Thiên Chúa. Nếu ta đang bị vướng mắc trong tình trạng thờ ơ hay những thói quen hằng ngày, thì ta sẽ biết là mình cần đến một vị cứu tinh thế nào. Đó là những gì ông Gioan hứa với chúng ta, một Đấng có thể nung nấu và đổi mới tinh thần chúng ta bằng cách làm Phép Rửa cho ta một lần nữa trong Chúa Thánh Thần.

Mùa Vọng không hề thanh lọc và làm cho ta nên xứng đáng. Đây là thời gian cho ta tin tưởng rằng Đức Kitô đang đến và cư ngụ trong chúng ta. Điều khích lệ và trợ giúp chúng ta là sự gợi nhớ lại lời hứa của ngôn sứ Isaia, và lời hứa đó sẽ được hoàn trọn nơi Đức Kitô.

Trong suốt mùa vui chơi và nâng chén hân hoan chúc mừng, chúng ta hãy đề cập đến một điều không nên nói ra là: ăn chay và cầu nguyện; chờ đợi và giữ thinh lặng nội tâm, để nhờ đó, chúng ta có thể được nuôi dưỡng bởi Kinh Thánh trong Mùa Vọng này. Niềm vui và chay tịnh sẽ đến vào dịp Giáng Sinh. Ít nhất là trong một chốc lát, khi các giai điệu của gian hàng bán đồ Giáng Sinh bật lên thì hãy tắt tiếng tivi đi. Hãy rời mắt khỏi màn hình và dâng một lời nguyện thầm với niềm khao khát và tin tưởng: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến, xin hãy đến.”

Tuần trước, khởi đầu Mùa Vọng, chúng ta bắt đầu đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu. Một trong những đặc điểm của ngài là sử dụng cụm từ “Nước Trời” trong suốt Tin Mừng, không như thánh Máccô và thánh Luca thì lại nói về “Nước Thiên Chúa”. Theo truyền thống Do Thái, tác giả Mátthêu tránh nhắc đến thánh danh. Khi đề cập đến “Nước Trời”, ngài không nói về một sự kiện trong tương lai, hay một nơi chốn theo địa lý. Trong suốt Tin Mừng, qua các bài giáo huấn của Đức Giêsu với các dụ ngôn và hành động của Người, thánh Mátthêu cho thấy triều đại Thiên Chúa ở giữa thế giới chúng ta ngay ở đây và vào lúc này.

Ngay từ khởi đầu Tin Mừng này, mầm mống xung đột đã nảy sinh giữa Đức Giêsu và chính quyền Rôma, cũng như với các nhà lãnh đạo tôn giáo có thông đồng với Rôma. Sự thống trị của người Rôma đồng nghĩa với việc kiểm soát bằng áp bức; trong khi đó, uy quyền của Đức Giêsu sẽ được tỏ lộ thông qua lòng trắc ẩn, chữa lành bệnh tật và đón nhận những người tội lỗi. Vì Đức Giêsu đã quy tụ cả những người đàn ông lẫn phụ nữ, Do Thái và dân ngoại, nô lệ và tự do vào một cộng đồng bình đẳng, như thế: “Nước Trời đã đến gần”.

Thánh Mátthêu minh họa cách đa dạng và toàn diện Nước Trời bằng cách nói với chúng ta “nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Xađốc” đến với Phép Rửa của ông Gioan. Dường như họ cũng đến để được chịu Phép Rửa. Thế nhưng, khi họ tiến lên phía trước, ông Gioan cũng cảm nhận được sự giả dối của họ. Họ không thể đòi hỏi đặc quyền đặc lợi như các nhà lãnh đạo tôn giáo, cũng như quyền lợi với tư cách là con cháu ông Ápraham. Họ phải chứng tỏ bằng việc làm rằng, đức tin của mình là chân thành. Người nói với họ: “Hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng ăn năn sám hối”.

Mùa Vọng mời gọi chúng ta ăn năn sám hối, đó là bước khởi đầu. Tiếp đó, chúng ta kiểm điểm lại cuộc sống của mình xem có sinh lợi như là hoa quả của vương quốc mà Đức Giêsu đến rao giảng hay không. Thánh Phaolô kể ra một số hoa thơm trái ngọt phải có trong cộng đoàn mới của Đức Giêsu: “Sống hòa thuận với nhau”, và tôn vinh Thiên Chúa “bằng sự đồng tâm nhất trí với nhau”. Đó là mong muốn của thánh Phaolô đối với cộng đoàn Kitô hữu ở Rôma. Ngài hy vọng cộng đoàn như thế sẽ làm chứng cho Đức Kitô giữa các dân ngoại. Như ông Gioan Tẩy Giả đã làm chứng, chúng ta hy vọng rằng việc làm chứng của cộng đoàn giáo xứ mình sẽ thu hút được những người khác, nhờ đó, họ rời bỏ các trung tâm tiện nghi của mình để tham gia với chúng ta khi cùng chúng ta lắng nghe Lời Chúa và được dưỡng nuôi trong bàn tiệc cuộc đời.